intTypePromotion=1

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Quản trị rủi ro trong các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chia sẻ: Anh Ngoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:115

0
72
lượt xem
5
download

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Quản trị rủi ro trong các ngân hàng thương mại Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đề xuất các giải pháp hỗ trợ để tăng khả năng quản trị rủi ro của các Ngân hàng thương mại. Mời các bạn cùng tham khảo luận văn để nắm chi tiết nội dung nghiên cứu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Quản trị rủi ro trong các ngân hàng thương mại Việt Nam

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM oOo----- ----- NGUYỄN TIẾN LONG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM Chuyên ngành : Tài chính Doanh nghiệp Mã số : 60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: PGS – TS NGUYỄN NGỌC ĐỊNH Thành phố Hồ Chí Minh Năm 2008
  2. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu, khảo sát và thực hiện của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng. TÁC GIẢ NGUYỄN TIẾN LONG
  3. MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1 CHƯƠNG I: LÝ LUẬN TỔNG QUAN ............................................................. 3 1.1 Hoạt động của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường. ... 3 1.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại: .......... 3 1.2.1. Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.... 4 1.2.1.1 Rủi ro tín dụng ................................................................................ 4 1.2.1.2 Rủi ro thanh khoản.......................................................................... 4 1.2.1.3 Rủi ro thị trường ............................................................................. 5 1.2.1.4 Rủi ro tác nghiệp............................................................................. 6 1.2.2 Nguyên nhân rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng: .......... 7 1.2.2.1 Những nguyên nhân khách quan..................................................... 7 1.2.2.2 Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng của ngân hàng................. 7 1.2.2.3 Nhóm nguyên nhân thuộc về bản thân ngân hàng.......................... 8 1.2.3 Hậu quả rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM................... 8 1.2.3.1 Hậu quả của rủi ro đối với ngân hàng............................................ 8 1.2.3.2 Hậu quả của rủi ro đối với khách hàng .......................................... 9 1.2.3.3 Hậu quả của rủi ro đối với nền kinh tế ......................................... 10 1.3 Năng lực quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM. .... 11 1.3.1. Quản lý rủi ro và quản trị rủi ro ....................................................... 11 1.3.2 Năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng thương mại....................... 13 1.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực quản trị rủi ro của NHTM. ........... 15 1.3.3.1 Các chỉ tiêu định lượng................................................................. 15 1.3.3.2. Các chỉ tiêu định tính ................................................................... 18 1.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng ... 20 1.4.1 Xuất phát từ đặc điểm và hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.............................................................. 20 1.4.2 Năng lực quản trị rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. ............................. 21
  4. 1.4.3 Xu thế hội nhập quốc tế và tòan cầu hóa đòi hỏi phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro. ....................................................................................... 21 1.5 Khủng hoảng kinh tế tài chính tòan cầu và những cảnh báo cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam ....................................................... 22 1.5.1 Nợ dưới chuẩn – Hậu quả của sản phẩm tài chính hiện đại nhưng nhiều rủi ro .................................................................................................. 22 1.5.2 Hạn chế dư chấn của “Khủng hoảng cho vay dưới chuẩn Mỹ” đến thị trường tài chính quốc tế......................................................................... 24 1.5.3 Bài học cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam .......................... 26 CHƯƠNG II: QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM .......................................................................................................... 28 2.1 Thực trạng hoạt động Ngân hàng thương mại Việt Nam.................... 28 2.1.1 Quy mô tăng vốn ................................................................................. 28 2.1.2 Tình hình huy động vốn ..................................................................... 29 2.1.3 Thực trạng rủi ro trong kinh doanh NHTM Việt Nam ................... 31 2.1.3.1 Rủi ro tín dụng .............................................................................. 31 2.1.3.2 Rủi ro ngoại hối (Rủi ro thị trường) ............................................. 40 2.1.3.3 Rủi ro lãi suất (Rủi ro thị trường)................................................. 46 2.1.3.4 Rủi ro thanh khoản....................................................................... 49 2.1.3.5 Rủi ro tác nghiệp........................................................................... 54 2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại........................................................ 57 2.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực: ............................................................. 57 2.2.2 Năng lực tài chính của ngân hàng:................................................... 58 2.2.3 Quy mô vốn chủ sở hữu: .................................................................... 58 2.2.4 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu:................................................................. 58 2.2.5 Điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ của ngân hàng......... 59 2.2.6 Môi trường kinh tế xã hội và kinh doanh.......................................... 60 2.3 Những thách thức đối với ngân hàng Thương mại Việt Nam trong điều kiện hiện nay ................................................................................................... 61 2.3.1 Về hành lang pháp lý.......................................................................... 61
  5. 2.3.2 Về khả năng cạnh tranh ..................................................................... 63 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP GIA TĂNG HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO 65 TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM.......................... 65 3.1 Giải pháp đối với các ngân hàng thương mại.......................................... 65 3.1.1 Giải quyết vấn đề vốn cho ngân hàng................................................ 65 - Đa dạng hoá các phương thức huy động vốn. .............................................. 66 3.1.2 Thực hiện mô hình kiểm soát, dự đoán và định lượng rủi ro họat động tín dụng. .............................................................................................. 69 3.1.3 Giải pháp đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ ............................. 72 3.1.4 Đối với nghiệp vụ thanh toán............................................................. 73 3.1.5 Đối với chính sách lãi suất ................................................................. 74 3.1.6 Công tác quản lý nhân lực và đào tạo cán bộ. .................................. 74 3.1.7 Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng................................................... 76 3.2 Những đề xuất đối với NHNN Việt Nam.................................................. 78 3.2.1 Thực hịên quy định chung theo sự điều chỉnh của Basel II ............ 78 3.2.2 Phát huy sức mạnh tài chính cho các NHTM: ................................. 80 3.2.3 Phát triển thị trường sản phẩm phái sinh ......................................... 81 PHẦN KẾT LUẬN: ........................................................................................... 88 PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
  6. DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT NHTM Ngân hàng thương mại NHNN Ngân hàng Nhà nước NHVN Ngân hàng Việt Nam NHTMNN Ngân hàng thương mại Nhà nước NHLD Ngân hàng liên doanh WTO (World trade organision) Tổ chức Thương mại thế giới NH Ngân hàng TCTD Tổ chức tín dụng NQH Nợ quá hạn DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ Danh mục Trang Sơ đồ 1.1 : Quy trình quản trị rủi ro ...................................................................12 Bảng 2.1 : Hệ số an toàn vốn của một số ngân hàng .........................................29 Bảng 2.2 : Tình hình huy động vốn của một số ngân hàng ...............................29 Bảng 2.3 : Tình hình tín dụng của một số ngân hàng ........................................30 Bảng 2.4 : Tóm tắt quá trình phát triển các công cụ tài chính phái sinh ...........62
  7. PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam đang trong quá trình đổi mới thích ứng với nền kinh tế thị trường, góp phần không nhỏ trong việc tạo đà cho nền kinh tế quốc dân phát triển. Tuy nhiên bên cạnh những chuyển biến vượt bậc đó thì vấn đề rủi ro trong hệ thống NHTM Việt Nam cũng đang diễn ra hết sức phức tạp, Ngân hàng dễ trở thành nạn nhân của nền kinh tế thị trường khi không có những biệp pháp phòng ngừa hữu hiệu, những rủi ro mang lại không chỉ là từ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thua lỗ hay do các vụ lừa đảo mà còn bao gồm rất nhiều rủi ro từ thị trường như rủi ro về thanh khoản, rủi ro về thị trường (lãi suất, tỷ giá hối đoái .v.v) . Trong năm 2007 Việt Nam đã phải đối mặt với lạm phát tăng cao do những vấn đề như: nhập siêu, hiện tương đầu cơ .v.v đã tác động tới ổn định hoạt động của các ngân hàng và các rủi ro tiềm ẩn bắt đầu bộc lộ, mặt khác việc mở rộng mạng lưới hoạt động và tổ chức đã làm cho các NHTM phải đối mặt nhiều hơn với các loại rủi ro trong hoạt động và ở cấp độ quy mô ngày càng lớn. Tình hình đó đặt ra việc xác định được các rủi ro tổng thể tiềm ẩn của hệ thống Ngân hàng để xử lý kịp thời. Do vậy để thực hiện mục tiêu phát triển, an toàn và hiệu quả trong kinh doanh, việc nghiên cứu áp dụng những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong họat động kinh doanh của các NHTM Việt nam là vô cùng cần thiết. Chính vì nhận thức được vấn đề trên, đề tài “Quản trị rủi ro trong các Ngân hàng thương mại Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu trong bối cảnh hiện tại. 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hỗ trợ để tăng khả năng quản trị rủi ro của các Ngân hàng thương mại 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đề tài đi vào nghiên cứu những vấn đề cơ bản của ngân hàng thương mại, phân tích, đánh giá các rủi ro trong họat động của Ngân hàng thương mại, tìm ra nguyên nhân các rủi ro từ đó đưa ra những giải pháp hỗ trợ để tăng khả năng quản trị rủi ro của các Ngân hàng thương mại Việt Nam 1
  8. 4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp lý thuyết suy luận logic, duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích hoạt động kinh tế, toán học, thống kê, so sánh, đối chiếu, các kinh nghiệm của bản thân và của các nhà nghiên cứu tài chính tiền tệ. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3 chương: Chương I: Lý luận tổng quan Chương II: Quản trị rủi ro trong Ngân hàng thương mại Việt Nam Chương III: Giải pháp gia tăng hiệu quả quản trị rủi ro trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam 2
  9. CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN TỔNG QUAN 1.1 Hoạt động của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường. Luật của Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 20/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ c hức t ín dụng, tại điều 20 có nêu: “ Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng. Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan., theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác Đối với NHTM, theo Nghị định 49/2000/NĐ-CP ban hành ngày 12/9/2000 về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước. Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân tích, khai thác nội dung của các định nghĩa đó, có thể hiểu các NHTM đều là những trung gian tài chính mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên của chúng là: Nhận tiền ký thác - tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn - để làm phương tiện thanh toán và sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay duới nhiều hình thức khác nhau và thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác cho chính ngân hàng. 1.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại: Từ việc nghiên cứu về đặc điểm hoạt động kinh doanh của các NHTM nói trên có thể nhận thấy rằng, rủi ro luôn gắn liền với từng nghiệp vụ trong hoạt động của NHTM. Đa số các nhà kinh tế thống nhất với nhau quan niệm về rủi ro trong 3
  10. hoạt động kinh doanh của NHTM là “những biến cố không mong đợi xảy ra và gây tổn thất đối với ngân hàng”. Mức độ và tính chất rủi ro khác nhau sẽ gây ra những hậu quả không giống nhau song đều rất nguy hại bởi những tác động đến uy tín của ngân hàng và khả năng lan truyền. Việc tìm hiểu về các loại rủi ro, nguyên nhân và hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh sẽ trả lời cho chúng ta câu hỏi tại sao phải quản trị và nâng cao năng lực quản trị rủi ro của NHTM. 1.2.1. Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM có thể phân chia thành nhiều loại tùy theo tiêu thức lựa chọn và mục đích nghiên cứu. Trong luận văn này, rủi ro sẽ được phân chia và trình bày thành bốn loại bao gồm: (1) Rủi ro tín dụng; (2) Rủi ro thanh khoản; (3) Rủi ro thị trường; và (4) Rủi ro tác nghiệp. 1.2.1.1 Rủi ro tín dụng Là khả năng khách hàng (người đi vay) nhận khoản vốn vay nhưng không thể hoàn trả vốn và lãi hoặc hoàn trả không đầy đủ các khoản vay và lãi cho NH, gây tổn thất cho NH. Rủi ro tín dụng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất và phổ biến nhất xuất phát từ đặc điểm của tín dụng ngân hàng như đã nêu trên đây và trên thực tế, hoạt động tín dụng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Về cơ bản, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay vốn không có khả năng chi trả lãi, chi trả nợ hoặc cả hai. Loại trừ một số ít khách hàng lừa đảo, đối với đa số khách hàng dù tình hình sản xuất kinh doanh tốt, có tình hình tài chính lành mạnh và thực thanh toán đầy đủ cho ngân hàng song vẫn có thể xảy ra những tình huống bất khả kháng dẫn đến không thể trả nợ đúng hạn cho ngân hàng. Vì vậy có thể cho rằng rủi ro tín dụng là khách quan, tồn tại song song với tín dụng ngân hàng và cả NHTM chỉ có thể hạn chế và buộc chấp nhận rủi ro tín dụng ở mức độ nhất định mà thôi. 1.2.1.2 Rủi ro thanh khoản Là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt mức dự kiến, hay nói cách khác, ngân hàng không đáp ứng nhu cầu thanh toán hay rút tiền của khách hàng. Khi khả năng thanh toán bị đe dọa, NHTM buộc phải tìm kiếm nguồn và thường là gia tăng các khoản đi vay “nóng” với chi phí 4
  11. rất cao, đặc biệt ở những nơi mà thị trường tiền tệ chưa phát triển. Xét trên giác độ lý thuyết, rủi ro thanh khoản cũng là điều tự nhiên luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng bởi lẽ độ thanh khoản của nguồn vốn (cầu thanh khoản) bao giờ cũng cao hơn các khoản sử dụng vốn (cung thanh khoản). Tuy nhiên, trên thực tế rủi ro thanh khoản thường ít xảy ra hơn hoặc cũng có thể được giảm thiểu và “che lấp” bởi các hoạt động trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Điều có thể thấy rất rõ là rủi ro thanh khoản và các loại rủi ro khác đều tác động đến hoạt động ngân hàng một cách ở mức độ khác nhau và dù có thể bị thua lỗ hay phá sản thì cũng “dần dần từng bước” do vậy các ngân hàng có thể có cơ hội để khắc phục và cải thiện tình hình. Song rủi ro thanh khoản nếu xảy ra thì lại là vấn đề rất nghiêm trọng, thậm chí là đặc biệt nghiệm trọng vì có thể dẫn đến sự sụp đổ của NHTM trong “chốc lát” khi khách hàng ồ át đến rút tiền. 1.2.1.3 Rủi ro thị trường Là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng khi có sự biến động không lường trước của thị trường, bao gồm rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá. Lãi suất và tỷ giá là những phạm trù khác nhau, và sự biến động của chúng cũng tác động không giống nhau đến hoạt động ngân hàng. Trong khi lãi suất biến động thì làm thay đổi thu nhập và chi phí, thì tỷ giá biến động sẽ làm thay đổi giá trị của tài sản và nguồn vốn của ngân hàng. Song nếu xét ở giác độ nghiên cứu khác, hai phạm trù này lại có những điểm giống nhau là luôn thay đổi trên thị trường phụ thuộc vào các yếu tố cung – cầu về vốn và về ngoại tệ. Quan trọng hơn, việc xác định, đo lường mức độ và các biện pháp để hạn chế rủi ro của lãi suất và tỷ giá là hoàn toàn tương tự và đều phải thực hiện thông qua các nghiệp vụ phái sinh trên thị trường tiền tệ hay thị trường ngoại hối. Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, lãi suất và tỷ giá luôn được quản lý và duy trì cố định hay ít nhất là ổn định bởi Nhà nước, do vậy các NHTM không phải lo lắng đến rủi ro lãi suất và tỷ giá. Trái lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự vận động rất linh hoạt và phức tạp của các luồng vốn, lãi suất và tỷ giá luôn biến động và khó có thể dự báo. Lãi suất và tỷ giá biến động theo chiều hướng khác nhau có thể dẫn đến các kết cục khác nhau đối với các ngân hàng có trạng thái luồng tiền và trạng thái ngoại hối khác nhau. Một ngân hàng được “hưởng lợi” từ sự biến động tăng của lãi suất hay tỷ giá thì sẽ lại 5
  12. bị “tổn thất” khi lãi suất hay tỷ giá giảm xuống. Xác suất thu được lợi ích và chịu tổn thất đối với mỗi ngân hàng là bằng nhau và bằng 50%, song xét về bản chất, lợi ích mà ngân hàng này có được lại chính là thiệt hại của ngân hàng khác. Do vậy, các ngân hàng đều tập trung sự quan tâm vào khả năng gặp phải tổn thất có nghĩa là không chấp nhận sai lầm, cũng từ lẽ đó mà rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá được coi là điều hoàn toàn tự nhiên đối với các ngân hàng có trạng thái luồng tiền và ngoại hối khác “mở” và các ngân hàng luôn phải hạn chế rủi ro loại này thông qua việc đo lường xác định và thực thi các nghiệp vụ phái sinh để phòng và chống. 1.2.1.4 Rủi ro tác nghiệp Là những tổn thất xảy do những “trục trặc” trong quá trình vận hành các hoạt động kinh doanh của NHTM như: Sai lệch về thông tin và xử lý thông tin, bất hợp lý về quy trình và kỹ thuật nghiệp vụ và sự phối hợp giữa các bộ phận chức năng trong ngân hàng, v.v… Thực ra rủi ro tác nghiệp đã xuất hiện từ lâu và luôn tiềm ẩn trong hoạt động ngân hàng nhưng chỉ đến những năm gần đây mới được quan tâm nghiên cứu đẩy đủ hơn. Như đã đề cập trên đây, các hoạt động kinh doanh của NHTM là rất phức tạp và được thực hiện theo những quy trình và quy định rất chặt chẽ, song cũng chính vì vậy mà những sai xót rất dễ xảy ra. Bất kỳ một sự bất cẩn hay là non kém về mặt nghiệp vụ, thu thập xử lý thông tin thiếu chính xác và không kịp thời của các bộ phận chức năng trong hệ thống đều có thể ảnh đến những quyết định của giám đốc điều hành và toàn bộ các tác nghiệp tiếp theo. Rủi ro tác nghiệp của các NHTM có xu hướng ngày càng gia tăng, trước hết, do sự mở rộng quy mô, phạm vi và sự đa dạng hoá hoạt động kinh doanh; mỗi ngân hàng thậm chí có thể trở thành các tập đoàn tài chính và là những công ty đa quốc gia. Thêm nữa, môi trường kinh doanh cũng ngày càng phức tạp hơn, áp lực công việc tăng do tốc độ và khối lượng giao dịch tăng, sự lệ thuộc vào kỹ thuật và công nghệ nhiều hơn, v.v… Do vậy, các ngân hàng tiên tiến và có quy mô lớn trên thế giới luôn nghiên cứu và tối ưu hoá quy trình tác nghiệp trên cơ sở mô hình tổ chức phù hợp nhất đối với mỗi loại hình ngân hàng. 6
  13. 1.2.2 Nguyên nhân rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng: Rủi ro xảy ra trong hoạt động kinh doanh của NHTM có thể nảy sinh từ những đặc điểm nội tại của hoạt động kinh doanh ngân hàng song cũng có thể chịu ảnh hưởng từ những điều kiện và môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội. Trên cơ sở đó, các chuyên gia tài chính ngân hàng đã phân chia nguyên nhân rủi ro thành 3 nhóm như sau: 1.2.2.1 Những nguyên nhân khách quan. Đây là những nguyên nhân xảy ra rủi ro như thảm hoạ tự nhiên (bảo lụt, hạn hán, động đất, v.v…) hay những thay đổi về chính sách quản lý kinh tế – xã hội của Chính phủ, gây thiệt hại khách hàng hoặc trực tiếp cho các ngân hàng. Đặc điểm chung của nhóm nguyên nhân này là cả ngân hàng và khách hàng không thể có bất kỳ hành động nào để hạn chế ngoài việc dự đoán, dự báo, dự phòng và chịu đựng. Do vậy, các NHTM luôn phải chủ động dự phòng để khắc phục hậu quả rủi ro là điều có ý nghĩa hơn cả. 1.2.2.2 Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng của ngân hàng Bao gồm các cá nhân và doanh nghiệp, kể cả các NHTM và các định chế tài chính khác. Khi các đối tượng khách hàng không thể hoặc không muốn thực hiện những cam kết với ngân hàng thì ngân hàng sẽ phải chịu những tổn thất. Trên thực tế, điều rất dễ nhận thấy là trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của khách hàng là có thể gặp phải rủi ro và ít nhất thì một phần rủi ro đó sẽ được “chia sẻ” hay “chuyển sang” cho ngân hàng. Nói cách khác NHTM cùng phải chịu tổn thất từ những rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống của khách hàng. Có thể nói phần lớn (trên 90%) khách hàng không thực hiện cam kết vời ngân hàng vì bản thân họ gặp rủi ro. Ngoài ra, số ít hơn (dưới 5%) khách hàng chủ động chối bỏ không thực hiện những cam kết vì những lợi ích nhất thời nào đó và một số khách hàng (khoảng 3%) chủ động thực hiện những hành vi lừa đảo đối với ngân hàng. So với nhóm nguyên nhân thứ nhất, nhóm nguyên nhân này có thể được ngân hàng hạn chế ở mức độ nhất định thông qua việc thực hiện các biện pháp hỗ trợ, tư vấn để khắc phục sự yếu kém về năng lực quản lý, kinh nghiệm và trình độ công nghệ giúp khách hàng phòng tránh và hạn chế được chế rủi ro sau khi đã tiến hành các biện pháp sàng lọc phân loại để loại bỏ những khách hàng có hành vi hay động cơ không tốt. 7
  14. 1.2.2.3 Nhóm nguyên nhân thuộc về bản thân ngân hàng Đối với tất các các ngân hàng trên thế giới, nhóm nguyên nhân này được coi là quan trọng nhất vì khả năng phòng chống và hạn chế rủi ro phụ thuộc chủ yếu bởi năng lực của ngân hàng. Có thể thấy rất rõ là từ sự hợp lý về chính sách đến trình độ công nghệ và đạo đức nghề nghịêp của cán bộ công nhân viên làm việc trong ngân hàng đều là các nhân tố tác động đến mức độ rủi ro của mỗi ngân hàng. Các ngân hàng có trình độ công nghệ cao với chủng loại sản phẩm đa dạng phong phú kết hợp với nguồn nhân lực có phẩm chất tốt luôn có mức độ rủi ro ở mức thấp, thậm chí, ngay cả khi rủi ro đã xảy ra, các ngân hàng vẫn có thể hạn chế hậu quả thông qua các biện pháp kinh tế và thị trường để giảm thiểu tổn thất tài chính và uy tín. 1.2.3 Hậu quả rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Rủi ro được định nghĩa là những tổn thất xảy ra đối với ngân hàng do vậy khi rủi ro xảy ra đồng nghĩa với ngân hàng phải chịu đựng những tổn thất về tài chính và uy tín. Điều đáng lưu ý là những tổn thất xảy ra không chỉ ảnh hưởng đến bản thân ngân hàng mà còn có tác động xấu đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế như một tổng thể. Chúng ta có thể khái quát về hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các NHTM như sau: 1.2.3.1 Hậu quả của rủi ro đối với ngân hàng Hậu quả đối với ngân hàng ở mức độ thấp nhất là làm giảm thu nhập của ngân hàng. Mỗi hoạt động kinh doanh của ngân hàng góp phần mang lại thu nhập cho ngân hàng nhưng khi xuất hiện một loại rủi ro ở hoạt động nào đó, ngân hàng không những không có thu nhập từ hoạt động tương ứng mà còn làm giảm thu nhập từ các hoạt động khác. Ví dụ, nếu khách không trả nợ đúng hạn, sẽ dẫn đến tình trạng tồn đọng vốn, ngân hàng không thể tiếp tục cho vay hoặc đầu tư, bên cạnh đó ngân hàng còn phải bỏ ra một khoản chi phí đáng kể để phục vụ cho thu hồi vốn, trích lập dự phòng rủi ro, và bù đắp v.v. … khi thu nhập chung của ngân hàng giảm sút thì thu nhập của mỗi cán bộ công nhân viên cũng theo đó giảm xuống, làm giảm động lực làm việc và quy cơ “ chảy máu chất xám” và rủi ro tác nghiệp sẽ càng cao. Ở mức độ tiếp theo sự giảm sút về thu nhập, hậu quả của rủi ro sẽ là sự hạn chế khả năng tăng trưởng vốn, tác động xấu đến việc mở rộng quy mô hoạt động 8
  15. và khả năng áp dụng công nghệ và giảm khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Giống như tất cả các doanh nghiệp khác, tăng trưởng vốn được thực hiện thông qua phân phối lợi nhuận. Khi rủi ro xảy ra lợi nhuận giảm thấp đến mức độ nhất định thì tăng trưởng vốn của ngân hàng sẽ phải giảm, thậm chí có thể không có tích luỹ. Rủi ro cũng làm “tổn thương” đến uy tín và hình ảnh của ngân hàng. Các ngân hàng với mức độ rủi ro cao sẽ mất dần lòng tin của các đối tượng khách hàng, sự lo lắng bắt đầu xuất hiện và như hệ quả tất yếu, khách hàng sẽ rút tiền và chuyển sang sử dụng dịch vụ của các ngân hàng khác có uy tín tốt hơn. Trong hoàn cảnh đó, mặc dù rất nhiều những cố gắng như trả lãi suất cao và cung cấp thêm các khoản khuyến mại, v.v…, cũng không thể giữ chân khách hàng, hoạt động của ngân hàng sẽ ngày càng trở nên khó khăn hơn và tiếp tục đi xuống nếu không có những cải cách mạnh mẽ, đột biến và chấp nhận những giá phải trả rất đắt. Mức độ nghiêm trọng hơn, rủi ro đe doạ khả năng thanh toán của ngân hàng và có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản. Các loại rủi ro xảy ra ở mức độ nhất định sẽ làm giảm và đe doạ trực tiếp đến khả năng thanh toán của ngân hàng. Rất nhiều các ngân hàng của các nước trên thế giới kể cả Mỹ ngay trong năm 2008 đã cho vay đầu tư vào chứng khoán, bất động sản, v.v… và khi những khoản vay này trở nên khó được thu hồi, các ngân hàng này rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán tiền gửi cho khách hàng, dẫn tới thua lỗ và bị phá sản. Như vậy có thể nói rằng đối với các NHTM, rủi ro làm phát sinh rủi ro không chỉ dẫn đến giảm thu nhập, sự thua lỗ mà còn có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng thậm chí có thể làm phá sản các NHTM. Song không dứng lại ở đó, các đối tượng khách hàng của ngân hàng (dù có liên quan hay không đến việc xảy ra rủi ro trong hoạt động ngân hàng) và toàn bộ nền kinh tế cũng phải gánh chịu những hậu quả nhất định. Trong thời gian gần đây, rủi ro xảy ra đối với các ngân hàng ở một số nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản và Châu Âu, đã có phạm vi tác động đến hệ thống tài chính và nền kinh tế của các nước khác và toàn cầu. 1.2.3.2 Hậu quả của rủi ro đối với khách hàng Đối với tất cả khách hàng, cá nhân hay các doanh nghiệp, kể cả bản thân các doanh nghiệp đang trì hoãn trả nợ cho ngân hàng đều phải chịu những tổn thất từ rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trước hết, các cá nhân và 9
  16. doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội tiếp cận với nguồn vốn cũng như các dịch vụ tiện ích khác của ngân hàng. Trong trường hợp đó, khách hàng sẽ phải đi tìm kiếm những nguồn vốn khác có thể làm tăng chi phí và giảm tính ổn định của quá trình sản xuất kinh doanh. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ở mức phải xoá nợ, giãn nợ hay đảo nợ có thể tạo ra những tiền tệ xấu trong quan hệ với ngân hàng. Kế hoạch và nguồn tài chính của khách hàng bị đột ngột thay đổi, khách hàng mất chủ động về trong việc thực hiện các hợp đồng kinh tế và các nghĩa vụ tài chính với đối tác bạn hàng, uy tín và hình ảnh của những doanh nghiệp cũng bị giảm sút. Còn trong trường hợp ngân hàng phá sản, các doanh nghiệp sẽ mất vốn tiền gửi và thậm chí có thể chịu chung số phận, phá sản theo. 1.2.3.3 Hậu quả của rủi ro đối với nền kinh tế Biểu hiện đầu tiên về hậu quả của rủi ro là sự tổn thất chung của toàn bộ nền kinh tế do tốc độ chu chuyển hàng hóa và tiền tệ giảm. Như đã phân tích trên đây, khi rủi ro xảy ra, cả ngân hàng và khách hàng – các cá nhân, doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế đều bị thiệt hại về nhiều mặt. Trên giác độ lý thuyết có thể thấy rằng rủi ro trong hoạt động ngân hàng không chỉ làm tăng chi phí sản xuất và lưu thông hàng hoá mà còn gây ra những hiệu ứng tiêu cực đối với quá trình sản xuất kinh doanh, cung – cầu hàng hóa và cuối cùng là làm mất đi sự ốn định và khả năng tăng trưởng của nền kinh tế. Trên thực tế ở rất nhiều nước trên thế giới, khi các ngân hàng gặp phải rủi ro thì hàng loạt các vấn đề kinh tế - xã hội đã nảy sinh và những giải pháp nhằm ổn định tình hình bao giờ cũng rất tốn kém và hậu quả có thể còn để lại những di chứng trong thời gian dài, đặc biệt về mặt tâm lý và lòng tin của công chúng. Ngoài ra, hậu quả của rủi ro còn gây ra làm giảm thấp uy tín quốc gia, khả năng thu hút vốn nước ngoài và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác đều phải chịu những điều kiện khó khăn hơn. Tóm lại, rủi ro tất yếu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng trong khi đó hậu quả rủi ro thực sự rất nguy hiểm nghiêm trọng đối với tất cả các chủ thể, không chỉ trên giác độ tài chính mà còn tác động đến tất cả các mặt kinh tế – chính trị – xã hội của nền kinh tế. Tùy theo mức độ phát triển, mở cửa và hội nhập của nền kinh tế, hậu quả của rủi ro trong hoạt động ngân hàng còn có thể nghiêm trọng hơn về mức độ và hành vi ảnh hưởng có thể không phải chỉ dừng lại ở một quốc gia. Những phân tích trên đây cho thấy lý do tại sao các NHTM thành công 10
  17. luôn phải giành sự ưu tiên thỏa đáng cho vấn đề quản trị rủi ro song song với việc nghiên cứu phát triển hoạt động kinh doanh. 1.3 Năng lực quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM. 1.3.1. Quản lý rủi ro và quản trị rủi ro Về mặt thuật ngữ, “quản lý rủi ro” và “quản trị rủi ro” đôi khi vẫn được sử dụng thay thế cho nhau, không có phân biệt một cách rõ ràng, thậm chí một số người cho rằng quản lý và quản trị rủi ro thực chất là một. Trên thực tế, trong hoạt động kinh doanh của NHTM, mặc dù có cùng mục tiêu là tối thiểu hóa tổn thất, đảm bảo an toàn và hiệu quả song quản lý rủi ro và quản trị rủi ro vẫn có sự khác biệt về cách tiếp cận và về cấp độ quản lý. Quản lý rủi ro là việc sử dụng các công cụ, biện pháp, quy trình cần thiết trong các hoạt động kinh doanh cụ thể nhằm hạn chế tối đa khả năng xảy ra tổn thất cho NHTM. Như vậy, xét ở giác độ ngân hàng, để đạt được mục tiêu quản lý rủi ro, các ngân hàng chỉ cần né tránh rủi ro thông qua lựa chọn khách hàng giao dịch với những điều kiện và yêu cầu cao hơn hoặc chỉ lựa chọn những danh mục đầu tư an toàn hơn. Nghiên cứu trên giác độ quản lý nhà nước, quản lý rủi ro có thể được thực hiện thông qua các quy định chặt chẽ về hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, khống chế giới hạn hoạt động ngân hàng trong vùng được cho là an toàn và hiệu quả. Quản trị rủi ro mạnh mẽ và hiệu quả hơn quản lý rủi ro thông qua việc chủ động chấp nhận và kiểm sóat rủi ro ở mức độ nhất định trong mối quan hệ với thu nhập quản trị rủi ro là việc sử dụng hệ thống các biện pháp xác định và đo lường rủi ro, lựa chọn và chấp nhận rủi ro, quản lý và kiểm soát rủi ro để thực hiện các quyết định kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu về hiệu quả và an toàn. Như vậy nội dung và quy trình quản trị rủi ro bao gồm các bước có thể được phác họa theo sơ đồ sau: 11
  18. Sơ đồ 1.1 : Quy trình quản trị rủi ro Nhận biết và Phân tích đo Lựa chọn về mức độ xác định rủi ro lường rủi ro và phạm vi tác động của rủi ro Kiểm soát và quản lý rủi ro Báo cáo đánh giá về quản trị rủi ro Hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn đi kèm với rủi ro vì vậy cách tiếp cận của quản lý rủi ro theo định hướng không chấp nhận những tài sản rủi ro, chỉ lựa chọn những hoạt động kinh doanh của ngân hàng ở trạng thái rủi ro không thể xảy ra là không phù hợp, không tiếp cận với tất cả các đối tượng khách hàng. Quản lý rủi ro trên cả giác độ ngân hàng hay quản lý Nhà nước như trên đều rất phức tạp và đòi hỏi trình độ rất cao. Quản lý rủi ro rõ ràng là chưa đủ đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng trong điều kịên và sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại, mở cửa các nước nói chung hiện nay. Quản trị rủi ro cho phép hoạt động của NHTM hoàn tòan chủ động và mang tính tích cực, dựa trên nguyên tắc đánh đổi giữa rủi ro và thu nhập, ngân hàng sẽ lựa chọn một cách khoa học tập hợp các hoạt động kinh doanh với khả năng xảy ra rủi ro ở mức độ và phạm vi nhất định kèm theo những biện pháp quản lý và kiểm sóat mức tổn thất khi rủi ro xảy ra nhằm đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng, Cấp độ quản trị rủi ro cũng ở mức cao hơn: không chỉ là những công cụ, biện pháp quản lý nhằm hạn chế rủi ro mà còn bao gồm cả những hoạt động góp phần nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro như: Nhận biết trước về các loại rủi ro có 12
  19. thể xảy ra, đo lường, phân tích rủi ro và thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro. Nói một cách ngắn gọn, quản trị rủi ro bao hàm cả quản lý rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động cho ngân hàng, từ đó giúp ngân hàng đạt được lợi nhuận cao trong kinh doanh. Thực tế cho thấy những ngân hàng nào có khả năng chủ động chấp nhận rủi ro, đo lường và phân tích chính xác mức độ rủi ro thì có thể chủ động trong việc đưa ra các biện pháp quản lý và kiểm sóat rủi ro phù hợp, tăng cường khả năng tiếp cận và dịch vụ với khách hàng, tăng khả năng và hiệu quả sử dụng vốn cho nên có thể tồn tại và luôn phát triển bền vững. Những NHTM như vậy luôn được đánh giá là có năng lực quản trị rủi ro tốt. 1.3.2 Năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng thương mại. Về năng lực quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM và những khái niệm khác nhau về vấn đề này còn vẫn chưa thống nhất. Phần lớn các nhà quản trị cho rằng năng lực quản trị rủi ro được thể hiện thông qua hiệu quả của việc kiểm soát rủi ro hay là hiệu quả của các biện pháp quản lý cụ thể trong chiến lược của các nhà quản trị rủi ro. Quan niệm như vậy chưa thật sự rõ ràng và thích hợp, đặc biệt trong liên hệ với nghiên cứu nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro. Dựa trên những yếu tố phân tích trên đây về quản trị rủi ro chúng ta sẽ cố gắng xây dựng một quan niệm có thể dễ dàng được chấp nhận hơn về năng lực quản trị rủi ro của NHTM theo quy trình và nội dung của quản trị rủi ro đã được khái quát trên đây như sau: Bước thứ nhất của quy trình quản trị rủi ro là “nhận biết và xác định” được các loại rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải trong mỗi hoạt động kinh doanh. Mặc dù là bước khởi đầu và không quá phức tạp song bước thứ nhất này lại là điều kiện có nghĩa đối với mục tiêu và nội dung quản trị rủi ro. Ngân hàng có khả năng nhận biết và xác định chính xác thì việc phân tích, đo lường, v.v…. ở các bước tiếp theo mới thực sự có ý nghĩa và hiệu quả. Nhận biết và xác định rủi ro đòi hỏi cán bộ không những phải có trình độ chuyên môn, tinh thầy trách nhiệm mà còn cần có kinh nghiệm và sự thận trọng cần thiết để tập hợp được tất cả các loại rủi ro có thể xảy ra và phân biệt chúng theo các tiêu thức khác nhau. 13
  20. Như vậy năng lực quản trị rủi ro trước hết phải bao hàm Năng lực nhận biết và xác định rủi ro. Bước thứ hai Trong quy trình quản trị rủi ro là “phân tích và đo lường rủi ro”. Phân tích và đo lường rủi ro là điều mà tất cả các nhà quản trị ngân hàng đều rất quan tâm, vì đo lường chính xác chính là cơ sở cho các quyết định lựa chọn danh mục tài sản cùng các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát và chấp nhận rủi ro một cách chủ động và hiệu quả. Đo lường và phân tích rủi ro trong hoạt động của ngân hàng cần phải đạt được 2 yếu tố cơ bản và quan trọng nhất bao gồm: (1) khả năng hay xác suất gặp phải rủi ro; và (2) mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra. Bất kỳ sai lệch (cao hơn hay thấp hơn) trong việc xác định khả năng và mức độ tổn thất cũng đều làm mất đi tính chủ động và khả năng chấp nhận của ngân hàng gây lãng phí và nghiêm trọng hơn khi tổn thất xảy ra trên thực tế lớn hơn mức đo lường dự kiến. Do vậy, năng lực quản trị rủi ro của NHTM nhất thiết phải bao gồm năng lực phân tích và đo lường rủi ro. Bước thứ ba là “ quản lý và kiểm sóat rủi ro” sao cho tổn thất xảy ra nằm trong khả năng chấp nhận để đảm bảo rằng việc thực hiện các hoạt động kinh doanh sẽ luôn mang lại hiệu quả và thu nhập cho ngân hàng. Có hai vấn đề chính phải cân nhắc để ra quyết định ở bước này là khả năng quản lý và kiểm soát rủi ro trong quan hệ với khả năng chịu đựng tổn thất khi rủi ro xảy ra (mức dự phòng hoặc thu nhập vượt trội kỳ vọng). Nếu không có khả năng quản lý và kiểm soát tốt, tổn thất xảy ra có thể vượt quá khả năng chấp nhận thì ngân hàng vẫn có thể gặp nguy hiểm. Cho nên, năng lực quản trị rủi ro là khả năng quản lý và kiểm sóat của NHTM trên cơ sở đảm bảo thu nhập của ngân hàng. Bước cuối cùng trong quy trình là “báo cáo và đánh giá về quản trị rủi ro trên thực tế” thực sự là bước mang tính chất tổng kết và rút ra những bài học kinh nghiệm sau mỗi giai đoạn hoạt động kinh doanh của NHTM. Trên cơ sở xác định tổn thất xảy ra thực tế, đối chiếu với khả năng chấp nhận của một ngân hàng có thể đưa ra nhận xét và kết luận về hoạt động quản trị rủi ro ngân hàng đó. Do vậy, năng lực quản trị rủi ro còn bao gồm cả khả năng chấp nhận rủi ro của NHTM. Báo cáo đánh giá một cách trung thực quy trình quản trị rủi ro góp phần hoàn thiện và điều chỉnh các bước phân tích đo lường và các biện pháp quản lý, kiểm sóat rủi ro ở giai đoạn tiếp theo. 14
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2