ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐẶNG HƢƠNG GIANG
NHỮNG HẠN CHẾ TRONG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
ĐẶNG HƢƠNG GIANG
NHỮNG HẠN CHẾ TRONG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS, TS ĐỖ THẾ TÙNG
HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
CHƢƠNG 1. XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM – TÍNH CẤP THIẾT
VÀ THÀNH TỰU ........................................................................................ 6
Mở đầu ............................................................................................................. 1
1.1. Sự cấp thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu lao động từ Việt Nam....................... 6
1.1.1. Trên thị trƣờng lao động ở Việt Nam cung vƣợt cầu quá xa ................ 6
1.1.2. Cầu về lao động ở nhiều nƣớc trên thế giới lại nhỏ hơn cung, tạo
khả năng tiếp nhận ngƣời lao động Việt Nam tới làm việc ............... 10
1.1.2.1. Những thị trƣờng lao động truyền thống ...................................... 10
1.1.2.2. Những thị trƣờng mới .................................................................. 13
1.1.3. Vai trò quan trọng của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội của nƣớc ta ............................................................... 16
1.1.3.1. Xuất khẩu lao động tạo việc làm cho ngƣời lao động với chi phí
thấp hơn mức đầu tƣ ở trong nƣớc .............................................. 16
1.1.3.2. Tăng thu nhập cá nhân và tích lũy cho đất nƣớc .......................... 19
1.1.3.3. Nâng cao trình độ chuyên môn cho ngƣời lao động ..................... 19
1.1.3.4. Tạo điều kiện cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong ngắn hạn và thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng hiện đại trong dài hạn ...... 20
1.1.3.5. Góp phần đƣa nhanh các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào
sản xuất, thúc đẩy nhanh CNH – HĐH theo nguyên lý "3I" ......... 20
1.1.3.6. Góp phần đẩy mạnh đầu tƣ và mở rộng thị trƣờng hàng hóa,
dịch vụ ra thị trƣờng thế giới ........................................................ 21
1.2. Những thành tựu của xuất khẩu lao động của Việt Nam trong thời gian qua .... 21
1.2.1. Về chất lƣợng và số lƣợng lao động xuất khẩu của Việt Nam ............ 24
CHƢƠNG 2: NHỮNG HẠN CHẾ TRONG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT
NAM VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NHỮNG HẠN CHẾ ẤY ........ 31
1.2.2. Về thu nhập và đời sống của ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài .............. 27
2.1. Những hạn chế trong việc XKLĐ .............................................................. 31
2.2. Những nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế nêu trên .............................. 40
2.2.1. Những thiếu sót trong khâu tuyển chọn ............................................. 40
2.2.1.1. Tổ chức tuyển chọn và đƣa lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài
thiếu công khai, minh bạch ......................................................... 40
2.2.1.2. Thủ tục hành chính rƣờm rà, phức tạp, thiếu thông suốt, gây
phiền hà và tốn kém cho ngƣời lao động ..................................... 43
2.2.2. Đào tạo, giáo dục định hƣớng cho ngƣời lao động chƣa đáp ứng
yêu cầu của thị trƣờng nƣớc ngoài..................................................... 46
2.2.2.1. Giáo dục định hƣớng còn bị coi nhẹ, đào tạo nghề chƣa đáp ứng
đƣợc yêu cầu của thị trƣờng nƣớc ngoài, nhất là những ngành
nghề mà thị trƣờng lao động quốc tế đang thiếu hụt nhân lực .......... 46
2.2.2.2. Đào tạo ngoại ngữ cho ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc
ngoài cũng chƣa đạt yêu cầu ....................................................... 47
2.2.3. Hỗ trợ kinh phí và cho vay vốn đối với ngƣời lao động đạt hiệu quả thấp .. 49
2.2.4. Quản lý lao động làm việc ở nƣớc ngoài chƣa chặt chẽ ..................... 54
2.2.4.1. Chƣa xử lý và ngăn chặn đƣợc tình trạng lao động bỏ trốn, vi
phạm hợp đồng lao động ............................................................. 54
2.2.4.2. Chƣa bảo vệ kịp thời và đầy đủ lợi ích chính đáng của ngƣời
lao động làm việc ở nƣớc ngoài .................................................. 55
2.2.4.3. Chƣa có hình thức tổ chức thích hợp để tập hợp ngƣời lao động
Việt Nam ở nƣớc ngoài ................................................................. 64
2.2.5. Chƣa quan tâm đúng mức đến việc sử dụng nguồn lao động sau khi
về nƣớc ............................................................................................. 65
2.2.5.1. Ngƣời lao động chƣa đƣợc hƣớng dẫn, hỗ trợ để phát triển kinh
tế sau khi về nƣớc ....................................................................... 65
2.2.4.2. Nguồn nhân lực đã làm việc trong môi trƣờng công nghiệp
chƣa đƣợc thu hút vào các ngành nghề phù hợp gây ra tình
CHƢƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ
NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM ........... 68
trạng lãng phí chất xám ............................................................... 65
3.1. Công khai, minh bạch và giảm phiền hà trong tuyển dụng lao động .......... 68
3.1.1. Tăng cƣờng việc công khai hóa các chính sách, luật pháp về
XKLĐ và Hợp đồng cung ứng lao động của các doanh nghiệp
nhằm đảm bảo cho ngƣời lao động tiếp cận thị trƣờng lao động
ngoài nƣớc, hạn chế tối đa các tiêu cực trong lĩnh vực XKLĐ ......... 68
3.1.2. Đơn giản hóa các thủ tục hành chính gây phiền hà cho các doanh nghiệp
XKLĐ và ngƣơi lao động trong tuyển chọn lao động xuất khẩu .............. 71
3.2. Phối hợp giữa các cơ quan hữu trách để hoàn thiện việc đào tạo cho
ngƣời đi XKLĐ ....................................................................................... 72
3.2.1. Bộ LĐ – TB & XH cần nâng cao khả năng dự báo nhu cầu lao động
trong nƣớc và trên thị trƣờng quốc tế; trên cơ sở đó, đầu tƣ thỏa đáng
cho đào tạo LĐ nói chung và LĐ đi làm việc ở nƣớc ngoài nói riêng ...... 74
3.2.2. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Tổng cục dạy nghề trong
việc giáo dục và đào tạo ngƣời lao động............................................ 74
3.2.3. Cục Quản lý lao động ngoài nƣớc, Tổng cục dạy nghề và các
doanh nghiệp XKLĐ phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện "Đề
án thí điểm đào tạo nghề cho ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc
ngoài theo cơ chế đặt hàng, đấu thầu" ............................................... 75
3.2.4. Ban chỉ đạo XKLĐ địa phƣơng tại các huyện nghèo cần hợp tác chặt
chẽ, nhiệt tình hơn nữa với các doanh nghiệp XKLĐ để tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp tiến hành có hiệu quả công tác tạo nguồn tại
địa phƣơng ........................................................................................... 7
3.3. Giảm thiểu chi phí XKLĐ và hoàn thiện hệ thống tín dụng cho vay vốn
đối với ngƣời đi XKLĐ ........................................................................... 78
3.4. Nâng cao hiệu lực quản lý lao động làm việc ở nƣớc ngoài ....................... 82
3.5. Hỗ trợ tạo việc làm và sử dụng hợp lý nguồn lao động sau khi về nƣớc .... 86
Kết luận ......................................................................................................... 91
Danh mục tài liệu tham khảo......................................................................... 98
Phụ lục ................................................................................................................
BẢNG QUY ĐỊNH CHỮ CÁI VIẾT TẮT
NỘI DUNG ĐẦY ĐỦ
CHỮ VIẾT TẮT
Bộ LĐ – TB & XH Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
CNH – HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
DN Doanh nghiệp
DN XKLĐ Doanh nghiệp XKLĐ
EPS Luật cấp phép mới cho lao động nước ngoài đến Hàn Quốc
IELTS Hệ thống trắc nghiệm Anh ngữ quốc tế
ILO Tổ chức Lao động quốc tế
IOM LĐ NLĐ NN Petromanning
TNS TĐT XKLĐ UAE Vinamex WB WEF WTO Tổ chức Di cư quốc tế Lao động Người lao động Nước ngoài Công ty cổ phần phát triển nguồn lực và dịch vụ dầu khí Việt Nam Tu nghiệp sinh Tổng điều tra Xuất khẩu lao động Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất Công ty Phát triển nhân lực và thương mại Việt Nam Ngân hàng thế giới Diễn đàn kinh tế thế giới Tổ chức Thương mại Thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU, BIỂU ĐỒ
TÊN BẢNG, BIỂU TT Tr
1 Bảng 1.1- Tổng số dân và dân số trong độ tuổi từ 15 đến 59 ở Việt Nam 7
Bảng 1.2- Tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị và nông thôn thời kỳ 2 9 1996 – 2008
Bảng 1.3- Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng LĐ 3 9 trong độ tuổi năm 2008 phân theo vùng
4 Bảng 1.4- Vốn đầu tư cho 1 việc làm mới giai đoạn 2004 – 2007 18
5 Bảng 1.5- Lượng vốn tiết kiệm cho tạo việc làm từ XKLĐ 18
6 Bảng 1.6- Số lượng LĐ đưa đi phân theo thị trường điểm (1992 - 2009) 25
- 7 26
Bảng 1.8- Số lượng LĐ đi làm việc có thời hạn ở NN trong năm theo hợp 8 26 đồng phân theo giới tính, trình độ chuyên môn
9 Bảng 1.9- Thu nhập của LĐ Việt Nam ở NN giai đoạn 2004 – 2008 28
10 Bảng 1.10- Thu nhập bình quân tháng của LĐ Việt Nam ở NN 29
Bảng 1.11- Số tiền NLĐ đi XKLĐ gửi về so với kim ngạch xuất khẩu 11 30 hàng năm (2000 - 2009)
12 Biểu 1.1- Số LĐ đưa đi làm việc và ngoại tệ gửi về nước qua các năm (2000-2009) 31
13 Bảng 2.1- Cơ cấu LĐ Việt Nam đến làm việc theo thị trường thời kỳ 1991 – 2008 32
14 Bảng 2.2- Cơ cấu ngành nghề LĐ Việt Nam đến làm việc thời kỳ 1980 -1990 33
15 Bảng 2.3- Cơ cấu lao động đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn 1991 – 2008 33
16 Bảng 2.4- Tổng hợp lao động và ngành nghề (2006 - 2009) 34
17 Biểu 2.1- Số lao động đi làm việc tại Malaysia (1998-2009) 35
18 Biểu 2.2- Số lao động đi làm việc tại Đài Loan (1997- 2009) 37
19 Biểu 2.3- Số lao động đi làm việc ở Hàn Quốc (1992-2009) 38
20 Biểu 2.4- Số lao động đi làm việc ở Nhật Bản (1993-2009) 38
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong kinh tế thị trường, sức lao động đã trở thành một loại hàng hóa
đặc biệt. Với xu hướng toàn cầu hóa mạnh mẽ, xuất khẩu lao động cũng ngày
càng phát triển. Nó vừa thu hút ngoại tệ, làm tăng nguồn vốn đầu tư phát triển
sản xuất ở trong nước thông qua tiền gửi của người lao động làm việc ở nước
ngoài, vừa là cơ hội tăng việc làm, giảm bớt nạn thất nghiệp ở trong nước, nhờ
đó góp phần xóa đói giảm nghèo. Nó còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động; tạo cơ hội
tiếp cận công nghệ tiên tiến; mở rộng quan hệ với bạn bè quốc tế. Do vậy, xuất
khẩu lao động được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược của nhiều
quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong thời gian qua, hoạt động này của nước
ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, ngày càng khẳng định là một ngành
đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Theo thống kê, hiện nay có trên 500 ngàn
người lao động Việt Nam đang làm việc có thời hạn ở nước ngoài, hàng năm
chuyển về gia đình khoảng 1.7 tỷ USD.
Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu lao động ở nước ta còn nhiều mặt hạn
chế, do cơ sở pháp lý chưa đầy đủ, thiếu những chính sách thích hợp để mở
rộng thị trường lao động; chất lượng nguồn lao động xuất khẩu thấp, còn có
những hành vi lừa đảo, thiệt hại cho nhiều người…
Để đẩy mạnh xuất khẩu lao động, cần phải thẳng thắn chỉ ra những điểm hạn
chế, phân tích những nguyên nhân gây ra những hạn chế đó, để tìm giải pháp khắc
phục.
Chính vì vậy, “Những hạn chế trong xuất khẩu lao động của Việt
1
Nam” được chọn làm đề tài cho luận văn thạc sĩ này.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay, xuất khẩu lao động ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia, nhất là những nước
kém phát triển. Vì vậy, vấn đề này đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà
khoa học; ở nước ta cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới các góc độ
khác nhau:
Luận án TS kinh tế (2004): “Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính về
xuất khẩu lao động Việt Nam theo cơ chế thị trường” của Nguyễn Thị Phương
Linh, Học viện Ngân hàng. Luận án này đã nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt
động xuất khẩu lao động và quản lý tài chính vĩ mô đối với xuất khẩu lao động,
tìm hiểu kinh nghiệm quản lý xuất khẩu lao động và quản lý tài chính trong lĩnh
vực này ở châu Á, đồng thời liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam, từ đó đề ra các
giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới.
Luận án PTS khoa học kinh tế (1996): “Các giải pháp nhằm đổi mới
quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động ở Việt Nam trong giai đoạn 1995-
2010” năm 1996 của Trần Văn Hằng, Viện kinh tế học, nghiên cứu xuất khẩu
lao động dưới góc độ quản lý nhà nước. Tác giả đã phân tích những chủ
trương chính sách, cơ chế quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động Việt Nam
trong giai đoạn 1995-2010 và đề ra các giải pháp đổi mới công tác quản lý
này.
Luận án PTS kinh tế (1994): “Hoàn thiện hệ thống tổ chức và cơ chế quản
lý xuất khẩu lao động ở nước ta trong giai đoạn tới” của Cao Văn Sâm, Trường
Đại học Kinh tế quốc dân, đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn đưa lao động đi
làm việc có thời hạn ở nước ngoài hoặc làm việc cho các tổ chức của nước ngoài
ở Việt Nam. Tác giả đã phân tích thực trạng hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý
xuất khẩu lao động ở nước ta giai đoạn vừa qua, chỉ ra những tồn tại và nguyên
nhân, từ đó đề ra phương hướng và những biện pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt
2
việc tổ chức và quản lý xuất khẩu lao động của Việt Nam.
Luận án PTS khoa học (1989): “Tổ chức, sử dụng có hiệu quả nguồn
lao động xã hội của Việt Nam trong lĩnh vực đưa lao động đi làm việc có thời
hạn ở nước ngoài” của Phạm Kiên Cường, Đại học Kinh tế quốc dân, đã
nghiên cứu cơ sở hợp tác và phân công lao động giữa các nước, sự cần thiết
khách quan đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Tác giả cũng
đã khảo sát tình hình đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước
ngoài, đề xuất những biện pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu
quả hoạt động này.
Đề tài khoa học cấp Bộ: “Những giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu
lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam” do TS.
Nguyễn Hữu Cát, Vụ Xã hội, Ban Kinh tế Trung ương làm chủ nhiệm đề tài,
nghiệm thu năm 2006. Công trình này làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về
xuất khẩu lao động, những kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về xuất
khẩu lao động có thể vận dụng vào Việt Nam; đánh giá hiệu quả của xuất khẩu
lao động trong thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả xuất khẩu lao động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở
nước ta…
Sách “Bảo vệ quyền của người lao động di trú. Pháp luật và Thực tiễn
quốc tế, khu vực và quốc gia” do Phạm Quốc Anh chủ biên, Nxb Hồng Đức,
xuất bản năm 2008, nghiên cứu về các quy định pháp luật và các cơ chế quốc tế,
khu vực và quốc gia về bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
ở nước ngoài.
Sách chuyên khảo: “Nâng cao hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động của
các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay” do Trần Thị Thu làm chủ biên,
Nxb Lao động xã hội, xuất bản năm 2006, đã nghiên cứu về hiệu quả quản lý
trong các doanh nghiệp xuất khẩu lao động; phân tích thực trạng và đề ra các
3
giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý của các doanh nghiệp này tới năm 2010.
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết về vấn đề này được đăng trên kỷ yếu
các hội thảo, các báo và tạp chí.
Luận văn này kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trên, đồng
thời tập trung làm nổi bật những mặt hạn chế trong quá trình xuất khẩu lao
động ở nước ta thời gian qua, đặc biệt đi sâu phân tích nguyên nhân dẫn đến
những hạn chế ấy, từ đó đề xuất những giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy xuất
khẩu lao động nhanh, lành mạnh.
3. Mục đích và nhiệm vụ
* Mục đích của luận văn:
Phát hiện những hạn chế trong quá trình thực hiện hoạt động xuất khẩu
lao động, phân tích những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế và đề xuất
những giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động ở nước ta trong thời
gian tới.
* Nhiệm vụ của luận văn:
- Nêu bật tính cấp thiết của hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam
và điểm lại những thành tựu chủ yếu đã đạt được.
- Phát hiện những hạn chế và phân tích sâu những nguyên nhân chủ
yếu của những hạn chế trong xuất khẩu lao động của Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp khắc phục những hạn chế trên để đẩy mạnh
xuất khẩu lao động ở nước ta trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn này là phát hiện những hạn
chế và phân tích sâu những nguyên nhân của các hạn chế ấy, từ đó đề xuất các
giải pháp, chứ không đi sâu vào lý luận và thành tựu về xuất khẩu lao động.
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn chỉ giới hạn ở những khâu quan trọng trong hoạt động xuất khẩu
lao động của Việt Nam từ khi chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý của
4
nhà nước.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn dựa vào đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, đồng thời kế thừa những kết quả nghiên cứu trong các công trình khoa
học đã công bố để phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế
chính trị, đặc biệt coi trọng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng
hợp…
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn đã phát hiện những hạn chế trong hoạt động xuất khẩu lao
động của nước ta, phân tích sâu những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế
ấy, từ đó đề xuất những giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy hoạt động này trong
thời gian tới. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham
khảo trong khi hoàn thiện chính sách về xuất khẩu lao động.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 9 tiết:
Chƣơng 1: Xuất khẩu lao động của Việt Nam - Tính cấp thiết và thành
tựu.
Chƣơng 2: Những hạn chế trong xuất khẩu lao động của Việt Nam và
những nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế ấy.
Chƣơng 3: Những giải pháp để khắc phục những hạn chế nhằm đẩy
5
mạnh xuất khẩu lao động của Việt Nam.
Chƣơng 1
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM
- TÍNH CẤP THIẾT VÀ THÀNH TỰU
1.1. Sự cấp thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu lao động từ Việt Nam
.
XKLĐ được đề cập trong luận văn này là sự di chuyển LĐ và chuyên
gia đến làm việc có thời hạn ở NN (sau đây xin được gọi chung là XKLĐ) có
tổ chức, hợp pháp thông qua những Hiệp định Chính phủ, hoặc các tổ chức
kinh tế được cấp giấy phép hoạt động cung ứng và tiếp nhận LĐ, hoặc thông
qua các hợp đồng thầu khoán công trình hay đầu tư ở nước ngoài.
Việc đẩy mạnh XKLĐ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đang
trở thành cấp thiết là do:
1.1.1. Trên thị trường lao động ở Việt Nam cung vượt cầu quá xa
Nguồn cung về lao động Việt Nam rất dồi dào (xem bảng 1.1)
Số liệu của cuộc Tổng điều tra (TĐT) dân số và nhà ở năm 2009 cho
thấy, Việt Nam đang trong thời kỳ "cơ cấu dân số vàng", thời kỳ mà nhóm
dân số trong độ tuổi LĐ cao gần gấp đôi nhóm dân số trong độ tuổi "phụ
thuộc". So với kết quả của cuộc TĐT năm 1999, tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi
giảm từ 33% năm 1999 xuống còn 25% năm 2009, trong khi tỉ trọng dân số
6
của nhóm 15 - 59 tuổi tăng từ 58% năm 1999 lên 66% năm 2009 [49].
Bảng 1.1: Tổng số dân và dân số trong độ tuổi từ 15 đến 59 ở Việt Nam
Chỉ tiêu 1979 1989 1999 2007 2020
Tổng số dân (triệu) 52,742 64,375 76,325 85,1549 99,003
26,63 34,76 44,58 55,38 64,543 P15-59* (triệu)
Tỷ lệ gia tăng P (%) 2,0 1,7 1,37 1,16 -
2,66 2,49 2,71 1,18 - Tỷ lệ gia tăng P15-59 (%)
Nguồn: Báo cáo năm 2007 Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Số liệu thống kê việc
làm và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1996 – 2005, Nxb. Lao động - Xã hội, tr.57.
Dân số đông, tỷ lệ tăng dân số cao, cơ cấu dân số nước lại tương đối trẻ
nên nguồn LĐ của nước ta rất dồi dào. Đến năm 2020 ước tính số người trong
độ tuổi LĐ ở nước ta là trên 64 triệu người tương ứng 60% dân số. Hàng năm
chúng ta phải tạo ra 1,5 đến 1,6 triệu chỗ làm việc mới cho số người bước vào
độ tuổi LĐ. Đó là chưa kể số bộ đội phục viên xuất ngũ, số học sinh thôi học,
số LĐ giảm biên chế trong khu vực Nhà nước, thương binh, người tàn tật…
có nhu cầu tạo làm việc để bảo đảm cuộc sống. Trong khi đó, khả năng giải
quyết việc làm trong nước còn nhiều hạn chế. Theo kết quả điều tra khác tại
các doanh nghiệp 2001-2007, sau khi Việt Nam gia nhập WTO việc làm chỉ
tăng 2,3%. Con số năm 2007 là 3,4 triệu LĐ chủ yếu trong các ngành giày da,
đồ gỗ, may mặc... Việc chuyển dịch LĐ từ khu vực nông-lâm-thủy sản sang
các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng. Tỷ trọng LĐ trong công
nghiệp tăng từ 18,3% lên 19,2% và trong khu vực dịch vụ tăng từ 26,9% lên
đến 28,6%. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng LĐ khu vực thành thị được cải
thiện “chút ít” (giảm từ 5,1% xuống 4,9%), nhưng điều đáng chú ý là tỷ lệ
thất nghiệp trong thanh niên lại tăng lên. Số người thất nghiệp thuộc nhóm
7
LĐ trẻ,
... Đến năm 2008, tỷ lệ LĐ qua
đào tạo khoảng 37% và qua đào tạo tay nghề khoảng 26%.
200
(21,5%); trong
-
. Đến năm 2008, tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị
và tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn đều tăng lên các mức tương ứng
là 4,65% và 6,1% (xem bảng 1.3).
Bảng 1.2: Tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị và nông thôn
thời kỳ 1996 - 2008 (%)
Khu
1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2007 2008
vực
Nông
10,4 19,5 14,2 11,6 9,1
16,2 15,2 13,1 10,3 9,3
5,79 6,1
thôn
Thành
9,2
9,3
9,0
8,4
6,6
8,4
8,6
7,7
5,7
4,5
-
2,34
thị
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2009), Niên giám thống kê 2008, Nxb. Thống
8
kê, Hà Nội.
9
Bảng 1.3: Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lƣợng
lao động trong độ tuổi năm 2008 phân theo vùng
Tỷ lệ thất nghiệp (%) Tỷ lệ thiếu việc làm (%)
Chung Thành Chung Thành
Nông thôn thị thị Nông thôn
2.38 4.65 1.53 5.10 2.34 6.10
sông bằng 2.29 5.35 1.29 6.85 2.13 8.23
1.13 4.17 0.61 2.55 2.47 2.56
2.24 4.77 1.53 5.71 3.38 6.34
1.42 3.74 2.51 4.89 1.00 2.05 5.12 2.13 3.72 1.03 5.65 3.69
2.71 4.12 2.35 6.39 3.59 7.11 CẢ NƢỚC Đồng Hồng Trung du và miền núi phía Bắc Bắc Trung Bộ và duyên Hải miền Trung Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2009), Niên giám thống kê 2008, Nxb. Thống
kê, Hà Nội.
Tạo việc làm, giải quyết vấn đề thất nghiệp và sử dụng có hiệu quả
nguồn LĐ dồi dào là một thách thức đối với nền kinh tế nước ta. Một trong
những giải pháp tạo việc làm quan trọng, mang tính chiến lược là đẩy mạnh
XKLĐ.
1.1.2. Cầu về lao động ở nhiều nước trên thế giới lại nhỏ hơn cung,
tạo khả năng tiếp nhận người lao động Việt Nam tới làm việc
1.1.2.1. Những thị trường lao động truyền thống như: Ma-lai-xi-a, Đài
Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản.
Lực lượng lao động của Ma-lai-xi-a có việc làm chiếm tỷ lệ cao, năm
2003 là 96,33%, năm 2007 là 96,77%. Số LĐ Việt Nam làm việc ở Ma-lai-xi-
a đạt đỉnh cao năm 2003, tới 38.227 người, sau đó giảm, đến năm 2006 lại
10
tăng lên 37.941 người. Do khủng hoảng tài chính toàn cầu, chính phủ Ma-lai-
xi-a chủ trương hạn chế nhận NLĐ NN để dành việc làm cho người trong
nước, nên năm 2008 số LĐ Việt Nam sang đây chỉ có 7.800 người. Nhưng từ
cuối năm 2009 kinh tế có dấu hiệu phục hồi, nhiều nhà máy ở Ma-lai-xi-a lại
đối mặt với tình trạng thiếu nhân lực. Thí dụ: nhà máy Honsin lớn thứ ba
bang Johore, chuyên sản xuất đồ thể thao Adidas và Nike để xuất khẩu sang
Canada và Mỹ cần khoảng 1.500 công nhân, nhưng cuối năm 2009 nhà máy
chỉ có 1.162 công nhân, trong đó có khoảng 720 LĐ nước ngoài, gồm 73 LĐ
Việt Nam... [81]
Ma-lai-xi-a là thị trường phù hợp với NLĐ Việt Nam, vì không đòi hỏi
quá cao về chất lượng LĐ và mức chi phí trước khi đi làm việc thấp. Theo
đánh giá của nhiều chuyên gia, trong lĩnh vực XKLĐ, Ma-lai-xi-a được đánh
giá là thị trường triển vọng cho XKLĐ Việt Nam những năm tới.
Đài Loan là một trong những thị trường tiếp nhận nhiều NLĐ Việt
Nam. Tính đến 3/2010 có khoảng hơn 80.000 NLĐ Việt Nam làm việc hợp
pháp tại Đài Loan, trong đó gần 60.000 LĐ làm giúp việc gia đình và khán hộ
công, thu nhập từ 500USD/tháng đến 700USD/tháng.
Từ năm 2007, Đài Loan tạm dừng nhận LĐ Việt Nam giúp việc trong
các gia đình, nguyên nhân chủ yếu là do tỷ lệ LĐ bỏ trốn khỏi nơi làm việc
tương đối cao (10,13%).
Bộ LĐ-TB&XH có các giải pháp tạo điều kiện cho NLĐ hết hợp đồng
được ký lại hợp đồng trực tiếp với người sử dụng LĐ; đồng thời tiếp tục chỉ
đạo thực hiện các giải pháp ngăn chặn tình trạng NLĐ bỏ trốn ra ngoài làm
việc, vận động phía Đài Loan tiếp nhận trở lại LĐ giúp việc gia đình.
Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, số NLĐ Việt Nam
sang Đài Loan làm việc năm 2009 có giảm, nhưng vẫn dẫn đầu so với số
người đi sang các thị trường khác. Ba tháng đầu năm 2010, Đài Loan vẫn là
thị trường tiếp nhận nhiều NLĐ Việt Nam (4.567 người). Nhiều chuyên gia
11
nhận định đây vẫn là thị trường khá ổn định và có nhu cầu lớn về người nhập
cư. Theo điều tra của Ủy ban LĐ Đài Loan, tổng nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp cuối tháng 4 tăng khoảng 58.000 người [76].
Sự bùng nổ của nền kinh tế Hàn Quốc từ năm 1980s đã khiến nước này
thiếu hụt nhân công trầm trọng. Hiện tại, hàng năm trung bình Hàn Quốc cần
tiếp nhận khoảng 50.000 LĐ nước ngoài. Tỷ lệ có việc làm trong lực lượng LĐ Hàn Quốc khá cao: 96,44% và 96,77% năm 2007 [56, tr.816].
Việc hợp tác cung ứng và sử dụng LĐ giữa Việt Nam và Hàn Quốc bắt
đầu từ năm 1993 và được thực hiện theo 5 hình thức:
- Tu nghiệp sinh (TNS) gồm những ngành nghề: công nghiệp, xây
dựng, nông nghiệp và thủy sản;
- Thuyền viên đánh cá cho các tàu cá Hàn Quốc;
- Cung ứng lao động cho tập đoàn Hàn Quốc trúng thầu ở Li-bi;
- Cung ứng lao động theo luật tiếp nhận lao động nước ngoài (EPS);
- Cung ứng lao động kỹ thuật cao.
Từ ngày 1/1/2007, chương trình TNS bị hủy bỏ, những TNS đã chuyển
sang hình thức lao động. Đến nay, Việt Nam đã đưa được khoảng 35.000
NLĐ sang Hàn Quốc theo hình thức này. Bộ LĐ-TB&XH nước ta đã ký Thỏa
thuận hợp tác với tổ chức KOTEF để thực hiện Chương trình Thẻ vàng, tuyển
chọn và đưa lao động có tay nghề kỹ thuật sang làm việc tại Hàn Quốc trong
các lĩnh vực như: Công nghệ thông tin, Điện tử, Công nghệ Nano,... Hiện có
khoảng 50.000 LĐ Việt Nam đang làm việc ở Hàn Quốc.
Hàn Quốc vẫn tiếp tục nhận lao động Việt Nam và là một thị trường
đầy tiềm năng đối với NLĐ nước ta. Tuy số lượng năm 2009 giảm 60% so
với 2008, nhưng theo Cục Quản lý LĐ ngoài nước, Hàn Quốc sẽ tiếp nhận
thêm 12.500 lao động Việt Nam theo Chương trình cấp phép lao động nước
ngoài EPS trong năm 2010 [44].
Nhật Bản không cho phép tiếp nhận LĐ NN trình độ thấp hoặc không
12
có tay nghề vào làm việc. Nhưng LĐ phổ thông có thể vào Nhật Bản làm việc
theo Chương trình tu nghiệp với thời gian không quá 1 năm. Từ năm 1992, để
bù đắp sự thiếu hụt nguồn nhân lực do dân số già hóa và tỷ lệ sinh thấp, Chính
phủ Nhật Bản mở rộng thêm chương trình thực tập kỹ thuật với thời gian tối
đa là 2 năm, nâng tổng số thời gian tu nghiệp và thực tập kỹ thuật lên tối đa là
3 năm.
Những năm gần đây, sự thiếu hụt nhân lực trầm trọng do sự già hóa dân
số và tỷ lệ sinh thấp đã khiến số lượng TNS NN vào Nhật Bản liên tục tăng
lên. Bình quân mỗi năm Nhật Bản tiếp nhận trên 70.000 người. Từ năm 1992
đến 2009, đã có trên 38.955 TNS Việt Nam sang làm việc tại các xí nghiệp
vừa và nhỏ của Nhật Bản, chủ yếu trong các ngành dệt, may công nghiệp, lắp
ráp điện tử, gia công cơ khí, chế biến, xây dựng và thủy sản với thu nhập xấp
xỉ 1.000 USD/tháng, cá biệt lên đến 2.000 USD/tháng... Số lượng TNS Việt
Nam tăng dần theo từng năm. Hiện còn khoảng 20.000 TNS đang làm việc tại
Nhật Bản. Tuy nhiên, số TNS Việt Nam chỉ chiếm 4,5% tổng số TNS nước
ngoài tại Nhật Bản, trong khi con số này của Trung Quốc là 77%.
1.1.2.2. Những thị trường mới
Hoạt động XKLĐ của nước ta đang được mở rộng sang các thị trường
mới, như Trung Đông, Hoa Kỳ, Ca-na-da, Phần Lan, Niu-di-lan, Bồ Đào Nha...
Nhiều nước ở khu vực Trung Đông, nhất là 6 nước vùng Vịnh, có
nguồn dầu mỏ và khí đốt phong phú, nhưng dân số lại ít, nên rất cần LĐ NN. Thí dụ: UAE có dân số 4,8 triệu người [57, tr.22], LĐ NN chiếm tới 90% lực
lượng LĐ trong nhiều lĩnh vực kinh tế. Có khoảng 3,11 triệu LĐ NN đến từ
202 quốc gia, trong đó 1,5 triệu là người Ấn Độ. Từ năm 2004, Việt Nam bắt
đầu đưa NLĐ sang làm việc có thời hạn tại đây, và đến nay đã là 10.000 người, bao gồm cả số đi theo hợp đồng cá nhân [57, tr.23].
Ca-ta chỉ có 900.000 dân (năm 2008), nhưng nhu cầu xây dựng và phát
triển kinh tế cao đòi hỏi phải thu nhận nhiều NLĐ NN. Ca-ta có nhu cầu
13
nhiều về thợ hàn bậc cao với mức thu nhập cao.
Thị trường Hoa Kỳ có nhu cầu về lao động chuyên môn cao, y tá, lao
động nông nghiệp theo thời vụ, nhưng đòi hỏi rất khắt khe về tiếng Anh, bằng
cấp và thủ tục nhập cảnh.
Ca-na-đa tiếp nhận nhiều LĐ NN: năm 1995: 69.000 người, năm 2005:
99.000 người, dự báo nhu cầu hàng năm trong thời gian tới là khoảng 100.000
người.
Ca-na-đa không áp dụng quy định về cấp quota tiếp nhận LĐ NN,
không hạn chế về ngành nghề hay xuất xứ. Nghề nghiệp, trình độ, quốc tịch,
tay nghề... của LĐ NN hoàn toàn tùy thuộc vào yêu cầu của người sử dụng.
Tính đến nay ở Ca-na-đa, số NLĐ NN có trình độ cao (lập trình viên, quản lý
cao cấp...) chiếm khoảng 53% tổng số LĐ nhập cư làm việc theo hợp đồng
dài hạn. LĐ nông nghiệp và một số ngành nghề khác chỉ được phép làm việc
ngắn hạn, thường không quá 2 năm. Theo dự báo, những năm tới Ca-na-đa có
nhu cầu nhiều về lao động cho ngành chế biến thực phẩm và chế tạo.
Phần Lan chỉ có 5,3 triệu dân với diện tích bằng 2/3 diện tích Việt
Nam, dân số đang “già hóa” nhanh, người dân bản địa trong độ tuổi LĐ ngày
một khan hiếm. Vì vậy, thị trường Phần Lan cũng đang rất rộng mở với LĐ
Việt Nam, cần tuyển LĐ phổ thông cho các hoạt động mang tính thời vụ với
nhu cầu lên tới 10.000 người/năm. Sự dẻo dai, chịu khó của LĐ Việt Nam đã
“ghi điểm” trong mắt các doanh nghiệp Phần Lan. Cho đến nay, Việt Nam là
nước đầu tiên ngoài khu vực châu Âu được Phần Lan chọn áp dụng thí điểm
hình thức hợp tác LĐ di cư, tức là người LĐ được hưởng mọi quyền lợi về
lương bổng, bảo hiểm như người Phần Lan. Đây chính là cơ hội lớn cho hoạt
động XKLĐ của nước ta.
Úc là một quốc gia rộng lớn đứng thứ 6 trên thế giới về diện tích (7.741.000 km2) nhưng tính theo thống kê năm 2008, dân số Úc đứng thứ 53
trên thế giới chỉ đạt 21,3 triệu, bằng khoảng ¼ dân số Việt Nam. Úc không ký
14
hiệp định Hợp tác LĐ cấp chính phủ với nước nào, chỉ có hợp đồng LĐ giữa
Công ty Úc hoặc cá nhân với nước ngoài, trong đó các Công ty hoặc cá nhân
đó chịu trách nhiệm pháp lý về tất cả các điều trong hợp đồng LĐ. Để bù đắp
cho nguồn nhân lực thiếu hụt, bên cạnh chính sách tiếp nhận LĐ nhập cư (chủ
yếu nhằm vào đối tượng LĐ có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao; các nhà
quản lý cao cấp hoặc các nhà đầu tư nước ngoài có nguồn vốn lớn đầu tư vào
Úc), Chính phủ Úc còn cho phép các Công ty hoạt động tại Úc được tiếp nhận
LĐ nước ngoài với trình độ chuyên môn kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu của
chủ vào làm việc có thời hạn (theo hình thức visa 457 - visa công tác dài hạn
tại Úc, với thời hạn từ 3 tháng đến 4 năm). Chính phủ Úc đưa ra quy định rất
chặt chẽ và cụ thể về: Danh sách các nghề đòi hỏi kỹ năng và danh sách các
nghề cần LĐ nhập cư (LĐ nước ngoài chỉ có thể tới Úc làm việc theo các
ngành nghề được quy định trong các danh sách trên); mức lương tối thiểu ở
hầu hết các ngành nghề; thời hạn hợp đồng đối với NLĐ NN đến làm việc tại
Úc thường là 2 năm (có thể gia hạn đến 4 năm). Vào thời điểm giữa năm
1995, có khoảng hơn 14.300 người LĐ nước ngoài làm việc có thời hạn tại
Úc thì đến năm 2004, con số này đã lên tới 43.100. Hiện nay thị trường
XKLĐ Úc đang tuyển lao động trong các lĩnh vực như: bếp, thợ làm bánh, thợ
hàn, thợ cơ khí, điện lạnh... theo những tiêu chuẩn sau: có từ 3 - 5 năm kinh
nghiệm trong nghề, thông thạo tiếng Anh (5.0 IELTS, thay vì 4.5 IELTS như
trước đây theo thông báo của Chính phủ Úc về các thay đổi từ chương trình
visa 457 dành cho LĐ NN, được áp dụng từ 1/4/2009) và có sức khỏe tốt.
Mức lương tối thiểu cho những LĐ xin cấp visa mới hoặc đang có visa 457 từ
ngày 1/7/2009 cũng tăng 4,1% so với tổng thu nhập năm 2008. Từ giữa tháng
9 năm 2009, tất cả LĐ Việt Nam thuộc chương trình visa 457 được áp dụng
mức lương tối thiểu của thị trường.
Cũng như Úc, Niu-di-lân đang cần LĐ trong lĩnh vực thợ làm bánh
(trong siêu thị), thợ hàn, đầu bếp; tuy nhiên, LĐ trong lĩnh vực nông nghiệp
15
và chương trình vừa học vừa làm được đánh giá là triển vọng nhất. Ngày
3/8/2009, trong buổi gặp Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Nguyễn Thị Kim Ngân
nhân dịp kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam, đại sứ Niu-di-lân James
Kember cho biết trong thời gian tới, việc Niu-di-lân đồng ý tiếp nhận 100 đầu
bếp và 100 kỹ sư của Việt Nam sang làm việc ba năm, việc này có ý nghĩa rất
quan trọng đối với hoạt động XKLĐ của Việt Nam. Đặc biệt, thỏa thuận giữa
hai nước về chương trình làm việc trong kỳ nghỉ (một chương trình đưa sinh
viên Việt Nam sang vừa học vừa làm tại nước bạn) nếu được ký kết sẽ mở ra một
cơ hội không những về tạo việc làm mà còn nâng cao kỹ năng nghề và ngoại ngữ
cho nguồn nhân lực của Việt Nam.
LĐ đi theo chương trình này phải qua một khóa đào tạo chứng chỉ quốc tế
và chỉ cần biết ngoại ngữ, không cần có chứng chỉ ngoại ngữ như yêu cầu của các
thị trường khó tính khác.
Ngoài ra, còn có thị trường làm việc theo mùa, hàng năm ngành nông
nghiệp Niu-di-lân cần một lượng LĐ làm công việc thu hoạch, được cấp visa từ
sáu tháng đến một năm. Hiện tại, chương trình này chưa được triển khai vì giữa
hai nước mới chỉ có nghị định thư. Sau khi chính phủ hai bên phê chuẩn nghị định
thư, các DN mới có thể triển khai rộng rãi chương trình trên.
Với thị trường Bồ Đào Nha, hiện tại mới chỉ có duy nhất công ty Suleco
hoạt động. Công ty này mới đưa một số công nhân sang đây làm nghề hàn ống
trong lĩnh vực dầu khí, tay nghề thợ hàn đạt tiêu chuẩn 6G. Theo thống kê, từ năm
2000 - 2005, tổng số LĐ NN làm việc tại Bồ Đào Nha là 223.297 người, trong đó
có 84.293 người đến từ các nước Châu Âu, 14.118 người từ châu Á - châu Đại
Dương, 49.404 người từ châu Mỹ và 72.180 người từ châu Phi. Mức phí mà NLĐ
phải trả trước khi đi là 3.500 USD tiền môi giới (công ty trả cho phía môi giới Bồ
Đào Nha), tiền vé máy bay, phí làm visa. Ngoài ra, NLĐ còn phải đóng tiền dịch
vụ cho công ty (một tháng lương cơ bản/năm). Đây cũng là một thị trường đòi hỏi
16
tay nghề cao nhưng đầy hứa hẹn cho XKLĐ của Việt Nam.
1.1.3. Vai trò quan trọng của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội của nước ta
1.1.3.1. Xuất khẩu lao động tạo việc làm cho người lao động với chi phí
thấp hơn mức đầu tư ở trong nước.
.
.
(
):
Ms = (MOE - MIE) x OE
:
Ms
c MOE
MIE:
, làm tăng thêm nguồn vốn cho đầu tư phát triển khác hoặc đầu tư để giải
quyết việc làm trong nước. Hàng năm XKLĐ tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng
17
cho vốn đầu tư tạo việc làm mới [30].
4.000 USD [37].
Những khoản tiền trên bổ sung vào thu nhập quốc dân và tăng thu
ngoại tệ cho đất nước.
-
. Nếu chỉ tính ở mức thấp (60-70% tổng số lao động đi XKLĐ của Việt
Nam) thì mỗi năm chúng ta cũng đã có 350.000 - 400.000 người hoàn thành
hợp đồng về nước và hàng năm bổ sung thêm 4000 - 5000 người được tiếp
thu và nâng cao trình độ tay nghề, kỹ năng và tác phong công nghiệp [65,
tr.19].
18
, NLĐ trư
.
-
HĐH.
nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ hay từ nông nghiệp lạc hậu lên trình độ
cao.
, sẽ là nguồn LĐ có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của các
nhà đầu tư theo chiều sâu, sau khi họ về nước.
1.1.3.5. Góp phần đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới vào
sản xuất, thúc đẩy nhanh công nghiệp hóa - hiện đại hóa theo nguyên lý "3I"
(Imitation-Bắt chước, Initiative-Cải tiến, Innovation-Sáng tạo).
Trong quá trình làm việc, NLĐ trực tiếp sử dụng kỹ thuật và công nghệ
hiện đại để sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Theo quy luật nhận thức, NLĐ từ
bắt chước để làm theo, sau đó là cải tiến và cuối cùng là sáng tạo.
Kinh nghiệm của các nước dẫn đầu về XKLĐ như Nhật Bản, Hàn
Quốc, Ấn Độ, Ixaren cho thấy, những NLĐ đi làm việc ở NN, sau khi về
nước, họ mang những tri thức đã tích lũy được áp dụng vào quá trình sản xuất
kinh doanh của mình. Chính lực lượng lao động này đã góp phần thúc đẩy
nhanh quá trình đưa công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh và quản lý. Điều
này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng sử dụng khoa học và
19
công nghệ tiên tiến.
1.1.3.6. Góp phần đẩy mạnh đầu tư và mở rộng thị trường hàng hóa,
dịch vụ ra thị trường thế giới
Khi là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), DN các
nước thành viên có cơ hội to lớn trong việc đầu tư, xuất khẩu hàng hóa và
dịch vụ sang các nước thành viên. Theo đó, việc di chuyển lao động theo các
quy định của WTO được thực hiện dễ dàng.
Tự do di chuyển lao động giữa các nước thành viên là điều kiện quan
trọng giúp các nhà đầu tư lựa chọn phương án sử dụng lao động tối ưu cho hoạt
động sản xuất kinh doanh. Mặt khác, NLĐ ra làm việc ở NN cũng góp phần
quảng bá hàng hóa và dịch vụ của nước đó đối với người tiêu dùng của nước sở
tại.
1.2. Những thành tựu của xuất khẩu lao động của Việt Nam trong
thời gian qua
1980, trong
.
1983 - 1984,
20
.
.
-
.
370/CP.
.
-
-
.
-
21
-
-
-
-
.
1.2.1. Về số lượng và chất lượng lao động xuất khẩu của Việt Nam
2,8% năm 2001 lên 5,36% năm 2008 (xem bảng
1.5). Như vậy, số lao động được giải quyết việc làm thông qua XKLĐ ngày
càng tăng.
22
(5.800).
Năm 2009, do khủng hoảng tài chính toàn cầu nên một bộ phận đáng kể
LĐ mất việc làm, nhiều nước thực hiện các biện pháp hạn chế hay tạm dừng
nhận LĐ NN. Có khoảng 9.000 người Việt Nam làm việc ở NN đã phải về nước
trước thời hạn. Từ giữa năm 2009, kinh tế của nước ta bắt đầu ổn định và phục
hồi, nhu cầu LĐ có tăng lên, nhưng vẫn ở mức thấp. Tính đến ngày 31/12/2009,
có 75.000 NLĐ đi làm việc ở NN, đạt gần 83% kế hoạch đã đề ra [62]. Trong
năm 2009, các DN cũng đã tiếp cận và đưa được LĐ vào một số thị trường mới:
Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Ixraen... Tuy số lượng còn nhỏ, nhưng cũng mở ra
triển vọng mới.
Bảng 1.4: Số lƣợng lao động đƣa đi phân theo thị trƣờng điểm (1992 - 2009)
Đơn vị tính: người
Nƣớc tiếp nhận
TT Năm
Malaysia Nƣớc khác
Tổng số
Đài Loan
Nhật Bản
Hàn Quốc
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
810 3.960 10.150 7.187 12.950 18.470 12.240 21.810 31.500 36.168 46.122 75.000 67.447 70.594 78.855 85.020 86.990 75.000
Tổng % tổng số
0 0 0 0 0 191 1.697 558 8.009 7.782 13.191 29.069 37.144 22.784 14.127 23.640 33.000 21.667 740.264 212.949 100,00
28,77
0 164 382 286 1.046 2.227 1.896 1.856 1.497 3.249 2.202 2.256 2.752 2.955 5.360 5.517 5.800 5.456 44.901 6,06
210 3.318 4.781 5.270 7.826 4.880 1.500 4.518 7.316 3.910 1.190 4.336 4.779 12.102 10.577 12.187 16.000 7.578 112.278 15,17
0 0 0 0 0 0 7 1 239 23 19.965 38.227 14.567 24.605 37.941 26.704 7.800 2.792 172.853 23,35
600 478 4.987 1.631 4.087 11.172 7.140 14.877 14.349 21.204 9.574 1.112 8.205 8.148 10.850 16.972 24.390 37.507 197.283 26,65
23
Nguồn: Báo cáo hàng năm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Bảng 1.5 đƣợc
Đơn vị tính: 1000 người
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
tiêu
1.400
1.420
1.525
1.557,5
1.610,6
1.650,8
1.620,02
1.621,99
Tổng số
1.364
1.374
1.450
1.490
1.540
1.572
1.5335
1.535
Trong nƣớc
(97,42)
(96,76)
(95,08)
(95,66)
(95,61)
(95,22)
(94,75)
(94,64)
Tỷ lệ (%)
36
46
75
67,5
70,6
78,8
85,02
86,99
Ngoài nƣớc
(2,58)
(3,24)
(4,92)
(4,34)
(4,39)
(4,78)
(5,36)
(5,36)
Tỷ lệ (%)
Nguồn: Tài liệu Hội thảo "Pháp luật và cơ chế quốc gia, khu vực và quốc tế
về bảo vệ người lao động ở nước ngoài", Hội Luật gia Việt Nam, Báo cáo
"Pháp luật Việt Nam về bảo vệ NLĐ Việt Nam ở NN" tr.3.
Bảng 1.6: Số lƣợng lao động đi làm việc có thời hạn ở nƣớc ngoài trong
năm theo hợp đồng phân theo giới tính, trình độ chuyên môn
Đơn vị: người
Năm 2006 2007
Tổng số Tổng số Trong đó Nữ
78.855 Trong đó Nữ 27.023 85.020 28.278
Tổng số Theo trình độ chuyên môn Phổ thông Có tay nghề Đại học Chuyên gia 54.955 23.621 183 96 19.990 6.971 37 25 52.157 32.863 329 198 19.167 8.944 109 58
24
Nguồn: Báo cáo năm 2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Theo số liệu báo cáo từ các doanh nghiệp, tổng số lao động đi làm việc
ở nước ngoài trong tháng 6/2010 là 7.493 người. Như vậy, tổng số lao động
đưa đi từ đầu năm tới nay là 37.068 người. Trong đó Đài Loan 12.939 người;
Hàn Quốc 1.476 người; Nhật Bản 2.475 người; Malaysia 2.511 người; Lào
2.840 người; UAE 4.416 người, Libya 3.032 người, Ả rập Xê út 1.465 người,
Macao 1.693 người, Bahrain 1.204 người, Campuchia 1.387 người và các thị
trường khác là 1.630 người [95].
Chất lượng nguồn lao động đi XKLĐ cũng được từng bước nâng lên.
Thông qua hoạt động XKLĐ, chúng ta đã có một lực lượng lao động có kỹ năng,
tay nghề và lối sống công nghiệp. Năm 2007, số LĐ có tay nghề chiếm 38,62%
trong tổng số lao động đi XKLĐ, tăng so với mức 29,95% của năm 2006. Số
chuyên gia đi XKLĐ tuy còn khiêm tốn, nhưng cũng đã tăng từ 0,23% năm 2006
lên 0,39% trong năm 2007 (tính toán theo số liệu trong bảng 1.6). Đến nay, có thể
nói lao động Việt Nam đang ngày càng có uy tín trên thị trường quốc tế, được
người sử dụng lao động NN đánh giá cao về tính cần cù, thông minh, sáng tạo,
khả năng tiếp thu công nghệ và hòa nhập với môi trường lao động mới. Một ví dụ
điển hình là trong số 15 quốc gia phái cử lao động sang Hàn Quốc làm việc theo
Chương trình cấp phép mới, lao động Việt Nam luôn được các chủ sử dụng nước
này đánh giá cao nhất với tỷ lệ được lựa chọn và số lượng lao động nhiều nhất
[66, tr.19].
1.2.2. Về thu nhập của người lao động làm việc ở nước ngoài
Hiệu quả kinh tế từ XKLĐ ngày càng tăng. Theo thống kê, thu nhập
bình quân (bao gồm tiền lương cơ bản, tiền làm thêm giờ và tiền thưởng của
NLĐ Việt Nam làm việc ở nước ngoài trong những năm gần đây khoảng 550
USD/tháng; sau khi hoàn thành hợp đồng 2 năm, tùy theo ngành nghề và quốc
gia đến làm việc, mỗi LĐ có thể tích lũy được khoảng 7.000 - 12.000 USD.
Thu nhập bình quân tính theo nước NLĐ đến làm việc, cao nhất là Nhật Bản,
25
thấp nhất là tại Lào (xem bảng 1.7). Thu nhập bình quân tính theo ngành, nghề,
thì cao nhất là kỹ thuật viên phần mềm và thấp nhất là lao động nông nghiệp
(xem bảng 1.8).
Hàng năm, lượng ngoại tệ do người đi XKLĐ chuyển về nước khoảng
hơn 1,7 tỷ USD (cả hai năm 2007 và 2008 đạt 1,8 tỷ USD), mặc dù về tỷ lệ so
với tổng kim ngạch xuất khẩu thì giảm dần, song, về số tuyệt đối vẫn tăng đều
hàng năm và là nguồn thu nhập ròng cho đất nước (xem bảng 1.9). Năm 2009,
do khủng hoảng tài chính toàn cầu, cả kim ngạch xuất khẩu và lượng ngoại tệ
mà NLĐ ở NN chuyển về nước đều giảm, nhưng số tiền NLĐ đi XKLĐ gửi
về chỉ giảm một chút, đạt khoảng 1,7 tỉ USD (xem biểu 1).
Theo số liệu thống kê tổng hợp ở một số địa phương, số tiền NLĐ gửi
về cho gia đình trong năm 2006 gần bằng hoặc cao hơn thu ngân sách của địa
phương đó như: Nghệ An: 690 tỷ đồng, Thanh Hóa: 650 tỷ đồng, Thái Bình:
638 tỷ đồng, Phú Thọ: 600 tỷ đồng, Bắc Giang: 577 tỷ đồng, Hưng Yên: 240
tỷ đồng, Tuyên Quang: 166 tỷ đồng.
Bảng 1.7: Thu nhập của lao động Việt Nam ở nƣớc ngoài
giai đoạn 2004 - 2008
Đơn vị tính: USD/người/tháng
2004 550-600 700-750 700-800 150-200 100-150 120-170 2005 550-600 750-800 700-850 150-200 100-150 120-170 200-250 2006 550-600 800-850 800-850 150-200 100-150 120-170 200-250 2008 2007 650-700 650-700 850-900 950-1100 850-900 950-1100 200-300 150-200 200-250 100-150 200-300 120-170 200-250 200-250
Nƣớc TT 1 Đài Loan 2 Hàn Quốc 3 Nhật Bản 4 Libi 5 Lào 6 Malaysia 7 Các nước vùng Vịnh
500-1000 500-1000 500-1000 500-1000 500-1000
8 Sỹ quan, thuyền viên
Bình quân 400 450 500 550 600
26
Nguồn: [29A], tr. 82-83
Bảng 1.8: Thu nhập bình quân tháng của lao động Việt Nam ở nƣớc ngoài
TT Thị trƣờng Ngành nghề
1 Nhật Bản
2 Hàn Quốc
3 Đài Loan
4 Malaysia
5 Cata
Công nghiệp, xây dựng Vận tải biển Kỹ thuật viên phần mềm Ngành nghề khác Công nghiệp, xây dựng Thuyền viên tàu cá Vận tải biển Ngành nghề khác Giúp việc gia đình, hộ lý Công nghiệp, xây dựng Vận tải biển Thuyền viên tàu cá Ngành nghề khác Giúp việc gia đình, hộ lý Nông nghiệp Công nhân nhà máy Công nghiệp, xây dựng Vận tải Dịch vụ Nhà hàng, khách sạn Đơn vị: USD/tháng/người Thu nhập bình quân 500-650 850-950 1000-1500 500-550 450-500 200-300 850-950 450-500 280-320 300-350 300-350 180-220 300-350 200-220 150-170 200-300 200-250 200-250 200-250
Nguồn: Tư liệu Cục Quản lý lao động ngoài nước từ năm 2000 - 2008
Bảng 1.9: Số tiền ngƣời lao động đi xuất khẩu lao động gửi về so với kim ngạch xuất khẩu hàng năm (2000 - 2009) Tổng số Ngƣời lao động gửi về Xuất khẩu
Năm
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Số tiền (Tỷ USD) 15,733 16,429 18,156 21,649 28,053 33,873 41,305 50,180 64,700 58,796 Tỷ lệ (%) 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 Số tiền (Tỷ USD) 14,483 15,029 16,706 20,149 26,503 32,223 39,605 48,380 62,900 57,096 Tỷ lệ (%) 92,05 91,48 92,01 93,07 94,47 95,13 95,88 96,41 97,22 97,11 Số tiền (Tỷ USD) 1,25 1,40 1,45 1,50 1,55 1,65 1,70 1,80 1,80 1,70 Tỷ lệ (%) 7,95 8,52 7,99 6,93 5,53 4,87 4,12 3,59 2,78 2,89
27
Nguồn: [63, tr.19] và [96]
Biểu 1: Số LĐ đƣa đi làm việc và ngoại tệ gửi về nƣớc qua các năm 2000-
2009
28
Nguồn: Tư liệu Cục Quản lý lao động ngoài nước từ năm 2000-2009
Chƣơng 2
NHỮNG HẠN CHẾ TRONG XKLĐ CỦA VIỆT NAM
VÀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NHỮNG HẠN CHẾ ẤY
2.1. Những hạn chế trong việc xuất khẩu lao động
ta. Bên cạnh những kết quả khả quan đã nêu ở trên, còn bộc lộ những hạn chế
trong lĩnh vực này:
Thứ nhất,
như Đài Loan,
Ma-lai-xi-a, Hàn Quốc, Nhật Bản (xem bảng 2.1). Chúng ta đang phấn đấu để
mỗi năm đưa đi làm việc ở nước ngoài 9 - 10 vạn người nhưng còn rất khó
khăn. Hơn nữa, so sánh với một số nước Châu Á như: Phi-lip-pin, Trung
Quốc, Inđônêxia và Ấn Độ thì Việt Nam cũng thua kém cả về số lượng LĐ
lẫn thu nhập. Phi-lip-pin là nước nổi bật nhất về XKLĐ trong khối Đông Nam
Á, có diện tích và dân số tương tự Việt Nam, hàng năm họ đưa gần 1 triệu LĐ
và chuyên gia đi làm việc ở trên 100 nước và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới
(mỗi ngày có trên 2.500 người xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài) và số
ngoại tệ mà NLĐ và chuyên gia chuyển về hàng năm từ 16 - 18 tỷ USD.
Trung Quốc từ khi cải cách mở cửa cuối năm 1970 đến nay đã có 18 triệu
người ra sống và làm việc ở NN. Inđônêxia trung bình mỗi năm đưa trên 8
vạn LĐ với số ngoại tệ thu về 4,67 tỷ USD, Ấn Độ mỗi năm đưa được 50.000
29
LĐ và thu về gần 11 tỷ USD.
Bảng 2.1: Cơ cấu lao động Việt Nam đến làm việc theo thị trƣờng
thời kỳ 1991 - 2008
TT Nƣớc tiếp nhận Tỷ lệ (%) TT Nƣớc tiếp nhận Tỷ lệ (%)
7,02 6 UAE 1,66 1 Nhật Bản
16,81 8 Ả rập Xê út 0,85 2 Hàn Quốc
33,97 9 CH Séc 0,34 3 Đài Loan
4 Ma-lai-xi-a 30,66 10 Ma cao 0,93
1,74 11 Các nước khác 6,02 5 Cata
Tổng 100,00
Nguồn: [29A], tr. 81.
. Thứ hai, c
Số LĐ có tay ng
-
và trả chi phí môi giới cao thì mới có đơn đặt hàng. Một bộ phận NLĐ đi làm
việc ở NN vẫn được gọi là những lao động "3 không": không nghề, không
ngoại ngữ, không tác phong công nghiệp và kỷ luật LĐ; chưa có ý thức đúng
đắn về quyền lợi và nghĩa vụ khi làm việc ở NN, chỉ quan tâm đến lợi ích
trước mắt của bản thân. Vì vậy, sức cạnh tranh của DN XKLĐ còn hạn chế.
Thứ ba, cơ cấu ngành nghề XKLĐ chưa đa dạng, LĐ xuất khẩu chủ
yếu tham gia vào một số lĩnh vực như xây dựng, vận tải biển, khán hộ công và
giúp việc gia đình, thuyền viên tàu cá, dệt may… ; trong khi đó, các ngành
nghề đòi hỏi tay nghề và trình độ như các ngành công nghệ thông tin, tài
chính, ngân hàng… thì số lượng lao động của Việt Nam còn khiêm tốn (xem
30
bảng 2.2, bảng 2.3 và bảng 2.4).
Bảng 2.2: Cơ cấu ngành nghề lao động Việt Nam đến làm việc
thời kỳ 1980 - 1990
TT Ngành nghề
Số lƣợng (ngƣời) Tỷ trọng (%)
1 Công nghiệp nhẹ 2 Cơ khí 3 Xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng 4 Các ngành khác 5 Hóa chất 6 Nông, lâm nghiệp 7 Công nghiệp thực phẩm Tổng cộng 117.432 71.077 64.247 10.119 8.329 6.160 3.542 280.906 41,80 25,30 22,87 3,60 2,97 2,19 1,26 100,00
Nguồn: Tạp chí Việc làm ngoài nước, Số 6 năm 1999 + Số 2 năm 2009
Bảng 2.3: Cơ cấu lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài giai đoạn 1991 - 2008
TT Ngành nghề TT Ngành nghề
Tỷ lệ (%)
1 Cơ khí chế tạo, điện, 7 Nông nghiệp Tỷ lệ (%) 48,45 0,58
điện tử
22,52 15,29 8 Vận tải bộ 9 Dệt may 0,02 0,02
2 Lao động đã qua đào tạo 3 Giúp việc gia đình, hộ lý, chăm sóc người già
4 Xây dựng 5 Thuyền viên tàu cá 6 Vận tải biển 5,85 10 Dịch vụ 3,70 11 Ngành nghề khác 2,51 Tổng 0,22 0,84 100,00
31
Nguồn: Tư liệu Cục Quản lý lao động ngoài nước (6/2009), Bộ LĐ-TB&XH
Bảng 2.4: Tổng hợp lao động và ngành nghề (2006 - 2008)
Đơn vị: người
Thị trƣờng
Ngành nghề
Tổng
Nhật Bản
Số LĐXK đã qua đào tạo 2008 2007 2006 4577 4158 3950 1078 1130 1211 57 137 75 430 92 124
12685 3419 269 646
4652 4373 5822 14847
5517
Hàn Quốc 5360 8205 1219 90 1031 32 6142 10462 14219 2380 68 783 691 1409 82 152 82 17019 32886 5008 240 1966 805
1255 1579 8428 11262
10577 12187 18141 40905
1419 8734 7430 17583
Đài Loan
10980 252 1376 12 88 12980 21492 55 1890 21 743 71 1812 15 28 45452 378 5078 48 859
4325 8033 9534 21892
14127 35237 0 23640 31631 7337 26442 245 0 69398 69106 245
2704 239 192 3135 Malaysia
3915 4705 2467 11087
Cata
32
Công nghiệp Vận tải biển Xây dựng Ngành nghề khác Lao động lành nghề (TDC) Cộng Công nghiệp Thuyền viên tàu cá Vận tải biển Xây dựng Ngành nghề khác Lao động lành nghề (TDC) Cộng Khán hộ công, giúp việc gia đình Công nghiệp Vận tải biển Thuyền viên tàu cá Xây dựng Ngành nghề khác Lao động lành nghề (TDC) Cộng Công nghiệp Giúp việc gia đình Nông nghiệp và dịch vụ Lao động lành nghề (TDC) Cộng Xây dựng Công nghiệp (SXCT) Dịch vụ (Nhà hàng, 37941 327 0 27 26704 470 3 20 7810 150 0 0 72455 947 3 47
Thị trƣờng
Ngành nghề
Tổng
Số LĐXK đã qua đào tạo 2008 2007 2006
2885 3019 1135 7039
3219 1420 302 4685 1488 667 2757 2341 477 10661 5249 1146
38 15 27 80 UAE
1585 1554 2389 5528
Ả rập xê út 2130 711 457 41 452 2845 1232 708 61 986 6735 2002 1187 119 1438 1760 59 22 17 0
955 1293 2322 74
CH Séc 1620 338 85 0 0 2987 1370 47 15 0 4705 1708 132 15 7 98 0 0 0 7
406 1127 1533 0
Ma Cao 423 1169 836 2 125 1432 2474 446 3 102 1862 3643 1282 5 234 7 0 0 0 7
0 869 548 1417
KS….) Lao động lành nghề (TDC) Cộng Xây dựng Công nghiệp (SXCT) Dịch vụ (Nhà hàng, KS….) Lao động lành nghề (TDC) Cộng Xây dựng Công nghiệp (SXCT) Vận tải Giúp việc gia đình Lao động lành nghề (TDC) Cộng Công nghiệp Dệt may Xây dựng Dịch vụ Lao động lành nghề (TDC) Cộng Giúp việc gia đình Dịch vụ Công nghiệp Khác Lao động lành nghề (TDC) Cộng Cộng 2132 3025 5982 11355
0 5766 57202 5157 23103 53268 42294 152764 Khác Tổng cộng
33
Nguồn: [76]
Thứ tư, số lượng LĐ của Việt Nam vào các thị trường trọng điểm đều
biến động thất thường, không ổn định.
Ở Ma-lai-xi-a, một thị trường tiếp nhận nhiều người Việt Nam nhất, năm
1998 mới chỉ có 7 người, năm 1999 lên 17 người, năm 2000 là 239, đến năm
2001 lại sụt xuống con số 23, năm 2002 là 19.965 và đỉnh cao năm 2003 là
38.227 người. Năm 2004 lại giảm, chỉ còn 14.567, năm 2005 lại tăng lên 24.605,
rồi lên 37.941 vào năm 2006, sau đó lại giảm xuống 26.704 vào năm 2007,
7.800 năm 2008 và 2792 năm 2009 (xem biểu 2.1).
Biểu 2.1: Số lao động đi làm việc tại Malaysia (1998-2009)
Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước
Ở Đài Loan, năm 1997 mới có 191 người Việt Nam tới làm việc, con số
này tăng lên 1.667 vào năm 1998, rồi giảm xuống 558 vào năm 1999. Năm
2000 lại tăng lên 8.099, rồi giảm chút ít vào năm 2001, với 7.782 người. Sau
đó lại tăng. Số liệu tương ứng trong các năm 2002, 2003, 2004 là 13.191,
34
29.009 và 37.144. Năm 2005 lại sụt xuống còn 22.784, năm 2006 lại giảm
tiếp, chỉ đạt 14.127, rồi lại tăng lên 23.640 năm 2007 và 33.000 năm 2008.
Năm 2009 giảm mạnh, xuống thấp hơn năm 2007, còn 21.667 (xem biểu 2.2).
Tình hình NLĐ Việt Nam đến làm việc tại Hàn Quốc cũng diễn biến
thất thường. Năm 1992 mới có 210 người, tăng đều qua các năm 1993, 1994,
1995 và lên 7.826 năm 1996. Sau đó lại giảm, năm 1998 chỉ có 1.500, rồi lại
tăng lên năm 4.518 vào năm 1999, 7.316 vào năm 2000. Nhưng rồi lại sụt,
năm 2020 chỉ có 1.190. Các số liệu tương ứng của các năm 2003, 2004, 2005,
2006, 2007 là 4.336, 4.779, 12.102, 10.577 và 12.187. Năm 2008 tăng lên
mức kỷ lục 16.000 rồi lại giảm hơn một nửa, còn 7.578 vào năm 2009. (Xem
Biểu 2.3)
Biểu 2.2: Số lao động đi làm việc tại Đài Loan (1997- 2009)
Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước
Trên thị trường Nhật Bản, số người Việt Nam đến làm việc tuy cũng có
biến động, nhưng nhìn chung là tăng dần. Năm 1993 mới có 164 người, năm
1997 lên 2.227 người. Trong 3 năm 1998, 1999 và 2000 giảm nhẹ, rồi lại tăng
lên 3.249 người vào năm 2001, sau đó lại giảm, rồi lại tăng dần và năm 2008
35
đạt 5.800 người. Năm 2009 lại giảm còn 5.456 người (xem biểu 2.4).
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên chủ yếu là do nhiều NLĐ
Việt Nam chưa tuân thủ nghiêm hợp đồng LĐ đã ký, bỏ trốn ra làm việc ở xí
nghiệp khác để kiếm tiền công cao hơn.
Biểu 2.3: Số lao động đi làm việc ở Hàn Quốc (1992-2009)
Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước
Biểu 2.4: Số lao động đi làm việc ở Nhật Bản (1993-2009)
36
Nguồn: Cục quản lý lao động ngoài nước
Thứ năm, năng lực và trình độ của phần lớn các DN XKLĐ Việt Nam
hiện nay cũng còn yếu kém. Trong tổng số hơn 150 DN được cấp lại và cấp
mới Giấy phép XKLĐ theo Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng, chỉ có khoảng 1/3 là DN mạnh, bảo đảm được một
số chỉ tiêu chính như: tìm được các đơn đặt hàng hấp dẫn, tạo nguồn nhanh và
phù hợp với yêu cầu của đối tác, có cơ sở đào tạo nghề hoặc chủ động hợp tác
với cơ sở đào tạo nghề để tạo nguồn, quản lý tốt và xử lý mọi phát sinh nhanh
gọn phù hợp với pháp luật…, 2/3 DN còn lại năng lực trình độ chỉ ở mức
trung bình và thấp.
Thứ sáu, công tác quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ ở NN của
các DN còn yếu, còn phó mặc cho cơ quan đại diện ngoại giao ở nước sở tại.
Nhiều đơn vị không cử cán bộ đi quản lý, có những nơi có đại diện thì trình
độ lại chưa đáp ứng yêu cầu, lúng túng trong giải quyết các tranh chấp phát
sinh. Còn thiếu hệ thống tủy viên LĐ tại những địa bàn có nhiều người làm
việc hoặc có khả năng tiếp nhận nhiều LĐ. Hiện nay mới chỉ có 7 Ban Quản
lý lao động tại Séc (1 người), Hàn Quốc (3 người), Nhật Bản (2 người), Đài
Loan (5 người), Malaysia (5 người), Ca-ta (1 người) và các tiểu vương quốc
Ả Rập thống nhất (1 người) [65].
Thứ bảy, việc sử dụng nguồn ngoại tệ do LĐ đi làm việc ở NN gửi về
chưa thực sự hiệu quả. Nhiều gia đình mới chỉ biết dùng khoản tiền này để
mua sắm các vật dụng trong nhà, xây nhà… mà chưa tính đến đầu tư vào sản
xuất kinh doanh để tạo việc làm cho gia đình, bản thân và nhiều LĐ khác.
Thứ tám, nhiều NLĐ sau khi hết hạn hợp đồng về nước chưa có việc
làm ổn định. Các DN XKLĐ chưa quan tâm đến "hậu XKLĐ", chưa tìm kiếm
việc làm cho NLĐ đi làm việc ở nước ngoài về.
37
-
.
2.2. Những nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế nêu trên
2.2.1. Những thiếu sót trong khâu tuyển chọn
.
.
Theo chủ trương hiện nay của hầu hết các tỉnh th
Quản lý LĐ ngoài nước. Khi có công văn này, về các tỉnh, DN phải xuất trình
đầy đủ các giấy tờ liên quan đến tư cách pháp nhân, giấy phép XKLĐ, hợp
đồng ký kết với đối tác... Sau khi thẩm định, sở LĐTBXH tỉnh, thành chỉ định
cho DN về huyện nào thì về huyện ấy. Đến huyện rồi lại phải lần theo địa bàn
xã cho phép mà đến, tuyển số lượng LĐ bao nhiêu, đến khi nào kết thúc đều
bị chỉ định cụ thể. Chẳng hạn, ở tỉnh Lạng Sơn, muốn về các huyện Văn
Lang, Lộc Bình, Đình Lập tuyển LĐ, các Công ty xây dựng và thương mại
Traenco, Cty sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu Prosimex, Cty du lịch và
dầu khí Việt Nam... phải có công văn của Sở LĐTBXH Lạng Sơn chuyển
xuống UBND các huyện trên. Tất nhiên, để có công văn này, các DN trên
phải có đủ các giấy tờ cần thiết như dã nói ở trên,
Nhiều địa phương lại gây khó khăn với cả LĐ địa phương mình và tạo
38
rào cản -
DN đã về tuyển được LĐ rồi, nhưng khi làm hộ chiếu cho NLĐ thì bị chính
quyền địa phương không xác nhận mà không đưa ra được một lý do nào...
Mặc dù việc tuyển LĐ tại các địa phương là việc được Chính phủ
khuyến khích, song vì lợi ích cục bộ, nhiều tỉnh, huyện, rồi xã đã đẻ ra những
"giấy phép mồm" để gây khó dễ cho DN. Nhiều nơi thậm chí còn thu tiền
phần trăm từ DN cho mỗi "suất đinh" (người của xã, huyện) đi XKLĐ. Đã có
DN phản ứng lên Bộ LĐTBXH, nhưng cũng có DN âm thầm thực hiện "nghĩa
vụ" vì dù sao thì cũng phải tuyển đủ LĐ, nếu không sẽ bị phạt vi phạm hợp
đồng từ phía đối tác. Một giám đốc DN thừa nhận để có LĐ, các DN phải chi
cho địa phương 300.000 đồng - 500.000 đồng, thậm chí 1 triệu đồng, hoặc
cao hơn tính theo đầu người. DN nào đưa ra mức chi cao hơn, sẽ được ưu tiên
hơn. Vì có giấy phép con nên cạnh tranh không lành mạnh, hiện tượng "đi
đêm" xuất hiện. Chuyện DN phải lo cung phụng cho cán bộ địa phương trở
thành một cái lệ, nếu muốn được "chọn mặt gửi vàng".
Một số DN hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN thực hiện chưa
nghiêm quy định về tuyển chọn LĐ để NLĐ phải giao dịch qua trung gian, môi
giới làm tăng chi phí cho NLĐ, một số DN lại bán chỉ tiêu, chuyển sang làm
môi giới tuyển dụng LĐ cho DN khác, hoặc bán tư cách pháp nhân cho các đơn
vị không có chức năng này. Cạnh tranh không lành mạnh đã làm phương hại
quyền lợi của NLĐ.
Tình trạng lừa đảo xảy ra nhiều đối với các thị trường tiềm năng, có thu
nhập cao đang thực hiện thí điểm như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Úc,
Canada... Đáng chú ý là hơn 80% vụ lừa đảo trong thời gian qua đều nhắm
39
vào đối tượng có nhu cầu đi làm việc ở Hàn Quốc.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi pham hoạt động đưa NLĐ
đi làm việc ở NN:
Thứ nhất, thông tin chưa đến được với NLĐ. Phần lớn họ không biết
tiếp cận với cơ quan, đơn vị nào để làm thủ tục đi làm việc ở NN. Do thiếu
thông tin, nhẹ dạ cả tin, lại nôn nóng, muốn được sớm ra NN nên NLĐ rất dễ
bị “cò mồi”, môi giới và những tổ chức, cá nhân không có chức năng lợi
dụng, lừa gạt với những lời hứa “có cánh”: Có thể đưa đi làm việc ở những thị
trường, ngành nghề, công việc có thu nhập cao, tiêu chuẩn về tay nghề, ngoại
ngữ không cao, thời gian xuất cảnh nhanh. Hơn 96% nạn nhân của các vụ lừa
đảo thời gian qua là người dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Thứ hai, ở một số địa phương, công tác quản lý hoạt động XKLĐ chưa
chặt chẽ, chưa kịp thời phát hiện, ngăn chặn những vụ việc lừa đảo. Chính sự
thờ ơ hoặc thiếu quan tâm của các địa phương mà NLĐ thường tin vào miệng
lưỡi của “cò”; thậm chí đến khi xảy ra vụ việc, chính quyền địa phương mới
biết có con em của mình bị lừa.
Thứ ba, sự dung túng, tiếp tay từ các DN XKLĐ. Việc mở nhiều chi
nhánh, trung tâm của DN XKLĐ cũng khiến tình hình trở nên phức tạp. Hiện
cả nước có 167 DN có chức năng hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN (xem
Phụ lục 2), nhưng một số DN lập trung tâm, cơ sở đào tạo tràn lan không
quản lý được.
Từ năm 2005 đến 2007, Cục Quản lý LĐ ngoài nước đó xử phạt vi phạm
hành chính gần 30 DN vi phạm và rất nhiều vụ án lừa đảo đã được các cơ quan
hữu trách xử lý. Tuy nhiên, phải xem trách nhiệm phòng chống lừa đảo đưa LĐ
đi làm việc ở NN là của toàn xã hội và chính mỗi gia đình có người xin đi LĐ ở
NN.
Những vấn đề trên không chỉ tạo ra những khó khăn cho các cơ quan
chức năng, làm giảm hiệu quả của hoạt động XKLĐ và ảnh hưởng tiêu cực
40
tới quan hệ hợp tác quốc tế của Việt Nam, mà còn đặt ra những yêu cầu cấp
thiết về việc phải đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trong lĩnh vực này, đặc biệt
trong quá trình thực hiện các cam kết sau khi gia nhập WTO.
.
.
Trước tháng 9/2007, thủ tục cấp hộ chiếu yêu cầu cán bộ trong biên chế
Nhà nước phải có xác nhận của cơ quan chủ quản, cấp có thẩm quyền để đưa
vào hồ sơ; thời gian giải quyết hồ sơ, cấp hộ chiếu 15 ngày còn dài; thời hạn
của hộ chiếu là 8 năm, sau 5 năm phải gia hạn… gây phiền hà cho công dân.
Theo Nghị định 136/2007/NĐ - CP về xuất, nhập cảnh của công dân
Việt Nam mà Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký ngày 17/08/200,
thủ tục cấp hộ chiếu có nhiều điểm mới thuận lợi cho công dân Việt Nam
như: hộ chiếu có giá trị 10 năm; có giá trị thay giấy chứng minh nhân dân,
tiện cho việc giao dịch, đi lại trong nước; hồ sơ cấp hộ chiếu phổ thông cho
công dân Việt Nam cư trú trong nước cũng đơn giản hơn trước, chỉ cần tờ
khai theo mẫu (có thể lấy về từ trang điện tử của Cục quản lý Xuất nhập cảnh
http://www.vnimn.gov.vn) và khi nộp hồ sơ cần xuất trình CMND, thời hạn
giải quyết là trong vòng 8 ngày làm việc nếu nộp hồ sơ ở công an tỉnh, thành
phố và 5 ngày đối với trường hợp đặc biệt (chỉ nộp hồ sơ ở Cục quản lý XNC
trong trường hợp cần hộ chiếu gấp theo quy định của Bộ Công An).
Tuy nhiên, thực tiễn quá trình thực hiện Nghị định này cho thấy còn
nhiều điểm chưa thuận tiện cho người dân. Nhiều địa phương chưa triển khai
rộng rãi đến phường, xã quy định mới về cấp hộ chiếu nên còn lúng túng,
hướng dẫn người dân lập thủ tục chưa đúng quy định. Thí dụ: Công an
phường Châu Văn Liêm (quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ) do chưa nắm
41
được quy định tờ khai cấp hộ chiếu đối với trường hợp dưới 14 tuổi phải có
xác nhận của Công an phường, nên không xác nhận vào tờ khai cho dân. Khi
người dân mang hồ sơ đến nộp, do chưa đủ thủ tục nên Phòng Quản lý xuất
nhập cảnh PA 18, CA thành phố Cần Thơ không tiếp nhận và yêu cầu người
dân bổ sung xác nhận của Công an phường vào tờ khai. Điều này đã làm mất
thời gian của người dân. Người dân còn than phiền về việc hướng dẫn chưa rõ
ràng, cụ thể về việc lập hồ sơ cấp hộ chiếu, nhất là quy định về phông ảnh,
kích cỡ ảnh của người được cấp hộ chiếu khiến người dân phải chụp lại nhiều
lần [81].
. Trước đây, họ chỉ cần khám sức khỏe ở bệnh viện địa
phương, nhưng với yêu cầu mới của Malaysia có hiệu lực vào ngày
14/7/2004, NLĐ phải đến các bệnh viện ở Hà Nội: Saint Paul, Hồng Ngọc, Hà
Nội, Giao thông vận tải, Tràng An (đối với phía Bắc) và TP.HCM: Chợ Rẫy,
Thống Nhất, Columbia, Nhân dân Gia Định, Nguyến Tri Phương, Nhân dân,
115 (với phía Nam) để thực hiện việc khám bệnh [94]. Hiện nay, NLĐ đi
XKLĐ ở Đài Loan cũng phải đến khám bệnh tại 6 bệnh viện được chỉ định
riêng: Bạch Mai, đa khoa tư nhân Tràng An, Giao thông Vận tải 1 (đối với
phía Bắc) và TP.HCM: Chợ Rẫy, Thống Nhất, (với phía Nam) và bệnh viện
Trung ương Huế để thực hiện việc khám bệnh (Xem Phụ lục 1). Việc này gây
ra khá nhiều rắc rối, vừa tốn tiền bạc, công sức của NLĐ mà đa phần họ đều
có hoàn cảnh khó khăn, ở các vùng nông thôn xa xôi; vừa kéo dài thời gian
làm thủ tục.
(
-
42
, việc thu lệ phí lý lịch
tư pháp với tổng số tiền thu được là trên 4,6 tỷ đồng nhưng, Thanh tra Chính
phủ phát hiện chưa có nội dung chi nào từ khoản thu này [73]. Việc này thể
hiện khoản thu lệ phí lý lịch tư pháp là không thực tế, mặc dù ngày 14-5-
2008, Bộ LĐTB-XH đã có quyết định bỏ khoản thu này
.
2.2.2. Đào tạo, giáo dục định hƣớng cho ngƣời lao động chƣa đáp
ứng yêu cầu của thị trƣờng nƣớc ngoài
Trong thời gian qua công tác đào tạo nguồn LĐ của ta tuy đã có những
tiến bộ nhưng còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường
về kỹ thuật, tay nghề, LĐ qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chỉ chiếm 29%.
Đó là nguyên nhân tạo ra sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu, thừa
LĐ phổ thông, nhưng thiếu LĐ có kỹ năng cao. Mặt khác, NLĐ Việt Nam lại
yếu ngoại ngữ, thiếu hiểu biết về luật pháp, kiến thức công nghệ thông tin,
yếu sức khỏe. Bất lợi này đã và đang dẫn đến xu hướng bị ép giảm giá cả LĐ
trên thị trường trong nước và quốc tế. Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng
trên là do:
2.2.2.1. Giáo dục định hướng còn bị coi nhẹ, đào tạo nghề chưa đáp ứng
yêu cầu của thị trường nước ngoài, nhất là những ngành nghề mà thị trường lao
động quốc tế đang thiếu hụt nhân lực.
Sau khi trúng tuyển, LĐ được tham gia học ngoại ngữ và nâng cao tay
nghề và giáo dục định hướng để được trau dồi kỹ năng thực hành nghề, khả
năng giao tiếp, đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong
công nghiệp, tìm hiểu văn hoá, phong tục tập quán của nước mà NLĐ sẽ đến
làm việc. Tuy nhiên, các cơ sở đào tạo của DN XKLĐ chủ yếu mới đào tạo
ngoại ngữ còn giáo dục định hướng vẫn bị coi nhẹ. Một số ít DN có trường
dạy nghề nhưng cũng không thể đào tạo được nhiều nghề để đáp ứng yêu cầu
43
đa dạng của thị trường. Mặt khác, tuyệt đại bộ phận NLĐ khi có nguyện vọng
đi làm việc ở NN đều muốn đi bằng con đường nhanh nhất. Họ không đủ kiên
trì và không thể tự túc kinh phí để theo học một khóa chính quy 12 - 24 tháng.
Các cơ sở dạy nghề (không thuộc DN XKLĐ) trong những năm gần
đây đã có bước phát triển mạnh mẽ về quy mô và tiến bộ bước đầu về chất
lượng đào tạo nhưng ngoài một số trường và trung tâm lớn, phần đông chưa
đáp ứng được nhu cầu thị trường cả về nghề, cấp độ và công nghệ cần đào tạo
như chuyên ngành thợ hàn 3G, 6G... Có trường hợp, DN XKLĐ phối hợp với
một trung tâm đào tạo để tuyển đối tượng đã được học nghề trong 16 tháng,
nhưng cả 60 người tham dự vẫn không tuyển được người nào. Trong khi
nhiều sinh viên, kỹ sư có năng lực nhưng lại thiếu thông tin về chương trình
này. Trước khi Bộ LĐ-TB&XH cho phép triển khai Đề án “Thí điểm đặt hàng
đào tạo LĐ xuất khẩu” vào quý IV năm 2008 với mục tiêu cung cấp LĐ xuất
khẩu có chất lượng, theo nhu cầu thị trường thay vì chỉ dựa vào nguồn nhân
lực sẵn có và ít được đào tạo như thời gian qua, để tạo được “đầu vào” các
DN XKLĐ đã phải áp dụng cách làm kiểu “giật gấu vá vai”: đầu tư máy móc,
thiết bị, xây dựng trung tâm giảng dạy riêng rồi mời chuyên gia NN đào tạo
lại những người đã được đào tạo tại các trường ở trong nước. Tuy nhiên, tỷ lệ
LĐ vượt qua được các kỳ thi tuyển cũng chỉ từ 50-60%”.
Những sự khác biệt quá lớn về phong tục, tập quán thường gây khó
khăn cho NLĐ và đôi khi gây ra mâu thuẫn giữa chủ sử dụng LĐ và người
làm thuê. Trong trường hợp này, vai trò của giáo dục định hướng rất quan
trọng. Nó góp phần hạn chế tới mức thấp nhất những mâu thuẫn có thể xảy ra.
Chẳng hạn, đối với thị trường Trung Đông là các nước theo đạo hồi, có phong
tục tập quán hoàn toàn khác biệt so với Việt Nam, thì công tác giáo dục định
hướng là không thể bỏ qua. Do chưa làm tốt khâu này mà trong thời gian qua
đã xảy ra nhiều trường hợp đáng tiếc, như NLĐ Việt Nam trêu ghẹo phụ nữ
44
Đạo hồi, ăn cắp tài sản của chủ sử dụng lao động, ăn trộm thú vật, thực vật
của người dân xung quanh nhà máy, nấu rượu, đánh nhau, biểu tình, đình
công, tai nạn giao thông…
2.2.2.2. Đào tạo ngoại ngữ cho người lao động đi làm việc ở nước
ngoài cũng chưa đạt yêu cầu
Mặt bằng ngoại ngữ của LĐ Việt Nam hiện nay kém xa so với các
nước XKLĐ khác trong cùng khu vực Đông Á như Trung Quốc, Thái Lan,
Mi-an-ma, In-đô-nê-xi-a và Băng-la-đét. Sự yếu kém này là do cả một hệ
thống, bắt nguồn từ nền giáo dục nước nhà còn khó khăn, công tác đào tạo
ngoại ngữ cho học sinh mới chỉ chú trọng ở các tỉnh, thành phố lớn. Nếu nhìn
ở góc độ hẹp hơn thì các DN XKLĐ chưa thực sự chú trọng công tác đào tạo
ngoại ngữ, nhiều DN đào tạo rất qua loa. Chẳng những thế, còn xảy ra tình
trạng gian lận, thi hộ ngoại ngữ như báo chí đã nêu. Ngày 25/4/2010, công an
phường Dịch Vọng Hậu đã khám phá đường dây thi hộ tiếng Hàn để đi
XKLĐ, trong đó có ông Đỗ Lê Hoàng - Trưởng phòng Kế toán Trung tâm LĐ
ngoài nước, Bộ LĐ-TB&XH [93].
Kết cục là khi NLĐ đến xứ sở mới hoàn toàn xa lạ không có khả năng
giao tiếp, nhiều sự cố phát sinh do bất đồng ngôn ngữ, phải chờ DN cử đại
diện đến để giải quyết. Trong khi NLĐ của các nước khác hoàn toàn tự giải
quyết những việc tương tự. Có trường hợp NLĐ Việt Nam đánh nhau với
NLĐ nước khác, khi các nhà chức trách địa phương tra hỏi thì người Việt
Nam không trả lời được, còn người nước ngoài đã bào chữa cho mình và đổ
hết lỗi cho NLĐ Việt Nam. Hoặc những trường hợp chủ sử dụng LĐ trả
lương không thỏa đáng hay đối xử bất công thì NLĐ Việt Nam thường không
biết cách nào khác hơn là đình công để đòi quyền lợi, mà không thể đề đạt
nguyện vọng có tình có lý đối với chủ sử dụng.
Các thị trường mới có thu nhập cao đang được mở ra, hứa hẹn nhiều
việc làm hấp dẫn cho NLĐ Việt Nam như: Phần Lan, Mỹ, Úc, Ca-na-da, Niu-
45
di-lân, Bồ Đào Nha… Tuy nhiên, các thị trường này lại cần LĐ lành nghề,
giỏi tiếng Anh. Ví dụ, muốn có visa vào Úc làm việc, NLĐ phải có kỹ năng
nghề cao, kinh nghiệm làm việc thực tế, được đào tạo có cơ quan chức năng
của Úc kiểm tra, cấp chứng chỉ nghề và phải đạt trình độ tiếng Anh 5.0 điểm
IETS trở lên. Đây quả là một yêu cầu khá cao so với trình độ của NLĐ Việt
Nam. Hay theo như yêu cầu của phía Canada, để được cấp phép lao động vào
làm ngành xây dựng, NLĐ phải đạt được chuẩn tiếng Anh IELTS 5.5 hoặc
6.0 [97].
Tại sàn giao dịch việc làm lần thứ 7 được tổ chức tại Trung tâm giới
thiệu việc làm Cần Thơ vào sáng 10/11/2009, các nhà tuyển dụng cần 200
NLĐ sang làm việc tại một số nước ở châu Á như Nhật, Hàn Quốc, Đài
Loan… với mức lương khá cao từ 15-20 triệu đồng/tháng, nhưng chỉ tuyển
được khoảng 10 hồ sơ.
Một trong những nguyên nhân chính của tình hình trên là do hệ thống
giáo dục và đào tạo nghề của Việt Nam hiện nay vẫn còn quá nặng về lý
thuyết, ít gắn với thực tế, thiếu các giáo cụ trực quan hiện đại để thực hành
nên chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường. Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh
toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), trong 2 năm trở lại đây, năng
lực cạnh tranh tổng hợp của Việt Nam liên tiếp giảm thứ hạng, từ 68/131 năm
2007 xuống 70/134 năm 2008 và 75/133 năm 2009. Trong đó, năng lực cạnh
tranh của Việt Nam xét theo chỉ tiêu giáo dục bậc cao vẫn bị đánh giá thấp,
xếp hạng 98/134 năm 2008 và 92/133 năm 2009 [66] và chất lượng của hệ
thống giáo dục xếp thứ 120 trên tổng số 130 quốc gia được xếp hạng [24].
Mặt khác, giữa cơ sở dạy nghề với DN XKLĐ chưa có sự gắn kết chặt chẽ,
hợp tác chiến lược.
2.2.3. Hỗ trợ kinh phí và cho vay vốn đối với người lao động đạt hiệu
quả thấp
Trước khi đi làm việc ở NN, NLĐ phải bỏ ra một khoản chi phí gồm:
46
chi phí làm hộ chiếu, khám sức khỏe, hồ sơ thủ tục xuất cảnh, đào tạo - giáo
dục định hướng, học ngoại ngữ, bổ túc tay nghề, tiền vé máy bay, lệ phí sân
bay, phí dịch vụ cho DN XKLĐ và phí môi giới trả cho NN. Những khoản chi
phí trên không phải là nhỏ, nhất là với những NLĐ nghèo. So với các nước
cùng khu vực Đông Nam Á, NLĐ Việt Nam đi làm việc ở NN đang phải gánh
chịu chi phí cao nhất. Tình trạng DN XKLĐ thu phí tràn lan, lạm thu, trục lợi
đã đẩy chi phí lên cao. Luật về NLĐ Việt Nam đi làm việc ở NN theo hợp
đồng và các văn bản pháp luật hiện hành quy định cụ thể chi phí NLĐ đi làm
việc ở NN theo từng thị trường. Thế nhưng, chi phí thực tế mà họ bỏ ra
thường cao hơn nhiều lần so với quy định. Ở Đài Loan, thị trường NLĐ bị thu
vô tội vạ nhất với khoản chi phí môi giới từ 3.000 - 4.000 USD/người, cao
gấp đôi quy định. Nếu cộng phí dịch vụ, lý lịch tư pháp, khám sức khỏe, tiền
vé máy bay, lệ phí visa, chi phí đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cần thiết... thì
tổng chi phí NLĐ nộp trước khi sang Đài Loan khoảng 6.000 - 7.000
USD/người. Với mức chi phí này, phải mất một nửa thời hạn làm việc theo
hợp đồng, NLĐ mới tích lũy được thu nhập để bù đắp chi phí. Ở thị trường
Nhật Bản, theo quy định của nước này, LĐ nước ngoài vào Nhật Bản theo
chương trình tu nghiệp và thực tập kỹ thuật (gọi chung là chương trình tu
nghiệp sinh - TNS) được chủ sử dụng LĐ đài thọ một lượt vé máy bay, chi
phí đào tạo ngoại ngữ, nơi ở, chu cấp dụng cụ sinh hoạt... Nhưng thực tế, để
được sang Nhật Bản, chi phí một LĐ phải bỏ ra khoảng 90 triệu đồng; chưa
kể khoản tiền bảo lãnh hoặc tiền thế chấp, giấy tờ nhà đất thế chấp... trị giá từ
150 triệu đến 200 triệu đồng. Ở thị trường khác, nhất là thị trường mới, NLĐ
phải nộp mức phí cao ngất ngưởng. Mức thu một LĐ sang thị trường Canada, Úc
hiện đang được các DN XKLĐ áp dụng xấp xỉ 200 triệu đồng/người, trong đó chỉ
riêng phí môi giới đã hơn 5.000 USD. Ở Mỹ, chi phí này lên đến khoảng 13.000 -
15.000 USD, trong đó phí môi giới từ 8.000 - 10.000 USD/người, tùy đơn hàng.
Trong khi đó, trên 90% LĐ Việt Nam đi làm việc ở NN là LĐ nghèo, khó lo được
47
khoản chi phí ấy. Từ năm 2007 đến nay, cả nước chỉ có khoảng 300 người được
đưa sang ba thị trường mới nói trên và hằng năm chỉ có khoảng 70.000 LĐ Việt
Nam ra NN làm việc, trong khi quốc gia ở cạnh chúng ta là Phi-lip-pin có tới 1 triệu
người đi XKLĐ mỗi năm [83].
Do đó, Nhà nước đã ban hành các chính sách hỗ trợ và cho NLĐ vay
vốn trước khi tham gia XKLĐ:
- Hỗ trợ và cho vay vốn trước khi đi làm việc ở NN
+ Hỗ trợ kinh phí: Nhà nước trích ngân sách từ Quỹ xóa đói giảm
nghèo, Quỹ hỗ trợ XKLĐ, Quỹ giải quyết việc làm từ chương trình việc làm
quốc gia để cấp một phần hoặc toàn bộ chi phí học ngoại ngữ, học nghề, giáo
dục định hướng hoặc trả khoản lãi tiền vay cho NLĐ thuộc đối tượng chính
sách, người nghèo hoặc LĐ ở vùng khó khăn về kinh tế. Mức hỗ trợ từ 50 -
100% học phí phải trả theo quy định cho từng đối tượng chính sách. Năm
2009, Chính phủ đã phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh
XKLĐ góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009 - 2020. Nhà nước sẽ
đầu tư 4,715 tỷ đồng cho Đề án để hỗ trợ NLĐ cư trú dài hạn tại 61 huyện
nghèo nhất nước, các cơ sở dạy nghề cho LĐ xuất khẩu. Các chính sách hỗ
trợ sẽ gồm hỗ trợ LĐ bổ túc văn hoá, học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến
thức cần thiết để tham gia XKLĐ... NLĐ thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu
số sẽ được hỗ trợ 100% học phí học nghề, ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức,
các đối tượng còn lại thuộc 61 huyện nghèo được hỗ trợ 50% học phí trên.
+ Cho vay vốn: Theo chính sách hiện hành, NLĐ sau khi ký hợp đồng
đi làm việc ở NN đều được vay vốn theo các Quyết định: 440/2001/QĐ-
NHNN, 373/2003/QĐ-NHNN, 365/2004/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà
nước tại các ngân hàng thương mại, ngoài ra các đối tượng chính sách và người
nghèo còn được vay vốn tại Ngân hàng Chính sách Xã hội không phải thế chấp
tài sản. Theo Quyết định số 71/2009/QĐ - Ttg, NLĐ ở 61 huyện nghèo nhất sẽ
được vay tín dụng ưu đãi với lãi suất bằng 50% lãi suất cho vay hiện hành của
48
Ngân hàng chính sách xã hội áp dụng cho đối tượng chính sách đi XKLĐ; các
cơ sở dạy nghề cho XKLĐ cũng được vay vốn tín dụng ưu đãi để đầu tư tăng
qui mô đào tạo…
- Hỗ trợ gia đình NLĐ xuất khẩu: là một biện pháp nhằm tạo ra sự yên
tâm về gia đình của NLĐ khi xa nhà. Biện pháp hộ trợ hữu hiệu là duy trì
thường xuyên mối liên hệ giữa gia đình và NLĐ xuất khẩu, mối liên hệ giữa
các gia đình có người đi XKLĐ tại cùng một thị trường với DN XKLĐ.
Thông qua các mối liên hệ đó, DN XKLĐ có thể giúp đỡ gia đình NLĐ khi
gặp ốm đau, hoạn nạn, tạo tâm lý yên tâm cho NLĐ khi xa nhà, xa đất nước.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hiệu quả của hoạt động hỗ trợ và cho
vay vốn XKLĐ ở nước ta trong thời gian qua chưa cao. Nguyên nhân chủ yếu là
do:
- Quỹ hỗ trợ XKLĐ hoạt động cầm chừng. Năm 2004, Chính phủ quyết
định thành lập Quỹ hỗ trợ XKLĐ (Quyết định số 163/2004/QĐ - TTB) và nay
được đổi tên là Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước (Quyết định số 144/2007/QĐ-
TTg ngày 31/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ) thuộc Bộ LĐ-TBXH với mục
đích góp phần thực hiện việc phát triển thị trường LĐ NN và nâng cao chất
lượng và khả năng cạnh tranh của LĐ Việt Nam trên thị trường LĐ quốc tế.
Quỹ được hình thành từ nhiều nguồn như từ ngân sách nhà nước cấp ban đầu;
đóng góp một phần trăm từ doanh thu phí dịch vụ của các DN XKLĐ và các
khoản thu khác (lãi tiền gửi, tiền đặt cọc của LĐ vi phạm hợp đồng)… Do có
nguồn hình thành đa dạng, nên đến năm 2009, quỹ đã thu được hơn 90 tỷ
đồng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm Thanh tra Chính phủ vào cuộc, quỹ mới
chi được hơn hai tỷ đồng cho hoàn thiện tổ chức và xây dựng văn bản. DN
XKLĐ và NLĐ gần như không được hỗ trợ gì từ Quỹ [74].
- Các DN XKLĐ và NLĐ gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiến hành
các thủ tục vay vốn để XKLĐ .
Một số tỉnh như Tuyên Quang, Kiên Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh ngoài
49
việc tạo điều kiện cho vay vốn ngân hàng thuận lợi, Hội phụ nữ các địa
phương đã thực hiện tốt việc đứng ra bảo lãnh cho NLĐ vay tiền của nhiều tổ
chức khác nhau. Tuy nhiên, tại một số tỉnh khác, việc yêu cầu các DN XKLĐ
phải đặt cọc 5 - 10% số tiền mà NLĐ vay Ngân hàng để làm tin đã thực sự
gây khó khăn cho DN trong khi hầu hết các DN XKLĐ đã phải ký quỹ tại một
ngân hàng thương mại nơi đặt trụ sở chính. Điều này làm tăng thêm gánh
nặng cho DN XKLĐ.
Đề án hỗ trợ XKLĐ cho 61 huyện nghèo nhất của 20 tỉnh Hà Giang,
Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Kạn, Bắc Giang, Phú Thọ, Sơn La, Lai
Châu, Điện Biên, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng
Trị, Quảng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận, Lâm Đồng và Kon tum có hiệu lực
từ ngày 29/04/2009 - ngày ký Quyết định 71/2009/QĐ - Ttg và cho đến nay
đã được thực hiện thí điểm ở 20 huyện nghèo của 9 tỉnh. Tuy nhiên, đến tháng
10 năm 2009, các DN XKLĐ vẫn phải tự chi cho việc tuyển chọn, đào tạo,
đưa người đi, ngay cả NLĐ cũng không vay được tiền khi đã được đào tạo. Vì
vậy, các DN buộc phải ứng tiền cho NLĐ đi để đảm bảo thực hiện đúng kỳ
hạn hợp đồng đã ký với nước bạn, nếu không sẽ phải nộp phạt với mức 400
USD/người. Số tiền các DN đã ứng ra hoàn toàn không nhỏ nếu tính rằng có
gần 1.000 người đang đào tạo và vài trăm người đã xuất ngoại. Ngoài tiền đào
tạo còn chi phí ăn ở và làm các thủ tục khác để đưa ra NLĐ ra NN. Theo đánh
giá của bà Hoàng Kim Ngọc, Phó Cục trưởng Cục quản lý LĐ ngoài nước,
thủ tục “máy móc” đã gây rắc rối cho vay vốn XKLĐ ở các huyện nghèo.
Công văn gửi xuống các huyện rất chậm, nhưng theo nguyên tắc, cùng là
Ngân hàng Chính sách, nếu muốn nhanh cũng không thể fax công văn từ
tuyến trên xuống vì không có dấu đỏ. Cách làm này là máy móc.
- Mức cho vay XKLĐ tối đa 30 triệu đồng/người quá thấp, chỉ đủ chi
phí đi LĐ tại một số thị trường “dễ tính” với mức lương thấp, chưa đáp ứng
đủ chi phí cho một LĐ đi làm việc ở các thị trường có yêu cầu và thu nhập
50
cao.
- Các đối tượng thuộc diện được vay vốn XKLĐ theo Nghị quyết 78
của Chính phủ và Quyết định 71/2009/QĐ - Ttg là hộ nghèo và đối tượng
chính sách, lại ở vùng sâu, vùng xa đi lại rất khó khăn, trình độ thấp nên khả
năng tiếp cận thông tin của họ còn rất hạn chế.
- Trong thời gian qua, nhiều LĐ phải về nước trước thời hạn khiến
NLĐ có nhu cầu XKLĐ hoang mang, lo ngại trong việc vay vốn ngân hàng.
2.2.4. Quản lý lao động làm việc ở nước ngoài chưa chặt chẽ
2.2.4.1. Chưa xử lý và ngăn chặn được tình trạng lao động bỏ trốn, vi phạm
hợp đồng lao động
Trong thời gian qua, hiện tượng vi phạm hợp đồng, bỏ trốn đi làm việc
khác hoặc ở lại làm việc bất hợp pháp sau khi hết hợp đồng, vẫn còn trầm
trọng ở nhiều thị trường quan trọng như: Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia và
Nhật Bản. Điều đó đã gây khó khăn cho chủ sử dụng LĐ cũng như làm ảnh
hưởng đến uy tín của các tổ chức hoạt động XKLĐ và của chính bản thân
NLĐ. Hiện tượng này là do:
Thứ nhất, gánh nặng nợ nần trên vai những NLĐ và gia đình họ do phải
trang trải những khoản phí nói trên là quá lớn so với gia cảnh của họ.
Thứ hai, tiền lương của họ quá thấp so với người làm cùng loại công
việc ở xí nghiệp khác hoặc công việc ở nơi khác đang cần đến LĐ như họ.
Thứ ba, sự giáo dục và quản lý NLĐ ở NN của các DN XKLĐ chưa tốt
cũng như chưa phối hợp chặt chẽ với các chính quyền địa phương để có
những hình thức ràng buộc NLĐ với nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.
Mặc dù thời gian gần đây nhà nước đã có những giải pháp cụ thể như
cho vay với lãi suất ưu đãi không thế chấp, xử phạt những DN XKLĐ lạm thu
các loại phí theo luật định trong hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN; giao
trách nhiệm cho các chính quyền địa phương phải tham gia vào công tác này
và có trách nhiệm hỗ trợ về tài chính đối với các gia đình chính sách, gia đình
51
đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, ở địa phương không phải NLĐ nào cũng tiếp
cận được với tín dụng ngân hàng như chủ trương của nhà nước. Chỉ có LĐ có
kỹ thuật và làm việc ở những lĩnh vực nặng nhọc (làm việc trên biển, cơ khí,
xây dựng ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan...) mới có mức lương khá cao
so với trong nước. Song, những chi phí mà họ phải bỏ ra trước khi đi làm việc
ở NN cao hơn nhiều. Do vậy, NLĐ trước khi đi làm việc thường phải vay nợ
để trang trải các khoản chi phí khác nhau và thường là cao hơn nhiều so với
mức quy định của nhà nước. Vì thế, một mặt họ phải ăn uống, tiêu dùng hết
sức tiết kiệm và điều đó ảnh hưởng đến sức khoẻ và năng suất LĐ của họ.
Mặt khác, vì muốn nhanh chóng có tiền để trả nợ, khi thấy có nơi làm việc
lương cao hơn là họ tìm cách bỏ hợp đồng đã ký.
2.2.4.2. Chưa bảo vệ kịp thời và đầy đủ lợi ích chính đáng của người lao
động làm việc ở nước ngoài
Theo Pháp lệnh lãnh sự năm 1990, Công ước viên năm 1963 về quan
hệ lãnh sự, các hiệp định lãnh sự, các hiệp định hợp tác LĐ mà ta đã ký thì
nội dung hoạt động bảo vệ quyền lợi của NLĐ Việt Nam ở NN gồm những
công việc chính dưới đây:
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho NLĐ Việt Nam ở NN thực hiện các
quyền và lợi ích chính đáng của mình như việc đảm bảo cho NLĐ về điều
kiện làm việc, thu nhập và các quyền lợi hợp pháp khác. (Đây là nhiệm vụ
quan trọng của các cơ quan đại diện ta ở NN, được qui định tại Khoản 1 Điều
17).
- Đấu tranh với chính quyền sở tại khi các quyền và lợi ích chính đáng
của NLĐ Việt Nam bị xâm phạm (khoản 2 Điều 17 Pháp lệnh Lãnh sự năm
1990). Hình thức đấu tranh có thể từ mức độ thấp (như tiếp xúc, lưu ý…) đến
mức độ cao (công hàm phản đối của Đại sứ quán, Tổng lãnh sự quán, của Bộ
Ngoại giao hay của Chính phủ).
- Giúp đỡ NLĐ Việt Nam ở NN trong trường hợp họ bị bắt, tạm giữ,
52
tạm giam hoặc bị phạt tù (Điều 18 Pháp lệnh Lãnh sự năm 1990).
- Đại diện cho người Việt Nam trước cơ quan chức trách nước ngoài.
Viên chức lãnh sự là người đại diện hợp pháp cho NLĐ Việt Nam ở NN, có
trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của người Việt Nam ở NN trước các cơ quan
thẩm quyền NN (Điều 19 Pháp lệnh Lãnh sự năm 1990).
- Bảo vệ quyền lợi của NLĐ Việt Nam trong các hợp khác như thừa kế,
đỡ đầu hoặc khi NLĐ bị ốm đau, tai nạn hay tử vong.
- Bảo vệ NLĐ, công dân Việt Nam bị lừa bán ra NN, vận động công
dân Việt Nam LĐ bất hợp pháp ở NN ra trình diện và hợp pháp hoá cơ chế cư
trú cho các đối tượng này.
- Bảo vệ NLĐ trong các trường hợp khẩn cấp như thiên tai, chiến tranh
ở nước sở tại.
Tuy nhiên, trong thời gian qua quyền lợi của NLĐ Việt Nam ở NN vẫn
chưa được bảo vệ kịp thời và đầy đủ. Theo thống kê của Cục quản lý LĐ
ngoài nước, Bộ LĐ-TB&XH cho thấy, trong những năm gần đây, số lượng
đơn, thư có liên quan đến hoạt động đưa người đi làm việc ở NN của các DN
ngày càng tăng về số lượng, phức tạp về tính chất. Đặc biệt có nhiều trường
hợp đơn, thư khiếu nại tập thể. Nếu như năm 2007 có 276 đơn tố cáo, khiếu nại
các DN không thực hiện nghiêm túc các chế độ về hợp đồng đưa LĐ đi làm việc
ở NN, thì năm 2008 là 331 và năm 2009 là 521 đơn thư [70]. Sở dĩ số đơn, thư
khiếu nại tăng là do:
- Các vụ lừa đảo LĐ, đi LĐ trái phép ở NN xảy ra ngày một phức tạp.
Nhiều vụ NLĐ nước ta bị lừa ra NN sau đó bị bỏ rơi hoặc không kiếm được
việc làm, hết hạn thị thực, bị cảnh sát sở tại bắt giữ, nhiều người trong số họ
không có tiền ăn ở, mua vé về nước… Nhiều người trong số họ phải đi xin ăn
hoặc làm việc “chui” cho các các chủ LĐ với điều kiện LĐ hết sức tồi tệ.
Ví dụ, vụ việc 10 LĐ ở tỉnh Bắc Giang bị lừa sang Trung Quốc hồi
tháng 8 năm 2007, họ phải làm việc trong các lò gạch ở địa phương trong điều
53
kiện hết sức tồi tệ, bị đánh đập, đối xử như nô lệ. Hay như vụ 32 nữ LĐ Việt
Nam đã phải sang làm công nhân cho một xưởng may đen tại Nga suốt 13
tháng không hưởng lương, cuộc sống chui lủi, điều kiện sinh hoạt tồi tệ mặc
dù đã được một DN có chức năng XKLĐ tuyển dụng - công ty TNHH một
thành viên sản xuất thương mại và XKLĐ mang tên VINA HANDCOOP
(thuộc tổng công ty thép Việt Nam), được Bộ LĐ - TB và XH cấp phép số 89
ngày 16/1/2007 về tổ chức LĐ đi làm việc ở NN.
Trong hai năm trở lại đây, hoạt động XKLĐ liên tục vướng phải những
“sự cố” gây không ít thiệt hại cho NLĐ. Bên cạnh các vụ lừa đảo với tổng số
tiền lên đến nhiều triệu USD, là hàng loạt các trường hợp “vỡ hợp đồng”
khiến hàng ngàn LĐ phải về nước trong cảnh trắng tay.
Tháng 10-2008 ghi nhận trường hợp “vỡ hợp đồng” tại thị trường mới
Phần Lan. Đây là hợp đồng của 98 LĐ được công ty Phát triển nhân lực và
thương mại Việt Nam (Vinamex) sang Phần Lan hái quả mustikka và
poulukka theo thời vụ với thời hạn hợp đồng hai tháng. Với tổng chi phí trước
khi đi lên đến 5.000 USD và thế chấp sổ đỏ, sau khi hết hợp đồng, NLĐ trở
về với hai bàn tay trắng, thậm chí một số người còn bị nợ tiền vì bị khấu trừ
nhiều khoản không có trong hợp đồng.
Sau đó ít lâu lại đến sự cố xảy ra ở thị trường Maldives khiến 260 LĐ
của các công ty Việt Hà, Sovilaco và Bạch Đằng phải về nước trước thời hạn.
Trước khi đi, mỗi LĐ tốn chi phí hơn 2.000 USD. Hợp đồng của họ có thời
hạn ba năm, lương thoả thuận 250 USD/tháng. Nhưng khi sang đến nơi,
không những không được bố trí công việc theo đúng hợp đồng, mà tiền lương
cũng bị hạ thấp, thậm chí nhiều tháng có làm mà không có lương, buộc lòng,
họ phải tìm cách về nước trong tình cảnh không một xu dính túi.
Đầu năm 2009 lại rộ lên thông tin về việc hàng trăm LĐ tại Liên bang
Nga không có việc làm, tiền lương thấp hơn hợp đồng, phải về nước sớm. Chỉ
54
riêng công ty Sovilaco đã có 98 người trở về trong tháng 3 và 4/2009.
Cũng trong tháng 4 năm 2009, 9 LĐ làm việc tại nhà máy khoá Kiekert
(Cộng hoà Séc) theo hợp đồng ký với công ty TNHH một thành viên Đào tạo
và cung ứng nhân lực quốc tế Nosco (Hà Nội) thông qua môi giới nước bạn là
Favi cũng đã buộc phải về nước trước thời hạn hợp đồng 2 năm, sau một năm
làm việc với lý do khủng hoảng kinh tế thế giới gây ảnh hưởng đến các hãng
trong ngành sản xuất công nghiệp ô tô, bị giảm các đơn đặt hàng nên nhà máy
Kiekert không thể ký hợp đồng mới với NLĐ được.
Ngày 19/3/2010, 18 LĐ đi XKLĐ do công ty cổ phần Phát triển nguồn
lực và dịch vụ dầu khí Việt Nam (Petromanning) đưa sang Rumani làm công
nhân xây dựng cho công ty E.R.C. Development S.R.L đã phải về nước trước
thời hạn. Từ ngày sang làm việc (22/11/2009) đến khi phải trở về nước, NLĐ
chỉ được làm việc 15 ngày, sau đó công ty đối tác giao cho họ làm công việc
nhặt rác, không đúng thoả thuận như đã ký ở Việt Nam. Khi NLĐ thắc mắc
thì được phía nước ngoài trả lời do thời tiết mùa đông nên chưa tìm được
việc. NLĐ không chấp nhận vì đây là một trong 6 ngành nghề cấm XKLĐ
sang làm việc, nên họ yêu cầu Petromanning đưa họ về nước.
Để được XKLĐ với mức lương thỏa thuận là 1,85 euro/giờ, ngày làm
việc 8 giờ, họ phải đóng cho công ty số tiền chi phí là 99.070.000 đồng, ngoài
ra trong quá trình làm việc, họ còn bị trừ dần vào lương trong khoảng 10
tháng với số tiền là 1.500 euro. Theo hợp đồng ký kết, nếu không có việc làm
do thời tiết thì NLĐ dược chủ trả 15 euro/ngày. Mặt khác, tiền công những
ngày làm việc của họ cũng không được chi trả, chỉ được ứng tiền ăn. Do
không có tiền thuê nhà, ngày 3/3/2010, chủ nhà phía nước ngoài đã đòi nhà
không cho NLĐ vào ở.
Cùng thời gian, còn có 25 LĐ khác cũng do Petromaning đưa sang
Rumani làm công nhân xây dựng cũng đã gửi đơn kêu cứu xin được về nước.
55
Theo phản ánh của 25 LĐ này, gần 4 tháng qua kể từ ngày sang Rumani, họ
không có việc làm thường xuyên, phải làm việc phân loại phế thải, chưa được
làm thẻ cư trú, bị cảnh sát kiểm tra, phải sống chui lủi…[55]
Ông Bùi Hải Hoà - Tổng giám đốc Petromanning cho rằng tay nghề của
NLĐ hạn chế, ý thức tác phong làm việc kém gây thiệt hại cho E.R.C và chủ
thầu. Điều này khiến ERC không bố trí tiếp công việc cho họ tại các công
trình xây dựng và đề nghị tạm thời chuyển sang làm công việc phổ thông
trong 6 tháng. Đưa ra thông tin này, một lần nữa Petromannning lại tự phản
bác lại chính mình bởi vì tất cả những LĐ mà họ cho là không đạt chuẩn đó là
do chính Petromanning và công ty đối tác tại Rumani trực tiếp sang Việt Nam
tuyển dụng chứ không phải do môi giới hay ủy quyền cho trung tâm trực
thuộc thực hiện. Hơn nữa, việc thẩm định tay nghề, trình độ ngoại ngữ của
LĐ cũng đã được chính công ty chỉ định cho trường Cao đẳng xây dựng đô
thị thực hiện. 43/45 LĐ do công ty này đưa sang Rumani làm việc cuối cùng
được đề nghị đi nhặt rác [54]. Đó là do công ty đã không thẩm định kỹ đơn
đặt hàng của phía đối tác trước khi đưa NLĐ đi. Mùa đông Rumani ít việc, tay
nghề của LĐ chưa đạt chuẩn nhưng vẫn phải đưa LĐ đi bằng được trong khi
visa chỉ có 3 tháng. Vì vậy, chuyện làm việc với LĐ một đằng, thực hiện một
nẻo là điều không tránh khỏi. Thế nhưng, việc đổ lỗi cho NLĐ như cách mà
Petromanning đã làm thực sự thiếu đàng hoàng và không sòng phẳng.
- Số NLĐ Việt Nam ở NN bị chết tăng lên.
Theo thống kê của Cục Quản lý LĐ ngoài nước, từ tháng 4/2002 đến
3/2008 đã có hơn 300 trường hợp NLĐ Việt Nam chết tại Malaysia, riêng
năm 2007 là 107 người [75] và liên tiếp chỉ trong một tuần lễ cuối năm 2007
(từ 21 đến 27/12/2007) đã có 3 NLĐ Việt Nam là Nguyễn Đình Hùng, 26 tuổi
ở Thanh Hoá; Vi Văn Nhật, 21 tuổi ở Lạng Sơn; Nguyễn Đức Thiện ở Hải
Dương chết đột tử ở nước này.
Nhiều nhân chứng tại Malaysia và gia đình các nạn nhân khẳng định
56
những người bệnh chết đều khỏe mạnh, trước đó không có biểu hiện bệnh tật.
Hơn nữa, trước khi đi XKLĐ họ đã được cơ quan y tế kiểm tra rất kỹ lưỡng
về sức khỏe.
Theo thông báo chính thức của Trung tâm LĐ ngoài nước, trong năm
2007, có 11 LĐ Việt Nam đã chết tại Hàn Quốc, trong đó 7 người đột tử [95].
Nhà nước hiện nay chưa có chính sách hỗ trợ NLĐ bằng cách mua bảo
hiểm thân thể toàn diện cho họ đề phòng khi xảy ra rủi ro. Quy định này đã có
từ lâu, nhưng thực tế, vẫn chưa có DN nào mua. Theo luật pháp Malaysia,
người LĐ trong nước và LĐ nhập cư bảo vệ như nhau. Khi người LĐ gặp rủi
ro, các DN sử dụng LĐ sẽ có tiền bù nhất định. Ngoài ra, DN môi giới cũng
hỗ trợ một số tiền nhất định nữa cho gia đình người tử nạn.
2.2.4.3. Chưa có hình thức tổ chức thích hợp để tập hợp NLĐ Việt Nam
ở NN
Trong thời gian qua, công tác quản lý LĐ Việt Nam ở NN có lúc chưa
kịp thời để xử lý những phát sinh liên quan đến quyền lợi hợp pháp của NLĐ,
đặc biệt là đối với những thị trường chưa có Ban quản lý LĐ. Ban quản lý LĐ
các NN trực thuộc và chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn của Cục Quản lý LĐ ngoài
nước về quản lý hoạt động đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước đó; chịu sự
chỉ đạo và quản lý trực tiếp của Đại sứ quán Việt Nam ở nước sở tại về công
tác chính trị, đối ngoại và quản lý nội bộ. Một trong những nhiệm vụ quan
trọng của Ban quản lý LĐ là thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền lợi và lợi
ích hợp pháp của NLĐ, của DN theo đúng qui định của pháp luật. Tuy vậy,
hiệu quả hoạt động này của Ban quản lý LĐ vẫn chưa cao do chưa có sự hỗ
trợ của tổ chức công đoàn. Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa thành lập tổ chức
công đoàn ở NN để bảo vệ quyền lợi cho NLĐ nhập cư. Vì vậy, tình trạng
NLĐ Việt Nam bị chủ đối xử ngược đãi như thời gian làm việc dài, điều kiện
làm việc thấp kém, thậm chí bị xúc phạm nhân phẩm… vẫn còn tồn tại và
chậm được phản ánh tới Ban quản lý LĐ và Đại sứ quán Việt Nam ở các
57
nước.
2.2.5. Chưa quan tâm đúng mức đến việc sử dụng nguồn lao động sau
khi về nước
Chủ trương sử dụng LĐ Việt Nam ở NN về nước, đóng góp vào sự
nghiệp CNH - HĐH đất nước đã đặt ra trong “Luật Người lao động Việt Nam
đi làm việc ở NN theo hợp đồng”. Tuy nhiên, những văn bản cụ thể về sử
dụng NLĐ về nước như thế nào vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu, soạn
thảo. Vì vậy, một trong những khó khăn lớn nhất mà NLĐ vướng phải sau khi
về nước là không tìm được việc làm.
2.2.5.1. Người lao động chưa được hướng dẫn, hỗ trợ để phát triển kinh tế
sau khi về nước
Thực tế cho thấy NLĐ Việt Nam hết hạn hợp đồng về nước thực sự
thiếu thông tin định hướng và hỗ trợ của các cơ quan chức năng. Hiện nay,
Cục quản lý LĐ ngoài nước vẫn đang trong quá trình nghiên cứu phối hợp với
ngân hàng để định hướng cho NLĐ có thể sử dụng nguồn vốn của mình một
cách có hiệu quả hơn sau khi đã trang trải những khoản chi bắt buộc cho gia
đình. Bên cạnh đó, việc cung cấp thông tin giúp LĐ có kiến thức nhất định về
mô hình hoạt động kinh tế gia đình sau khi về nước vẫn chưa được triển khai.
Cục quản lý LĐ ngoài nước mới chỉ đề nghị Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam. Vì vậy, nhiều NLĐ sau khi về nước đã không tìm được việc
làm hoặc phải làm những công việc không đúng nghề đã được đào tạo và có
kinh nghiệm làm việc ở NN. Trong khi đó, nhiều DN, đặc biệt là DN của Hàn
Quốc, Nhật Bản rất chú trọng nhận lại nguồn LĐ này vì họ biết tiếng, biết
nghề.
2.2.5.2. Nguồn nhân lực đã làm việc trong môi trường công nghiệp chưa
được thu hút vào các ngành nghề phù hợp gây ra tình trạng lãng phí chất xám
Sau khi hết hợp đồng LĐ trở về nước, hầu hết NLĐ (không tính đối
tượng tu nghiệp sinh) đều không kiếm được công việc mới, kể cả những NLĐ
58
có vốn ngoại ngữ, được qua đào tạo tay nghề (chiếm khoảng 10% số LĐ xuất
khẩu). Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ LĐ-TB&XH, số LĐ hàng năm hết
hạn về nước khoảng 100.000 người, nhưng chỉ có 20% trong số đó sau khi về
có việc làm ổn định [92]. Một phần là do nhiều NLĐ sau khi đi làm việc ở
NN trở về không có ý định tìm việc tại các DN trong nước, mà có ý định quay
trở lại nước mình đã đến làm việc (ngay cả bằng con đường bất hợp pháp),
hoặc là một nước khác. Cũng không ít người "tự mãn" với số tiền kiếm được
trong thời gian đi XKLĐ và cho phép mình "xả hơi" để tiêu sài số tiền đó.
Nhiều địa phương đã đưa ra định hướng sử dụng nguồn vốn từ XKLĐ
để kinh doanh nhưng không mấy ai mặn mà, đầu tư cho việc học nghề lại
càng ít. Như vậy, với số tiền có được, hoặc là họ sẽ xây nhà, mua xe, trả nợ,
hoặc là dùng để chi tiêu hàng ngày.
Mặt khác, Nhà nước lại thiếu chính sách. Báo cáo của Bộ LĐ-TB&XH
cho thấy Việt Nam đang thiếu trầm trọng LĐ tay nghề cao. Thậm chí nhiều
chuyên gia còn đưa ra cảnh báo: “Trong vòng 8 đến 10 năm tới, Việt Nam sẽ
đối mặt với nguy cơ nhập khẩu LĐ tay nghề cao từ các nước bạn”. Nhà nước
chưa có chính sách khai thác thích đáng và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực
sau khi XKLĐ trở về. Trong khi đó, những NLĐ đã từng đi làm việc ở NN là
một nguồn nhân lực có bề dày cả về tay nghề lẫn kinh nghiệm. Họ đã quen
với môi trường làm việc chuyên nghiệp và được đánh giá cao. Nhưng sau khi
về nước, một phần lớn đã không được làm việc ở môi trường đúng với tay
nghề. Đây là một sự lãng phí lớn.
Anh Phan Văn Đình ở Tiểu khu 10, thị trấn Hoàn Lão (Bố Trạch) trước
khi đi LĐ ở Libi cũng đã được đào tạo nghề thợ hàn một cách bài bản. Nhưng
kể từ khi về nước đến nay, ai thuê gì thì anh làm nấy, nghề hàn cũng không
được dùng đến. Nhiều NLĐ thuận lợi hơn, trong vài năm làm việc ở NN tích
cóp được một khoản tiền nhất định, sau khi trả nợ, sửa sang nhà cửa, mua xe,
số còn lại chỉ biết gửi ngân hàng vì không đủ để lập nghiệp như trường hợp
59
anh Nguyễn Văn Lương (Yên Khánh, Ninh Bình). Sau 3 năm làm nghề hàn
cơ khí tại Đài Loan trở về, số tiền còn lại sau khi trang trải nợ nần không đủ
để anh mở xưởng làm nghề. Vì vậy, trở về Việt Nam anh Lương lại là người
thất nghiệp…
Nhiều DN có nhu cầu tuyển dụng LĐ trong nước và các DN tại Việt
Nam lại đánh giá cao nguồn LĐ đã từng làm việc ở NN. Ông Chang Hee Lee,
chuyên gia về quan hệ LĐ và đối ngoại xã hội của Tổ chức LĐ Quốc tế (ILO)
cho rằng LĐ Việt Nam đã được đánh giá tốt trong thời gian làm việc tại NN,
đặc biệt là ở Hàn Quốc. Nếu xét về tính cạnh tranh, đây là nguồn LĐ tạo ra
tính cạnh tranh cao hơn LĐ đã qua đào tạo nghề trong nước. Ông Lee cũng
đưa ra nhận định, nếu có chính sách khai thác hợp lý, tạo ra những kênh kết
nối giữa LĐ và DN có nhu cầu sử dụng, nguồn LĐ này sẽ góp phần điều hoà
nguồn lực chất lượng theo yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá và hội nhập
60
LĐ quốc tế.
Chƣơng 3
NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ
NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM
3.1. Công khai, minh bạch và giảm phiền hà trong tuyển dụng lao động
3.1.1. Tăng cường việc công khai hóa các chính sách, luật pháp về
xuất khẩu lao động và Hợp đồng cung ứng lao động của các doanh nghiệp
nhằm đảm bảo cho người lao động tiếp cận thị trường lao động ngoài
nước, hạn chế tối đa các tiêu cực trong lĩnh vực xuất khẩu lao động
Ngày 27/11/2009, Cục quản lý LĐ ngoài nước đã khai trương Trang
thông tin điện tử tại địa chỉ www.dolab.gov.vn nhằm công khai hoá và cung
cấp thông tin rộng rãi tới NLĐ có nhu cầu về các thị trường, các DN XKLĐ,
quy trình, thủ tục đi làm việc ở NN. NLĐ có thắc mắc cũng có thể gửi câu hỏi
để Cục trả lời trên mạng. Bên cạnh đó, trang thông tin điện tử này cũng tích
hợp phần mềm quản lý đối với các DN XKLĐ nhằm đơn giản hoá các thủ tục
hành chính giữa các DN và cơ quan quản lý Nhà nước, nhất là chế độ thông
tin, báo cáo, đăng ký hợp đồng. Tuy nhiên, hiện nay nội dung các mục Chủ
trương về XKLĐ, Đào tạo ngoại ngữ, Đào tạo kiến thức cần thiết, Thủ tục
visa - hộ chiếu, Tổ chức các chuyến bay, Lao động ở nước ngoài, Lao động về
nước, Thanh lý hợp đồng, Chuyển trả lao động về địa phương, Quy trình
khiếu nại - tố cáo, thống kê số liệu, Công báo của Trang thông tin này vẫn còn
bỏ trống. Vì vậy, Cục quản lý LĐ cần sớm hoàn thiện, cập nhật thông tin hơn
nữa Trang thông tin điện tử và có thể tổ chức các buổi giao lưu trực tuyến với
NLĐ cả trong và ngoài nước thông qua hệ thống thông tin này.
Quý I năm 2009, Cục Quản lý LĐ ngoài nước đã biên soạn và phát
hành một bộ tài liệu gồm 5 cuốn Những kiến thức cần thiết dùng cho NLĐ
Việt Nam đi làm việc tại Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc, Macau và Ả rập Xê
61
út nhằm trang bị những kiến thức cơ bản và rất cần thiết đối với NLĐ Việt
Nam được tuyển chọn đi làm việc ở các nước trên. Bộ tài liệu này đã cung cấp
cho NLĐ những thông tin đầy đủ và chính xác về nghĩa vụ, quyền lợi của
NLĐ Việt Nam khi đi làm việc ở năm nước trên theo thoả thuận giữa Chính
phủ Việt Nam và Chính phủ các nước này; ngoài ra còn trang bị cho NLĐ
những hiểu biết cần thiết về đất nước, con người, luật pháp và văn hoá giao
tiếp của các nước này. Tuy nhiên, ngoài các thị trường truyền thống như năm
nước trên, vẫn còn rất nhiều thị trường khác đang thu hút LĐ xuất khẩu của
Việt Nam như Libia, Lào… và các thị trường thu nhập cao như Úc, Niu-di-
lân, Canada, Phần Lan, Thụy Điển… Vì vậy, trong thời gian tới, Cục Quản lý
LĐ ngoài nước cần cố gắng biên soạn và phát hành thêm nhiều tài liệu như
vậy cho NLĐ Việt Nam đi XKLĐ ở tất cả các thị trường. Đây sẽ là cuốn cẩm
nang hữu ích đối với mỗi NLĐ khi tham gia khóa đào tạo - giáo dục, định
hướng để có thể đáp ứng được chất lượng theo qui định của phía nước ngoài.
Để tránh bị lừa đảo XKLĐ và để được tư vấn giải đáp các câu hỏi về
XKLĐ, ngưòi LĐ có thể gọi tới đường dây nóng theo số: 0438249517, bấm
tiếp số máy lẻ 601 hoặc 608 (giờ hành chính) hoặc truy cập địa chỉ
www.dolap.gov.vn. Đây là một biện pháp thiết thực để hạn chế tối đa những
tiêu cực trong hoạt động XKLĐ. Tuy nhiên, tác giả thiết nghĩ, để đường dây
nóng thực sự phát huy hiệu quả, ngoài sự nỗ lực của Cục quản lý LĐ ngoài
nước còn cần có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan truyền thông - thông
tin dưới sự chỉ đạo của Trung ương. Nhờ đó, sẽ ngày càng có nhiều NLĐ biết
đến và được tư vấn về XKLĐ thông qua đường dây nóng này. Hiện nay,
thông tin đường dây nóng về XKLĐ mới được in trên Báo LĐ xã hội - tờ báo
chuyên ngành của Bộ LĐTBXH. Vì vậy, nếu như các tờ báo đang thu hút
nhiều bạn đọc như báo Nhân dân, báo Công an Nhân dân, báo LĐ , Báo
NLĐ… đều dành một góc nhỏ của trang báo và các đài truyền hình, đài phát
thanh trung ương và địa phương dành vài chục giây của chương trình phát
62
sóng, phát thanh hàng ngày để thông báo về đường dây nóng thì chắc chắn
thông tin này sẽ đến được với đông đảo NLĐ, nhờ đó mà bảo vệ được lợi ích
cho NLĐ một cách tối đa và góp phần hạn chế tổn thất cho xã hội.
Cách đây một năm, Đoàn TNCS Khối Dân - Chính - Đảng thành phố
Hồ Chí Minh đã mở ngày hội tư vấn và hướng dẫn thủ tục hành chính cho
người dân và DN lần đầu tiên tại Cung văn hóa LĐ Thành phố Hồ Chí Minh
nhằm giúp người dân và DN rút ngắn thời gian làm hồ sơ mà không phải nhờ
“cò” lo thủ tục thay. Trong thời gian gần đây, hàng loạt ngày hội tư vấn thủ
tục hành chính như vậy diễn ra ở nhiều quận, huyện. Đội tình nguyện với
những cán bộ trẻ của các sở, ngành đã dành ngày nghỉ cuối tuần xuống tận cơ
sở cùng giải quyết hồ sơ tồn đọng. Trong tháng thanh niên năm 2009, Đoàn
TNCS khối Dân - Chính - Đảng TP HCM phối hợp với các quận - huyện đoàn
tổ chức các buổi tuyên truyền, tư vấn, giải đáp thắc mắc và giải quyết cho
người dân về các thủ tục hành chính có liên quan cấp đổi hộ chiếu phổ thông,
XKLĐ, cấp phép xây dựng, cấp chủ quyền sở hữu nhà ở… Trên cơ sở đó, một
trung tâm tư vấn thủ tục hành chính miễn phí từ ý tưởng của Đoàn khối cũng
đang chuẩn bị ra đời tại quận Tân Bình. Trung tâm do các bạn trẻ đang công
tác trong các sở ngành Tp HCM tình nguyện làm thêm vào thứ Bảy, Chủ nhật
để tư vấn những vấn đề liên quan đến thủ tục hành chính, trong đó có các thủ
tục về hoạt động XKLĐ và nhận cả tư vấn qua internet, đường dây nóng. Lực
lượng tình nguyện trẻ này nếu được nhân rộng ở khắp các tỉnh thành trên cả
nước sẽ hỗ trợ các địa phương giải quyết hồ sơ tồn đọng, hình thành quy trình
giải quyết nhanh nhất và có lợi nhất cho người dân [71].
3.1.2. Đơn giản hóa các thủ tục hành chính gây phiền hà cho các
doanh nghiệp xuất khẩu lao động và người lao động trong tuyển chọn lao
động xuất khẩu
Thời gian qua nhiều đơn vị, địa phưong đã thực hiện đơn giản hoá các thủ
tục hành chính nhằm tạo điều kiện cho cá nhân và các DN XKLĐ. Điển hình
63
như lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Quảng
Nam đã áp dụng nhiều cách làm sáng tạo trong công tác tiếp và giải quyết các
thủ tục giấy tờ theo nhu cầu của nhân dân. Đơn vị duy trì thường xuyên việc tiếp
công dân vào sáng thứ 7 hàng tuần nên nhu cầu xin cấp giấy chứng minh nhân
dân (CMND) không bị tồn đọng. Đồng thời, yêu cầu cấp mới đột xuất CMND
cho đối tượng là người dân tộc thiểu số có nhu cầu XKLĐ nhưng chưa có giấy
CMND cũng được nhanh chóng giải quyết. Thời gian hẹn trả CMND được rút ngắn so với trước, từ 30 ngày xuống 15 ngày [107]..
Quy trình, thủ tục cấp Hộ chiếu theo Nghị định 136/2007/NĐ- CP,
Thông tư 27/2007/TT - BCA có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2007 đã được
đơn giản, người dân dễ thực hiện. Từ khi thực hiện Nghị định 136/2007/N Đ -
CP, thời gian cấp hộ chiếu chỉ còn 8 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ.
Tuy nhiên, nếu người dân có nhu cầu cấp bách cần cấp hộ chiếu gấp thì sẽ
được xem xét cấp trong vòng từ 2 - 3 ngày làm việc. Cụ thể, người đi NN để
chữa bệnh nếu có giấy tờ chỉ định của bệnh viện cấp thành phố hoặc bệnh
viện Trung ương; người có thân nhân ruột thịt ở NN bị tai nạn, bệnh tật, chết
cần phải đi gấp để giải quyết, nếu có giấy tờ chứng minh những việc đó; cán
bộ, công chức, viên chức và người đang công tác trong lực lượng vũ trang,
nếu có văn bản của thủ trưởng cơ quan nơi người đó công tác. Tuy nhiên,
điểm mới khác có tính cải tiến mạnh, giảm phiền hà cho người dân khi có nhu
cầu cấp hộ chiếu đang được thực hiện tại thành phố Cần Thơ là bỏ thủ tục xác
nhận của công an xã, phường vào tờ khai cấp hộ chiếu. Hồ sơ cấp hộ chiếu
lần đầu gồm: 1 tờ khai theo mẫu qui định (không cần xác nhận của công an
xã, phường) và ảnh theo đúng qui định về kích cỡ, phông nền. Việc xác nhận
vào tờ khai chỉ áp dụng đối với trẻ em dưới 14 tuổi (vì giấy khai sinh không
thể hiện hình ảnh) và tờ khai đối với người xin cấp hộ chiếu qua đường bưu
điện. Vấn đề cấp hộ chiếu cũng không căn cứ vào việc người được cấp có đi
NN hay không, nếu có nhu cầu và hồ sơ đầy đủ thì Phòng Quản lý xuất nhập
64
cảnh PA 18, Công an Cần Thơ sẽ tiếp nhận hồ sơ đề nghị Cục quàn lý xuất
nhập cảnh (Bộ Công an) cấp. Những qui định thông thoáng về cấp hộ chiếu cả
về thời gian, thủ tục đã thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho người XKLĐ và cả
những người dân dù hiện tại chưa có nhu cầu đi NN cũng nộp đơn xin cấp hộ
chiếu [81].
3.2. Phối hợp giữa các cơ quan hữu trách để hoàn thiện việc đào
tạo cho ngƣời đi xuất khẩu lao động
Năng lực cạnh tranh của LĐ đi làm việc ở NN phụ thuộc vào năng lực
hoạt động của các DN XKLĐ và chất lượng nguồn LĐ. Muốn nâng cao năng
lực của các DN XKLĐ trước mắt nhà nước cần có những cải cách trong việc
cấp phép và quản lý các DN. Nhà nước cần kiểm tra bằng cấp, chứng chỉ và
sát hạch trình độ nhân sự của DN, điều kiện tác nghiệp... rồi mới cấp phép
hoạt động. Mặt khác, Nhà nước cần hỗ trợ các DN XKLĐ trong việc phát
triển thị trường và đầu tư vào đào tạo nhân lực cho thị trường LĐ quốc tế. Các
DN XKLĐ hoạt động trong cơ chế mới chưa lâu, còn nhỏ bé về cơ sở vật
chất, tài chính và thiếu kinh nghiệm thâm nhập thị trường LĐ thế giới. Nhà
nước cần đầu tư xây dựng và phát triển một số Trường, Trung tâm đào tạo
điểm nguồn LĐ của nhà nước tại các khu vực, không nên để DN tự tiến hành
đào tạo một cách manh mún như hiện nay, gây tốn kém cho bản thân DN mà
hiệu quả đào tạo-giáo dục cũng vẫn không đảm bảo. Trên cơ sở đó, DN phải
chủ động phối hợp với các Trường, Trung tâm đào tạo nghề trong việc chuẩn
bị nguồn LĐ đáp ứng được cả về trình độ nghề nghiệp, ngoại ngữ đến tác
phong công nghiệp và ý thức tổ chức kỷ luật đi làm việc ở NN.
Tiếp tục đẩy mạnh triển khai mô hình liên kết giữa các DN và địa
phương để có nguồn LĐ đáp ứng thị trường; Nhà nước hỗ trợ đầu tư từ nguồn
kinh phí chương trình mục tiêu việc làm và các chương trình, dự án khác để
mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn LĐ…
Trong đào tạo, cần khuyến khích NLĐ có ý thức tự trang bị các kiến
65
thức về trình độ nghề nghiệp, ngoại ngữ, phong tục tập quán và luật pháp
nước đến làm việc. Phải chủ động tìm hiểu các chính sách, quy định của nhà
nước về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN, chủ động xử lý và tự bảo vệ
trước các vấn đề phát sinh, chịu trách nhiệm về các hành vi của mình trong
quan hệ LĐ ở ngoài nước. Đồng thời, NLĐ phải có trách nhiệm tuân thủ các
quy định của nhà nước, không phá bỏ hợp đồng ảnh hưởng đến uy tín của
NLĐ Việt Nam, nêu cao ý thức trách nhiệm của mình đối với cộng đồng. Nếu
vi phạm, phải bồi thường các thiệt hại cho DN và bị xử lý nghiêm trước pháp
luật.
Như vậy, để thực hiện đổi mới giáo dục và đào tạo gắn kết chặt chẽ với
tạo nguồn nhân lực cho XKLĐ, nâng cao sức cạnh tranh của LĐ Việt Nam
trên thị trường thế giới cần phải có sự phối hợp giữa các cơ quan hữu trách:
3.2.1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nâng cao khả năng dự báo
nhu cầu lao động trong nước và trên thị trường quốc tế; trên cơ sở đó đầu tư
thỏa đáng cho đào tạo lao động nói chung và lao động đi làm việc ở nước
ngoài nói riêng
Nhà nước cần khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đào tạo LĐ,
đồng thời, Nhà nước phải trực tiếp đầu tư một số cơ sở đào tạo LĐ theo chuẩn
quốc gia để làm trụ cột cho việc tạo nguồn LĐ.
3.2.2. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Tổng cục Dạy nghề trong
việc giáo dục và đào tạo người lao động
- Thiết kế chương trình giáo dục và đào tạo sao cho kết hợp ngay từ đầu
quá trình giáo dục phổ thông với đào tạo nghề, ngoại ngữ bảo đảm cho học
sinh vừa có thể học lên cao vừa có thể tham gia thị trường LĐ trong và ngoài
nước.
Ngay từ giáo dục phổ thông cần phải xác định mục tiêu: trang bị những
kiến thức ngoại ngữ, văn hoá, pháp luật và nghề nghiệp cần thiết để học sinh
tiếp tục học lên đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và học nghề để
66
làm việc trong nước hoặc đi làm việc ở NN. Chỉ có thiết kế và thực hiện nội
dung chương trình đào tạo giáo dục phổ thông theo mục tiêu trên thì giáo dục
- đào tạo mới tạo tiền đề cho NLĐ tiếp cận nhanh và thuận lợi thị trường LĐ
ngoài nước.
- Tập trung nâng cao trình độ tay nghề và ngoại ngữ, rèn luyện tác
phong LĐ công nghiệp và ý thức tuân thủ pháp luật cho NLĐ.
Muốn đạt được như vậy, cần phải xác định nội dung, chương trình đào
tạo phù hợp, ban hành các bộ tiêu chuẩn chất lượng đào tạo nghề và tổ chức
tìm kiểm định chất lượng đào tạo theo tiêu chuẩn khu vực. Nội dung chương
trình đào tạo LĐ XKLĐ, bám sát nhu cầu sử dụng LĐ trong ngắn hạn và dài
hạn của thị trường LĐ quốc tế; trong đó chú ý rèn luyện kỹ năng thực hành.
- Nâng cao tính độc lập và khả năng tự chịu trách nhiệm của NLĐ; hạn
chế và khắc phục căn bản tình trạng LĐ vi phạm hợp đồng.
NLĐ vừa là đối tượng vừa là chủ thể của XKLĐ. NLĐ có thể tự kiếm
việc làm trên thị trường LĐ quốc tế hoặc qua các DN XKLĐ. Để có việc làm
ổn định và thu nhập cao, NLĐ phải không ngừng tự học tập và rèn luyện
nhằm nâng cao năng lực tự chịu trách nhiệm, độc lập LĐ trên thị trường quốc
tế. Đặc biệt là chấm dứt tình trạng vi phạm hợp đồng, bỏ trốn cư trú bất hợp
pháp ở nước tiếp nhận XKLĐ.
3.2.3. Cục Quản lý lao động ngoài nước, Tổng cục dạy nghề và các
doanh nghiệp xuất khẩu lao động phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện “Đề
án thí điểm đào tạo nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo cơ
chế đặt hàng, đấu thầu”
Theo đó, Cục quản lý LĐ ngoài nước đảm nhận việc lựa chọn các DN
XKLĐ đáp ứng các tiêu chí của Đề án và Tổng cục dạy nghề sẽ giới thiệu các
trường nghề trong phạm vi quản lý của mình (lo khâu đào tạo nghề cho NLĐ).
DN XKLĐ có đơn hàng tuyển LĐ các nghề phù hợp với Đề án cam kết với cơ
67
sở dạy nghề đưa số LĐ sau đào tạo XKLĐ.
Cục Quản lý LĐ ngoài nước đã phê duyệt hợp đồng cho phép 7 DN
XKLĐ tham gia “Đề án thí điểm đào tạo nghề cho NLĐ đi làm việc ở NN
theo cơ chế đặt hàng, đấu thầu” trong năm 2009 ở hai lĩnh vực xây dựng và
điều dưỡng. Đó là các công ty Vinaconex Mec, Sona, Việt Thắng, Airseco,
Oleco, Glo - Tech và LOD. Như vậy, đối tượng được nhận hỗ trợ từ Đề án còn
bó hẹp ở một số ngành nghề và một số thị trường. Cục quản lý LĐ ngoài nước
cần nghiên cứu, xem xét cho mở rộng đối tượng nhận hỗ trợ đào tạo XKLĐ theo
“Đề án thí điểm đào tạo nghề cho NLĐ đi làm việc ở NN theo cơ chế đặt
hàng, đấu thầu” ở một số thị trường đang có nhu cầu tiếp nhận LĐ với số
lượng lớn và thường xuyên như nghề hộ lý (khán hộ công) đi Đài Loan, công
nhân nhà máy đi Malaysia… Hiện nay, nhiều “hạn ngạch” đi LĐ ở thị trường
có thu nhập cao như Bồ Đào Nha, Úc, Hàn Quốc và một số nước Châu Âu
vẫn đang bỏ trống do LĐ chưa đáp ứng được yêu cầu về tay nghề và trình độ
ngoại ngữ. Vì vậy, khi triến khai Đề án, Cục Quản lý LĐ ngoài nước cũng cần
có chính sách ưu tiên với những thị trường có thu nhập cao, điều kiện LĐ tốt,
đòi hỏi trình độ tay nghề cao mà hiện nay ta vẫn chưa đáp ứng kịp như ngành
hàn công nghiệp đi Úc, Bồ Đào Nha, Hàn Quốc… và một số ngành dịch vụ
như thợ làm bánh, đầu bếp đi Úc, Niu-di-lân…
3.2.4. Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động địa phương tại các huyện nghèo
cần hợp tác chặt chẽ, nhiệt tình hơn nữa với các doanh nghiệp xuất khẩu lao
động để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành có hiệu quả công tác
tạo nguồn tại địa phương
Đối với “Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh XKLĐ góp phần
giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009 - 2010”, sự phối hợp giữa địa phương với
DN trong khâu tuyên truyền, vận động con em địa phương đi XKLĐ là rất quan
trọng bởi vì bản thân NLĐ thuộc hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số nên còn có một
số hạn chế về trình độ, sức khỏe và tâm lý ngại đi xa. Tuy nhiên, trong quá
68
trình triển khai Đề án này, tại một số địa phương, chính quyền chưa thực sự
vào cuộc, còn phó mặc cho các DN, không tiếp tục triển khai đến cơ sở, nên
người dân thiếu thông tin về chính sách hỗ trợ của nhà nước để tham gia như
tại Phú Thọ, Thanh Hóa. Bên cạnh đó, số NLĐ trong quá trình đào tạo nghỉ
không tiếp tục tham gia tương đối nhiều, khoảng 18% [68].
Ban chỉ đạo XKLĐ tỉnh Thanh Hóa còn chưa sát sao trong quản lý việc
thực hiện Đề án 71 nên đã xảy ra nhiều sai phạm trong tuyển dụng và đào tạo
lao động nghèo đi XKLĐ ở huyện Thường Xuân trong thời gian vừa qua
[106].
Dưới sự "hậu thuẫn" của Ủy ban nhân dân huyện Thường Xuân, cũng
như sự thờ ơ của Sở Lao động - Thương Binh và xã hội tỉnh Thanh Hóa, mặc
dù không được Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐ-TB&XH) thẩm
định đơn hàng cho phép tuyển lao động theo Quyết định 71 của Thủ tướng
Chính phủ, hai công ty VILACO Thanh Hóa và GMAS Thanh Hóa vẫn ngang
nhiên vào huyện Thường Xuân tuyển lao động đi theo chương trình huyện
nghèo và thu mức phí cao hơn so với qui định.
Theo qui định của Bộ Lao động, NLĐ huyện nghèo đi Malaysia chỉ
được vay mức trần tối đa là 25 triệu đồng/lao động đối với mọi ngành nghề
(Xem Phụ lục 4), nhưng bảng thống kê chi phí của 24 lao động tại xã Luận
Khê cho thấy mức vay của nhiều LĐ lại cao hơn mức trần: 19 người vay 40
triệu, 4 người vay mức 30 triệu đồng, chỉ có chị Lang Thị Hồng ở thôn Ngọc
Trà vay dưới mức trần với 20 triệu đồng. NLĐ đã vay tiền ngân hàng CSXH
được 3 đến 5 tháng, 22 LĐ đã được công ty GMAS Thanh Hóa cho học ngoại
ngữ 3 tháng mà vẫn chưa bay được, trong khi chi phí xuất cảnh của mỗi LĐ
vay ngân hàng CSXH huyện từ 30 - 45 triệu đồng/người. Theo bảng thống kê
chi phí 24 LĐ đi Malaysia của xã Luận Khê cũng cho thấy, chỉ có 4 NLĐ có
thời gian ăn học tại công ty VILACO Thanh Hóa trong vòng 30 ngày, 8 người
có thời gian học trong vòng 4 - 7 ngày, số còn lại thì không ghi cụ thể.
69
Trường hợp anh Lương Văn Dũng ở thôn Mơ, xã Luận Khê đăng ký đi Ma-
lai-xi-a nhưng trong giấy xác nhận tuyển dụng lao động do công ty VILACO
ký gửi Ngân hàng CSXH huyện Thường Xuân lại đăng ký vay để đi Trung
Đông. Theo đó, anh Dũng phải trả khoản tiền đào tạo nghề 3G - 6G tại trường
nghề 7.500.000 đồng, nhưng trên thực tế thì anh chỉ được công ty cho học
tiếng 2 tháng tại thành phố Thanh Hóa.
3.3. Giảm thiểu chi phí xuất khẩu lao động và hoàn thiện hệ thống
tín dụng cho vay vốn đối với ngƣời đi xuất khẩu lao động
- Đẩy mạnh mô hình liên kết giữa DN XKLĐ với các cấp chính quyền
địa phương để giảm bớt các khâu tuyển chọn trung gian, góp phần giảm chi
phí cho NLĐ.
Trước năm 2002, mỗi năm Việt Nam đưa được khoảng dưới 40.000 LĐ
đi làm việc ở NN, trong khi nhu cầu đi làm việc ở NN của LĐ lại rất lớn.
NLĐ không có đủ thông tin về nhu cầu tuyển LĐ xuất khẩu của các DN, các
cấp chính quyền, đoàn thể ở địa phương chưa nhận thấy lợi ích của công tác
XKLĐ đối với công cuộc xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm của địa phương
nên chưa tâm quan tâm đến công tác này. Tình trạng đó dẫn đến DN XKLĐ
gặp khó khăn khi tuyển chọn LĐ, trong khi LĐ muốn đi làm việc ở NN không
biết liên lạc ở đâu, bị các tổ chức, cá nhân không có chức năng lừa đảo, thu
tiền bất chính. Để giải quyết tình trạng đó, Bộ LĐ - TB & XH đã báo cáo
chính phủ và thí điểm thực hiện mô hình liên kết giữa các DN XKLĐ với các
cấp chính quyền, đoàn thể địa phương tại hai tỉnh Hải Dương và Phú Thọ.
Sau thời gian làm có kết quả, cuối năm 2002, mô hình liên kết đã được mở
rộng ra các tỉnh khác và triển khai rộng rãi trên toàn quốc. Đến nay, trên 50
tỉnh, thành phố đã tổ chức thực hiện mô hình liên kết và đã thành lập Ban chỉ
đạo XKLĐ. Nhiều tỉnh thành cũng thành lập Ban chỉ đạo XKLĐ ở các cấp
huyện và xã. Cho đến thời điểm này có thể khẳng định, mô hình liên kết
XKLĐ đã có hiệu quả lớn trong việc đẩy mạnh xuất khẩu nói chung và tại các
70
địa phương nói riêng. Quá trình thực hiện mô hình liên kết XKLĐ đã tăng
cường nhận thức của người dân về lợi ích của công tác XKLĐ và NLĐ đối
với công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế của
địa phương, về trách nhiệm của các cấp chính quyền trong hoạt động XKLĐ.
Về phía NLĐ đã được DN tuyển chọn, không phải qua các khâu trung gian
nên giảm được chi phí, được tạo các điều kiện thuận lợi và được hỗ trợ để đi
làm việc ở NN. Các DN đã tuyển chọn được nguồn LĐ đủ tiêu chuẩn, đáp
ứng yêu cầu của đối tác, góp phần nâng cao tính cạnh tranh của LĐ và của
DN Việt Nam. Công tác tuyển chọn LĐ được quản lý tương đối chặt chẽ.
Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại trong quá trình thực hiện. Một số DN
tư vấn, tuyển chọn quá nhiều LĐ so với nhu cầu nên tiến độ đưa đi chậm, gây
ảnh hưởng xấu đến tâm lý của LĐ, đến phong trào XKLĐ của địa phương.
Nhiều DN không báo cáo kết quả tuyển chọn cho địa phương, gây khó khăn
cho công tác quản lý và thực hiện các chính sách hỗ trợ xuất khẩu của địa
phương.
Có tình trạng nhiều DN tư vấn, tuyển chọn LĐ trên cùng một địa bàn
nhưng không có sự phối hợp, chính sách tuyển chọn khác nhau, thậm chí cạnh
tranh không lành mạnh với nhau. Cũng có địa phương cũng đã gây trở ngại
không ít cho DN và NLĐ. Nhiều địa phương yêu cầu DN phải có văn bản giới
thiệu của Cục, một số địa phương chỉ chấp thuận văn bản giới thiệu của Cục
trong một thời hạn nhất định, sau đó yêu cầu xin văn bản giới thiệu mới. Điều
đó đã phát sinh thêm thủ tục hành chính, gây khó khăn cho DN.
Nhiều địa phương có chính sách hỗ trợ kinh phí cho NLĐ thuộc diện
chính sách, hộ nghèo nhưng thủ tục để NLĐ nhận được tiền hỗ trợ còn phức
tạp và mất nhiều thời gian. Còn về phía ngân hàng tại các địa phương, thường
yêu cầu DN phải mở tài khoản tại ngân hàng mình để đảm bảo việc trả nợ vay
của NLĐ. Điều này đã gây khó khăn cho DN, vì DN không thể mở tài khoản
71
tại tất cả các địa phương được.
Để mô hình liên kết phát huy hiệu quả, góp phần đẩy mạnh XKLĐ, cần
đổi mới và hoàn thiện mô hình liên thông trong XKLĐ theo hướng cắt giảm
thủ tục gây phiền hà cho DN và NLĐ, quản lý tốt hoạt động tuyển chọn gắn
kết DN với địa phương chặt chẽ hơn.
- Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại cho XKLĐ góp phần giảm
chi phí cho các DN XKLĐ
Nhìn chung các nước ở khu vực Đông Nam Á đưa NLĐ đi làm việc ở
NN đều xem trọng việc tìm kiếm thị trường NN cho LĐ của họ. Mặc dù ở các
nước này vai trò của các DN XKLĐ là rất quan trọng trong việc tìm kiếm việc
làm cho NLĐ nhưng nhà nước không phó mặc hoàn toàn cho họ mà hỗ trợ
việc nghiên cứu và phát triển thị trường ở tầm quốc gia thông qua các biện
pháp như: gửi các phái đoàn ra NN kết hợp với các cơ quan ngoại giao để tìm
hiểu thị trường; quảng cáo và tiếp thị LĐ; tham gia các hội thảo, hội nghị
quốc tế về di dân để tìm kiếm thị trường; kết nối và đàm phán để ký kết các
hiệp định song phương và đa phương về cung ứng LĐ; lập các trang web giới
thiệu LĐ của mình với các đối tác NN hoặc mời trực tiếp các đối tác NN đến
xem chất lượng công nhân nước mình. Việc nhà nước đầu tư nghiên cứu và
phát triển thị trường LĐ quốc tế một cách bài bản như trên sẽ giúp cho các
DN nắm bắt được một cách toàn diện các nhu cầu về LĐ, mặt bằng chất
lượng chung, đặc điểm riêng của từng thị trường để từ đó có định hướng đúng
cho công tác đào tạo và ký kết hợp đồng với các chủ sử dụng LĐ.
- Triển khai có hiệu quả việc cho vay vốn đối với NLĐ
Tiếp tục đẩy mạnh chính sách tín dụng từ các nguồn vốn quốc gia do
Bộ LĐ - TB & XH quản lý và có thể huy động được như Quỹ quốc gia giải
quyết việc làm, quỹ xóa đói giảm nghèo, cho các đối tượng chính sách vay
với lãi suất ưu đãi. Các ngân hàng cũng cần linh hoạt hơn trong chính sách
cho vay, nên phân chia theo 2 loại thị trường: Chi phí đi thấp - thu nhập thấp và
72
chi phí cao - thu nhập cao để định lượng mức vay cho hợp lý, tạo điều kiện tối đa
cho DN và NLĐ. Các ngân hàng có cơ chế cho các cơ quan chính quyền địa
phương, các tổ chức xã hội bảo lãnh một phần vốn vay bằng tín chấp đối với
những đối tượng xã hội đi làm việc ở NN, cần có cơ chế xử lý rủi ro phù hợp với
đối tượng vay vốn là hộ nghèo và các đối tượng chính sách. Ngân hàng cấp tín
dụng cho người nghèo cần mở rộng đối tượng chính sách được vay vốn đi xuất
khẩu như bộ đội xuất ngũ, NLĐ ở vùng nghèo (ngoài 9 tỉnh đã triển khai thí
điểm thực hiện Đề án 71).
Thực tiễn hoạt động XKLĐ cho thấy, một số địa phương đã triển khai
hoạt động cho vay vốn XKLĐ rất hiệu quả như Bắc Giang, Thanh Hoá, Nghệ
An, Tuyên Quang… Làng chài ven biển Cương Gián (Nghi Xuân, Yên Gián,
Hà Tĩnh) đã thực hiện tốt việc các gia đình có con em đi XKLĐ gửi tiền về
nước hỗ trợ cho các gia đình khác đi XKLĐ sau vay vốn với lãi suất thấp
[76]. Năm 2008, xấp xỉ 100% trong số 2.700 hộ dân ở Cương Gián đều có
con em đi XKLĐ. Năm 2007, tiền NLĐ gửi về cho người thân gần 60 tỷ
đồng. Vì vậy, các gia đình ở Cương Gián có nhu cầu cho con em đi LĐ ở NN
có thể dễ dàng huy động được vài ba trăm triều đồng trong một ngày. Hội phụ
nữ Tuyên Quang đã triển khai hiệu quả hoạt động vay vốn và thành lập nhóm
“Phụ nữ tín dụng - tiết kiệm”. Các cấp Hội đã tổ chức ký kết với Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng chính sách xã hội về việc tổ
chức thực hiện cho vay ủy thác đối với hộ nghèo và các hộ chính sách, tích
cực khai thác các nguồn vốn trong nước và các tổ chức quốc tế để hỗ trợ phụ
nữ phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, trong đó có hoạt động XKLĐ [86].
Ở huyện Lạng Giang, Bắc Giang, những gia đình khó khăn khi tham gia
XKLĐ được hỗ trợ ở mức 500.000 đồng/người với những gia đình thương
binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ, mức 400.000 đ/người với những gia đình
thuộc hộ nghèo. Những gia đình không thuộc 2 diện này sẽ được hỗ trợ
300.000 đồng/người. Các tổ chức đoàn thể như cựu chiến binh, thanh niên,
73
phụ nữ cũng đứng ra tín chấp giúp các hộ vay vốn XKLĐ. Năm 2007, Lạng
Giang đã có gần 1.400 người đi XKLĐ ở các nước và đã gửi về gia đình gần
trăm tỷ đồng [87].
Ngày 9/9/2009, Bộ LĐ - TB & XH đã ban hành Công văn
3354/LĐTBXH-QLLDĐNN về mức trần chi phí đối với lao động huyện
nghèo vay vốn đi làm việc ở NN. Mức vay căn cứ theo nhu cầu của người
vay, tối đa bằng các khoản chi phí người vay phải đóng góp theo từng thị
trường. Mức trần chi phí cụ thể theo thị trường (Xem Phụ lục 4).
Nhằm tạo điều kiện cho LĐ vay vốn đi XKLĐ, ngày 21/04/2010, tại Hà
Nội, Ngân hàng NNPTNT VN và Hiệp hội XKLĐ đã ký kết thoả thuận hợp tác
về cho vay XKLĐ. Hai bên cam kết sẽ hỗ trợ, tư vấn cho các DN XKLĐ, NLĐ
lựa chọn ngân hàng có dịch vụ tốt nhất để vay vốn, gửi tiền, chuyển tiền an toàn,
nhanh gọn và tiết kiệm chi phí.
3.4. Nâng cao hiệu lực quản lý lao động làm việc ở nƣớc ngoài
- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật LĐ, Luật XKLĐ, Luật
xuất nhập cảnh.
Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục pháp luật XKLĐ,
truyền tải đầy đủ các thông tin về thị trường LĐ ngoài nước; quy định của
Nhà nước về XKLĐ; các hợp đồng mà DN thực hiện để NLĐ tự giác chấp
hành.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động đưa NLĐ đi làm
việc ở NN của các DN. Tập trung thanh tra, kiểm tra những DN có nhiều phát
sinh, sai phạm. Tăng cường thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề, ví dụ như:
Chuyên đề đào tạo, chuyên đề tuyển chọn LĐ, chuyên đề tài chính liên quan
đến hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN, đồng thời qua công tác thanh tra,
kiểm tra, phổ biến, hướng dẫn chính sách và pháp luật liên quan đến hoạt
động này.
Từng Bộ, ngành, địa phương cần sắp xếp các DN XKLĐ do mình quản
74
lý, đồng thời có biện pháp, cơ chế quản lý, xử lý DN vi phạm, chọn lựa, bổ
sung cán bộ tốt cho DN. Tăng cường quản lý, kiểm tra, thanh tra hoạt động
của các DN XKLĐ trực thuộc trong việc ký kết, tổ chức thực hiện hợp đồng
và việc chấp hành pháp luật, quy định về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở
NN để kịp thời uốn nắn hoặc xử lý vi phạm nhằm bảo vệ lợi ích của NLĐ.
Đổi mới phương thức thanh tra, kiểm tra bằng hình thức gửi phiếu tự
kiểm tra đối với các DN XKLĐ nhằm nâng cao trách nhiệm tự kiểm tra, rà
soát và chấn chỉnh hoạt động của chính DN.
Tăng cường tập huấn chuyên môn nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ
thanh tra của Bộ, Sở, thanh tra viên cả về kỹ năng và phương pháp thanh tra.
Cán bộ, thanh tra viên phải có phẩm chất chính trị vững vàng, có ý thức trách
nhiệm cao, trung thực, khách quan, nắm vững chính sách, chế độ, pháp luật
của nhà nước thuộc phạm vi QLNN về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN.
Đi kèm với thanh tra, kiểm tra cần có những chế tài xử lý sai phạm một
cách nghiêm khắc. Các chế tài cần được cụ thể hóa trong các Nghị định
hướng dẫn Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở NN theo hợp đồng, cần kết hợp
giữa xử phạt hành chính và phạt tiền bởi vì trong cơ chế thị trường, lợi ích
kinh tế là sát sườn nhất. Khi bị thiệt hại về lợi ích kinh tế, các DN sẽ buộc
phải điều chỉnh lại hoạt động kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, cần kịp thời
giải quyết tranh chấp, khiếu nại tố cáo liên quan đến hoạt động đưa NLĐ đi
làm việc ở NN.
Đồng thời, qua các đợt thanh tra, kiểm tra cần tổ chức tổng kết, đánh
giá nhằm nắm bắt được tình hình thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này và
các kiến nghị của DN và địa phương để kịp thời điều chỉnh, bổ sung hệ thống
văn bản pháp luật cho phù hợp với yêu cầu thực tế của công tác quản lý.
- Phối hợp chặt chẽ và nâng cao trách nhiệm của cơ quan đại diện của
Việt Nam ở NN
Cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự quán Việt Nam, đại diện các DN
75
có LĐ xuất khẩu, đặc biệt là cơ quan quản lý LĐ tại NN có vai trò đặc biệt
quan trọng, trực tiếp trong việc bảo hộ lãnh sự, bảo hộ quyền và lợi ích hợp
pháp của NLĐ Việt Nam làm việc ở các nước sở tại phù hợp với pháp luật
Việt Nam, pháp luật nước sở tại và điều ước quốc tế. Phối hợp với các cơ
quan, tổ chức trong nước xử lý những vấn đề phát sinh liên quan đến NLĐ.
Trong trường hợp NLĐ vi phạm buộc phải về nước thì cơ quan đại diện
Việt Nam ở NN có trách nhiệm cấp giấy tờ cần thiết theo quy định của pháp
luật; phối hợp với các cơ quan chức năng của nước sở tại, DN XKLĐ và gia
đình người bị phạt mua vé máy bay cho NLĐ về nước trong trường hợp người
bị xử phạt không có khả năng tài chính (người bị xử phạt phải hoàn trả chi phí
sau khi về nước).
Ngoài ra, NLĐ phải được biết rõ khi có vấn đề ở NN họ nên liên hệ với
ai để thông báo và yêu cầu sự giúp đỡ. Trong những trường hợp lợi ích của
NLĐ bị xâm hại, nhà nước cần thông qua đường ngoại giao có những biện
pháp kịp thời.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho NLĐ trong việc vay vốn và chuyển tiền về
nước
Các ngân hàng cần tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để NLĐ vay nợ với
lãi suất ưu đãi, không thế chấp một cách dễ dàng hơn, mức cho vay cũng
được áp dụng cho từng thị trường, sát với thực tế; nghiên cứu bỏ chế độ đóng
tiền ký quỹ hoặc tiền bảo lãnh vì khoản tiền này trên thực tế trong thời gian
qua không có tác dụng giảm bớt tình trạng bỏ trốn ra ngoài làm việc của NLĐ
mà chỉ làm tăng thêm áp lực nợ nần đối với NLĐ.
- Các DN XKLĐ cần quan tâm đến tâm tư nguyện vọng chính đáng của
NLĐ và quản lý chặt chẽ họ trong thời gian làm việc ở NN. Việc quản lý này
không nên mang nặng tính hành chính mà chủ yếu phải thông qua các hoạt
động văn hoá, tinh thần lành mạnh có tổ chức. Đối với các thị trường có đông
LĐ Việt Nam, các DN XKLĐ nên kết hợp với Đại sứ quán để tổ chức các
76
sinh hoạt đoàn thể, văn hoá trong cộng đồng LĐ Việt Nam để NLĐ gắn bó,
hỗ trợ cho nhau khi gặp khó khăn, giúp đỡ nhau tiến bộ và tránh được các tệ
nạn xã hội...
- Tìm hiểu kỹ thông tin trước khi ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài.
Cách tốt nhất để bảo vệ lợi ích chính đáng của NLĐ Việt Nam làm việc ở NN
là các DN XKLĐ không nên ký hợp đồng với đối tác NN bằng mọi giá mà phải
tìm hiểu kỹ những công việc mà NLĐ sẽ phải làm và những điều kiện làm việc
phù hợp. Mặt khác, cần cố gắng đưa vào hợp đồng những điều khoản có lợi tối
đa cho NLĐ. Chẳng hạn, ở Malaysia có những công việc không thường xuyên
nên thu nhập của NLĐ không ổn định, nhưng trong lúc rảnh rỗi NLĐ không
được phép làm thêm bên ngoài. Nếu họ trốn ra ngoài làm việc mà chủ sử dụng
LĐ biết được sẽ có thể đánh đập, đối xử thô bạo. Vì vậy, khi ký hợp đồng các
DN XKLĐ cũng phải tính đến các tình huống này để tránh thiệt thòi cho NLĐ.
- Tăng cường thông tin và hợp tác quốc tế với các nước có LĐ đang
làm việc ở NN.
Định kỳ hàng năm hoặc khi có tình hình đột xuất, Bộ LĐ - TB & XH
chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và Tổng Liên đoàn LĐVN tổ
chức gặp gỡ, trao đổi, đối thoại với một số nước có đông đảo LĐ Việt Nam
làm việc như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia… Trên cơ sở đó sẽ
nắm được thông tin về thị trường LĐ , quan hệ LĐ và những vấn đề phát sinh
để cùng nhau chia sẻ và góp phần xử lý nhằm bảo vệ quyền lợi của NLĐ;
đồng thời góp phần tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa những NLĐ và
công đoàn các nước.
- Công đoàn cần nghiên cứu để tổ chức thành lập công đoàn ở NN ở
những nơi tập trung đông LĐ Việt Nam, đối với nơi ít LĐ thì có thể tham gia
sinh hoạt với công đoàn bạn. Ở những nước có đông LĐ Việt Nam làm việc
như Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… cần xem xét để thành lập
sớm Ban cán sự công đoàn, cử cán bộ chuyên trách phối hợp với cơ quan Đại
77
sứ quán, Ban quản lý LĐ và các DN XKLĐ để nắm thông tin về việc làm, đời
sống, điều kiện LĐ, thu nhập của NLĐ; tham gia xử lý những vấn đề phát
sinh về quan hệ LĐ nhằm bảo vệ quyền lợi NLĐ.
3.5. Hỗ trợ tạo việc làm và sử dụng hợp lý nguồn lao động sau khi
về nƣớc
Chương trình hỗ trợ tái hoà nhập, nhằm tận dụng lại nguồn nhân lực đi
làm việc ở NN trở về; giúp họ nhanh chóng hoà nhập lại vào xã hội. Một số
nước XKLĐ đã quan tâm đến vấn đề này nhưng đây vẫn là một lĩnh vực
tương đối mới cần phải đầu tư nghiên cứu kỹ lưỡng hơn để tìm ra những giải
pháp hợp lý. Việc hỗ trợ tạo việc làm hay giúp NLĐ sau khi về nước phát
triển sản xuất, kinh doanh sẽ huy động và tận dụng được trình độ lành nghề và
các bí quyết công nghệ mà NLĐ mang về nước.
Trên thế giới có nhiều nước sử dụng có hiệu quả nguồn vốn và kỹ năng,
tay nghề do NLĐ đi XKLĐ mang lại mà Hàn Quốc là một ví dụ điển hình.
Cách đây hơn 3 thập kỷ, thời kỳ nền kinh tế chưa phát triển, nước này coi
XKLĐ là chiến lược tạo việc làm và thu nhập cho LĐ. Ngoài việc tích lũy
nguồn ngoại tệ làm giàu cho đất nước, LĐ xuất khẩu còn đặt mục tiêu học
cách quản lý, học nghề, tiếp thu trình độ kỹ thuật - khoa học cao ở các ngành
công nghiệp nặng để về nước phát triển nền kinh tế. Ngoài ra, Chính phủ
nước này cũng có chính sách khuyến khích đối với những LĐ đi làm việc ở
NN hồi hương nhu: Dành 10% quỹ nhà ở mới xây cho NLĐ hoàn thành hợp
đồng về nước; thành lập các công ty tư vấn chăm lo gia đình của công nhân
làm việc ở NN tại các cơ sở y tế nơi các gia đình NLĐ sinh sống… Từ những
chính sách nhìn xa trông rộng đó, nhiều NLĐ sau khi trở về nước đã trở thành
chủ nhà máy, xí nghiệp vừa và nhỏ - thành phần chủ yếu của nền kinh tế Hàn
Quốc hiện nay.
Chính phủ Phi-lip-pin cũng rất quan tâm đến các chính sách tái hòa
nhập dành cho LĐ hồi hương như: xây dựng hệ thống chính sách đảm bảo
78
cho NLĐ được nhận lại số tiền chưa được thanh toán hết hoặc các phúc lợi
khác sau khi chấm dứt hợp đồng trở về nước thông qua việc quy định các
công ty cung ứng LĐ xuất khẩu phải đồng thời phải chịu trách nhiệm với chủ
sử dụng LĐ nước ngoài về những vi phạm của họ. Tiền ký cược của công ty
được sử dụng để trả cho NLĐ nếu công ty không tự trả, và một khi tiền ký
cược ở ngân hàng đã bị tịch biên thì công ty cũng bị đình chỉ hoạt động cho
đến khi nộp đủ số tiền trên vào tài khoản ký cược ở ngân hàng. Việc hỗ trợ
sinh kế và phát triển nghề nghiệp, tư vấn kinh doanh hoặc đào tạo kinh doanh
cho những người đủ vốn và muốn mở DN khi về nước (thông qua Cục Phát
triển thương nghiệp vừa và nhỏ) cũng được Phi-lip-pin rất quan tâm. Cục
quản lý việc làm ngoài nước còn phối hợp với Tổ chức LĐ quốc tế (ILO) có
những dự án thành lập các Trung tâm đào tạo ở các vùng có nhiều LĐ xuất
khẩu, có chính sách tín dụng hỗ trợ tái hòa nhập. Ngoài ra, các khoản cho vay
về nhà ở và các khoản trọn gói cũng được đặt ra với những NLĐ là thành viên
của Quỹ Phát triển tương hỗ về nhà ở.
Vì vậy, Nhà nước cần ban hành chính sách tiếp nhận trở lại đối với LĐ
hoàn thành hợp đồng ở NN về nước; chính sách khuyến khích NLĐ dùng thu
nhập ở nước ngoài vào sản xuất, kinh doanh; tư vấn việc làm, đào tạo lại cho
NLĐ sau khi về nước.
Theo các chuyên gia, chỉ có khoảng 20% số LĐ đi làm việc ở NN về
nước là tìm được việc làm, số còn lại thì thất nghiệp hoặc buôn bán nhỏ do
thiếu thông tin định hướng và chưa có chính sách sử dụng hợp lý nguồn lực
LĐ đi XKLĐ về nước. Để khắc tình trạng này cần:
- Thể chế hóa quyền NLĐ được hưởng sự trợ giúp của xã hội trong quá
trình tìm việc làm và hòa nhập cộng đồng; các DN, các cơ quan nhà nước và
các tổ chức xã hội có trách nhiệm hỗ trợ NLĐ khi họ về nước.
- Nhà nước xây dựng các chương trình hỗ trợ đối với NLĐ sau khi hoàn
thành hợp đồng về nước, đặc biệt đối với những LĐ nữ phục hồi những tổn
79
thương về mặt tinh thần trong quá trình làm việc ở NN, tư vấn các vấn đề tâm lý,
những thay đổi trong cuộc sống, giúp NLĐ nhanh chóng hòa nhập vào cộng
đồng.
- Chính quyền các địa phương cần nắm cụ thể về số lượng lao động về
nước để tạo điều kiện giúp họ tái hòa nhập và tránh rơi vào tình trạng tái thất
nghiệp, phối hợp với các tổ chức đoàn thể như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên,
Hội nông dân… trong việc phổ biến, tuyên truyền chính sách, đề xuất những giải
pháp hỗ trợ cụ thể cho những NLĐ sau khi hoàn thành hợp đồng về nước là
thành viên của mình nhằm giúp họ phát triển sản xuất ngay trên quê hương
mình.
- Để trợ giúp NLĐ tìm việc làm, Nhà nước có thể xây dựng chương
trình liên kết giữa những DN sản xuất trong nước và các DN XKLĐ (có thể
thông qua Hiệp hội XKLĐ hoặc các Hiệp hội khác). Qua đó NLĐ có thể
nhanh chóng nắm bắt được thông tin về nhu cầu của thị trường LĐ và có
nhiều cơ hội tìm việc làm phù hợp.
- Đối với những LĐ có mong muốn tự tạo việc làm thông qua thành lập
các DN sản xuất, kinh doanh thì Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về thuế và
vốn kinh doanh.
Thời gian qua, nhiều địa phương đã tiên phong trong việc cung cấp
thông tin cho NLĐ xuất khẩu về nước tìm kiếm việc làm, khuyến khích NLĐ
kinh doanh, tạo điều kiện cho họ đầu tư vào sản xuất nông nghiệp như tỉnh
Hải Dương đã thành lập website vieclamhaiduong.net để thu hút NLĐ về
nước đăng ký tìm việc; Bắc Giang, Phú Thọ khuyến khích NLĐ tạm gác xây
dựng nhà cửa, mua sắm đồ đạc, tập trung tiền phát triển kinh doanh, tạo việc
làm cho mình và cho người khác, làm đồng tiền sinh sôi nảy nở. Hội khuyến
nông huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã có chính sách cho các hộ đi
XKLĐ về không có đủ vốn làm ăn vay vốn với lãi suất ưu đãi 0.65%/tháng
(năm 2008), các trung tâm dạy nghề của huyện này tiếp tục đào tạo nghề cho
80
họ để họ có thể tự phát triển kinh tế gia đình [61].
Những điển hình này cần được nhân rộng để tạo điều kiện tối đa cho
NLĐ ổn định sản xuất kinh doanh sau khi về nước, đồng thời giúp cho cầu về
LĐ của các DN trong nước nhanh chóng gặp được nguồn cung trên thị
81
trường, tránh tình trạng “chảy máu chất xám” LĐ xuất khẩu.
KẾT LUẬN
Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế đối ngoại ngày càng phổ
biến, gắn với xu hướng toàn cầu hóa kinh tế. Việt Nam là nước đông dân,
đang trong thời kỳ "cơ cấu dân số vàng", nên trên thị trường LĐ trong nước
cung thường lớn hơn cầu. Trong khi đó, cầu về LĐ ở nhiều nước trên thế giới
lại nhỏ hơn cung, có khả năng tiếp nhận NLĐ từ Việt Nam. Hoạt động XKLĐ
đang đóng vai trò ngày càng quan trọng và cần được đẩy mạnh trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. XKLĐ vừa làm tăng cơ hội việc
làm cho người dân, giảm bớt nạn thất nghiệp ở trong nước, nâng cao trình độ
chuyên môn cho NLĐ, tạo điều kiện cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong
ngắn hạn và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại trong dài hạn;
vừa là phương tiện thu hút ngoại tệ, làm tăng thu nhập cá nhân và thu nhập
quốc gia, góp phần xóa đói giảm nghèo... Do vậy, việc đẩy mạnh XKLĐ
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đang trở thành cấp thiết.
XKLĐ của Việt Nam bắt đầu từ năm 1980. Trong giai đoạn đầu (1980 -
1990), Việt Nam chủ yếu hợp tác quốc tế về lao động và chuyên gia với các
nước XHCN. Từ năm 1991 đến nay, hoạt động hợp tác quốc tế về lao động và
chuyên gia chuyển sang XKLĐ và vận hành theo quỹ đạo của nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Nhận thức được tầm quan trọng của XKLĐ, Bộ
Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 22/09/1998 về đẩy mạnh
XKLĐ và chuyên gia. Nhờ đó, trong 30 năm hoạt động, XKLĐ của Việt Nam
đã đạt được những thành tựu to lớn. XKLĐ của Việt Nam đã được nâng lên
cả về số lượng và chất lượng, thị trường XKLĐ cũng không ngừng được mở
rộng. Chúng ta đã đưa LĐ đi làm việc tại 46 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong
khoảng 30 nhóm ngành nghề với số lượng được tăng dần qua các năm, nhờ đó
số lao động được giải quyết việc làm thông qua XKLĐ ngày càng tăng. Năm
82
1992 mới chi có 810 người, đến cuối năm 2000 đã đạt 31.500 người và năm
2008 là 86.990. Hàng năm, lượng ngoại tệ do người đi XKLĐ chuyển về nước
khoảng hơn 1,7 tỷ USD (năm 2008 và 2009 đạt 1,8 tỷ), là nguồn thu nhập ròng
cho đất nước.
Bên cạnh những kết quả bước đầu đạt dược, hiện nay XKLĐ của nước
ta vẫn chưa xứng với tiềm năng của nước ta và còn tồn tại khá nhiều hạn chế.
Số lượng LĐ đi làm việc ở NN còn ít so với lực lượng LĐ dồi dào, chủ yếu
tập trung ở một số nước Châu Á. Chất lượng nguồn LĐ đi xuất khẩu có tăng
nhưng chưa cao, cả về trình độ tay nghề, ngoại ngữ lẫn ý thức, kỷ luật LĐ. Vì
vậy, sức cạnh tranh của DN XKLĐ còn hạn chế. Năng lực và trình độ của các
DN XKLĐ Việt Nam cũng còn nhiều bất cập. Số lượng lao động Việt Nam
vào các thị trường trọng điểm đều biến động thất thường, không ổn định. Công
tác quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ ở NN của các DN còn yếu, còn
phó mặc cho cơ quan đại diện ngoại giao ở nước sở tại. Việc sử dụng nguồn
ngoại tệ do LĐ di làm việc ở NN gửi về chưa thực sự hiệu quả. Nhiều LĐ sau
khi hết hạn hợp đồng về nước chưa có việc làm ổn định do các DN XKLĐ
chưa quan tâm đến "hậu XKLĐ" và việc tìm kiếm việc làm cho NLĐ đi làm
việc ở NN về.
Do nhiều nguyên nhân, nhưng có 5 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
những hạn chế trong hoạt động XKLĐ của Việt Nam. Khâu tuyển chọn LĐ đi
làm việc ở NN còn thiếu công khai, minh bạch, thủ tục hành chính rườm rà,
phức tạp, thiếu thông suốt cũng gây phiền hà và tốn kém cho NLĐ. Đào tạo
và giáo dục định hướng cho NLĐ chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường ngoài
nước, nhất là những ngành nghề mà thị trường LĐ quốc tế đang thiếu hụt
nhân lực. Các thị trường mới, có thu nhập cao đang được mở ra, hứa hẹn
nhiều việc làm hấp dẫn cho NLĐ Việt Nam nhưng lại cần LĐ lành nghề, giỏi
tiếng Anh nên yêu cầu của họ khá cao so với trình độ của NLĐ Việt Nam. Hỗ
trợ kinh phí và cho vay vốn đối với NLĐ đạt hiệu quả thấp. Hoạt động quản
83
lý LĐ làm việc ở NN chưa chặt chẽ. Chúng ta chưa xử lý và ngăn chặn được
tình trạng LĐ bỏ trốn, vi phạm hợp đồng LĐ. Các hiện tượng vi phạm hợp
đồng, bỏ trốn đi làm việc khác hoặc ở lại làm việc bất hợp pháp sau khi hết
hợp đồng, vẫn còn trầm trọng ở nhiều thị trường quan trọng như Đài Loan,
Hàn Quốc, Malaysia và Nhật Bản. Lợi ích chính đáng của NLĐ làm việc ở
NN cũng chưa được bảo vệ kịp thời và đầy đủ. Các vụ lừa đảo LĐ, đi LĐ trái
phép ở NN ngày xảy ra ngày một phức tạp. Nhiều vụ LĐ ta bị lừa ra NN sau
đó bị bỏ rơi hoặc không kiếm được việc làm, hết hạn thị thực, bị cảnh sát sở
tại bắt giữ, nhiều người trong số phải đi xin ăn hoặc làm việc "chui" cho các
chủ LĐ với điều kiện LĐ hết sức tồi tệ. Số NLĐ của Việt Nam ở NN bị chết
tăng lên trong thời gian qua, nhất là ở thị trường Ma-lai-xi-a, Hàn Quốc. Việt
Nam vẫn chưa thành lập tổ chức công đoàn ở NN để bảo vệ quyền lợi cho
NLĐ. Vì vậy, tình trạng NLĐ Việt Nam phải làm việc quá giờ, điều kiện làm
việc kém, thậm chí bị xúc phạm nhân phẩm... vẫn còn tồn tại và chậm được
phán ánh tới Ban quản lý LĐ và Đại sứ quán Việt Nam ở nước sở tại. Việc sử
dụng nguồn LĐ sau khi về nước chưa được quan tâm đúng mức. Chủ trương sử
dụng nguồn LĐ này để đóng góp vào sự nghiệp CNH - HĐH nước đã được đặt
ra trong "Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng". Tuy nhiên, những văn bản cụ thể về sử dụng người lao động về nước vẫn
đang trong giai đoạn nghiên cứu, soạn thảo. Vì vậy, một trong những khó khăn
lớn nhất mà NLĐ vướng phải là không tìm được việc làm hoặc chưa được
hướng dẫn, hỗ trợ để phát triển kinh tế sau khi về nước. Nhiều NLĐ sau khi về
nước phải làm những công việc không đúng nghề dã được đào tạo và có kinh
nghiệm làm việc ở NN. Trong khi đó, nhiều DN, đặc biệt là DN của Hàn Quốc,
Nhật Bản rất chú trọng nhận lại nguồn LĐ này vì họ biết tiếng, biết nghề. Như
vậy, nguồn nhân lực đã làm việc trong môi trường công nghiệp chưa được thu
hút vào các ngành nghề phù hợp gây ra tình trạng lãng phí chất xám.
Để khắc phục những hạn chế nhằm đẩy mạnh XKLĐ của Việt Nam
84
trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp. Trước hết, cần
công khai, minh bạch và giảm phiền hà trong tuyển dụng bằng cách tăng
cường việc công khai hóa các chính sách, luật pháp về XKLĐ và Hợp đồng
cung ứng LĐ của các DN nhằm đảm bảo cho NLĐ tiếp cận thị trường LĐ
ngoài nước, hạn chế tối đa các tiêu cực trong lĩnh vực XKLĐ và đơn giản hóa
các thủ tục hành chính gây phiền hà cho các DN XKLĐ và NLĐ trong tuyển
chọn LĐ xuất khẩu. Để nâng cao chất lượng của lao động tham gia XKLĐ đạt
yêu cầu ngày càng khắt khe của các thị trường mới, các cơ quan hữu trách cần
phối hợp chặt chẽ với nhau để hoàn thiện việc đào tạo cho LĐ nói chung và LĐ
đi làm việc ở NN nói riêng. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần giảm thiểu chi phí
XKLĐ và hoàn thiện hệ thống tín dụng cho cả NLĐ và DN đi XKLĐ. Để nâng
cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với hoạt động XKLĐ cần tăng cường
tuyên truyền, giáo dục pháp luật LĐ, Luật XKLĐ, Luật xuất nhập cảnh; tăng
cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở NN của
các DN; phối hợp chặt chẽ và nâng cao trách nhiệm của cơ quan đại diện của
Việt Nam ở NN; tạo điều kiện cho NLĐ trong việc vay vốn và chuyển tiền về
nước, tăng cường thông tin và hợp tác quốc tế với các nước có LĐ đang làm
việc ở NN và cần nghiêm túc để thành lập công đoàn ở NN, nhất là ở những
nơi tập trung đông LĐ Việt Nam. Cuối cùng, nhà nước cũng cần có chính
sách hỗ trợ tạo việc làm và sử dụng hợp lý nguồn LĐ sau khi về nước để
tránh tình trạng lãng phí chất xám như hiện nay.
Để thực hiện được những giải pháp trên, cần có sự thống nhất và tham
gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị, huy động được sự tham gia của các
tầng lớp nhân dân vào hoạt động này, kể cả cộng đồng người Việt Nam ở
85
nước ngoài./.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Phạm Quốc Anh (2008), Những điều cần biết về Người lao động di trú,
Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Hồng Bích (2007), Xuất khẩu lao động của một số nước
Đông Nam Á: Kinh nghiệm và Bài học, Trung tâm nghiên cứu Quốc tế
và Khu vực, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội.
3. Phạm Thị Thanh Bình (2008), “Di cư lao động ở ASEAN: xu hướng và
giải pháp”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, (1).
4. Phạm Thị Thanh Bình, (07/03/2008), Giải pháp khuyến khích di cư lao
động Việt Nam”, http://www.tapchicongsan.org.vn.
5. Bộ Công an (29/11/2007), Thông tư 27/2007/TT - BCA hướng dẫn việc
cấp, sửa đổi hộ chiếu phổ thông ở trong nước theo Nghị định
136/2007/NĐ-CP về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam,
http://caicachhanhchinh.gov.vn
6. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Báo cáo hàng năm của Cục
Quản lý LĐ ngoài nước, Hà Nội.
7. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (5/2007), Hội nghị triển khai kế
hoạch dạy nghề, việc làm và XKLĐ, Hà Nội.
8. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (09/9/2009), Công văn số
3354/LĐTBXH-QLLĐNN quy định mức trần chi phí đối với lao động
huyện nghèo vay vốn đi làm việc ở nước ngoài, http://www.chinhphu.vn
9. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục quản lý lao động ngoài
nước (2009), Những kiến thức cần thiết dùng cho người lao động Việt
86
Nam đi làm việc tại Ả Rập Xê út, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội.
10. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục quản lý lao động ngoài
nước (2009), Những kiến thức cần thiết dùng cho người lao động Việt
Nam đi làm việc tại Đài Loan, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội.
11. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục quản lý lao động ngoài
nước (2009), Những kiến thức cần thiết dùng cho người lao động Việt
Nam đi làm việc tại Hàn Quốc, Nxb. Lao động - Xã hội.
12. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục quản lý lao động ngoài
nước (2009), Những kiến thức cần thiết dùng cho người lao động Việt
Nam đi làm việc tại Macau, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội.
13. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục quản lý lao động ngoài
nước (2009), Những kiến thức cần thiết dùng cho người lao động Việt
Nam đi làm việc tại Malaysia, Nxb. Lao động - Xã hội, Hà Nội.
14. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội & Bộ Tài chính (09/09/2009), Thông
tư liên tịch số 31/2009/TTLT-BLĐTBXH-BTC, Hướng dẫn một số nội dung
của Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt Đề án" Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu
lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009 -2020",
http://www.dolab.gov.vn/index.aspx?mid=1176&nid=1348&sid=11
15. Nguyễn Hữu Cát (2006), Những giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu
lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Ban
Kinh tế Trung ương, Hà Nội.
16. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Nghị định
số 29/2003/NĐ-CP ngày 31/03/2003, Về quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ LĐTBXH, http://luatvietnam.vn
17. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Nghị định
số 141/2005/NĐ-CP ngày 11/11/2005, Về quản lý LĐ Việt Nam đi làm
87
việc ở NN, http://www.molisa.gov.vn.
18. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (17/08/2007),
Nghị định 136/2007/NĐ-CP Về xuất, nhập cảnh của công dân Việt Nam,
http://www.vnimm.gov.vn
19. Cục Quản lý lao động ngoài nước (6/2000 và 9/2001), Báo cáo Hội nghị
XKLĐ và chuyên gia, Hà Nội.
20. Cục Quản lý lao động ngoài nước (2001), Đề án ổn định và phát triển
thị trường LĐ ngoài nước thời kỳ 2001-2010.
21. Cục Quản lý lao động ngoài nước (12/2003), Báo cáo Tổng kết và
triển khai Nghị định số 81/2003/NĐ-CP của Chính phủ, Hà Nội.
22. Cục Quản lý lao động ngoài nước (01/2008), Kỷ yếu Hội thảo Pháp luật và
cơ chế quốc gia, khu vực và quốc tế về bảo vệ người lao động ở nước ngoài.
23. Cục Quản lý lao động ngoài nước (02/12/2009), Quyết định số 69/QĐ-
QLLĐNN Về việc phê duyệt chỉ tiêu, kế hoạch đào tạo các nghề trong
ngành xây dựng và điều dưỡng viên cho lao động đi làm việc ở nước
ngoài theo cơ chế đặt hàng năm 2009, http://www.thuvienphapluat.vn.
24. Phùng Lê Dung - Đỗ Hoàng Điệp, Phát triển nguồn nhân lực dựa trên
các chiến lược kinh tế, http://www.dubaonhanluchcm.com
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
27. Nguyễn Đại Đồng (2010), “Thực trạng cung cầu lao động và giải pháp”,
Tạp chí Lao động và xã hội, (381), tr.18-20.
28. Phan Huy Đường (2009), “Giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước về
xuất khẩu lao động”, Tạp chí Lao động và Xã hội, (357), tr.15-16.
29. Phan Huy Đường (2009), “Nâng cao chất lượng dịch vụ của Nhà nước
về bảo vệ quyền lợi người lao động Việt Nam ở nước ngoài”, Tạp chí
88
Kinh tế và Phát triển, (143), tr.17-20.
30. Phan Huy Đường (2009), Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động trong
hội nhập quốc tế ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học
Quốc gia Hà Nội.
31. Trần Văn Hằng (1996), Các giải pháp nhằm đổi mới quản lý nhà nước
về xuất khẩu lao động ở Việt Nam trong giai đoạn 1995 - 2010, Luận án
PTS khoa học kinh tế, Hà Nội.
32. Nguyễn Thanh Hòa (2009), “Chính sách và giải pháp hỗ trợ các huyện
nghèo đẩy mạnh XKLĐ giai đoạn 2009 - 2015”, Tạp chí Lao động và
Xã hội, (351+352), tr.6, tr.27-28.
33. Nguyễn Thanh Hòa (2010), “Kết quả bước đầu thực hiện Quyết đinh
71/2009/QĐ-Ttg về hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh XKLĐ và một số
định hướng”, Tạp chí Lao động và Xã hội, (375), tr.10-11.
34. C (1980), 29/11/1980 Về
việc hợp tác sử dụng lao động với các nước xã hội chủ nghĩa,
http://luat.xalo.vn/phap-luat/Nghi-quyet/124411679/Nghi-quyet-Ve-
viec-hop-tac-su-dung-lao-dong-voi-cac-nuoc-xa-hoi-chu-nghia.html
35. Hội đồng Nhà nước, Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(13/11/1990), Pháp lệnh lãnh sự 1990, http://www.mofa.gov.vn.
36. Hội Luật gia Việt Nam (2008), Bảo vệ quyền của người lao động di trú Pháp
luật và thực tiễn quốc tế, khu vực và quốc gia, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.
37. Lê Hồng Huyên (7/2008), “Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế - xã
hội của XKLĐ Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Kinh
tế phát triển, (133).
38. Lê Hồng Huyên (1+2/2009), “Tác động của di chuyển lao động quốc tế
đối với sự phát triển của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp
89
chí Quản lý kinh tế, (24), tr.13-19.
39. Nguyễn Thị Phương Linh (2004), Một số giải pháp đổi mới quản lý tài
chính về xuất khẩu lao động Việt Nam theo cơ chế thị trường, Luận án
TS kinh tế, Hà Nội.
40. Ngân hàng Chính sách Xã hội (21/09/2009), Hướng dẫn số 2667/NHCS-
TDNN Về thực hiện cho vay người lao động thuộc huyện nghèo đi
XKLĐ theo Quyết định số 71/2009/QĐ-Ttg ngày 29/04/2009 của Thủ
tướng Chính phủ, http://www.luatvietnam.vn
41. Diệu Ngọc (2010), “Gần 17.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài”,
Báo Lao động Xã hội, Quý I/2010, tr.5.
42. Nguyễn Bá Ngọc (1994), Thị trường lao động Việt Nam, Luận án PTS
khoa học kinh tế, Waesan.
43. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Luật người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và văn bản
hướng dẫn thi hành, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
44. Cao Văn Sâm (1994), Hoàn thiện hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý
xuất khẩu lao động ở nước ta trong giai đoạn tới, Luận án PTS kinh tế,
Hà Nội.
45. Cao Văn Sâm (2009), “Giải pháp phát triển dạy nghề cho các trường thuộc
doanh nghiệp”, Tạp chí Lao động và Xã hội, (351 + 352), tr.21-23.
46. Tạp chí Con số và Sự kiện (2010), “Việt Nam trong thời kỳ cơ cấu dân
số vàng”, (1 + 2), tr.43-44.
47. Trần Văn Thọ (07/2006), Vấn đề xuất khẩu lao động tại Việt Nam,
http://www.diendan.org.
48. Trần Thị Thu (2006), Nâng cao hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động của
các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay, Nxb. Lao động xã hội, Hà Nội.
49. Thủ tướng Chính phủ (29/04/2009), Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg Về
90
phê duyệt Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động
góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020,
http://www.cema.gov.vn.
50. Thủ tướng Chính phủ (27/11/2009), Quyết định 1956/2009/QĐ-TTg về
việc Phê duyệt đề án Dạy nghề cho Lao động Nông thôn đến năm 2020,
http://www.tcdn.gov.vn.
51. Nguyễn Tiệp (2009), “Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động trong bối
cánh toàn cầu hoá kinh tế”, Tạp chí Lao động và Xã hội, (355), tr.25-27.
52. Đỗ Hoàng Toàn, Giáo trình QLNN về kinh tế (2004), Trường Đại học
kinh tế quốc dân, Hà Nội.
53. Vũ Đình Toàn (2006), “Nội dung chủ yếu và những điểm mới của Luật
NLĐ Việt Nam đi làm việc ở NN theo hợp đồng”, Tạp chí Việc làm
ngoài nước, (6), tr.6.
54. Tổ phóng viên, Báo Phụ nữ Thủ đô (07/04/2010), “Thông tin tiếp về vụ
việc lao động đi XKLĐ tại Rumani phải về nước: Tuyển dụng có vấn đề
hay tay nghề lao động kém?”, Báo Phụ nữ Thủ đô, (14), tr.2.
55. Tổ phóng viên, Báo Phụ nữ Thủ đô (31/03/2010), “18 lao động đi
Rumani phải về nước trước thời hạn: Việc ít, rong chơi nhiều”, (13),
tr.2.
56. Tổng cục Thống kê (2009), Niên giám thống kê 2008, Nxb Thống kê, Hà
Nội.
57. Bùi Văn Trạch (2009), “Xu hướng thị trường lao động tại các Tiểu vương
quốc Ả Rập thống nhất (UAE)”, Tạp chí Lao động và xã hội, (367), tr.22-
24.
58. Nguyễn Lương Trào (2009), “Hiệp hội XKLĐ Việt Nam với việc thúc đẩy
tuyển dụng lao động có đạo đức”, Tạp chí Lao động và xã hội, (368), tr.4-5.
59. Nguyễn Lương Trào (2009), “Hướng tới xây dựng và thực hiện Bộ quy
tắc ứng xử dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam đưa lao động đi làm
91
việc ở nước ngoài”, Tạp chí Lao động và Xã hội, (371), tr.10-14.
60. Nguyễn Lương Trào (2009), “Vượt qua thách thức hướng tới thực hiện
thành công đưa chính sách đưa người lao động huyện nghèo đi làm việc
ở nước ngoài”, Tạp chí Lao động và Xã hội, (373), tr.8-12.
61. Nguyễn Lương Trào (2010), “Cần đẩy mạnh nghiên cứu, tổng kết và
nhân rộng các điển hình tốt trong các doanh nghiệp XKLĐ”, Tạp chí
Lao động và xã hội, (379), tr.4-7.
62. Nguyễn Lương Trào (2010), “Kết quả hoạt động XKLĐ năm 2009 và
phương hướng năm 2010”, Tạp chí Lao động và Xã hội, (378), tr.11-13.
63. Bùi Sỹ Tuấn (2006), “Một số vi phạm pháp luật của DN XKLĐ và biện
pháp phòng ngừa”, Tạp chí Việc làm ngoài nước, (3), tr.9.
64. Bùi Sỹ Tuấn (2009), “Hậu xuất khẩu lao động - Vấn đề cần được quan
tâm”, Tạp chí Lao động và xã hội, (358), tr.12, 25-26.
65. Bùi Sỹ Tuấn (2009), “Vai trò của xuất khẩu lao động trong chương trình
việc làm quốc gia và một số kiến nghị”, Tạp chí Lao động và Xã hội,
(369), tr.18-20.
66. Lưu Hoàng Vân, Năng lực cạnh tranh: Vấn đề trọng yếu của nền kinh tế
Việt Nam, http://www.e- info.com.vn
67. Nguyễn Thị Hải Vân (2009), “Thực trạng và giải pháp phát triển hệ
thống thông tin thị trường lao động”, Tạp chí Lao động và Xã hội, (350),
tr.14-16, (351+352), tr.41-43.
68. http://dolab.gov.vn/index.aspx?mid=1155&sid=11&nid=1428, Họp ban
chỉ đạo thực hiện QĐ 71 của TTg CP.
69. http://www.dolab.gov.vn/thông tin mới, Việt Nam đưa 16.851 lao động
đi làm việc ở nước ngoài trong 3 tháng đầu năm 2010.
70. http://www.hanoimoi.com.vn/newsdetail/xa_hoi/309775/bao-ve-nguoi-
lao-dong-vn-lam-viec-o-nuoc-ngoai-trach-nhiem-cua-ai.htm.
71. http://caicachhanhchinh.gov.vn/PortalPlus.aspx?/vi-
92
N/News/71//1033/0/3423/
72. http://dantri.com.vn/c0/s0-220801/mot-nam-hon-100-lao-dong-viet-
nam-chet-o-malaysia-quoc-hoi-se-vao-cuoc.htm.
73. http://thethaovanhoa.vn/132N20090314101642226T0/trung-tam-lao-
dong-ngoai-nuoc-thu-troi-53-ty-dong-hang-chuc-ngan-dan-chiu-
thiet.htm
74. http://tintuc.xalo.vn/00231385917/quy_ho_nbsp_tro_xkld_dap_chieu_g
an_nbsp_5_nam.html
75. http://tsc.edu.vn/Pages/ArticleDetail.aspx?siteid=1&sitepageid=48&arti
cleid=73
76. http://vietbao.vn/Xa-hoi/Chuyen-ve-lang-xuat-khau-lao-dong-giau-nhat-
xu-Nghe/30220457/157/
77. http://vneconomy.vn/201004121233560P0C9920/tiep-nhan-lao-dong-
viet-nam-dai-loan-van-dan-dau.htm.
78. http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2008/12/3BA09772/
79. http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2008/03/3B9FFE27/
80. http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=27411&Cha
nnelID=5
81. http://www.baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=77&p=&id=5594
82. http://www.giaoduc.edu.vn/news/nghe-nghiep-viec-lam-735/malaysia-
can-nhieu-lao-dong-viet-nam--134922.aspx80.
83. http://www.giaoducvietnam.info/xuat-khau-lao-dong-nguoi-lao-dong-
bi-bop-co-4016.html
84. http://www.hanoimoi.com.vn/newsdetail/Kinh_te/326948/cho-vay-von-
xklđ-can-dinh-muc-theo-thi-truong.htm.
85. http://www.machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=
86. http://www.molisa.gov.vn/others/faq/faqdetail/tabid/211/newsid/38960/s
eo/Cham-lo-cuoc-song-va-giai-quyet-viec-lam-cho-chi-em-phu-nu-o-Ha
93
Giang/language/vi-VN/Default.aspx
87. http://www.molisa.gov.vn/others/faq/faqdetail/tabid/211/newsid/38216/s
eo/Xoa-doi-giam-ngheo-o-Lang-Giang--Bac-Giang--Nhieu-bien-phap-
sang-tao-hieu-qua/language/vi-VN/Default.aspx
88. http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=38&sub=131&article=1754952
2.
89. http://vneconomy.vn/62837P5C11/buc-tranh-xuat-khau-lao-dong-sang-
toi-dan-xen.htm
90. http://vieclamhungyen.vn/Default.aspx?tabid=81&CategoryID=9&New
s=131
91. http://www3.weforum.org/en/initiatives/gcp/Global%20Competitivenes
s%20Report/index.htm
92. http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=37289
93. http://ca.cand.com.vn/vi-vn/anninhtrattu/dieutra/2010/5/162243.cand
94. http://vietbao.vn/Viec-lam/Quy-dinh-kham-benh-moi-lam-kho-lao-
dong-xuat-khau/20228220/271/
95. http://www.dolab.gov.vn/index.aspx?mid=1275&sid=11
96. http://www.dolab.gov.vn/index.aspx?mid=1155&sid=11&nid=1543
97. http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=629&ItemID=9545
98. http://antg.cand.com.vn/vi-vn/ktvhkh/2010/7/72753.cand
99. http://solgimex.com/ban-lanh-dao/129-mc-trn-chi-phi-i-vi-lao-ng-cac-
huyn-ngheo-i-lam-vic-mt-s-th-trng.html
100. http://vieclamvietnam.vn/Portals/0/Admin_Huyen/69.doc
101. http://www.srem.com.vn/images/upload/.../QD61-2008-BLDTBXH.doc
102. http://www.dolab.gov.vn/index.aspx?mid=1155&sid=11&nid=1557
103. http://www.molisa.gov.vn/docs/SLTK/DetailSLTK/tabid/215/DocID/48
12/TabModuleSettingsId/496/language/vi-VN/Default.aspx
104. http://www.molisa.gov.vn/docs/SLTK/DetailSLTK/tabid/215/DocID/48
94
16/TabModuleSettingsId/496/language/vi-VN/Default.aspx
105. http://dolab.gov.vn/PrintPreview.aspx?ID=1296
106. http://vietnamnet.vn/psks/201008/Khan-truong-chan-chinh-nhung-sai-
pham-bao-VietNamNet-neu-926875/
107. http://baoquangnam.com.vn/chinh-tri/cai-cach-hanh-chinh/22822-don-
gian-hoa-thu-tuc.html
Tiếng Anh
108. Godfrey Gunatileke (1992), The impact of labour migration on
households: A comparative study in seven Asian countries, United
Nation University press, Tokyo.
109. Dilip Ratha and Sanket Mohapatra, Increasing the Macroeconomic
Impact of Remitances on Development Prospects Group, The Worl
Bank, Washington D.C.20433, November 26, 2007.
110. Migration and Remittances Factbook 2008 is complied by Dilip Ratha
and Zhimmei Xu, Migration and Remittances Team, Development
Prospects Group, World Bank.
111. Migration and Remittances Factbook 2009 is complied by Dilip Ratha
and Zhimmei Xu, Migration and Remittances Team, Development
95
Prospects Group, World Bank.
PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1. DANH SÁCH BỆNH VIỆN ĐƢỢC KHÁM, CHỨNG NHẬN SỨC KHOẺ CHO LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI
TT
Tên Bệnh viện
Địa chỉ
Cơ quan quản lý
Ghi chú
BÊNH VIỆN ĐỦ TIÊU CHUẨN CỦA BỘ Y TẾ KHÁM CHUNG CHO TẤT CẢ THỊ TRƢỜNG (TRỪ ĐÀI LOAN)
Sở Y tế An Giang
1
TX Long Xuyên TP. Bắc Giang
Sở Y tế Bắc Giang
2
TP. Bắc Ninh
Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh
Sở Y tế Bắc Ninh
3
TP Bến Tre
Sở Y tế Bến Tre
4
Sở Y tế Bình Định
5
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận
TP. Quy Nhơn TX Phan Thiết
Sở Y tế Bình Thuận
6
TP. Cần Thơ
Sở Y tế Cần Thơ
7
TX Cao Bằng
Sở Y tế Cao Bằng
Bệnh viện đa khoa TP Cần Thơ Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng
8
TP. Đà Nẵng
Bệnh viện Đà Nẵng
9
Sở Y tế Đà Nẵng Sở Y tế tỉnh Đắc Lắc
Buôn Ma Thuột
Điện Biên
Sở Y tế Điện Biên
10 Bệnh viện Đa khoa Đắc Lắc Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên
11
Đồng Tháp
12 Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp
Sở Y tế Đồng Tháp
Gia Lai
13 Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai
Sở Y tế Gia Lai
Hà Nam
14 Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam
Sở Y tế Hà Nam
Hà Nội
15 Bệnh viện Bạch Mai
Bộ Y tế
Hà Nội
16 Bệnh viện E
Bộ Y tế
Hà Nội
17 Bệnh viện Bưu điện
Bộ TTTT
Hà Nội
18 Bệnh viện GTVT I
Bộ GTVT
Hà Nội
Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập
19 Trung tâm y tế xây dựng
Bộ Xây dựng
Hà Nội
20 Bệnh viện đa khoa tư nhân
Sở Y tế Hà Nội
Bệnh viện tư
96
Tràng An
nhân
Hà Nội
21 Bệnh viện đa khoa Thanh Nhàn
Sở Y tế Hà Nội
Hà Nội
22 Trung tâm y tế Dệt may
Bộ Công nghiệp
Hà Nội
23 Bệnh viện đa khoa Saint Paul
Sở Y tế Hà Nội
Hà Nội
24 Bệnh viện Nông nghiệp
Bộ Nông nghiệp
Hà Nội
Sở Y tế Hà Nội
25 Bệnh viện Hồng Ngọc
Hà Nội
Sở Y tế Hà Nội
Bệnh viện đa khoa tư nhân Thăng Long
26
Hà Nội
Sở Y tế Hà Nội
27 Bệnh viện Đống Đa
Hà Nội
Sở Y tế Hà Nội
28 Bệnh viện Bắc Thăng Long
Hà Nội
Sở Y tế Hà Nội
29 Bệnh viện Đức Giang
Hà Nội
30 Bệnh viện 354, Bộ Quốc phòng
Bộ Quốc phòng
Hà Nội
31 Bệnh viện 19-8, Bộ Công an
Bộ Công an
Hà Nội
32 Bệnh viện Hữu nghị
Bộ Y tế
Hà Nội II
Sở Y tế Hà Tây
33 Bệnh viện tỉnh Hà Tây
Hà Nội II
Sở Y tế Hà Tây
34 Bệnh viện khu vực Sơn Tây
Hà Tĩnh
Sở Y tế Hà Tĩnh
Hải Dương
Sở Y tế Hải Dương
35 Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương
36
Hải Phòng
Sở Y tế Hải Phòng
37 Bệnh viện Viêt Tiệp
Hải Phòng
Sở Y tế Hải Phòng
38 Bệnh viện Kiến An
Hòa Bình
Sở Y tế Hòa Bình
Bệnh viện đa khoa tỉnh Hoà Bình
39
TP Huế
Bộ Y tế
40 Bệnh viện TW Huế
Khánh Hòa
Sở Y tế Khánh Hòa
41
Kiên Giang
Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện tư nhân Bệnh viện tư nhân Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập
Sở Y tế Kiên Giang
Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang
42
97
Lạng Sơn
43
Sở Y tế Lạng Sơn
Nam Định
44
Sở Y tế Nam Định
Nghệ An
45
Sở Y tế Nghệ An
Ninh Bình
46
Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định Bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình
Sở Y tế Ninh Bình
Phú Thọ
47 Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ
Quảng Nam
48
Quảng Ngãi
49
Quảng Ninh
50
Sở Y tế Phú Thọ Sở Y tế Quảng Nam Sở Y tế Quảng Ngãi Sở Y tế Quảng Ninh
Quảng Trị
51
Sở Y tế Quảng Trị
Sóc Trăng
52
Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị Bệnh viện đa khoa tỉnh Sóc Trăng
Sở Y tế Sóc Trăng
Sơn La
53 Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La
Sở Y tế Sơn La
Thái Bình
54
Sở Y tế Thái Bình
Thái Nguyên
55
Thái Nguyên
56
Bộ Y tế Sở Y tế Thái Nguyên
Thanh Hóa
57
Thanh Hóa
58
Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình Bệnh viện đa khoa TW Thái Nguyên Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Nguyên Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa Bệnh viện đa khoa Hợp Lực, tỉnh Thanh Hóa
59 Bệnh viện Chợ Rẫy
Sở Y tế Thanh Hóa Sở y tế tỉnh Thanh Hóa Sở Y tế TP Hồ Chí Minh
60 Bệnh Viện Thống nhất
61 Bệnh viện Nhân dân Gia Định
62 Bệnh viện Nhân dân 115
63 Bệnh viện Nguyễn Tri Phương
64 Bệnh viện Nguyễn Trãi
TP Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh
Bộ Y tế Sở Y tế TP Hồ Chí Minh Sở Y tế TP Hồ Chí Minh Sở Y tế TP Hồ Chí Minh Sở Y tế TP Hồ Chí Minh
Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện tư nhân Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập
TP HCM
65 Bệnh viện An Bình
Sở Y tế TP HCM
BV công lập
98
66 Bệnh viện Đa khoa Sài Gòn
Bệnh viện cấp cứu Trưng Vương
67
Sở Y tế TP Hồ Chí Minh Sở Y tế TP Hồ Chí Minh
68 Bệnh viện 30-4
Bộ Công an
69 Bệnh viện bưu điện II
70 Bệnh viện đa khoa Phú Thọ
71
TP Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh
Bộ TTTT Sở Y tế TP Hồ Chí Minh Sở Y tế TP Hồ Chí Minh
Trà Vinh
72
Tuyên Quang
73
Sở Y tế Trà Vinh Sở Y tế Tuyên Quang
Vĩnh Phúc
Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh Bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc
74
Sở Y tế Vĩnh Phúc
Yên Bái
75 Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái
Sở Y tế Yên Bái
Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện tư nhân Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập
1
Bệnh Viện Thống nhất
Bộ Y tế
2
BỆNH VIỆN ĐƢỢC CHỈ ĐỊNH KHÁM RIÊNG CHO LAO ĐỘNG ĐI ĐÀI LOAN TP Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh
Bệnh viện Chợ Rẫy
Sỏ Y tế TP. HCM
3
Hà Nội
Bộ Y tế
4
Bệnh viện Bạch Mai Bệnh viện đa khoa tư nhân Tràng An
Hà Nội
Sở Y tế Hà Nội
5
Bệnh viện Giao thông vận tải 1 Hà Nội
Bộ GTVT
6
Bệnh viện Trung ương Huế
TP. Huế
Bộ Y tế
Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập Bệnh viện tư nhân Bệnh viện công lập Bệnh viện công lập
Nguồn: [104]
99
PHỤ LỤC 2
DANH SÁCH DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
STT
TÊN CÔNG TY
TÊN VIẾT TẮT
ĐỊA CHỈ
SỐ ĐT
SỐ FAX
1
AIC., JSC
04.37194488
04.37194499
Công ty cổ phần Tiến bộ Quốc tế
2
AIRSECO., JSC
04.39742733
04.39742732
Công ty cổ phần Dịch vụ & Thương mại hàng không
Số 75 Âu Cơ, phường Tứ Liên, Quận Tây Hồ, Tp. Hà Nội Phòng 6, 7, tầng 12, toà tháp B-Vin Com- 191 Bà Triệu, phường Lê Đại Hành, Hai Bà Trưng, Hà nội
3
AIRSERCO
4.38731675
4.38272426
Công ty cổ phần cung ứng dịch vụ Hàng Không
Số 1, ngõ 196 Nguyễn Sơn, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội
4
04.38730624
ALSIMEXCO.,J SC
Số 412 Nguyễn Văn Cừ, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Tp. Hà Nội
04.38271993 04.38732383
5
AQUAPEXCO
033.3875269
033.3875415
Đường 10, thị trấn Quảng yên, Yên Hưng, Quảng Ninh
6
BADIMEXCO
031.33857669
031.3857381
Công ty cổ phần Cung ứng&Xuất nhập khẩu Hàng không Công ty cổ phần Xuất khẩu Thuỷ sản 2 Quảng Ninh Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Bạch Đằng
7
BATIMEX
Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thái Nguyên
0280.3855430 0280.3855763
8
0437854419
0437854418
Công ty cổ phần CAVICO Cung ứng nhân lực
CAVICO CUNG ỨNG NHÂN LỰC .,JSC
Số 268 Đ Trần Nguyên Hãn, phường Niệm Nghĩa, quận Lê Chân, Tp. Hải Phòng Số 25 đường Hoàng Văn Thụ, phường Phan Đình Phùng, Tp. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tầng 4, ĐN 1 CT 4 khu đô thị mới Mễ Trì, đường Phạm Hùng, xã Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội
100
9
CC47
056.3522166
056.3522316
10
CEFINAR.CO
04.38444555
04.38462352
11
0321.3997151 0321.3997152
Công ty cổ phần Xây dựng 47 Công ty Mỹ thuật Trung – ương Công ty cổ phần thương mại Châu Hưng
CHAU HUNG JSC
12
CICS. JSC
04.36367198
04.36367197
Công ty cổ phần Dịch vụ Hợp tác quốc tế
Số 8, đường Biên Cương, Tp. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Số 1 Giang Văn Minh, phường Kim Mã, quận Ba Đình, Hà nội Xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên Số nhà 13, ngõ 19, phố Lạc Trung, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
13
CIENCO 8
18 Hồ Đắc Di, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội 04.38572767
04.38572798
Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8
14
CIENCO NO-1
04.38350930
04.37721232
Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 1
Số 623 đường La Thành, phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội
15
COECCO
038.3858359
038.3858361
Số 187 Nguyễn Du, Tp. Vinh, tỉnh Nghệ An
16
COLECTO
103 Quán Thánh, quận Ba Đình, Hà Nội
04.37686408
04.37686407
17
COMA
04.38631122
04.38631216
18
04.22812000
04.37820176
CONSTREXIM HOLDINGS
Công ty cổ phần Hợp tác Kinh tế Công ty Xuất khẩu lao động và Thương mại Du lịch Tổng công ty Cơ khí xây dựng Tổng công ty cổ phần đầu tư Xây dựng và Thương mại Việt Nam
125 D Minh Khai, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà nội Toà nhà HH2, khu đô thị Cánh đồng Bông, Phường Yên Hoà, quận Cầu giấy, Hà nội
19
04.37659918
04.37659917
Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại
CONSTREXIM- TM
Số 39 phố Nguyễn Đình Chiểu, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
101
20
COOPIMEX
08.38258662
08.38294306
25 Hàn Thuyên, phường Bến Nghé, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
21
0511.3711393 0511.3711394
COSEVCO- IMEX
517 Trần Cao Vân, quận Thanh Khê, Tp. Đà Nẵng
22
Số 125 Văn Cao, Ba Đình, Hà Nội
04.37612776
04.37612770
Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ Thương mại & Xuất khẩu lao động Trường Sơn Công ty cổ phần Thương mại và Xuất nhập khẩu xây dựng Cosevco Công ty Phát triển Kinh tế Kỹ thuật Việt Nam
DETESCO VIETNAM
23
043.7556140
043.7556149
Công ty cổ phần hàng hải Đông Đô
DONGDO MARINE
24
Công ty TNHH Ê SU HAI E SU HAI., LTD
08.22922228
08.22968132
Tầng 19, tháp văn phòng quốc tế Hoà Bình, số 106 Hoàng Quốc Việt, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội Số 79 Xuân Hồng, phường 12, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
25
EMICO
04.39784271
043.9784755
Số 5 A phố Thi Sách, phường Ngô Thì Nhậm, quận Hai Bà Trưng, Tp. Hà Nội
26
ENLEXCO
054.3823590
04.3846772
Số 252 Nguyễn Sinh Cung, Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
27
ESTRALA JSC
08.35118819
0835118823
232/6 Quốc lộ 13, phường 26, quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh
28
FIMEXCO
08.38230610
083.8296600
71 C Đồng Khởi, phường Bến Nghé, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
29
GAET
04.38325377
04.38327710
Tổng công ty Phát triển Phát thanh Truyền hình Thông tin Công ty cổ phần Cơ khí và Xuất khẩu lao động Thừa Thiên Huế Công ty cổ phần Xuất khẩu lao động và Dịch vụ Thương mại Biển Đông Công ty cổ phần Sản xuất Kinh doanh dịch vụ và Xuất nhập khẩu quận 1 Công ty Vật tư công nghiệp quốc phòng
21 Linh Lang, phường Cống Vị, quận Ba Đình, Tp. Hà nội
102
30
088.2213313
08.38292968
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Tổng hợp II
GENERALIME X JSC
66 Phó Đức Chính, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
31
0433860333
0433630247
GLO- TECH.CORP
32
GMAS JS
08.34490805
08.38428879
Thôn Hạ Hồi, xã Tân Lập, huyện Đan Ph- ượng, tỉnh Hà Tây 50 Sầm Sơn, phường 4, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
33
HAINDECO
039.3855568
039.3858136
162 đường Hà Huy Tập, Tp. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
34
HALASUCO
0313.3921897
0313.3921227/ 3921591
Công ty cổ phần Bách nghệ Toàn Cầu Công ty cổ phần dịch vụ nhân lực Toàn Cầu Công ty cổ phần phát triển Công nghiệp-Xây lắp và Thương mại Hà Tĩnh Công ty cổ phần Cung ứng Lao động và Thương mại Hải Phòng
Số 21 Lương Khánh Thiện, phường Lương Khánh Thiện, quận Ngô Quyền, Tp. Hải Phòng
35
031.3836611
031.3836114
Tổng công ty Thuỷ sản Hạ Long
HALONG FISCORP
Số 409 Lê Lai, phường Máy Chai, quận Ngô Quyền, Hải Phòng
36
HANCORP
0439439095
04.39349521
Tổng công ty Xây dựng Hà Nội
57 Quang Trung, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
37
HANDICO
0438255094
04 38241032
Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội
38
Công ty điện tử Hà Nội
HANEL
04.38524555
04.38525770
39
HANIC., CORP
04.35537116
04.35537168
Công ty cổ phần đầu tư tổng hợp Hà Nội
40
04.22137172
04.35568763
Công ty cổ phần Đào tạo và Xây lắp điện Hà Nội
HANOI INA., JSC
Số 34, Hai Bà Trưng, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Số 02 Chùa Bộc, phường Trung Tự, quận Đống Đa, Hà Nội Tầng 6, Toà nhà Viglacera, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội Phòng 1203, nhà 17T6, khu đô thị Trung Hoà-Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội
103
41
04.39363090
HANOI TOURISM
04.38264066, 04.38261626
42
HATTOCO
034.3510987
034.3510988
Tổng công ty Du lịch Hà Nội Công ty cổ phần Du lịch Hà Tây
Số 18 phố Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội 22-24 Trần Hưng Đạo, Tp. Hà Đông, Hà Nội
43
HICC 1
0438523631
0438520978
Công ty cổ phần đầu tư và Xây dựng số 1 Hà Nội
Số 2 Tôn Thất Tùng, phường Trung Tự, quận Đống Đa, Hà Nội
44
HMSC
138 A Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội
04.382327557
04.38461267/ 37262047
Trung tâm Hợp tác chuyên gia và nhân lực y tế với nước ngoài
45
HOGAMEX
0218.3858003
02183858915
Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu 3-2 Hoà Bình
Số 14, đường An Dương Vương, phường Chăm Mát, Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hoà Bình
46
0240.3856054 0240.3857278
HUTRASERCO LLC
Số 2, đường Ngô Gia Tự, phường Trần Phú, Tp. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Công ty TNHH Một thành viên Thương mại-Dịch vụ Hữu nghị Bắc Giang
47
HYCO 4-JSC
Tổng công ty Xây dựng Thuỷ Lợi 4
205 Nguyễn Xí, phường 26, quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh
08.38993850
08.38993851
48
04.35568380
04.35568686
Công ty cổ phần du lịch IIG
IIG TRAVEL.,JSC
Phòng 103, A18, khu tập thể Đồng Xa, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội
49
IMS
04.38545465
04.38545471
473 đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, Hà Nội
50
Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu chuyên gia, lao động và kỹ thuật Công ty cổ phần tập đoàn đầu tư xuất nhập khẩu tổng hợp Sài Gòn
INCOMEX SAIGON GROUP CORP
27 Cao Thắng, phường 2, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
08.39290079
08.39290078
104
0320.3853940 0320.3853559
51
Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Hải Dương
INIMEXCO HAIDUONG
08.39433778
52
08.39433770/7 6
INLACO SAIGON
0313.3826838
INLACO-HP
53
Số 11, phố Nguyễn Du, phường Trần Hưng Đạo, Tp. Hải Dương, tỉnh Hải D- ương Toà nhà cảng Sài Gòn, lầu 5, số 3 Nguyễn Tất Thành, phường 12, quận 4, Tp. Hồ Chí Minh Số 4 Nguyễn Trãi, quận Ngô Quyền, Tp. Hải Phòng
0313.3826867 0313.3551652
INTERSERCO
04.35620136
04.38534163
54
358 đường Láng, phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, Tp. Hà nội
Công ty cổ phần Vận tải Biển và Hợp tác lao động quốc tế Công ty cổ phần hợp tác lao động với nước ngoài Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Cung ứng nhân lực và Thương mại quốc tế Hà Nội
ISALCO
031.3728209
031.3829284
55
338 Lạch Tray, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, TP HảI Phòng
Công ty Vận tải biển và Xuất khẩu lao động
JV NET., JSC
04.37556251
04.37556254
56
Số 30 đờng Trần Cung, xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Tp. Hà Nội
LATUCO
04.38570818
04.38570863
57
Số 23/167, phố Tây Sơn, phường Quang Trung, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội
Công ty cổ phần Thương mại Phát triển Kỹ thuật & Nhân lực Quốc tế Công ty TNHH Một thành viên Cung ứng lao động Quốc tế
58
04.38255780
04.38259216
Công ty cổ phần Da giày Việt Nam
LEAPRODEXI M VIETNAM
Tầng 2 toà nhà The Manor, khu đô thị Mỹ Đình, Mễ trì, Từ Liêm, Hà Nội
59
LEESCO
037.3750928
037.3750929
Số 74 Tô Vĩnh Diện, phường Điện Biên, Tp. Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá
Công ty cổ phần Dịch vụ Xuất khẩu Lao động&Chuyên gia Thanh Hoá
105
60
LETCO
Xã Minh Khai, huyện Từ Liêm, Hà Nội
04.37650049
04.37566081
Công ty Hợp tác đào tạo và Xuất khẩu lao động
61
LICOGI
04.38545024
043.8542655
Tổng công ty Xây dựng & Phát triển Hạ tầng
Nhà G1, phường Thanh Xuân Nam, quận Thanh Xuân, Tp. Hà Nội
62
LILAMA
04.38633067
043.8638104
Tổng công ty Lắp máy Việt Nam
63
LOD CORP
04.37689643
04.37689644
Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực LOD
64
Công ty Máy và Phụ Tùng
04.39285560
04.39285561
MACHINOIMP ORT
124 Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội Số 38 đường Nguyễn Phong Sắc (kéo dài), phường dịch vọng hậu, quận cầu Giấy, Hà Nội Số 8 Tràng Thi, phường Hàng Trống, Hoàn Kiếm, Hà Nội
65
MILACO ., JSC
04.38361128
04.37911565
Số 10-12/203 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Tp. Hà nội
66
MITRACO
039.3855603
039.3855606
Công ty cổ phần Xây dựng, Thương mại và Du lịch Quốc tế Milaco Tổng công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh
67
Công ty cổ phần MOPHA MOPHA., JSC
04.37631496
04.37631496
Số 6 đường Phan Đình Phùng, thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Số nhà 15, ngõ 251, tổ 9, phố Mai Dịch, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Tp. Hà Nội
68
NEWTATCO
04.22403463
04.35148252
Công ty ứng dụng Công nghệ mới và Du lịch
125 Hoàng Văn Thái, phường Khương Trung, quận Thanh Xuân, Hà Nội
69
NIBELC
030.3868231
030.3833425
Quốc lộ 1 A, km 10 Ninh Bình-Hà Nội, xã Gia Trấn, huyện Gia Viễn, Ninh Bình
70
04.351185555
04.35116905
NOSCO IMAST CO., LTD
Số 278 Tôn Đức Thắng, phường Hàng Bột, quận Đống Đa, Tp. Hà nội
Công ty cổ phần Xây dựng và Cung ứng lao động quốc tế Công ty TNHH một thành viên Đào tạo và cung ứng nhân lực quốc tế Nosco
106
71
OLECO
04.38614481
04.38611334
Km 10, quốc lộ 1 A, huyện Thanh Trì, Hà nội
Công ty cổ phần Xây dựng, Dịch vụ và Hợp tác lao động
72
OSC HP
0313.3745582 0313.3810943
Công ty cổ phần Du lịch Dịch vụ dầu khí Hải Phòng
40 Trần Quang Khải, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hồng Bàng, TP. Hải Phòng
73
OSC VIETNAM Số 2, đường Lê Lợi, phường 1, Tp. Vũng
Công ty Du lịch Dịch vụ Dâù khí Việt Nam
064.3852603
064.3852834
74
04.37346692
04.37346690
PETROMANNI NG CO., LTD
Tàu, tỉnh Bà rịa-Vũng Tàu Tầng 9, toà nhà Thành Đông, số 132-138 phố Kim Mã, phường Kim Mã, quận Ba Đình, Tp. Hà Nội
75
08.35566133
08.35566862
PETROSETCO SAIGON
Số 12 AB, cư xá Thanh Đa, phường 27, quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh
76
PHU THO CO.
0210.3846439 0210.3848005
Số 16 đường Hoà Phong, đường Gia Cẩm, Tp. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
77
POLIMEX
04.37151097
04.37151098
Số 63 Lý Thái Tổ, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Tp. Hà Nội
78
08.39400595
083.9422949
PROSHIPSER CO.LTD
8A Nguyễn Tất Thành, phường 12, quận 4, Tp. Hồ Chí Minh
79
04.38583672
04.38585009
PROSIMEX.,JS C
Số 45, ngõ 35, đường Khương Hạ, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội
Công ty TNHH một thành viên Cung ứng nhân lực và Dịch vụ dầu khí Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Tổng hợp Sài Gòn Dầu khí Công ty cổ phần May&Xuất khẩu lao động Phú Thọ Công ty Sản xuất Kinh doanh xuất nhập khẩu Chấn Hưng Công ty TNHH Dịch vụ Hàng Hải & Du lịch Sài Gòn Công ty cổ phần Sản xuất kinh doanh Xuất nhập khẩu Prosimex
107
80
04.22511763
04.22511762
Công ty trách nhiệm hữu hạn Quốc Dân
QUOC DAN CO.,LTD
P 2008, tầng 20, nhà 24T2, khu đô thị Trung Hoà-Nhân Chính, phường Trung Hoà, quận Cầu Giấy, Tp. Hà nội
81
QUNIMEX
033.3627478
033.3825695
Số 86 đường Lê Thánh Tông, Tp. Hạ long, Quảng Ninh
82
SADACO
08.39317341
08.39318144
200 Bis Lý Chiến Thắng, phường 9, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Công ty cổ phần Đầu tư và Xuất nhập khẩu Quảng Ninh Công ty cổ phần Phát triển Sản xuất Thương mại Sài Gòn
83
08.38225887
083.8243239
Tổng công ty Du lịch Sài Gòn
SAIGON TOURIST
23 Lê Lợi, phường Bến Nghé, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
84
SATRACO
08.39141889
08.39141890
Công ty cổ phần Vận chuyển Sài Gòn Tourist
25 Pasteur, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
85
SEA CO NO.1
04.39713040
043.8210416
Công ty cổ phần Thuỷ sản Khu vực I
Số 36 ngõ 61 phố Lạc Trung, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
86
04.39540703
04.39540802
Thôn Đông Nhân, xã Hải Bối, huyện Đông Anh, TP Hà Nội
SAKURA MAN-POWER JSC
87
SEAPRODEX
08.38291924
08.38290146
2-4-6 Đồng Khởi, Bến Nghé, quận I, Tp. Hå ChÝ Minh
88
SELACO
08.8266077
08.38266078
Số 220 đường 48, phường 5, quận 4, Tp. Hồ Chí Minh
Công ty cổ phần phát triển nguồn nhân lực Hoa Anh Đào Tổng công ty Thuỷ sản Việt Nam Công ty cổ phần Xuất khẩu lao động và Dịch vụ Vận tải Thuỷ Miền Nam
89
04.37718683
04.37718684
Công ty Thương mại và Dịch vụ tổng hợp Hà Nội
SERVICO HANOI
Số 12, ngõ 84 Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội
108
04.35520402
04.35520401
90
SIMCO SDA.,JSC
Nhà G10, phường Thanh Xuân, quận Thanh Xuân, Hà Nội
050.3950015
91
SIMEXCO DAKLAL
23 Ngô Quyền, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăklăk
050.3950008/3 950010/34666 38
022.3852135
022.3857621
92
SOLGIMEXJSC O
SONA
04.39741420
93
Công ty cổ phần Simco Sông Đà Công ty TNHH một thành viên Xuất nhập khẩu 2-9 Đắclắk Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp Sơn La Công ty cung ứng nhân lực quốc tế và thương mại
Số 217 đường Trường Chinh, tổ 1, ph- ường Quyết Thắng, thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La 34 Đại Cồ Việt, quận Hai Bà Trưng, Tp. Hà Nội
043.9763090 04.39741334
04.37684495
04.3768449
94
Công ty cổ phần Sông Đà 909
SONG DA 909.,JSC
Tầng 9, toà nhà Sông Đà, xã Mỹ Đình, huyện Từ Liêm, Tp. Hà Nội
95
Tổng công ty Sông Hồng
04.37171603
04.37171604
SONGHONG CORP.
70 An Dương, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội
SOVILACO
083.9976320
08.39976321
96
Số 1 Phổ Quang, phường 2, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
Công ty Xuất khẩu lao động-Thương mại và Du lịch
SOWATCO
088.3729748
083.8726386
97
Tổng công ty đường sông miền Nam
298 Huỳnh Tấn Phát, phường Tân Thuận Tây, quận 7, Tp. Hồ Chí Minh
SULECO
08.39509104
08.38565813
99
Số 635 A Nguyễn Trãi, phường 11, quận 5, Tp. Hồ Chí Minh
08.38279132
08.38295328
100
SPSC Manpower
16 Phùng Khắc Khoan, Q.1, TP Hồ Chí Minh
Công ty Dịch vụ Xuất khẩu lao động & Chuyên gia Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ Dầu khí Sài Gòn Nhân lực
109
101
TAYLO
066.3820391
066.3820391
Số 297 Trần Hưng Đạo, khu phố 1, phường 1, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh
102
TECHSIMEX
04.38524422
04.38524080
Công ty cổ phần Xuất khẩu lao động và Thương mại Bảo Việt Công ty dịch vụ kỹ thuật và xuất nhập khẩu
Số 9 Đào Duy Anh, quận Đống Đa, Tp. Hà nội
103
TEXGAMEX
083.9404272
08.39404759
Công ty cổ phần Dệt may Sài Gòn
Số 298 A đường Nguyễn Tất Thành, phư- ờng 13, quận 4, Tp. Hồ Chí Minh
104
TG CO., LTD
08.38493239
08.39491575
248 đường Nguyễn Hồng Đào, phường 13, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
105
036.3831296
036.3835074
Công ty TNHH Xây dựng - Sản xuất - Thương mại Trường Giang Công ty Du lịch Khách sạn Thái Bình
Số 458 phố Lý Bôn, Tp. Thái Bình, tỉnh Thái Bình
106 Tổng công ty Thành An
043.8572793
04.38573112
141 Hồ Đắc Di, phường Nam Đồng, quận Đống Đa, Hà Nội
THABITOURC O THANH AN CORPORATIO N
107
04.37342669
04.37342670
Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư Xây dựng Thành ý
THANH Y ., JSC
Số 41 Lê Hồng Phong, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Tp. Hà Nội
108
08.38953421
08.38950343
THUAN THAO CO., LTD
Số 647 Nguyễn Oanh, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh
109
TMDS., JSC
04.39435647
04.39435646
52 Lê Văn Hưu, phường Ngô Thì Nhậm, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
110
083.9325687
083.9325963
TOCONTAP SAIGON JSC
35 Lê Quý Đôn, phường 7, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Công ty TNHH Thương mại -Dịch vụ Thuận Thảo Công ty cổ phần Thơng mại, Tư vấn đầu tư và Xây dựng TMDS Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu tạp phẩm Sài Gòn
110
111
TRACIMEXCO
0838442247
08.38445240
22 Phan Đình Giót, phường 2, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
112
08.38330315
083.8330317
TRACODI CO., LTD
89 Cách mạng tháng 8, phường Bến Thành, quận I, TP. Hồ Chí Minh
113
TRADECO
Số 68 Tô Vĩnh Diện, Thanh Xuân, Hà nội
04.37624906
04.37624907
114
0313.3838880 0313.3838154
TRADIMEXCO HP
Số 19 phố Ký Con, quận Hồng Bàng, Tp. Hải Phòng
Công ty Xuất nhập khẩu và Hợp tác Đầu tư Giao thông vận tải Công ty TNHH một thành viên Đầu tư Phát triển Công nghiệp và Vận tải Công ty TNHH Thương mại quốc tế Công ty Thương mại Dịch vụ&Xuất nhập khẩu Hải Phòng
115 Công ty cổ phần Traenco
TRAENCO JSC
0436250950
04.36250437
Số 46 Võ Thị Sáu, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
116
TRANCO
043.9422705
04.39420775
Công ty vận tải và xây dựng
Số 83 A phố Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
117
Công ty cổ phần Đầu tư và xây dựng giao thông
TRANCONSIN. , JSC
Số 18 đường Giải Phóng, phường Phương Mai, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội
04.35743158
04.35743205
118
TRANSMECO
04.38544359
04.38543678
Đường Khuất Duy Tiến, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Tp. Hà nội
Công ty cổ phần Vật tư thiết bị giao thông
119
TRASESCO
083.8486637
08.38486636
12 A2 Cửu Long, phường 2, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
120
TSC
04.39344179
04.38266649
Số 33, phố Bà Triệu, phường Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Công ty cổ phần Thương mại Sản xuất và Dịch vụ Tổng hợp Công ty TNHH một thành viên Dịch vụ và Thương mại VCCI
111
121
TTLC
04.35658935
04.35658983
Số 160 phố Lê Trọng Tấn, phường Kh- ương Mai, quận Thanh Xuân, Hà Nội
122
UDIC
04.37731538
04.37731544
Công ty cổ phần Xuất khẩu lao động, Thương mại&Du lịch Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị
27 Huỳnh Thúc Kháng, quận Đống Đa, Hà nội
123
V-COALIMEX
04.39244634
04.39422350
Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu than-TKV
Số 47 phố Quang Trung, phường Trần H- ưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà nội
124
VIC
04.37754070
04.38352499
60 A Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà nội
Công ty TNHH Một thành viên Đầu tư & Phát triển Thương mại Vạn Xuân
125
VICA., JSC
043.3545435
043.3545434
Công ty cổ phần đầu tư Vĩnh Cát
Số 48 TT11B, khu đô thị mới Văn Quán, phường Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội
126
04.37716812
04.37714410
VIETCOM HUMAN.,JSC
127
04.38621719
04.38267077
VIETRACIME X
128
VIETRAVEL
083.8228898
08.38299142
129
VIGLACERA
04.37613653
04.37612672
Công ty cổ phần Cung ứng nhân lực và thương mại VIETCOM Tổng công ty Cổ phần Thương mại Xây dựng Công ty Du lịch và Tiếp thị Giao thông Vận Tải Tổng công ty thuỷ tinh và gốm xây dựng
Phòng 6, tầng 3, số 18 Nguyễn Chí Thanh, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội 201 Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội 190 Pasteur, phường 6, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh Toà nhà Viglacera Tower, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội
130
04.37567712
04.37567710
Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Viglacera
VIGLACERA- EXIM.,JSC
Số 2, Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội
131
VIHATICO
039.3885384
039.3885386
Công ty cổ phần Việt Hà - Hà Tĩnh
Đường 26-3, phường Đại Nài, Thị xã Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
112
132
VILACO
04.33545233
04.33545234
Số 16 B TT10, khu đô thị Văn Quán, phư- ờng Văn Quán, Hà Nội
133
VILEXIM
04.39721118
04.38212995
170 Giải Phóng, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Tp. Hà Nội
Công ty cổ phần Nhân lực Quốc tế Việt Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và Hợp tác đầu tư Vilexim
134
VIMAS JSC
08.38458249
08.38441265
Công ty cổ phần đầu tư và dịch vụ nhân lực Việt Nam
7/2 Hồ Biểu Chánh, phường 12, quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh
135
VINACCO
04.38686541
04.38686609
Tổng công ty Xây dựng và Phát triển Nông Thôn
68 đường Trường Chinh, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội
136
04. 22511206
04.22511302
Công ty cổ phần Nhân lực và Thương mại Vinaconex
VINACONEX MEC., JSC
137
VINAFOR
04.38219084
0438219087
Nhà 17T6 Khu đô thị mới Trung Hoà- Nhân chính, Phường Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, Hà Nội 127 Lò Đúc, phường Đống Mác, quận Hai Bà Trng, Tp. Hà Nội
138
VINAGIMEX
043.8514708
04.37365350
Ngõ 149 phố Giảng Võ, phường Cát Linh, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội
139
04.39285750
04.38267234
VINAHANDCO OP., CO, LTD
80 Hàng Gai, phường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
140
04.39716255
04.39719498
VINAINCOME X., JSC
Số 5 phố Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, Tp. Hà Nội
141
VINALINES
04.35770825
04. 35770850
Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam Công ty TNHH một thành viên Xuất nhập khẩu Tổng hợp & Chuyển giao công nghệ Việt Nam Công ty TNHH một thành viên Sản Xuất-Thương mại và Xuất khẩu lao động Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thương mại Hợp tác Nhân lực Quốc tế Việt Nam Tổng công ty hàng hải Việt Nam
Số 1 Đào Duy Anh, phường Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội
113
142
VINAMEX JSC
04.33555688
04.33555866
Công ty cổ phần phát triển nhân lực & Thương mại Việt Nam
Tầng 6, Trung tâm Xúc tiến Thương mại Hà Đông, số 8, đường Quang Trung, ph- ường Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội
143
VINAMOTOR
04.38255618
04.38256856
Tổng công ty Công nghiệp ô tô Việt Nam
Số 120 phố Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
144
VINASHIN
04.38439817
04.37330167
Tập đoàn Công nghiệp tàu Thuỷ Việt Nam
Số 109 Quán Thánh, phường Quán Thánh, quận Ba Đình, Hà Nội
145
VINATEX-LC
Công ty cổ phần Hợp tác Lao động và Thương mại
Số 32 phố Tràng Tiền, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
04.39333168
04.38257521
146
VINIC
031.3829289
031.3853590
484 Lạch Tray, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, Tp. Hải Phòng
147
VIRASIMEX
04.39425318
04.39420608
Số 132 đường Lê Duẩn, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trng, Hà nội
Công ty TNHH Huấn luyện, Cung ứng lao động và Dịch vụ Hàng Hải VINIC Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vật tư thiết bị đường sắt
148
VITECH.,JSC
04.35770518
043.5770427
Công ty cổ phần Cung ứng nhân lực Việt Nhật
Số 7 Đào Duy Anh, phường Phương Mai, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội
149
VITOURCO
0211.3861132 0211.3862006
Số 69 đường Lý Bôn, phường Đống Đa, Tp. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
150
08.39404271
Công ty cổ phần Du lịch và Xuất nhập khẩu Vĩnh Phúc Công ty cổ phần vận tải và thuê tàu biển
VITRANSCHA RT JSC
08.39404711 (39404711)
04.38723511
04.38722839
151 Tổng công ty Vận tải Thuỷ VIVASO
428 Nguyễn Tất Thành, phường 18, quận 4, Tp. Hồ Chí Minh 158 Nguyễn Văn Cừ, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội
114
04.22757018
04.22757016
152
VIWAMEX., JSC
Số 52, phố Quốc Tử Giám, phường Văn Miếu, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội
Công ty cổ phần phát triển nhân lực, Thương mại và Du lịch Viwaseen
153
VOSCO
0313.3731082 0313.3829048
Công ty cổ phần vận tải biển Việt Nam
Số 215 phố Lạch Tray, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, Hải Phòng
154
VSC
043.9875008
04.39875010
Tổng công ty thép Việt Nam
155
VTC CORP
0313. 2240699 0313.3979479
Công ty cổ phần phát triển quốc tế Việt Thắng
156
VT-GETRACO
064.3852647
064.3852315 064.3853031
91 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội Km 103, quốc lộ 5, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Đông Hải, quận Hải An, Tp. Hải Phòng Số 399 Nguyễn An Ninh, phường 9, Thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà rịa-Vũng Tàu
157
0313.3821558 0313.3821557
Khách sạn Vạn Phong, khu III, thị xã Đồ Sơn, Tp. Hải Phòng
158
Số 72 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
04.38343087 04.35148312
04.38345212 04.37735005
159
04.36500601
04.36503466
159 đờng Nguyễn Văn Cừ, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội
Công ty cổ phần Thương mại Tổng hợp tỉnh Bà rịa- Vũng Tàu Công ty TNHH một thành viên Vạn Hoa H.a.i.p.h.o.n.g Tổng công ty Xây dựng Thăng Long Công ty cổ phần Xây dựng và Cung ứng nhân lực Quang Trung
160
08.35920024
08.35920021
Công ty TNHH ánh Thái Dương
2893 Quốc lộ 1 A, phường Tân Thới Nhất, Q. 12, Tp. Hồ chí Minh
161 Công ty cổ phần Vạn Xuân
0393855623
0393890154
162
08.39104813
08.39104485
Công ty cổ phần Vinaconex Sài Gòn
VINACONEX SAI GON JSC
Số 159 đường Hà Huy Tập, phường Nam Hà, Hà tĩnh 47 Điện Biên Phủ, P. Đa Kao, Quận 1, TP Hồ Chí Minh
115
163
VINADE, JSC
04.35641095
04.35641097
164
08.38298888
08.38225999
Công ty cổ phần phát triển Liên Việt Công ty TNHH Đầu tư Quốc tế Mai Linh
165
0511.3923555 0511.3923492
Công ty cổ phần Procimex Việt Nam
Số 25 ngõ 630 đường Trường Chinh, Đống Đa, Hà Nội 64 Hai Bà Trưng, P. Bến Nghé, Q.1, TP Hồ Chí Minh Lô C1, Khu công nghiệp dịch vụ thủy sản Đà Nẵng, phường Thọ Quang, Quận Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng
166
HADICO
04.37643447
04.38370268
Số 136 đường Hồ Tùng Mậu, huyện Từ Liêm, Hà Nội
Công ty TNHH Nhà nước một thành viên đầu tư và phát triển nông nghiệp Hà Nội
167 Công ty Cổ phần IDC
IDC.COR
031.3782937
031.3782920
168
TLG
0241.3775347 0241.3775348
Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển Thăng Long
Số 22 Lý Tự Trọng, P.Minh Khai, Q.Hồng Bàng, TP.Hải Phòng Số 1068 Phố Mới, thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh Nguồn: [95]
Ghi chú: Màu xanh là DN có thay đổi (tên hoặc địa chỉ…)
Màu đỏ là DN được cấp phép mới
Màu nâu là DN bị thu hồi giấy phép Quyết định số 1031/QĐ – LĐTBXH ngày 23/08/2010 [101]
116
PHỤ LỤC 3: DANH SÁCH CHI NHÁNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
TT
TÊN DN
TÊN CHI NHÁNH
ĐỊA CHỈ
SỐ ĐIỆN THOẠI
1
IMS
Chi nhánh tại Tp. Hồ Chí Minh
178 Điện Biên Phủ- Quận 3-Tp. Hồ Chí Minh
04.39783200
Số 5 A Thi Sách và 128 C Đại La, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Chi nhánh Tổng công ty Phát triển phát thanh truyền hình thông tin-Trung tâm Đào tạo Giáo dục định hớng và Xuất khẩu lao động
2
Emico
08.39322553
64 Trương Định, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Chi nhánh Tổng công ty phát triển phát thanh truyền hình thông tin-Trung tâm đào tạo và giáo dục định hướng
Chi nhánh công ty tại Việt Trì
0210.3815755
16 đường Hoà Phong, phường Gia Cẩm, Việt Trì, Phú Thọ
3
Phu tho co
04.37617164
Chi nhánh Công ty tại Hà Nội
Nhà B1, ngõ 376/12, đường Bưởi, phường Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội
4
Vinamotor
0922 396129
Chi nhánh công ty tại Phú Thọ (Vinamotor PT)
1614 đại lộ Hùng Vương, phường Gia Cẩm, Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
5
Vivaso
04.38722980
Chi nhánh Công ty Nhân lực và Thương mại Quốc tế
158 Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, Hà Nội
6 Vitranschart
Trung tâm SSC
08.38225277
36 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Đa Kao, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
117
Văn phòng tại trụ sở chính
Phòng 60, tầng 3, số 18 Nguyễn Chí Thanh, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội
08.38424890
Chi nhánh công ty tại Tp. Hồ Chí Minh
58/40 đường Nguyễn Minh Hoàng, phường 12, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
7
Vietcom human
0351.3502378
Chi nhánh Công ty tại Hà Nam
Số nhà 28, ngách 2/1, đường Châu Cầu, phường Lương Khánh Thiện, TP Phủ Lý, Hà Nam
Văn phòng tại trụ sở chính
Phòng 6, 7 tầng 12, toà tháp B Vincom, 191 Bà Triệu, phường Lê Đại Hành, Hai Bà Trưng, Hà Nội
8
Airseco., jsc
08.38958328
531 Phan Văn Trị, phường 7, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh
Chi nhánh công ty tại Tp. Hồ Chí Minh
9
Cosevco- imex
831 đường âu Cơ, phường Tân Thành, quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh
Chi nhánh công ty tại Tp. Hồ Chí Minh
04.35658976/77
Chi nhánh công ty tại Hà Nội
160 Lê Trọng Tấn, phường Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội
10
TTLC
0211.3861665
Chi nhánh công ty tại Vĩnh Phúc
22 đường Hùng Vương, phường Tích Sơn, Tp. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
11
LOD
04.37689643
Văn phòng tại trụ sở chính
38 Nguyễn Phong Sắc, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội
118
12
Tracimexco
61 Hàm Long-Hà Nội
Chi nhánh Công ty tại Hà Nội
04.38227397 08.38485309
Số 10, đường Sông Đà, phường 2, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
Chi nhánh công ty tại Tp. Hồ Chí Minh
119
Chi nhánh Công ty tại Hà Nội
189 phố Huế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
13
Selaco
Chi nhánh công ty tại Tp. Hồ Chí Minh
Số 181-183 Nguyễn Sỳ Sách, phường 15 quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh (Trung tâm xuất khẩu lao động: Số 9 Nơ Trang Long, phường 7, quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh)
14
08.486980
Thaimicom ., jsc
Chi nhánh công ty tại Tp. Hồ Chí Minh
5 A Trà khúc, phường 2, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
15
Vinagimex
Chi nhánh công ty tại Tp. Hồ Chí Minh
số 300 Khuông Việt, phường Phú Trung, quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh
04.38614481
16
OLECO
08.39573768
km 10, quốc lộ 1 A, Thanh trì, Hà nội 25 Nguyễn Kim, phường 12, quận 5, Tp.Hồ Chí Minh
4A11 Đầm Trấu, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Văn phòng tại trụ sở chính Chi nhánh tại Tp. Hồ Chí Minh Trung tâm đào tạo giáo dục định hướng -Xuất khẩu lao động
17 Leaprodexim
08.38111074
Chi nhánh công ty tại Tp. Hồ Chí minh
1054 đường Hiệp Nhất, phường 4, quận Tân Bình, Tp. Hố chí minh
04.39333249
18
27 Lê Thánh Tông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Servico hanoi
04.37612776
19
125 Văn Cao-Cống vị-Ba Đình-Hà Nội
Detesco Vietnam
0313.3719335
Số 1 đường Trần Nguyên Hãn, phường cát dài, quận Lê Chân, Tp. HảI Phòng
20
Tradimexco HP
Trung tâm đào tại xuất khẩu lao động và du lịch Trung tâm du lịch và xuất khẩu lao động Trung tâm Hợp tác quốc tế về xuất khẩu lao động
120
197 Âu Cơ, Tây Hồ, Hà Nội
Chi nhánh công ty tại Hà Nội
121
21
Vinacco
81 phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Tp. Hà Nội
Công ty xuất nhập khẩu và Xây dựng Imextraco
22
Hyco 4
08.32588088
Trung tâm xuất khẩu lao động-Thương mại Dịch vụ và xây dựng
205 Nguyễn Xí, Phường 26, quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh
23
Havaco
04.37190488
Chi nhánh công ty tại Hà Nội
Số 27, ngõ 172. đường Âu cơ, quận Tây Hồ, Hà Nội
24
ESTRALA
04.362750727
Chi nhánh công ty tại Hà Nội
145 ngõ 85 phố Hạ Đình, phường Khương Trung, quận Thanh Xuân, Hà Nội
25
04.36421276
Tocontap saigon jsc
Chi nhánh công ty tại Hà nội
43, ngõ 1141, đường Giải Phóng, phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà nội
04.22811341
Chi nhánh công ty tại Hà Nội
Nhà T18-tầng 8-khu Trung Hoà-Nhân chính-Hà Nội
26
Nibelc
037.3960251
Chi nhánh công ty tại Thanh Hoá
Số 249 Đội cung-Trường Thi- Thanh Hoá
27
CICS
08.22966998
Văn phòng đại diện tại Tp. Hồ Chí Minh
43/44 đường Cộng hoà, phường 4, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
28
Tracodi
04.37617793
Chi nhánh công ty tại Hà Nội
7 Đội Nhân, phường Vĩnh Phúc, quận Ba Đình, Hà Nội
29
Cienco 1
Inmasco
04.38314238
Tầng 6, đường La Thành, phường Thành công, Ba Đình, Hà nội
30 Vinahandcoop
0240.3552405
Chi nhánh Bắc Giang
Thôn Lịm Xuyên, xã Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
31
Hutraserco
0313.3667384
Chi nhánh công ty tại Hải Phòng
238 Trường Chinh, Lãm Hà, quận Kiến An, Tp. Hải Phòng
32
Thabitourco
038.3558485
Chi nhánh công ty tại Nghệ an
75 đường Nguyễn Du, phường Trung Đô. Tp. Vinh, Nghệ an
33 Glo-tech.corp
Chi nhánh công ty tại Tp. Hồ Chí Minh
lầu 5, số 71-73-75 Hai Bà Trưng, phường Bến Nghé, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
122
0320.3891150
Chi nhánh công ty tại Hải Dương
108 Nguyễn Lương Bằng, phường Bình Hàn, Tp. Hải Dương, tỉnh Hải Dương
34
Vinaconex mec
0511.3945919
Chi nhánh công ty tại Đà Nẵng
Số nhà 596 Đường Ngô Quyền, phường An Hải Tây, Quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng
35
Vinamex
Chi nhánh công ty tại Tp. Hồ Chí Minh
26/56 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Đa Kao, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
36
Seaprodex
04.38776117
Trung tâm dịch vụ Thương mại Seaprodex
Số 2, Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội
37
Tranconsin
04.35743158
Trung tâm Hợp tác nhân lực quốc tế Tranconsin
18 đường GiảI Phóng, phường Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội
38
Hanic
02413.3893558
Chi nhánh công ty- Trung tâm xuất khẩu lao động Hanic 2
Số 2. khu Bắc Hà, phố Nguyễn TrãI, phường Ninh xá, Tp. Bắc Ninh
39
Hogamex
08.39491441
Chi nhánh tại Tp. Hồ Chí Minh
83-85 Bàu cát, phường 12 quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
40
TG Co., LTD Chi nhánh công ty tại
Tp. Hồ Chí Minh
669 Lê Trọng Tấn, phường Bình Hưng Hoà, quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
41
AIC
38 đường Huỳnh Văn Hai, phường 14, quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh
42
Songhong
Chi nhánh công ty tại Tp. Hồ Chí Minh Trung tâm Thương mại và Cung ứng nhân lực Sông Hồng
0351.2211488
43
UDIC
Trung tâm xuất khẩu lao động
04.37731538
44
Coopimex
Chi nhánh Bắc Ninh
166 Trường Chinh, Phủ lý, Hà Nam Số 6&7, lô 1B, đường Trung Yên 1, Khu đô thị mới Trung Yên, Trung Hoà, Cầu giấy, Hà Nội 156 Nguyễn Gia Thiều, phường Suối Hoa, Tp. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
0241.3856558
45
GMAS
04.35571300
Chi nhánh Công ty tại Hà Nội
172 Lô C1, đường Nguyễn Tuân, Phường Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, Hà nội
123
037.3729898
Chi nhánh Công ty tại Thanh Hoá
Lô 28 No.1, khu đô thị Đông Bắc Ga, phường Đông Thọ
0321.6551107
Chi nhánh Công ty tại Hưng Yên
Số 1, Km số 2, đường 196, thôn Phúc Xá, xã Phan Đình Phùng, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
46
OSC VIET NAM
Chi nhánh công ty tại TP. HCM
65 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Thành, quận 1, TP HCM
47 VINADE.,JSC
Chi nhánh công ty tại TP. HCM
61 Bis đường Trần Hưng Đạo, phường 6, quận 5, TP. HCM
48
TEXGAMEX
Chi nhánh công ty tại Hà Nội
Số 154, ngõ 192 đường Lê Trọng Tấn, phường Định Công, quận Hoàng Mai, Hà Nội
0210 627 1255
Chi nhánh Trung tâm XKLĐ của công ty tại Phú Thọ
Tổ 1, khu 4, xã Vân Phú, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
49
TMDS
038.3881550
Chi nhánh Trung tâm XKLĐ của công ty tại Nghệ An
193/15A khối Liên Thắng, phường Hoà Hiếu, thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An
50
SATRACO
04.37579213
Chi nhánh công ty tại Hà Nội
Tổ 32, cụm 5, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội
51
VIVAXAN
Chi nhánh công ty tại Hà Nội
Số nhà 231/C5 - Phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội
Nguồn: [96]
124
PHỤ LỤC 4
Quy định về mức trần chi phí đối với LĐ huyện nghèo vay vốn đi làm việc
ở NN theo Công văn 3354/LĐTBXH-QLLĐNN
Đơn vị tính: VNĐ
STT
Khu vực
Thị trƣờng
Ghi chú
Mức trần chi phí
Đài Loan
65.000.000
Công nhân SXCT, hộ lý
Nhật Bản
75.000.000
Tu nghiệp sinh/IMM
1
Đông Bắc Á
Hàn Quốc
25.000.000
Chương trình EPS
25.000.000
Giúp việc gia đình
Ma Cao
45.000.000
Dịch vụ nhà hàng, Bảo vệ
UAE
Mọi ngành nghề
Ả rập xê út
Mọi ngành nghề
Bahrain
Mọi ngành nghề
Ô Man
Mọi ngành nghề
2
Trung Đông
Li Băng
45.000.000
Mọi ngành nghề
Ku wait
Mọi ngành nghề
Cata
Mọi ngành nghề
CH Síp
Mọi ngành nghề
Bắc Thổ Síp
Mọi ngành nghề
Libya
40.000.000 Mọi ngành nghề
3
Bắc Phi
Algeria
Mọi ngành nghề
Malaysia
25.000.000 Mọi ngành nghề
4
Đông Nam Á
Bruney
25.000.000 Mọi ngành nghề
Lào
15.000.000 Mọi ngành nghề
Nguồn: [99]
125
PHỤ LỤC 5
Chỉ tiêu đào tạo năm 2009 các nghề trong ngành xây dựng và điều dƣỡng viên
cho 07 DN tham gia Đề án thí điểm đào tạo nghề cho LĐ đi làm việc ở NN theo cơ chế
đặt hàng, đấu thầu giai đoạn 2008 – 2010
STT
Tên nghề
Số lƣợng LĐ đào tạo
Xây, trát, láng
1
310
Gia công lắp đặt cột thép
2
357
Gia công, lắp dựng và tháo dỡ giàn giáo
3
350
Đường ống cấp, thoát nước
4
280
Điện sinh hoạt
5
250
Ốp, lát
6
250
Đốc công
7
36
Điều dưỡng viên
8
20
Tổng số
1.853 lao động
Nguồn: [100]
126
PHỤ LỤC 6
MỨC TIỀN MÔI GIỚI TỐI ĐA NGƢỜI LAO ĐỘNG HOÀN TRẢ CHO DOANH NGHIỆP TẠI MỘT SỐ THỊ TRƢỜNG (Kèm theo Quyết định số 61/2008/QĐ-LĐTBXH ngày12/8/2008 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội)
MỨC TIỀN MÔI GIỚI TỐI
TT
THỊ TRƢỜNG/NGÀNH NGHỀ
ĐA/NGƢỜI/HỢP ĐỒNG
ĐÀI LOAN
1 Công nhân nhà máy, xây dựng
1.500 USD
2 Giúp việc gia đình, chăm sóc sức khỏe
800 USD
3 Thuyền viên tàu cá xa bờ
Không
MALAYSIA
4 Lao động nam
300 USD
5 Lao động nữ
250 USD
6 Lao động làm cho công ty Outsourcing
200 USD
7 Lao động làm việc tại gia đình
Không
NHẬT BẢN
8 Mọi ngành nghề
1.500 USD
HÀN QUỐC
9 Thực tập viên trên tàu cá (gần bờ)
500 USD
BRUNEI
10 Công nhân nhà máy, nông nghiệp
250 USD
11. Công nhân xây dựng
350 USD
12 Dịch vụ
300 USD
13 Lao động làm việc tại gia đình
200 USD
MACAU
14 Công nhân xây dựng
1.500 USD
15 Lao động làm việc tại gia đình
400 USD
16 Dịch vụ bảo vệ , vệ sinh
700 USD
17 Dịch vụ nhà hàng, khách sạn
1.000 USD
MADIVES
127
18 Mọi ngành nghề
500 USD
Ả RẬP XÊ ÚT
19 Lao động không nghề
300 USD
20 Lao động có nghề
500 USD
21 Lao động làm việc tại gia đình
Không
NHÀ NƢỚC QATAR
22 Lao động không nghề
300 USD
23 Lao động có nghề, bán lành nghề
400 USD
CÁC TIỂU VƢƠNG QUỐC Ả RẬP
THỐNG NHẤT (UAE)
24 Lao động không nghề
300 USD
25 Lao động có nghề, bán lành nghề
400 USD
VƢƠNG QUỐC BAHRAIN
26 Lao động không nghề
300 USD
27 Lao động có nghề, bán lành nghề
400 USD
VƢƠNG QUỐC ÔMAN
28 Lao động không nghề
300 USD
29 Lao động có nghề, bán lành nghề
400 USD
VƢƠNG QUỐC JORDAN
30 Mọi ngành nghề
400 USD
NHÀ NƢỚC KAWAIT
31 Lao động không nghề
300 USD
32 Lao động có nghề, bán lành nghề
400 USD
ALGERIA
33 Mọi ngành nghề
200 USD
AUSTRALIA
34 Mọi ngành nghề
3.000 USD
CỘNG HÒA CZECH
35 Mọi ngành nghề
1.500 USD
128
CỘNG HÒA SLOVAKIA
1.000 USD
36 Mọi ngành nghề
BA LAN
1.000 USD
37 Mọi ngành nghề
CỘNG HÒA BUNGARIA
500 USD
38 Mọi ngành nghề
LIÊN BANG NGA
700 USD
39 Mọi ngành nghề
UCRAINA
700 USD
40 Mọi ngành nghề
BELARUSIA
700 USD
41 Mọi ngành nghề
CỘNG HÒA LAVIA
700 USD
42 Mọi ngành nghề
CỘNG HÒA LITVA
700 USD
43 Mọi ngành nghề
CỘNG HÒA ESTONIA
700 USD
44 Mọi ngành nghề
CỘNG HÒA SÍP
350 USD
45 Lao động làm việc tại gia đình
Nguồn: [101]
129
PHỤ LỤC 7
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA CÁC BỘ, CƠ QUAN, TỔ CHỨC LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG XKLĐ CỦA VIỆT NAM
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: http://www.molisa.gov.vn
2. Bộ Ngoại giao: http://www.mofa.gov.vn
3. Bộ Giáo dục và đào tạo: http://www.moet.gov.vn
4. Bộ Tài chính: http://www.mof.gov.vn
5. Bộ Tư pháp: http://moj.gov.vn
6. Bộ Y tế: http://www.moh.gov.vn
7. Cổng thông tin điện từ về việc làm của Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội: http://vieclamvietnam.gov.vn hoặc http://vieclamvietnam.com.vn
hoặc http://vieclamvietnam.vn
8. Cục Quản lý lao động ngoài nước: http://www.dolab.gov.vn/
9. Cục Quản lý Xuất nhập cảnh; http://www.vnimm.gov.vn
10. Hiệp hội XKLĐ Việt Nam: http://www.vamas.com.vn
11. Tổng cục dạy nghề: http://www.tcdn.gov.vn
12. Tổ chức Lao động quốc tế ILO: http://www.ilo.org
13. Tổ chức di cư quốc tế IOM: http://www.iom.int
14. Trung tâm Hỗ trợ đào đạo và cung ứng nhân lực (Bộ Giáo dục và Đào
tạo), http://www.tsc.edu.vn
15. Trung tâm Lao động ngoài nước: http://ttldnnvietnam.gov.vn/
130
16. Ủy ban dân tộc: http://www.cema.gov.vn
PHỤ LỤC 8: TỔNG HỢP LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI VỀ NƢỚC
Năm 2008 - 2009
Lao động Việt Nam làm việc ở nƣớc ngoài về nƣớc từ năm 2003 - 2009
Hoàn thành hợp đồng về nước
Về nước trước hạn hợp đồng
Năm
Tổng Cộng
Cộng
Malaysia
Đài Loan
Nhật Bản
Hàn Quốc
Đài Loan
Nhật Bản
Hàn Quốc
Trung Đông
Nước khác
03
04
05
01
02
06
07
08
09
10
11
12
8.979
2.786
5.621
9.469
2.867
417
5.469
812
209
2008
40.781
30.139
2.114 11.031
6.945
5.279
4.335
3.479
395
415
2009
51.048 11.458
41.162
Nguồn: [103], [104]
131
PHỤ LỤC 9
Vốn đầu tƣ cho 1 việc làm mới giai đoạn 2004 - 2007
Vốn đầu tư phát triển
Số việc làm
Suất đầu tư
Năm
Số tiền
Tăng
Tăng
(Tr.đ/người)
Người
(Tr.đ)
(Tr.đ)
(người)
2003
239.246.000
40.573.800
2004
290.927.000
51.681.000
41.586.300 1.012.500
51,04
2005
343.135.000
52.208.000
42.526.900
940.600
55,50
2006
404.712.000
61.577.000
43.338.900
812.000
75,83
2007
521.700.000
116.988.000
44.171.900
833.000
140.44
132
Nguồn: Niên giám thống kê 2007, Nxb Thống kê

