VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN QUÂN
N G U Y Ễ N V Ă N Q U Â N
TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
L U Ậ T H Ì N H S Ự V À T Ố T Ụ N G H Ì N H S Ự
K H Ó A X
HÀ NỘI, 2021
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN VĂN QUÂN
TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ HỮU DU
HÀ NỘI, 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, luận văn thạc sỹ với đề tài “Tội gây rối trật tự công cộng từ thực
tiễn tỉnh Hải Dương” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi. Các số
liệu, bản án, ví dụ được trích dẫn, phân tích trong luận văn là trung thực, rõ ràng về
nguồn gốc, kết quả nghiên cứu không trùng với bất kỳ đề tài khoa học nào và chưa
được công bố. Các nghĩa vụ về tài chính đối với Học viện Khoa học xã hội cũng như
toàn bộ các môn học tôi đều đã hoàn thành.
Tác giả
Nguyễn Văn Quân
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
9
LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI GẤY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
1.1. Những vấn đề lý luận
9
1.2. Quy định của pháp luật hình sự về tội gây rối trật tự công cộng
18
Chương 2: ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ XÉT XỬ TỘI GÂY
RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
37
2.1. Khái quát về tỉnh Hải Dương
37
2.2. Kết quả công tác xét xử tội gây rối trật tự công cộng trên địa bàn
37
tỉnh Hải Dương
2.3. Những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân
44
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN
60
TỈNH HẢI DƯƠNG
3.1. Quan điểm về hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng
60
pháp luật đối với tội tội gây rối trật tự công cộng
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với tội tội
63
gây rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Hải Dương
KẾT LUẬN
77
DANH MỤC THAM KHẢO
78
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
BLHS - BLHS
Bộ luật tố tụng hình sự - BLTTHS
Tòa án nhân dân - TAND
Hội đồng xét xử - HĐXX
Viện kiểm sát - VKS
Nghị quyết - NQ
Hội đồng thẩm phán - HĐTP
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa- CHXHCN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Có thể khẳng định bất cứ một quốc gia nào trên thế giới, trật tự, an toàn
xã hội luôn là vấn đề rất quan trọng, đây là cơ sở, nền tảng để phát triển kinh
tế xã hội, xây dựng một đất nước giàu mạnh. Trước bối cảnh tình hình thế
giới, khu vực đang ngày càng có nhiều diễn biến, phức tạp, bất ổn khó lường,
thì nhiều năm qua, Việt Nam luôn được thế giới đánh giá là quốc gia có tình
hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tương đối ổn định. Chính điều đó,
Việt Nam luôn được lựa chọn là điểm đến đáng tin cậy, nhiều nước và tổ chức
quốc tế lựa chọn Việt Nam để tổ chức nhiều sự kiện chính trị quan trọng như
Hội nghị cấp cao Apec, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ- Triều vv…. Sự ổn định về
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đã tạo đà cho nền kinh tế nước ta vững
bước phát triển, đời sống của người dân ngày được nâng cao, mọi người được
sống trong môi trường hòa bình, văn minh, an toàn.
Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu tích cực không thể phủ nhận, đất nước ta
còn đứng trước những thách thức về an ninh phi truyền thống, trong đó tình
hình an ninh trật tự, an toàn xã hội còn nhiều diến biến phức tạp, tình hình tội
phạm ngày càng gia tăng nhất là những tội phạm xâm phạm đến trật tự, an
toàn công cộng đang là vấn đề nhức nhối đặt ra cho toàn xã hội [1]. Loại tội
phạm này không chỉ gây ra những thiệt hại không nhỏ về tài sản và tính
mạng, sức khỏe của công dân mà còn ảnh hưởng đến trật tự ở những nơi công
cộng, đến hoạt động chung của toàn xã hội. Hành vi này xâm phạm nghiêm
trọng đến quy tắc xử sự chung được đặt ra ở nơi công cộng, gây tổn hại đến
các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và công dân. Hành vi gây rối
thường được thực hiện công khai và thường diễn ra ở những nơi đông người,
thể hiện ý thức coi thường pháp luật của Nhà nước. Hình thức biểu hiện của
1
hành vi gây rối thường là: Tụ tập đánh nhau, hò hét, hành hung, đập phá tài
sản ở nơi công cộng, tụ tập nhiều người đi xe máy tốc độ cao, lạng lách, đánh
võng, gây huyên náo đường phố... và ngày càng có xu hướng gia tăng, kèm
theo đó là gây ra các hậu quả như thương tích, hủy hoại hoặc cố ý làm hư
hỏng tài sản, chết người v.v... với biểu hiện tội phạm này ngày càng tinh vi,
phức tạp, gây bức xúc dư luận xã hội, hoang mang lo lắng trong nhân dân.
Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, từ năm
2016 đến năm 2020, Tòa án hai cấp tỉnh Hải Dương đã thụ lý và đưa ra giải
quyết, xét xử 57 vụ án với 336 bị cáo về tội gây rối trật tự công cộng, chiếm tỉ
lệ 1% tổng số vụ án hình sự đã giải quyết, xét xử.
Mặc dù loại án này chiếm tỷ lệ ít so với các vụ án hình sự mà Tòa án đã
giải quyết, tuy nhiên trên thực tế, các hành vi vi phạm hành chính về an ninh
trật tự nói chung và hành vi gây rối trật tự công cộng rói riêng trong phạm vi
toàn tỉnh đã bị xử lý vi phạm hành chính lại rất nhiều và xẩy ra hàng ngày,
hàng giờ. Đặc biệt một số vụ việc phức tạp, nổi cộm còn là cơ hội cho những
đối tượng phản động sử dụng để bôi nhọ, xuyên tạc tình hình an ninh, chính
trị ở nước ta. Hải Dương là tỉnh có dân cư đông đúc, đang trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa với nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp phát
triển. Do đó, vấn đề giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương là nhiệm vụ quan
trọng. Thời gian qua, Tòa án hai cấp tỉnh Hải Dương nói riêng và các cơ quan
tiến hành tố tụng của tỉnh nói chung đã nỗ lực xử lý tội phạm gây rối trật tự
công cộng và đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết
quả đạt được, thì việc xét xử các vụ án gây rối trật tự công cộng trên địa bàn
tỉnh còn có những vướng mắc, hạn chế, bất cập như nhận thức về tội gây rối
trật tự công cộng còn chưa thống nhất; việc định tội danh chưa chính xác dẫn
đến bỏ lọt hành vi gây rối trật tự công cộng, bỏ lọt người phạm tội, xác định
tư cách tham gia tố tụng không đúng, việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung chiếm
2
tỷ lệ cao, còn có vụ án bị hủy do lỗi chủ quan của Thẩm phán. Nguyên nhân
của những vướng mắc, bất cập đó xuất phát từ việc quy định của pháp luật khi
mà BLHS năm 2015 đã có hiệu lực được hơn 03 năm nhưng đến nay vẫn
chưa có văn bản hướng dẫn, giải thích; trình độ chuyên môn, ý thức chủ quan
của người áp dụng pháp luật còn hạn chế, việc tổng kết kinh nghiệm xét xử,
ban hành án lệ của cấp trên chưa đầy đủ, kịp thời… Những điều đó đã làm
giảm hiệu quả công tác xét xử của Tòa án, chưa đủ sức răn đe, phòng chống
đối với loại tội phạm này. Do đó, tội gây rối trật tự công cộng trên địa bàn
tỉnh Hải Dương cần phải được nghiên cứu toàn diện, tổng kết một cách có hệ
thống. Thông qua việc nghiên cứu sẽ xác định được những vướng mắc, bất
cập và nguyên nhân của những hạn chế đó, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp
để hoàn thiện pháp luật và các giải pháp đồng bộ khác nhằm nâng cao hơn
nữa hiệu quả xét xử tội danh này trên địa bàn. Từ thực tiễn nêu trên, người
viết quyết định lựa chọn đề tài: “Tội gây rối trật tự công cộng từ thực tiễn
tỉnh Hải Dương” làm luận văn nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội gây rối trật tự công cộng đã được BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung
năm 2017 quy định tại Điều 318, đây cũng là sự tiếp nối quy định về tội gây
rối trật tự công cộng trong những BLHS trước đây. Do đó, việc nghiên cứu về
tội gây rối trật tự công cộng đã có nhiều công trình dưới nhiều góc độ tiếp cận
khác nhau, có thể được chia thành các nhóm sau:
* Nhóm thứ nhất: Tài liệu là giáo trình, sách chuyên khảo, tham khảo
có: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, năm 2001; Giáo trình luật hình sự Việt Nam phần các tội
phạm, Trường đại học luật thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Hồng Đức- Hội luật
gia Việt Nam, năm 2013; Giáo trình lý luận chung về định tội danh, Viện Hàn
Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2013; Giáo
3
trình luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm, Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã
Hội, Nxb. Khoa học xã hội, năm 2014; Giáo trình luật hình sự Việt Nam.
Phần các tội phạm, trường Đại học Kiểm sát, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội,
năm 2016. Giáo trình Luật hình sự phần các tội phạm, Trường đại học Luật
Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, năm 2019; Nguyễn Đức Mai (2001),
Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng - Bình
luận khoa học BLHS Việt Nam năm 1999, Tập thể tác giả, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội; Đinh Văn Quế (2005), Bình luận khoa học chuyên sâu BLHS -
Phần các tội phạm, Tập IX - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự
công cộng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh; Võ Khánh Vinh, Lý luận chung về
định tội danh, Nxb Khoa học xã hội, năm 2013; Định tội danh Trương Quang
Vinh (2008), Bình luận các điều 241 đến 256- Bình luận khoa học BLHS Việt
Nam năm 1999 (tái bản có sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội; Trần Minh Hưởng (2014), Bình luận khoa học BLHS (được sửa đổi, bổ
sung), Nxb Hồng Đức; Nguyễn Ngọc Hòa (2018), Bình luận khoa học BLHS
năm 2015- sửa đổi bổ sung năm 2017 phần các tội phạm, Nxb. Tư pháp; Trần
Văn Biên- Đinh Thế Hưng (Đồng chủ biên), bình luận khoa học BLHS năm
2015 sửa đổi 2017, Nxb. Thế giới; Đinh Văn Quế (2018), Chuyện pháp đình
(bình luận án), Nxb. Thông tin và truyền thông.
* Nhóm thứ hai: Các bài viết đăng trên các tạp chí: Đỗ Đức Hồng Hà,
Xử lý đối với hành vi dùng vũ lực chống người thi hành công vụ ở nơi công
cộng, Tạp chí Toà án nhân dân số 7/2005; Vũ Thành Long, Tội gây rối trật tự
công cộng không có người bị hại, Tạp chí Tòa án nhân dân số 15/2005;
Nguyễn Hữu Minh, Đồng phạm về tội giết người hay là gây rối trật tự công
cộng, Tạp chí Tòa án nhân dân số 19/2011, tr. 34, 38; Cao Thị Thu Thắng,
Kinh nghiệm rút ra qua việc giải quyết vụ án “gây rối trật tự công cộng”, bị
cấp phúc thẩm hủy để điều tra lại, Tạp chí Kiểm sát số 02/2016, tr 51-53, 64;
4
Bùi An Giôn, Về tội gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 318 BLHS
năm 2015, Tạp chí Tòa án nhân dân số 15, tr 25-28, 48; Nguyễn Thanh Hải,
Xử lý tội gây rối trật tự công cộng, cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn,
Tạp chí Luật sư Việt Nam số 7/2018, tr. 37-42.
* Nhóm thứ ba: Các luận văn thạc sĩ luật học có liên quan: Đoàn Tố
Như (2016), Tội gây rối trật tự công cộng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ
thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ luật học Học viện khoa
học xã hội; Triệu Văn Nam (2016), Các tội xâm phạm trật tự công cộng trong
luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Giang), Luận văn
thạc sĩ luật học Khoa luật trường Đại học quốc gia Hà Nội; Tạ Thị Bích Ngọc
(2020), Tội gây rối trật tự công cộng từ thực tiễn tỉnh Bắc Ninh, Học viện
khoa học xã hội.
Kết quả nghiên cứu những công trình đã nêu trên thấy rằng: Đa số các
công trình trên đều đi sâu phân tích ở các khía cạnh, góc độ quan tâm khác
nhau và thời gian nghiên cứu cũng đã lâu. Có một số công trình nghiên cứu
khi ở thời điểm chuyển giao giữa BLHS cũ và BLHS mới, khi mà cấu thành
tội phạm theo quy định giữa hai bộ luật có sự thay cơ bản, một số luận văn
mới cũng đề cập nhưng chưa hết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Thực
tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương cho đến thời điểm này cũng chưa có một công
trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên sâu. Vì vậy, luận văn về tội
gây rối trật tự công cộng từ thực tiễn tỉnh Hải Dương vẫn đảm bảo không
trùng lặp và có tính mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài có mục đích nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội
gây rối trật tự công cộng từ thực tiễn tại tỉnh Hải Dương để từ đó đề xuất các
giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng đối với tội danh
5
này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên đề tài có những nhiệm vụ nghiên cứu sau
đây:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về tội gây rối trật tự
công cộng trong pháp luật hình sự Việt Nam, mà trọng tâm là quy định về tội
danh và định tội danh theo BLHS mới.
Thứ hai, nghiên cứu thực tiễn áp dụng tội gây rối trật tự công cộng
trong hoạt động giải quyết, xét xử của Toà án nhân dân hai cấp tỉnh Hải
Dương trong thời gian từ năm 2016 đến năm 2020, từ đó xác định những
vướng mắc, hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
Thứ ba, đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về tội
danh này và nâng cao hiệu quả giải quyết, xét xử đối với tội gây rối trật tự
công cộng trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tội gây rối trật tự công cộng theo
pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng quy định của BLHS về tội
gây rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về chuyên ngành: Tác giả nghiên cứu pháp luật hình sự và luật
tố tụng hình sự về tội gây rối trật tự công cộng.
Phạm vi về thời gian: Khảo sát thực tiễn trong 5 năm, từ năm 2016 đến
năm 2020.
Phạm vi về không gian: Thực tiễn xét xử của Tòa án hai cấp tỉnh Hải
Dương. Trong đó tập trung nghiên cứu hai hoạt động chính là định tội danh
6
và quyết định hình phạt.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Luận văn được tác giả nghiên cứu trên cơ sở lý luận chủ nghĩa duy vật
biện chứng Triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về an ninh trật tự,
quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta về an ninh trật tự,
về công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, các công trình nghiên cứu
của các nhà khoa học và chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật hình sự:
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài dựa trên phương pháp đặc thù của
khoa học luật hình sự như: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học, phương
pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp điều tra án điển hình để phân tích các tri
thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, người viết còn tham khảo các bài viết của
các nhà khoa học, ý kiến chuyên gia và nghiên cứu hồ sơ vụ án, bản án, các báo
cáo tổng kết của hệ thống Tòa án.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa quan trọng mà luận văn mang lại trên hai phương diện lý luận
và thực tiễn, tác giả đã làm rõ các vấn đề chung tội gây rối trật tự công cộng
trong luật hình sự Việt Nam, phân tích các dấu hiệu cấu thành tội phạm, khái
quát lịch sử của các quy định trong luật hình sự nước ta về tội phạm này từ
năm 1945 đến nay, làm sáng tỏ các quy định của BLHS năm 2015 về tội gây
rối trật tự công cộng, so sánh tội phạm này với một số tội phạm khác để thấy
sự khác biệt trong cấu thành cơ bản, nhằm hạn chế sự nhầm lẫn khi định tội
danh. Nghiên cứu thực tiễn giải quyết, xét xử tội gây rối trật tự công cộng giai
đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 trên địa bàn cụ thể là tỉnh Hải Dương, những
7
kết quả đạt được và chỉ ra những bất cập, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất
giải pháp giúp các cơ quan lập pháp tham khảo, xây dựng và hoàn thiện pháp
luật về tội danh gây rối trật tự công cộng.
Kết quả của đề tài có thể được vận dụng trong thực tiễn xét xử của Tòa
án hai cấp tỉnh Hải Dương nói riêng và hệ thống Tòa án trong cả nước nói
chung, giúp cho các Thẩm phán có cái nhìn toàn diện, đầy đủ về tội danh đó
và những hạn chế, vướng mắc, bất cập và hướng khắc phục trong quá trình
giải quyết, xét xử loại tội phạm này trong thời gian tới được thống nhất, đạt
hiệu quả cao.
Ngoài ra, luận văn còn là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ công tác
giảng dạy, nghiên cứu cho các sinh viên, học viên cao học và các chuyên viên
pháp lý để tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân, góp
phần tích cực vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm liên quan đến an
ninh trật tự.
7. Kết cấu của luận văn
Nội dung luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tội gây rối trật tự công cộng trong
Luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng giải quyết, xét xử tội gây rối trật tự địa
bàn tỉnh Hải Dương
Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
8
quả áp dụng pháp luật về tội gây rối trật tự công cộng
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ VỀ TỘI GẤY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
1.1. Những vấn đề lý luận
1.1.1. Cơ sở lý luận
Để duy trì xã hội tồn tại trong một trật tự nhất định, loài người đã sử
dụng nhiều công cụ điều chỉnh khác nhau, trong đó có pháp luật. Pháp luật
chính là sản phẩm của sự phát triển xã hội, vừa mang tính khách quan (do đòi
hỏi khách quan của xã hội đã phát triển ở một trình độ nhất định) vừa mang
tính chủ quan, ý chí của giai cấp thống trị.
Trong một xã hội có giai cấp, pháp luật luôn là một công cụ quản lý
hiệu quả, quan trọng và không thể thiếu của Nhà nước. Pháp luật hình sự là
một trong những công cụ sắc bén và hữu hiệu nhất để điều chỉnh các quan hệ
xã hội có mức độ quan trọng nhất định.
Trong bối cảnh Nhà nước ngày càng đóng vai trò quan trọng trong bảo
đảm và duy trì trật tự, an toàn xã hội nói chung và an toàn tại nơi công cộng
nói riêng thì cần có một văn bản pháp lý đủ mạnh, đủ sức răn đe để thực hiện
việc đấu tranh có hiệu quả đối với các hành vi xâm phạm đến trật tự công
cộng, an toàn công cộng. Trong thời gian gần đây các hành vi gây rối trật tự
công cộng có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp, nhiều người tụ tập, la
hét, đập phá, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Nhận thức rõ
điều này, Nhà nước Việt Nam luôn luôn sẵn sàng dùng những biện pháp khác
nhau nhằm đảm bảo sự ổn định về chính trị. Chính sách của Nhà nước được
thể hiện một cách toàn diện thông qua nhiều công cụ khác nhau, trong đó có
pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng.
Trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm thì các quy định của
9
pháp luật hình sự là một trong những biện pháp phòng ngừa quan trọng, khi
các hành vi vi phạm pháp luật nào được coi là tội phạm thì giúp các quan hệ
xã hội ổn định, bền vững. Biện pháp xử lý hành chính cũng có tác dụng
nhưng nó không đủ mạnh như pháp luật hình sự. Khi chủ thể có ý định thực
hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, những chủ thể này sẽ có thể phải gánh
chịu những hậu quả bất lợi (phải chịu hình phạt) nếu thực hiện. Chính vì vậy,
quy định tội gây rối trật tự công cộng là việc sử dụng biện pháp xử lý hình sự
với mục đích làm công cụ chính, hiệu quả để răn đe, ngăn ngừa và trừng trị
người thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng cũng như răn đe người có ý
định thực hiện hành vi gây mất an ninh trật tự.
Bên cạnh những cơ sở lý luận, thực tiễn trong những năm vừa qua tình
hình tội gây rối trật tự công cộng có xu hướng gia tăng về số vụ và phức tạp
về tính chất vụ việc. Trong khi tội gây rối trật tự công cộng được quy định tại
BLHS năm 1999 đã được BLHS năm 2015 sửa đổi cơ bản nhưng đến nay
nhiều nội dung về cấu thành tội phạm và cấu thành định khung tăng nặng vẫn
chưa được hướng dẫn, điều đó dẫn đến việc áp dụng áp luật chưa được thống
nhất. Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện, kiện toàn quy định của BLHS về tội gây
rồi trật tự công cộng là yêu cầu cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Đây chính
là cơ sở thực tiễn quan trọng để quy định về vấn đề này trong luật hình sự
Việt Nam.
1.1.2. Khái niệm, các dấu hiệu đặc trưng của tội gây rối trật tự công cộng
1.1.2.1. Khái niệm tội gây rối trật tự công cộng
* Khái niệm trật tự công cộng.
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường bắt gặp những thuật ngữ
rất quen thuộc như giữ gìn trật tự công cộng, an toàn công cộng. Tuy nhiên,
chính trong luật pháp luật hình sự cũng chưa đưa ra khái niệm, định nghĩa
chính thức như thế nào là trật tự công cộng với tư cách là một khách thể được
10
pháp luật hình sự bảo vệ.
“Trật tự” theo Từ điển tiếng Việt là của tác giả Thái Xuân Đệ là “thứ
tự trên dưới, trước sau theo một quy tắc nhất định, tình trạng có tổ chức, có kỷ
luật” còn “công cộng” là thuộc về mọi người hoặc phục vụ chung cho mọi
người [2, tr. 886, 147].
Thuật ngữ “Trật tự công cộng” được Viện khoa học pháp lý- Bộ tư
pháp giải thích trong Từ điển Luật học: Là trạng thái ổn định, có tổ chức, có
kỷ luật ở nơi công cộng. Những nơi phục vụ lợi ích công cộng được tổ chức
sắp xếp ngăn nắp, các quy ước chung được mọi người tôn trọng, thực hiện
nghiêm chỉnh để bảo vệ lợi ích chung của xã hội, thể hiện toàn bộ yêu cầu cơ
bản của xã hội về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… [3, tr. 809].
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì “Trật tự công cộng là sự
tuân thủ những quy định của pháp luật và phong tục, tập quán, sinh hoạt
được mọi người thừa nhận; tình trạng yên ổn, có trật tự, tôn trọng lẫn nhau
trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi. Hay nói cách khác là trạng thái xã hội
có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định
ở những nơi công cộng mà mọi người phải tuân theo” [4, tr 755].
Mặc dù chưa có định nghĩa chính thức, tuy nhiên từ các công trình đã
và đang nghiên cứu, chúng ta có thể định nghĩa: “Trật tự công cộng là hệ
thống các quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi các quy định của
pháp luật và các nội quy, quy tắc về trật tự chung, an toàn chung, mà đòi hỏi
mọi thành viên của xã hội phải tuân theo những quy định chung đó nhằm đảm
bảo cho cuộc sống, lao động, sinh hoạt bình thường của mọi người trong xã
hội”.
* Khái niệm tội gây rối trật tự công cộng.
Hiện nay, trong khoa học luật hình sự, có nhiều quan điểm khác nhau
11
về khái niệm tội gây rối trật tự công cộng.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Gây rối trật tự công cộng là nhóm các
hành vi xâm phạm trật tự công cộng được Nhà nước bảo vệ bằng quy định
điều luật trong pháp luật hình sự và đáng bị trừng phạt theo những quy định
của điều luật này [5, tr 25].
Quan điểm thứ hai cho rằng: xâm phạm trật tự công cộng là những
hành vi làm phá vỡ sự ổn định của trật tự công cộng, vi phạm pháp luật, văn
hóa, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán đảm bảo trật tự công cộng làm cản
trở hoạt động bình thường, tuần tự của mọi người tại không gian công cộng
[5, tr 25] . Ưu điểm của tác giả này đã nêu rõ được khách thể của tội gây rối
trật tự công cộng mà tội phạm xâm phạm đến nhưng chưa nêu được dậu hiệu
chủ thể và hành vi phạm tội của tội phạm này.
Quan điểm khác cho rằng: "Gây rối trật tự công cộng là hành vi làm
náo loạn trật tự nơi công cộng" [6, tr 13]. Quan điểm này mới chỉ nêu định
nghĩa hành vi gây rối trật tự công cộng chứ chưa làm rõ khái niệm tội gây rối
trật tự công cộng, hơn nữa, hành vi phạm tội khác tội phạm, vì khái niệm tội
phạm đòi hỏi phải đầy đủ như khái niệm trong Điều 8 BLHS.
Ngoài ra, có quan điểm dựa trên căn cứ là các quy định của BLHS năm
1999 (Điều 245) để định nghĩa: "Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi gây
rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành
chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà
còn vi phạm" [7, tr 7]. Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam năm
1999, thì quan điểm này chưa đựng những yếu tố hợp lý, nhưng dấu hiệu
pháp lý đặc trưng về chủ thể của tội phạm trong khái niệm.
Những quan điểm trên dù cũng chứa đựng yếu tố hợp lý nhưng vẫn
chưa đầy đủ các dấu hiệu về mặt pháp lý, khái niệm tội phạm đã được quy
định trong BLHS tại khoản 1 Điều 8, bao gồm các dấu hiệu: Thứ nhất phải là
12
hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS; Thứ hai: Phải do
chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý
(chủ thể có thể là cá nhân, pháp nhân); Thứ ba: Xâm hại đến những khách thể
được pháp luật hình sự bảo vệ; thứ tư tính phải bị xử lý hình sự theo quy định
của BLHS [8].
Như vậy, từ những quan điểm nghiên cứu, có thể đưa ra khái niệm như
sau: Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi làm rối loạn các hoạt động ở
những nơi công cộng, xâm hại trật tự an toàn công cộng, do người có năng
lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, gây
ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt hành
chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà
còn vi phạm.
1.1.2.2. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội gây rối trật tự công
cộng
Hành vi xảy ra được xem là hành vi phạm tội theo quy định của pháp
luật hình sự thì hành vi đó phải thỏa mãn các dấu hiệu cần và đủ đặc trưng
cho từng tội phạm cụ thể do pháp luật hình sự quy định. Qua nghiên cứu tội
gây rối trật tự công cộng, cho thấy việc định tội danh đối với tội phạm này
phải dựa trên các yếu tố cấu thành như sau:
* Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội một cách cố ý hoặc vô ý, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và
đạt độ tuổi theo quy định tại Điều 12 BLHS. Theo quy định này chủ thể của
tội phạm nói chung và chủ thể của tội gây rối trật tự công cộng nói riêng là
con người cụ thể, đang sống - thể nhân. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 12
BLHS về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải
chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà BLHS có
13
quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được
quy định tại những những điều luật cụ thể, nhưng không có tội gây rối trật tự
công cộng. Như vậy, chúng ta có thể xác định chủ thể của tội gây rối trật tự
công cộng là chủ thể thường, đó là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên và
có năng lực trách nhiệm hình sự [7].
* Khách thể của tội phạm
Theo quy định của BLHS 2015, khách thể của tội phạm được quy định
tại Điều 8, đó là các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, bị tội phạm
xâm hại gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại trong trừng mực nhất định.
Đây là những khách thể chung của tội phạm, trên cơ sở đó, các nhà làm luật
phân chia các loại tội phạm có cùng tính chất trong cùng một chương tương
ứng tại Phần các tội phạm của Bộ luật này, hay còn gọi là khách thể loại của
tội phạm (trong đó có xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng).
Tội gây rối trật tự công cộng là tội phạm xâm phạm đến an toàn công
cộng, những quy tắc, sinh hoạt, đi lại, làm việc, vui chơi... ở nơi công cộng, vi
phạm quy tắc, nếp sống văn minh, văn hóa, gây ảnh hưởng đời sống, sinh
hoạt của mọi người ở nơi công cộng. Đây còn gọi là khách thể trực tiếp của
tội phạm (tức là bị tội phạm xâm hại trực tiếp). Ngoài ra, tội gây rối trật tự
công cộng còn gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động của những người trong
cơ quan Nhà nước và xã hội làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự công cộng [9, tr 25-
28, 48].
* Mặt khách quan của tội phạm
Theo quy định của BLHS, những biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm
chính là mặt khách quan của tội phạm, gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội,
hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, không gian, thời
gian, địa điểm, công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội…
14
Mặt khách quan của tội gây rối trật tự công cộng có các dấu hiệu sau:
- Về hành vi khách quan: Người phạm tội thực hiện hành vi gây rối
bằng nhiều phương thức khác nhau, thể hiện qua cử chỉ, hành động và thái độ
coi thường trật tự ở những nơi đông người như chợ, siêu thị, trường học, nhà
thờ, rạp hát, công viên, nhà ga, bến xe, bến tàu, quảng trường, nhà văn hóa,
câu lạc bộ, sân vận động, trụ sở cơ quan, tổ chức xã hội, doanh nghiệp, khu
dân cư, trường học, bệnh viện, trên các phương tiện giao thông, trên đường
phố .v.v... , cụ thể như:
Có lời nói thô tục hoặc hành vi thô bạo xúc phạm những người xung
quanh tại nơi công cộng (đặc biệt là phụ nữ).
Có hành vi gây mất trật tự, gây lộn xộn, náo loạn hoặc là những hành vi
càn quấy, dùng vũ lực để quậy phá, làm hư hỏng tài sản của nhà nước, của tổ
chức, cá nhân ở nơi công cộng (như đập phá tượng đài, làm hư các biểu
tượng, tranh cổ động, xe ô tô …).
* Hậu quả: Người thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng sẽ cấu
thành tội phạm thuộc một trong hai trường hợp sau:
Thứ nhất: Người thực hiện hành vi gây rối phải gây ảnh hưởng xấu đến
an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đa số các cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng hiện đều đang vận dụng Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP
ngày 17/4/2003 "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS" về tình tiết
gây hậu quả nghiêm trọng để xử lý đối với loại tội phạm này.
Thứ hai: Hoặc tuy chưa gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự nhưng
đã bị xử hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được
xoá án tích mà còn vi phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
+ Việc xác định dấu hiệu đã bị xử hành chính về hành vi này mà còn vi
phạm có nghĩa là trước đó, người này đã có hành vi vi phạm về trật tự, an
toàn công cộng theo quy định tại chương 2 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày
15
12/11/2013 của Chính phủ và bị xử phạt hành chính về hành vi đó mà chưa
chấp hành xong (trong luật hình sự được xác định là tiền sự). Trường hợp
người này đã chấp hành xong quyết định được một thời hạn được quy định tại
Luật xử lý vi phạm hành chính mà hết thời hạn đó mới vi phạm thì cũng
không cấu thành tội này.
+ Đã bị kết án về tội này mà còn vi phạm, có nghĩa là trước đó người
này đã bị Tòa án xét xử về tội “gây rối trật tự công cộng” nhưng chưa chấp
hành xong bản án hoặc tuy đã chấp hành xong bản án nhưng chưa đủ thời
gian đương nhiên xóa án tích tính đến ngày phạm tội mới.
Như vậy, mặt khách quan của tội gây rối trật tự công cộng đều chứa
đựng những dấu hiệu ở mặt khách quan của tội phạm nói chung đó là hành vi
nguy hiểm cho xã hội, hậu quả, mối quan hệ nhân quả, không gian, thời gian,
còn các dấu hiệu khác như phương tiện, thủ đoạn không phải là dấu hiệu bắt
buộc của tội này. Điều đó có nghĩa là người nào có hành vi gây rối mà không
gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc không thuộc
trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi
cùng loại (không có tiền án, tiền sự về tội này) thì không cấu thành tội phạm.
* Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm được quy định tại Điều 10 và Điều 11
BLHS, đó là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội phạm, gồm: lỗi, động
cơ, mục đích của tội phạm. Trong đó, lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người
phạm tội đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của mình và hậu quả do
hành vi đó gây ra. Đây là nội dung cơ bản, quan trọng nhất, thể hiện mặt chủ
quan của tội phạm và được BLHS phân loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý. Trong đó
lỗi cố ý trực tiếp là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy
hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu
quả xẩy ra, còn trường hợp người phạm tội tuy đều nhận thức được rõ hành vi
16
của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể
xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng có thức thức để mặc cho hậu quả xẩy
gọi là cố ý gián tiếp. Đối với lỗi vô ý được thể hiện dưới hai hình thức là lỗi
vô ý do cẩu thả và vô ý vì quá tự tin được định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
10 BLHS. Trong đó lỗi vô ý do do cẩu thả là người phạm tội tuy thấy trước
hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng
hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, còn lỗi vô ý do quá
tự tin là người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu
quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả
đó
Đối chiếu với quy định của BLHS hiện hành thì tội gây rối trật tự công
cộng, người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý (cả lỗi cố ý trực tiếp và
gián tiếp), theo đó người phạm tội này nhận thức rõ hành vi của mình là nguy
hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mong
muốn cho hậu quả xẩy ra hoặc thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy
ra, tuy không mong muốn nhưng bỏ mặc cho hậu quả xẩy ra.
Khác với một số tội phạm khác, đông cơ, mục đích của người phạm tội
gây rối trật tự công cộng không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này.
Trường hợp động cơ, mục đích cấu thành một tội phạm khác, thì tùy từng
trường hợp người phạm tội có thể bị truy tố về một tội danh tương ứng.
1.1.2.3. Ý nghĩa của việc quy định tội gây rối trật tự công cộng trong
BLHS
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước và nhân
dân ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Đặc biệt là
trong thời kỳ Đảng và Nhà nước ta tiến hành đổi mới toàn diện theo tinh thần
Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra, vấn đề trật tự, an toàn công cộng có ý
17
nghĩa hết sức quan trọng, nó gắn liền với sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế,
xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, giữ gìn trật tự, an toàn công
cộng cũng chính là bảo đảm an toàn về tài sản của Nhà nước, của các tổ chức
xã hội, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác
của công dân. Mặt khác trật tự công cộng là một trong những thước đo, tiêu
chí để đánh giá sự ổn định của xã hội, là tiền đề, cơ sở cho việc phát triển
kinh tế, xã hội ở nước ta. Xuất phát từ tầm quan trọng của việc giữ gìn trật tự,
an toàn công cộng trong đời sống xã hội, việc quy định tội gây rối trật tự công
cộng trong BLHS là cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là hành
lang pháp lý để chúng ta giáo dục mọi công dân chấp hành nghiêm chỉnh
những quy tắc, xử sự chung ở những nơi công cộng. Bất kỳ người nào có
hành vi nguy hiểm, xâm phạm đến nó sẽ phải bị xử lý về hình sự, qua đó góp
phần vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm [11].
1.2. Quy định của pháp luật hình sự về tội gây rối trật tự công cộng
1.2.1. Lịch sử quy định về tội gây rối trật tự công cộng từ năm 1945
đến nay:
1.2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm
1985
Sau khi tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 kết thúc
thắng lợi, giành được chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời. Để giữ gìn thành quả cách mạng, thì cần phải có hành lang
pháp lý để bảo vệ các hoạt động bình thường của chính quyền, nhân dân, sự
ổn định ở những nơi công cộng, đó cũng chính là bảo vệ tài sản của Nhà
nước, sức khỏe, tính mạng của công dân. Chính vì vậy, Nhà nước ta đã kịp
thời ban hành nhiều văn bản pháp luật để duy trì trật tự công cộng.
Mặc dù không có văn bản pháp lý riêng biệt quy định tội gây rối trật tự
công cộng, tuy nhiên việc tăng cường sự lãnh đạo đối với việc bắt giữ, truy tố
18
và xét xử, trong đó đặc biệt nhấn mạnh: "... Nhiệm vụ thứ ba của Công an,
Công tố và Tòa án là bảo vệ trật tự, trị an của xã hội [12], đã được nhấn
mạnh tại Thông tư số 55-TTg ngày 24/12/1958 của Thủ tướng Chính phủ và
trong Điều lệ tạm thời số 329-TTg ngày 17/9/1954 của Thủ tướng Chính phủ
về quản lý các loại vũ khí.
Cho đến Hiến pháp năm 1959, vấn đề trật tự công cộng đã được quy
định chính thức tại Điều 39, đó là những quy tắc sinh hoạt xã hội, trật tự công
cộng, kỷ luật lao động thì tất cả các công dân nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa có nghĩa vụ phải tuân theo. Tài sản công cộng của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa là thiêng liêng không thể xâm phạm, việc tôn trọng và bảo vệ tài
sản công cộng là nghĩa vụ của công dân (Điều 40) [13].
Năm 1966, tại Báo cáo tổng kết công tác năm 1965 của Tòa án nhân
dân tối cao, trong phương hướng, nhiệm vụ công tác đã lưu ý:
...2. Các Tòa án cần chú trọng việc đấu tranh chống các tội phạm
nghiêm trọng về trị an và về kinh tế nhằm góp phần tích cực vào bảo vệ trị an,
bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tài sản và những quyền lợi hợp pháp của nhân
dân, bảo đảm thực hiện tốt các chính sách thị trường, giá cả, đặc biệt chú
trọng xử lý đúng đắn và kịp thời những tội phạm gây trở ngại cho việc phòng
không nhân dân, phòng gian bảo mật, sơ tán, thực hiện các nghĩa vụ quân sự,
tăng cường và bảo vệ giao thông liên lạc, vận tải [12].
Trong giai đoạn từ năm 1960-1975, miền Bắc tiến hành xây dựng chủ
nghĩa xã hội, đồng thời là hậu phương vững chắc để chi viện cho miền Nam
kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Do việc tuyên truyền pháp tuyên
truyền, giáo dục pháp luật chưa tốt, hành vi xâm phạm tài sản của Nhà nước,
tổ chức và của hợp tác xã chưa được ngăn chặn kịp thời, gây mất an ninh trật
tự. Nhằm giữ vững an ninh, trật tự công cộng, Tòa án nhân dân tối cao đã
ban hành Chỉ thị số 14- TATC ngày 12/8/1974 hướng dẫn "... tăng cường
19
quản lý lao động, quản lý thị trường và giữ vững trật tự trị an xã hội nhằm cụ
thể hóa Nghị quyết số 228 ngày 12/01/1974 của Bộ Chính trị [12].
Để xử lý tội gây rối trật tự công cộng cũng như một số loại tội phạm
nghiêm trọng, phổ biến, Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 do Hội đồng
Chính phủ Cách mạng lâm thời đã ban hành đã quy định Các tội phạm và
hình phạt, tội xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe
nhân dân với việc bảo vệ các khách thể - trật tự công cộng, an toàn công cộng
và sức khỏe nhân dân tránh khỏi sự xâm phạm của tội phạm tại Điều 9 như
sau:
Phạm một trong các tội sau đây:
Tụ tập đông người nhằm khuấy rối trật tự ngoài đường phố, gây náo
động trong dân chúng hoặc ở các nơi công cộng chống lại nhân viên nhà nước
khi làm nhiệm vụ;
Vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng;
Tổ chức du đãng có hành động càn quấy, đe dọa tánh mạng người khác
và an toàn xã hội;
Buôn bán, tàng trữ ma túy và các chất độc khác, cờ bạc, tổ chức ổ mại
dâm thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm. Trường hợp nghiêm trọng, thì bị phạt
tù đến 15 năm.
Trong mọi trường hợp, có thể bị phạt tiền đến 1.000 đồng ngân hàng
[12].
Ngày 15/4/1976, Bộ tư pháp đã ban hành Thông tư số 03-BTP ngày 15-
4-1976 về hướng dẫn thi hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976, trong đó
quy định cụ thể: Trong những trường hợp trên, nếu phạm các tội trên nếu vượt
quá mức độ xử lý hành chính, thì bị truy tố và xét xử về hình sự và có thể bị
phạt từ 3 tháng đến 5 năm. Nếu thuộc trường hợp nghiêm trọng, thì bị phạt tù
đến 15 năm tù. Ngoài ra, còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền
20
đến 1.000 đồng và có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Ngoài ra
còn bị cấm lưu trú ở một địa phương từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị phạt quản
chế sau khi mãn hạn tù nếu là kẻ phạm tội có tính chất chuyên nghiệp [12].
Để ngăn chặn ngay đối tượng đang thực hiện hành vi phạm tội rất
nghiêm trọng như bọn lưu manh, côn đồ đang giết người, hiếp dâm, gây rối
trật tự rất nghiêm trọng, đang dùng vũ lực cướp phá tài sản xã hội chủ nghĩa
hoặc tài sản của công dân, Nghị định số 94/HĐBT ngày 02/7/1984 của Hội
đồng bộ trưởng cũng đã quy định trường hợp cấp bách được nổ súng vào đối
tượng khi không còn biện pháp nào khác [12].
Như vậy, luật đã quy định rất rõ trường hợp “bọn lưu manh, côn đồ
đang giết người, hiếp dâm, gây rối trật tự rất nghiêm trọng, đang dùng vũ lực
cướp phá tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản của công dân” nếu trong trường
hợp đặc biệt nếu không còn biện pháp nào khác, pháp luật cũng trao quyền
cho người đang thi hành công vụ được xử lý nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp
của xã hội, của Nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.
Mặc dù Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự nhằm
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ
chức, công dân, góp phần trấn áp tội phạm, giáo dục, răn đe phòng chống tội
phạm. Tuy nhiên, việc ban hành nhiều văn bản nhưng còn chưa tập trung,
thống nhất và đồng bộ đòi hỏi Nhà nước cần ban hành một văn bản mang tính
khái quát, có hệ thống và bao quát đầy đủ các lĩnh vực bị tội phạm xâm phạm
đến, cũng như tránh việc áp dụng pháp luật theo nguyên tắc “tương tự”, nhiều
văn bản pháp luật đã không đáp ứng và phục vụ kịp thời quá trình khởi tố,
điều tra, truy tố và xét xử do đã lạc hậu, lỗi thời. Chính vì vậy, Nhà nước Việt
Nam đã ban hành BLHS đầu tiên - BLHS năm 1985.
1.2.1.2. Giai đoạn từ sau năm 1985 đến trước khi ban hành BLHS năm
1999
21
Với sự lỗ lực của cả hệ thống chính trị, BLHS năm 1985 đã được Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 27/6/1985, có
hiệu lực kể từ ngày 01/01/1986. Việc ban hành một BLHS mới không những
thể hiện rõ nét nhất sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây
dựng hệ thống pháp luật nói chung và ngành luật hình sự nói riêng. Ngoài ra,
điều này còn khẳng định quy luật khách quan và xu hướng tất yếu của quá
trình phát triển và đi lên của xã hội, cũng như sự trưởng thành vượt bậc về kỹ
thuật lập pháp hình sự của Việt Nam. Đặc biệt, với việc ban hành một Bộ luật
mang tính hệ thống và chỉnh thể, BLHS với tư cách là một công cụ hữu hiệu
và sắc bén của Nhà nước chuyên chính vô sản để bảo vệ những thành quả
cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, các công dân, qua đó
đấu tranh phòng ngừa và chống các hành vi phạm tội, góp phần hoàn thành
hai nhiệm vụ chính trị xã hội - xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Kết cấu của BLHS năm 1985 gồm có hai phần, phần chung và phần các
tội phạm. Trong đó các nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công
cộng và trật tự quản lý hành được quy định trong chương VIII phần các tội
phạm. Đối với tội gây rối trật tự công cộng được quy định rất rõ tại Điều 198
trong Mục B - Các tội xâm phạm trật tự công cộng như sau: Người nào gây
rối trật tự công cộng thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm
hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp
sau đây thì bị phạt tù từ 1 năm đến 7 năm: Có vũ khí hoặc có hành vi phá
phách. Lôi kéo kích động người khác gây rối. c. Hành hung người can thiệp,
bảo vệ trật tự công cộng [14].
Như vậy, theo quy định của BLHS năm 1985, tội gây rối trật tự công
cộng không có mục đích chung như trước đây trong các văn bản pháp luật, mà
22
nó lại tập trung phản ánh tính gây nguy hiểm cao đối với đời sống xã hội, cho
trật tự xã hội, cho sự bình yên, ổn định trong đời sống xã hội của nhân dân.
Ngoài ra, nếu so sánh với hai Pháp lệnh về trừng trị các tội xâm phạm tài sản
xã hội chủ nghĩa và tài sản riêng của công dân cùng ngày 21/10/1970, cũng
như Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định các tội phạm và hình phạt
của Bộ Tư pháp, thì BLHS năm 1985 đã thể hiện một bước tiến quan trọng
trong việc pháp điển hóa các tội phạm hình sự nói chung và tội gây rối trật tự
công cộng nói riêng thành các tội phạm tương ứng trong từng chương tội
phạm của BLHS và phản ánh chính xác từng khách thể mà các tội phạm khác
nhau đã xâm phạm đến.
Mặc dù BLHS năm 1985 đã quy định hành vi gây rối trật tự công cộng
là một tội danh độc lập. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn tuy
nhiên trong đó lại không có hướng dẫn gì về tội gây rối trật tự công cộng. Do
đó dẫn tới có nhiều quan điểm trong nhận thức, cách hiểu khác nhau, gây khó
khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
Cấu thành cơ bản của tội gây rối theo quy định của BLHS năm 1985, thì chỉ
cần người nào gây rối trật tự công cộng là đã cấu thành tội phạm mà không
cần phải có hậu quả đã là tội phạm. Quy định như vậy, rất khó để phân biệt
đâu là hành vi vi phạm hành chính, đâu là tội phạm và dễ nhầm lẫn với các tội
danh khác trong nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng.
1.2.1.3. Giai đoạn từ năm 1999 đến trước khi ban hành BLHS năm
2015
Một sự kiện pháp lý đánh dấu sự phát triển của hoạt động lập pháp hình
sự nước ta là việc pháp điển hóa lần thứ hai luật hình sự Việt Nam với việc Quốc
hội ban hành BLHS năm 1999. Việc ban hành BLHS mới được xây dựng dựa
lịch sử lập pháp của nước ta qua các thời kỳ, từ tổng kết kinh nghiệm thực tiễn
của việc đấu tranh, phòng chống tội phạm trên cơ sở vận dụng những thành tựu
23
mới của khoa học luật hình sự hiện đại, cũng như các nguyên tắc và các quy định
pháp luật được thừa nhận chung của pháp luật quốc tế.
Theo quy định tại Điều 245 BLHS năm 1999 quy định về tội gây rối
trật tự công cộng: Trong cấu thành cơ bản ở khoản 1 quy định có 02 điều
kiện: Một là: Người nào gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng;
Hai là: hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về
tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm là đủ yếu tố cấu thành tội:
Người đó sẽ phải chịu các loại hình phạt: phạt tiền từ một triệu đến mười
triệu; phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến
hai năm. Trong cấu thành khoản 2. Nếu phạm tội thuộc một trong năm trường
hợp sau đây: Có tổ chức; có dùng vũ khí hoặc có hành vi phá phách; gây cản
trở giao thông nghiêm trọng hoặc đình trệ hoạt động công cộng; hành hung
người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng; tái phạm nguy hiểm; xúi giục người
khác gây rối thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm [15].
So sánh với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 đã có sự thay đổi trong
nội dung cấu thành tội phạm này theo hướng chỉ xử lý hình sự trong các
trường hợp cụ thể, trước đây chỉ cần một người có hành vi gây rối nơi trật tự
công cộng là bị xử lý (truy cứu trách nhiệm) hình sự, trong khi đó, BLHS
1999, chỉ khi hành vi gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng
hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này,
chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì mới bị xử lý hình sự, còn chế tài
trước đây - phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù
từ ba tháng đến hai năm, thì nay có thể - bị phạt tiền từ một triệu đồng đến
mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng
đến hai năm. Ở khoản 2 Điều 245 BLHS quy định một số định khung cụ thể
hơn mà BLHS 1985 chưa quy định. Tuy nhiên BLHS năm 1999 còn hạn chế
không quy định rõ trong cấu thành cơ bản như thế nào là “gây hậu quả
24
nghiêm trọng”. Nhằm khắc phục tình trạng trên và đảm bảo thống nhất áp
dụng pháp luật, HĐTP đã ban hành Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày
17/4/2003 hướng dẫn về tình tiết như thế nào là “gây hậu quả nghiêm trọng”.
Từ khi có Nghị quyết hướng dẫn, về cơ bản việc áp dung pháp luật trong xử
lý tội “Gây rối trật tự công cộng” cơ bản không có gì vướng mắc.
Như vậy, BLHS năm 1999 đã quy định rõ và lượng hóa hành vi gây rối
trật tự công cộng trong cấu thành tội phạm phải gây hậu quả nghiêm trọng
(trừ trường hợp đã bị xử lý hành chính hoặc bị kết án về tội này mà còn vi
phạm”. Quy định như vậy đã khắc phục được sự tùy tiện trong việc định tội
danh đối với loại tội phạm này so với BLHS năm 1985, tránh oan sai, bỏ lọt
tội phạm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Tuy nhiên, cùng với sự phát
triển kinh tế, xã hội, hội nhập quốc tế sâu rộng, sự phát triển của công nghệ
thông tin, BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 có nhiều quy định về
tội gây rối trật tự công cộng không còn phù hợp với tình hình thực tiễn của
đất nước, đòi hỏi Nhà nước ta phải ban hành BLHS mới, trong đó có quy định
mới về tội “Gây rối trật tự công cộng” là một xu thế tất yếu.
1.2.1.4 . Quy định về tội gây rối trật tự công cộng trong BLHS năm
2015.
Ngày 27/11/2015, BLHS nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
được Quốc hội thông qua, tuy nhiên do lỗi kỹ thuật nên ngày 20/6/2017, Quốc
hội đã sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13 và có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 (gọi tắt là BLHS 2015).
Sự ra đời của BLHS năm 2015 là một tất yếu khách quan, đánh dấu
một bước tiến mới trong lịch sử lập pháp, với sự thay đổi căn bản, toàn diện
nhằm phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội trong tình hình mới. Tội gây
rối trật tự công cộng cũng có những sự thay đổi cơ bản và được quy định tại
Điều 318 BLHS, với hai khoản như sau:
25
- Cấu thành cơ bản ở khoản 1: Người nào gây rối trật tự công cộng khi
thuộc một trong hai trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03
tháng đến 02 năm, đó là: Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã
hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án
về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
- Định khung khoản 2. Đó là người phạm tội ở khoản 2 thuộc một trong
sáu tình tiết định khung thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm và thuộc một
trong các trường hợp sau:
a) Có tổ chức
Cũng như các trường hợp phạm tội có tổ chức khác, phạm tội gây rối
trật tự công cộng có tổ chức là trường hợp nhiều người cố ý cùng thực hiện
một tội phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội
phạm, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp
sức.
Khái niệm về phạm tội có tổ chức được quy định tại khoản 2 Điều 17
BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể như sau: “Phạm tội
có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người
cùng thực hiện tội phạm”.
Như vậy, khái niệm về tội phạm có tổ chức đã được quy định tại Điều
17 BLHS về đồng phạm, khái niệm này có liên quan chặt chẽ với khái niệm
đồng phạm tại khoản 1 Điều 17 BLHS “Đồng phạm là trường hợp có hai
người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Có thể hiểu một cách đơn
giản khi một hành vi bị pháp luật hình sự truy cứu trách nhiệm với vai trò
đồng phạm trong một vụ án, một tội danh nào đó thì sẽ bị xem xét giữa các
đồng phạm này có phạm tội có tổ chức hay không tức là có sự câu kết chặt
chẽ để thực hiện hành vi phạm tội hay không?
26
b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách
+ Dùng vũ khí khi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng là dùng
các loại vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao, súng săn và vũ khí thô sơ theo
Luật quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017 nhằm tấn
công người khác gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị
tấn công.
+ Dùng hung khí: Đến thời điểm này, hung khí chỉ được quy định tại
tiểu mục 3.1 Mục 3 NQ số 01/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn: “Dùng hung khí
nguy hiểm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS 1999 là trường
hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục
2.1 và 2.2 mục 2 Phần I NQ số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác”. Theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.1 và 2.2
mục 2 của Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP hung khí nguy hiểm bao gồm: +
Vũ khí được Chính phủ quy định ban hành kèm theo quy chế quản lý vũ khí,
vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; + Phương tiện nguy hiểm là công cụ, dụng cụ
được con người chế tạo ra hoặc có sẵn trong tự nhiên mà người đó sử dụng để
gây thương tích cho người khác.
+ Có hành vi phá phách: người phạm tội đã có hành vi đập phá tài sản
trong quá trình gây rối trật tự cùng với một tổ hợp hành vi gây rối; Theo
BLHS năm 1999, thì thiệt hại tài sản là từ mười triệu đồng trở lên. Nhưng
BLHS năm 2015 không quy định hành vi phá phách gây thiệt hại là bao
nhiêu. Thực tiễn xét xử, các Tòa án vẫn áp dụng trường hợp hành vi phá
phách gây thiệt hại về tài sản đã cấu thành tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng
tài sản của người khác thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
c) Gây đình trệ hoạt động công cộng hoặc gây cản trở giao thông
27
nghiêm trọng;
Gây cản trở giao thông nghiêm trọng: là trường hợp đã được hướng dẫn
tại NQ số 02/2003 của HĐTP TAND tối cao “gây cản trở giao thông từ 2 giờ
trở lên hoặc gây cản trở giao thông ở những tuyến giao thông quan trọng, làm
ách tắc giao thông trên diện rộng (không phân biệt thời gian bao lâu)”
Gây đình trệ hoạt động công cộng là trường hợp do hành vi gây rối mà
hoạt động công cộng bị đình trệ như: phải tạm dừng trận thi đấu; phải tạm
dừng buổi biểu diễn; phải tạm dừng các cuộc hội họp, tạm dừng hoạt động xét
xử, tạm dừng phương tiện công cộng ... (không phân biệt thời gian bị đình trệ
dài hay ngắn) [20].
d) Xúi giục người khác gây rối
Xúi giục người khác gây rối là hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy
người khác thực hiện hành vi gây rối. Tuy nhiên, hành vi kích động, dụ dỗ,
thúc đẩy người khác thực hiện hành vi gây rối nhưng không thuộc trường hợp
phạm tội có tổ chức với vai trò là người xúi giục trong vụ án đồng phạm. Khi
xác định hành vi xúi giục người khác gây rối cần phải chú ý: Nếu việc xúi
giục không liên quan trực tiếp đến hành vi gây rối thì không phải là người xúi
giục người khác gây rối.
đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng
Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng là trường hợp
trong khi thực hiện hành vi gây rối, có người can ngăn hoặc yêu cầu chấm dứt
hành vi gây rối nhưng người có hành vi gây rối chẳng những không nghe mà
còn có hành vi hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng.
Khi xác định tình tiết này cần chú ý: nếu người can thiệp bảo vệ trật tự
công cộng là người đang thi hành công vụ bảo vệ trật tự nơi công cộng mà
người phạm tội có hành vi hành hung đối với người này thì thuộc trường hợp
28
chống người thi hành công vụ theo Điều 330 BLHS; nếu gây thương tích thì
thuộc trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe người khác quy định tại Điều 134 BLHS.
e) Tái phạm nguy hiểm.
Là trường hợp phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt
nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm
trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, hoặc đã tái phạm, chưa được xóa án
mà lại phạm tội do cố ý. Như vậy, đối với tội gây rối trật tự công cộng, người
phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm chỉ có thể là người đã tái
phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội gây rối trật tự công cộng, vì đối
với tội phạm này không có trường hợp nào là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc
đặc biệt nghiêm trọng.
So sánh với quy định tại Điều 245 BLHS năm 1999, Điều 318 BLHS
năm 2015 quy định về tội gây rối trật tự công cộng có sự thay đổi căn bản như
sau:
Một là: Thay đổi trong cấu thành cơ bản, nếu như BLHS năm 1999,
quy định tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” thì BLHS năm 2015 đã quy
định “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” được coi là tội
phạm. Hai là: Về hình phạt đã quy định mức cao hơn để phù hợp với thực
tiễn, đó là bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Ba là: Bổ sung thêm
tình tiết “dùng hung khí” trong cấu thành định khung. Bốn là: Bỏ một số tình
tiết gây thương tích, làm chết người [21].
Như vậy, qua sự so sánh trên, chúng ta thấy, quy định của BLHS 2015
quy định về tội gây rối trật tự có sự thay đổi trong cấu thành cơ bản, bổ sung
thêm cấu thành định khung và theo xu hướng nặng lên so với quy định của
BLHS 1999. Điều này cũng là phù hợp với thực tiễn đất nước ta trong giai
đoạn hiện nay, nhằm đấu tranh, phòng chống tội phạm, giữ vững ổn định
29
chính trị, phát triển kinh tế xã hội.
1.2.2. Phân biệt tội gây rối trật tự công cộng với một số tội danh khác
1.2.2.1. Với tội bạo loạn
Đây hai nhóm tội khác nhau được quy định trong BLHS nhưng tội bạo
loạn và tội gây rối trật tự công cộng có những điểm giống nhau nên việc phân
biệt hai tội trên là rất cần thiết cho việc định tội danh chính xác, góp phần xử
lý đúng người đúng tội.
Theo quy định tại Điều 112 BLHS 2015 về tội bạo loạn là trường hợp
người phạm tội đã có hành vi hoạt động vũ trang hay dùng bạo lực có tổ chức
nhằm mục đích là chống chính quyền nhân dân.
Như vậy, cả hai tội này đều gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an
toàn xã hội. Tuy nhiên hai tội danh cũng có những đặc điểm pháp lý khác
nhau, đó là:
Về khách thể: khách thể của tội bạo loạn là an ninh quốc gia thì khách
thể của tội gây rối trật tự công cộng là trật tự, an toàn xã hội. Khách thể trực
tiếp của hành vi bạo loạn và hành vi gây rối trật tự công cộng giống nhau ở
chỗ đều xâm hại đến trật tự an toàn xã hội, hoạt động của cơ quan, tổ chức, xã
hội, đời sống nhân dân; nhưng khác nhau ở chỗ hành vi bạo loạn còn xâm hại
đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân.
Về mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của tội gây rối
trật tự công cộng được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau như: tập
trung đông người ở nơi công cộng; đuổi đánh nhau, hò hét gây náo động làm
mất trật tự công cộng; đập phá các tài sản, các công trình ở nơi công cộng
v.v…, hành vi gây rối trật tự công cộng có thể do một hoặc nhiều người thực
hiện và không phải là hoạt động vũ trang. Trong khi đó, hành vi khách quan
của tội bạo loạn diễn ra dưới hình thức đồng phạm thường bao gồm:
Hoạt động vũ trang: tập hợp đông người, có trang bị vũ khí chống lại
30
chính quyền hay lực lượng vũ trang nhân dân.
Dùng bạo lực có tổ chức: là lôi kéo, tụ tập nhiều người không có vũ
trang hoặc tuy có nhưng không đáng kể, tiến hành các hoạt động như mít tinh,
biểu tình, xúc phạm cơ quan Nhà nước, đập phá tài sản…
Mục đích phạm tội của tội bạo loạn khác tội gây rối trật tự công cộng ở
chỗ hành vi của tội bạo loạn nhằm chống chính quyền nhân dân thể hiện cụ
thể là nhằm gây khó khăn cho chính quyền trong việc giữ gìn an ninh chính trị
và đảm bảo trật tự an toàn xã hội, làm suy yếu chính quyền nhân dân.
Địa điểm phạm tội của tội gây rối trật tự công cộng có thể là bất kỳ đâu
thuộc khu vực sinh hoạt công cộng; trong khi tội bạo loạn với mục đích chống
chính quyền nhân dân nên địa điểm phạm tội thường được tính toán và bàn
bạc trước để thực hiện ở những nơi chủ chốt của chính quyền như: doanh trại,
trụ sở cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị và các tổ chức
chính trị - xã hội; v.v...
Chủ thể của tội bạo loạn là bất kỳ ai từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực
trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 BLHS. Trong khi đó, chủ thể của tội
gây rối trật tự công cộng không phải là chủ thể đặc biệt, chỉ người đủ 16 tuổi
trở lên có năng lực chịu trách nhiệm hình sự mới phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội này.
1.2.2.2. Với tội đua xe và tội tổ chức đua xe trái phép
BLHS năm 2015 quy định “Tội đua xe trái phép” tại Điều 266 và “Tội
tổ chức đua xe trái phép” được quy định tại Điều 265. Hai tội danh trên với
tội rối trật tự công cộng đều có những điểm giống nhau đó là: hành vi của các
tội này đều do chủ thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách
nhiệm hình sự thực hiện; hành vi khách quan đều xâm phạm đến an toàn công
cộng, trật tự công cộng, đe dọa xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng, sức
khỏe và tài sản của người khác. Tội đua xe trái phép và tội gây rối trật tự công
31
cộng đều có điểm giống nhau trong cấu thành cơ bản khi người phạm tội đã bị
kết án chưa được xóa án tích hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính chưa
được xóa tiền sự mà còn vi phạm. Đối với tội gây rối trật tự công cộng và tội
tổ chức đua xe trái phép có điểm giống nhau trong cấu thành là hậu quả không
phải là dấu hiệu bắt buộc khi thỏa mãn các dấu hiệu như gây ảnh hưởng xấu
đến an ninh trật tự, an toàn công cộng. Đối với tội đua xe trái phép và tội gây
rối trật tự công cộng có điểm giống nhau về hậu quả là dấu hiệu bắt buộc nếu
như cả hai tội này người thực hiện hành vi phạm tội chưa bị xử lý hành chính
hoặc bị kết án nhưng đã được xóa án tích.
Ngoài ra, tội gây rối trật tự công cộng có những điểm khác biệt với tội
tổ chức đua xe trái phép và tội đua xe trái phép. Ở tội tổ chức đua xe trái
phép, người phạm tội có hành vi rủ rê, lôi kéo, cưỡng bức, chỉ huy, cầm đầu
hoặc tạo các điều kiện vật chất, tinh thần cho người khác để họ tham gia vào
việc đua xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ trái phép. Ở tội
đua xe trái phép là người phạm tội có hành vi điều khiển xe ô tô, xe máy hoặc
các loại xe khác có gắn động cơ tham gia cuộc đua, gây thiệt hại tài sản hoặc
tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích cho người khác. Người điều khiển xe
bắt đầu tham gia cuộc đua là tội phạm hoàn thành.
Những điều cần chú ý khi xử lý hành vi đua xe trái phép. Chỉ xử lý
hành vi đua xe trái phép nếu người đua xe sử dụng các loại xe như ô tô, mô
tô, xe máy hoặc các loại phương tiện khác có gắn động cơ, trường hợp người
thực hiện hành vi đua xe nhưng sử dụng các phương tiện khác như xích lô, xe
đạp thô sơ thì không cấu thành tội đua xe trái phép. Trường hợp người có
hành vi sử dụng các phương tiện này đua xe mà gây hậu quả nghiêm trọng thì
có thể bị truy tố về các tội phạm tương ứng khác nhau như tội gây rối trật tự
công cộng hoặc tội vi phạm vi quy định về tham gia giao thông đường bộ
hoặc các tội khác tương ứng. Những người ngồi sau người đua xe trái phép có
32
hành vi hò hét, cổ vũ cho người đua xe thì không cấu thành tội đua xe trái
phép. Tuy vậy, người thực hiện các hành vi này có thể bị truy tố về tội gây rối
trật tự công cộng nếu đủ các yếu tố khác cấu thành tội phạm.
Tội gây rối trật tự công cộng và tội đua xe trái phép đều có địa điểm là
những nơi công cộng, tuy nhiên, tội đua xe trái phép chủ yếu ở các tuyến phố,
đường giao thông, đường quốc lộ còn địa điểm tội gây rối trật tự công cộng
thì đa dạng hơn và không chỉ là những không gian mở như quảng trường,
công viên mà còn diễn ra ở cả các không gian kín như nhà hát, rạp chiếu
phim…vv
1.2.2.3. Với tội cố ý gây thương thích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ
của người khác
BLHS năm 2015 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác tại Điều 134. So với tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, hai tội danh có những điểm
giống nhau như: Hành vi phạm tội đều có thể dẫn đến hậu quả là làm náo
loạn, xâm hại đến trật tự những nơi công cộng. Tuy nhiên tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và tội gây rối trật tự công
cộng có những điểm khác nhau trên cơ sở các tiêu chí sau:
- Về chủ thể của tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác: Quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS, thì người từ
đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về
tội này nếu hành vi phạm tội thuộc trường hợp quy định khoản 3 của điều
luật.
- Về khách thể của tội gây rối trật tự công cộng là xâm phạm đến an
ninh trật tự, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng; còn khách thể của tội
cố ý gây thương tích là xâm phạm đến quyền được pháp luật bảo vệ về sức
33
khỏe của con người.
- Về mặt khách quan: Ở tội gây rối trật tự cộng cộng là hành vi hò hét,
làm náo động, có hành vi hành hung, phá phách gây ảnh hưởng xấu đến an
ninh trật tự; còn tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác
là hành vi tác động vào cơ thể con người, gây tổn thương một bộ phận hay
toàn bộ cơ thể hoặc gây tổn hại làm mất chức năng của một cơ quan nào đó
trong cơ thể con người như mù mắt, cụt chân… có hậu quả xảy ra là thương
tích hoặc tổn hại sức khỏe của người khác ở mức mà điều luật quy định là
điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự của tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Địa điểm phạm tội cố gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác có thể là bất cứ nơi nào, bất kỳ đâu, chứ không nhất thiết phải
diễn ra ở nơi công cộng như ở tội gây rối.
1.2.2.4. Với tội chống người thi hành công vụ:
BLHS năm 2015 quy định về tội chống người thi hành công vụ tại Điều
330. So với tội gây rối trật tự công cộng, hai tội danh có những điểm giống
nhau như: Về chủ thể: Đều do chủ thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có
năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện và được thực hiện với lỗi cố ý. Hành
vi phạm tội đều có thể dẫn đến hậu quả là làm náo loạn, xâm hại đến trật tự
những nơi công cộng. Tuy nhiên so với tội gây rối trật tự công cộng, tội
chống người thi hành công vụ có những điểm khác nhau đó là:
- Về khách thể: Tội chống người thi hành công vụ là tội xâm phạm đến
hoạt động công vụ của người đang thi hành công vụ, qua đó xâm phạm đên sự
hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội trong thực
thi nhiệm vụ được giao.
- Về mặt khách quan: Người phạm tội có hành vi dùng vũ lực hoặc đe
dọa dùng vũ lực cản trở hoặc chống lại người thi hành công vụ hoặc là dùng
34
thủ đoạn khác chống lại, cản trở người thi hành công vụ hoặc ép buộc người
thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật. Tội gây rối trật tự công
cộng cũng có tình tiết hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng.
Tuy nhiên, người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng là bất kỳ người nào mà
không phải là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực
lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền
giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp
luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội [22].
- Về địa điểm phạm tội: Tội chống người thi hành công vụ thì địa điểm
là bất kỳ đâu, không nhất thiết phải ở nơi công cộng.
- Hậu quả: Cấu thành tội chống người thi hành công vụ không cần có
hậu quả, nếu người phạm tội mà gây ra hậu quả như gây thương tích, gây thiệt
hại về tính mạng thì tùy từng trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự về
những tội danh tương ứng.
Qua so sánh, đánh giá các yếu tố cấu thành giữa tội gây rỗi trật tự công
cộng và một số tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người
khác, tội bạo loạn, tội phá rối an ninh, tội đua xe trái phép, tội chống người thi
hành công vụ cho thấy có những điểm giống nhau, song cũng có những yếu tố
đặc trưng riêng của từng loại tội danh, từ đó làm cơ sở cho việc định tội danh
chính xác, không bị nhầm lẫn dẫn đến bị sai tội danh.
Tiểu kết chương 1
Có thể khẳng định, trật tự an toàn xã hội và an ninh chính trị cũng
chính là hai bộ phận nòng cốt và chủ yếu của an ninh ở nước ta, đảm bảo cho
mọi người dân được sống, lao động, sinh hoạt trong một môi trường an toàn,
lành mạnh. Chính vì ý nghĩa đó mà Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn
đề giữ gìn an ninh trật tự và cụ thể hóa trong BLHS để truy trì, bảo vệ nó. Ở
Chương 1, tác giả đã phân tích một số vấn đề lý luận và quy định của pháp
35
luật hình sự về tội gây rối trật tự công cộng, đưa ra khái niệm, các dấu hiệu
pháp lý đặc trưng của tội gây rối trật tự công cộng và ý nghĩa của việc quy
định tội danh này trong BLHS. Tại chương này, tác giả cũng khái lược các
quy định của pháp luật hình sự về tội gây rối trật tự công cộng qua các thời
kỳ, từ năm 1945 đến nay, đặc biệt đi sâu phân tích các quy định của BLHS
hiện hành về tội gây rối trật tự công cộng. Qua đó để thấy được bức tranh khái
quát về sự phát triển trong lịch sử lập pháp hình sự nói chung và tội gây rối
trật tự công cộng nói riêng, kết quả nghiên cứu đó cho chúng ta thấy pháp luật
hình sự của lần ban hành sau bao giờ cũng tiến bộ và đã khắc phục được
những bất cập, thiếu sót của các quy định pháp luật trước đó. Từ các quy định
của pháp luật hình sự về tội gây rối trật tự công cộng và các dấu hiệu pháp lý
đặc trưng, tác giả đã đi sâu phân tích, so sánh tội gây rối trật tự công cộng với
một số tội danh khác có những điểm tương đồng, dễ nhầm lẫn khi định tội
danh trong thực tiễn, điều đó giúp chúng ta định tội danh chính xác hơn. Mặt
khác cho thấy bức tranh khái quát quy định của pháp luật hình sự về tội gây
rối trật tự công cộng qua các thời kỳ và BLHS hiện hành để thấy được những
bước tiến trong lịch sự lập pháp và sự thay đổi căn bản về các dấu hiệu cấu
36
thành và chứa đựng trong đó những nhân tố hợp lý.
Chương 2
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ XÉT XỬ TỘI GÂY RỐI
TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1. Khái quát về tỉnh Hải Dương
Hải Dương là tỉnh đồng bằng, tiếp giáp với 06 tỉnh, thành phố gồm
Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Bắc Giang, Thái Bình và thành phố Hải
Phòng, gồm có 12 huyện, thị xã, thành phố, với dân số thống kê năm 2020 là
1.916.774 người. Là tình đồng bằng có dân cư đông đúc, giao thông thuận lợi
là điều kiện để tỉnh phát triển mọi mặt về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y
tế…[23] Bên cạnh những mặt tích cực, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, xã
hội cũng tiềm ẩn những vấn đề phức tạp, một trong những vấn đề đó là tình
hình tội phạm ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như phức tạp về tính
chất vụ việc. Điều này đòi hỏi hệ thống Tòa án hai cấp tỉnh Hải Dương cũng
phải nâng cao vị trí, vai trò trung tâm của mình trong hệ thống tư pháp, đảm
bảo hoàn thành tốt “nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm
2013) [13].
2.2. Kết quả công tác xét xử tội gây rối trật tự công cộng trên địa
bàn tỉnh Hải Dương
Theo thống kê của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương thì trong 5 năm từ
2016 đến năm 2020 Toà án hai cấp tỉnh Hải Dương đã giải quyết, xét xử đối
với 5.780 vụ án hình sự và 10.674 bị cáo. Số liệu cụ thể được thể hiện qua
37
bảng sau:
Bảng 2.1. Thống kê số vụ án và số bị cáo Toà án nhân dân 02 cấp
tỉnh Hải Dương xét xử trong giai đoạn 2016 - 2020
Tổng số vụ án hình Tổng số bị cáo đã bị
sự đã xét xử, giải quyết xét xử, giải quyết Năm
(I) (II)
968 1809 2016
1224 2144 2017
1504 2589 2018
1120 2198 2019
964 1934 2020
5.780 10.674 Tổng
Nguồn: Phòng thống kê và công nghệ thông tin – TAND tỉnh Hải
Dương [24]
Từ bảng số liệu trên chúng ta có thể thấy có sự thay đổi rất nhanh
chóng về số vụ án và số bị cáo mà Toà án hai cấp tỉnh Hải Dương đã xét xử
trong giai đoạn từ 2016 đến năm 2020. Số liệu có xu hướng tăng nhanh trong
giai đoạn từ 2016 đến 2020. Theo đó, tăng từ 968 vụ, 1809 bị cáo năm 2016
lên 1120 vụ, 2134 bị cáo năm 2020. Điều này cho thấy tính chất phức tạp, sự
gia tăng nhanh chóng của tình hình tội phạm nói chung trên địa bản tỉnh Hải
Dương. Cá biệt có những năm như năm 2018 tăng lên đến 1504 vụ án với
2589 bị cáo. Tuy nhiên, trong năm 2020 do ảnh hưởng của tình hình dịch
bệnh COVID-19 mà số vụ án hình sự và số bị can bị đưa ra xét xử có xu
hướng giảm. Điều này là do các Toà án không đưa ra xét xử trong một số
tháng giãn cách xã hội trong năm để thực hiện công tác phòng chống dịch
38
bệnh.
Tình hình tội phạm nói chung tăng nhanh dẫn đến số vụ án về tội gây
rối trật tự công cộng cũng có xu hướng gia tăng trong giai đoạn. Theo số liệu
dưới đây cho thấy trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020 Toà án nhân
dân 02 cấp tỉnh Hải Dương đã đưa ra xét xử 57 vụ với 336 bị cáo về tội gây
rối trật tự công cộng.
Bảng 2.2. Số liệu xét xử vụ án hình sự về tội gây rối trật tự công cộng
của tỉnh Hải Dương trong giai đoạn từ 2016 đến 2020
Tổng số vụ Tổng số bị Tổng số vụ án Tổng số bị cáo đã
án hình sự cáo đã bị xét đã giải quyết, bị giải quyết, xét
đã xét xử, xử, giải xét xử về tội xử về tội gây rối
Năm giải quyết quyết gây rối trật tự trật tự công cộng
công cộng
(I) (II) (III) (IV)
968 1809 04 20 2016
1224 2144 03 23 2017
1504 2589 06 44 2018
1120 2198 16 75 2019
964 1934 28 174 2020
57 336 5.780 10.674 Tổng
Nguồn: Phòng thống kê và công nghệ thông tin – TAND tỉnh Hải
Dương [24]
Như vậy qua số liệu trên cho thấy, tình hình tội gây rối trật tự công
cộng trên địa bàn tỉnh Hải Dương có xu hướng gia tăng từ 04 vụ- 20 bị cáo
năm 2016 lên đến 28 vụ-174 bị cáo năm 2020. Điều này cho thấy tính chất
39
phức tạp của tình hình tội gây rối trật tự công cộng trên địa bàn trong giai
đoạn vừa qua. Trong 05 năm Toà án hai cấp tỉnh Hải Dương đã xét xử 57 vụ
(chiếm 1% số vụ án hình sự đã giải quyết, xét xử) với 336 bị cáo (chiếm 3,1%
số bị cáo đã giải quyết, xét xử). Có thể thấy, so với tổng số vụ án hình sự thì
tội gây rối trật tự công cộng chiếm tỷ lệ không đáng kể trong số vụ án hình sự
đã xét xử (chỉ 1%) tuy nhiên số bị cáo lại chiếm tỉ lệ khá lớn (khoảng 3,1%)
số bị cáo đã đưa ra giải quyết, xét xử. Điều này cho thấy đặc điểm của tội gây
rối trật tự công cộng đều là những vụ án có nhiều bị cáo, bởi lẽ thông thường
các vụ gây rối tại nơi công cộng thường có đông đối tượng tham gia, diễn ra
nơi công cộng cũng dễ dàng tụ tập, lôi kéo được nhiều người cùng tham gia.
Về tình hình thụ lý, xét xử đối với tội gây rối trật tự công cộng trên địa
bàn tỉnh Hải Dương mà Toà án đã xét xử như sau.
Bảng 2.3. Số liệu thụ lý, xét xử và trả hồ sơ điều tra bổ sung đối với
các vụ án gây rối trật tự công cộng của Toà án hai cấp tỉnh Hải Dương
trong giai đoạn từ 2016 đến 2020
Số vụ đã thụ lý; Số vụ đã xét xử Số vụ trả hồ sơ điều
tra bổ sung Năm
Số vụ Số bị cáo Số vụ Số bị cáo Số vụ Số bị cáo
04 20 20 0 0 04 2016
03 23 13 1 10 02 2017
06 44 29 2 15 04 2018
16 75 56 3 19 13 2019
28 174 136 5 38 23 2020
57 336 254 11 82 46 Tổng
Nguồn: Phòng thống kê và công nghệ thông tin – TAND tỉnh Hải
40
Dương [24]
Như vậy, theo số liệu trên ta có thể thấy, số vụ án đã thụ lý trong giai
đoạn là 57 vụ án với 336 bị cáo, và số vụ án đã đưa ra xét xử là 46 vụ với 254
bị cáo, còn lại trả hồ sơ điều tra bổ sung 11 vụ với 82 bị cáo. So sánh tỷ lệ trả
hồ sơ điều tra bổ sung ta có thể thấy, số vụ và số bị cáo trả hồ sơ điều tra bổ
sung là khá lớn chiếm 19,2% trong tổng số các vụ án gây rối trật tự công
cộng. Điều này cho thấy mức độ phức tạp trong quá trình giải quyết vụ án gây
rối trật tự công cộng. Trong nhiều trường hợp không dễ dàng có thể xác định
dấu hiệu phạm tội để làm căn cứ xử lý được.
Trong nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng thì
tội gây rối trật tự công cộng là tội có số vụ án xét xử khá lớn, chiếm tỉ lệ nhất
định trong tổng số vụ án đã xét xử. Điều này được thể hiện qua bảng số liệu
sau.
Bảng 2.4. Tổng số vụ án xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công
cộng (Chương XXI trong BLHS) so với tội gây rối trật tự công cộng
(Điều 318 BLHS) xét xử tại Toà án nhân dân 02 cấp tỉnh Hải Dương
Năm Các tội xâm Tội gây rối trật Tỷ lệ %
phạm an toàn công tự công cộng (Điều
cộng, trật tự công cộng 318 BLHS)
(Chương XXI)
(I) (II)
Số vụ đã Số bị cáo Số vụ đã Số bị cáo Số vụ Số bị cáo
giải đã giải giải đã giải
quyết, xét quyết, xét quyết, xét quyết, xét
41
xử xử xử xử
2016 214 808 20 1,86% 2,4% 04
2017 241 792 23 1,2% 2,9% 03
2018 166 620 44 3,6% 7% 06
2019 250 851 75 6,4% 8,8% 16
2020 335 1209 174 8,3% 14% 28
57 1.206 4.280 336 4,7% 7,8% Tổng
Nguồn: Phòng thống kê và công nghệ thông tin – TAND tỉnh Hải
Dương [24]
Như vậy có thể thấy, trong giai đoạn từ 2015 đến năm 2020 Toà án hai
cấp tỉnh Hải Dương đã xét xử 1206 vụ án với 4280 bị cáo về các tội xâm
phạm an toàn công cộng và trật tự công cộng, trong đó xét xử 57 vụ án với
336 bị cáo về tội gây rối trật tự công cộng chiếm tỉ lệ 4,7% số vụ và 7,8% số
bị cáo. Điều này cho thấy, số vụ án gây rối trật tự công cộng cũng đã chiếm
một tỉ lệ nhất định trong các tội xâm phạm an toàn công cộng và trật tự công
cộng.
Kết quả nghiên cứu các vụ án gây rối trật tự công cộng từ năm 2016
đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Hải Dương cho thấy loại tội phạm này có
những đặc trưng cụ thể như sau:
Thứ nhất: Thường diễn ra ở những địa bàn có các cụm công nghiệp,
khu công nghiệp, các tụ điểm vui chơi giải trí, những địa bàn có tốc độ đô thị
hóa nhanh, kinh tế sôi động.
Thứ hai: Thường được thực hiện những nơi có đông người và mang
tính công khai, nghĩa là người thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng
42
không che giấu hành vi của mình.
Thứ ba: Người phạm tội gây rối thường thực hiện một tổ hợp (nhiều)
hành vi có thể diễn ra trong cùng một lúc và có tính liên tục, kế tiếp nhau về
mặt thời gian như: chửi bới, hò hét - đuổi nhau - đánh nhau - đập phá tài sản;
hậu quả đi kèm hành vi gây rối: làm thiệt hại tài sản- gây thương tích - chết
người- cản trở giao thông- đình trệ giao thông, hoạt động của các cơ quan, tổ
chức.
Thứ tư: Tội gây rối trật tự công cộng thường có đông người tham gia và
mang tính tụ tập, lôi kéo. Những người tham gia vào hành vi gây rối chủ yếu
là những thành phần có nhiều tiền án, tiền sự, hoạt động theo kiểu xã hội đen,
cư trú ở nhiều nơi và tập trung ở lứa tuổi thanh thiếu niên chơi bời, lêu lổng,
không nghề nghiệp.
Qua thực tiễn xét xử tội gây rối trật tự công cộng tại tỉnh Hải Dương,
thấy rằng, Tòa án hai cấp tỉnh Hải Dương đã đạt được những kết quả tích cực,
nhất là trong việc định tội danh và quyết định hình phạt.
2.2.1. Kết quả về định tội danh:
Thông qua kết quả xét xử các vụ án gây rối trật tự công cộng tại thực
tiễn tỉnh Hải Dương cho thấy: trong tổng số 46 vụ án định tội danh là tội gây
rối trật tự công cộng, thì việc định tội danh đúng 45 vụ, chiếm tỷ lệ 98%,
được thể hiện sau khi xét xử có 17 vụ có kháng cáo, kháng nghị (trong đó
kháng cáo 16 vụ, vừa có kháng cáo vừa bị kháng nghị 01 vụ) còn lại 29 vụ
không có kháng cáo, chiếm tỷ lệ 58,6%, nghĩa là những vụ án đó, người phạm
tội đã thỏa mãn với kết quả xét xử của cấp sơ thẩm. Trong 17 vụ án có kháng
cáo, cấp phúc thẩm y án 09 vụ về tội danh gây rối trật tự công cộng và 06 vụ
đình chỉ xét xử phúc thẩm do bị cáo rút đơn kháng cáo, còn 02 vụ bị cấp phúc
thẩm hủy án do vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và bỏ lọt người thực
hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, trong đó có 01 vụ cấp phúc thẩm nhận
43
định Tòa án án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội danh gây rối trật tự công
cộng là đúng và 01 vụ bị hủy do định tội danh sai (Tòa án cấp sơ thẩm định tội
danh tội gây rối trật tự công cộng, tuy nhiên, cấp phúc xác định hành vi của bị
cáo có dấu hiệu của tội giết người). Như vậy, chúng ta có thể thấy, việc định tội
danh đối với tội gây rối trật tự công cộng thông qua công tác xét xử của hệ
thống Tòa án hai cấp tỉnh Hải Dương cơ bản là chính xác, đúng pháp luật.
2.2.2. Kết quả về quyết định hình phạt:
Trong số 17 vụ án có kháng cáo, kháng nghị như đã nêu trên, có tổng
số 85 bị cáo kháng cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo,
cải tạo tại địa phương. Kết quả xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm: Y án và
đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với 55 bị cáo, số bị cáo bị cấp phúc thẩm giảm
hình phạt 15 bị cáo, số bị cáo bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo, cải tạo
không giam giữ 10 bị cáo, còn 05 bị cáo kháng cáo do bị hủy án để điều tra
xét xử lại theo trình tự sơ thẩm. Như vậy, qua việc quyết định hình phạt,
chúng ta thấy, việc quyết định hình phạt là đúng với tính chất hành vi phạm
tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị
cáo, tỷ lệ hình phạt mà bị cáo thỏa mãn với kết quả xét xử sơ thẩm bao gồm
cả việc cấp phúc thẩm y án, đình chỉ chiếm tỷ lệ cao 88,1%. Nhìn chung, hình
phạt mà Tòa án hai cấp tỉnh Hải Dương đã tuyên đối với các bị cáo phạm tội
gây rối trật tự công cộng đã đạt được mục đích vừa mang tính giáo dục,
thuyết phục vừa mang tính răn đe, phòng chống tội phạm.
2.3. Những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân
2.3.1. Những vướng mắc, hạn chế:
Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được, qua nghiên cứu nhiều bản
án trên địa bàn tỉnh từ năm 2016 đến năm 2020 đã giải quyết, xét xử tội gây
rối trật tự công cộng, còn một số những vướng mắc, bất cập, hạn chế như sau:
- Thứ nhất: Còn việc định tội danh không chính xác dẫn đến bỏ lọt tội
44
gây rối với vai trò động phạm và bỏ lọt hành vi phạm tội khác:
Nội dung vụ án: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 17-7-2019, anh Vũ Thành
C chở Phương Anh T bằng xe mô tô mượn của anh Trần Mạnh L đến trước
cửa gia đình ông Đồng Văn N ở đường N, phường P, thành phố C, tỉnh Hải
Dương. Tại đây T chửi bới, dùng súng đập vỡ hai ô cửa kính của gia đình ông
N trị giá thiệt hại 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) rồi tiếp tục sang quán
“Cà phê L” ở đường N, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương chửi bới.
Theo T khai dùng tay trái kê súng lên thành cửa sắt phía ngoài còn chân T đạp
vào cổng, súng bị cướp cò, súng nổ nên đã làm vỡ một cánh cửa kính và một
ô cửa kính cường lực của anh Nguyễn Đức M trị giá thiệt hại 3.870.000 đồng.
Khoảng 30 phút sau anh C chở Phương Anh T quay lại quán “Cà phê L”. Lúc
này anh Nguyễn Đức M, Nguyễn Trung H, Vũ Anh T1, Nguyễn Minh S, Trần
Thị Thảo Tr, Hoàng Thị Thanh H1 đang đứng ở rìa đường trước cửa quán, C
chở T đi qua nhóm người trên, T bảo C quay xe lại rồi xuống xe đi bộ về phía
anh S, M, H, T1, Tr đang đứng, C đi xe máy phía sau, T giơ chiếc bật lửa hình
khẩu súng côn quay bằng nhựa lên trời bật một lúc thì phần diêm cháy phát ra
tiếng nổ “đoàng” làm mọi người bỏ chạy, T lên xe máy của C điều khiển về
phía quốc lộ P được khoảng 500m thì gặp S, anh S nói “tao làm gì mày mà
đuổi tao”, T nói “em không có ý định đuổi anh, em chỉ muốn gặp thằng T để
xem hôm nọ làm sao nó đánh em”, anh C chở anh S về quán cà phê L còn C
và T đi về sau đó T bỏ trốn đến ngày 17-12-2019 T bị bắt theo lệnh truy nã.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/2020/HS-ST ngày 24/7/2020 của Tòa
án nhân dân thành phố C, tỉnh Hải Dương đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều
318, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều
48 của BLHS; các Điều 584, 585, 586, 590, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật
dân sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của
Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số:
45
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên phạt Nguyễn Anh T
36 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Ngoài ra, bản án còn tuyên về
trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo theo luật định:
Sau khi nghiên cứu vụ án, tác giả thấy rằng: Trong khoảng thời gian đêm
khuya từ 23 giờ 30 phút ngày 17/7/2019 đến 00 giờ 30 phút ngày 18/7/2019
tại khu dân cư nơi có nhiều người dân sinh sống, việc bị cáo có lời nói chửi
bới, dùng súng phá phách gây ra tiếng nổ đã xâm phạm đến an toàn công
cộng, gây náo động khu dân cư, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an
toàn xã hội trên địa bàn. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Gây rối trật tự công
cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của BLHS (Dùng hung khí
hoặc có hành vi phá phách). Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội danh và
điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, trong vụ án này, T còn có hành vi dùng báng súng chọc vỡ ô
cửa kính nhà ông N gây thiệt hại trị giá 500.000đ tiếp đến dùng súng bắn vỡ
cánh cửa nhà ông M gây thiệt hại trị giá 3.870.000đ. Tổng giá trị thiệt hại
4.370.000đ, với định lượng giá trị thiệt hại trên có dấu hiệu cấu thành tội cố ý
làm hư hỏng tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS, nhưng Tòa án
cấp sơ thẩm không trả hồ sơ để điều tra làm rõ và xử lý có việc súng tự cướp
cò hay không, trong khi có lời khai của bị cáo thừa nhận là dùng súng chọc và
bắn vỡ kính. Tham gia trong cùng vụ án còn có Vũ Thanh C, C là người chở
T đi lấy súng tại cầu P, chở T đến quán cà phê L, biết rõ T dùng súng đập vỡ
kính nhà ông N, dùng súng bắn vào cửa quán L, nhưng vẫn ở đó chờ T thực
hiện xong hành vi sau đó chở T đi trả súng, tiếp theo lại chở T quay lại, biết T
cầm vật có dạng khẩu súng côn quay chĩa vào đám đông, tiếp tục điều khiển
xe qua đám đông, khi T xuống xe dùng súng bắn gây ra tiếng nổ, mọi người
hoảng sợ bỏ chạy, C tiếp tục điều khiển xe chở T đuổi theo anh S, vì vậy C có
46
hành vi giúp sức cho T nhưng không bị xem xét, xử lý là có dấu hiệu của việc
bỏ lọt hành vi của C với vai trò đồng phạm giúp sức ở tội gây rối trật tự công
cộng. Từ những căn cứ nêu trên, Bản án hình sự phúc thẩm số 95/2020/HS-
ST ngày 16/9/2020 của TAND tỉnh Hải Dương xử hủy toàn bộ bản án nêu
trên để điều tra xét xử lại.
- Thứ hai: Sự không đồng nhất về định tội danh giữa Tòa án với Viện
kiểm sát:
Vụ án thứ nhất: Khoảng 20 giờ ngày 03/12/2018 do Nguyễn Văn H và
Phùng Văn N hẹn gặp nhau tại cống C cũ thuộc địa phận thôn C, xã Q, huyện
Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương để đánh nhau. H rủ Vũ Tiến H1 mang theo 01 tuýp
sắt đầu gắn dao nhọn, N rủ theo Phùng Văn Đ, Phùng Văn H2, Trần Văn N,
Trương Văn T, Nguyễn Văn T1, Hoàng Trung K, Thái Thành L, Đỗ Như T3,
Phạm Văn H3, Lê Đức Đ1 đem theo 01 túyp sắt vát nhọn đầu, 01 dao gọt hoa
quả, 01 gậy rút 03 khúc đi xe máy hò hét, ném gạch, vữa bê tông, đuổi đánh
làm H và Vũ Tiến H1 bỏ chạy. Khi H, H1 chạy nấp trong bụi cây giáp tường
bao âu cầu X, thì N, K, H3, Đ, H2, N, L, T3, T đi xe máy vào âu cầu X dùng
đèn xe máy và đèn điện thoại soi tìm mục đích để đánh H, làm anh H phải
nhảy xuống sông cầu X. Sau đó Đ1 quay lại, cùng với T1 dùng gậy rút 3 khúc
đập phá xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại Sirius, màu sơn đỏ đen, đeo biển
số 34N5-6..8, K và T3 đi ra tiếp tục dùng gậy rút 3 khúc và gạch đập phá xe
mô tô nêu trên của Vũ Tiến H1, gây thiệt hại là 2.300.000đ. Tiếp đó khi H3
nói sang bên kia sông chặn tìm H, thì Đ, H2, N, L, T3, T đi xe máy sang bên
kia bờ sông dùng đèn xe máy và đèn điện thoại soi tìm mục đích để đánh H
nhưng không thấy. Hậu quả làm anh H chết do bị ngạt nước. VKSND huyện
T đã truy tố tất cả các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản
điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS.
Qua nghiên cứu hồ sơ tác giả cho rằng hành vi của các bị cáo Phùng
47
Văn N, Phạm Văn H3, Phùng Văn Đ, Phùng Văn H2, Trần Văn N, Thái
Thành L, Trương Văn T, Hoàng Trung K, Đỗ Như T3 có dấu hiệu của tội
"Giết người", các bị cáo K, T3, Đ1, T1 còn có hành vi "Cố ý làm hư hỏng tài
sản", vì: Hành vi của các bị cáo Phùng Văn N, Phạm Văn H3, Phùng Văn Đ,
Phùng Văn H2, Trần Văn N, Thái Thành L, Trương Văn T, Hoàng Trung K,
Đỗ Như T3 sử dụng công cụ tuýp sắt, dao là hung khí nguy hiểm, có thể gây
tổn hại đến sức khỏe, tính mạng cho người khác, nhóm đông người truy đuổi
anh H trong đêm, quyết liệt đến cùng, làm cho anh H phải nhẩy xuống sông
khu vực âu cầu X là khu vực sông rộng, mực nước sâu và tiếp tục truy đuổi,
ném anh H khi nhìn thấy bơi ở dưới sông, phân công người chặn ở bờ sông
bên kia để nếu anh H bơi sang sẽ đánh, nên anh H không thể chạy thoát lên
khỏi sông được. Đây là nguyên nhân gây nên hậu quả anh H bị tử vong. Do
anh H và N có mâu thuẫn từ trước, hẹn đánh nhau, mặc dù về mặt chủ quan
các bị cáo không mong muốn tước đoạt tính mạng của H, nhưng có ý thức bỏ
mặc, chấp nhận hậu quả chết người xẩy ra nên hành vi của các bị cáo Phùng
Văn N, Phạm Văn H3, Phùng Văn Đ, Phùng Văn H2, Trần Văn N, Thái
Thành L, Trương Văn T, Hoàng Trung K, Đỗ Như T3 đã đủ yếu tố cấu thành
tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS. Các bị cáo Lê Đức Đ1, Nguyễn
Văn T1, Đỗ Như T3, Hoàng Trung K có hành vi dùng chân đạp, gậy ba khúc,
tuýp sắt, đập phá xe máy Sirius BKS 34N5-6..8 của anh H và H1 khi bỏ chạy
để lại xe, làm hư hỏng xe, gây thiệt hại giá trị 2.300.000đ, nên đã cấu thành
tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178 BLHS. Ở đây, Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát khởi tố, truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công
cộng” là không đúng, chưa đánh giá hết tính chất, mức độ nguy hiểm của
hành vi phạm tội và không thể giải quyết triệt để vụ án được. Tòa án nhân dân
huyên T, tỉnh Hải Dương đã trả hồ sơ điều tra bổ sung, được VKSND huyện
chấp nhận và chuyển hồ sơ vụ án cho các cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh
48
để giải quyết theo thẩm quyền. Vụ án trên đã được TAND tỉnh Hải Dương xét
xử tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2020HS-ST ngày 27/02/2020 với ba tội
danh "Giết người", "Gây rối trật tự công cộng", "Cố ý làm hư hỏng tài sản"
phù hợp với hành vi của từng bị cáo.
Vụ án thứ hai: Do có mâu thuẫn trong việc H cho S vay nợ tiền, vào
khoảng 22 giờ 30 phút đến 23 giờ ngày 25/11/2018, tại đoạn đường thôn A,
xã N, huyện Tứ Kỳ trước cổng nhà Phạm Văn Đ và ông Phạm Đăng Đ1;
Nguyễn Công H, Nguyễn Xuân T, Phạm Văn M và Vũ Văn Tr đã có hành vi
chửi bới, hò hét, đuổi đánh nhau với anh Phạm Văn S, sau đó H, T, M, Tr đã
cậy gạch ở tường ném nhiều nhát vào nhà ông Đ và ông Đ1, trong đó Tr đã
ném một viên gạch vỡ trúng vào vùng mắt gây tổn thương cơ thể cho ông Đ1
58% sức khỏe. Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố H, M, T về tội gây
rối trật tự công cộng, Tr về tội cố ý gây thương tích. Quan điểm của tác giả
cho rằng, Viện kiểm sát chỉ truy tố Tr về tội "Cố ý gây thương tích" là bỏ lọt
hành vi gây rối trật tự công cộng, bởi lẽ: trước khi thực hiện hành vi gây
thương tích cho ông Đ1, Tr đã cùng với H, M, Toàn có hành vi chửi bới, la
hét, đuổi đánh nhau với anh S trong đêm, gây náo loạn trong thôn, ảnh hưởng
xấu đến an ninh trật tự, hành vi đó đã đủ yếu tố cầu thành tội gây rối trật tự
công cộng, hành vi của Tr gây thương tích cho ông Đ1 là hành vi độc lập, nên
bị cáo phải bị truy tố hai tội mới tương xứng với tính chất hành vi mà bị cáo
gây ra. Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương đã trả hồ sơ cho Viện kiểm
sát để điều tra bổ sung vì có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội gây rối trật tự công
cộng. Tuy nhiên, Viện kiểm sát không chấp nhận việc trả hồ sơ của Tòa án.
Vụ án thứ ba: Vào đêm rạng sáng ngày 06/03/2018, tại tuyến đường
D, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương, hàng trăm thanh niên tụ tập hai
bên đường rú ga inh ỏi, cổ vũ cho nhóm 4 người đang biểu diễn nhấc đầu xe,
phóng đi với tốc độ kinh hoàng. Khi cảnh sát giao thông ập đến thì bắt gọn
49
nhóm 4 đối tượng trên cùng vài chục đối tượng khác đang reo hò cổ vũ. Theo
đó, 4 người trên bị truy tố về hành “Gây rối trật tự công cộng”. Đối với vụ án
này, quan điểm của Tòa án thành phố H cho rằng hành vi của bốn đối tượng
này đã đủ dấu hiệu để cấu thành tội “Đua xe trái phép”, nên phải truy tố về tội
“đua xe trái phép” thì chính xác hơn, nhưng không hiểu sao cơ quan điều tra
lại khởi tố, Viện kiểm sát lại truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Theo ý kiến của tác giả, đối với vụ án thứ nhất, 4 “quái xế” không có
gây thiệt hại gì đến sức khỏe, tài sản của người khác, nếu họ đã từng bị xử
phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án
tích mà còn vi phạm thì mới bị khởi tố về tội đua xe trái phép. Còn nếu 4
“quái xế” này mới bị bắt lần đầu vì hành vi này thì họ bị khởi tố về tội “gây
rối trật tự công cộng” thì hợp lý hơn.
Trong khi đó, ở một vụ án khác, cũng liên quan đến hành vi đua xe trái
phép, sự việc xảy ra như sau: Rạng sáng ngày 23/02/2017, Trần Phúc L chở
bạn Nguyễn Minh T đi chơi ở quán bar về, đến đường Võ Văn K thuộc
phường Y, thành phố C, tỉnh Hải Dương thì thấy một nhóm đua xe đang la hét
cổ vũ. Sẵn hơi men trong người, L tăng tốc phóng theo cổ vũ cho đoàn đua xe
một đoạn, T ngồi phía sau cũng ra sức hò hét cổ vũ cho đoàn đua xe. Tuy
nhiên, vừa mới chạy được một đoạn thì L đã bị lực lượng cảnh sát giao thông
vây bắt cùng với nhóm đua xe. Sau đó, L và T bị khởi tố, truy tố cùng với
nhóm “quái xế” đua xe kia về tội đua xe trái phép. Quan điểm của Tòa án
thành phố C xác định việc L và T bị khởi tố về tội danh đua xe trái phép là
không thỏa đáng và cần trả hồ sơ để điều tra, truy tố T và L về tội danh khác.
Tuy nhiên, tác giả cho rằng L không có chủ ý đua xe, hành vi chạy xe theo là
bộc phát khi thấy đoàn đua xe đi ngang chứ không phải theo đoàn đua ngay từ
đầu, và mục đích chạy theo chỉ để cổ vũ, còn T ngồi phía sau, không điều
khiển xe, và hành vi cũng chỉ là hò hét, cổ vũ mà thôi. Vì lẽ đó hành vi của L
50
và T là hành vi gây rối trật tự công cộng chứ không phải đua xe trái phép.
- Thứ ba: Có sự không đồng nhất trong việc định tội danh giữa Cơ
quan điều tra- Viện kiểm sát.
Có thể xem xét vụ việc sau đây như là một ví dụ điển hình: Vào khoảng
23h ngày 22/09/2018, tại xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương xảy ra một vụ ẩu đả,
dùng mã tấu đánh nhau giữa hai nhóm người. Hậu quả là đã có 3 người bị
thương gồm ông Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn S (con ông Đ) và Lê Hoàng T
được đưa vào cấp cứu tại bệnh viện G. Dù vậy, theo xác nhận của bệnh viện,
do bị quá nhiều vết thương ông Đ đã chết trước khi đến phòng cấp cứu của
bệnh viện G. Sau khi nhận được kết quả của bệnh viện về tình trạng của ông
Đ, một số người thân của ông Đ (khoảng 20 người) đã xông vào phòng cấp
cứu la lối, đe dọa, yêu cầu các bác sĩ chỉ nơi T đang nằm để trả thù.
Công an huyện G không khởi tố vụ án hình sự đối với các đối tượng
côn đồ có hành vi đe dọa hành hung các bác sĩ tại Khoa Cấp cứu bệnh viện G,
bởi vì, sau khi điều tra, xác minh từ người liên quan, người làm chứng và xem
xét hình ảnh lưu lại từ các camera tại bệnh viện, Công an huyện G cho rằng
không đủ yếu tố để khởi tố vụ án hình sự. Nhóm người này chỉ tập trung la
lối, đe dọa bằng lời nói, yêu cầu các bác sĩ chỉ nơi T đang nằm. Không thấy
có đối tượng nào dùng hung khí như dao, mã tấu đe dọa các bác sĩ cũng như
tác động trực tiếp, cản trở các bác sĩ khám chữa bệnh. Chỉ có một đối tượng
cầm theo đòn gánh bằng tre ở bên ngoài phòng cấp cứu nhưng đã bị khống
chế, chưa vào tới bên trong để đe dọa các bác sĩ. Vì vậy chỉ cần xử phạt hành
chính là thỏa đáng.
Quan điểm của Viện kiểm sát huyện G lại cho rằng: hành vi của các đối
tượng này vẫn đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm “Gây rối trật tự công cộng”
(quy định tại điều 318 BLHS). Cụ thể là việc la lối hung hăng, gây náo loạn
của khoảng 20 người tại bệnh viện đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an
51
toàn xã hội và tâm lý của những người làm công tác cứu người tại các tổ chức
y tế, làm gián đoạn hoạt động của bệnh viện một thời gian nhất định, tức là đã
gây ra “hậu quả nghiêm trọng” và “gây đình trệ hoạt động công cộng” theo
quy định tại điểm c khoản 2 Điều 318 BLHS;
Trong vụ án này, tác giả cho rằng có thể khởi tố hành vi của các đối
tượng trên về tội gây rối trật tự công cộng, vì hành vi của họ đã đủ yếu tố cấu
thành tội phạm, có như vậy mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
- Thứ tư: Có sự không đồng nhất trong việc định tội danh giữa Tòa án
các huyện trong cùng tỉnh hoặc giữa Tòa án cấp dưới và Tòa án cấp trên;
Chẳng hạn như hành vi gây rối trật tự công cộng kèm theo hành vi hủy
hoại hoặc làm hư hỏng tài sản hoặc gây thương tích, thậm chí chết người thì
có TAND ở địa phương này xử một tội, nhưng TAND ở địa phương khác lại
xử thành hai tội độc lập. Hoặc là Tòa án cấp dưới có quan điểm 02 tội nhưng
quan điểm của Tòa án cấp tỉnh xác định chỉ có một tội.
Ví dụ: Vụ án ở huyện Th và huyện C xẩy ra đều có tính chất tương tự
nhau, các đối tượng dùng dao, gạch, mã tấu đuổi, hò hét, đánh nhau và vụ án
đều có hậu quả thương tích một người với tỷ lệ % thương tật tương đương
nhau. Tuy nhiên Tòa án huyện C chỉ xét xử một tội “Gây rối trật tự công
cộng”. Tòa án nhân dân huyện Th xử hai tội độc lập “Gây rối trật tự công
cộng” và tội “Cố ý gây thương tích”.
Ví dụ: Do có mâu thuẫn từ trước, nhóm thanh niên A có 10 người hẹn
gặp nhóm thanh niên B 02 người (gọi là B, C) để giải quyết mâu thuẫn. Trước
khi đi, cả hai nhóm đều chuẩn bị hung khí như dao, mã tấu. Khi gặp nhóm B
tại đoạn đường xã X, nhóm A đã tập trung đuổi, la hét, dùng gạch ném, cầm
dao, phóng lợn, tuýp sắt đuổi đánh nhóm B, khiến nhóm B phải chui vào bụi
rậm ẩn nấp, nhóm A dùng đèn soi và dùng gạch đá ném vào bụi rậm, khiến 02
người nhóm B phải tháo chạy, C chạy được lên bờ, B nhẩy xuống sông, đoạn
52
sông này rộng và nước sâu, khi nhìn thấy B bơi, nhóm của A có nhìn thấy và
cầm gạch ném về phía B đang bơi và phân công người sang bờ bên kia xem B
có bơi sang đó không để đánh, sau khi không nhìn thấy B, nhóm A bỏ về, hai
ngày sau xác B nổi lên mặt nước, kết luận giám định xác định B chết là do
ngạt nước. Xung quanh vụ án trên, Tòa án huyện N có quan điểm các bị cáo
thuộc nhóm thanh niên A phạm hai tội là “Gây rối trật tự công cộng” và tội
“Giết người” và vụ án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, sau đó được chuyển
lên cấp tỉnh để giải quyết theo thẩm quyền. TAND tỉnh xác định nhóm của A
chỉ phạm tội giết người và thực tế chỉ xét xử nhóm A phạm tội “Giết người”
theo khoản 2 Điều 123 BLHS.
- Thứ năm: Nhận thức chưa thống nhất về “nơi công cộng” hoặc tình
tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” trong cấu thành
cơ bản của tội danh tại khoản 1 Điều 318 BLHS.
Ví dụ: Vào hồi 18 giờ ngày 27/9/2018, tại quán bia ở đường T, TP H,
tỉnh Hải Dương, nhóm của Nguyễn Văn Long (10 người) có mâu thuẫn với
nhóm của Trương Tuấn Hải (08 người) trong quá trình ăn đêm. Cả nhóm của
Long và nhóm của Hải lao vào đánh nhau, cầm vỏ chai bia, ghế, bát ném nhau
loạn xạ. Trong lúc hỗn chiến, Long rút dao đâm chết Hải, Cơ quan điều tra chỉ
khởi tố về tội “Giết người”. Liên quan đến 16 đối tượng khác cũng cầm vỏ
chai bia, ghế, bát ném, đánh nhau tại quán ăn đêm, cơ quan điều tra kết luận
nơi xảy ra vụ việc là trong khuôn viên quán, không phải nơi công cộng. Do
đó, hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” nên
các đối tượng chỉ bị xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên nhiều ý kiến cho
rằng có dấu hiệu bỏ lọt tội “Gây rối trật tự công cộng”, vì quán ăn đêm cũng
là nơi “công cộng”.
Ví dụ: Trên địa bàn TP C, tỉnh Hải Dương đã xẩy ra một vụ án giữa
nhóm của A (06 người) mâu thuẫn với nhóm của B (04 người) tại một quán
53
hát Karaoke, nhóm của A đuổi đánh nhóm B trong khuôn viên quán, cùng với
đó là hành vi hò hét, chửi bới gây ầm ĩ cả một khu phố C. Cơ quan điều tra đã
đi xác minh với trưởng khu dân cư để xác định vụ việc có “gây ảnh hưởng
xấu đến an ninh, trật tự” hay không làm căn cứ khởi tố vụ án. Có nhiều quan
điểm cho rằng, việc cơ quan điều tra xác minh như vậy là không cần thiết, bởi
vì để xác định tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự” là do các cơ
quan tiến hành tố tụng đánh giá dựa trên cơ sở vụ việc cụ thể và các quy định
của pháp luật. Trường hợp trưởng khu phố C vì nhiều lý do khác nhau và xác
định vụ việc chưa gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự thì cơ quan điều tra
xử lý như thế nào?
- Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội không
chính xác dẫn đến quyết định hình phạt không tương xứng;
Vụ án Phạm Tuấn A và đồng bọn phạm tội gây rối trật tự công cộng:
(Bản án số 39/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của TAND huyện Th, tỉnh Hải
Dương).
Nội dung vụ án: Với mục đích giúp chị Lê Thi Ngọc L đòi được nợ của
anh An Văn C nên sáng ngày 30/10/2019, AT mang 01 súng bắn đạn hoa cải
và 01 viên đạn và rủ Đinh Trọng C đi cùng. Trên đường đi, AT nói cho C biết
mục đích đến để bắn súng đạn hoa cải vào cổng nhà chị Th (chị gái C) gây áp
lực cho gia đình anh C để thu nợ cho chị L. Khi đến cổng nhà chị Th, AT bắn
vào cổng nhà chị Th gây tiếng nổ, rồi C chở AT về. Rạng sáng ngày
26/12/2019, AT cùng với Phạm Xuân D và Phùng Văn T lái xe ô tô mang theo
một số quả pháo nổ vỏ nhựa. Khi đến trước cổng nhà chị Th, AT đưa cho T 04
quả pháo rồi cầm 01 quả pháo châm vào ngòi và ném vào sân nhà chị Th. T
châm ngòi 04 quả pháo ném vào sân nhà chị Th gây ra những tiếng nổ. Sau đó,
AT tiếp tục châm ngòi 01 quả pháo ném ra đầu ngõ gây tiếng nổ. Ngay sau đó,
AT chở D, T về. Tiếp đến rạng sáng ngày 01/01/2020, AT rủ C và D tiếp tục
54
đến nhà chị Th để đốt pháo ném vào nhà chị Th như lần trước. Khi đến cổng
nhà chị Th, AT lấy 01 quả pháo, châm vào dây ngòi pháo ném vào sân nhà chị
Th. Thấy vậy, D cũng lấy 02 quả pháo châm ngòi, ném vào sân nhà chị Th gây
tiếng nổ.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 39/2020/HS-ST ngày 24-6-2020 của Tòa
án nhân dân huyện Th, tỉnh Hải Dương đã xét xử các bị cáo Phạm AT, Đinh
Trọng C, Phạm Xuân D và Phùng Văn T phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g
khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với
Phạm AT và Đinh Trọng C. Xử phạt: Bị cáo Phạm AT 30 (ba mươi) tháng tù,
thời hạn tính từ ngày tạm giam 20/01/2020; bị cáo Đinh Trọng C 26 (hai
mươi sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giam 20/01/2020. Căn cứ vào
khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52;
Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với Phạm Xuân D. Xử
phạt bị cáo Phạm Xuân Dũng 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tính từ
ngày đi chấp hành án; Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, 2
Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với Phùng Văn
T. Xử phạt bị cáo Phùng Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày
đi chấp hành án.
Căn cứ vào vị trí, vai trò của từng bị cáo, tác giả thấy rằng: Đây là vụ
án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Phạm AT là người đề xuất, chuẩn bị
phương tiện, công cụ phạm tội đồng thời thực hiện 03 hành vi gây rối trật tự
công cộng (01 hành vi cùng với Đinh Trọng C, 01 hành vi cùng với Phạm
Xuân D, Phùng Văn T và 01 hành vi cùng với Đinh Trọng C và Phạm Xuân
D), trong đó, có 01 hành vi cùng với Đinh Trọng C sử dụng vũ khí để phạm
tội, nên giữ vai trò chính. Các bị cáo còn lại đều là người thực hành trong vụ
án. Bị cáo Đinh Trọng C thực hiện 02 hành vi gây rối trật tự công cộng, trong
55
đó có 01 hành vi sử dụng vũ khí để phạm tội, giữ vai trò thứ hai trong vụ án.
Bị cáo Phạm Xuân D thực hiện 02 hành vi phạm tội, giữ vai trò thứ ba. Bị cáo
Phùng Văn T thực hiện 01 hành vi phạm tội, giữ vai trò cuối cùng trong vụ
án. Bị cáo Phạm Anh Tuấn và Đinh Trọng Cường dùng vũ khí để phạm tội
nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm b khoản 2 Điều
318 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phạm Xuân Dũng, Phùng Văn Tùng phải
chịu trách nhiệm hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại khoản
1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của
các bị cáo tác giả thấy rằng: Các bị cáo Phạm AT, Đinh trọng C và Phạm
Xuân D đều thực hiện từ 02 đến 03 hành vi phạm tội, nên phải chịu tình tiết
tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên”. Bị cáo Phạm Xuân D đã bị kết án, chưa
được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên phải chịu tình
tiết tăng nặng “tái phạm”. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều
thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ
quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phùng Văn
T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hưởng tình
tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, các bị
cáo AT, T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, cấp
sơ thẩm đã tuyên mức hình phạt đối với Phạm Xuân D 21 tháng tù và Phùng
Văn T 12 tháng tù là nặng. Bởi vì: Phạm Xuân D tuy phải chịu tình tiết tăng
nặng theo điểm g, h khoản 1 Điều 52 BLHS, xong bị cáo bị truy tố tại khoản
1 Điều 318 BLHS có khung hình phạt từ 03 tháng đến 02 năm, bị cáo phạm
tội giữ vai trò thứ yếu trong vụ án, có một tình tiết giảm nhẹ; bị cáo Phùng
Văn T phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi
cư trú ổn định rõ ràng, dù không bắt bị cáo T phải đi chấp hành hình phạt tù
56
mà chỉ cần phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và
giao bị cáo cho UBND xã phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục cũng đủ
tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt.
- Thứ bẩy: Cơ cấu về hình phạt chưa linh hoạt, chủ yếu tập trung vào
hình phạt tù và hình phạt cải tạo không giam giữ:
Trong các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, hình phạt là biện pháp
cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong BLHS, tính
nghiêm khắc của hình phạt được thể hiện người bị kết án sẽ bị Tòa án tước bỏ
hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đón khi họ thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được xác định là tội phạm. Như vậy, tội
phạm và hình phạt là hai phạm trù có quan hệ đặc biệt, hình phạt là một hệ
quả tất yếu của tội phạm, mang tính giai cấp. Khi Tòa án áp dụng hình phạt
đều phải dựa trên các nguyên tắc, mục đích của hình phạt được quy định tại
Điều 31 BLHS. Trong các loại hình phạt chính theo quy định của BLHS,
ngoài hình phạt tù là hình phạt chính, còn có các hình phạt khác được áp
dụng, đó là phạt tiền, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ. Tại khoản 1 Điều 318
BLHS cũng có quy định về hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ và hình
phạt tù là hình phạt chính. Tuy nhiên sau khi nghiên cứu các bản án mà Tòa
án hai cấp đã xét xử đối với 254 bị cáo về tội gây rối trật tự công cộng, gần
như Tòa án rất ít áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính khi mà các bị cáo
có đủ các điều kiện để áp dụng. Hình phạt chính chủ yếu được áp dụng là
hình phạt tù chiếm tỷ lệ 80%, hình phạt cải tạo không giam giữ chiếm tỷ lệ
19%, hình phạt tiền chiếm tỷ lệ 1%. Điều đó cho thấy cơ cấu hình phạt mà
Hội đồng xét xử đã áp dụng chưa đa dạng, linh hoạt trong khi bị cáo có đủ
điều kiện để áp dụng, điều đó đã làm giảm hiệu quả của hình phạt là giáo dục,
57
thuyết phục, răn đe, phòng chống loại tội phạm này.
2.3.2. Nguyên nhân: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những vướng mắc,
hạn chế, bất cập trong việc giải quyết, xét xử tội gây rối trật tự công cộng,
trong đó có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan đó là:
Một là: Mặc dù BLHS năm 2015, được sửa đổi năm 2017 đến nay đã
có hiệu lực được hơn 03 năm. Tuy nhiên quy định về tội gây rối trật tự công
cộng còn một số vướng mắc, bất cập mà chưa có văn bản hướng dẫn để thống
nhất áp dụng trong thực tiễn. Việc tổng kết kinh nghiệm xét xử tội gây rối trật
tự công cộng nói riêng đối với Tòa án các cấp chưa được quan tâm đúng mức,
đặc biệt là chưa có án lệ về tội gây rối trật tự công cộng.
Hai là: Trình độ chuyên môn của một số người tiến hành tố tụng nói
chung và của Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký của Tòa án nhân dân nói riêng
còn hạn chế và chưa đồng đều. Một số Thẩm phán được cử đi học các lớp
nghiệp vụ ngắn ngày, vừa học vừa làm, việc đào tạo không có hệ thống đã
làm cho kiến thức pháp lý của một bộ phận Thẩm phán, công chức còn hạn
chế, phương pháp làm việc vẫn theo lối tư duy cảm tính, chưa mang tính lý
luận, khoa học, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu thận trọng, thậm chí
còn cẩu thả, cá biệt bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài nên chưa khách quan,
còn tiêu cực.
Ba là: Do Thẩm phán bị áp lực vì công việc quá tải, khi mà các vụ án
ngày càng gia tăng về số lượng, phức tạp về tính chất vụ việc thì Tòa án tỉnh
Hải Dương vẫn đang phải thực hiện giảm biên theo quy định. Theo quy định
của TAND tối cao, định mức lao động bình quân của Thẩm phán đối với các
tỉnh đồng bằng (trong đó có Hải Dương) là 72 vụ/năm, tương đương mỗi
tháng phải giải quyết 6 vụ/tháng. Tuy nhiên, ở tỉnh Hải Dương, mức bình
quân từ 8-9 vụ trên tháng. Có nhiều huyện Thẩm phán phải giải quyết 13-14
vụ/tháng, cao gấp đôi so với quy định mức tối thiểu, với áp lực công việc
58
nhiều thì sẽ tỷ lệ nghịch với chất lượng là không cao.
Bên cạnh đó còn một số nguyên nhân khác như: Công tác phối hợp
giữa các cơ quan tiến hành tố tụng nhiều lúc bị động, còn bệnh thành tích khi
bị trả hồ sơ điều tra bổ sung, đã làm giảm hiệu quả phòng chống tội gây rối
trật tự công cộng nói chung; chế độ đãi ngộ đối với công chức và Thẩm phán
còn thấp, chưa đảm bảo cuộc sống của họ và gia đình; trang thiết bị, cơ sở vật
chất phục vụ cho hoạt động xét xử vẫn còn hạn chế...là một trong những
nguyên nhân làm giảm hiệu quả đấu tranh phòng chống đối với loại tội phạm
này trên địa bàn.
Tiểu kết chương 2
Qua nghiên cứu tại Chương 2, tác giả đã nêu khái quát tình hình kinh
tế, xã hội của tỉnh Hải Dương, việc áp dụng pháp luật hình sự về xét xử tội
gây rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Hải Dương từ năm 2016 – 2020.
Qua đó thấy được những kết quả đạt được trong việc định tội danh, quyết
định hình phạt khi xét xử tội gây rối trật tự trên địa bàn, bên cạnh những kết
quả đã đạt được, luận văn cũng nêu ra những vấn đề còn vướng mắc, bất cập
trong thực tiễn khi xét xử tội gây rối trật tự công cộng, có những vụ án cụ thể
để dẫn chứng, chứng minh. Đồng thời tác giả cũng chỉ ra những nguyên nhân,
hạn chế, bất cập đó. Kết quả nghiên cứu ở Chương 2 sẽ làm cơ sở cho người
viết đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự về
59
xét xử tội gây rối trật tự công cộng tại địa bàn tỉnh Hải Dương tại Chương 3.
Chương 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TỘI GÂY
RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
3.1. Quan điểm về hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật đối với tội tội gây rối trật tự công cộng
Theo tinh thần của Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ
Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp, tiến tới xây dựng nhà nước pháp
quyền Việt Nam XHCN, trong chiến lược cải cách tư pháp, Tòa án là cơ quan
thực hiện quyền tư pháp và là trung tâm nhằm nâng cao chất lượng các hoạt
động tư pháp, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo
môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Cùng với xu hướng hội nhập toàn diện, sâu rộng, đặc biệt là
các mối quan hệ chính trị, kinh tế quốc tế, ngoại giao của nước ta đang được
mở rộng và thu được nhiều kết quả tốt. Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển
biến tích cực, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên, các tệ
nạn xã hội chiều hướng tăng, nhiều vụ việc gây bức xúc trong dư luận...;
nhiều loại tội phạm mới xuất hiện và diễn biến phức tạp, trong đó có tội phạm
gây rối trật tự công cộng, đang đặt ra cho Đảng, Nhà nước ta những nhiệm vụ
quan trọng [27]
Với mục đích tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy
định về tội gây rối trật tự công cộng nói riêng và hiệu quả áp dụng quy định
pháp luật hình sự nói chung, trước mắt, Nhà nước cần thực hiện tốt các nhiệm
vụ cấp bách như sau:
Để giữ vững trật tự an toãn xã hội, tạo điều kiện cho mọi người dân
được sống trong môi trường văn minh, an toàn, qua đó phát triển kinh tế, xã
hội... đòi hỏi chúng ta phải có hành lang pháp lý đầy đủ. Do đó việc hoàn
60
thiện hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự là một tất yếu, nhằm
đấu tranh phòng, chống tội phạm, giáo dục mọi người dân chấp hành nghiêm
chỉnh pháp luật.
Mặt khác, sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành và có hiệu lực,
cùng với những quy định mới liên quan đến vấn đề nhân quyền, tỷ lệ các vụ
việc gây rối trật tự công cộng thông qua hình thức tuần hành, biểu tình đang
có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, ranh giới giữa “gây rối trật tự công cộng” và
biểu tình, đấu tranh nhân quyền thực sự là quá mong manh. Trung tướng
Hoàng Kông Tư khẳng định: “Biểu tình vi phạm pháp luật là gây rối trật tự,
ảnh hưởng đến đời sống an toàn xã hội”.
Như vậy, để nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về tội gây rối trật tự
công cộng, việc hoàn thiện hơn nữa quy định của pháp luật về tội danh này là
thực sự cần thiết. Không chỉ hoàn thiện các điều luật liên quan đến các tội
xâm phạm trật tự công cộng, mà các văn bản giải thích, hướng dẫn pháp luật
kèm theo cần được cập nhật đầy đủ, cụ thể, chi tiết hơn để quá trình áp dụng
pháp luật xử lý đối với tội gây rối trật tự công cộng được chính xác, đúng
người, đúng tội; tránh trường hợp mỗi người, mỗi địa phương hiểu một kiểu
và áp dụng pháp luật không đồng nhất với nhau trong quá trình xét xử.
Việc nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về tội gây rối trật tự công cộng
có ý nghĩa to lớn đối với việc bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm
hoạt động bình thường và ổn định của xã hội, qua đó kiên quyết xử lý nghiêm
minh, triệt để và đúng pháp luật tất cả các hành vi xâm phạm trật tự công cộng
ở mức độ khác nhau và bảo đảm tính pháp chế XHCN. Nó cũng bảo đảm ranh
giới rõ ràng giữa việc bao quát các hành vi gây rối trật tự công cộng dưới góc
độ hành chính với hình sự, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi
ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội, của cơ quan, tổ chức và của công dân
mà không vi phạm các nguyên tắc về nhân quyền trong Hiến pháp.
61
Ngoài việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về tội gây rối trật tự
công cộng, để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, còn phải đảm bảo việc
nhận thức đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật của các chủ thể áp dụng
pháp luật.
Trước hết, phải kể đến sự nhận thức từ những cán bộ thuộc cơ quan
tiến hành tố tụng. Một khi các cán bộ này nhận thức đúng đắn và đầy đủ các
quy định của pháp luật về tội gây rối trật tự công cộng, thì việc áp dụng để
tiến hành các hoạt động tư pháp như điều tra, truy tố, xét xử đều sẽ diễn ra
suôn sẻ hơn, có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng nhất hơn giữa các cơ quan tư
pháp.
Ngoài ra, đối với công dân, việc nhận thức đúng đắn và đầy đủ các quy
định của pháp luật sẽ giúp cho công dân hiểu rõ được quyền của mình, tránh
bị thành phần xấu lôi kéo, kích động tham gia vào các vụ việc mang tính chất
gây rối trật tự công cộng. Việc công dân hiểu rõ được quy định của pháp luật,
cũng như quyền của mình cũng góp phần đảm bảo cho công tác điều tra, truy
tố, xét xử được đảm bảo nguyên tắc công bằng của pháp luật.
Thêm vào đó, cần phải áp dụng thống nhất, đồng bộ các quy định của
pháp luật về tội gây rối trật tự công cộng trong quá trình điều tra, truy tố, xét
xử cũng như thống nhất việc áp dụng ở các địa phương khác nhau.
Việc áp dụng thống nhất, đồng bộ các quy định về tội gây rối trật tự
công cộng góp phần nâng cao hiệu quả trong các hoạt động tư pháp như điều
tra, truy tố, xét xử, các biện pháp xử lý vi phạm hành chính; hạn chế hoặc làm
giảm số lượng các vụ án phải xét xử phúc thẩm do bị kháng cáo, kháng nghị
và bị hủy sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán. Điều này góp phần tránh
những lãng phí vô cùng to lớn về thời gian và ngân sách của Nhà nước. Việc
áp dụng thống nhất, đồng bộ các quy định về tội gây rối trật tự công cộng
cũng góp phần tạo ra công bằng xã hội; bởi vì, với cùng một hành vi phạm tội
62
như nhau, kết quả xử lý của các địa phương cũng phải tương đương nhau,
không có sự khác biệt quá lớn. Việc này cũng tăng cường củng cố niềm tin
vào pháp luật trong nhân dân, nhờ đó, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ
biến pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng.
Với sự gia tăng về số lượng và tính chất nghiêm trọng của tội phạm
hình sự nói chung và tội phạm tội gây rối trật tự công cộng nói riêng, yêu cầu
nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong công tác xử lý tội phạm trở nên
cấp bách hơn bao giờ hết. Việc nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật không
chỉ nhằm hướng tới hoàn thiện hệ thống pháp luật tiên tiến mà trên hết là thể
hiện quyết tâm trấn áp tội phạm của Nhà nước ta, dần dần loại bỏ tội phạm ra
khỏi đời sống xã hội, góp phần ổn định đời sống xã hội, bảo vệ các quan hệ
xã hội, bảo vệ công dân và Nhà nước.
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với tội
tội gây rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Hải Dương
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật
Thứ nhất: Hoàn thiện quy định của BLHS về cấu thành cơ bản của
tội gây rối trật tự công cộng:
Trước đây, BLHS năm 1999 quy định về tội gây rối trật tự công cộng
tại Điều 245 với tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” là tình tiết định tội.
Nay, BLHS năm 2015 quy định tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh,
trật tự, an toàn xã hội” là tình tiết định tội của tội gây rối trật tự công cộng.
Có thể nói đây là quy định hoàn toàn mới và có sự thay đổi căn bản trong cấu
thành tội phạm. So sánh giữa hai tình tiết này, chúng ta thấy tình tiết “gây hậu
quả nghiêm trọng” của tội gây rối trật tự công cộng trong BLHS năm 1999 nó
bao hàm cả yếu tố hậu quả về vật chất và hậu quả phi vật chất. Còn tình
tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” trong BLHS
năm 2015 dường như chỉ có hậu quả về phi vật chất. Có ý kiến cho rằng,
63
vậy “gây hậu quả nghiêm trọng” trong BLHS năm 1999 và “gây ảnh hưởng
xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” trong BLHS năm 2015 thì tình tiết
nào được coi là nặng hơn, tình tiết nào được coi là nhẹ hơn để áp dụng
nguyên tắc có lợi khi chúng ta xử lý tội phạm này xảy ra trước ngày BLHS
năm 2015 có hiệu lực thi hành?
Về tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” trong BLHS năm 1999, tại
tiểu mục 5.1 Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn:
“5.1. Hành vi gây rối trật tự công cộng mà để hậu quả xảy ra thuộc
một trong các trường hợp sau đây bị coi là “gây hậu quả nghiêm trọng” và
phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 245 BLHS:
a. Cản trở, ách tắc giao thông đến dưới 2 giờ;
b. Cản trở sự hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân;
c. Thiệt hại về tài sản có giá trị từ mười triệu đồng trở lên;
d. Chết người;
đ. Người khác bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ thương
tật từ 31 % trở lên;
e. Nhiều người bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ thương
tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những
người này từ 41% trở lên;
g. Người khác bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ thương
tật từ 21% đến 30% và còn thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm triệu đồng trở
lên;
h. Nhiều người bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ thương
tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những
người này từ 30% đến 40% và còn thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm triệu
64
đồng trở lên”…[20]
Như vậy, tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” trong BLHS năm 1999
đã được hướng dẫn và được áp dụng trong thực tiễn. Khi BLHS 2015 ban
hành, chúng ta thấy một số điểm đã được đưa vào định khung tăng nặng, một
số điểm không còn phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm.
Còn đối với tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã
hội” trong BLHS năm 2015 đến nay chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng, gây
nhiều vướng mắc, bất cập trong việc đấu tranh xử lý các đối tượng có hành vi
gây rối trật tự công cộng. Thực tế có vụ án, hai nhóm đối tượng có hành vi
mang theo hung khí, khi gặp nhau trên đường phố đã có hành vi đuổi đánh
nhau, trong lúc đuổi đánh nhau đã dùng hung khí đập phá làm hư hỏng các xe
mô tô, kết luận định giá tài sản thiệt hại trị giá 15 triệu đồng. Tài liệu, chứng
cứ không xác định được đối tượng nào đã trực tiếp đập phá xe mô tô nên
không đủ căn cứ để khởi tố bị can về tội cố ý làm hư hỏng tài sản. Tuy nhiên,
đã đủ căn cứ xác định các đối tượng có hành vi đuổi, đánh nhau gây mất trật
tự trên đường phố. Theo Nghị quyết 02/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao thì hành vi của các đối tượng đã gây hậu quả nghiêm trọng vì
đã gây “Thiệt hại về tài sản có giá trị từ mười triệu đồng trở lên”. Tuy nhiên,
hậu quả này không được coi là “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an
toàn xã hội” để khởi tố về tội gây rối trật tự công cộng theo Điều 318 BLHS
năm 2015.
Theo quan điểm của tác giả, tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh,
trật tự, an toàn xã hội” là mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra, là hậu quả
phi vật chất. Tại tiểu mục 5.1 Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày
17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn:
“Ngoài các hậu quả xảy ra về tính mạng, sức khoẻ và tài sản được hướng dẫn
trên đây, thực tiễn cho thấy có thể còn có hậu quả phi vật chất như có ảnh
65
hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước,
gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, ngoại giao, đến trật tự, an toàn xã
hội...” [20].
Đến nay chưa có văn bản nào bãi bỏ Nghị quyết số 02/2003 của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, vì vậy tác giả mạnh dạn đề xuất áp
dụng điểm a. Cản trở, ách tắc giao thông đến dưới 2 giờ; b. Cản trở sự hoạt
động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn
vị vũ trang nhân dân; đoạn 2 và đoạn 3 điểm h “có ảnh hưởng xấu đến việc
thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây ảnh
hưởng xấu đến an ninh, ngoại giao, đến trật tự, an toàn xã hội” tiểu mục 5.1
Nghị quyết 02/2003 hướng dẫn về tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, quy
định tại Điều 245 BLHS năm 1999 để giải quyết các vụ án gây rối trật tự công
cộng với tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã
hội” quy định tại khoản 1 Điều 318 BLHS năm 2015. Tuy nhiên đây chỉ là ý
kiến cá nhân của người viết, tác giả kiến nghị liên ngành Tư pháp Trung ương
cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an
ninh, trật tự, an toàn xã hội” quy định tại khoản 1 Điều 318 BLHS năm 2015
để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất trong thực tiễn.
Thứ hai: Cần hướng dẫn chi tiết một số tình tiết định khung khoản 2
Điều 218 BLHS:
Trong các tình tiết định khung khoản 2 Điều 218 BLHS, đến nay có
một số tình tiết chưa có văn bản hướng dẫn để thống nhất áp dụng trong thực
tiễn:
Một là: Tình tiết “có hành vi phá phách”: Trong thực tiễn, hành vi gây
rối trật tự công cộng thường kèm theo là hành vi phá phách và đây là hậu quả
vật chất phải được xác định cụ thể. Có nghĩa là hành vi phá phách phải gây ra
66
hậu quả làm cho tài sản mất hẳn giá trị sử dụng hoặc làm tài sản bị mất một
phần hoặc giảm giá trị, giá trị sử dụng nhưng ở mức độ có thể khôi phục lại
được. Tuy nhiên hành vi phá phách gây thiệt hại tài sản bao nhiêu thì cấu
thành tình tiết định khung này cũng cần phải được hướng dẫn cụ thể bởi, nếu
hành vi phá phách dẫn đến hậu quả thiệt hại tài sản từ 2.000.000 đồng trở lên
có thể bị truy tố về tội “hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy
định tại Điều 178 BLHS. Lý do mà tác giả nêu ra vấn đề này, vì thực tiễn xét
xử ở địa phương, cùng với hành vi gây rối trật tự công cộng mà người phạm
tội còn có hành vi phá phách gây thiệt hại tài sản từ 2.000.000 đồng trở lên,
quan điểm của Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo gây rối trật tự công cộng
với tình tiết định khung có hành vi phá phách và xét xử bị cáo theo tình tiết
định khung điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc
thẩm xác định, ngoài hành vi gây rối trật tự công cộng, bị cáo còn có dấu hiệu
của tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Điều 178 BLHS, việc Tòa án cấp sơ
thẩm không trả hồ sơ để điều tra bổ sung là có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội
phạm và hủy án sơ thẩm để điều tra xét xử lại. Theo ý kiến cá nhân tác giả đề
xuất nếu hành vi phá phách gây thiệt hại tài sản đến dưới 2.000.000 đồng thì
bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tình tiết này để đảm bảo thống nhất áp
dụng pháp luật.
Hai là: Đối với tình tiết “Gây cản trở giao thông nghiêm trọng” quy
định tại điểm c khoản 2 Điều 218 BLHS. Tác giả đề xuất liên ngành trung
ương hướng dẫn như tiểu mục 5.2 mục 5 phần I Nghị quyết 02/2003/NQ-
HĐTP ngày 17/4/2003 của HĐTP TAND tối cao đó là: “gây cản trở giao
thông từ 2 giờ trở lên hoặc gây cản trở giao thông ở những tuyến giao thông
quan trọng, làm ách tắc giao thông trên diện rộng” (không phân biệt thời
gian bao lâu);
Ba là: Đối với tình tiết “Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự
67
công cộng” cũng cần hướng dẫn thế nào được coi là “người can thiệp bảo vệ
trật tự công cộng” để phân biệt với người thi hành công vụ. Tác giả đề xuất
hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng là trường hợp trong khi
thực hiện hành vi gây rối, có người can ngăn hoặc yêu cầu chấm dứt hành vi
gây rối nhưng người có hành vi gây rối chẳng những không nghe mà còn có
hành vi hành hung như xúc phạm, đánh họ và người bảo vệ trật tự công cộng
ở đây không phải là người thi hành công vụ. Bởi theo quy định tại khoản 1
Điều 3 Nghị định số 208/2013/NĐ-CP Quy định các biện pháp phòng ngừa,
ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ đã xác định gồm:
cán bộ, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc lực lượng công an nhân
dân được tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao quyền thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm
phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội thì đều là người thi hành
công vụ.
Vì vậy, trường hợp nếu người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng là
người đang thi hành công vụ bảo vệ trật tự nơi công cộng mà người phạm tội
có hành vi hành hung đối với người này thì thuộc trường hợp chống người thi
hành công vụ và bị xử lý theo Điều 330 BLHS; nếu gây thương tích thì thuộc
trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
người khác quy định tại Điều 134 BLHS.
Thứ ba: Đề xuất bổ sung tình tiết định khung theo khoản 2 Điều 318
BLHS
Để đảm bảo xử lý triệt để các hành vi gây rối trật tự công cộng, tác giả
68
đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 318 BLHS năm 2015 như sau:
Quy định khoản 2 Điều 318 BLHS Đề xuất sau khi sửa đổi, bổ sung
2015
2. Phạm tội thuộc một trong các 2. Phạm tội thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
02 năm đến 07 năm 02 năm đến 07 năm
a) Có tổ chức; a) Có tổ chức;
b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc thủ
hành vi phá phách; đoạn nguy hiểm khác;
c) Gây cản trở giao thông nghiêm c) Có hành vi phá phách;
trọng hoặc gây đình trệ hoạt động
công cộng;
d) Xúi giục người khác gây rối; d) Gây cản trở giao thông nghiêm
trọng hoặc gây đình trệ hoạt động
công cộng;
đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ đ Xúi giục người khác gây rối;
trật tự công cộng;
e) Tái phạm nguy hiểm. e) Hành hung người can thiệp bảo vệ
trật tự công cộng;
g) Tái phạm nguy hiểm.
Thứ tư: Cần hướng dẫn xử lý trường hợp người thực hiện hành vi
gây rối nhưng gây ra nhiều hậu quả
Thực tiễn xét xử cho thấy, người thực hiện hành vi gây rối trật tự công
cộng thường gây ra nhiều hậu quả như gây thương tích, làm chết người. Do
69
chưa có hướng dẫn nên cùng vụ án có tính chất như nhau nhưng có Tòa án xử
một tội, có Tòa án xử hai tội hoặc Tòa án cấp huyện xác định hai tội nhưng
Tòa án cấp tỉnh xác định một tội. Về vấn đề này, tác giả xin mạnh dạn kiến
nghị, đề xuất như sau: Trường hợp người hành vi gây rối trật tự công cộng
không tác động trực tiếp để gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng cho người
khác như đâm, chém, ném mà gây ra hậu quả thương tích, chết người, trong
trường hợp này người có hành vi gây rối sẽ bị xử lý hình sự tương ứng với
hậu quả gây ra: Ví dụ: Vì có mâu thuẫn với nhóm B, nhóm A dùng xe máy,
tuýp sắt hò hét, đuổi nhóm B, nhóm B bỏ chạy vào còn đường cùng không
còn cách nào khác nhẩy xuống ao, xuống sông hoặc đâm vào cột mốc tai nạn
làm nhóm B chết. Trong trường hợp này, nhóm A sẽ bị truy tố về tội tương
ứng nặng nhất là “Giết người”. Trường hợp ngoài việc thực hiện hành vi gây
rối, người phạm tội còn tác động trực tiếp đến các khách thể khác được luật
hình sự bảo vệ mà mỗi hành vi đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì ngoài tội
gây rối trật tự công cộng, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về các tội danh tương ứng, nghĩa là cấu thành tội nào sẽ bị xử lý về tội đó. Ví
dụ: A cầm vũ khí đến nhà B chửi bới, hò hét trong đêm khuya gây ầm ĩ khu
phố, nhìn thấy B chạy ra, A đuổi dùng dao chém gây thương tích cho B.
Trong trường hợp này phải xử lý A về hai tội gây rối trật tự công cộng và cố ý
gây thương tích. Tuy nhiên đây chỉ là ý kiến cá nhân, tác giả đề nghị liên
ngành Tư pháp Trung ương cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể nội
dung này để thống nhất áp dụng trong thực tiễn.
3.2.2. Tổng kết kinh nghiệm xét xử.
Công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử giúp cho hệ thống Tòa án có điều
kiện tìm ra những nguyên nhân sai lầm khi áp dụng các quy phạm pháp luật,
đưa ra những đánh giá thực chất về sự chính xác, phù hợp với thực tiễn của
các quy phạm pháp luật hình sự sau khi được Nhà nước ban hành: Những quy
70
phạm pháp luật nào phát huy tác dụng tốt và có ý nghĩa lớn trong công tác đấu
tranh phòng, chống tội phạm và giải quyết vụ án hình sự một cách thuận lợi,
chính xác và nhanh chóng; những quy phạm pháp luật nào đã được xây dựng
đúng nhưng chưa đủ, còn cứng nhắc, không đáp ứng được yêu cầu của đời
sống xã hội hoặc khó để vận dụng vào thực tiễn khi giải quyết vụ án hình sự;
và những quy phạm pháp luật hình sự nào chưa thực sự phù hợp hoặc không
còn phù hợp, không có tính khả thi.v.v... khiến cho việc vận dụng các quy
phạm này dễ dẫn tới sai lầm trong giải quyết vụ án hình sự. Vì vậy, hàng năm,
TAND tối cao cần có nhưng tổng kết kinh nghiệm xét xử về tội gây rối trật tự
công cộng. Đây vừa là cơ sở để các Tòa án hai cấp ở tỉnh Hải Dương nói
riêng và hệ thống Tòa án cả nước nói chung thống nhất áp dụng pháp luật,
vừa là cơ sở để các cơ quan pháp luật sửa đổi, hoàn thiện pháp luật. Bởi vì các
quy định của pháp luật hình sự luôn ở trạng thái tĩnh tương đối, không phải
lúc nào cũng phù hợp với thực tiễn xã hội, khi xã hội thay đổi, những vấn đề
mới phát sinh thì các quy phạm pháp luật hình sự cũng cần sửa đổi để phù
hợp với sự biến đổi đó.
3.2.3. Ban hành án lệ về tội “Gây rối trật tự công cộng”
Có thể nói, án lệ là một trong những nguồn pháp luật quan trọng, được
vận dụng và áp dụng trong thực tiễn giải quyết, xét xử các loại vụ án được
chính xác, đạt hiệu quả. Với ý nghĩa đó, những năm qua, TAND tối cao đã lỗ
lực, tập trung, ban hành được tổng số 29 án lệ về các loại án. Tuy nhiên trong
06 án lệ về lĩnh vực hình sự chủ yếu tập trung ở các tội giết người, cướp tài
sản, tham ô tài sản… mà chưa có án lệ về tội gây rối trật tự công cộng. Tác
giả đề xuất trong thời gian tới, TAND tối cao sớm ban hành án lệ về tội danh
trên làm cơ sở cho việc thống nhất áp dụng pháp luật đạt hiệu quả.
3.2.4. Thống nhất nhận thức “nơi công cộng”
Thực tiễn hành vi gây rối trật tự tại các quán Karaoke, quán ăn, rạp
71
chiếu phim, phương tiện vận tải, đám cưới, đám hiếu…xẩy ra là phổ biến.
Tuy nhiên đây có được xác định là những nơi công cộng không thì còn nhiều
ý kiến khác nhau, có người cho rằng đây cũng là nơi công cộng và hành vi đủ
yếu tố cấu thành tội gây rối trật tự công cộng thì vẫn xử lý được. Tuy nhiên
vẫn có cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng ở các
cơ quan trên cho rằng đây không phải là những nơi công cộng nên chỉ bị xử lý
hành chính mặc dù đã thỏa mãn các dấu hiệu khác của tội danh. Nghiên cứu
về nội dung này, tác giả thấy rằng: Hiện nay, pháp luật chưa quy định thống
nhất về nơi công cộng mà tại các văn bản Luật, văn bản dưới luật xác định về
nơi công cộng như sau: Luật phòng chống tác hại thuốc lá năm 2012 xác định
xác định: Địa điểm công cộng là nơi phục vụ chung cho nhu cầu của nhiều
người. Nghị định số 24/2020/NĐ-CP hướng dẫn Luật Phòng, chống tác hại
của rượu, bia thì các địa điểm công cộng không được uống rượu, bia bao
gồm:
+ Công viên, trừ trường hợp nhà hàng trong phạm vi khuôn viên của
công viên đã được cấp phép kinh doanh rượu, bia trước ngày Nghị định này
có hiệu lực.
+ Nhà chờ xe buýt.
+ Rạp chiếu phim, nhà hát, cơ sở văn hóa, thể thao trong thời gian tổ
chức các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ và công năng sử dụng chính
của các địa điểm này, trừ trường hợp tổ chức các lễ hội ẩm thực, văn hóa có
sử dụng rượu, bia [25].
Trong khi nơi công cộng là nhà văn hóa, nhà hát, trung tâm văn hóa,
nhà triển lãm, các câu lạc bộ, cơ sở lưu trú du lịch, sân vận động, nhà thi đấu
thể thao, quảng trường, phương tiện vận tải hành khách công cộng và các
phương tiện, địa điểm khác có tổ chức các hoạt động văn hóa và kinh doanh
dịch vụ văn hóa, nhà nghỉ, nhà khách, nhà hàng giải khát, ăn uống, các cửa
72
hiệu, cửa hàng lại được quy định tại Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày
06/01/2009 của Chính phủ ban hành quy chế hoạt động văn hóa và kinh
doanh dịch vụ văn hóa công cộng.
Mặc dù chưa có quy định thống nhất nhưng từ những quy định trên có
thể xác định nơi công cộng là nơi phục vụ chung cho nhiều người và không
chỉ giới hạn ở ngoài trời, không gian “mở” mà còn được hiểu là những địa
điểm “kín”, mà hành vi gây rối trật tự ở những địa điểm trên đủ yếu tố cấu
thành tội phạm thì vẫn bị xử lý về hình sự. Đây là ý kiến riêng của tác giả, đề
nghị liên ngành Trung ương cũng cần có văn bản giải thích, hướng dẫn để
thống nhất về nội dung này.
3.2.5. Giải pháp về nâng cao nhận thức năng lực, trình độ chuyên
môn, đạo đức nghề nghiệp, kiện toàn tổ chức, đổi mới tác phong làm việc,
chế độ đãi ngộ cho Thẩm phán- Hội thẩm nhân dân trong hệ thống Tòa án.
Như chúng ta đã biết, cùng với chức năng xét xử, thực hiện quyền tư
pháp đã được gắn với Tòa án theo Điều 102 Hiến pháp năm 2013 của nước
CHXHCN Việt Nam. Trong đó, nội dung quyền tư pháp là đưa ra các phán
quyết thông qua xét xử và chủ thể đưa ra các phán quyết không ai khác chính
là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Vì vậy, việc nâng cao trình độ, kỹ năng
cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân giữ vai trò quyết định đến việc đưa ra
các phán quyết chính xác, công bằng, đúng pháp luật. Ở Tòa án hai cấp tỉnh
Hải Dương hiện nay, đa số các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đều được
đào tạo bài bản, có kỹ năng, trình độ chuyên môn. Tuy nhiên do hệ thống
pháp luật của nước ta luôn sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, cùng
với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, đòi hỏi đội ngũ Thẩm phán và
Hội thẩm phải thường xuyên cập nhật pháp luật kịp thời để áp dụng một cách
chính xác. Để nâng cao trình độ, kỹ năng, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề
73
nghiệp cho Thẩm phán và Hội thẩm, chúng ta cần tập trung các giải pháp sau:
Một là: Mỗi Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cần phải tự học tập,
nghiên cứu để nâng cao kỹ năng, trình độ về chuyên môn nghiệp vụ. Coi đó là
một nhiệm vụ thường xuyên, có như vậy, Thẩm phán và Hội thẩm mới có đủ
năng lực, bản lĩnh chính trị để đưa ra các phán quyết chính xác.
Hai là: Thường xuyên mở các lớp đào tạo, các lớp tập huấn chuyên đề
cho Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Trong đó riêng Hội thẩm nhân dân đa
số là các cán bộ về hưu hoặc những người đang làm trong các lĩnh vực khác
nhau, thì việc lựa chọn trình độ đào tạo làm sao cho phù hợp, việc lựa chọn
bầu Hội thẩm nhân dân (tức đầu vào) phải hết sức thận trọng, kỹ lưỡng, ưu
tiên những người có trình độ pháp luật.
Ba là: Đảm bảo tính độc lập khi xét xử: Việc độc lập khi xét xử cũng
giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử, trong
đó bao gồm các nội dung: Hội đồng xét xử độc lập với các cơ quan khác;
Thẩm phán cấp dưới độc lập với Tòa án cấp trên và độc lập giữa các thành
viên của Hội đồng xét xử (cụ thể là giữ Thẩm phán và Hội Thẩm xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật). Để Thẩm phán độc lập khi xét xử, cần có chế
độ bổ nhiệm phù hợp, thậm chí là có thể bổ nhiệm suốt đời, có chế độ thù lao
thỏa đáng. Đối với Hội thẩm nhân dân, Nhà nước cũng cần phải có chế độ đãi
ngộ phù hợp, tạo động lực để họ tích cực tham gia công hiến cho Tòa án và
nền tư pháp.
Bốn là: Tăng cường bổ sung biên chế, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho
Tòa án: Đến nay, Tòa án hai cấp tỉnh Hải Dương đã giảm được gần đủ 10%
biên chế theo Nghị quyết số 39/NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương. [26].
Trong điều kiện số lượng các loại án tiếp tục tăng hàng năm nhưng biên
chế giảm nhưng vẫn phải bổ nhiệm Thẩm phán dẫn đến thiếu hụt Thư ký trầm
trọng. Hiện nay có Tòa án địa phương một Thư ký phải giúp việc cho 2 đến 3
74
Thẩm phán. Vì vậy, tác giả kiến nghị các cơ quan Trung ương cho giữ nguyên
biên chế được phân bổ và chủ động điều động thẩm phán trung cấp, sơ cấp
thuộc mình quản lý. Đề nghị Nhà nước tăng cường đầu tư cơ sở vật chất,
trang thiết bị cho Tòa án, cụ thể là xây dựng mới Hội trường xét xử, vì đa số
các hội trường xét xử của các Tòa án cấp huyện trong địa bàn đều đã được
xây dựng từ lâu, xuống cấp trầm trọng, không gian trật hẹp, trong khi những
vụ án gây rối trật tự công cộng đa số là đông bị cáo, nhiều người đến tham dự
phiên tòa, người dân ngồi tràn cả ra đường gây mất mỹ quan và không thể
hiện sự tôn nghiêm nơi chốn công đường, ảnh hưởng chất lượng xét xử.
3.2.6. Tăng cường phối hợp giữa cơ quan điều tra, truy tố, xét xử
trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng: là quan hệ phát
sinh trong quá trình các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn theo luật định để hỗ trợ, chế ước lẫn nhau, tạo điều kiện cho
nhau khi giải quyết vụ án về gây rối trật tự công cộng.
Mối quan hệ này được hình thành một cách tất yếu, xuất phát từ quy
định của pháp luật về các giai đoạn tố tụng, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình. Trong đó giai đoạn trước là tiền đề cho giai đoạn tố tụng
sau. Giai đoạn sau có làm tốt được hay không phụ thuộc vào kết quả giai đoạn
tố tụng trước.
Hiện nay, cơ quan tố tụng trung ương và cấp tỉnh đều có quy chế phối
hợp; ở cấp huyện có nơi có xây dựng quy chế phối hợp, có nơi chưa xây dựng
thành quy chế. Dù có xây dựng hay không xây dựng thì thực tiễn, các cơ quan
tiến hành tố tụng vẫn phải phối hợp với nhau trong quá trình giải quyết các vụ
án hình sự. Thực tiễn cũng đã chỉ ra, ở địa phương nào, các cơ quan tiến hành
tố tụng phối hợp tốt với nhau, việc giải quyết các vụ án hình sự được thực
75
hiện nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật.
Mốn tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đạt
hiểu quả, chúng ta phải nhận thức và thực hiện đúng nội dung phối hợp, đó là:
- Mối quan hệ phối hợp này được chi phối và điều chỉnh bởi quy định
của BLTTHS, với mục tiêu cuối cùng là xử lý các vụ án gây rối trật tự công
cộng một cách nhanh chóng, kịp thời, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Phạm vi nội dung phối hợp: ngay từ thời điểm giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm, trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử,
- Các nội dung phối hợp được thể hiện qua hình thức: Trao đổi trực
tiếp; trao đổi bằng văn bản, họp liên ngành;
- Nguyên tắc phối hợp: Trao đổi để thống nhất trong nhận thức pháp
luật, nhưng không làm mất đi tính độc lập, tuyệt đối không áp đặt, định hướng
vụ việc. Vì mỗi cơ quan đều có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được
BLTTHS quy định, có quyền ra quyết định độc lập và chịu trách nhiệm trước
pháp luật.
Tiểu kết chương 3
Những vướng mắc, hạn chế, bất cập đã nghiên cứu ở Chương 2 là cơ sở
để tác giả làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật tại Chương 3, đồng
thời đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng định tội
danh, áp dụng pháp luật để giải quyết, xét xử tội gây rối trật tự công cộng, nêu
ra những giải pháp hoàn thiện các quy định của BLHS về tội gây rối trật tự
công cộng, kiến nghị các cơ quan trung ương cần sớm ban hành văn bản
hướng dẫn để thống nhất áp dụng pháp luật, các giải pháp kiện toàn cơ cấu tổ
chức, nâng cao năng lực, tinh thần trách nhiệm của công chức, Thẩm phán,
Hội thẩm, sự phối hợp của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của giải quyết, xét xử các vụ án gây
76
rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
KẾT LUẬN
Thông qua kết quả nghiên cứu của luận văn, tác giả đã nêu khái quát
được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của an ninh trật tự, những vấn đề lý luận
và thực tiễn của sự cần thiết phải quy định trong pháp luật hình sự, từ khái
niệm, các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, so sánh với một số loại tội có cùng tính
chất để thấy rõ sự khác biệt khi định tội. Kết quả nghiên cứu còn cho chúng ta
thấy được bức tranh tổng quát các quy định của pháp luật hình sự về tội gây
rối trật tự công cộng từ năm 1945 đến thời điểm hiện nay.
Kết quả nghiên cứu tại Chương 2 cho thấy tình hình thực tiễn áp dụng
pháp luật hình sự trong xét xử các vụ án gây rối trên địa bàn tỉnh Hải Dương,
những mặt tích cực đã đạt được và những vướng mắc, hạn chế, bất cập và chỉ
rõ nguyên nhân để từ đó tác giải đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật.
Tác giả hy vọng rằng với công trình nghiên cứu trên sẽ góp phần quan
trọng trong việc hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự và nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn xét xử tội gây rối trật tự
công cộng trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Với thời gian không nhiều và kiến
thức có hạn, luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết.
77
Tác giả tiếp tục sẽ tìm tòi, nghiên cứu và hoàn thiện trong thời gian tới.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trịnh Tiến Việt, An ninh phi truyền thống, Tạp chí Nhân lực Khoa
học xã hội, số 5, 2017
2. Thái Xuân Đệ (2019), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hải Phòng, tr. 147,
886.
3. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb
Từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội.tr.809;
4. Viện từ điển bách khoa (1999), Từ điển bách khoa Việt Nam – tập 3,
Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.755
5. Vũ Thế Công (2007), Trật tự công cộng và một số biện pháp phòng
chống gây rối trật tự công cộng, NXB Công an nhân dân, Hà Nội. tr.25
6. Phạm Văn Beo (2010), Bài 10 - Các tội xâm phạm an toàn công
cộng, trật tự công cộng, Trong sách: "Luật hình sự Việt Nam" (Quyển 2 -
Phần các tội phạm), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. tr.13
7. Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học BLHS - Phần các tội
phạm, Tập IX, Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Nxb
Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.tr.7
8. Quốc hội (2015), BLHS, Hà Nội.
9. Bùi An Giôn (2015), Về tội gây rối trật tự công cộng quy định tại
Điều 318 BLHS năm 2015, Tạp chí Tòa án nhân dân số 15, tr 25-28, 48
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2020), Nghị quyết đại hội lần thứ 13 của
Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
11. Tòa án nhân dân tối cao (1976), Hệ thống hóa luật lệ về hình sự,
Tập I (1945-1975), Hà Nội.
12. Hiến pháp Việt Nam năm (1946, 1959, 1980 và 1992) (1995), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
78
13. Quốc hội (1985), BLHS, Hà Nội.
14. Quốc hội (1999), BLHS, Hà Nội.
15. Quốc hội (2015), BLHS, Hà Nội.
16. Quốc hội (2009), BLHS sửa đổi, bổ sung, Hà Nội.
17. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội.
18. Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội.
19. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2003), Nghị quyết số
02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 "Hướng dẫn áp dụng một số quy định
của BLHS", Hà Nội
20. Tòa án nhân dân Tối cao, Những điểm mới của BLHS năm 2015
(Tài liệu tập huấn của ngành Tòa án nhân dân năm 2015).
21. Trần Minh Hưởng (2014), Bình luận khoa học BLHS (được sửa đổi,
bổ sung), NXB Hồng Đức.
22. Cổng thông tin điện tử tỉnh Hải Dương,
http://haiduong.gov.vn/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=4353&title=dieu-
kien-tu-nhien-xa-hoi.html
23. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, Báo cáo tổng kết các năm 2016,
2017, 2018, 2019, 2020.
24. Chính phủ (2020), Nghị Định 64/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một
số điều của luật phòng, chống tác hại của rượu, bia, Hà Nội.
25. Nghị quyết 39/NQ-TW ngày 17/4/2015 của Ban chấp hành trung
ương.
26. Trịnh Tiến Việt, Nguyễn Thanh Hải (2010), Tội gây rối trật tự công
cộng trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. tr.11-12
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
2/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội
28. Nguyễn Ngọc Hòa (2018), Bình luận khoa học BLHS năm 2015-
79
sửa đổi bổ sung năm 2017 phần các tội phạm, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
29. Đinh Văn Quế (Chủ biên) (2018), Chuyện pháp đình (bình luận
án), Nxb. Thông tin và truyền thông. Hà Nội.
30. Quốc hội (2013), Hiến pháp Việt Nam sửa đổi, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội
31. Quốc hội (2012), Luật xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.
31. Tòa án nhân dân tối cao (1990), Các văn bản về hình sự, dân sự và
tố tụng, Hà Nội, tr.3-4
32. Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2020/HS-ST ngày 16/7/2020 của
TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
33. Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2020/HS-ST ngày 24/6/2020 của
TAND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
34. Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2019/HS-ST ngày 04/10/2019 của
TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương)
35. Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2020/HS-ST ngày 07/02/2020 của
TAND tỉnh Hải Dương.
36. Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2020/HS-ST ngày 30/9/2020 của
TAND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
37. Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2020/HS-ST ngày 24/7/2020 của
TAND thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
38. Bản án hình sự phúc thẩm số 95/2020/HS-ST ngày 16/9/2020 của
TAND tỉnh Hải Dương.
39. Võ Khánh Vinh (2013), Giáo trình Lý luận chung về định tội danh,
Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
40. Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2014), Giáo trình Luật Hình Sự Việt
Nam – Phần các tội phạm, Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam, NXB
80
Khoa học xã hội, Hà Nội.

