intTypePromotion=1

Luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế: Pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: ViJensoo ViJensoo | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:65

0
14
lượt xem
0
download

Luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế: Pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế "Pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay" trình bày những vấn đề về lý luận pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng; Thực trạng pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay; Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế: Pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay

  1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ---------- TRỊNH HOÀNG MINH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ THÔNG TIN CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ Hà Nội, năm 2021
  2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ---------- TRỊNH HOÀNG MINH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ THÔNG TIN CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Ngành: Luật kinh tế Mã số: 8380107 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG Hà Nội, năm 2021
  3. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế thị trường, NTD là một trong các chủ thể trung tâm, có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các nhà cung cấp. Dưới sự đổi mới không ngừng và sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ, NTD ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò trung tâm của mình trong sự phát triển của kinh tế - xã hội. Vì vậy, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp NTD có thể được xem là nghĩa vụ, trách nhiệm chung của toàn xã hội. NTD cần được bảo đảm an ninh, an toàn khi tham gia các giao dịch, trong đó có các giao dịch trên không gian mạng mà ở đó, việc bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cá nhân (TTCN) là vấn đề rất quan trọng. Trong thời gian qua, TTCN nói chung và TTCN của NTD nói riêng dễ dàng được thu thập bằng các phương tiện hiện đại, các trang mạng xã hội cùng với vấn nạn “trộm thông tin người dùng”, “rao bán thông tin”,… làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của NTD. Thực tế cho thấy, khi thông tin cá nhân bị bóp méo và làm sai lệch mà được công bố rộng rãi tới cộng đồng sẽ gây ra những tác động không nhỏ đến đời sống riêng tư của mỗi cá nhân, khiến họ cảm thấy e ngại khi tham gia vào các giao dịch tiêu dùng, làm ảnh hưởng đến hoạt động của nền kinh tế và trật tự xã hội. Chính vì vậy, pháp luật về bảo vệ TTCN của NTD ra đời nhằm tạo một cơ sở pháp lý vững chắc cho việc khắc phục những vấn nạn xâm phạm thông tin, xử lý thỏa đáng các hành vi vi phạm, tạo tiền đề cho sự củng cố niềm tin, gắn kết giữa NTD và các cá nhân, tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, góp phần bảo đảm ổn định xã hội. Ở Việt Nam thời gian qua, các quy định về bảo vệ TTCN của NTD đã bước đầu xuất hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và các văn bản có liên quan. Tuy 1
  4. nhiên, thực tiễn triển khai và áp dụng các quy định này cho thấy bên cạnh được một số thành tựu nhất định, quy định hiện hành về bảo vệ TTCN của NTD chưa đủ mức răn đe, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng xâm phạm quyền của NTD đối với việc bảo đảm an ninh, an toàn TTCN của mình. Thực tiễn cũng cho thấy, tình trạng xâm phạm thông tin ngày càng phức tạp diễn ra dưới nhiều hình thức tinh vi hơn trước. Trong bối cảnh đó, tác giả chọn đề tài “Pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay” để làm Luận văn Thạc sĩ Luật kinh tế với mục đích tìm hiểu pháp luật và mong muốn đóng góp một phần công sức vào quá trình hoàn thiện quy định và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ TTCN của NTD ở Việt Nam, góp phần bảo đảm niềm tin của NTD đối với các giao dịch trong nền kinh tế số đang dần được hình thành ở Việt Nam. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Ở Việt Nam, bảo vệ TTCN của NTD là vấn đề đã bước đầu được các nhà nghiên cứu, nhà hoạt động thực tiễn quan tâm nghiên cứu ở các quy mô khác nhau trong những năm gần đây. Trong đó, phải kể đến một số công trình tiêu biểu như sau: - TS Nguyễn Văn Cương (2020) “Thực trạng pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân ở Việt Nam hiện nay và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 15 (415), tr.36-tr43; - Ngô Vĩnh Bạch Dương (2019) “Bảo vệ thông tin người tiêu dùng”, website: lapphap.vn; - Nguyễn Việt Hà (2016) “Pháp luật Việt Nam về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội; - Hồ Xuân Hải (2019) “Bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong hoạt động thương mại theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Luật Đại học Huế; 2
  5. - Trần Thị Hồng Hạnh (2018) “Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ, Học viện chính trị Quốc gia; - Cao Xuân Quảng (2014) “Bảo vệ thông tin cá nhân trong các giao dịch tiêu dùng”, Bản tin cạnh tranh và người tiêu dùng, số 47-2014, tr.15-tr18. Tuy nhiên, ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về bảo vệ TTCN của NTD còn khá khiêm tốn, chỉ chủ yếu là các bài viết trên tạp chí, kỷ yếu khoa học và nghiên cứu về nhiều phương diện, góc độ khác nhau. Hiện nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và trực tiếp về hệ thống pháp luật bảo vệ TTCN của NTD từ góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng. Tuy vậy, các công trình đã nêu ở trên là các tài liệu quý giá cho người viết tham khảo để hoàn thành đề tài “Pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay”. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn làm sáng tỏ các vấn đề lý luận pháp luật bảo vệ TTCN của người tiêu dùng, đánh giá thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật bảo vệ TTCN của NTD ở nước ta hiện nay. Trên cơ sở đó, Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về bảo vệ thông tin NTD tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, nhất là trước vấn nạn lấy cắp thông tin và sử dụng thông tin của người tiêu dùng ngày càng trở nên nghiêm trọng, gây ra nhiều rủi ro cho NTD. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đảm bảo mục đích trên, đề tài tập trung nghiên cứu các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu rõ một số vấn đề lý luận pháp luật về bảo vệ thông tin của NTD; - Đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ TTCN của NTD tại Việt Nam hiện nay, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập này; 3
  6. - Đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn bảo vệ TTCN của NTD tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ TTCN của NTD và thực tiễn áp dụng những quy định này để bảo vệ thông tin cá nhân của NTD Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi của đề tài này, tác giả đi sâu vào nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật về bảo vệ TTCN của NTD thể hiện trong những đạo luật quan trọng như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018,… cùng các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan. Dựa trên những nội dung phân tích, Luận văn đưa ra các nhận định về tính phù hợp của pháp luật về bảo vệ thông tin của NTD với thực tiễn từ đó đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ TTCN của NTD ở Việt Nam hiện nay. Về thời gian, Luận văn chủ yếu nghiên cứu các vấn đề trong khoảng thời gian từ 01/7/2011 (thời điểm Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có hiệu lực) đến nay. 5. Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (phép biện chứng duy vật). Trong quá trình triển khai đề tài, tác giả đã sử dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh. 4
  7. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Thứ nhất, Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số khía cạnh lý luận pháp luật cơ bản về bảo vệ TTCN của NTD như: khái niệm, các phương thức bảo vệ và vai trò của pháp luật về bảo vệ TTCN của NTD. Thứ hai, Luận văn góp phần làm sáng tỏ thực trạng pháp luật bảo vệ TTCN của NTD tại Việt Nam hiện nay, chỉ rõ những thành tựu đã đạt được cùng hạn chế, bất cập và chỉ rõ nguyên nhân của hạn chế, bất cập. Thứ ba, Luận văn đề xuất các giải pháp cụ thể để hoàn thiện pháp luật về bảo vệ TTCN của NTD và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định này trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội bền vững, an toàn. Thứ tư, đề tài có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, học tập cho các sinh viên chuyên ngành luật cũng như chuyên ngành khác có liên quan và có thể mang tính tham khảo trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ TTCN của NTD ở Việt Nam. 7. Kết cấu của luận văn Luận văn được thiết kế làm 03 phần lớn: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Ngoài ra còn có một số nội dung khác như: Danh mục từ viết tắt, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,… Trong đó, phần nội dung được thiết kế làm 03 chương, cụ thể: Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng. Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 5
  8. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ THÔNG TIN CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 1.1. Khái niệm bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng 1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng Kinh tế thị trường ra đời gắn liền với sự phát triển của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, là nơi người mua và người bán có thể tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau để thực hiện các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, trao đổi các loại hàng hóa, dịch vụ,… tạo nên mối quan hệ hợp tác, gắn bó mật thiết giữa các chủ thể tham gia. Các doanh nghiệp là nhà cung cấp luôn quan tâm đến các đối tượng khách hàng là cá nhân, tổ chức có nhu cầu mua, nhu cầu sử dụng nhưng chưa được thỏa mãn và khả năng thanh toán của họ để tạo nên vị trí cho các sản phẩm của mình trên thị trường. Trong mối quan hệ giữa NTD, doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội, NTD được xem là chủ thể giữ vị trí trung tâm, có vai trò quan trọng để cấu tạo và thực hiện các hoạt động cơ bản của thị trường, tuy nhiên họ lại là người có mức độ hiểu biết không chuyên sâu về thị trường và hàng hóa, dịch vụ mình đang sử dụng bằng các chủ thể cung cấp, đồng thời không lúc nào cũng có điều kiện tiếp cận các thông tin về sản phẩm và biết được các thông tin của mình được nhà cung cấp thu thập được sử dụng để làm gì, bởi vậy đây luôn là các đối tượng yếu thế cần được pháp luật chú trọng bảo vệ. Hiện nay, vấn đề về bảo vệ NTD đang là mối quan tâm ở nhiều nước trên thế giới. Dưới góc độ lý luận pháp luật, các nhà nghiên cứu, nhà làm luật đã có nhiều cách tiếp cận, ý kiến khác nhau về khái niệm NTD, có thể kể đến như: Theo quy định tại Điều 3 Phần 1 Chương II Bộ luật Người Tiêu dùng (Consumer Code) năm 2014 của nước Pháp thì định nghĩa về NTD được hiểu là “người thực hiện các giao dịch không vì mục đích thương mại, công nghiệp, thủ công, các hoạt động nông nghiệp hoặc tự sản xuất”. 6
  9. Trong hệ thống pháp luật ở Thái Lan, căn cứ Điều 3 Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 1979 của nước này, “Người tiêu dùng là người mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ của một nhà kinh doanh, kể cả những người được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ của nhà kinh doanh”. Tại Nga, trong phần khái niệm cơ bản của Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 1999, sửa đổi gần nhất vào năm 2007 thì người tiêu dùng được định nghĩa là “cá nhân người có mong muốn đặt hoặc yêu cầu hàng hóa (công việc, dịch vụ) hoặc người đặt, yêu cầu hàng hóa cho mục đích tiêu dùng của cá nhân, gia đình, hộ gia đình và các nhu cầu khác không vì mục đích kinh doanh”. Có thể thấy, cho dù nhìn nhận ở khía cạnh nào đi nữa, các khái niệm trên đều thống nhất xác định NTD vẫn là các đối tượng có thể là cá nhân hoặc tổ chức không chỉ thực hiện hành vi mua mà phải sử dụng hàng hóa, dịch vụ để phục vụ sinh hoạt. Nói cách khác, pháp luật các nước khi giải thích khái niệm về NTD luôn loại trừ các mục đích kinh doanh, sinh lời trong hoạt động thương mại đối với giao dịch trên thị trường, qua đó nhà làm luật gián tiếp thừa nhận đây là các hoạt động mua bán, sử dụng hàng hóa, dịch vụ từ nhà cung cấp phát sinh trong lĩnh vực dân sự. Ở Việt Nam, pháp luật về bảo vệ NTD được hình thành từ năm 1999 thông qua Pháp lệnh số 13/1999/PL-UBTVQH10 ngày 27/04/1999 về Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, sau đó được điều chỉnh, thay thế bằng Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, đánh dấu sự ra đời của khung pháp lý hoàn chỉnh để bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia sử dụng hàng hóa, dịch vụ, tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, tôn trọng Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người. Trên cơ sở đó, Khoản 1 Điều 3 Luật BVQLNTD quy định NTD là “người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”. Pháp luật hiện hành thừa nhận NTD ở Việt Nam có thể là các cá nhân, tổ chức và có mối liên 7
  10. hệ với nhà cung ứng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường thông qua việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ phục vụ tiêu dùng, sự mở rộng đối tượng được xem là NTD ở nước ta đã góp phần giúp nhiều chủ thể yếu thế trên thị trường được pháp luật bảo vệ một cách kịp thời. Thêm vào đó, dưới góc độ ngôn ngữ học, tiêu dùng là hoạt động sử dụng của cải vật chất để thỏa mãn các nhu cầu của đời sống sinh hoạt hằng ngày. Từ những phân tích trên, như vậy, ở Việt Nam, khái niệm NTD có thể khái quát: là các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức tham gia các giao dịch dân sự bằng việc thực hiện hoạt động mua, sử dụng các loại hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích thương mại mà chỉ phục vụ mục đích sử dụng, sinh hoạt cho cá nhân, gia đình, tổ chức. 1.1.2. Khái niệm thông tin cá nhân của người tiêu dùng và bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng “Thông tin cá nhân” (TTCN) không phải là thuật ngữ mới ở Việt Nam mà thuật ngữ này đã được đề cập, sử dụng trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. TTCN đã được giải thích lần đầu tiên tại Khoản 5 Điều 3 Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nhà nước, theo đó, TTCN là: “thông tin đủ để xác định chính xác danh tính một cá nhân, bao gồm ít nhất nội dung trong những thông tin sau đây: họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, chức danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, số hộ chiếu. Những thông tin thuộc bí mật cá nhân gồm có hồ sơ y tế, hồ sơ nộp thuế, số thẻ bảo hiểm xã hội, số thẻ tín dụng và những bí mật cá nhân khác.” Sau đó, trong phạm vi áp dụng các giao dịch thương mại điện tử, TTCN được định nghĩa tại Khoản 13 Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử, theo đó, TTCN là các thông tin góp phần định danh một cá nhân cụ thể, gồm tên, tuổi, địa chỉ nhà riêng, số điện thoại, thông tin y tế, 8
  11. số tài khoản, thông tin về các giao dịch thanh toán cá nhân và những thông tin khác mà cá nhân mong muốn giữ bí mật. Theo Nghị định này, các thông tin liên hệ công việc và thông tin mà cá nhân đã tự công bố trên các phương tiện truyền thông không được xem là TTCN. Tuy nhiên, trong Luật BVQLNTD lại không đề cập đến khái niệm “thông tin cá nhân của NTD” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “thông tin của người tiêu dùng” để áp dụng chung. Hiện nay, trong các văn bản luật, định nghĩa TTCN được đề cập một cách chính thức tại Khoản 15 Điều 3 Luật ATTTM năm 2015, theo đó, “thông tin cá nhân là thông tin gắn liền với việc xác định danh tính của một người cụ thể”. Thuật ngữ “danh tính” có thể được hiểu là các dữ liệu về tên, tuổi, lai lịch của một người, các thông tin này có thể đã được công khai hoặc họ không muốn tiết lộ và giữ làm bí mật riêng. Suy rộng ra, các TTCN phải biểu thị các thông tin gắn liền với một người, phản ánh về các quyền dân sự hay chứa đựng các thông tin liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như hành chính, hình sự, giáo dục, kinh tế, y tế,… Thông thường, TTCN là thông tin về họ tên, ngày sinh, nghề nghiệp, chức danh, địa chỉ liên hệ, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại, số chứng minh nhân dân/căn cước công dân, số hộ chiếu, thông tin về hồ sơ y tế, hồ sơ nộp thuế, số thẻ bảo hiểm xã hội, số thẻ tín dụng và những bí mật cá nhân khác. Từ những bình luận trên, có thể hiểu TTCN của NTD là: tất cả các thông tin đã được công khai hoặc bí mật mà qua đó có thể xác định được cụ thể danh tính của NTD, phân biệt giữa họ với một người khác. Cũng phải khẳng định rẳng, mặc dù thuật ngữ “người tiêu dùng” trong quy định của Luật BVQLNTD năm 2010 không chỉ bao gồm cá nhân mà có thể bao gồm cả hộ gia đình và tổ chức, tuy nhiên, như định nghĩa về “thông tin cá nhân” đã hàm ý kể trên, trong cụm từ “thông tin cá nhân của NTD” thì cụm từ “người tiêu dùng” chỉ có thể được hiểu là “cá nhân người tiêu dùng” 9
  12. chứ không bao gồm “tổ chức”. Do vậy, trong nghiên cứu này, thuật ngữ “người tiêu dùng” trong tên đề tài nghiên cứu chỉ được hiểu và giới hạn là cá nhân người tiêu dùng. Khi tham gia giao dịch trên thị trường, trừ các giao dịch trực tiếp sử dụng tiền mặt mà các bên tham gia giao dịch không cần hỏi người mua hàng hóa, dịch vụ là ai, đa phần NTD buộc phải cung cấp một số thông tin cá nhân của mình (như các thông tin về họ tên, địa chỉ liên lạc v.v..) cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ để thực hiện giao dịch (nhất là trong các giao dịch mà giữa các bên hình thành một hợp đồng dưới hình thức văn bản, trong đó có các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ qua mạng Internet). Những thông tin về khách hàng thường được các cá nhân, tổ chức kinh doanh thu thập, lưu trữ, quản lý cẩn thận và cần được giữ kín, bảo mật một cách chặt chẽ bởi lẽ nó không chỉ đáp ứng cho một giao dịch được xác lập trước mắt mà tạo điều kiện để doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với khách hàng cũ của mình thông qua việc khai thác dữ liệu khách hàng đang có sẵn, đảm bảo giữ vững thị phần. Thông qua lưu trữ thông tin khách hàng, thay vì phải nghiên cứu tìm kiếm cách quảng bá, tiếp thị sản phẩm ra thị trường, doanh nghiệp chỉ cần sử dụng dữ liệu có sẵn tiến hành liên lạc với khách hàng cũ, duy trì mối quan hệ bạn hàng ổn định. Tuy nhiên, mục tiêu tất cả các chủ thể kinh doanh hướng đến là lợi nhuận, họ không thể nào đầu tư một khoản chi lớn để bảo mật thông tin khách hàng, cũng như không phải lúc nào các doanh nghiệp cũng cạnh tranh với nhau, các tổ chức kinh tế này thường có xu hướng liên kết, thỏa hiệp, hợp tác với nhau, chia sẻ thông tin về khách hàng – tài nguyên quý báu trong quá trình kinh doanh – để tìm được lợi nhuận cao hơn, để mở rộng thị phần, doanh nghiệp cũng cần điều tra, thu thập thông tin để đánh giá được thị hiếu, khuynh hướng mua sắm của khách hàng để từ đó có điều chỉnh thích hợp hoạt động kinh doanh của mình tới khách hàng tiềm năng. Do đó, dưới 10
  13. khía cạnh kinh tế, các TTCN của NTD là nguồn dữ liệu vô cùng quý giá, củng cố năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường. Thực tế, không một ai mong muốn những thông tin của mình bị lộ, bị lọt vào tay của người khác khi không biết họ sử dụng để làm gì và không thể dự đoán các hậu quả tác động đến mình ra sao. Do đó, việc dễ dàng thu thập được các TTCN của NTD đã đặt ra vấn nạn “trộm thông tin người dùng”, “rao bán thông tin”,… làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của NTD, gây ra những tác động không nhỏ đến đời sống riêng tư của mỗi cá nhân, tác động xấu đến hoạt động của nền kinh tế và trật tự xã hội, đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoạt động ngăn chặn, khắc phục bảo vệ TTCN của NTD. Như vậy, bảo vệ TTCN của NTD là việc áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo tính bảo mật thông tin riêng tư về NTD, tránh việc lộ, lọt thông tin dẫn đến tình trạng lạm dụng, sử dụng bất hợp pháp TTCN của NTD trong bất kì hoạt động, trên bất kì phương diện nào, đồng thời góp phần ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm đến quyền được bảo hộ về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của con người, bảo vệ TTCN của NTD được an toàn. 1.1.3. Các phương thức bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng Theo quy định của pháp luật, bảo vệ quyền lợi NTD (bao gồm bảo vệ TTCN của NTD) là trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn thể xã hội, nên cần được triển khai một cách đồng bộ, kịp thời trên nhiều phương diện và có sự phối hợp thực hiện của các chủ thể tham gia. Trong đó, hoạt động bảo vệ TTCN của NTD trước hết được thực hiện bằng việc xây dựng và áp dụng các quy định pháp luật về bảo vệ TTCN của NTD. Nhà nước là tổ chức đặc biệt thực hiện các chức năng quản lý và duy trì trật tự xã hội bằng Hiến pháp, pháp luật nên trách nhiệm bảo vệ TTCN nói chung và bảo vệ TTCN của NTD nói riêng trước hết thuộc về Nhà nước. Cùng với những biến đổi của nền kinh tế thị trường, nhất là trước tác động 11
  14. ngày một mạnh mẽ của các công nghệ số và không gian mạng, hệ thống pháp luật về bảo vệ TTCN của NTD từng bước hình thành và phát triển, được ghi nhận trong các đạo luật như: Hiến pháp, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016,… Thông qua các văn bản pháp luật, một số cách thức bảo vệ TTCN của NTD được áp dụng cụ thể đó là: Một là, quy định nghĩa vụ/trách nhiệm pháp lý của chủ thể thu thập, xử lý lưu trữ TTCN của NTD. Đây là cách thức áp dụng với hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, qua đó việc thu thập, xử lý các TTCN của NTD bởi các cơ quan, tổ chức và cá nhân phải tuân thủ yêu cầu, quy trình pháp luật quy định. Có thể thấy TTCN là những gì thuộc về quyền về đời sống riêng tư của một người nào đó, vì vậy, các phương pháp thu thập, xử lý lưu trữ TTCN của NTD phải được sự đồng ý của chính người này, trừ trường hợp người đứng đầu cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình được phép yêu cầu cung cấp thông tin trong trường hợp cần thiết vì lợi ích, sức khỏe của cộng đồng theo quy định của luật có liên quan mà không cần có sự đồng ý của cá nhân đó và một số trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Quyền về đời sống riêng tư của mỗi cá nhân là bất khả xâm phạm, được Nhà nước công nhận và bảo vệ bằng Hiến pháp, pháp luật, nên việc thực hiện phương thức thu thập, xử lý, lưu trữ thông tin phải đáp ứng quy định pháp luật. Đây là giới hạn xác định về điều kiện thực hiện các hành vi thu thập TTCN để tránh các trường hợp lộ, lọt thông tin không mong muốn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống riêng tư của NTD. Hai là, buộc các chủ thể thu thập thông tin phải dụng các biện pháp kỹ thuật về an toàn thông tin. Áp dụng các biện pháp an toàn thông tin là một 12
  15. trong các điều kiện bắt buộc để bảo vệ TTCN của NTD, nhất là đối với những thông tin trên môi trường mạng. Để bảo đảm an toàn thông tin mạng thì tổ chức, căn cứ quy định tại Điều 19 Luật ATTTM 2015, cá nhân xử lý TTCN có trách nhiệm áp dụng biện pháp quản lý, kỹ thuật phù hợp và cần áp dụng biện pháp khắc phục, ngăn chặn trong thời gian sớm nhất khi xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố an toàn thông tin mạng. Các dữ liệu cá nhân của NTD cần được bảo đảm an toàn để chống lại các rủi ro có thể xảy ra như bị trộm, bị tiết lộ, bị sử dụng trái phép, bị tiêu hủy, bị sửa đổi bổ sung... Các biện pháp bảo vệ hệ thống thông tin để đảm bảo an toàn thông tin mạng được quy định áp dụng bao gồm: - Ban hành quy định về bảo đảm an toàn thông tin mạng trong thiết kế, xây dựng, quản lý, vận hành, sử dụng, nâng cấp, hủy bỏ hệ thống thông tin. - Áp dụng biện pháp quản lý, kỹ thuật theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật an toàn thông tin mạng để đề phòng, chống nguy cơ, khắc phục sự cố an toàn thông tin mạng. - Kiểm tra, giám sát việc tuân thủ quy định và đánh giá hiệu quả của các biện pháp quản lý và kỹ thuật được áp dụng. - Giám sát an toàn hệ thống thông tin. Ba là, bảo vệ TTCN của NTD thông phương thức hợp đồng dân sự. Thông qua hoạt động mua, sử dụng các loại hàng hóa, dịch vụ nhằm phục vụ sinh hoạt, NTD tham gia xác lập các giao dịch dân sự với cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thường phải cung cấp một số TTCN liên quan để thực hiện giao dịch. Trong lĩnh vực dân sự, các hợp đồng cần được thiết lập theo quy định của BLDS và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Trên cơ sở đó, căn cứ Điều 38 BLDS 2015 thì đời sống riêng tư, bí mật cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, lưu trữ, sử dụng, công khai 13
  16. thông tin này phải được người đó đồng ý. Bởi vậy, bên cung ứng hàng hoá, dịch vụ có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích của riêng mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác. Đồng thời, dựa trên những quy định tại Điều 387 BLDS thì khi một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng, có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác, bên vi phạm mà gây ra thiệt hại có trách nhiệm phải bồi thường, cho nên NTD có thể yêu cầu các điều khoản về bảo mật thông tin, bồi thường thiệt hại khi giao kết hợp đồng dân sự trên cơ sở tự nguyện và thống nhất thỏa thuận của các chủ thể tham gia, tuân thủ pháp luật và bảo đảm kịp thời, bảo vệ tối ưu quyền lợi của bản thân. Bốn là, bảo vệ TTCN của NTD bằng các phương thức giải quyết tranh chấp. Khi phát sinh mâu thuẫn về quyền và lợi ích của các bên dẫn đến tranh chấp, NTD có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật BVQLNTD và các quy định pháp luật khác có liên quan. NTD có thể tự mình bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm tùy theo mức độ và tính chất của sự việc. Đồng thời, Tòa án, Trọng tài thương mại là cơ quan tài phán có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền của các chủ thể, thực hiện hoạt động tố tụng để giải quyết các trường hợp tranh chấp, vi phạm phát sinh. 1.1.4. Vai trò của hoạt động bảo vệ thông tin cá nhân của người tiêu dùng Quan hệ pháp luật giữa NTD và cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ, sản phẩm thường phát sinh trong lĩnh vực dân sự, kinh tế. Trong mối quan hệ này, NTD thường ở vị trí yếu thế cần được pháp luật bảo vệ để tạo nên sự công bằng trong quan hệ giữa các thành viên trong xã hội. Do đó, bảo vệ thông tin cá nhân của NTD cũng góp phần duy trì sự công bằng ấy trong các quan hệ trên thị trường. Cụ thể: 14
  17. Thứ nhất, bảo vệ TTCN của NTD góp phần đảm bảo tốt hơn quyền con người. Với tư cách là một trong các chủ thể của pháp luật, NTD luôn được pháp luật bảo vệ, tạo cơ hội để thực hiện các quyền con người, quyền công dân và hưởng lợi ích chính đáng của mình, góp phần đảm bảo bình đẳng, công bằng trong xã hội. Quyền con người vốn là các quyền tự nhiên, sẵn có của tất cả mọi người trong xã hội và được pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế ghi nhận, bảo vệ, tạo điều kiện để người đó phát huy các quyền vốn có của mình. Ở Việt Nam, mọi hành vi xâm phạm lợi ích của công dân, vi phạm quyền con người đều là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng và cần được kịp thời xử lý nghiêm minh, đặc biệt là quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình, được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm, uy tín của mỗi người. Do đó, hoạt động bảo vệ TTCN của NTD là một trong những cách thức góp phần đảm bảo một trong những quyền cơ bản nhất mà mỗi người được hưởng, được pháp luật thừa nhận, bảo hộ bởi các quy định pháp luật, tạo hành lang pháp lý để đảm bảo cơ chế bảo vệ quyền về đời sống riêng tư của con người nói chung, quyền được bảo vệ của NTD nói riêng, thể hiện tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật. Trên cơ sở đó, bảo vệ TTCN của NTD góp phần bảo đảm thực hiện quyền con người, đặc biệt là quyền được bảo đảm an toàn về TTCN của NTD, góp phần tạo ra sự bình đẳng, độc lập giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Thứ hai, bảo vệ TTCN của NTD góp phần xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững và duy trì ổn định, trật tự xã hội. NTD là giữ vai trò trung tâm trong mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào thị trường, góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, 15
  18. dịch vụ, phát triển nền kinh tế. Bảo vệ NTD là trách nhiệm chung của Nhà nước và toàn xã hội. Thông qua hoạt động bảo vệ TTCN của NTD, các cá nhân, tổ chức cung cấp sản phẩm, dịch vụ có trách nhiệm thực hiện tốt quá trình thu thập, xử lý thông tin khách hàng, tránh tình trạng doanh nghiệp liên kết chia sẻ TTCN của người khác mà không có sự đồng ý của họ, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng với các chủ thể kinh doanh khác, góp phần ổn định thị trường, tạo động lực để phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức được nhà nước giao trách nhiệm bảo vệ NTD, quản lý thị trường thông qua hệ thống pháp luật về bảo vệ TTCN của NTD có điều kiện phát huy vai trò, nhiệm vụ đảm nhận. Qua đó, căn cứ vào hành vi, mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp bảo vệ NTD một cách chính đáng, thực hiện tốt công tác bảo vệ các lợi ích cộng đồng, an ninh quốc gia, đảm bảo trật tự xã hội, thúc đẩy hoạt động của thị trường và sự phát triển an toàn, bền vững của nền kinh tế. Thứ ba, bảo vệ TTCN của NTD giúp nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD. Hoạt động bảo vệ TTCN của NTD đáp ứng các yêu cầu khách quan của xã hội, nhu cầu được bảo vệ đời sống riêng tư, quyền cơ bản mà mỗi người đều được tôn trọng và bảo vệ, đây là các yêu cầu hợp pháp và phù hợp với thực tiễn. Do đó, pháp luật bảo vệ TTCN của NTD được chú trọng, xây dựng trên cơ sở nguyên tắc đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, phù hợp với yêu cầu khách quan, bảo đảm quyền dân chủ và hài hòa lợi ích giữa các lực lượng xã hội. Bằng sự thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ về quyền con người, hoạt động bảo vệ TTCN của NTD được thực hiện trên cơ sở quy định pháp luật, đảm bảo sự công bằng xã hội, tránh được những xung đột về mặt lợi ích của các chủ thể tham gia thị trường, góp phần ổn định xã hội và quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường. 16
  19. Để đảm bảo cho việc thực hiện các quy định pháp luật cũng như phát huy vai trò quản lý xã hội, Nhà nước trao quyền thực hiện, quản lý công tác bảo vệ quyền lợi của NTD cho các cơ quan các cấp, qua đó hoạt động bảo vệ NTD nói chung và TTCN của NTD nói riêng đều được tiến hành được thực hiện dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Căn cứ Điều 34 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật BVQLNTD thì Bộ Công thương, Cục quản lý cạnh tranh (nay là Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng), UBND cấp tỉnh, Sở Công thương, UBND cấp huyện là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD, tiến hành một số hoạt động như: thẩm định, giám sát các hoạt động của tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi NTD, hoạt động hòa giải tranh chấp giữa NTD và cá nhân, tổ chức kinh doanh. Qua đó, tạo điều kiện để bảo đảm an toàn về TTCN của NTD, triển khai các công tác tư vấn, hỗ trợ nhằm tuyên truyền, phổ biến pháp luật nâng cao ý thức về bảo vệ quyền lợi NTD, đặc biệt là những thông tin thuộc về cá nhân, mang tính riêng tư của NTD, đồng thời củng cố nghiệp vụ của cơ quan nhà nước để bảo vệ NTD một cách nhanh chóng, kịp thời, tạo điều kiện để thực thi quyền con người, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công tác bảo vệ TTCN của NTD ở Việt Nam. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong hoạt động tiến hành thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD. Muốn những thông tin này được bảo mật, an toàn, các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền cũng cần có những biện pháp tích cực để bảo vệ TTCN của NTD. Thông qua kết quả hoạt động bảo vệ TTCN của NTD, có thể đánh giá được cách thức hoạt động và hiệu quả làm việc của các cơ quan này khi được Nhà nước giao phó nhiệm vụ, thống kê thành tựu đạt được và nhận xét về hạn chế còn tồn đọng, nguyên nhân cần khắc phục, nhất là sự hợp tác của các cơ 17
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2