intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị: Phát triển thị trường trái phiếu chính phủ ở Việt Nam

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:134

43
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn nghiên cứu bản chất và vai trò của thị trường TPCP trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam, từ đó xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường TPCP, đánh giá thực trạng thị trường TPCP ở Việt Nam trong thời gian qua thông qua hoạt động phát hành niêm yết và giao dịch TPCP qua đó làm rõ những kết quả đã đạt được, những mặt còn hạn chế, tồn tại để rút ra những bài học kinh nghiệm cũng như những điều kiện cần thiết cho việc phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị: Phát triển thị trường trái phiếu chính phủ ở Việt Nam

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA KINH TẾ --------------- NGUYỄN THỊ THỤY HƯƠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI, 2006
  2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA KINH TẾ --------------- NGUYỄN THỊ THỤY HƯƠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị Mã số: 6 031 01 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRẦN THỊ THÁI HÀ Hà Nội, 2006
  3. MỤC LỤC NỘI DUNG Trang MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH 5 PHỦ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Thị trường Trái phiếu Chính phủ trong hệ thống tài chính 5 1.1.1 Khái quát về thị trường tài chính Việt Nam 5 1.1.2 Cấu trúc của thị trường tài chính 5 1.1.3 Vai trò của thị trường Trái phiếu Chính phủ 10 1.1.4 Các thành phần tham gia thị trường Trái phiếu Chính phủ 13 1.2 Kinh nghiệm phát triển thị trường trái phiếu chính phủ 16 của một số nước và bài học cho Việt Nam 1.2.1 Thị trường Trái phiếu Chính phủ của một số nước phát triển 16 1.2.2 Thị trường Trái phiếu Chính phủ của một số nước đang phát 20 triển 1.2.3 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 27 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH 30 PHỦ Ở VIỆT NAM 2.1 Quá trình hình thành và phát triển thị trường Trái phiếu 30 Chính phủ ở Việt Nam 2.1.1 Những nhân tố thúc đẩy sự hình thành thị trường nợ Chính 30 phủ Quá trình hình thành và phát triển của thị trường Trái phiếu 2.1.2 33 Chính phủ ở Việt Nam 2.2 Thực trạng hoạt động phát hành và giao dịch Trái phiếu 36 Chính phủ ở Việt Nam 2.2.1 Thực trạng hoạt động phát hành 36 2.2.2 Thực trạng hoạt động giao dịch trên thị trường thứ cấp 58 2.3 Đánh giá tổng quan về hoạt động của thị trường Trái phiếu 70 Chính phủ ở Việt Nam 2.3.1 Kết quả huy động vốn 70 2.3.2 Các yếu tố thị trường đã từng bước hình thành 72
  4. 2.3.3 Các yếu tố phi thị trường còn tồn tại 75 CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ 83 TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ Ở VIỆT NAM 3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện và các tiền đề nhằm phát triển 83 thị trường Trái phiếu Chính phủ ở Việt Nam 3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện thị trường Trái phiếu Chính phủ 83 3.1.2 Các tiền đề nhằm phát triển thị trường Trái phiếu Chính phủ 86 3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường Trái phiếu 92 Chính phủ ở Việt Nam 3.2.1 Giải pháp trước mắt 92 3.2.2 Giải pháp dài hạn 110 KẾT LUẬN 118 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
  5. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Phát triển thị trường tài chính nhằm tập trung và phân bổ nguồn lực của nền kinh tế một cách hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế như Việt Nam. Thị trường trái phiếu là một kênh dẫn vốn hữu hiệu cho nền kinh tế, tạo ra sự đa dạng hoá các công cụ đầu tư, giảm tải cho hệ thống ngân hàng, cung cấp phương tiện định giá chuẩn cho các nhà đầu tư nhờ vậy hỗ trợ sự phát triển cả thị trường tiền tệ và thị trường cổ phiếu và cuối cùng là kênh tác động chính sách của NHTW. Là một bộ phận của thị trường trái phiếu, thị trường TPCP Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước phát triển quan trọng, từng bước gánh vác được vai trò của mình là tạo kênh huy động vốn cho ngân sách để bù đắp bội chi ngân sách và góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Theo dự báo của IFM về bội chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2001-2005 là 2,4% GDP, trong đó tài trợ trong nước khoảng 1,67%; giai đoạn 2006-2010 bội chi ngân sách là 2,3% GDP, trong đó tài trợ trong nước là 1,8% GDP. Nếu nhu cầu vay trong nước được tài trợ thông qua phát hành TPCP thì nhu cầu vốn cần huy động thời kỳ 2001-2010 là 137.000 tỷ đồng. Để thực hiện chiến lược tăng trưởng toàn diện và xoá đói giảm nghèo thì lượng vốn cần huy động sẽ khoảng 840 đến 970 nghìn tỷ đồng. Dự báo nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, vay vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) và thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI) sẽ không đủ đáp ứng nhu cầu này và do vậy cần phải huy động thêm bằng phát hành TPCP. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, mặc dù khối lượng TPCP phát hành qua các năm khá lớn song mức độ tài trợ vốn cho nền kinh tế chưa nhiều so với 44% GDP của tín dụng ngân hàng và so với tiềm năng huy động qua kênh này. Cơ chế phát hành còn nhiều bất cập, hoạt động của thị trường thứ cấp kém sôi động, thiếu tính thanh khoản vì thế không tạo ra được đường cong lợi tức chuẩn với các kỳ hạn nợ khác nhau. Đồng thời, do tính thanh
  6. 2 khoản của thị trường thứ cấp kém cho nên không tạo ra được sự luân chuyển vốn trên thị trường và ảnh hưởng trở lại đến việc huy động vốn trên thị trường sơ cấp. Điều này có nguyên nhân từ tính chất sơ khai của thị trường và chính nguyên nhân này lại là một trở ngại cho sự phát triển chung của thị trường tài chính. Với tốc độ phát hành khá nhanh từ năm 2002 đến nay, cùng với dự báo nhu cầu vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng, các công trình giao thông thuỷ lợi của Chính phủ và các chính quyền địa phương, cũng như nhu cầu vốn để tài trợ cho các dự án kinh tế lớn của các doanh nghiệp trong nước, thị trường trái phiếu Chính phủ cần được hoàn thiện trên nhiều mặt để trở thành một thị trường theo đúng nghĩa và đảm nhiệm được vai trò to lớn trong nền kinh tế nước ta. Luận văn “Phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam” nhằm nghiên cứu thực trạng, đánh giá những yếu tố thị trường, phi thị trường trong phát hành và giao dịch trái phiếu ở Việt Nam; đồng thời đề ra một số giải pháp phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam. 2. Tình hình nghiên cứu Là một bộ phận không thể thiếu của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu nói chung, thị trường TPCP nói riêng là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu như: „Sử dụng công cụ TPCP để huy động vốn cho đầu tư phát triển ở Việt Nam’- tác giả: Trần Xuân Hà, năm 2003; „Thị trường trái phiếu Công ty của một số nước Châu Á sau khủng hoảng và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam’- tác giả Vũ Chí Dũng, năm 2001; „Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phát triển thị trường trái phiếu ở Việt Nam’ - tác giả: Phạm Trọng Bình, năm 2001… Gần đây nhất, cuộc hội thảo „Phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam’ đã được tổ chức; trong đó, có một số tham luận về xây dựng thị trường TPCP ở Việt Nam. Ngoài ra, việc xây dựng thị trường TPCP cũng là đề tài nghiên cứu phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.
  7. 3 Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu thị trường trái phiếu dưới những góc độ khác nhau cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu dựa trên cơ sở đánh giá các yếu tố thị trường và phi thị trường trong phát hành và giao dịch TPCP ở Việt Nam. Do vậy, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu về thực trạng phát hành và giao dịch TPCP ở Việt Nam; đồng thời, đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện thị trường TPCP để nó thực sự trở thành kênh huy động vốn hiệu quả của Chính phủ. 3. Mục đích nghiên cứu Luận văn nghiên cứu bản chất và vai trò của thị trường TPCP trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam, từ đó xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường TPCP, đánh giá thực trạng thị trường TPCP ở Việt Nam trong thời gian qua thông qua hoạt động phát hành niêm yết và giao dịch TPCP qua đó làm rõ những kết quả đã đạt được, những mặt còn hạn chế, tồn tại để rút ra những bài học kinh nghiệm cũng như những điều kiện cần thiết cho việc phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Luận văn cũng đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam để tăng cường vốn cho đầu tư phát triển, đồng thời làm nòng cốt để phát triển thị trường nợ nói chung. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn là các hoạt động liên quan đến thị trường phát hành và thị trường giao dịch TPCP trong nước. Ngoài ra, Luận văn còn nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thị trường TPCP của một số nước để có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, kết hợp với các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, lôgíc và phương pháp quy nạp, thống kê,
  8. 4 so sánh... Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế định hướng XHCN.
  9. 5 6. Dự kiến những đóng góp mới của Luận văn Luận văn cố gắng hệ thống hóa được một số khái niệm liên quan tới thị trường tài chính, thị trường nợ và thị trường trái phiếu Chính phủ mà trong một chừng mực nhất định còn là những khái niệm tương đối mới mẻ ở Việt Nam. Luận văn đã đưa ra được những nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam và tổng quan các giai đoạn phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá thực trạng thị trường TPCP, luận văn đã chỉ rõ những thành công của thị trường TPCP ở Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời cũng đưa ra được những hạn chế cần khắc phục của thị trường này trong hoạt động phát hành và giao dịch TPCP như là một thành phần cốt lõi để từ đó đề xuất các giải pháp phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam. 7. Kết cấu của Luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn được bố cục thành 3 chương với những nội dung sau : Chƣơng 1 : Phát triển thị trường TPCP cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2 : Thực trạng phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam Chƣơng 3 : Định hướng và giải pháp phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam
  10. 6 CHƢƠNG 1 PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1. Thị trƣờng trái phiếu Chính phủ trong hệ thống tài chính 1.1.1. Khái quát về thị trường tài chính Việt Nam Trong thời gian thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, hệ thống tài chính của Việt Nam chủ yếu dựa vào hoạt động của hệ thống ngân hàng. Đến giữa những năm 1980 (năm 1986), Việt Nam đã tiến hành công cuộc cải cách kinh tế theo hướng thị trường. Điều này đòi hỏi hệ thống tài chính phải được thiết kế phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Quá trình cải cách hệ thống hệ thống tài chính nước ta được đánh dấu bằng sự ra đời của Pháp lệnh Ngân hàng vào tháng 5/1990, theo đó hệ thống Ngân hàng một cấp được chuyển thành mô hình hệ thống Ngân hàng hai cấp (NHTW Việt Nam thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ và thực thi chính sách tiền tệ; hệ thống NHTM thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ). Cho đến nay, hệ thống tài chính Việt Nam, đặc biệt là NHTW và khu vực NHTM vẫn tiếp tục được cải cách, từng bước hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế đất nước. Hiện nay, cơ cấu của thị trường tài chính Việt Nam gồm: Khu vực Ngân hàng (NHTM QD, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng cổ phần, Ngân hàng liên doanh, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Quỹ tín dụng Nhân dân) và khu vực phi Ngân hàng (Công ty bảo hiểm, Công ty tài chính và Công ty cho thuê tài chính, Công ty chứng khoán). Thị trường tài chính là nơi mua và bán các loại hình công cụ tài chính. Có thể nói rằng, thị trường tài chính mang lại lợi nhuận quan trọng cho các thành viên tham gia vì thị trường có thể tái phân phối vốn trong hệ thống tài chính hay nói cách khác là dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi cần vốn. Bên cạnh đó, thị trường tài chính cũng cho phép các đơn vị kinh tế điều chỉnh các loại nợ họ nắm giữ và phát hành để họ có thể đảm bảo khả năng trả nợ, quản lý rủi
  11. 7 ro và có khả năng thanh toán; thực hiện phát hành nợ để có thể đa dạng hoá các loại hình tài sản và có khả năng thanh toán. Các thị trường cấu thành cơ bản của thị trường tài chính Việt Nam đã được hình thành tương đối đầy đủ. - Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, là nơi mua bán ngắn hạn các giấy tờ có giá. Các giấy tờ có giá được giao dịch trên thị trường tiền tệ bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình trung ương, trái phiếu đầu tư do ngân sách trung ương thanh toán, công trái và các loại giấy tờ có giá khác do Thống đốc NHTW quy định trong từng thời kỳ. Thị trường tiền tệ bao gồm: Thị trường nội tệ liên ngân hàng (được thành lâp và đi vào hoạt động năm 1993) và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng (hoạt động từ tháng 10/1994), thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc (hoạt động từ năm 1995), nghiệp vụ thị trường mở (hoạt động từ tháng 7/2000). Thị trường tiền tệ là cơ sở quan trọng để NHTW điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, là điều kiện cần thiết cho thị trường vốn phát triển. Từ khi Luật NHTW và Luật Các tổ chức tín dụng ra đời, hoạt động của thị trường tiền tệ từng bước được hoàn thiện. Hệ thống cơ sở kỹ thuật, công nghệ ngân hàng nhất là hệ thống giao dịch và các công cụ giao dịch được hiện đại hóa và đa dạng. Việc tự do hóa dần lãi suất đã khuyến khích các tổ chức tín dụng tham gia thị trường. Các nghiệp vụ như cho vay qua đêm, thanh toán bù trừ điện tử, nghiệp vụ thị trường mở được đưa vào áp dụng và sử dụng linh hoạt. Thị trường nội tệ liên ngân hàng từng bước được hoàn thiện và có những tác động tích cực đối với hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng và điều hành chính sách tiền tệ của NHTW. Trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng thành viên tham gia thị trường tăng từ 23 năm 1994 lên 59 thành viên năm 2004. Tỷ giá mua bán ngoại tệ (USD) giữa tổ chức tín dụng với khách hàng được dựa trên tỷ giá bình quân do NHTW công bố. Tỷ lệ kết hối giảm từ 80% năm 1998 xuống còn 30% năm 2001 và 0% năm 2003.
  12. 8 Hoạt động trên thị trường chủ yếu diễn ra một chiều. Hình thức mua bán ngoại tệ chủ yếu là giao dịch giao ngay, mua bán kỳ hạn chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 10% tổng giao dịch. Tuy nhiên, đến nay thị trường tiền tệ phát triển ở mức độ thấp, quy mô giao dịch trên thị trường còn nhỏ. Các công cụ tài chính chưa đa dạng về chủng loại và thời gian. Thành viên tham gia thị trường chủ yếu là các tổ chức tín dụng có quy mô vốn lớn nhất là các NHTM Nhà nước. Mối liên kết tác động qua lại giữa các thị trường cấu thành của thị trường tiền tệ còn yếu. Mối quan hệ lãi suất trên thị trường nội tệ liên ngân hàng với các thị trường khác như thị trường khác như thị trường tín phiếu kho bạc, thị trường tín dụng... chưa rõ nét. Vì vậy, lãi suất trên thị trường tiền tệ chưa phải là lãi suất để các lực lượng thị trường điều chỉnh lãi suất và có các quyết định đầu, tư thích hợp. Hiệu quả điều hành các công cụ chính sách tiền tệ gián tiếp còn hạn chế. - Thị trường tín dụng là thị trường được hình thành sớm nhất trong các thị trường cấu thành của thị trường tài chính. Đến nay tín dụng ngân hàng chính thức vẫn là kênh đáp ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế. Dư nợ tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng đến cuối năm 2004 đạt khoảng trên 50% GDP. Các NHTM nhà nước chiếm khoảng 75%-80% thị phần cho vay và huy động cũng như tài sản của toàn hệ thống ngân hàng. Tiếp đến là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh (hơn 12%), NHTM cổ phần (gần 10%). Dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng tăng khá nhanh với tốc độ trung bình hàng năm 25%/năm. Hoạt động tín dụng ngân hàng còn một số vấn đề cần lưu ý như: chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng còn thấp, chứa đựng nhiều rủi ro, tỷ lệ an toàn vốn còn thấp so với thông lệ quốc tế, hệ thống thanh tra giám sát ngân hàng còn nhiều điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng khá mạnh, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2004 khoảng 25%/năm, chủ yếu là nguồn
  13. 9 tiền gửi của tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm khoảng 50%, tiền gửi tiết kiệm chiếm khoảng 22%. Nguồn vốn không kỳ hạn và ngắn hạn chiếm tỷ trọng khoảng 70%. Nguồn vốn trung dài hạn chiếm tỷ trọng thấp khoảng 30% tổng nguồn vốn, chủ yếu là nguồn vốn có thời hạn từ 1 đến 2 năm, nguồn vốn có thời hạn từ 5 năm trở lên có tỷ trọng không đáng kể (khoảng 7% tổng nguồn vốn trung dài hạn). - Thị trường chứng khoán đã được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 7/2000 đã có những đóng góp ban đầu trong việc huy động nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế. Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (TTGDCK TP. HCM) là nơi niêm yết và thực hiện các giao dịch tập trung của thị trường chứng khoán. Bên cạnh thị trường chính thức còn có thị trường phi chính thức. Đây là nơi diễn ra các giao dịch chứng khoán không niêm yết như cổ phiếu của các công ty nhỏ, của các công ty chuẩn bị niêm yết. Thị trường trái phiếu- một bộ phận của thị trường chứng khoán bắt đầu hoạt động từ năm 1995. Trái phiếu ở Việt Nam được phát hành bao gồm 3 loại: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu đầu tư và trái phiếu công ty. Chính phủ là chủ thể phát hành trái phiếu lớn nhất của Việt Nam. Các loại trái phiếu được giao dịch trên thị trường là trái phiếu Chính phủ và trái phiếu công ty. Từ ngày hoạt động đến nay, trái phiếu công ty chỉ có duy nhất trái phiếu của ngân hàng Đầu tư và Phát triển giao dịch trên thị trường. 1.1.2. Cấu trúc của thị trường tài chính Theo cách thức huy động vốn, người ta có thể phân loại thị trường tài chính thành thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần. 1.1.2.1. Thị trường vốn cổ phần Thị trường vốn cổ phần là thị trường mua bán các cổ phần của công ty cổ phần. Công cụ trên thị trường này là cổ phiếu không có kỳ hạn mà chỉ có thời điểm phát hành, không có ngày đáo hạn. Người mua cổ phiếu chỉ có thể lấy lại tiền bằng cách bán lại cổ phiếu trên thị trường hoặc khi công ty tuyên bố phá sản. Cổ tức nhận được từ việc nắm giữ cổ phiếu chủ yếu phụ thuộc
  14. 10 vào hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần. Do đó cổ phiếu là công cụ có rủi ro cao. 1.1.2.2. Thị trường nợ Thị trường nợ là thị trường mua bán các công cụ nợ như tín phiếu, trái phiếu, các khoản cho vay... Các công cụ nợ đều có kỳ hạn nhất định, có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn. Mặc dù trái phiếu là công cụ tương đối an toàn, do các nghĩa vụ thanh toán của nó không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của người phát hành song trái phiếu lại chịu rủi ro lãi suất và rủi ro lạm phát. Trong thị trường nợ, có hai bộ phận quan trọng là thị trường nợ Chính phủ và thị trường nợ Công ty (trái phiếu công ty). Công cụ nợ của Chính phủ có rất nhiều loại, mỗi loại đều có mục đích phát hành, thời hạn phát hành khác nhau, tuy nhiên phạm vi luận văn đề cập là thị trường trái phiếu Chính phủ ở Việt Nam do vậy Luận văn sẽ chỉ xem xét nghiên cứu trên cục diện toàn bộ các công cụ nợ của Chính phủ gồm cả các công cụ nợ ngắn hạn (tín phiếu) và dài hạn (trái phiếu). Các công cụ nợ của Chính phủ bao gồm: - Tín phiếu: Tín phiếu là một loại trái phiếu Chính phủ có thời hạn dưới một năm, do Kho bạc nhà nước phát hành. - Trái phiếu kho bạc: Trái phiếu kho bạc là một loại trái phiếu Chính phủ có thời hạn từ một năm trở lên, do Kho bạc nhà nước phát hành. - Trái phiếu công trình TW: là một loại trái phiếu Chính phủ có thời hạn từ một năm trở lên, nhằm phục vụ các dự án được đầu tư bằng các nguồn vốn thuộc ngân sách TW, do Kho bạc nhà nước phát hành theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. - Trái phiếu đầu tư: là một loại trái phiếu Chính phủ có thời hạn từ một năm trở lên, được phát hành bởi các tổ chức tài chính Nhà nước, các tổ chức tín dụng/tài chính được Thủ tướng Chính phủ chỉ định.
  15. 11 - Trái phiếu ngoại tệ: là một loại trái phiếu Chính phủ có thời hạn từ một năm trở lên, nhằm phục vụ các mục tiêu được xác định bởi Thủ tướng Chính phủ, do Bộ Tài chính phát hành. - Công trái xây dựng tổ quốc được phát hành bởi Chính phủ nhằm mục đích huy động các nguồn vốn trong dân chúng cho các hoạt động đầu tư xây dựng các công trình quan trọng của quốc gia và các công trình cốt yếu khác nhằm phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất và kỹ thuật cho đất nước. 1.1.3. Vai trò của thị trường trái phiếu Chính phủ Thị trường TPCP là một kênh chủ yếu huy động các nguồn vốn trung và dài hạn cho Chính phủ, do vậy sự tạo lập và phát triển thị trường TPCP có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của thị trường tài chính cũng như đối với sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường. Thị trường TPCP thực hiện các vai trò chủ yếu sau đây: 1.1.3.1. Tài trợ cho chi tiêu của Chính phủ Với tư cách là một bộ phận của thị trường tài chính, thị trường TPCP có vai trò khuyến khích tiết kiệm và thu hút các nguồn vốn đầu tư, góp phần làm đồng bộ hoá các khu vực thị trường. TPCP được phát hành để bù đắp thiếu hụt NSNN, tài trợ chi cho chi tiêu của Chính phủ. Việc vay nợ thông qua TPCP là quan hệ tín dụng Nhà nước, Nhà nước vay tiền của dân chúng và doanh nghiệp để trang trải các khoản chi tiêu trong khi nguồn thu về thuế không đủ. Để thực hiện chính sách tài khoá Bộ Tài chính đưa ra dự toán ngân sách đệ trình Quốc hội phê chuẩn, trong đó xác định số thu về thuế, nhiệm vụ chi và mức tiền cần huy động trong nước, nước ngoài để bù đắp thiếu hụt NSNN. Phần vay trong nước chủ yếu thực hiện bằng cách phát hành các loại trái phiếu. Bên cạnh mục tiêu bù đắp thiếu hụt ngân sách, Chính phủ còn có thể thực hiện phát hành trái phiếu để huy động vốn cho các dự án, công trình thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của đất nước hoặc hỗ trợ vốn cho các khu vực kinh tế mà Nhà nước thấy cần phải tham gia đầu tư vốn.
  16. 12 1.1.3.2. Môi trường thực thi chính sách tiền tệ Sự phát triển của thị trường trái phiếu làm tăng tính hiệu quả của thị trường tiền tệ bởi việc xác định đúng thời điểm và khối lượng phát hành trái phiếu chính phủ sẽ không gây sự chồng chéo với chính sách thị trường mở của NHTW. Chính phủ có thể thực hiện phát hành chứng khoán khi thị trường thực sự thiếu tính thanh khoản. Để thực hiện được việc này, tổ chức phát hành phải thông báo cho NHTW dự định của mình trước khi thực hiện, trên cơ sở đó tổ chức phát hành có thể điều chỉnh thời gian và số lượng để phù hợp với điều kiện thị trường tại thời điểm đó. Ngoài ra, sự phối hợp giữa hoạt động quản lý nợ của Chính phủ với chính sách tiền tệ còn được thể hiện qua việc điều tiết chi tiêu của chính phủ và bản cân đối tiền mặt của các ngân hàng được lưu giữ tại NHTW. Để có được con số dự báo chính xác về hoạt động chi tiêu của chính phủ thì việc tính toán cần phải thực hiện hàng ngày đối với các khoản thu và chi của chính phủ. Các giao dịch cần phải được theo dõi để thấy được sự chuyển dịch của đồng vốn giữa tài khoản của NHTW và tài khoản của các NHTM, từ đó cho ta thấy được ngân sách của chính phủ tại NHTW là thâm hụt hay thặng dư. Với mục tiêu ổn định môi trường vĩ mô, kiềm chế lạm phát, thị trường tiền tệ đã tạo điều kiện cho việc huy động vốn và đầu tư nói chung trong đó có việc huy động vốn thông qua công cụ TPCP. Ngược lại, việc phát hành các loại TPCP theo phương pháp đấu thầu qua NHTW đã tạo điều kiện cho NHTW có công cụ để thực thi chính sách tiền tệ. Việc vay nợ của Chính phủ nói chung và vay nợ bằng trái phiếu nói riêng sẽ làm gia tăng chi tiêu của Chính phủ, điều này sẽ làm cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng lên. Mặt khác, khối lượng TPCP đang lưu hành là yếu tố cấu thành khối tiền trong lưu thông, bởi vậy việc phát hành trái phiếu có ảnh hưởng đến cung cầu tiền tệ. Thông qua việc mua vào, bán ra các loại TPCP, Chính phủ có thể điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế. Nếu Chính phủ muốn khuyến khích hoạt động của nền kinh tế thì Chính phủ mua lại trái phiếu của mình, khi
  17. 13 đó giá trái phiếu sẽ tăng và lợi tức trái phiếu sẽ giảm; từ đó sẽ tác động đến giá và lợi tức trái phiếu của khu vực tư nhân và hạ thấp mức lãi suất chung đồng thời thông qua việc mua lại TPCP bơm tiền vào lưu thông và kết quả là tăng khối lượng tiền cung ứng. Nếu muốn điều chỉnh các hoạt động kinh tế Chính phủ có thể tăng khối lượng trái phiếu bán ra khi đó tỷ lệ lãi suất sẽ tăng lên và giảm khối lượng tiền cung ứng. Các kỹ thuật này chủ yếu được sử dụng trong thị trường tín phiếu. 1.1.3.3. Tiền đề để phát triển thị trường trái phiếu Công ty Thị trường TPCP có vai trò quan trọng trong việc nâng cao lòng tin của nhà đầu tư vào trái phiếu và thị trường tài chính nói chung, cung cấp đường cong lãi suất chuẩn là cơ sở cho nhiều quyết định quan trọng trên thị trường tài chính. Chức năng của thị trường là định giá các chứng khoán do Chính phủ phát hành dưới sự quản lý của Bộ Tài chính và NHTW, vì vậy tạo cho các nhà đầu tư sự tin tưởng vào lãi suất trên thị trường, góp phần xây dựng cấu trúc lãi suất hoàn vốn phù hợp. Lãi suất TPCP, theo kinh nghiệm của các nước có thị trường trái phiếu phát triển, được coi là lãi suất chuẩn, là cơ sở tham chiếu cho các loại trái phiếu khác. Do vậy, phát triển thị trường TPCP để làm cơ sở cho việc phát triển thị trường trái phiếu công ty và thị trường các sản phẩm phái sinh. Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển theo hướng thị trường, việc bao cấp cho các doanh nghiệp nhà nước sẽ bị cắt giảm, thậm chí là không còn tồn tại. Hệ thống ngân hàng không đủ khả năng cung cấp nguồn vốn đầu tư cho doanh nghiệp, do các khoản gửi của ngân hàng phần lớn là ngắn hạn trong khi mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp là dài hạn. Do vậy, để mở rộng sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp tất yếu phải phát hành cổ phiếu và trái phiếu để huy động vốn, sự phát triển thị trường trái phiếu công ty trở thành đòi hỏi tất yếu cho sự phát triển của doanh nghiệp. 1.1.3.4. Cải thiện môi trường đầu tư
  18. 14 Khi trên thị trường có nhiều công cụ đầu tư khác nhau, TPCP có độ rủi ro thấp nhất về phương diện thanh toán do vậy nó được xem là lựa chọn hàng đầu của các nhà đầu tư khi quyết định tham gia vào thị trường trái phiếu, TPCP thường là loại hàng hoá được các tổ chức tài chính trung gian lựa chọn để xây dựng danh mục đầu tư của mình. Việc TPCP trong các đợt phát hành đều được bán hết chứng tỏ nhận định này là đúng và sức cầu của hàng hoá này vẫn còn cao. Bên cạnh đó, lãi suất TPCP được xem là một căn cứ tham khảo quan trọng để các nhà đầu tư cân nhắc khi đầu tư vào các công cụ đầu tư khác. Dựa trên lãi suất TPCP nhà đầu tư có thể đánh giá được độ rủi ro khi đầu tư vào các loại hàng hoá khác. Do vậy cần thiết phải mở rộng và nâng quy mô của thị trường TPCP để để tăng khả năng thu hút vốn trên thị trường, đồng thời tăng thêm sự lựa chọn giúp đa dạng hoá đầu tư, giảm thiểu rủi ro, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư có tổ chức. Việc thúc đẩy sự phát triển của thị trường thứ cấp thông qua như hoạt động mua bán lại trái phiếu sau khi phát hành sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư có thêm cơ hội và kênh đầu tư vốn. Việc đa dạng hoá các loại TPCP tạo điều kiện cho Chính phủ khả năng huy động vốn và tạo điều kiện cung cấp cho các nhà công chúng những cơ hội đầu tư khác nhau. 1.1.4. Các thành phần tham gia thị trường TPCP 1.1.4.1. Tổ chức phát hành Chủ thể phát hành TPCP bao gồm chính quyền TW, các tỉnh, thành phố (chính quyền địa phương) và các cơ quan của Chính phủ, trong đó Chính phủ TW và các chính quyền địa phương là một trong những chủ thể phát hành nhiều nhất của thị trường trái phiếu. Chính phủ tham gia thị trường trái phiếu như một doanh nghiệp bình thường, cung cấp hàng hóa ra thị trường thông qua việc phát hành trái phiếu (trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu công trình) và Kho bạc Nhà nước là cơ quan
  19. 15 thay mặt Chính phủ phát hành các loại trái phiếu nhằm huy động vốn từ các tầng lớp dân cư phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Các tổ chức tài chính nhà nước, các tổ chức tài chính, tín dụng được Thủ tướng Chính phủ chỉ định phát hành trái phiếu đầu tư nhằm huy động vốn để đầu tư theo chính sách của Chính phủ. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính trực tiếp phát hành trái phiếu ngoại tệ và Chính phủ trực tiếp phát hành công trái xây dựng Tổ quốc. Chính phủ cũng có thể bảo lãnh cho các trái phiếu do doanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốn cho các dự án đầu tư theo chỉ định của Thủ tướng Chính phủ. Việc đa dạng hoá các nhà phát hành trái phiếu sẽ tạo khả năng huy động vốn tốt hơn và làm phong phú thêm chủng loại trái phiếu trên thị trường. 1.1.4.2. Các nhà đầu tư Có hai loại chủ thể đầu tư, đó là các nhà đầu tư cá nhân và các nhà đầu tư có tổ chức. Các nhà đầu tư cá nhân thường là những hộ gia đình, những người có vốn tiết kiệm, thay vì việc gửi khoản tiền nhàn rỗi này vào ngân hàng, họ đem mua trái phiếu để hưởng tiền lãi và các khoản chênh lệch giá khi bán trái phiếu đi. Còn đối với các nhà đầu tư có tổ chức, bao gồm các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, ngân hàng... là những tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, có nguồn vốn dài hạn do huy động được từ dân chúng để đầu tư vào trái phiếu nên họ thường nắm giữ trái phiếu dài hạn. Các ngân hàng mua trái phiếu trước hết là để cân đối sử dụng vốn, sau đó là vì mục tiêu thu nhập. Đối với các công ty bảo hiểm, ngoài một nguồn vốn nhất định để thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm, phần vốn còn lại họ mua trái phiếu vì mục đích đầu tư. Trong thị trường trái phiếu, các tổ chức tài chính trung gian như NHTM, công ty chứng khoán.v.v. có vai trò rất quan trọng, họ vừa là tổ chức bảo lãnh, đại lý phát hành, vừa đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường thực hiện việc mua vào, bán ra trái phiếu với nhau và mua bán trái phiếu với các nhà đầu tư. Cụ thể:
  20. 16 a. Tổ chức bảo lãnh phát hành: là tổ chức đứng ra giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước và sau khi chào bán trái phiếu như chuẩn bị hồ sơ xin phép phát hành, phân phối trái phiếu cho các nhà đầu tư, nhận mua trái phiếu để bán lại hoặc mua số trái phiếu còn lại chưa phân phối hết. Tổ chức bảo lãnh phát hành thường là các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoặc các tổ chức tài chính có tiềm lực tài chính mạnh, tùy theo pháp luật của mỗi nước cho phép. Ở Việt Nam các tổ chức bảo lãnh phát hành trái phiếu là các công ty chứng khoán, Quỹ đầu tư, công ty tài chính, các ngân hàng được thành lập và hoạt động theo Luật Các Tổ chức tín dụng. b. Các tổ chức kinh doanh trái phiếu: là các trung gian tài chính hoạt động theo qui định của pháp luật như các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, công ty tài chính, các quỹ đầu tư, ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư. Các tổ chức này chủ yếu hoạt động trên thị trường thứ cấp làm trung gian môi giới cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua bán trái phiếu để hưởng phí môi giới và thực hiện các giao dịch mua bán trái phiếu cho chính mình để kiếm lời. Các tổ chức này còn cung cấp cho khách hàng các dịch vụ khác như tư vấn đầu tư, các dịch vụ liên quan đến giao dịch trái phiếu. Các tổ chức kinh doanh trái phiếu có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính thanh khoản của trái phiếu trên thị trường. 1.1.4.3. Các tổ chức đăng ký và lưu ký chứng khoán a. Tổ chức đăng ký chứng khoán thực hiện việc đăng ký sở hữu chứng khoán cho khách hàng. Việc đăng ký chứng khoán thường phát sinh khi thực hiện quyền của người sở hữu chứng khoán. Các chứng khoán thường xuyên được mua đi bán lại trên thị trường, do đó đến thời điểm phát sinh các quyền đối với chứng khoán (quyền được hưởng lãi, cổ tức; quyền mua cổ phiếu, trái phiếu; quyền tham dự đại hội cổ đông;...) thì cần thiết phải thực hiện việc đăng ký chứng khoán để xác định ai là người được hưởng các quyền của các chứng khoán đó. Tổ chức đăng ký có thể là tổ chức phát hành chứng khoán
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2