BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Hương Thảo QUAN HỆ GIỮA CÁI BIỂU ĐẠT VÀ CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT TRONG CÁC BIỂU TƯỢNG TÔN GIÁO

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ Mã số: 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS. NGUYỄN ĐỨC DÂN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2010

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:

Thầy Nguyễn Đức Dân, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá

trình thực hiện và hoàn thành luận văn.

Các thầy cô trong khoa Ngữ Văn và các cán bộ Phòng KHCN – SĐH, thư viện trường

ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.

Cảm ơn linh mục Giuse Nguyễn Thể Hiện (nhà thờ Kỳ Đồng), TS. Thích Phước Đạt

(Trưởng khoa Phật giáo Việt Nam tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại tp. HCM) đã nhiệt

tình giúp đỡ tôi về những vấn đề liên quan đến tôn giáo.

Cảm ơn vợ chồng em Nguyễn Thành Nhân đã giúp tôi tìm những tài liệu liên quan để

thực hiện đề tài này.

Cảm ơn bạn Võ Trần Bạch Lê đã cùng tôi đến các nhà thờ và các ngôi chùa lớn tại

tp.HCM chụp hình các biểu tượng.

Cảm ơn gia đình đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi yên tâm học tập và nghiên

cứu.

Thành phố Hồ Chí Minh, 2010

Nguyễn Thị Hương Thảo

DẪN NHẬP

1. Lí do chọn đề tài

F. De Saussure nói rằng, mỗi kí hiệu gồm có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt.

Quan hệ của chúng được coi là võ đoán. Tuy nhiên, những biểu tượng, một loại kí hiệu trong

tôn giáo, thì giữa cái biểu đạt viết là Sa (phương diện hình thức của kí hiệu) và cái được biểu

đạt viết là Se (phương diện nội dung của kí hiệu) lại có quan hệ rất mật thiết. Trong luận văn

này, chúng tôi thử tìm hiểu, phân tích mối quan hệ đó trong những biểu tượng tôn giáo.

Chúng ta đang sống trong một thế giới kí hiệu. Kí hiệu không chỉ là từ. Nó gồm hình

ảnh, hình vẽ, màu sắc, âm thanh, cử chỉ, hương vị, các nghi thức lễ hội, cúng bái, các kiểu

dệt áo quần…nghĩa là tất cả các phương tiện dùng để thông tin có thể mã hóa và chuyển

thành thông điệp mà người khác tiếp nhận được.

Ví dụ: Các kí hiệu âm nhạc, biển chỉ dẫn giao thông, các kí hiệu hóa học…

Bản thân ngôn ngữ cũng là một hệ thống kí hiệu (ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu

biểu hiện những ý niệm). Vì thế việc nghiên cứu kí hiệu đã được nhiều người quan tâm. Tuy

nhiên có nhiều lĩnh vực của bộ môn kí hiệu học chưa được quan tâm thỏa đáng. Thế nên

trong luân văn này, chúng tôi chọn một phần nhỏ trong lĩnh vực kí hiệu học để nghiên cứu,

cụ thể là: nghiên cứu mối quan hệ giữa hai mặt nội dung và hình thức của hệ thống biểu

tượng trong Phật giáo và Cơ đốc giáo.

Dọc theo lịch sử văn minh nhân loại, con người luôn tìm hiểu và lý giải thế giới xung

quanh. Trong quá trình ấy, có những vấn đề rất trừu tượng, khó hiểu. Từ đó, con người đã

sáng tạo việc dùng một hình ảnh này để thay thế cho một vật hay hiện tượng khác theo

hướng đơn giản, dễ hiểu và gần gũi hơn.

Ví dụ: Chim bồ câu là biểu tượng của hòa bình, cây thánh giá là biểu tượng của những

người theo Cơ đốc giáo* (PL AII), tiên rồng là biểu tượng của dân tộc Việt, trái tim, hoa

hồng là biểu tượng của tình yêu, lá cờ là biểu tượng của một quốc gia, hai thanh gươm bắt

chéo nhau là biểu tượng của chiến tranh, chiên con là biểu tượng chỉ Chúa Jesus, hoa sen là

biểu tượng chỉ Đức Phật…Biểu tượng được dùng trong những ngành nghệ thuật, những tổ

chức xã hội, tôn giáo, những phạm trù tinh thần, tâm linh…

Biểu tượng gắn liền với ngành Kí hiệu học (Semiotics), Sémiotique trong tiếng Pháp

có lúc được dùng với nghĩa kí hiệu học của những hệ thống kí hiệu phi ngôn ngữ, đặc biệt là

kí hiệu học của những biểu tượng.

Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các tôn giáo khác nhau, đôi lúc khi biểu

đạt một nội dung nào đó cũng có sự trùng hợp trong việc sử dụng các phương tiện hình thức,

rồi cùng nội dung nhưng hình thức khác và cũng có trường hợp hình thức giống nhau và nội

dung giống nhau. Vì thế trong luận văn này ngoài việc tìm hiểu mối liên hệ giữa mặt nội

dung và hình thức của các biểu tượng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo chúng tôi còn tiến hành

nghiên cứu và so sánh hệ thống các biểu tượng chính trong hai tôn giáo trên (có so sánh với

các biểu tượng của hai tôn giáo này tại Việt Nam).

Việc làm này, nhằm tìm hiểu lịch sử hình thành, ý nghĩa cũng như những nét tương

đồng và khác biệt của các biểu tượng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo. Đề tài này không chỉ

có ý nghĩa về mặt văn hóa mà còn giúp mọi người có cái nhìn chi tiết hơn về kí hiệu học (kí

hiệu học không phải chỉ bó hẹp trong lĩnh vực ‘Ngôn ngữ kí hiệu’).

2. Lịch sử vấn đề

Kí hiệu học có rất nhiều phân ngành nhỏ, và việc nghiên cứu biểu tượng đã được các

học giả rất quan tâm. Tuy nhiên nghiên cứu vấn đề này thật không đơn giản, để có thể hiểu

cách thức hình thành, lối xếp đặt, cũng như cách giải thích các biểu tượng không chỉ là

nhiệm vụ của ngành kí hiệu học, ngôn ngữ học mà còn có sự đóng góp của các ngành khoa

học khác như: khoa lịch sử các nền văn minh và các tôn giáo, khoa văn hóa nhân chủng học,

khoa phê bình nghệ thuật, khoa tâm lí học, y học… Các học giả không chỉ nghiên cứu về các

biểu tượng trong tôn giáo mà còn nghiên cứu về nhiều lĩnh vực khác của biểu tượng như:

biểu tượng của giấc mơ, biểu tượng được dùng trong các ngành nghệ thuật, những biểu

tượng y học, biểu tượng thiên văn học (chiêm tinh), biểu tượng chính trị…

Thật vậy, biểu tượng luôn có sức hấp dẫn riêng của nó (có lẽ do nguyên nhân hình

thành hết sức thú vị và cách giải thích các biểu tượng không bao giờ theo nguyên mẫu

chung), vì thế mà nhà phân tâm học người Thụy Sĩ Carl Gustav Jung đã mất một nửa thế kỉ

để nghiên cứu những biểu tượng tự nhiên và ông đi đến kết luận rằng: “Giấc mơ và biểu

tượng giấc mơ không phải là nhảm nhí, mà cũng không phải là không có ý nghĩa. Trái lại,

giấc mơ đem lại cho ta những sự hiểu biết quí giá, nếu ta chịu khó tìm hiểu những biểu tượng

của nó”. Tác phẩm “Thăm dò tiềm thức” của ông khái quát những nét đại cương về phâm

tâm học trong đó ông có dành trọn chương 8 để trình bày về vai trò của biểu tượng.

Ở nhiều nước trên thế giới có nhiều bộ sách bách khoa toàn thư có giá trị, và tri thức

nhân loại ngày càng phát triển vì vậy mà cần phải tập hợp vốn tri thức phong phú này, song

song với các bộ bách khoa toàn thư còn xuất hiện nhiều bộ từ điển tri thức chuyên ngành

giúp người đọc dễ dàng tra cứu và tìm hiểu. Cuốn “Từ điển các biểu tượng” (Dictionnaire

des symbols) của hai tác giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant đã tập hợp và giải thích ý

nghĩa các biểu tượng của thế giới thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau (sách được nhà xuất bản

Robert Laffont ấn hành lần đầu năm 1969). Đây là tác phẩm bao quát được nhiều khu vực

văn hóa trên thế giới liên quan đến các phương diện: dân tộc học, xã hội học, tâm lý học,

thần thoại học, tôn giáo học… Ngoài ra còn có thể kể ra nhiều cuốn từ điển khác cũng đề cập

đến các biểu tượng chung của thế giới như:

- Tom Chetwynd (1982), A dictionary of symbols, NXB Granada (England). Cuốn từ

điển này bao gồm 450 trang chủ yếu giải thích những biểu tượng thuộc về giấc mơ.

- Eduardo Cirlot (1969), Diccionario de simbolos (Dictionary of symbols) tái bản lần

thứ hai, tại nhà xuất bản Labor S.A, Barcelona. Cuốn từ điển dày 500 trang đề cập đến

mối quan hệ của biểu tượng đối với văn học. Quyển sách này đã được dịch sang tiếng

Anh.

- Goblet d’ Alviella (1894), The migration of symbols, London. Nội dung chính của

cuốn từ điển này đề cập đến các biểu tượng chính như: biểu tượng cây thập tự giá,

biểu tượng chữ Phạn, và biểu tượng về cái đinh ba… trong những nền văn hóa khác

nhau.

Ngoài ra sức thu hút của biểu tượng cũng được tiểu thuyết gia Dan Brown sáng tác

nhiều tác phẩm gây tiếng vang: Mật mã Da Vinci (The Da Vinci code), Pháo đài số (Digital

Fortress), Thiên thần và ác quỉ (Angels and demons), Biểu tượng đánh mất (The lost

symbol). Trong các tác phẩm này tác giả giúp người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên

khác khi cùng nhà biểu tượng học người Mỹ Robert Langdon giải mã những điều ẩn giấu

đằng sau các biểu tượng tôn giáo (chủ yếu là các biểu tượng Cơ đốc giáo).

Chúng ta đã điểm qua những công trình nghiên cứu về biểu tượng nhưng có thể nói hệ

thống các biểu tượng trong tôn giáo được các học giả hết sức quan tâm. Có thể kể ra đây các

tác phẩm tiêu biểu như:

1. David Fontana (1993), The serect language of symbols, Pavilion. Nội dung của cuốn

sách này đề cập đến vai trò cũng như cách sử dụng biểu tượng trong các lĩnh vực như:

nghệ thuật cũng như những ứng dụng của việc nghiên cứu biểu tượng để giải thích ý

nghĩa của giấc mơ. Vấn đề quan trong tiếp theo tác giả trình bày thế giới biểu tượng

theo từng chủ đề như: màu sắc, hình dáng, con vật, thế giới tự nhiên…

2. Carl G. Liungman (1994), Dictionary of symbols, W.W. Norton & Company. Cuốn từ

điển này tác giả trình bày các biểu tượng theo từng nhóm nhỏ (dựa vào quá trình phát

triển về hình dáng cấu trúc của các biểu tượng). Bao gồm những biểu tượng có từ thời

xa xưa và cả những biểu tượng được sử dụng trong thời hiện đại.

3. Dean Moe (1985), Christian symbols handbook, Augsburg Publishing House. Nội

dung của cuốn sách giải thích ý nghĩa của những biểu tượng chủ yếu được dụng trong

Cơ đốc giáo (kèm hình vẽ).

4. Dagyab Rinpoche (1995), Buddhist symbols in Tibetan Culture, Wisdom

Publications. Trong cuốn sách này tác giả trình bày tất cả những biểu tượng được sử

dụng trong Phật giáo Tây Tạng theo hệ thống (có hình vẽ minh họa kèm lời giải thích).

5. Sign and symbols (2003), Pepin. Cuốn sách tập trung tất cả những hình ảnh về biểu

tượng và các kí hiệu ở tất cả các lĩnh vực.

6. Carroll E. Whittemore (1987), Symbols of the church, Abingdon.

7. Dahlby, Frithiof (1963), De heliga tecknens hemlighet (The serect of the holy signs),

Stockholms.

Ở Việt Nam có nhiều bài viết đề cập đến vấn đề biểu tượng:

- Nguyễn Đức Dân trong công trình “Kí hiệu học – một số vấn đề cơ bản” có đề cập đến

vấn đề biểu tượng và tác giả cũng dành hẳn chương III trình bày về biểu tượng và

những kí hiệu phi ngôn ngữ.

- Hoàng Tuệ trong tác phẩm “Cuộc sống ở trong ngôn ngữ” có bài viết đề cập đến vấn

đề “Tín hiệu và biểu trưng”.

- Đỗ Thị Hồng Nhung trong khóa luận tốt nghiệp của mình nghiên cứu về vấn đề “Ý

nghĩa biểu trưng của các con số trong tiếng Việt”.

- Nguyễn Thị Hồng Ngân trong hội thảo khoa học trẻ lần I cũng có bài nghiên cứu về

“Biểu tượng nước trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”.

- Nguyễn Thị Ngân Hoa có bài viết đề cập đến vấn đề: “Tìm hiểu những nhân tố tác

động đến ý nghĩa của biểu tượng”. Bài viết được đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 10

năm 2006.

Ngoài ra trên các trang web tiếng Việt rải rác có nhiều bài viết giải thích về ý nghĩa

biểu tượng của Phật giáo và Cơ đốc giáo như: giải thích ý nghĩa của biểu tượng chữ Vạn, ý

nghĩa của biểu tượng thánh giá…

Có thể nói vấn đề nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam đã được các học giả quan tâm,

trong đó ý nghĩa biểu trưng của các con số và màu sắc được quan tâm khá nhiều. Tuy nhiên

việc nghiên cứu về các biểu tượng tôn giáo chỉ là những bài nghiên cứu nhỏ, mang tính chất

tôn giáo nhiều hơn. Vì thế người viết chọn đề tài này với mong muốn nghiên cứu sâu hơn về

hệ thống giao tiếp đặc biệt của con người được hình thành khá lâu (trước khi ra đời chữ viết).

Như chúng ta biết, các biểu tượng có lịch sử hình thành tương đối lâu dài và mang đặc

trưng văn hóa của từng dân tộc (thánh giá, ngôi sao...là các biểu tượng được tạo nên từ hàng

nghìn năm trước). Nếu như văn hóa phương Tây khá quen thuộc với các biểu tượng của Cơ

đốc giáo thì phương Đông rất gần gũi với các biểu tượng Phật giáo.

Thông qua luận văn này người viết mong muốn đóng góp phần nhỏ vào vấn đề khá lí

thú nhưng còn bỏ ngõ ở Việt Nam: “Quan hệ giữa hình thức và nội dung trong các biểu

tượng tôn giáo”.

3. Đối tượng nghiên cứu

Trong cuộc sống hằng ngày “dẫu ta có nhận biết hay không, đêm ngày trong hành

ngôn, trong các cử chỉ, hay trong các giấc mơ của mình, mỗi chúng ta đều sử dụng các biểu

tượng…Ngày nay tất cả các khoa học về con người cũng như các ngành nghệ thuật và tất cả

các ngành kỹ thuật bắt nguồn từ các khoa học ấy…Nói là chúng ta sống trong một thế giới

biểu tượng thì vẫn còn chưa đủ, phải nói một thế giới biểu tượng sống trong ta” [1;XIII-

XIV].

Qua nhận xét trên của hai tác giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant chúng ta thấy rõ

vai trò quan trọng của các biểu tượng. Biểu tượng không chỉ hiện diện trong lĩnh vực tôn

giáo mà còn xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác nữa. Nhiều biểu tượng cổ xưa đã được các

nhà khảo cổ phát hiện và nghiên cứu: các biểu tượng trong tín ngưỡng của Ai Cập, Hi Lạp,

Do Thái giáo, Cơ đốc giáo, Phật giáo…

Mỗi tôn giáo đều có hệ thống biểu tượng riêng, Cơ đốc giáo và Phật giáo cũng vậy: hệ

thống các biểu tượng mà hai tôn giáo này sử dụng rất phong phú (Cơ đốc giáo có gần một

trăm biểu tượng, các biểu tượng trong Phật giáo cũng phong phú không kém). Trong luận

văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những biểu tượng tiêu biểu trong hai tôn giáo

trên.

4. Phạm vi nghiên cứu

Các biểu tượng trong tôn giáo rất đa dạng, đó là: những mẫu gốc (theo Carl.G.Jung

chúng giống như những nguyên mẫu của các tập hợp biểu tượng ăn sâu trong vô thức đến nỗi

chúng trở thành như một cấu trúc, ví dụ như thần núi Tản Viên (sơn thần trong tứ bất tử)),

những hình ảnh minh họa, các hành vi tôn giáo, những hiện tượng tự nhiên… Trong tôn giáo

người ta cũng xem các văn bản tôn giáo, các nghi lễ là các biểu tượng.

Thế nên trong phạm vi một luận văn khó có thể đi sâu nghiên cứu từng lĩnh vực cụ thể

của các biểu tượng trong tôn giáo. Vì thế phạm vi nghiên cứu của luận văn này chủ yếu là

“các biểu tượng đồ họa” (graphic) (có thể là chữ viết, hình vẽ được viết, vẽ hay chạm khắc).

Cơ đốc giáo hình thành nên ba nhánh chính (PL AII), ở đây chúng tôi không khảo sát

hệ thống biểu tượng của Tin lành (biểu tượng của đạo Tin lành không nhiều) mà chủ yếu

khảo sát hệ thống biểu tượng của Công giáo. Còn đối với Phật giáo chúng tôi chủ yếu nghiên

cứu các biểu tượng cơ bản của phái Đại thừa.

Ngoài việc tìm hiểu mối quan hệ giữa hai mặt: hình thức và nội dung của hệ thống

biểu tượng trong hai tôn giáo trên chúng tôi còn mong muốn tìm hiểu xem khi các biểu

tượng của hai tôn giáo này du nhập vào Việt Nam thì chúng chịu ảnh hưởng của các yếu tố

văn hóa Việt như thế nào?

5. Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê: Để hoàn thành luận văn chúng tôi cần phải dựa vào nguồn

dữ liệu lớn, trước hết cần phải hệ thống lại tất cả các biểu tượng phục vụ cho việc

nghiên cứu. Ngoài ra chúng tôi còn phải tập hợp các tài liệu có liên quan để giải quyết

phần nội dung của luận văn liên quan đến các lĩnh vực như: ngôn ngữ học, tâm lí học,

lịch sử, văn hóa…

Về nguồn dữ liệu chúng tôi tập hợp trên các sách báo viết về các biểu tượng tôn giáo,

trên mạng internet. Bên cạnh đó chúng tôi trực tiếp đến các nhà thờ và các chùa lớn tại

thành phố Hồ Chí Minh để thu thập tư liệu.

- Phương pháp phân loại: Sau khi tập hợp được nguồn dữ liệu thô chúng tôi tiến hành

phân loại các biểu tượng dựa theo mặt hình thức (cái biểu đạt). Phương pháp này giúp

chúng ta có thể tìm thấy những nét tương đồng trong việc sử dụng các phương tiện

hình thức để biểu thị nội dung của biểu tượng giữa các tôn giáo khác nhau.

- Phương pháp so sánh – đối chiếu: Sau khi phân loại chúng tôi sẽ tiến hành so sánh

và đối chiếu giữa hệ thống biểu tượng của hai tôn giáo để tìm ra những nét tương đồng

và dị biệt về mặt hình thức cũng như nội dung mà các biểu tượng muốn chuyển tải. Từ

đó tìm hiểu xem các biểu tượng đó nói gì, đó cũng là cách để tìm hiểu về mỗi nền văn

hóa mà các biểu tượng đại diện (văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây).

6. Ý nghĩa khoa học

Như chúng ta biết kí hiệu học là “mảnh đất màu mỡ” cần được quan tâm thỏa đáng.

Việc nghiên cứu các biểu tượng tôn giáo chỉ là một lĩnh vực nhỏ của bộ môn kí hiệu học.

Trên thế giới việc tìm hiểu về các biểu tượng tôn giáo đã được các nhà nghiên cứu quan tâm

từ khá sớm, nhưng ở Việt Nam lĩnh vực này còn khá mới mẻ. Thông qua luận văn này người

viết mong muốn góp một phần nhỏ để mở ra khái niệm rộng về ngôn ngữ nói chung. Để biểu

đạt ý nghĩ, chúng ta không chỉ dùng kí hiệu ngôn ngữ mà còn dùng các kí hiệu phi ngôn ngữ.

Biểu tượng, nhất là biểu tượng tôn giáo cũng là một loại ngôn ngữ thể hiện ý niệm thông qua

hình ảnh.

Trong lĩnh vực kí hiệu học thì ngôn ngữ được xem là hệ thống kí hiệu đặc biệt nhất, vì

thế việc mở rộng đối tượng nghiên cứu thuộc lĩnh vực này là vấn đề hết sức lý thú. Thông

qua việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hai mặt: nội dung và hình thức của các biểu tượng

trong tôn giáo người viết mong muốn tìm hiểu những nét tương đồng và dị biệt giữa hai hệ

thống kí hiệu: biểu tượng và ngôn ngữ.

Thêm nữa việc nghiên cứu đề tài này giúp mọi người hiểu thêm về hai nền văn hóa lớn

của thế giới: văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây. Vì ý nghĩa của các biểu tượng

tôn giáo biểu thị giá trị tâm linh của mỗi người dân Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung

theo đạo.

7. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính gồm

3 chương:

 Chương 1: Lý luận chung, giải quyết những vấn đề liên quan đến lý thuyết và đưa

ra khái niệm chung về biểu tượng.

 Chương 2: Chúng tôi tiến hành phân loại các biểu tượng trong Cơ đốc giáo và Phật

giáo thành hệ thống và trình bày những phương thức biểu đạt được sử dụng trong

hệ thống biểu tượng của hai tôn giáo trên.

 Chương 3: Chúng tôi tiến hành so sánh hệ thống biểu tượng và giải mã một số biểu

tượng tiêu biểu. Tiếp theo chúng tôi tìm hiểu cách thức chuyển tải nội dung của các

biểu tượng cũng như mối quan hệ giữa hai mặt hình thức và nội dung của các biểu

tượng tôn giáo. Cuối cùng chúng tôi sẽ nghiên cứu những tác động của yếu tố văn

hóa Việt đối với các biểu tượng Phật giáo và Cơ đốc giáo khi du nhập vào Việt

Nam.

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG

1.1. Nguồn gốc hình thành biểu tượng

Thuật ngữ symbol bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp σύμβολον (sýmbolon) với gốc từ συν-

(syn-) nghĩa là "cùng nhau" và βολή (bolē) có nghĩa là “ném”, vậy nghĩa của thuật ngữ này

là: hợp lại, tập trung lại, tụ họp lại.

Ban đầu ý nghĩa của biểu tượng như là dấu hiệu để nhận diện. Nó là một vật được cắt

làm đôi. Ý nghĩa của thuật ngữ này có lẽ bắt nguồn từ tập tục của người Hi Lạp cổ đại. Ở

thời đó, để có thể nhận ra nhau (cha mẹ và con, chủ và khách, hai người bạn sắp chia tay lâu

ngày, người cho vay và người đi vay, hai kẻ hành hương…) thì người ta dùng một miếng đất

sét nung, chia làm hai, mỗi thành viên giữ một mảnh, sau này ráp hai mảnh lại họ sẽ nhận ra

nhau. Cách thức này còn được các hội kín sử dụng để kết nạp các thành viên. Người ta sẽ

giao cho mỗi thành viên các mảnh vỏ sò có chạm khắc đặc biệt. Mỗi khi hội họp, các thành

viên dùng các vỏ sò này làm dấu hiệu để nhận ra nhau.Tác giả cuốn “Từ điển Văn hóa thế

giới” nhận xét rằng: “Biểu tượng chia ra và kết hợp lại với nhau, nó chứa hai ý tưởng phân li

và tái hợp; nó gợi lên ý nghĩa về một cộng đồng đã bị chia tách và có thể tái hợp, hình thành.

Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ; ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong

những cái vừa là gãy vỡ vừa là nối kết những phần của nó đã bị vỡ ra” [1;XXIII].

Qua ý nghĩa ban đầu của biểu tượng có thể hiểu một cách khái quát rằng: “Biểu tượng

đại diện cho những điều ngoài bản thân nó”. Nếu lấy hoa hồng làm biểu tượng, thì nó không

chỉ là hoa hồng mà mang ý nghĩa phong phú hơn nhiều, nó là biểu tượng của tình yêu, của

cái đẹp.

Qúa trình hình thành của biểu tượng cũng rất khác nhau

- Có những biểu tượng được hình thành qua sự liên tưởng: như hoa sen 8 cách ứng với 8

hướng không gian khiến hoa sen là biểu tượng của sự hài hòa vũ trụ. Hoa Perce (hoa

bướm) là biểu tượng của tư duy con người. Ý nghĩa biểu trưng của loài hoa này dựa

vào số cánh hoa (hoa bướm có năm cánh) mà con số năm lại biểu trưng cho con người.

Vì nếu dang tay ra thì con người được xếp đặt thành năm phần theo hình chữ thập: hai

tay, nửa thân trên, phần giữa - chỗ của trái tim – đầu và hai chân.

- Có những biểu tượng được hình thành qua qui ước. Hãng xe hơi nổi tiếng thế giới của

Đức BMW, trong suốt quá trình phát triển của mình luôn trung thành với biểu tượng

hình cánh quạt trắng xanh. BMW là công ty chuyên sản xuất ôtô xe máy nhưng tiền

thân của công ty này là hai công ty sản xuất động cơ máy bay (Raap Motor Works và

BMW GmbH). Trên những chiếc máy bay được sản xuất vào thập kỉ 20 các phi công

quan sát được hình ảnh chuyển động của hai cánh quạt, khi chạy với tốc độ nhất định

thì hai cánh quạt này sẽ chia quĩ đạo của chúng thành bốn phần bằng nhau. Hai phần

mang màu trắng đậm, hai phần còn lại mang màu xanh. Vì thế logo của công ty là sự

kết hợp của hình khối đơn giản và những màu sắc quen thuộc (hai màu xanh và trắng

là màu cờ của xứ Bavaria, màu xanh còn mang ý nghĩa biểu trưng cho sức sống, cho hi

Biểu tượng của công ty BMW

vọng).

- Có những biểu tượng được hình thành từ kinh nghiệm thực tế. Noel hàng năm, người

dân khắp nơi trên thế giới chuẩn bị cho ngày lễ trọng thể này rất chu đáo và việc trang

hoàng cây thông vào dịp Noel là một việc làm không thể thiếu. Hình ảnh cây thông

Noel được xem là biểu tượng của niềm hi vọng và sức sống mới trong lễ hội đón chào

năm mới. Vậy ý nghĩa của biểu tượng này bắt đầu như thế nào? Tương truyền, thánh

Martin Luther (người cải chính đạo Tin Lành) khoảng năm 1500, ngài dạo bước qua

cánh rừng vào một đêm Noel, trời quang đãng và rất lạnh, đặc biệt có loài cây nhỏ

khiến ngài hết sức chú ý. Trên cành cây tuyết trắng phủ đầy lung linh dưới ánh trăng,

nhìn xuyên qua kẽ lá là ánh sáng của muôn vàn vì sao. Cảnh vật hôm đó đã làm Luther

thật sự rung động. Vì thế khi trở về ngài đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại

câu chuyện này với lũ trẻ. Để tái tạo ánh sáng của muôn vàn ánh sao ngài treo nến trên

cành cây và thắp sáng những ngọn nến bày tỏ tấm lòng tôn kính Chúa. Từ đó phong

Cây thông được trang hoàng vào đêm Noel

tục cây thông giáng sinh trở nên phổ biến vào dịp Noel (Theo wikipedia tiếng Việt).

- Trong văn học ở những tình huống cụ thể trên cơ sở những ẩn dụ hợp logic mà hình

thành những biểu tượng lâm thời của một tác phẩm. Hình ảnh “con hạc đầu đình ”

trong câu ca dao xưa là biểu tượng về thân phận người phụ nữ:

Em như con hạc đầu đình

Muốn bay không nhấc nổi mình mà bay

Hình ảnh “con hạc đầu đình” là biểu tượng lâm thời của tác phẩm chỉ người con gái.

Vì đặc điểm cơ bản của “con hạc đầu đình” là được làm bằng đá nên không thể bay được.

Trong xã hội phong kiến người phụ nữ cũng vậy, không thể tự quyết định số phận của

bản thân mình, họ bị bó buộc, giam hãm giống như cách nói của câu ca dao trên “muốn

bay không nhấc nổi mình mà bay”. Như vậy chỉ trong văn cảnh này thì người đọc mới

hiểu “con hạc đầu đình” chỉ về số phận của người phụ nữ.

1.2. Qúa trình phát triển và vai trò của biểu tượng

1.2.1. Qúa trình phát triển của biểu tượng

Với những thành tựu to lớn của ngành khảo cổ học, người ta đã chứng minh được sự

tồn tại của con người cách đây hàng triệu năm (Từ 4 đến 6 triệu năm) và sống thành cộng

đồng. Khi sống thành cộng đồng thì nhu cầu giao tiếp của con người là không thể thiếu. Từ

đó hình thành ngôn ngữ, một công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người. Chữ viết chỉ

mới xuất hiện vào đầu thời kỳ đồ đồng (cuối thiên niên kỷ thứ 4 trước công nguyên). Trước

khi có chữ viết thì con người đã dùng những phương tiện nào để truyền tin cho nhau?

Trong quá trình truyền nội dung thông tin, người truyền tin có thể quên hoặc lầm lẫn.

Vì thế người ta tìm cách tạo ra những kí hiệu giúp cho trí nhớ. Vì thế có nhiều kiểu kí hiệu

truyền tin khác nhau: dùng các thẻ gỗ được khắc vạch để ghi nhớ (mỗi vạch hoặc mỗi nhóm

vạch khắc theo một kiểu nhất định như chữ thập, dấu song song, dấu nhân, ô vuông…sẽ ứng

với một loại thông tin quan trọng cần nhớ), dùng các chuỗi vỏ sò, vỏ hến được gọi là các

wampum của những người Indiens ở Bắc Mỹ (cách xâu các vỏ sò này thành chuỗi theo

những kiểu nào đó, theo những màu sắc nào đó còn là một cách để thông tin), dùng dây để

thông tin, dùng cử chỉ, nét mặt, điệu bộ, dùng các bộ phận của con vật để thông báo (trong

giai đoạn con người sinh sống bằng săn bắn, hái lượm), chẳng hạn cặp sừng hươu thông báo

rằng nơi này nhiều hươu nai, cành cây bắt chéo nơi dấu chân cọp sẽ cho người khác biết nơi

đó có nhiều thú dữ. Tuy nhiên cách thông báo này có nguy cơ bị mất thông tin. Vì thế mà đã

nảy sinh cách dùng hình vẽ để thay cho vật thực. Thay vì để một cặp sừng hươu thật thì

người ta vẽ hoặc khắc lên vách đá một cặp sừng hươu, người ta vẽ những mũi tên để thông

báo nơi đây có nhiều chim muông. Người dân du mục sống trong hoang mạc ở Ai Cập có thể

vẽ một đường tròn có một vạch thẳng đứng ở trên biểu thị cho cái dilu (là cái túi bằng da đeo

ở cổ bằng một sợi dây thừng) để chỉ rằng anh ta đã đào đất ở đây và tìm thấy nước.

Từ đây hình thành các loại kí hiệu bằng các hình vẽ biểu trưng. Các hình vẽ trở thành

kí hiệu chứa đựng thông tin: dùng một sự vật cụ thể để biểu thị một khái niệm trừu tượng.

Ngay từ thời tiền sử các loại kí hiệu bằng hình vẽ này đã được sử dụng và tiếp tục phát

triển trong suốt thời kì đồ đá mới trong khoảng thời gian từ 10 000 đến 20 000 năm. Ngày

nay các nhà khảo cổ đã tìm thấy những hình vẽ trên các hang đá Lascaux (Pháp), Altamira

Hình vẽ trên hang Lascaux (Pháp), nghệ thuật thời đồ đá cũ

(Tây Ban Nha) các hình ảnh như: nai, voi ma mút, bò rừng, ngựa…

Ở thời kì này, các biểu tượng được vẽ chủ yếu theo hai chủ đề chính: các con vật, và

, hình những hình ảnh mang tính hình học (cơ bản gồm năm nhóm chính) như: đường cong

xoắn ốc , , dấu chấm • hay đường thẳng ─.

Giai đoạn tiếp theo, cấu trúc các hình vẽ phức tạp hơn, những kí hiệu sau được tìm

thấy trong các hang đá và được khắc chạm trên đá: , , , , . Tuy nhiên ở giai

đoạn này vẫn còn những kí hiệu chủ yếu mang tính chất miêu tả như hình bàn tay , bàn

chân , . Ở Bắc Âu các nhà khảo cổ đã phát hiện hình ảnh dấu chân duy nhất được khắc

trên đá có niên đại khoảng 1500 năm trước công nguyên (dấu chân trở thành biểu tượng của

đạo Phật, và thường được kết hợp với nhiều biểu tượng khác nữa ).

Các biểu tượng không ngừng phát triển, chúng ta có thể minh họa qua các biểu tượng

của người Ai Cập cổ đại có lịch sử khoảng 4000 năm trước công nguyên. Trong giai đoạn

này có thể kể ra các biểu tượng tiêu biểu như: , , .

Khoảng 3000 năm trước công nguyên là kỉ nguyên của nền văn hóa Ấn Độ với biểu

tượng tiêu biểu là (swastika) của đạo Hin du, đạo Jain, đạo Phật…

Đại biểu tiếp theo là Hi Lạp. Nền văn hóa của họ phát triển rực rỡ vào khoảng 1000

năm trước công nguyên. Biểu tượng tiêu biểu trong giai đoạn này là hình ngôi sao sáu cánh

. Trong nhiều thế kỉ tiếp theo thì những biểu tượng như: , bắt đầu

được sử dụng.

Sau công nguyên có khoảng 1500 nhóm cấu trúc chữ viết ghi ý khác nhau. Chúng chủ

yếu tồn tại ở các nền văn hóa phát triển như chữ viết tượng hình của người Ai Cập và hệ

thống chữ số của người La Mã, và hệ thống chữ viết của tượng hình của người Maya.

Trong thế kỉ 19, ý nghĩa của các biểu tượng không chỉ dựa vào cấu trúc hình thức mà

còn tùy thuộc vào các yếu tố khác nữa như: màu sắc, bối cảnh.

Sang thế kỉ 20 có sự kết hợp của các mẫu biểu tượng cũ tạo nên những biểu tượng mới

phức tạp hơn , , . Vào nửa đầu thế kỉ 20 xuất hiện nhiều biểu tượng mới, chủ yếu

được sử dụng trong truyện tranh vui và qua các hình ảnh quảng cáo.

Còn lịch sử hình thành của các biểu tượng tôn giáo có thể bắt đầu từ thời kì đồ đá cũ

(cách đây khoảng 95 000 đến 35 000 năm), trong thời kì này mới chỉ là các tín hiệu đầu tiên

với những hình thức tôn giáo sơ khai như Đạo vật tổ, ma thuật, tang lễ. Bước sang thời kì đồ

đá giữa con người chuyển từ săn bắn, hái lượm sang chăn nuôi và trồng trọt thì các hình thức

tôn giáo dân tộc ra đời với sự thiêng liêng hóa nguồn lợi của con người trong sản xuất và

cuộc sống: thần Lúa, thần Khoai, thần Sông…hoặc tôn thờ các biểu tượng của sự sinh sôi

(thờ giống cái, hình ảnh phụ nữ, phồn thực…) đây là các vị thần của thị tộc mẫu hệ. Khi đồ

sắt xuất hiện, các quốc gia dân tộc ra đời các vị thần ấy còn tồn tại chừng nào dân tộc tạo ra

các vị thần ấy vẫn tồn tại. Theo thời gian, do nội dung của tôn giáo mang tính phổ quát,

không gắn chặt với một quốc gia cụ thể, với các vị thần cụ thể, với các nghi thức cụ thể của

một cộng đồng người hay một dân tộc, quốc gia nhất định nên sự bành trướng của nó diễn ra

thuận lợi, dễ dàng thích nghi với các dân tộc khác. Sự bành trước của tôn giáo xảy ra trong

Những vị thần của người Ai Cập cổ Biểu tượng về những nguyên tố ban đầu

(không khí, đất, nước, lửa)

suốt thời kì văn minh công nghiệp và cho tới tận ngày nay.

Ngày nay có bao nhiêu tôn giáo thì có bấy nhiêu hệ thống biểu tượng phục vụ cho tôn

giáo đó. Phật giáo và Cơ đốc giáo cũng vậy, những biểu tượng của hai tôn giáo này ngày

càng phổ biến như: biểu tượng thánh giá, chim bồ câu, nhánh cây ô liu, chữ vạn, hoa sen…

Nguồn gốc của các biểu tượng trong Phật giáo và Cơ đốc giáo chủ yếu dựa vào các kinh

sách.

Trải qua các thời kì trên thế giới có các hình thức tôn giáo sau:

- Tôn giáo trong xã hội chưa có giai cấp: Tô tem giáo (thờ vật tổ), Ma thuật giáo, Bái

vật giáo và Vật linh giáo.

Hình ảnh totem

- Tôn giáo trong xã hội có giai cấp: Tôn giáo bản địa và tôn giáo thế giới, tôn giáo thế

giới mang tính đa quốc gia, ảnh hưởng đến nhiều khu vực rộng lớn trên thế giới như:

Phật giáo, Cơ đốc giáo, Hồi giáo…

Có thể nói các phương tiện giao tiếp của con người rất phong phú: ngôn ngữ nói, ngôn

ngữ viết, ngôn ngữ kí hiệu của người câm điếc, các nghi lễ tượng trưng, các hình ảnh, cử chỉ,

điệu bộ, biểu tượng …trong đó ngôn ngữ chỉ là hệ thống giao tiếp quan trọng nhất trong

những hệ thống này (chứ không phải là hệ thống giao tiếp duy nhất).

Như vậy biểu tượng hình thành từ khi chưa có chữ viết và không ngừng phát triển cho

đến ngày nay. Biểu tượng được xem là hệ thống tiền ký tự, vì chúng khá dễ nhớ, ghi lại ý và

truyền đạt thông tin nhanh nhất. Ngày nay do tiết kiệm lời, tránh phải in ấn dịch thuật phức

tạp, do thế giới ngày nay là ‘thế giới phẳng’, trong xu thế toàn cầu hóa đó người ta đã hình

thành những kí hiệu giao tiếp bằng hình vẽ ghi ý, tạo thành những đơn vị có nghĩa trong giao

tiếp. Có những hình vẽ (Sa) có thể nhận thức được. Lại có những hình vẽ (Sa) chỉ hoàn toàn

qui ước.

Cái biểu đạt (Sa) Cái được biểu đạt (Se) Kiểu nghĩa vị

Nội tại (có thể nhận Cấm hút thuốc thức được)

Hạnh phúc, buồn, Nội tại giận hờn

Ngoại tại (do qui Biểu tượng của Chúa ước)

1.2.2. Vai trò của biểu tượng

Ngày nay, những kí hiệu hình vẽ này mang tính phổ quát, dùng chung cho khắp thế

giới hay ít nhất cũng chung cho một khu vực. Biểu tượng được sử dụng trong nhiều lĩnh vực:

nghệ thuật, hình thức ẩn dụ, thần thoại, tôn giáo và các nghi lễ tôn giáo...

Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình biểu tượng không hề giảm vai trò quan

trọng của nó, biểu tượng vẫn tiếp tục xuất hiện trong văn học, phim ảnh. Vì thế mà có nhiều

bài viết nghiên cứu hệ thống biểu tượng được sử dụng trong văn học và phim ảnh, như bài

viết “Biểu tựơng nước trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp” của tác giả Nguyễn Thị

Hồng Ngân hay bài viết “Một số biểu tượng trong phim Việt Nam ở nước ngoài” được đăng

trên trang web thegioidienanh.vn.

Không những thế trong lĩnh vực tâm lí học người ta nhận thấy tầm quan trọng của các

biểu tượng, đó là các biểu tượng của giấc mơ (Con người tri giác thế giới không chỉ bằng các

giác quan mà còn bằng tiềm thức nữa. Chúng ta phản ứng trước những hiện tượng có thực,

trước những khích động thị giác và thính giác và những cảm giác ấy được chuyển từ bên

ngoài vào tâm trí ta, những cảm giác trở thành những thực thể tinh thần) nó trở thành liệu

pháp để điều trị các căn bệnh liên quan đến tâm lí (khi chúng ta giải thích ý nghĩa các biểu

tượng trong giấc mơ, thì chúng ta có thể chữa được bệnh): bệnh suy nhược thần kinh, bệnh

mất trí nhớ…Cụ thể trong trường hợp một người Cơ đốc giáo mộ đạo, thì biểu tượng cây

thánh giá chỉ có thể suy diễn trong nội dung Cơ đốc giáo mà thôi (Nhưng chúng ta không thể

nói rằng bất cứ ở đâu hay lúc nào thì biểu tượng thập tự cũng có cùng một ý nghĩa).

“Có biết bao sự kiện vượt khỏi phạm vi hiểu biết của người ta, bởi vậy chúng ta luôn

luôn dùng những biểu tượng để hình dung những khái niệm mà chúng ta không thể định

nghĩa và hiểu biết đầy đủ. Cũng vì lẽ ấy mà tôn giáo dùng thứ ngôn ngữ đầy biểu tượng và

diễn đạt ý tưởng một cách có ý thức như thể chỉ là một phương diện của một sự kiện tâm lí

rất quan trọng: vì rằng người ta cần tạo ra biểu tượng một cách ngẫu nhiên và phi ý thức”

[11; 19].

Biểu tượng có vai trò nối kết con người ở các thế hệ khác nhau, bởi vì mỗi nhóm

người, mỗi thời đại có những biểu tượng của riêng mình: khi chúng ta rung động trước biểu

tượng nghĩa là chúng ta đã tham gia vào nhóm người và thời đại ấy. Như vậy biểu tượng còn

mang tính xã hội hóa.

Thêm nữa, biểu tượng còn là một ngôn ngữ phổ biến, bởi vì không cần thông qua

trung gian ngôn ngữ nói hay viết, mọi người đều có thể hiểu được nó. Biểu tượng là công cụ

hiệu quả đế các cá nhân, các nhóm người, các dân tộc có thể thấu hiểu lẫn nhau. Khi chúng

ta hiểu sâu sắc ý nghĩa các biểu tượng của một cá nhân hay một dân tộc tức là chúng ta đã

hiểu được tận cùng con người và dân tộc ấy.

Để nhấn mạnh vai trò quan trọng của biểu tượng trong đời sống chúng tôi sử dụng

nhận xét sau của các tác giả từ điển Văn hóa thế giới: “Thời đại không có biểu tượng là thời

đại chết; xã hội thiếu biểu tượng là xã hội chết. Một nền văn minh không còn có biểu tượng

thì sẽ chết; nó chỉ còn thuộc về lịch sử” [1;XXXIII].

1.3. Những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “biểu tượng”

Từ trước đến nay có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “symbol”.“Sự lẫn lộn này

khiến biểu tượng bị yếu đi, thoái hóa thành một dạng tu từ, thành kinh viện hay tầm thường”

[1;XVII]. Chính điều này dẫn đến nhiều nhầm lẫn đáng tiếc, cụ thể: khi thuật ngữ logo chưa

ra đời thì từ symbol trong tiếng Anh và symbole trong tiếng Pháp cũng được dùng để chỉ

chung cho cả logo và biểu tượng. Wikipedia Việt Nam khi định nghĩa logo cũng đã dùng từ

biểu trưng để chỉ khái niệm này, nó khiến người đọc dễ cho rằng hai khái niệm symbol và

logo là một: “Logo tương đương trong tiếng Việt là biểu trưng. Biểu trưng có thể hiểu là

biểu tượng cho một công ty, một tổ chức, một hoạt động (như một cuộc thi…) hay một ban

nhóm. Biểu trưng mang tính đặc trưng cho đối tượng mà nó đại diện. Trong hoạt động

quảng bá, biểu trưng không phải là thương hiệu, tuy rằng nó cũng là ấn tượng bên ngoài đại

diện cho thương hiệu, giúp công chúng dễ nhận ra thương hiệu”.

Do có nhiều sự nhầm lẫn về hai thuật ngữ này nên Phạm Thị Minh Hải trong luận văn

thạc sĩ của mình đã phân biệt rõ Logo và Biểu tượng. Tác giả đã chỉ ra những nét tương đồng

và dị biệt của hai thuật ngữ trên:

Tương đồng Khác biệt

- Được tạo ra dựa trên tư Logo Biểu tượng

duy về thị giác, hình ảnh - Chỉ được hiện

- Ngoài việc biểu hiện cô đọng mang tính đại thực hóa thông

ra trên đồ họa còn diện. qua hình thức đồ

được hiện thực hóa - Về mặt cấu trúc: cả hai họa trên mặt

thông qua tri nhận của đều có thể thông qua ba phẳng.

con người hoặc qua hình thức của: hình ảnh, kí

những sự vật cụ thể tự, màu sắc…

trong đời sống. - Trong sử dụng: cả hai có

- Biểu tượng không nhất ngữ cảnh khá tương đồng, - Logo chỉ mang ý

thiết hiện thực hóa trên đôi khi đồng nhất. nghĩa khi nó tồn

văn bản. tại rõ ràng trên

văn bản.

- Phạm vi sử dụng của - Phạm vi sử dụng

biểu tượng rất rộng. của logo hẹp: chỉ

được quen gọi

trong lĩnh vực

kinh tế.

(Logo thương mại dưới góc nhìn kí hiệu học, trang 12, 13)

Người ta không chỉ sử dụng nhầm lẫn giữa biểu tượng với logo mà còn nhầm lẫn thuật

ngữ này với khái niệm kí hiệu. Nguyên nhân là do các tác giả dùng thuật ngữ symbol theo ý

nghĩa như là một kí hiệu. Vì thế Peirce và Saussure dùng thuật ngữ symbol theo hai cách

hiểu khác nhau. Đối với Peirce, symbol là một kí hiệu “mọi từ ngữ, mọi câu, mọi quyển sách

và tất cả những kí hiệu qui ước đều là các symbols”- “all words, sentences, books and other

conventional signs are symbols”. Còn Saussure dùng từ symbole với kí hiệu toán học, đại số

học, khoa học là những kí hiệu mang tính chất hoàn toàn võ đoán: mỗi kí hiệu toán học Sa có

một Se là một khái niệm, được xác lập hoàn toàn võ đoán.

Sở dĩ Saussure dùng từ symbole để chỉ những kí hiệu toán học vì ông muốn nhấn

mạnh tính chất võ đoán của kí hiệu ngôn ngữ. Vì người ta cho rằng ngôn ngữ như là hệ thống

kí hiệu mang tính biểu trưng, hay nói đúng hơn là chỉ cái biểu đạt. Trong khi đó Saussure

tránh xa quan điểm này vì biểu trưng có một đặc tính là không bao giờ hoàn toàn võ đoán, nó

không phải là trống rỗng mà có mối tương quan giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt.

Chính vì thế mà các nhà nghiên cứu như Sebeok, Lev Semionovich Vygotsky, và

Susanne Langer… đã nghiên cứu nhằm phân biệt rõ giữa kí hiệu và biểu tượng.

Thomas Albert Sebeok phân kí hiệu thành 6 loại: signal, symptom, icon, index,

symbol, name. Đối với symbol ông định nghĩa như sau: “A sign without either similarity or

contiguity, but only with a conventional link between its signifer and its denotata, and with

an intentional class for its designatum, is called a symbol” tạm dịch là: “Một kí hiệu mà

giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt không có sự gần nhau hay tương tự nhau nhưng mối

liên hệ giữa chúng mang tính qui ước và có sự chi phối của ngữ cảnh xã hội thì được gọi là

biểu tượng”.

Lev Semionovich Vygotsky trong “Though and Language” phân biệt 3 khái niệm:

tool, sign, symbol.

Còn Susanne Langer trong “Philosophy in a New Key” cũng đã tiến hành phân biệt 3

khái niệm: sign, signal, symbol. Signs trỏ một cái gì đó không phải là chủ đích của ai.

Chẳng hạn, ánh chớp là kí hiệu của sấm và dông tố còn symbols là những biểu tượng văn

hóa, gắn với lịch sử, phong tục, tín ngưỡng…. Chẳng hạn, tiên rồng là biểu tượng văn hóa

gắn với truyền thuyết về sự hình thành dân tộc Việt. Mỗi dân tộc có thể chọn những đối

tượng khác nhau làm biểu tượng cho những khái niệm khác nhau.

Ngoài việc lẫn lộn giữa biểu tượng với logo, với kí hiệu còn có sự nhầm lẫn giữa hệ

biểu tượng và tính biểu tượng. Hệ biểu tượng là tập hợp các quan hệ và những cách giải

thích gắn với một biểu tượng và tập hợp các biểu tượng đặc trưng cho một truyền thống. Đôi

khi người ta cũng gọi hệ biểu tượng là ngành khoa học hay lý thuyết về các biểu tượng, đây

là một ngành khoa học thực chứng cơ sở trên sự tồn tại các biểu tượng, lịch sử và các qui

luật thực tế của chúng. Còn tính biểu tượng chỉ nói đến một đặc tính chung, mà đặc tính đó là

cơ sở để gợi nên những biểu tượng. Cụ thể: khi chúng ta tập hợp các biểu tượng như: mặt

trời, bầu trời, mặt trăng, các sao… thành hệ biểu tượng về trời, hay khi chúng ta tập hợp các

biểu tượng như: núi lửa, nước, hang đá…thành hệ biểu tượng của đất. C.Lévy Strauss đã

nhận xét rằng: “Mọi nền văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ biểu tượng trong đó

xếp ở hàng đầu là ngữ ngôn, các qui tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học

và tôn giáo” [1;XXIII]. Còn khi ta nói đến tính biểu tượng của mặt trăng là nói về một đặc

tính chung của mặt trăng.

Với mục đích xác định rõ thuật ngữ biểu tượng, cần phân biệt rạch ròi hình ảnh tượng

trưng với tất cả những hình ảnh khác mà nó quá thường hay lẫn lộn, nên tác giả từ điển văn

hóa thế giới đã tiến hành phân biệt rõ khái niệm biểu tượng với biểu hiệu, vật hiệu, phúng

dụ, ẩn dụ, loại suy, triệu chứng, dụ ngôn, ngụ ngôn luân lý (xem chi tiết từ điển văn hóa thế

giới, trang bìa XVII).

Trong tiếng Anh và tiếng Pháp symbol và symbole không có định nghĩa chuẩn. Vì thế

mà có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm biểu tượng. Có lẽ do mức độ xuất hiện trong

ngữ cảnh của biểu tượng rất cao, việc dùng biểu tượng phổ biến trong nhiều lĩnh vực như:

văn học, khoa học, toán học, âm nhạc, tâm lí, tôn giáo… Bên cạnh đó biểu tượng ngoài việc

biểu hiện ra trên đồ họa còn có thể được hiện thực hóa thông qua sự tri nhận của con người

hoặc qua những sự vật cụ thể trong đời sống. Tùy từng lĩnh vực mà có những định nghĩa

khác nhau về biểu tượng:

- Trong lĩnh vực kí hiệu học

Theo Daniel Chandler trong “Semiotic for beginner” cho rằng: “Biểu tượng là kí hiệu

trong đó cái biểu đạt không tương đồng với cái được biểu đạt nhưng về cơ bản thì mối

quan hệ giữa chúng là tùy ý hay chỉ là mang tính qui ước” (http://www.aber.ac.uk).

- Trong lĩnh vực tâm lí học

Đại diện tiêu biểu là nhà phân tâm học người Thụy Sĩ Carl Gustav Jung cho rằng:

“Chúng ta gọi là biểu tượng, một danh từ, một tên gọi hay một hình ảnh đã quen thuộc

với ta hằng ngày, nhưng còn gợi lên những ý nghĩ khác thêm vào ý nghĩa ước định hiểu

nhiên của nó. Biểu tượng gợi lên cái gì mờ mịt, xa lạ hay tàng ẩn đối với ta” [11;17]. Ông

định nghĩa tiếp tục: “Một chữ hay một hình ảnh sẽ trở thành một biểu tượng khi nó gợi

đến cái gì khác ngoài ý nghĩa hiển nhiên và trực tiếp” [11;18].

“Theo quan điểm của kí hiệu học hiện đại thì ngôn ngữ là một dạng điển hình của các

- Trong lĩnh vực ngôn ngữ học

loại kí hiệu mang màu sắc biểu trưng. Đó chính là một hệ thống các phù hiệu (symbols),

bởi vì tương ứng với một cái biểu hiện cụ thể bao giờ cũng có một cái được biểu hiện đi

kèm. Xét theo nguồn gốc và bản chất của ngôn ngữ với tư cách là một hiện tượng của

hành vi con người thì ngôn ngữ mang tính cụ tượng(*)(cụ tượng là mối liên hệ trực tiếp

giữa mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện của tín hiệu không thông qua bất kì một phép

ẩn dụ hoặc hoán dụ, hoặc một quá trình nhân tạo nào), vì có thể tìm ra được các lí do

khác nhau cho mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện trong một hệ thống

ngôn ngữ. Tuy nhiên, nếu xét trong bình diện sử dụng thì người ta không quan tâm nhiều

lắm đến bản chất có lí do của mối quan hệ này mà chỉ quan tâm đến các giá trị (giá trị xã

hội) trong khi sử dụng của hệ thống kí hiệu này mà thôi. Trong diện đồng đại của vấn đề,

người ta có thể trừu tượng hoá tính cụ tượng của ngôn ngữ và thay vào đó là tính biểu

trưng hay tính phù hiệu của mỗi một yếu tố của hệ thống ngôn ngữ” [Phù hiệu ngôn ngữ,

ngonngu.net].

- Trong các ngành khoa học hiện đại

Biểu tượng là hệ thống các kí hiệu được dùng trong các lĩnh vực như: hóa học, toán học,

vật lí học, âm nhạc…Sở dĩ các biểu tượng được sử dụng nhiều vì tính đơn giản, thuận lợi

và ngắn gọn súc tích của các kí hiệu dùng để biểu thị các đối tượng. Chỉ cần một hay hai

kí tự làm kí hiệu cho một đối tượng. Ví dụ: Carbon: C; Zinc: Zn…

- Trong các ngành nghệ thuật, tôn giáo

Symbol là những biểu tượng văn hóa, gắn với lịch sử, phong tục tín ngưỡng…Việc sử

dụng các hình ảnh làm biểu tượng yêu cầu phải cô đọng giúp mọi người lĩnh hội nhanh.

Ví dụ để tìm hình ảnh dùng làm biểu tượng cho con tuần lộc người ta chỉ cần vẽ hai cái

sừng là đủ.

Trước khi đi đến định nghĩa vể biểu tượng chúng ta cần phân biệt giữa hai khái niệm:

kí hiệu và biểu tượng. Như vậy dựa vào đâu để có thể phân biệt giữa kí hiệu và biểu tượng?

Mối quan hệ mang tính có lí do, tính tất yếu giữa hai mặt của biểu tượng chính là điểm quan

trọng để phân biệt biểu tượng với dấu hiệu và kí hiệu. Các tác giả “Từ điển biểu tượng văn

hóa thế giới” đã chỉ ra rất đúng rằng: “Biểu tượng cơ bản khác với dấu hiệu, ở chỗ dấu hiệu

là một qui ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt vẫn xa lạ nhau, trong khi

biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực

năng động tổ chức” [1;XIX].

Như vậy thì biểu tượng phong phú hơn một dấu hiệu, kí hiệu đơn thuần: hiệu lực của

nó vượt ra ngoài ý nghĩa, nó phụ thuộc và cách giải thích và cách giải thích thì phụ thuộc vào

một thiên hướng nào đó.

Dù không có cách gì định nghĩa được một biểu tượng. Vì tự bản chất của nó phá vỡ

các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm. Nó giống như mũi

tên bay mà không bay, đứng yên mà biến ảo, hiển nhiên mà lại không nắm bắt được. Biểu

tượng bộc lộ rồi lủi trốn; càng tự phơi bày sáng rõ nó càng tự giấu mình đi; nói như Georges

Gurvich thì các biểu tượng tiết lộ mà che giấu và che giấu mà tiết lộ [1;15].

Tuy nhiên chúng ta cũng cần xác định lại thế nào là biểu tượng (dù khái niệm biểu

tượng có nhiều cách hiểu khác nhau và không dễ gì định nghĩa nó). Vì thế trong luận văn này

chúng tôi tiếp thu cách hiểu của Nguyễn Đức Dân trong “Kí hiệu học một số vấn đề cơ

bản”, đề tài khoa học cấp đại học quốc gia – tp Hồ Chí Minh.

Biểu tượng có thể là một đối tượng, hình ành, từ ngữ, âm thanh, hay những dấu hiệu

đặc biệt dùng để biểu hiện những đối tượng khác thông qua sự liên tưởng, qua sự giống

nhau, hay do qui ước.

Biểu tượng được dùng trong những ngành nghệ thuật, những tổ chức xã hội, tôn giáo, những

phạm trù tinh thần, tâm linh…

1.4. Bản chất kí hiệu của biểu tượng

Theo Saussure thì “Kí hiệu học là ngành khoa học nghiên cứu đời sống của các tín

hiệu trong lòng sinh hoạt xã hội; nó sẽ là một bộ phận của tâm lí học xã hội và của tâm lí học

đại cương” [12;40]. Nửa sau thế kỉ XIX, Saussure và triết gia Charles Sanders Peirce là hai

người đặt nền móng cho khoa kí hiệu học.

Vậy kí hiệu là gi? Vì sao nói “Chúng ta đang sống trong một thế giới kí hiệu?”. Theo

định nghĩa của Nguyễn Đức Dân thì: Một đối tượng A được dùng để thay thế cho một đối

tượng B khác thì A là một kí hiệu của B [2;8].

Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta giao tiếp với nhau không chỉ bằng ngôn ngữ mà

bằng các kênh giao tiếp khác nữa. Ngôn ngữ chỉ là hệ thống giao tiếp quan trọng nhất mà

thôi (chứ không phải là duy nhất). Vì nếu một người khiếm thị hay khiếm thính thì làm sao

họ có thể giao tiếp với mọi người xung quanh? Trẻ nhỏ khi chưa biết nói thông qua tiếng

khóc, thông qua những hành động cử chỉ chúng ta cũng có thể đoán ra ý muốn của trẻ là gì.

Rồi thông qua các triệu chứng cụ thể các bác sĩ có thể đoán ra được bệnh. Thời xưa cha ông

ta cũng có thể dự báo được thời tiết thông qua những dấu hiệu cụ thể như:

(1)Chớp đông nhay nháy

Gà gáy thì mưa

(2)Mỡ gà thì gió

Mỡ chó thì mưa

Các kí hiệu trong cuộc sống quanh ta không ngừng phát triển, nhất là trong thời đại

“Kĩ thuật số” như ngày nay. Các kĩ sư xây dựng có thể dựa vào một bản thiết kế để hướng

dẫn công nhân xây nhà. Các chuyên viên máy tính có thể dùng những mã riêng để viết nên

những phần mềm vi tính. Khi ra đường chỉ cần nhìn những biển chỉ dẫn giao thông, người đi

đường có thể đi đúng qui định. Nói chung trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kí hiệu đều

thể hiện vai trò quan trọng của nó. Kí hiệu là tất cả các phương tiện dùng để thông tin có thể

mã hóa và chuyển thành thông điệp mà người khác tiếp nhận được.

Khi nghiên cứu về bản chất của kí hiệu hiện có hai quan điểm chính về kí hiệu và hình

thành nên hai trường phái: quan điểm thứ nhất theo truyền thống châu Âu có sự lưỡng phân

trong kí hiệu, quan điểm thứ hai theo trường phái Mỹ, các kí hiệu được nhìn nhận theo quan

hệ bộ ba.

Theo quan điểm thứ nhất, bắt nguồn từ Saussure thì một kí hiệu có hai phương diện:

Cái biểu đạt, viết tắt là Sa signifier (Signifiant) và cái được biểu đạt, viết tắt là Se signified

(Signifié). Mối quan hệ giữa Sa và Se trong một kí hiệu là hai mặt không thể tách rời nhau,

và mối quan hệ này mang tính võ đoán.

Khái niệm

Hình ảnh âm thanh

- Cái được biểu đạt(signfied) : mặt nội dung của kí hiệu

- Cái biểu đạt (signifier) : mặt hình thức của kí hiệu

Theo quan điểm thứ hai, bắt nguồn từ Ch. Peirce:

Sign vehicle (Kí hiệu): Dạng thức của kí hiệu

Sence (Nghĩa): Nghĩa do kí hiệu tạo nên

Tam giác kí hiệu học

Referent (Vật qui chiếu): Cái mà kí hiệu đại diện

Sở dĩ Saussure nói “ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt” vì nhiều nguyên lí

trong ngôn ngữ học không chỉ riêng cho ngôn ngữ mà có thể áp dụng cho mọi loại mã. Vì

thế khi nghiên cứu biểu tượng, cụ thể là các biểu tượng tôn giáo chúng ta cũng có thể áp

dụng các nguyên lí của ngôn ngữ học.

- Về mặt bản chất

Đối với ngôn ngữ mối quan hệ giữa hai mặt: nội dung và hình thức mang tính võ đoán

còn đối với biểu tượng mối quan hệ giữa hai mặt này mang tính có lí do.

- Ngôn ngữ có tính hình tuyến trong khi đó các kí hiệu tạo hình không tổ chức theo hình

tuyến mà theo không gian.

- Ngôn ngữ có tính phân chiết hai tầng, biểu tượng cũng có thể phân tích được thành

những đơn vị nhỏ có nghĩa: hình dạng, hình ảnh, màu sắc, chữ viết, con số.

- Đặc điểm cơ bản của những cái biểu đạt trong biểu tượng là: chúng có những đơn vị

tạo hình tối thiểu. Đó là các chấm, nét, vùng; Có những đơn vị lớn hơn được hình

thành từ các đơn vị tối thiểu bằng cách thay đổi độ lớn, hình dạng và hướng của

chúng.

- Mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt không phải là quan hệ 1-1, chỉ một

cái biểu đạt giúp ta nhận thức ra nhiều cái được biểu đạt…, hay cái được biểu đạt dồi

dào hơn cái biểu đạt. Như vậy biểu tượng luôn mang tính đa trị.

Cấp độ đầu tiên của biểu tượng là các mẫu gốc, khi đi vào đời sống thì mỗi mẫu gốc

có thể sản sinh ra nhiều biểu tượng khác nhau. Khi nghiên cứu biểu tượng trước hết chúng ta

cần lập một danh mục các biểu tượng sau đó liệt kê các kiểu giải thích tiêu biểu nhất về các

biểu tượng cụ thể.

Chương 2: PHÂN LOẠI CÁC BIỂU TƯỢNG

Chúng tôi dựa vào cái biểu đạt (mặt hình thức) như chữ viết, màu sắc, con số, hình ảnh

(sự vật, hoa lá, hình học, con vật, bộ phận cơ thể) để làm căn cứ phân loại hệ thống biểu

tượng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo. Trong hai tôn giáo trên số lượng biểu tượng vô cùng

phong phú, vì thế khi dựa vào mặt hình thức để phân loại trong phạm vi một bảng chúng tôi

không liệt kê ra hết, chỉ xin liệt kê những biểu tượng thật sự tiêu biểu mang tính chất đại

diện.

Chữ viết Latin và Hy Lạp

Tên của Chúa

Tên của Chúa

Alpha và Omega

Hình ảnh

Con vật

Chiên con

Chim bồ câu

Bồ nông

Hoa lá

Cỏ ba lá

Hoa iris

Mão gai

Nhánh ô liu

Sự vật

Thánh giá

Ngôi sao

Mỏ neo

Tam vị nhất thể

Bộ phận cơ thể

Mắt

Bàn tay

Màu sắc

Màu trắng

Màu tía

Màu đỏ

Hình vuông Số 1

Hình tam giác Số 2

Hình tròn Số 3

Màu xanh lá cây Hình chữ thập Số 7…

Hình học Con số

2.1. Hệ thống biểu tượng trong Cơ đốc giáo

Biểu tượng gồm có hai mặt: hình thức và nội dung. Nội dung chính mà các phương

tiện hình thức thể hiện nhiều trong Cơ đốc giáo và Phật giáo là hình ảnh Thiên Chúa ba ngôi

và Tam bảo. Vì thế chúng tôi sẽ liệt kê tất cả những cái biểu đạt dùng để chỉ cái được biểu

đạt là Tam bảo và Tam vị nhất thể. Ngoài ra chúng tôi cũng tìm hiểu thêm một số biểu tượng

mang tính đại diện cho Phật giáo và Cơ đốc giáo như chữ vạn và thánh giá.

2.1.1. Tam vị nhất thể (the Trinity)

Theo Kinh Thánh thì Thiên Chúa ba ngôi hiện hữu trong ba thân vị: Chúa cha (the

Father), Chúa con (the Son Jesus Christ: Chúa Jesus) và Chúa Thánh linh (the Holy Spirit:

Đấng yên ủi). Để biểu thị ý nghĩa về sự thống nhất của ba thân vị, trong tiếng Anh người ta

dùng thuật ngữ “three trinity: Chúa ba ngôi”, biểu tượng chỉ Chúa ba ngôi: ba vòng tròn

(bằng nhau) lồng vào nhau, hoa iris, cỏ ba lá, biểu tượng ba ngôi hình cái khiên, ba hào

quang, ngôi sao David, hình tam giác đều (hình tam giác với thánh giá, ba con cá làm thành

hình tam giác), hình tam giác với tên Chúa (Yahweh), hình tam giác với từ Sanctus (có nghĩa

là linh thiêng), hình có ba cạnh (PL B11)…

2.1.1.1. Chúa cha (God the father)

Chúa cha là một phần của bộ ba Chúa ba ngôi, là đấng sáng thế. Từ xa xưa để chỉ

Chúa Cha người ta thường sử dụng các biểu tượng cụ thể sau:

BIỂU TƯỢNG CHỈ ĐỨC CHÚA TRỜI (GOD FATHER)

Hình ảnh Lí giải

Tên của Chúa (Jehova, Yhwh, Adonai), thường được viết bên

trong hình tam giác hoặc hình tròn. Biểu tượng này thường được

dùng trang trí trong nhà thờ, trong nghệ thuật.

Mắt được vẽ bên trong hình tam giác, bên ngoài có 3 ánh hào

quang, biểu tượng này được tìm thấy tại các nhà thờ ở Anh và Hy

Lạp. Nguyên nhân người ta dựa vào thông điệp trong Kinh Thánh.

[8;Thithiên33:18]

Ban đầu người ta hay dùng hình ảnh bàn tay phải để chỉ Chúa Cha,

vì người ta dựa vào những lời được chép trong Kinh Thánh

[8;Xuất Ê Díp Tô ký15:6 và Thithiên48:10].

Bàn tay với 2 ngón mở rộng và 3 ngón gập lại: bt của sự ban

phước thông qua Chúa Jesus.

Các ngón tay khum lại giữ lấy những con người bên trong, bt

này mang ý nghĩa: Chúa sẽ gìn giữ những người công bình

trong cách tay yêu thương của Ngài.

Bàn tay duỗi thẳng, xuyên qua đám mây, xung quanh có ba

vòng hào quang, bt cho sự sáng tạo của Chúa.

Bàn tay với ba ngón mở rộng bt của 3 ngôi; 2 ngón gập lại bt

cho hai đặc tính của Chúa Jesus: người, thánh.

Bàn tay với ngón trỏ duỗi thẳng, ngón tay thứ hai cong vào

trong, ngón thứ 3 và ngón cái bắt chéo nhau tạo thành hình

thánh giá, ngón thứ 4 cong vào trong, cách sắp xếp này tạo

nên một số kí tự trong tiếng Hy Lạp “ IC XC” tên của Chúa

Jesus.

Hai hình tam giác đều, lồng vào nhau, trông giống hình cái khiên

của vua David. Người ta gọi đó là ngôi sao sáng tạo, vì Chúa sáng

tạo thế giới trong 6 ngày.

2.1.1.2. Chúa Jesus (God the son)

Jesus Christ, con của Đức Chúa Trời, là ngôi 2 (trong ba ngôi). Ngài giáng thế làm

người, hi sinh trên thập tự giá, cứu chuộc tội lỗi cho nhân loại. Sau 3 ngày, Ngài sống lại, trở

về trời và hứa sẽ tái lâm để phán xét nhân loại

Từ xưa đến nay người ta đã dùng các biểu tượng sau để chỉ Chúa Jesus.

CÁC BIỂU TƯỢNG CHỈ CHÚA JESUS (GOD THE SON)

Hình ảnh Lí giải

Mỏ neo, biểu tượng cho sự kiên định mà chúng ta có trong

Chúa Jesus; biểu tượng của lòng tin, hi vọng, tình yêu [8;Hê

bơ rơ 6:19].

Thánh giá trên quả cầu, biểu tượng này có ý nghĩa: Chúa

Jesus chế ngự tội lỗi thế gian.

Mão triều thiên: Chúa Jesus thực hiện 3 nhiệm vụ trên đất:

nhà tiên tri, thầy, vua. Mão triều thiên biểu tượng cho cuộc

sống bất diệt [8;Giacơ1:12].

Chúa Jesus bị đóng đinh trên cây thập tự (crucifix),

Biểu tượng cho sự thống khổ của Chúa Jesus.

Cá (ichthus): đây là biểu tượng phổ biến chỉ về Chúa Jesus.

Ichthus trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là cá. Tuy nhiên từ này

tập hợp những chữ cái đầu của cụm từ “Jesus Christ, con

của Đức Chúa Trời, là đấng cứu thế”.

Chiên con và quyển sách có 7 con dấu: Chúa Jesus là chiên

con – vật sinh tế - cất khỏi tôi lỗi cho nhân loại

[8;Giăng1:29].

Chúa Jesus là người chăn chiên hiền lành [8;Giăng10:11].

Chiên con với lá cờ chiến thắng: Chúa Jesus đắc thắng tội

lỗi.

Bồ nông: biểu tượng cho sự hi sinh của Chúa, Chúa chết để

nhân loại được sống.

Con bò (ox): Chúa trở thành vật sinh tế, đổ huyết để đền tội.

Sao năm cánh: Biểu tượng của Chúa Jesus, Chúa giáng sinh

làm người [8; Dân số kí 24:17].

Nho: Biểu tượng của Chúa Jesus [8;Giăng 15:5] Ngài phán

rằng “Ta là gốc nho và nhánh”.

Năm cây thánh giá: Biểu tượng chỉ năm vết thương của

Chúa Jesus trên cây thập tự.

2.1.1.3. Chúa Thánh linh (God the holy spirit)

BIỂU TƯỢNG CHỈ ĐỨC THÁNH LINH (THE HOLY SPIRIT)

Hình ảnh Lí giải

Chim bồ câu [8;Mathiơ 5:16], sau khi Chúa Jesus chịu lễ

Baptem, Đức Thánh linh trong hình ảnh của chim bồ câu

đậu trên vai Ngài.

Ngọn lửa: biểu tượng phổ biến để chỉ Đức Thánh Linh

[8;Công vụ các sứ đồ 2:3].

Chín bông trái Thánh linh: Ngôi sao chín cánh gồm chín

chữ cái đầu trong tiếng Latin: (charitas, gaudium, pax,

longanimitas, benignitas, bonitus, fides, mansuetudo and

continentia) lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn

nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ

[8;Galati5:22].

Bảy món quà của Chúa Thánh linh: bảy con chim bồ câu

xung quanh vòng tròn có hai chữ SS (Sanctus Spiritus:

trong tiếng Latin có nghĩa là Chúa Thánh Linh), biểu tượng

cho 7 món quà của Chúa Thánh Linh: quyền phép, giàu có,

khôn ngoan, năng lực, tôn quí, vinh hiển, ngợi khen

[8;Khải huyền 5:12].

Bảy ngọn nến: 7 món quà của Chúa Thánh Linh.

Bảy ngọn đèn: bảy ngọn đèn được thắp sáng trước ngai cúa

Chúa [8;Khải huyền 4: 5], biểu tượng của Đức Thánh Linh.

2.1.2. Thánh giá (hình chữ thập)

Thánh giá được sử dụng phổ biến trong nền văn hóa Phương Tây, và là biểu tượng

chính của Cơ đốc giáo khắp nơi trên thế giới. Thật ra không phải biểu tượng này được dùng

phổ biến sau khi Chúa Jesus bị đóng đinh trên cây thập tự mà nó là biểu tượng cổ xưa được

sử dụng ở Hy Lạp và nhiều nơi trên thế giới cách đây hàng nghìn năm trước công nguyên.

Người ta thường sử dụng thánh giá trong các trường hợp sau:

- Trang trí trên các trần của nhà thờ

- Trang trí trên cung thánh

- Tường của nhà thờ

- Trên các ngôi mộ của người theo Cơ đốc giáo

- Trang trí trên các áo choàng thời Trung cổ

- Trang trí trên lá cờ của các quốc gia

- Còn là vật trang sức phổ biến ngày nay

Dựa vào hình dáng, người ta chia thánh giá thành các loại chính sau:

Thánh giá hình Thánh giá Latin Thánh giá hình Thánh giá hình

chữ T (Latin cross) chữ Y chữ X

Về chiều dài của các thanh tạo nên thánh giá, có hai loại chính:

(Tau cross) (shape Y cross) (shape X cross)

Các thanh có độ dài không bằng nhau

Có các cạnh bằng nhau

Thánh giá Latinh Thánh giá Hy Lạp

Từ trước đến nay có hai loại thánh giá được sử dụng nhiều là thánh giá Hy Lạp và

thánh giá Latin. Tuy nhiên mỗi kiểu loại có nhiều sự biến đổi, người ta ước tính có đến bốn

trăm loại thánh giá khác nhau. Trong đó có năm mươi loại được sử dụng nhiều nhất trong

các nhà thờ và xứ đạo (PL B6;8).

- Thánh giá kết hợp với chữ viết

- Thánh giá trang trí trên lá cờ

- Thánh giá có trang hoàng cây cối và động vật

- Màu sắc của thánh giá

Ngoài các loại thánh giá chính vừa nêu, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy có nhiều biểu

tượng thánh giá có hình dạng không giống với các thánh giá thông thường. Đơn cử như:

- Thánh giá Maltese (xứ Mantơ): mỗi cạnh của thánh giá chia hai tượng trưng cho 8 đức

tính của hiệp sĩ: sự trung thành, lòng mộ đạo, sự rộng lượng, lòng dũng cảm, nhu mì,

xem nhẹ cái chết, giúp đỡ cho người nghèo và những ngừơi yếu đuối cần được che

chở, tôn trọng nhà thờ (PL B6;12).

- Thánh giá của giáo hoàng, thánh giá của giáo trưởng, thánh giá của nhà thờ chính

thống giáo ở Nga (kiểu loại của các thánh giá loại này khác biệt ở chỗ số lượng các

thanh ngang) (PL B6;9).

Trong nền văn hóa Hy Lạp người ta đã sử dụng nhiều loại thánh giá khác nhau, có

khoảng 20 đến 30 loại thánh giá, xuất hiện vào khoảng 1000 năm trước công nguyên. Đơn cử

như biểu tượng hình chữ thập ngoặc (ngày nay được sử dụng nhiều trong Phật giáo, nó là

biểu tượng cho sự tái sinh, sự thịnh vượng). Ban đầu chúng được trang trí trên các bình, lọ.

Và Cơ đốc giáo cũng sử dụng biểu tượng này, được gọi là Crux Gammata, tên của biểu

tượng bắt đầu từ chữ cái Gamma trong tiếng Hy Lạp, quay theo chiều kim đồng hồ (trong

tiếng Trung Quốc biểu tượng này là chữ Wan có nghĩa là 10 000).

Dựa vào việc biến đổi hình dạng của thánh giá, chúng ta thấy rằng nếu thay đổi số

thanh hay cách sắp xếp các thanh (thanh ngang, thanh chéo, xiên, tăng số lượng thanh ngang)

sẽ dẫn đến việc thay đổi ý nghĩa của biểu tượng thánh giá (đó là chìa khóa để chúng ta có thể

giải thích ý nghĩa của các loại thánh giá). Ví dụ thánh giá hình chữ Y (biểu tượng của thánh

Peter (Phiero) vì ông cảm thấy không xứng đáng khi bị đóng đinh trên cây thập tự cùng kiểu

với Chúa Jesus).

Có thể thấy thánh giá (hình chữ thập) là biểu tượng cổ xưa của con người, chúng được

tìm thấy trên các hang đá tại Tây Âu và người ta cho rằng nó xuất hiện từ thời tiền sử. Thánh

giá không chỉ sử dụng trong tôn giáo mà biểu tượng này còn đi vào các lĩnh vực khác nhau

của đời sống: hóa học, toán học (dấu cộng được sử dụng vào thế kỉ thứ 17, dấu nhân xuất

hiện vào 150 năm sau).

Chữ

viết

Om

Om Mani Padme Hum

Hình

ảnh

Con vật

Bốn đạo

Chim đại

Đôi cá

Hổ

Sư tử

hữu hòa

Rồng

bàng

vàng

thuận

2.2. Hệ thống biểu tượng trong Phật giáo

Hoa lá

Hoa sen

Sự vật

Vỏ ốc xà

Dây

Bánh xe

Banơ chiến

Cái lọng

Bình quí

cừ

pháp luân

thắng

trường thọ

Bộ phận cơ thể

Mắt Phật

Cử chỉ bàn tay

Màu sắc

Xanh

Trắng

Đen

Vàng

Xanh lá cây Màu đỏ

Hình tròn

Hình chữ thập ngoặc

1

2

3

4

6

8…

Hình học Con số

(Three refuges, Three Jewels, Three Treasures, Triple Gem) 2.2.1. Tam bảo

Tam bảo là ba ngôi báu quý nhất ở đời, là điều mà Phật tử quy y, gồm:

- Đức Phật (Buddha) là bậc giác ngộ hoàn toàn.

- Pháp (Dharma): những lời dạy của Phật được ghi lại trong Tam Tạng kinh điển.

- Tăng (Sangha): là một đoàn thể gồm bốn người trở lên sống đời sống không gia đình,

theo sáu nguyên tắc hòa hợp, thanh tịnh.

Biểu tượng tam bảo thường được trang trí cùng dấu chân Phật (Buddhapada: footprints of

the Buddha, nghĩa là “dấu chân Phật”), hoa sen, và bánh xe pháp luân (tượng trưng cho

lời dạy của Đức Phật). Hình dáng của của tam bảo có 3 nhánh trông giống như chữ “W”,

tương tự như Trishula (cái xiên tượng trưng cho thần Shiva) trong đạo Hindu. Trong

Phật giáo Tây Tạng biểu tượng tam bảo được thể hiện bằng hình ảnh ba viên ngọc bên

trong một vòng tròn lửa (PL C3).

2.2.1.1. Phật

Để chỉ Đức Phật người ta dùng các biểu tượng sau: Mắt Phật; Mudras: cử chỉ của

Phật; Dấu chân Phật; Cây bồ đề: nơi Đức Phật ngồi thiền định để tìm ra con đường cứu vớt

chúng sinh và Ngài đã giác ngộ chân lý; Ngai để trống; Sư tử; Bảo tháp: biểu tượng cho sự

giác ngộ của Phật; hoa sen.

CÁC BIỂU TƯỢNG VỀ ĐỨC PHẬT

Hình ảnh Lí giải

Mắt Phật: (Buddha Eyes) Tại Tây Tạng, trên các bảo

tháp người ta thường vẽ hình ảnh mắt Phật rất lớn, với

ý nghĩa Phật có thể nhìn thấu nhân gian. Mũi Phật

được vẽ giống như dấu hỏi, trong tiếng Tây Tạng đó

là kí tự chỉ con số 1, với ý nghĩa chỉ duy nhất, chỉ có

một cách để khai sáng tâm hồn, đó là thông qua

những lời dạy, giáo lý của Đức Phật.

Dấu chân Phật: biểu tượng cho sự hiện hữu của Đức

Phật ở nhân gian.

Mudras (cử chỉ)

Bhumisparsa: biểu tượng của sự khai sáng và sự kiên

định. Trong quá trình thiền định Đức Phật luôn bị quỉ

Mara quấy nhiễu nhưng vẫn không làm cho Đức Phật

có thể xao nhãng.

Dhyana Mudra: biểu tượng của sự suy ngẫm, thiền

định. Bàn tay trái đặt trên bàn tay phải. Đức Phật đang

tìm ra nguyên nhân của sự khổ đau và tìm con đường

giải thoát nỗi thống khổ.

Abhaya Mudra: ban phước và bảo vệ.

Sự cầu nguyện ("Gesture of Praying"): đây là cử chỉ

phổ biến của Phật Avalokiteshvara.

Vitarka Mudra: dạy bảo, chỉ dẫn, lập luận. Đây là cử

chỉ phổ biến của Đức Phật.

Uttarabodhi Mudra: sự khai sáng của Đấng tối cao.

Ngai để trống: Thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ vương quyền

để tìm kiếm những điều quan trọng hơn trong đời

sống.

Sư tử: là biểu tượng quan trọng trong đạo Phật. Vì sư

tử là chúa tể sơn lâm khiến ta liên tưởng đến vương

quyền, sức mạnh, năng lực.

Bảo tháp: biểu tượng cho sự giác ngộ của Đức Phật.

Nó đại diện cho năm nguyên tố: chân đế hình vuông

tượng trưng cho nguyên tố đất; vòm tròn tượng trưng

cho nguyên tố nước; phần tiếp theo hình nón tượng

trưng cho nguyên tố lửa; hình bán nguyệt tượng trưng

cho nguyên tố không khí; phần trên cùng tượng trưng

cho không gian.

Hoa sen biểu trưng cho chân lý. Chân lý hiện thực

trong đời đầy phiền não và hệ lụy. Trong tôn giáo,

hoa sen biểu trưng cho quá trình tu học của người

Phật tử, từ bậc phàm phu nhờ công tu tập cũng trờ

thành Phật. Vì thế trong Kinh Phật có nói “Phật là hoa

sen, hoa sen là Phật”.

2.2.1.2. Pháp (Dharmachakra)

Bánh xe, hay bánh xe pháp luân tượng trưng cho lời dạy của Đức Phật (Pháp) được

thường chuyển còn gọi là pháp luân thường chuyển. Cần phân biệt bánh xe pháp luân và

bánh xe luân hồi. Ngoài bánh xe pháp còn có 8 biểu tượng về sự chiến thắng có liên quan

đến những lời Phật dạy (THE EIGHT AUSPICIOUS SYMBOLS) trong Phật giáo Tây Tạng:

- Cái dù

- Đôi cá vàng

- Bình đựng vật quý

- Hoa sen

- Vỏ sò

- Dây trường thọ

- Banơ chiến thắng

- Bánh xe pháp luân

Bánh xe Pháp luân: biểu tượng “bánh xe pháp” là một hình tròn như bánh xe có nhiều

căm, đó chính là biểu tượng đã được vua A Dục khắc lên trụ đá, và ngày nay nó được in trên

lá cờ của nước Ấn Độ. Bánh xe Pháp được vẽ hình tròn bên trong có 6, 8 hoặc 12 gọng. Con

số 12 tượng trưng cho “Mười hai nhân duyên”, con số 8 tượng trưng cho “Bát chánh đạo”,

con số 6 tượng trưng cho "Lục đạo". Trong đó bánh xe Pháp có 8 gọng được vẽ nhiều hơn

cả. Bánh xe pháp luân có các ý nghĩa như sau:

 Bánh xe Pháp chuyển động không ngừng, giáo lý của Đức Phật phát triển không

ngừng, hợp thời, hợp cơ, hợp lý, nhưng công năng vẫn là di chuyển, đưa chúng sanh

từ trong bóng tối đến ánh sáng, từ khổ đến vui, từ căn trí thấp để có căn trí cao, từ vô

minh đến Giác Ngộ, từ địa ngục tới Niết-Bàn.

 Bánh xe Pháp lan tới đâu thì cỏ gai, sỏi đá bị nghiền nát tới đó, mê lầm phiền não

cũng bị dẹp tan.

SỰ KHÁC NHAU GIỮA BÁNH XE LUÂN HỒI VÀ BÁNH XE PHÁP LUÂN

 Bánh xe Pháp chỉ tiến thẳng lên phía trước, không bao giờ thoái lui.

Đối Bánh xe luân hồi Bánh xe pháp luân tượng

Hình

ảnh

Bánh xe luân hồi là mô hình Bánh xe pháp có hình tròn như

phức tạp mô tả mối quan hệ biện chiếc bánh xe có nhiều căm: 6, 8

chứng của 12 nhân duyên. Bao hoặc 12. Bánh xe Pháp đưa

gồm một vòng tròn theo hai chúng sanh ra khỏi cảnh luân hồi

chiều: ngược và xuôi. Nói về quá thoát cảnh trầm luân. Chúng Lí giải

trình luân hồi: con người phải sanh nương nhờ Pháp Phật mà

chịu trách nhiệm về hành vi của tiến về giác ngộ và giải thoát.

mình và phải gánh lấy kết quả do

cái nghiệp mà mình đã tạo.

2.2.1.3. Tăng

Trong Phật giáo, Tam bảo bao gồm: Phật (Đức Phật), Pháp (lời dạy của Đức Phật) và

Tăng (tăng đoàn: đoàn thể tăng già từ bốn người trở lên sống theo nguyên tắc hòa hợp, thanh

tịnh) cũng giống như các thánh đồ trong Cơ đốc giáo. Như vậy chúng ta thấy bộ ba trong Cơ

đốc giáo và Phật giáo có điểm khác biệt. Thế nên trong Cơ đốc giáo sử dụng nhiều biểu

tượng chỉ 12 tông đồ (tông đồ có vị trí riêng không đứng cùng bộ 3), còn trong Phật giáo các

tông đồ nằm trong bộ 3 (Tăng).

2.2.2. Chữ vạn (hình chữ thập ngoặc)

Chữ Vạn trong tiếng Anh (swastika) có nguồn gốc từ tiếng Sancrit, hình chữ thập với

bốn cạnh bằng nhau có ý nghĩa: phúc lộc, an khang, thành công, thịnh vượng. Biểu tượng

này được dùng rộng rãi trong Hindu giáo, Phật giáo và đạo Jain (trong Hin đu giáo thì biểu

tượng chữ Vạn có bốn chấm ở bốn góc ).

Từ swastika có nguồn gốc từ tiếng Sancrit được sử dụng trong tiếng Anh từ năm 1871

thay cho từ Gammadition trong tiếng Hy Lạp, ngoài ra trong tiếng Hy Lạp nó còn được gọi

theo tên khác là Tetraskele (bốn cạnh bằng nhau).

Chữ Vạn có hai cách viết:

 Xoay phải theo chiều kim đồng hồ (swastika) nó đại diện cho năng lượng vũ trụ, sức

mạnh và trí thông minh.

 Xoay trái ngược chiều kim đồng hồ (suavastika) nó đại diện cho sự từ bi.

Chữ Vạn xuất hiện vào khoảng 16 000 đến 14 000 năm trước công nguyên. Chữ Vạn

được coi là biểu tượng của Phật giáo, hàm chứa Phật tính. Đây là một trong 80 vẻ đẹp của

Phật. Trong truyền thống đạo Bon bản địa của Tây Tạng, chữ Vạn là biểu tượng của sự vĩnh

hằng, bất biến. Chữ swastika của đạo này quay ngược chiều kim đồng hồ, hoặc cùng chiều

kim đồng hồ. Chữ Vạn được xuất hiện trên ngực hoặc trên lòng bàn tay và gót chân của Phật.

Nó còn được dùng làm hoa văn trang trí trên vải, tạo thành đường viền cho mẫu thiết kế.

Trong tín ngưỡng Ấn Độ giáo, chữ Vạn được đồng hóa với thần Vishnu và được liên kết với

thần Shiva và việc thờ rắn thần Nagar (http://vi.wikipedia.org/).

Người theo Phật giáo ở các quốc gia ngoài Ấn Độ hay sử dụng chữ Vạn xoay về phía

phải theo chiều kim đồng hồ.

CHỮ VẠN

Chiều quay của chữ Vạn Các tôn giáo sử dụng chữ Vạn

Xoay về phía Xoay về phía Đạo Phật Đạo Hindu Đạo Jain

phải trái

2.3. Phương thức biểu đạt của biểu tượng tôn giáo

Về hệ thống biểu tượng trong Phật giáo và Cơ đốc giáo, người ta thường sử dụng các

phương thức biểu đạt sau:

- Dùng các hình ảnh tượng trưng

- Dùng các hình ảnh tượng trưng kèm chữ viết

- Có sự kết hợp giữa màu sắc và các con số

- Các cử chỉ cũng mang ý nghĩa biểu tượng

2.3.1. Biểu đạt thông qua hình ảnh tượng trưng

Theo Nguyễn Thị Ngân Hoa “biểu tượng (theo nghĩa rộng nhất) là một loại tín hiệu

mà mối quan hệ giữa mặt hình thức cảm tính (tồn tại trong hiện thực khách quan hoặc trong

sự tưởng tượng của con người: cái biểu trưng) và mặt ý nghĩa (cái được biểu trưng) mang

tính có lí do, tất yếu” [7]. Chính vì thế mà mối quan hệ giữa hai mặt của biểu tượng nhất là

biểu tượng tôn giáo có lí do. Khi sử dụng một hình ảnh để chỉ một đối tượng nào đấy người

ta dựa vào các nguyên tắc sau: sự giống nhau, liên tưởng hay qui ước, thế nên khi giải thích ý

nghĩa của một biểu tượng chúng ta cần phải nghiên cứu kĩ phương thức biểu đạt của chúng.

Dựa vào nội dung mà hình ảnh biểu thị chúng tôi nhận thấy có các kiểu loại như sau:

2.3.1.1. Hình ảnh biểu thị con người và sự vật

 Hình ảnh biểu thị một bộ phận của con người: bàn tay (tay phải), bàn chân, mắt

(lấy bộ phận để chỉ toàn thể). Tay phải thường liên quan đến sự trung thực (đối với

một số dân tộc khi ăn cơm bằng tay người ta luôn ăn bằng tay phải) và tay trái

thường liên quan đến sự không thành thật. Cử chỉ của bàn tay thường mang nhiều ý

nghĩa đặc biệt. Ví dụ: ngón tay cái giơ lên cao là dấu hiệu của sự chiến thắng, kiên

cường. Trong Hindu giáo và Phật giáo và cả Cơ đốc giáo sử dụng hơn năm trăm cử

chỉ (mudras) trong các lễ nghi và trong các điệu nhảy (mỗi cử chỉ mang ý nghĩa

khác nhau). Bàn chân là biểu tượng của sự kiên định và sự tự do. Người ta tin rằng

chúng có thể để lại năng lượng trên mặt đất. Những dấu vết tìm thấy trên đá có

hình bàn chân, người ta tin rằng đó là dấu chân của Thượng đế. Dấu chân Phật là

biểu tượng thần thánh: theo bước chân của Ngài thì nhân loại sẽ tự tìm được con

đường khai sáng.

Trong tôn giáo, ban đầu người ta hay dùng bộ phận để chỉ cái toàn thể, ít khi vẽ chân

dung của các vị thánh thần. Sau này việc vẽ chân dung trở nên phổ biến người ta mới dùng

các hình ảnh cụ thể như hình ảnh Chúa Jesus bị đóng đinh trên cậy thập tự, Chúa Jesus tại

vườn Ghết sê ma nê hay các tranh ảnh, tượng của Đức Phật.

 Hình ảnh biểu thị sự vật

+ Động vật: dựa vào đặc tính của các con vật mà người ta dùng nó làm các đối tượng

mang ý nghĩa tượng trưng. Bao gồm những con vật mang tính huyền thoại và các con vật

có thật trong đời sống:

- Những con vật mang tính huyền thoại: sư tử trắng, chim garuda, rồng, quái vật đầu

chim, con kì lân…

- Những con vật có thật trong đời sống: chim bồ câu, chim đại bàng, chim bồ nông,

thiên nga, bướm, voi, khỉ, ngựa, cá, rắn…

Trong Hindu giáo, Phật giáo và Cơ đốc giáo hay dùng các con vật để làm biểu tượng

chỉ các vị thần. Thông thường khi sử dụng các con vật làm biểu tượng người ta hay dựa vào

một số bản tính của con người như: dục vọng, sự tham lam, tính hung bạo, tuy nhiên những

đức tính xấu này luôn bị chế ngự và tiêu diệt đi. Ví dụ như Cơ đốc giáo, bốn tác giả Phúc âm

được miêu tả thông qua hình ảnh bốn con vật (PL B5) (thiên thần có cánh, bò, sư tử, chim

đại bàng). Thánh Mark dùng hình ảnh sư tử có cánh (loại dã thú nơi đồng vắng), vì sách Tin

lành Mark bắt đầu bằng lời rao giảng của Giăng Báp tít (Giăng Bap tít sống trong đồng

vắng). Thánh Luke dùng hình ảnh con bò bị tế vì sách Tin lành Luke bắt đầu với lời mời gọi

dành cho vị tư tế Dacaria khi vị này đang thi hành nhiệm vụ tại đền thờ. Thánh John dùng

hình ảnh con chim đại bàng vì tác giả sách Tin lành Giăng được nhìn thấy những hình ảnh

rực rỡ, đẹp đẽ nơi thiên đàng. Còn Satan được miêu tả qua hình ảnh con rắn; Đối với Phật

giáo Tây Tạng khi miêu tả bánh xe pháp luân người ta vẽ vòng tròn trong đó có 3 con vật: gà

trống, rắn, lợn cắn đuôi nhau tạo thành một vòng tròn, đó chính là tam độc. Con lợn đen

tượng trưng cho sự ngu dốt, con rắn xanh tượng trưng cho lòng ghen ghét và thù hận, con gà

trống tượng trưng cho sự tham lam và thèm khát. Chúng sinh bị ba độc tố đó lôi kéo nên phải

tái sinh vào các cảnh giới khổ đau.

+ Thực vật

- Hoa: sen (Phật Thích Ca Mầu Ni ngự trên tòa sen), hoa huệ tây, hoa iris, hoa hồng

đỏ…

- Lá nho, nhành nho, bụi gai cháy, cỏ ba lá (là biểu tượng của Chúa ba ngôi), cây bồ

đề …

Dùng hoa làm biểu tượng người ta dựa vào một số tính chất sau:

 Số cánh hoa: cỏ ba lá, hoa huệ tây, hoa iris có ba cánh vì thế trong Cơ đốc

giáo người ta hay dùng các loại hoa này để làm biểu tượng cho ba ngôi Đức

Chúa Trời; hoa sen có 8 cánh ứng với tám hướng không gian, vì thế sen là

biểu tượng của sự hài hòa vũ trụ. Đức Phật Thích Ca ngự trên trục bánh xe

tám nan hoa, giữa đóa sen tám cánh không bị môi trường bùn lầy tác động.

 Màu sắc của hoa và hương thơm của hoa:

o Hoa hồng đỏ: trong Cơ đốc giáo, hoa hồng đỏ là biểu tượng của Đức

mẹ Mari, nó còn là biểu tượng của máu Chúa Jesus đổ ra trên cây thập

tự. Ba hoa hồng sẽ là biểu tượng của: ánh sáng, tình yêu, và sự sống.

o Màu trắng của hoa huệ tây là biểu trưng cho vẻ trong trắng, thơ ngây,

trinh bạch.

o Sen trắng: biểu tượng cho đức hạnh, sự tinh khiết, cho trí tuệ tinh

khiết. Nó là đặc trưng của phái Mật tông và là đặc trưng của các vị

Phật.

o Sen hồng: là loại sen tối thượng, biểu tượng của Đấng tối cao: Đức

Phật.

o Sen đỏ: biểu tựơng của sự khởi thủy của tự nhiên, sự tinh khiết của

tâm hồn, biểu tượng của tình yêu, lòng trắc ẩn, đây là loại sen của

Quan Thế Âm.

o Sen xanh: biểu tượng linh thiêng nhất, là biểu tượng của trí tuệ, đây là

loại sen của Văn Thù Sư Lợi hiện thân của trí tuệ viên thành.

o Hương thơm của hoa sen mọc từ bùn đen là biểu tượng của sự thăng

hoa tinh thần.

+ Sự vật cụ thể: thánh giá, lưới, mỏ neo, bánh xe, ngai để trống, ngôi sao, vương miện,

chân đèn…Người ta sử dụng các sự vật cụ thể này liên quan đến nghề nghiệp hay chức

vụ, địa vị…của các đối tượng trở thành biểu tượng. Ví như hình ảnh chiếc ngai trống là

biểu tượng cho vương quyền, sự thông thái và sự thiêng liêng. Chiếc ngai trống đại diện

cho mối quan hệ giữa Thượng đế và nhân loại. Vì thế mà Phật giáo và Cơ đốc giáo đều

sử dụng hình ảnh này làm biểu tượng cho Đấng tối cao.

Như vậy đối với phương thức biểu hiện của các biểu tượng tôn giáo chúng ta thấy rằng

cùng một cái được biểu đạt người ta dùng nhiều cái biểu đạt khác nhau, cụ thể là các biểu

tượng về Chúa hay Đức Phật…

2.3.1.2. Hình ảnh biểu thị bằng hình học

Trong Cơ đốc giáo và Phật giáo người ta cũng sử dụng hình học làm biểu tượng, đó là

các hình: tròn, tam giác, vuông, hình chữ thập ngoặc (chữ Vạn). Người ta có thề sử dụng

riêng lẽ (hình tam giác là biểu tượng của Ba ngôi, được dùng nhiều trong Cơ đốc giáo) hay

kết hợp ba loại trên trong cùng một biểu tượng (hình bảo tháp trong Phật giáo Tây Tạng),

cũng có trường hợp các hình này khi sử dụng làm biểu tượng thường được trang trí hay kết

hợp với các hình ảnh khác (hình ảnh bánh xe luân hồi: vòng ngoài cùng là hình tròn, có con

quỷ ôm gọn hình tròn đó, bên trong hình tròn có hình ảnh của ba con vật cắn đuôi nhau tạo

thành vòng tròn, hay như người ta vẽ hình tam giác, chính giữa hình tam giác vẽ thêm con

mắt…). Hình tròn, hình tam giác, hình vuông được xem là những hình ảnh linh thiêng, được

sử dụng làm biểu tượng trong những nền văn hóa khác nhau.

 Hình tròn: Ban đầu nó biểu tượng cho tính nam thần thánh, thường xuất hiện cùng

với ánh hào quang xung quanh đầu của các thiên thần. Nó còn mang ý nghĩa cho sự

vô tận, sự hoàn hảo, và sự tồn tại vĩnh hằng. Vì thế hình tròn thường được dùng để

làm biểu tượng cho Thượng đế.

 Hình vuông: Hình dáng của nó biểu tượng cho sự vững chắc, nguyên do hình dáng

không thay đổi. Nó bao hàm các tính chất sau: sự đáng tin cậy, lòng trung thực, sự

bảo vệ, sự an toàn. Hình vuông là biểu tượng thường gặp trong đạo Hin đu, nói về

vạn vật và sự cân bằng trong thế đối lập nhau.

 Hình tam giác: Số ba thần thánh thường chỉ về Chúa ba ngôi. Hình tam giác chỉ về

con đường đến thiên đàng, đại diện cho nguyên tố lửa (thuộc giống đực). Nó còn là

biểu tượng về những ơn huệ từ thiên đàng đổ xuống đại diện cho nguyên tố nước

(thuộc giống cái).

2.3.2. Biểu đạt thông qua màu sắc

Từ xưa con người đã biết dùng màu sắc để tạo thành các biểu tượng biểu trưng cho

những giá trị tâm linh trong đời sống văn hóa xã hội. Màu sắc xuất hiện ở mọi nơi làm bệ đỡ

cho biểu tượng.

Cách thức hình thành những màu sắc biểu tượng theo qui luật: dùng một màu hay

nhiều màu để biểu trưng cho một điều khái quát trong nhận thức, trong tâm linh.

Dùng màu sắc để biểu trưng có thể theo hai cách:

- Dùng riêng lẽ từng màu

- Dùng kết hợp một số màu với nhau

2.3.2.1. Màu sắc trong Cơ đốc giáo

Cơ đốc giáo thường dùng màu sắc để trang hoàng các bức tranh, lá cờ, thánh giá, chủ

yếu là hai loại thánh giá chính: thánh giá Latin và thánh giá Hy Lạp và màu sắc còn được sử

dụng trong các nghi lễ khác nhau. Trong các nhà thờ Cơ đốc việc sử dụng màu sắc có tính

quy ước riêng. Cụ thể, người ta sử dụng các màu sau:

- Màu đen biểu tượng cho sự đau buồn, bệnh tật, sự chết. Màu này được sử dụng trong

ngày lễ thương khó.

- Màu xanh: biểu tượng cho thiên đàng, lòng nhân hậu, biểu tượng của Đức mẹ Mari,

được sử dụng trong mùa vọng.

- Màu vàng: biểu tượng cho sức khỏe, sự lộng lẫy, vương giả. Màu vàng là biểu tượng

của Chúa Jesus.

- Màu xanh lá cây: biểu tựơng cho sự sống, hi vọng, sự trung thực, sự bất tử. Màu xanh

lá cây được dùng trong ngày nghỉ lễ vào ngày chủ nhật sau ngày Đức thánh linh giáng

lâm.

- Màu hồng: biểu tượng của sự vui mừng, màu của ngọn nến được thắp lên trong mùa

vọng.

- Màu tím: biểu tượng của sự ăn năn, sự khổ hình, màu của hoàng gia. Màu tím được

dùng trong các ngày lễ: mùa vọng (bốn tuần lễ trước ngày giáng sinh của Chúa), mùa

chay, ngày thứ năm trứơc lễ Phục sinh, tuần thánh (tuần trước ngày chủ nhật phục

sinh).

- Màu đỏ: biểu tượng của tình yêu, tuổi trẻ, sự nhiệt tình, lòng hăng hái; màu của máu,

màu của sự đau đớn; biểu tượng của Đức thánh linh. Màu đỏ được dùng trong các

ngày lễ sau: lễ Đức thánh linh giáng lâm, Lễ tạ ơn Chúa sau mùa gặt, lễ kỉ niệm những

người tử vì đạo.

- Màu trắng: biểu tượng của ánh sáng, sự tinh khiết, sự vô tội, niềm vui, sự trinh trắng,

sự rửa tội. Màu trắng được dùng trong các ngày lễ: giáng sinh, lễ thăng thiên, lễ biến

hình, Thánh linh giáng lâm, sự kiện Chúa Jesus hiện ra cùng các môn đồ, lễ thương

khó.

2.3.2.2. Màu sắc được dùng trong Phật giáo

Hệ thống màu sắc trong Phật giáo được dùng nhiều trong nghệ thuật Phật giáo và các

nghi lễ tôn giáo. Trong Phật giáo, đặc biệt là trong Phật giáo Tây Tạng, năm màu dưới đây

biểu tượng cho suy nghĩ, bản chất thiêng liêng của Đức Phật, là một phần của cơ thể, là một

phần trong câu thần chú cầu thần, hay nó còn đại diện cho các nguyên tố.

- Màu xanh: biểu tượng cho sự trầm tĩnh, sự vô cùng, vô tận, sự trong sạch, tinh khiết,

đại diện cho nguyên tố không khí.

- Màu đen: biểu tượng của bóng tối, thù địch, đại diện cho nguyên tố không khí.

- Màu xanh lá cây: màu của tự nhiên, của cỏ cây, của sự cân bằng, của sự hài hòa, cân

đối, sự mạnh mẽ, của tuổi trẻ.

- Màu đỏ: trong văn hóa Tây Tạng màu đỏ là màu được sử dụng nhiều nhất, màu đỏ là

một trong năm màu chính của đạo Phật, màu đỏ còn là màu áo của các tu sĩ. Biểu

tượng cho sức mạnh, sự bảo tồn, màu của máu trong trái tim luôn chảy, màu của lửa,

của sự linh thiêng. Màu đỏ đại diện cho nguyên tố lửa.

- Màu trắng: biểu tượng của kiến thức, sự hiểu biết, sự trường thọ. Đại diện cho

nguyên tố nước. Thường xuất hiện nhiều trong những chuyện kể về Đức Phật, quan

trong nhất liên quan đến sự ra đời của Ngài, chuyện kể rằng: trước khi sinh Ngài mẹ

Ngài nằm mơ thấy con voi trắng dùng vòi của mình chạm vào người bà.

- Màu vàng: biểu tượng của sự hi sinh, quên mình, màu vàng nghệ là màu được sử

dụng nhiều nhất trong Phật giáo, màu áo cà sa của các tu sĩ. Khi Phật Thích Cac Mầu

Ni chọn màu này thì nó trở thành biểu tượng của sự cao quý, sự đoạn tuyệt, ngăn

cách với xã hội vật chất, sống quên mình từ bỏ dục vọng. Màu vàng là biểu tượng

của đất.

Màu sắc trong Phật giáo còn đại diện cho các phần cơ bản của cơ thể:

- Màu xanh: tai

- Màu trắng: mắt

- Màu đỏ: lưỡi

- Màu xanh lá cây: đầu

- Màu vàng: mũi

Màu sắc còn đại diện cho năm hướng trong không gian: phương đông: màu trắng,

phương tây màu đỏ, phương bắc màu xanh lá cây, phương nam màu vàng, trung tâm là màu

xanh.

2.3.3. Kết hợp với con số để biểu đạt

Chúng ta thấy rằng trong quá trình sáng tạo các biểu tượng thì cả hai tôn giáo đều kết

hợp các con số với các hình ảnh khác như cỏ ba lá, hoa iris, số lượng chân đèn, số lượng nan

hoa trong bánh xe pháp luân, số cách hoa sen... Ý nghĩa từng con số trong mỗi tôn giáo có

khác nhau nhưng nhìn chung trong Cơ đốc giáo số 3 và số 7 được xem là con số thiên liêng,

còn trong Phật giáo số 3 và 4 cũng gắn với tính biểu tượng cao.

Con số khi dùng để biểu trưng thì nó không còn ý nghĩa số lượng chính xác nữa,

chúng thường mang ý nghĩa khái quát thuộc phạm trù trí tuệ và tâm thức trong thế giới loài

người [3;120]. Con số có thể biểu trưng cho đối tượng (vì mỗi đối tượng được gán bằng một

con số); con số trỏ số lượng một tập hợp các đối tượng (con số cũng là biểu tượng của một

tập hợp các đối tượng).

2.3.3.1. Các con số được sử dụng trong Cơ đốc giáo

Chúng ta không thể phủ nhận vai trò về mặt ý nghĩa của các con số trong Kinh Thánh.

Ý nghĩa của các con số trong Cơ đốc giáo thường liên quan đến các sự kiện trong Kinh

Thánh. Ví dụ như con số 40 liên quan đến sự kiện dân Do Thái đến được vùng đất hứa phải

đi trong đồng vắng mất 40 năm, con số 3 liên quan đến sự kiện tiên tri Jona ở trong bụng cá

3 ngày, con số 4 liên quan đến vấn đề như: có bốn sách tiên tri trong Kinh thánh Cựu ước và

có 4 sách Phúc âm trong sách Tân ước, liên quan đến con số 12: thời Cựu ước có 12 chi phái,

đến thời Tân ước có 12 tông đồ của Chúa Jesus.

Các con số sử dụng trong Cơ đốc giáo: Các con số từ 1 đến 10, 12, 13, 30,40, 666,

1000.

- Số 1: con số của sự thống nhất, sự hòa hợp (ba ngôi một thể).

- Số 2: con số của sự phân chia. Chúa Jesus có hai bản tính: thần tính và nhân tính, con

số chỉ về giới tính: nam và nữ, hai phần chính trong Kinh Thánh: Cựu ước và Tân

ước, hai loại người (cừu: tin và không tin: dê) [8;Mathio 25:33].

- Số 3: con số thần thánh, con số của sự hoàn hảo, ba ngôi của Đức Chúa Trời, ba

chức vụ của Chúa Jesus: nhà tiên tri, thầy, vua; thuộc tính của Đức Chúa Trời:

Thượng đế, có mặt khắp nơi, có quyền tuyệt đối, vô hạn.

- Số 4: con số của sự sáng tạo, bốn hướng, bốn mùa trong năm. Bốn vị tiên tri trong

Kinh thánh Cựu ước Isaiah, Jeremiah, Ezekiel and Daniel, bốn tác giả của sách Phúc

âm Matthew, Mark, Luke and John, bốn chất liệu được sử dụng để làm nên hòm giao

ước.

- Số 5: con số của sự trọng đãi, sự chiếu cố, số vết thương mà Chúa Jesus phải gánh

chịu trên thập tự giá, số lượng đá mà Đavit dùng để đánh bại Goliat [8;I Samuel

17:40].

- Số 6: con số của sự không hoàn chỉnh, con số sáu đại diện cho con người, Chúa tạo

dựng thế giới trong sáu ngày, đến ngày thứ sáu (ngày cuối cùng Ngài tạo dựng nên

loài người), ngày thứ sáu là ngày mà loài rắn được dựng nên.

- Số 7: con số thần thánh, số ngày trong một tuần, số lượng con dấu trong sách Khải

huyền, số 7 được nhắc nhiều trong sách Khải huyền, 7 màu sắc của cầu vồng, 7 món

quà của Chúa Thánh linh, bảy chân đèn…

- Số 8: con số của sự bắt đầu, số người trên tàu của Nô ê [8;2Phierơ 2:5]. Con số của

sự tái sinh, phục hồi, tám ngày sau khi sinh các bé trai Do Thái phải chịu phép cắt bì.

- Số 9: con số của sự phán đoán, óc suy xét. Con số chỉ về chín trái Thánh linh.

- Số 10: Con số thần thánh, con số thiêng liêng, mười điều răn của Chúa [8;Xuất

Êdipto kí 20], mười tai vạ Chúa giáng xuống dân Ai Cập [8;Xuất Êdiptô kí 7 – 12].

- Số 12: con số của sự hoàn thiện, con số của các chi phái của người Do Thái, 12 tông

đồ của Chúa Jesus, số tháng trong một năm, số giờ trong một ngày, số 12 được đề

cập trong Khải Huyền (21:10-14).

- Con số 13: con số của sự phản bội, số người trong bữa ăn tối cuối cùng (môn đồ

cùng ăn tối với Chúa Jesus).

- Con số 30: đó là số năm mà Chúa Jesus sống trên đất.

- Con số 40: con số của sự thử thách và trải nghiệm. Đó là số ngày Chúa Trời làm nên

cơn đại hồng thủy hủy diệt thế giới [8;Sáng thế kí: 7], đó là số ngày dân sự của Chúa

lang thang trong đồng vắng trong bốn mươi năm, đó là số ngày mà Môise ở cùng

Chúa trên núi Sinai để nhận bảng luật pháp, đó là số ngày mà Jona đến thành Niniver

trước khi thành này bị hủy diệt [8;Jonah 3:4], đó là số ngày mà Chúa Jesus ở trong

đồng vắng [8;Matthew 4:2].

- Con số 666: số hiệu của con thú [8;Khải huyền 13:8].

- Con số 1000 được nhắc đến trong sách Khải huyền đoạn 20: 7

2.3.3.2. Các con số được sử dụng trong Phật giáo

- Số 1: con số của sự hoàn hảo: khởi đầu, phát triển biểu thị cho một pháp, chính là tất

cả vạn pháp.

- Số 2: nói về tính hai mặt của sự luân hồi; tính nam và tính nữ; lý thuyết và thực hành,

sự hiểu biết và phương pháp.

- Số 3: theo truyền thống thì số 3 biểu hiện cho tam bảo, tam giới (dục giới, sắc giới, vô

sắc giới), tam thời (quá khứ, hiện tại, tương lai), tam vô lậu học (giới, định, tuệ).

- Số 4: liên quan đến con số 4 có:

Tứ diệu đế là bốn chân lí cơ bản trong đạo Phật bao gồm: khổ đế, tập đế, diệt đế và

đạo đế.

Tứ nhiếp pháp, là bốn pháp tu tập của người Phật tử.

Tứ niệm xứ: quán niệm về thân, quán niệm về thọ, quán niệm về tâm, quán niệm về

pháp.

Tứ chánh cần: là 4 sự nỗ lực tinh cấn (tinh cần ngăn không đẻ sanh khởi các ác pháp

chưa sanh, tinh cần đoạn tận các ác pháp đã sanh, tinhcần làm phát khởi các thiện pháp

chưa sanh, tinh cần làm tăng trưởng các thiện pháp đã sanh).

Tứ như ý túc: dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, tư duy như ý túc, nhất tâm như ý túc.

- Số 5: người ta tin rằng trái tim có các phương diện sau: trung tâm của trái tim biểu

trưng cho vũ trụ. Nó còn là biểu tượng của ngọn núi thiêng bao quanh bởi bốn hòn

đảo. Số năm còn biểu thị cho 5 pháp cấu thành con người gọi là ngũ uẩn (sắc, thọ,

tưởng, hành, thức).

- Số 7: Đức Phật lúc đản sinh đã bước bảy bước (nở ra bảy đóa sen), tượng trưng cho

quyền ngự trị tâm linh của Ngài bao trùm lên toàn vũ trụ và 7 pháp tu tập gôi là thất

giác chi (trạch pháp giác chi, niệm giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an

giác chi, định giác chi, xã giác chi).

- Số 8: Trong tín ngưỡng Phật giáo Tây Tạng số 8 là con số của sự hoàn thành, số 8 còn

là biểu tượng của điềm tốt, bát chánh đạo trong đạo Phật, 8 đồ cúng và 8 vật quý của

truyền thuyết phật giáo.

- Số 9: Trong tín ngưỡng Phật giáo con số 9 có sức mạnh thần thánh nhất, và là con số

của bầu trời.

- Số 12: Có 12 thành viên trong hội đồng tu sĩ Tây Tạng (Dalai Lama), 12 nhân duyên.

- Số 108: Trong Phật học thì con số 108 tượng trưng cho 108 phiền não (Kleśā) của con

người. Lục giác (thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác, cảm giác, và thức giác) nhân

làm ba, tức ba loại phản ứng (lạc, khổ, vô ký) thì ra con số 18. Mười tám nhân hai, tức

hai thể (thiện hay bất thiện) thì có con số 36. Ba mươi sáu nhân ba, tức ba thời (quá

khứ, hiện tại, và vị lai) thì là con số 108 phiền não. Phật giáo Việt Nam thì giải thích là

khi lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) không thanh tịnh vì thiếu lục thức (nhãn

thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức) thì dễ bị giao động bởi lục trần

(sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp). Sáu căn, sáu trần, và sáu thức cộng lại, thành ra

thập bát giới (18). Con số này nhân cho sáu phiền não căn bản (tham, sân, si, mạn,

nghi, ác kiến) thì là số thành 108 (http://vi.wikipedia.org).

2.3.4. Kết hợp hình ảnh tượng trưng và chữ viết để biểu đạt

2.3.4.1. Cơ đốc giáo

Trong Cơ đốc giáo người ta cũng dùng chữ viết chỉ tên Chúa để làm biểu tượng

(monograms) hay còn gọi là Chirstogram (biểu tượng chỉ Chúa Cơ đốc bằng chữ viết). Tuy

nhiên ở đây chúng tôi chỉ tìm hiểu chữ viết tên Chúa có kết hợp với các hình ảnh khác như:

thánh giá, cá, chiên con. Sự kết hợp của các kí tự tao nên tên Chúa gồm:

- Tên Chúa được cấu thành bằng hai chữ P và X (CHI PHO) trong tiếng Hy Lạp (theo

kiểu Constantin) được dùng đến tận ngày nay.

 Chi (X = Ch)

 Pho (P = R)

Đây là 3 kí tự đầu tiên trong từ Christ (Christos). Biểu tượng này xuất hiện vào thế kỉ

thứ hai và được tìm thấy trên các hầm mộ và trên các bức tranh tường.

Chi Pho có nhiều dạng khác nhau: Có khi sự kết hợp của hai chữ X và P giống như

chữ N. N có thể là chữ cái đầu của từ “Nika” có nghĩa là “đắc thắng” hoặc cũng có thể là chữ

cái đầu của từ “Noster” nghĩa là “Chúa của chúng ta”.

- Các kí tự: IC XC là chữ viết tắt của tên Chúa Jesus trong tiếng Hy Lạp:

 IC: iota (Ι) và sigma (ς), chữ cái đầu và cuối của tên Chúa Jesus (Ιησους).

 XC: chi (Χ) and sigma (ς), chữ đầu và cuối của từ Christ (Χριστος).

Như vậy IC XC là chữ cái đầu và cuối của tên Chúa Jesus trong tiếng Hy Lạp “Iasous

Christos: Jesus Christ ”.

- IHS (Ihc): là những chữ cái đầu trong cụm từ tiếng La Tinh “Iesus Hominum

salvator” nghĩa là “Jesus saviour of man: Jesus đấng cứu thế”.

- INRI là những kí tự viết tắt cho câu tiếng Latinh: “IESVS NAZARENVS REX

IVDAEORVM” nghĩa là “Giê-su người Nazareth, Vua dân Do Thái”.

Nhiều tượng thánh giá có cả một tấm bảng hay tấm giấy da đúng kiểu mang những kí

tự INRI viết lên đó, thỉnh thoảng được khắc trực tiếp lên thánh giá, thông thường nó chỉ

được treo ở bên trên tượng Chúa Jeusu. INRI dòng chữ này thường được viết trên thánh giá

với hình Chúa Jesus bị đóng đinh trên đó.

- ΑΩ: (Alpha and Omega) xuất phát từ câu nói của Chúa Jesus "Ta là alpha và omega".

Alpha (A) và Omega (Ω) là chữ cái đầu tiên và cuối cùng trong bảng chữ cái Hy Lạp.

Biểu tượng Alpha và Omega thường được kết hợp với thánh giá, Chi Rho và các biểu

tượng Cơ đốc giáo khác.

- ΙΧΘΥΣ(chữ in hoa) (Ichthys: chữ thường): Người ta sử dụng biểu tượng “Ichthys”

ngay từ rất sớm. Ichthys (trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là cá). Từ Ichthys được kết hợp

từ những chữ cái đầu tiên của câu "Jesus Christ, God's son, savior," (Jesus Christ, đấng

cứu thế, con của Đức Chúa Trời) trong tiếng Hy Lạp.

 Iota (i) là chữ cái đầu tiên của từ Iēsous (Ἰησοῦς), trong tiếng Hy Lạp có nghĩa

là "Jesus".

 Chi (ch) là chữ cái đầu tiên của từ Christos (Χριστὸς), trong tiếng Hy Lạp có

nghĩa là “Đấng chịu xức dầu”.

 Theta (th) là chữ cái đầu tiên của từ Theou (Θεοῦ), trong tiếng Hy Lạp có nghĩa

là Chúa, Upsilon (y) is the first letter of yios (Υἱὸς), trong tiếng Hy Lạp có

nghĩa là Con trai.

 Sigma (s) chữ cái đầu tiên của từ sōtēr (Σωτήρ), trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là

đấng cứu thế.

- UC (IC): Chữ U và C được sử dụng trong ngôn ngữ Slavơ:

 U = ts

 C = s

UC (ts và s) là những chữ cái đầu của từ “Star slavy: King of Glory”. Thỉnh thoảng cũng

được viết như sau: “King of the Jews: vua dân Do Thái”

Thánh giá có dòng chữ này thường được sử dụng ở Nga vào khoảng thế kỉ thứ 18. Khi trang

trí trên thánh giá thì U ở bên phía trái còn C ở bên phía phải, bên dưới hai chữ này có hai

thiên thần đứng cạnh.

- PHOS ZOE: là những chữ cái trong tiếng Hy Lạp tạo nên hình cây thánh giá .

 phi (Φ), omega (Ω) and sigma (Σ), đọc là Phos

 zeta (Ζ), omega (Ω) and eta (Η), đọc là Zoe

Phos trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là ánh sáng, ngọn đèn và Zoe trong tiếng Hy Lạp có

nghĩa là cuộc sống 'life'. Như vậy biểu tượng thánh giá Phos Zoe có nghĩa là “light and life

of Christ: Đấng Christ là ánh sáng và sự sống”.

Thỉnh thoảng thì chữ omega được viết là (ít dùng) (ω) và trong các nhà thờ chính

thống giáo thường thay thế chữ sigma (Σ) với chữ cái thuộc ngôn ngữ Slavơ, khi chuyển tự

sang tiếng Latinh được viết là “C” .

- PAX: từ trong tiếng La tinh có nghĩa là “hòa bình”

Hầu hết những thánh giá Cơ đốc giáo có kết hợp với chữ cái được gọi là những biểu tượng

chỉ Chúa cơ đốc bằng chữ viết (Christograms, Chrismons), đó là những chữ viết lồng nhau

chỉ tên Chúa Jesus Christ bao gồm: Alpha và Omega, Chi-Rho, Ichthys, ICXC và IHS. Còn

INRI, PAX, PHOZ ZOE không phải là những chữ viết lồng nhau.

2.3.4.2. Phật giáo

Nếu như trong Cơ đốc giáo tên của Đức Chúa Trời thường đọc chệch đi, hoặc thay

bằng cách đọc khác, nguyên nhân do các tín đồ thể hiện sự tôn kính đối với danh xưng của

Ngài. Và một số chữ viết chữ viết trở thành biểu tượng chỉ Đức Chúa Trời và Đức Chúa

Jesus. Trong Phật giáo nhất là Phật giáo Tây Tạng hay sử dụng những câu mật chú như: Om,

Om Mani Padme Hum, Kalakachra… để tụng niệm. Việc tụng niệm mantra làm cho tâm

được tập trung.

Đầu tiên phải kể đến “Om” là đầu nguồn của mantra (mật chú). Om là từ biểu trưng

cho cái vô cùng, viên mãn, vĩnh hằng. Chữ Om có ý nghĩa là “lời chào mừng hòa bình” của

Ấn Độ, biểu tượng này được sử dụng tại phương Tây vào năm 1960. Nó đại diện cho bốn

trạng thái của ý thức: nhận thức, giấc mơ, giấc ngủ không mộng mị và trạng thái mơ hồ.

Trong Phật giáo Tây Tạng người ta xem câu thần chú “Om Mani Padme Hum” “Hail

to the jewel in the lotus: chân linh trong hoa sen” được xem là thần chú cầu Quan Thế Âm

Bồ Tát. Nó được gọi nôm na là thần chú sáu chữ, và cách gọi chính xác là thần chú Mani.

Thế giới bắt đầu bằng chữ Om và kết thúc bằng chữ Hum. Ý nghĩa của câu thần chú như sau:

 Om : Quy mệnh, hướng cả 3 nghiệp thân, khẩu, ý về Phật pháp.

 Mani : Viên ngọc như ý của trí huệ.

 Padme : Bên trong hoa sen, tức là lòng đại bi nảy nở tựa như hoa sen vươn lên khỏi

bùn lầy.

 Hum : có nghĩa là ý nghĩa cao đẹp của cuộc sống.

Tóm lại nội dung thần chú có thể tạm dịch là: “Viên ngọc như ý trong hoa sen trí huệ

giúp con thoát khỏi bùn lầy vô minh, làm cao đẹp cuộc sống”.

Đối với Phật giáo Tây Tạng thì “Om Mani Padme Hum” chính là lòng từ bi rộng lớn,

muốn đạt Niết-bàn vì lợi ích của chúng sinh. Vì vậy sáu âm tiết của thần chú này cũng được

xem là tương ứng với sáu cõi tái sinh của dục giới.

Ở những nước Châu Á, chịu ảnh hưởng của Phật giáo Tây Tạng thì câu thần chú này

được khắc, vẽ trên đá hay trên tường để mọi người có thể nhìn thấy. Thông thường người ta

trang trí câu thần chú theo các màu sau:

 Om: màu trắng

 Ma: màu xanh lá cây

 Ni: màu vàng

 Pad: màu xanh da trời

 Me: màu đỏ

 Hung: màu đen

Người ta cũng vẽ câu thần chú này trong vòng tròn linh thiêng, , hình tròn hình quả

trứng bên trong vòng tròn lớn tượng trưng cho cánh hoa sen: trong mỗi cánh hoa là mỗi âm

tiết của câu thần chú “Om Mani Padme Hum”. Vòng tròn nhỏ chính giữa là biểu tượng của

sự khai sáng. Hình dánh và các kí tự liên kết với nhau để giúp mọi người tập trung suy nghĩ

dựa trên hoa sen nở đó là bản chất quí báu trong mỗi con người.

Câu thần chú thứ hai: “Kalachakra”: bánh xe thời gian (wheel of time), biểu tượng

này rất phổ biến ở Tây Tạng bao gồm 7 âm tiết “Ham Ksha Ma La Va Ra Ya”. Những âm

tiết này kết hợp với các biểu tượng sau: trăng lưỡi liềm và hình trăng tròn, và hình ngọn lửa

ở trên cùng tạo thành mười yếu tố, tượng trưng cho mười quyền lực của Phật pháp.

 Âm tiết Ham: màu xanh

 Âm tiết Ksha: xanh lá cây

 Âm tiết Ma: pha nhiều màu

 Âm tiết La: màu vàng

 Âm tiết Va: màu trắng

 Âm tiết Ra: màu đỏ

 Âm tiết Ya: màu đen

Những người Phật tử Tây Tạng tin tưởng rằng bản thể của vũ trụ thể hiện qua âm thanh

mật chú. Mật chú có sực mạnh làm cho tâm thức tập trung. Man tra là những âm thanh

hướng chúng ta đến thực tại, lôi kéo sự chú ý của chúng ta và đưa chúng ta hòa nhập với

nhịp điệu vận hành của vũ trụ.

Trong Chương hai, thông qua quá trình liệt kê các biểu tượng chính trong hai tôn giáo:

Cơ đốc giáo và Phật giáo, chúng tôi đã rút ra được những phương thức biểu đạt chính về các

biểu tượng của hai tôn giáo nói trên. Sang chương 3, chúng tôi sẽ tiến hành giải mã một số

biểu tượng tiêu biểu cũng như tìm hiểu về mối quan hệ giữa hai mặt hình thức và nội dung

của các biểu tượng trong hai tôn giáo này.

Chương 3: GIẢI MÃ CÁC BIỂU TƯỢNG

3.1. So sánh hệ thống biểu tượng Phật giáo và Cơ đốc giáo

Mỗi tôn giáo đều có hệ thống biểu tượng riêng, nếu nghiên cứu từng hệ thống biểu

tượng của mỗi tôn giáo chúng ta có thể dựa và nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại. Trong

luận văn này ngoài việc tìm hiểu mối quan hệ giữa hai mặt hình thức và nội dung của các

biểu tượng trong Phật giáo và Cơ đốc giáo chúng tôi còn so sánh điểm tương đồng và khác

biệt của hai hệ thống biểu tượng nói trên. Vì thế chúng ta không thể dựa vào cái được biểu

đạt để làm tiêu chí phân loại và tiến hành so sánh. Thế nên khi so sánh chúng tôi chủ yếu dựa

vào cái biểu đạt để làm làm căn cứ.

Nhìn chung trong Cơ đốc giáo các biểu tượng chủ yếu biểu thị các nội dung cơ bản

sau: tam vị nhất thể (Chúa cha, Chúa con, Chúa Thánh linh), các tông đồ, các vị thánh đồ.

Còn trong Phật giáo bao gồm các nội dung chính như: tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). Thông

qua những nội dung chính này người ta sử dụng rất nhiều phương tiện hình thức để biểu thị

như đã trình bày ở chương hai.

Qua hai bảng phân loại ở chương 2 về hệ thống các phương thức chủ yếu trong tôn

giáo dùng làm biểu tượng, chúng ta nhận thấy để chỉ về một nội dung, người ta sử dụng rất

nhiều các phương tiện hình thức. Như vậy không chỉ cái được biểu đạt mang tính đa trị mà

ngay cả cái biểu đạt cũng phong phú không kém.

3.1.1. Những hình ảnh chỉ “Đấng tối cao”

Cụ thể khi chỉ về Đấng tối cao (trong Phật giáo Đức Phật – Đấng giác ngộ - là người

thầy hướng dẫn chúng sinh tìm thấy con đường tự giải thoát, Đức Phật không phải là Thượng

Đế) người ta dùng “cái biểu đạt” như sau:

Cái được biểu đạt Thiên chúa Đức Phật (ba ngôi) Cái biểu đạt

Mắt, bàn tay, bàn Bộ phận cơ thể Mắt, bàn tay chân

Ngai để trống, mão Sự vật liên quan đến vương Ngai để trống quyền triều thiên

Chim bồ câu, bướm,

Con vật cá, chiên con, chim Sư tử

bồ nông, kì lân, bò

Alpha và omega, PX, Om, Om Mani Padme Chữ viết IC XC, IHS, Ichthys Hum, Kalachakra

Mão gai, nhánh nho,

Hoa lá hoa iris, hoa hồng, Cây bồ đề, hoa sen

cỏ ba lá

Thánh giá, mỏ neo, Bánh xe pháp, bảo Các sự vật khác ngôi sao tháp

Nhận xét: Để chỉ “Đấng tối cao” (Thiên Chúa, Đức Phật), trong tôn giáo sử dụng

nhiều phương thức biểu đạt từ những bộ phận liên quan đến cơ thể cho đến những hình ảnh

và sự vật khác. Những biểu tượng này chủ yếu dựa vào các Kinh sách (Kinh Phật và Kinh

Thánh). Ví như vì sao người ta dùng hình ảnh mão gai để chỉ Chúa Jesus? Vì biểu tượng này

liên quan đến việc Chúa Jesus chịu thương khó. Điều này có chép trong Kinh Thánh Mathiơ

27:29 “Đoạn họ đương một cái mão gai mà đội trên đầu, và để một cây sậy trong tay hữa

Ngài”.

Trong Phật giáo, hình ảnh cây bồ đề trở thành biểu tượng tiêu biểu. Trong kinh Phật

có dạy rằng: “Này các Tỳ - kheo, sau khi ta diệt độ tất cả thiện nam, tín nữ, người mà có lòng

tin nơi Phật pháp nên đi đến 4 nơi linh thiêng và ghi nhớ rằng đây là Lumbini, nơi Ta đản

sanh, đây là Bodhgaya nơi Ta thành đạo, đây là Sarnath nơi Ta chuyền pháp luân và đây là

Kushinagar nơi ta nhập niết bàn”.

Một trong 4 thánh tích mà Đức Phật đề cập ở trên là Bodhgaya nơi mà Phật giác ngộ.

Ngày nay nơi này trở thành địa điểm hành hương của những tín đồ Phật giáo.

3.1.2. Những hình ảnh biểu thị bộ 3

Để chỉ về bộ 3 trong Phật giáo và Cơ đốc giáo người ta sử dụng các hình ảnh sau:

- Trong Cơ đốc giáo:

 Hoa lá: cỏ ba lá, hoa iris

 Con số: con số 3

 Hình học: hình tam giác, hình tròn

- Trong Phật giáo:

 Con số: con số 3 (ba viên ngọc quý)

 Hình học: hình dáng của biểu tượng trinity có 3 nhánh

Đối tượng so Hình thức Nội dung

sánh Cơ đốc giáo Phật giáo

,

,

,

Để diễn tả bộ 3 cả hai tôn

Bộ 3 giáo đều sử dụng hình ảnh

gần tương tự nhau.

Người ta dùng hình ảnh hoa lá có hình 3 cánh, hoặc con số 3, hay 3 sự vật…Như vậy

để chỉ cùng nội dung người ta sử dụng cùng hình thức.

3.2. Giải thích ý nghĩa một số biểu tượng cơ bản

3.2.1. Bộ 3 thần thánh

Trên thế giới người ta quan niệm, ba là con số cơ bản. Nó là kết quả của 1 + 2. Nó

biểu hiện cho sự hợp nhất, là biểu hiện của sự toàn thể, sự hoàn thành. Vì không thể thêm cái

gì vào đây được nữa. Số 1 chỉ Trời, số 2 chỉ Đất và số 3 chỉ người.

Có nhiều tôn giáo sử dụng bộ 3 thần thánh. Như trong đạo Hinđu, thần linh tối thượng

cũng hiện hình thành 3: Brahma, Vishnu, Civa. Trong Phật giáo đó là hệ thống tam bảo:

Phật, Pháp, Tăng. Hay Cơ đốc giáo là ba ngôi của Đức Chúa Trời (Chúa Trời là một song có

3 ngôi). Trong nhiều truyền thuyết tôn giáo người ta đều thấy những bộ tam phân, bộ ba

tương ứng với ba sức mạnh nguyên khởi, được tách rời thành ba thần linh. Và rất khó phân

tích mối quan hệ giữa các phần của những bộ ba này. Có thể nói bộ 3 Tam vị nhất thể của Cơ

đốc giáo được nhận định một cách chính xác và vững chắc. Ở Pê Ru, vào thời xa xưa người

Pê Ru thừa nhận có một vị thần tối thượng (thần Sét) phân ra ba ngôi: thần cha nắm quyền

công lý, thần con trưởng và thần con út, thần út là thần Mưa, tạo nên sự phì nhiêu và do đó

đây là vị thần nuôi dưỡng loài người [1;864]. Thời gian phân ba: quá khứ, hiện tại, tương lai;

thế giới có ba thành phần: Bhu (đất), Bhuvas (khí quyển), Swar (trời).

Người xưa quan niệm rằng: tất cả mọi vật trong vũ trụ đều có thái cực, thái cực ở

trong mọi vật nhưng vẫn chỉ có một.

 Đạo sinh nhất (= Thái Cực),

 Nhất sinh nhị (Âm Dương),

 Nhị sinh tam (= Tam Tài, thiên địa nhân),

 Tam sinh vạn vật.

Tam tài: là thuật ngữ triết học chỉ Thiên (Trời), Địa (đất), Nhân (người). Người ta

dùng Tam tài như một ngữ cố định chỉ các đối tượng khác có đặc tính tam vị nhất thể (tuy ba

ngôi vị được phân xuất ra là khác nhau nhưng vốn là một thể).

Tam hình: những hình thể hiện ba thứ thành bộ; động vật, thần thánh đều có thể tạo

thành những bộ ba tùy theo tính chất, có thể là ba tầng vũ trụ, ba hoạt động liên quan với

nhau: tạo dựng, bảo tồn và phá hủy; hoặc ba phẩm chất liên quan với nhau: sức khỏe, đạo

đức, tri thức; sức sống, trí tuệ, tâm hồn…

Tất cả các bộ ba đều thể hiện thông qua hình ảnh. Nhưng cách thể hiện thành ba như

thế bao hàm đằng sau nó một sự thống nhất, tuy ba mà là một. Trong biểu tượng điều này

không kém phần quan trọng so với sự thể hiện tách rời từng thứ ra.

Ngoài bộ 3 trong tôn giáo chúng tôi cũng xin kể thêm về những tam phân khác đã

được nhắc đến khi nói về từ đơn âm tiết thiêng liêng OM đọc thành “ar - oo- mm”.

Trong thần thoại người ta cũng thường nhắc đến bộ ba: ở Trung Quốc, các ông chủ

của mặt trời, mặt trăng là ba anh em; trong thần thoại Hy Lạp cũng có ba anh em khác làm

chủ thể vũ trụ: Zeus chủ thể trời và đất, Poseidon cai trị biển và Hades cai trị âm phủ.

Ngày nay trong các ngành kinh doanh, hình ảnh biểu trưng gắn liền với con số 3 được

sử dụng để thiết kế logo. Các công ty lớn sử dụng hình ảnh này làm logo như: Mitsubishi

dùng biểu tượng , Mercedes – Benz …

3.2.2. Thử giải thích ý nghĩa một vài biểu tượng cơ bản khác

Ý nghĩa của biểu tượng tam bảo: Trong Phật giáo để chỉ tam bảo người ta vẽ vòng tròn

lửa bên ngoài, bên trong có viên ngọc quý. Ba viên ngọc quý tượng trưng cho 3 ngôi báu ở

đời là Phật, Pháp, Tăng. Còn vòng lửa bên ngoài được gọi là vòng lửa sinh tử tượng trưng

cho lòng tham, sân, si của thế gian luôn bùng cháy. Tuy nhiên vòng lửa đó không ảnh hưởng

đến tam bảo.

Ý nghĩa của biểu tượng “tam vị nhất thể”. Để chỉ biểu tượng tam vị nhất thể, trong Cơ

đốc giáo người ta dùng các hình ảnh sau để biểu thị như: hình ảnh hoa iris (số cánh hoa),

hình ảnh cỏ 3 lá, hình tam giác đều, hình tròn (ba vòng tròn nối nhau) để nói lên tính vĩnh

hằng chung của ba ngôi, hình ba con cá. Những hình ảnh dùng để biểu thị có liên quan đến

số ba thần thánh để chỉ ba ngôi. Ý nghĩa chung của biểu tượng này như sau: Đức Chúa Cha,

Đức Chúa con, Đức Thánh Linh đều hoàn toàn là Đức Chúa Trời đời đời (Đức Chúa Trời chỉ

có một). Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, Đức Thánh Linh đều có một thân vị riêng.

Ý nghĩa của biểu tượng hoa sen trong Phật giáo: hoa sen tượng trưng cho Phật và Phật

tính ở mỗi con người. Vì hoa sen là một loài hoa đặc biệt, nó chỉ mọc trong đầm lầy nhưng

hoa và hương của nó luôn tinh khiết. Có thể tóm tắt ý nghĩa của biểu tượng hoa sen như sau:

- Mọc trong bùn nhơ nhưng không bị ô nhiễm.

- Hoa chỉ nở khi đã vươn lên khỏi mặt nước.

- Trong một hoa có cả nhụy, đài, gương, hạt

Đây chính là ba đặc tính biểu tượng cho Phật tính ở mỗi con người:

- Sự giác ngộ, sự giải thoát không thể thoát ly ngoài con người trần thế và cuộc đời

trần thế mà có.

- Tâm Vô thượng Chánh giác chỉ thành tụu khi nào vươn lên khỏi mọi trần cấu, nhiễm

ô.

- Trong một bản thể tâm vốn cưu mang đầy đủ mọi đức tính, như tất cả chủng tử nằm

im trong chiều sâu tâm thức.

Vì những lẽ trên nên hoa sen trở thành chủ đề trung tâm của toàn bộ kinh Pháp Hoa,

cũng như là biểu tượng đặc thù trong kinh điển Phật pháp. Vì thế trong các chùa chiền biểu

tượng hoa sen luôn hiện diện, Phật ngự trên tòa sen, hình ảnh chùa Một cột là hình ảnh hoa

sen mọc trên hồ…Biểu tượng hoa sen cũng gắn liền với những hình ảnh khác như: khi lễ

Phật hai bàn tay chắp lại thành hình hoa sen chưa nở gọi là “liên hoa hợp chưởng”, cõi cực

lạc Adiđà gọi là “liên bang: nơi có nhiều hoa sen”.

Chúng ta thấy rằng đối với biểu tượng thì mối liên hệ giữa cái biểu đạt và cái được

biểu đạt là có lí do. Ở đây có mối liên hệ giữa nội dung và hình thức của một biểu tượng vì

thế chúng ta có thể giải thích được ý nghĩa của các biểu tượng dựa vào cái biểu đạt.

3.3. Những biểu tượng gần gũi trong cuộc sống

Ngày nay có những biểu tượng trong tôn giáo trở nên phổ biến, và được sử dụng trong

nhiều lĩnh vực của đời sống. Ở đây chúng tôi xin chọn hai biểu tượng tiêu biểu trong Cơ đốc

giáo và Phật giáo để tìm hiểu, đó là biểu tượng Thánh giá và biểu tượng chữ Vạn.

3.3.1. Biểu tượng thánh giá

Thánh giá (hình chữ thập) là một biểu tượng có từ thời thượng cổ, được tìm thấy tại:

Ai Cập, Trung Hoa, đảo Cret. Đây là một trong những biểu tượng cơ bản, nó còn là một biểu

tượng mang tính tổng hợp. Nguyên nhân từ mô hình của hình chữ thập chúng ta có thể vẽ ra

nhiều hình dáng khác nhau: tâm hình tròn, hình vuông, hình tam giác, hình tròn.

Sự có mặt của cây thánh giá còn được tìm thấy trong thiên nhiên: con người dang hai

tay, con chim bay, con tàu với cột buồm, những dụng cụ nhà nông (cày, cái cào)…

Hình chữ thập tượng trưng cho đất, là cơ sở của mọi biểu tượng định hướng (hướng về

bốn phương), là biểu tượng hướng thượng. Trong Cơ đốc giáo ý nghĩa của cây thập tự gắn

liền với việc Chúa Jesus chịu khổ hình cứu chuộc tội lỗi nhân loại.

Trong cuộc sống hình ảnh chữ thập là nền tảng cho tất cả các hình tượng định hướng

về không gian và thời gian. Có mặt trên kí hiệu giao thông để chỉ một ngã tư, một giao lộ. Có

mặt trên bản đồ để chỉ một bệnh viện hay nhà thờ. Thánh giá là hình ảnh quen thuộc được

trang trí ở các nhà thờ. Trong các nghĩa trang hình ảnh cây thánh giá được trang trí trên mộ

để chỉ về đức tin của người đã khuất. Thánh giá còn được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực

khác nữa, chúng tôi nhận thấy trên các lá cờ của các quốc gia hay các tổ chức tôn giáo người

ta cũng sử dụng hình ảnh thánh giá, và trong lĩnh vực y tế hình ảnh cây thập tự trở thành biểu

tượng tiêu biểu.

Cross chỉ thập tự giá, có nghĩa chủ yếu chỉ một cây cọc hoặc một cây đòn thẳng đứng,

và một cây cọc phụ được dùng như một dụng cụ để trừng phạt và hành hình [24;1735]. Việc

hành hình tử tội bằng cách thức đóng đinh trên thập tự được người La Mã sử dụng rộng rãi.

Chỉ những tôi phạm thuộc hạng nô lệ, dân tỉnh lẻ và những người thấp kém mới bị đóng đinh

[24;1735]. Đế quốc La Mã dùng nó không chỉ như một công cụ tra tấn và hành quyết mà còn

như một sự bêu riếu, nhục nhã dành cho kẻ tồi tệ và thấp kém nhất. Đối với người Do Thái

thì nó là dấu hiệu của sự nguyền rủa [24;1735]. Vậy thì nguyên nhân do đâu biểu tượng này

trở nên phổ biến và trở thành hình ảnh của tình yêu thương? Khi Chúa Jesus bị đóng đinh

trên cây thập tự thì biểu tượng này trở nên phổ biến, vì theo quan niệm của Cơ đốc giáo

Chúa chết để cứu chuộc tội lỗi cho cả nhân loại.

3.3.1.1. Thánh giá trang trí trên lá cờ

Thánh giá dùng trên lá cờ gồm các dạng sau (PL B9):

- Thánh giá thánh Andrew với hình dạng chữ X.

- Thánh giá Hi Lạp, được trang trí chủ yếu trên các lá cờ của những vùng có liên quan

đến nước Anh.

- Thánh giá Serbia: được sử dụng trên các lá cờ thuộc các vùng của nước Serbi.

- Thánh giá Bắc Âu: được sử dụng ở những vùng thuộc Đan Mạch và các lá cờ của

vùng Scandinavi.

- Thánh giá ở các vùng phía Nam: trên lá cờ của các nước thuộc các vùng nam bán cầu

có sự kết hợp giữa thánh giá và hình ảnh ngôi sao.

Tuy hình ảnh thánh giá được trang trí trên lá cờ nhưng không phải chỉ chỉ về đạo Cơ

đốc mà còn biểu hiện cho đất nước hay từng vùng lãnh thổ. Khi chào cờ thường thì người ta

không “nhớ đến” hình ảnh cây Thánh giá là biểu tượng của đạo Cơ đốc. Khi chào cờ người

ta thể hiện sự tôn trọng, lòng tự hào, sự kính trọng… trước lá cờ của tổ quốc. Hình ảnh lá cờ

là biểu tượng mang ý nghĩa hết sức lớn lao, vì nó biểu trưng cho một quốc gia.

Cờ của các nước Bắc Âu, hay vùng Scăndinavia đều có hình cây thánh giá. Việc thiết

kế hình cây thánh giá trên lá cờ có phần giống nhau giữa các nước, hình ảnh cây thánh giá

Latin được thiết kế nằm ngang, các cạnh của thánh giá được kéo dài ra đến mép của lá cờ.

Khi kéo cờ lên hình ảnh cây thánh giá sẽ nằm ở vị trí trung tâm. “Dannebrog”, quốc kỳ của

Đan Mạch, là lá cờ chính quyền cổ nhất còn tồn tại, tiếp sau đó lá cờ của Thụy Điển, Na Uy,

Phần Lan, Aixơlen.

Theo truyền thuyết lá cờ của Đan Mạch có nguồn gốc như sau: trong trận đánh tại

Lyndanisse vào ngày 15 thang 16 năm 1219, quân Đan Mạch sắp thua thì có một lá cờ có

hình thập tự rơi từ trên trời xuống, vua Đan Mạch nhận lấy lá cờ (chưa rơi xuống đất), việc

này làm tăng thêm sức mạnh tinh thần cho quân đội Đan Mạch, đem đến chiến thắng cho đội

quân Đan Mạch. Từ đó hình ảnh cây thánh giá có mặt trên lá cờ của Đan Mạch cho đến ngày

nay. Vì người Đan Mạch cho rằng Chúa đã ban lá cờ chiến thắng cho họ.

3.3.1.2. Thánh giá dùng trong lĩnh vực y tế

Chữ thập đỏ [PL B7] là biểu tượng được thiết kế dựa trên lá cờ của Thụy Sĩ. Biểu

tượng này là hình ảnh chữ thập đỏ trên nền trắng, là màu sắc đảo ngược của quốc kì Thụy

Điển, để tưởng nhớ đến công lao của Henry Dunant. Ông là công dân Thụy Sĩ. Trong một

lần chứng kiến cảnh tượng thương tâm về cuộc chiến giữa quân đội liên minh Pháp và Ý

chống lại quân Áo tại Solferino vào năm 1859 (gần 40 000 người chết và bị thương bị bỏ lại

trên trận địa. Ông kêu gọi dân chúng giúp đỡ những người bị thương bất kể họ là người bên

nào). Sau đó Henry đưa ra hai ý tưởng cũng là lời kêu gọi nhân đạo: ở mỗi quốc gia thành

lập một hội cứu trợ bao gồm những người tình nguyện, họ là nhhững người có tên tuổi,

những chính khách để chăm sóc những người bị thương khi có chiến tranh xảy ra; vận động

một thỏa thuận quốc tế để bảo vệ những người bị thương và những người chăm sóc họ. Dựa

trên sáng kiến này, vào ngày 17 tháng 2 năm 1863, ủy ban đã thông qua tên gọi “ủy ban quốc

tế cứu trợ những người bị thương”. Đến năm 1875 ủy ban này đổi tên thành “Ủy ban chữ

thập đỏ quốc tế”. Do biểu tượng Chữ thập đỏ không thích hợp với niềm tin tôn giáo ở một số

nước, nên ở các nước Hồi giáo, biểu tượng thánh giá được thay bằng hình ảnh “Trăng lưỡi

liềm đỏ”.

3.3.2. Biểu tượng chữ Vạn (chữ thập ngoặc)

Chữ Vạn là một biểu tượng có lịch sử lâu đời, người ta tìm thấy biểu tượng này trong

nền văn hóa Sumer. Nó là biểu tượng được nhiều nền văn hóa sử dụng. Đây là biểu tượng

của mặt trời, sức mạnh, quyền lực tối cao. Trước công nguyên biểu tượng này được sử dụng

tại Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, các nước nước phía nam Châu Âu, và còn được sử dụng ở

Nam Mỹ. Người ta phát hiện các chứng cứ của Chữ Vạn được vẽ trên các hang đá của người

Maya thuộc nền văn hóa Inca.

Tại các nước có nền Phật giáo phát triển như Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc biểu

tượng này được sử dụng nhiều. Tại Trung Quốc nguồn gốc của chữ này bắt nguồn từ chữ

Wan, có nghĩa là 10 000. Tại Nhật Bản thời Trung cổ biểu tượng này bắt nguồn từ chữ

manji, đó là kí hiệu của sự may mắn tột bậc, và sự bảo vệ chống lại sức mạnh của quỷ dữ.

Còn tại Ấn Độ thì từ swastika gồm hai từ “su”: có nghĩa là tốt lành, và “asti”: có nghĩa là

tương lai và hậu tố “ka”, với các cạnh quay theo chiều kim đồng hồ. Còn biểu tượng chữ

Vạn có hướng quay ngược chiều kim đồng hồ gọi là sauvastika biểu tượng của những điều

không may mắn.

Biểu tượng này cũng được sử dụng rộng rãi tại Hy Lạp cách nay khoảng 1000 năm

trước công nguyên. Nó được sử dụng để trang trí trên các bình, lọ, chén bằng gốm, trên tiền

đồng, và nhà cửa. Tuy nhiên tại Bắc Âu, biểu tượng chữ Vạn ít được sử dụng. Cho đến thế kỉ

19 thì biểu tượng được này được chấp nhận như là biểu tượng của Phật giáo và những tổ

chức chống đạo Cơ đốc.

Biểu tượng chữ Vạn có khá nhiều tên gọi khác nhau:

- Ở Đức được gọi là Hakenkreuz

- Ở Anh có tên gọi là Fylfot

- Tại Ý được gọi là Crux gammata

- Còn ở Hy Lạp được gọi là gammadion

Về hình dáng biểu tượng chữ Vạn là một hình chữ thập đều, với những cánh bị bẻ

vuông về cùng một hướng, thường là bên phải, hay theo chiều kim đồng hồ, có chiều chuyển

động quay xung quanh một tâm điểm cố định. Như vậy nó là biểu tượng của sự hoạt động,

của sự biểu hiện, của chu kỳ và sự tái sinh bất tận. Chính vì thế mà chữ thập ngoặc thường

được đi kèm với hình ảnh các đấng cứu tinh của nhân loại: Chúa, Đức Phật (vì Ngài tượng

trưng cho bánh xe pháp quay xung quanh tâm điểm bất di bất dịch).

Hệ biểu trưng của các con số giúp ta hiểu rõ hơn ý nghĩa về sức mạnh tổng thể của

biểu tượng này: chữ thập ngoặc được tạo nên bởi một chữ thập mà mỗi nhánh, do được định

hướng bởi những vec – tơ xác định chiều quay rồi chuyển về tâm điểm, nên được tăng gấp

bốn lần. Vậy trị số của chữ thập ngoặc là bốn lần bốn, nghĩa là mười sáu. Đó là sự phát triển

mạnh mẽ của hiện hữu hay là vũ trụ. Với sự phát triển của vũ trụ được tạo dựng, nó gắn với

những gương mặt sáng thế và cứu thế vĩ đại. Còn trong sự phát triển của một hiện thực nhân

loại, chữ thập ngoặc biểu thị sự phát triển của một quyền lực thế tục, vì thế nó trở thành biểu

hiệu của những quyền năng lịch sử: vua Charlemagne, Hitler [1;408].

Ngày nay, chữ Vạn vẫn là một biểu tượng được sử dụng rộng rãi trong Phật giáo, đạo

Giai-na, và Ấn Độ giáo (đạo Hindu). Trong Phật giáo, chữ Vạn đại biểu cho Phật. Trong đạo

Giai-na, nó mô tả vị thánh thứ 7, và 4 cánh được sử dụng để nhắc nhở những tín đồ về bốn

nơi có thể tái sinh: thế giới thú vật và cây cối, Địa ngục, Trái đất và thế giới linh hồn. Với

người Hindu, chữ Vạn với các cánh bẻ về bên trái được gọi là sathio hay sauvastika, đại biểu

cho ban đêm, phép thuật, sự tinh khiết, và nữ thần tàn phá Kali. Cả ở Ấn Độ giáo và đạo

Giai-na, chữ Vạn, hay sathio được sử dụng để đánh dấu những trang mở của cuốn sách ghi

chép, ngưỡng cửa, cửa và đồ cung tiến.

3.3.2.1. Biểu tượng chữ Vạn trong Phật giáo

Trong Phật giáo chữ Vạn có ý nghĩa như sau: chữ Vạn là một trong 32 tướng tốt của

Đức Phật. Thường được vẽ dưới gót chân, lòng bàn chân hay trên ngực của các pho tượng

Phật để ám chỉ ý nghĩa giác ngộ vẹn toàn của Đức Phật, còn hình chữ Vạn được vẽ chính

giữa ngực để nói lên cho cái lý Trung Đạo không kẹt hai bên. Trong Phật giáo chữ Vạn là

một biểu tượng chứ không phải chữ viết, chữ Vạn xoay bên phải hay bên trái đều được (tuy

rằng có một số nhà Phật học tranh luận nhau về hướng xoay của phù hiệu nầy) đều dùng để

tượng trưng cho lòng từ bi và trí tuệ của Đức Phật.

Việc xoay theo chiều nào của chữ Vạn vẫn có nhiều ý kiến khác nhau. Và nhiều người

có sự lầm lẫn với biểu tượng chữ thập ngoặc trên lá cờ của Đức Quốc Xã. Vì thế nên chăng

cần có sự thống nhất về chiều xoay của biểu tượng chữ Vạn được sử dụng trong Phật giáo để

tránh sự lầm lẫn đáng tiếc.

3.3.2.2. Chữ thập ngoặc được dùng làm làm biểu tượng chính trên lá cờ của

Hitler.

Chữ Vạn là một biểu tượng của người Aryan, trong tiếng Phạn có nghĩa là ‘quý tộc’.

Người Aryan là một nhóm người từng định cư ở Iran và Bắc Ấn Độ. Họ tin rằng bản thân họ

là một chủng tộc thuần khiết, siêu việt hơn tất cả các nền văn hóa xung quanh. Khi người

Đức đi tìm một biểu tượng, họ đã tìm một thứ đại diện cho sự thuần khiết mà họ tin là thuộc

về họ. Đức Quốc Xã tự coi mình là ‘người Aryan’ và sử dụng biểu tượng của người Aryan.

Cuối thế kỷ 19, Swastika của người Aryan đã xuất hiện trong tạp chí về chủng tộc xuất

bản định kỳ của những người Đức theo chủ nghĩa quốc gia và là biểu tượng chính thức của

những vận động viên thể thao Đức.

Đầu thế kỷ 20, Swastika của người Aryan đã trở thành một biểu tượng chung của chủ nghĩa

dân tộc Đức (German nationalism) và có thể tìm thấy ở nhiều nơi như biểu tượng của

Wandervogelb - một phong trào tuổi trẻ Đức; trên tạp chí Ostarra, một tạp chí định kỳ bài Do

Thái của Joerg Lanz von Liebenfels; trên nhiều đơn vị Freikorps khác nhau; và như một biểu

tượng của Hội Thule.

Hitler cũng dùng phù hiệu nầy cho Đảng áo nâu của mình, nhưng đặt nghiêng. Chữ

Vạn mà Hitler dùng còn gọi là chữ thập móc (chữ thập ngoặc). Người ta cũng giải thích chữ

thập ngoặc trên lá cờ của Đức Quốc Xã là sự kết hợp của hai chữ SS là chữ cái đầu của

Stafellzschutz. Hai chữ SS chéo nhau để thành chữ Vạn theo chiều kim đồng hồ nhưng nằm

xéo (chữ Vạn xoay theo hướng phải). Từ đó Swastika nằm nghiêng chính thức trở thành biểu

tượng của quỷ dữ. Hitler lạm dụng biểu tượng chữ Vạn, khiến biểu tượng này trở thành biểu

tượng của tội ác dưới con mắt của nhân dân thế giới.

Biểu tượng chữ vạn được dùng trong nhiều nền văn hóa khác nhau

3.4. Những nhân tố tác động đến nội dung của biểu tượng

tôn giáo

Việc tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng, nhất là các biểu tượng trong tôn giáo không phải

là công việc đơn giản. Khi giải thích ý nghĩa của biểu tượng chúng ta không chỉ dựa vào diện

mạo bên ngoài mà còn phải dựa vào nhiều yếu tố khác nữa. Chúng tôi nhận thấy việc giải

thích ý nghĩa của biểu tượng chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau.

3.4.1. Ý nghĩa biểu tượng mang tính cá nhân

Cảm nhận ý nghĩa của một biểu tượng là một công việc hết sức cá nhân, cùng một

biểu tượng nhưng từng cá nhân cá cảm nhận riêng. Vì mỗi cá nhân sống trong môi trường

văn hóa khác nhau, có trải nghiệm riêng, tri thức nền cũng khác…Vì thế khi giải thích ý

nghĩa của biểu tượng chúng ta khó lòng đưa ra mẫu số chung, mọi sự giải thích chỉ mang

tính chất gợi ý nhiều hơn.

Như thế, tìm hiểu một biểu tượng là trình bày những kích thích hơn là những kiến

thức, đó là phương pháp của Gaston Bachelard (triết gia người Pháp). Trước một biểu tượng

như lửa, nước, khí v.v., ông ghi lại những cảm nhận cá nhân bắt nguồn từ toàn bộ con người

(lửa: nấu bếp, sưởi nóng, đốt nhà, bắn súng …), từ cái di sản thừa kế của cả một dân tộc (như

nước : ruộng nước, lúa nước, thủy tinh v.v.) hoặc cả một thời đại (lửa : lửa tình yêu, Thánh

Thần).

Thông thường khi giải thích ý nghĩa của biểu tượng người ta dựa vào cấu trúc hình

thức. Đây cũng là phương pháp để người ta quy ước những cách giải thích khác nhau. Ví như

cách giải thích khác nhau về biểu tượng chim bồ câu. Trong Cơ đốc giáo hình ảnh chim bồ

câu ngậm cành ô liu là biểu tượng của hòa bình, còn hình ảnh chim bồ câu vói ngọn lửa lại là

biểu tượng của Đức Thánh Linh giáng lâm. Chim bồ câu còn là biểu tượng của tình yêu,

nguyên nhân do tập tính dịu hiền của chúng. Ở Trung Hoa cổ, chim bồ câu là biểu tượng của

mùa xuân. Một số nơi khác thì chim bồ câu lại là giống chim báo điềm gở vì tiếng gù của

chim là lời kêu than của những linh hồn đau khổ.

3.4.2. Ý nghĩa biểu tượng thay đổi theo từng nền văn hóa

Ý nghĩa của biểu tượng không chỉ biến đổi tùy theo cách cảm nhận của từng cá nhân

mà còn biến đổi theo từng vùng văn hóa. Cùng biểu tượng “rồng” nhưng văn hóa phương

Tây và văn hóa phương Đông có cánh giải thích khác nhau. Khi giải thích ý nghĩa của biểu

tượng không thể chì nhìn vào diện mạo bên ngoài, mà còn tìm hiểu sự vận động của nó trong

môi trường văn hóa và vai trò của nó trong hiện tại.

Khi đứng trước một số biểu tượng có hình thức giống nhau, việc giải thích không chỉ

căn cứ vào hình ảnh biểu thị mà nhiệm vụ của người nghiên cứu cần tìm ra sắc thái, cái ý

nghĩa riêng đồng thời cũng cần tìm ra mẫu số chung của các biểu tượng. Tuy nhiên chúng ta

không nên đặc thù hóa quá mức cũng như không nên khái quát quá vội vì cả hai điều này là

sai lầm vì hợp lí hóa biểu tượng sẽ giết chết nó. Việc tiếp nhận biểu tượng loại trừ thái độ

đứng nhìn, mà đòi hỏi thái độ nhập cuộc. Pierre Emmanuel nói: phân tích một cách lý trí

biểu tượng, tức là bóc một củ hành ra để tìm củ hành [1;XLIV].

3.4.3. Ý nghĩa biểu tượng thay đổi theo môi trường lịch sử

Điều quan trọng tiếp theo là ý nghĩa của biểu tượng phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử. Có

trường hợp ý nghĩa của biểu tượng có thể thay đổi do những biến cố lịch sử, có thể kể ra đây

như: hình ảnh cây thập tự ban đầu là biểu tượng cho sự sỉ nhục, xấu xa, là nơi để hành hình

những kẻ tội đồ nhưng khi Chúa Jesus bị đóng đinh trên cây thập tự thì cây thánh giá trở

thành biểu tượng của tình yêu thương, hay như biểu tượng Chữ Vạn, ban đầu nó có ý nghĩa

của sự khỏe mạnh, hạnh phúc, nhưng khi Hitler dùng hình ảnh chữ thập ngoặc làm biểu

tượng cho Đảng quốc xã thì ý nghĩa của biểu tượng này bị biến đổi. Đến nỗi có khá nhiều

câu chuyên lí thú xoay quanh biểu tượng này. Dưới thời Pháp thuộc, năm 1941, viên công sứ

Pháp, đi từ Phủ Doãn lên đàn Nam Giao, khi ngang qua chùa Từ Đàm Huế, thấy các hình

trang trí chữ Vạn xung quanh tường rào được trang trí nằm trong không gian có thể trông từ

hai phía, ông ta đã nổi giận và bắt vị Trụ trì chùa phải xây phông ở phía sau để chỉ được nhìn

về phía mặt chữ Vạn của Phật giáo.

(http://phattuvietnam.net/nghiencuu/3202.html)

Chúng ta dễ dàng nhận thấy, ý nghĩa của biểu tượng luôn biến đổi, chỉ có các biểu

tượng về mặt trời, mặt trăng, và các hành tinh là tương đối ổn định. Nguyên nhân vì bối cảnh

của những biểu tượng này là gần gũi nhau, những biểu tượng này thường được quan sát bởi

những cá nhân có cách nhìn giống nhau, đó là các nhà thiên văn học, nhà chiêm tinh học, nhà

tâm lí học. Việc ý nghĩa của một biểu tượng biến đổi thường trải qua giai đoạn rất dài, có

khi lên đến hàng ngàn năm, quá trình biến đổi này diễn ra rất chậm và khó nhận thấy.

Ví như biểu tượng , được sử dụng cách đây 2000 năm, là biểu tượng của thần chiến

tranh trong thần thoại Hy Lạp. Ngày nay biểu tượng này được dùng để chỉ sao Hỏa. Và ý

nghĩa của biểu tựơng này ngày nay không còn liên quan nhiều đến nội dung chiến tranh, hay

xâm lược như ban đầu nữa. Trong một vài trường hợp ý nghĩa ban đầu của biểu tượng biến

mất hay có thể được thay thế bằng một số ý nghĩa sau: sự khẳng định, hệ thống hành tinh,

sắt…[27;9]

3.4.4. Ý nghĩa của biểu tượng vô cùng phong phú

Ở trên chúng ta đã liệt kê ra được những cách thức để tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng.

Tuy nhiên không phải mọi việc diễn ra dễ dàng mà đôi khi đứng trước một biểu tượng chúng

ta cần suy nghĩ thấu đáo. Việc tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng không giống như tìm hiểu

một kí hiệu. Vì đối với kí hiệu khi nhìn vào hình thức bên ngoài, chúng ta có thể đoán định

được nội dung mà kí hiệu đó muốn biểu đạt, kí hiệu thường đại diện cho một đối tượng nào

đó. Ví như các kí hiệu giao thông, nhìn vào các hình vẽ chúng ta có thể đoán biết đâu là biển

cấm đường một chiều, đường đang thi công, đường cấm. Còn biểu tượng thì khác, thật khó

có thể thiết lập được ý nghĩa đơn nhất của một biểu tượng vì mặt hình thức của biểu tượng

khiến chúng ta có nhiều cách liên tưởng đến nhiều ý nghĩa khác nhau. Vì thế mà cùng một

biểu tượng lại có những cách giải thích hoàn toàn trái ngược nhau. Vì các biểu tượng luôn

luôn đa chiều.

Hầu hết những kí hiệu ban đầu thường có ít nhất hai nghĩa: đối lập nhau. Quy tắt này

chỉ áp dụng đối với những cấu trúc cơ bản mà thôi như: chữ thập (vừa là biểu tượng của cái

chết, đau buồn, vừa là biểu tượng của sự sống bất diệt, sự cứu rỗi), đường tròn (nghĩa ban

đầu của nó tồn tại và nghĩa ngược lại là không tồn tại, không nối kết), hình tam giác (biểu

tượng của sức mạnh, nguyên tố lửa; sức mạnh đen tối và nguyên tố nước), ngôi sao năm

cánh (vừa là biểu tượng của chiến trang và đau khổ vừa là biểu tượng của sự vui mừng, sự

thích thú)…Còn những kí hiệu hiện đại thường không mang ý nghĩa theo hai chiều. Ví như

hình trái tim không vừa mang ý nghĩa tình yêu và sự thù hận, ngôi sao sáu cánh, biểu tượng

của người Isaren không mang ý nghĩa ngược nhau. Trong truyền thuyết về Kaydara của dân

tôc Peul, người hành khất già (nhà khai tâm) nói với Mamadi (người hành hương đi tìm tri

thức): Hỡi anh em, hãy nhớ rằng mỗi biểu tượng đều có một, hai, hay nhiều nghĩa. Các ý

nghĩa ấy thuộc ban ngày hay ban đêm. Những cái thuộc ban ngày là điềm tốt, thuộc ban đêm

là điềm xấu [1;XXII].

Trong biểu tượng diễn ra một hiện tượng ngưng kết: “chỉ một cái biểu đạt giúp ta nhận

thức ra được nhiều cái được biểu đạt; hoặc giản đơn hơn cái được biểu đạt dồi dào hơn cái

biểu đạt. Như vậy có sự ứ tràn nội dung ra ngoài dạng biểu đạt của nó.

Ý nghĩa biểu tượng vừa mang tính đa chiều vừa mang tính ổn định (vì thế chúng ta

nhận thấy nhiều nền văn hóa khác nhau sử dụng biểu tượng để biểu thị nội dung giống nhau).

Vì thế đôi khi người ta giải thích ý nghĩa của biểu tượng dựa vào logic thông thường. Người

ta dùng hình vuông làm biểu tượng của đất. Nhiều không gian linh thiêng có hình bốn góc

như: bàn thờ, đình miếu, thành đô, doanh trại quân đội. Số bốn là số của hình vuông, là con

số toàn bích nhất trong mọi con số: đó là con số của sự thông tuệ và của kinh sách mang tên

Thượng đế. Mặt đất được đo bằng bốn chân Trời có hình vuông. Nó được phân chia thành

bốn phương. Ở Trung Hoa, vũ trụ có hình vuông, mỗi phương được án ngữ bằng một ngọn

núi chính. Ở người Trung Hoa quả đất hình vuông là một ý niệm rất cổ xưa, nó ăn sâu vào

trong ngôn ngữ. Vũ trụ được hoạch định bằng bốn phương, nhưng từ này cũng chỉ hình

vuông. Vì vậy Thổ thần được biểu trưng bằng mô đất hình vuông, kinh đô cũng hình vuông,

lãnh địa của vua chúa cũng thế. Cả phương Tây và phương Đông đều sử dụng biểu tượng

này để chỉ “đất”, “mặt đất”. Trên bản đồ, hình chữ nhật được dùng để chỉ địa điểm của nông

trại. Còn các nhà giả kim thì sử dụng biểu tượng này để chỉ “muối”, ngành khí tượng học thì

dùng để chỉ mặt đất…

Tôn giáo ưa dùng các biểu tượng vì chúng đưa chúng ta sang một thế giới khác, sống

động hơn, cao siêu hơn, vượt ra ngoài thế giới khả giác, trong đó cái phần vô hình được nhìn

thấy một cách huyền bí : Phật Quan Âm ngự tòa sen, tay cầm bông sen chứ không phải là

hoa huệ. Và khi một nền văn hóa bị các nền văn hóa khác xâm nhập thì biểu tượng trở thành

đa chiều và có khả năng thâm nhập lẫn nhau như : Tấm Cám với Cinderella, cái mõ hình con

cá nơi các giáo xứ …

Việc tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng chỉ là một sự gợi mở, nếu mở được cấu trúc hình

thức bên ngoài chúng ta sẽ chạm được vào nội dung phong phú bên trong. Cũng giống như

cách chúng ta xem các hình ảnh từ không gian ba chiều.

Tóm lại, có những yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến ý nghĩa của biểu tượng:

 Cấu trúc của biểu tượng

 Bối cảnh trực tiếp của biểu tượng

 Bối cảnh mang tính chất cá nhân của người quan sát

 Môi trường xã hội và môi trường lịch sử của biểu tượng

3.5. Vai trò của con số và màu sắc trong biểu tượng tôn giáo

Trong chương hai chúng tôi có đề cập đến các phương thức biểu đạt của các biểu

tượng trong tôn giáo. Chúng tôi nhận thấy việc kết hợp màu sắc và con số trong các biểu

tượng đều có mục đích nhất định. Vì thế khi tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng chúng ta cũng

cần tìm hiểu ý nghĩa của các con số và màu sắc. Ý nghĩa của các con số và màu sắc cũng

mang tính lý do, ví như màu đỏ là màu của máu, màu của chiến tranh, là màu đại diện cho

thần chiến tranh trong thần thoại Hy Lạp, biểu tượng của sức mạnh.

Việc giải thích ý nghĩa của màu sắc hay ý nghĩa của con số cũng tùy thuộc vào từng

nền văn hóa. Đối với người Trung Hoa thì màu đỏ là biểu tượng cho sự may mắn, vì thế mà

trong những dịp quan trọng như cưới hỏi, hay lễ tết người ta đều trang hoàng nhà của bằng

màu đỏ. Còn đếi với Cơ đốc giáo màu đỏ lại là màu của sự thống khổ, vì nó gợi nhớ đến sự

chết chuộc tội của Chúa Jesus trên cây thập tự.

3.5.1. Vai trò của con số

Ngôn ngữ nào cũng phải có số đếm, nhưng có vài con số có những hàm nghĩa đặc biệt.

Chính con số không có gì thần bí, nhưng từ chỗ sùng bái linh vật về ngôn ngữ, người ta đi

đến sùng bái về con số. Từ xa xưa người ta phát minh ra con số với mục đích dùng để đếm,

nhưng con số cũng là cơ sở để người ta xây dựng các biểu tượng. Con số không chỉ biểu thị

đại lượng mà còn bao hàm nhiều hàm ý khác nữa. Giải thích ý của con số là khoa học lâu đời

nhất. Trong tư tưởng người Azteque, các con số cũng mang tầm quan trọng trong vũ trụ. Mỗi

con số đều gắn với một vị thần, một màu sắc, một điểm trong không gian, một tập hợp những

ảnh hưởng, lành hay dữ. Theo một số tín ngưỡng, mỗi con số có khuynh hướng sinh ra một

con số lớn hơn, một sinh ra hai, hai sinh ra ba… bởi vì mỗi con số đều bị thúc đẩy vượt ra

ngoài giới hạn của mình. Đôi khi người ta không được phép dùng các con số không đúng lúc.

Vì chúng chứa một sức mạnh chưa được biết. Theo truyền thuyết của người Peul, số là mẹo

lừa cùa huyền lý. Nó là sản phẩm của lời nói và kí hiệu, cốt yếu hơn và huyền bí hơn các

phần hợp thành nó. Cho nên không bao giờ người ta nói ra số con, số bò, số vợ của mình, cả

số tuổi nữa dù đã biết. Ngược lại người ta sẵn sàng đếm các đồ vật không dính dáng trực tiếp

đến mình.

Người ta cho rằng có những số lành, may mắn, có những số dữ, xui xẻo. Phương Đông

và phương Tây có quan niệm khác nhau về vấn đề lành và dữ đối với ý nghĩa các con số.

Ví dụ ở các nước phương Tây, số 13 bị coi là số xấu, người ta luôn luôn kiêng và cố

lẩn tránh con số này. Ở các nhà cao tầng, người ta không lấy số 13, các bệnh viện và giường

bệnh số 13; trên máy bay xe lửa và ở mỗi hàng ghế đều không có ghế số 13. Người ta tiến

hành những việc quan trọng cũng cố tránh ngày 13. Nhưng ở Việt Nam và Trung Hoa lại

không tin như thế. Một vài tỉnh ở Trung Quốc người ta cho các số 3, 6, 9 là số đẹp, chọn

những ngày 3, 6, 9, 13, 16, 26, 29 âm lịch làm lễ cưới. Ở Nhật, người ta cho số 4 là xấu, vì

tiếng Nhật số 4 đọc lên nghe gần như chết (Xi = tứ, xi = tử) nên người Nhật thường kiêng số

này. Nhiều bệnh viện Nhật không có tầng số 4, phòng số 4 và giường số 4. Tiếng Trung Hoa

cũng như vậy, “tứ” đọc lên theo phương ngữ nào nghe cũng gần giống với “tử”, nên nhiều

bệnh nhân nằm bệnh viện kiêng số đó. Ở Việt Nam, người ta có quan niệm riêng về các con

số, coi số lẻ là tốt đẹp. Làm đám cưới cũng có thói quen chọn ngày, có người kiêng ngày 3

và ngày 7, vì đã có câu: “Chớ đi ngày bảy, chớ về ngày ba”.

Ngày nay trong giới kinh doanh người ta quan tâm nhiều đến ý nghĩa của con số, vì

thế mà có nhiều người sẵn sàng bỏ ra rất nhiều tiền để mua cho được những biển số xe, số

điện thoại mang ý nghĩa lộc phát, để cầu mua may bán đắt…

Trong tôn giáo con số cũng có vai trò và ý nghĩa riêng của nó. Hiểu ý nghĩa của con số

sẽ góp thêm phần không nhỏ làm sáng tỏ ý nghĩa của biểu tượng. Chúng ta sẽ không ngạc

nhiên nhiều khi nhiều tôn giáo sử dụng bộ 3, hay vì sao trong Cơ đốc giáo hay sử dụng con

số 7?

Việc giải thích ý nghĩa của tất cả các con số được dùng trong tôn giáo là không thể vì

thế ở đây chúng tôi chỉ xin giải thích ý nghĩa của các con số xuất hiện cùng với các biểu

tượng mà chúng tôi đã liệt kê.

Trong Cơ đốc giáo các con số sau được sử dụng nhiều: 3 (ba ngôi ), 5 (ngôi sao năm

cánh), 7 (7 ngọn đèn, 7 ngọn nến, 7 món quà của Chúa Thánh Linh, quyển sách có 7 con

dấu), 9 (chín bông trái thánh linh), 12 (12 tông đồ), 666 (số hiệu của con thú).

Con số 7 là con số của sự hoàn thành và sự đổi mới chu trình (thế giới được tao dựng

trong sáu ngày và Chúa Trời nghỉ ngơi trong ngày thứ 7, và lập nó làm ngày thánh), nó cũng

là biểu tượng của sự trọn vẹn, đầy đủ và hoàn hảo.

Con số 9 (9 bông trái thánh linh): chín là con số cuối cùng của mọi con số, số chín

cùng một lúc báo hiệu sự kết thúc và sự bắt đầu lại, tức là sự chuyển vị sang bình diện mới

…Nó biểu đạt một chu trình, hoàn thành một hành trình, khép kín một vòng [1;181]. (Kinh

thánh đề cập đến việc phải từ bỏ cuộc sống chiều theo xác thịt để trở thành người tốt, thánh

khiết bước đi theo Thánh linh).

Số 12 là số dùng để chia thời gian và không gian. Đây là tích số của bốn phương nhân

với ba bình diện thế giới. Đối với Kinh Thánh, số 12 là con số của người được chọn. Từ xưa

đến nay 12 là con số của sự hoàn thành, của một chu kì đã hoàn tất.

Chúng ta sẽ suy nghĩ về con số 666. Có nhiều cách giải thích khác nhau về ý nghĩa

con số này. Chúng ta biết rằng trong Kinh Thánh nhiều lần nhắc đến số 7 như là biểu hiện

cho sự trọn vẹn hoàn hảo của Đức Chúa Trời: Công cuộc sáng tạo vũ trụ của Đức Chúa Trời

được làm trọn trong 7 ngày trong đó Ngài làm việc 6 ngày và ngày thứ 7 thì Ngài nghỉ (Sáng

Thế Ký 1); Dân Y-sơ-ra-ên đi vòng quanh thành Giêricô 7 ngày và 7 lần trong ngày thứ 7

(Giôsuê 6); Chúa Giêxu dạy hãy tha thứ 70 lần 7 (Mathiơ 18:22). Con số 6 thiếu mất 1 so với

số 7, nó cũng gần với số 7 nhưng không phải là số 7. Con số 6 này chỉ về việc làm, biểu hiện

cho sự nhờ cậy việc làm để được cứu và sự bất toàn của con người. Quyền lực tột đỉnh của

con người, dù có vĩ đại đến đâu, vẫn chỉ là con số 6 mà không phải là con số 7 trọn vẹn của

Đức Chúa Trời. Sự lặp lại 3 lần 666 có lẽ được dùng để nhấn mạnh sự nhận diện của con thú

thứ hai này là tính chất con người mà không phải là Đức Chúa Trời.

Các con số được sử dụng kết hợp với các biểu tượng trong Phật giáo:2 (cặp cá vàng), 4

(bốn con vật hòa thuận), 3 (tam bảo), 6, 8, 12 (số gọng bánh xe trong bánh xe pháp luân).

Số 2: (hai nghiệp, hai nhãn, hai phiền não, hai sức mạnh, hai loại giới) là biểu tượng

của sự xung đột, sự đối lập, đây là con số chỉ sự cân bằng trong hiện thực hay những mối đe

dọa đang tiềm ẩn.

Số 6 (sáu độ, sáu căn, sáu đường, sáu phương…) là gấp đôi số 3, như vậy đây là con

số điềm lành.

Số tám (tám sức mạnh, tám vị thai tạng, tám tâm niệm của bậc đại nhân, bát chánh

đạo…). Bát chánh đạo bao gồm 8 con đường chân chính đưa người tu tập đến bờ giải thoát.

Bao gồm: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn,

chính niệm, chính định.

Số 12 (mười hai nhân duyên, mười hai hạnh đầu đà). Mười hai nhân duyên là giáo lý

đặc thù của đạo Phật. Giáo lý này giảng dạy về con người, đối tượng nghe là con người, sự

hành trì cũng thuộc về con người. Mười hai nhân duyên bao gồm: vô minh, hành, thức, danh

sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử.

3.5.2. Vai trò của màu sắc

Màu sắc có ảnh hưởng đến tâm lý con người điều đó đã được công nhận. Trong việc

kết hợp màu sắc đối với các biểu tượng có thể phản ảnh được tâm lý văn hóa dân tộc. Từ

xưa, người Việt chịu ảnh hưởng Trung Hoa có quan niệm tôn sùng màu vàng, vì từ đời Hán,

lấy năm sắc tượng trưng cho ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ và ngũ phương là

Ðông, Tây, Nam, Bắc. Vàng là tượng trưng cho Thổ và Trung ương và là màu của vương

quyền. Từ đời Hán trở xuống, các nhà vua đều mặc áo vàng, và đó là độc quyền của nhà vua.

Người Á đông thích màu đỏ, cho đó là tượng trưng cho sự may mắn, hạnh phúc, vui

vẻ, thành đạt. Vào các dịp ngày Tết, ngày lễ lớn thường treo câu đối đỏ, thắp nến đỏ...Ở

Trung Hoa còn treo đèn lồng đỏ, trong đám cưới cô dâu mặc toàn màu đỏ, trang hoàng trong

nhà toàn bằng màu đỏ. Trái lại ở Tây phương, cô dâu mặc bộ áo cưới màu trắng, họ cho rằng

màu trắng tượng trưng cho sự trong sạch, tinh khiết của cô dâu. Nhưng ở Trung Hoa dân

gian lại kiêng màu trắng trong đám cuới, vì họ vẫn coi màu trắng là màu tang tóc. Người Á

Ðông không thích màu đen cho rằng đó là vận không may, số đen, đen đủi trong khi vẫn có

nhiều người Tây phương thích sơn cửa màu đen cổ điển.

Màu sắc góp một phần không nhỏ vào việc xây dựng ý nghĩa của biểu tượng. Đặc tính

đầu tiên trong ý nghĩa biểu tượng của màu sắc là tính phổ quát, không chỉ theo nghĩa địa lý,

mà còn ở mọi cấp độ sinh tồn và nhận thức: vũ trụ, tâm lý, thần bí…Cách giải thích ý nghĩa

của biểu tượng tôn giáo cũng tùy thuộc vào màu sắc, vì mỗi tôn giáo đôi khi quan niệm về ý

nghĩa mỗi màu khác nhau.

Nhìn chung màu sắc có một số ý nghĩa biểu trưng sau:

- Tượng trưng cho các nguyên tố: màu đỏ và màu cam: tượng trưng cho nguyên tố lửa;

màu vàng hoặc màu trắng tượng trưng cho không khí; màu xanh lá cây tượng trưng

cho nước; màu đen hoặc nâu tượng trưng cho đất.

- Màu sắc còn tượng trưng cho không gian: màu xanh lam cho chiều thẳng đứng, lam

nhạt cho phía trên cùng trời, lam đậm cho phía dưới; màu đỏ chỉ chiều ngang, đỏ sáng

chỉ phía đông, đỏ sẫm chỉ phía tây.

- Chúng còn tượng trưng cho thời gian: màu đen cho thời gian; màu trắng cho cái phi

thời gian; và tất cả những gì kèm theo thời gian: sự luân phiên giữa bóng tối và ánh

sáng, giữa yếu đuối và sức mạnh, ngủ và tỉnh…

- Những màu sắc đối lập như trắng và đen tượng trưng cho tính nhị nguyên thuộc về

bản chất sinh tồn. Ví như một bộ y phục hai màu; hai con vật đối đầu hoặc tựa lưng

vào nhau, một con trắng một con đen; hai người múa, một trắng một đen [1;562].

Trong Cơ đốc giáo màu sắc được sử dụng mang một ý nghĩa tượng trưng riêng. Tôn

giáo này thường sử dụng bốn màu cơ bản, bốn màu thâu tóm toàn bộ vũ trụ, biểu trưng cho

bốn nguyên tố cấu thành: đất – trắng, nước – xanh, không khí – tím, lửa – đỏ. Vì thế những

bộ lễ phục, kể cả những lễ phục nhà thờ có cả bốn màu ấy tượng trưng cho tập hợp những

yếu tố cấu thành thế giới và từ đó gắn liền với cái chỉnh thể vũ trụ với những hoạt động nghi

lễ. Trong Cơ đốc giáo đề cao ánh sáng. “Những cách cảm thụ, lý giải màu sắc đưa ta về với

những quy phạm thời cổ đại gợi nhớ những bích họa Ai Cập cổ xưa. Sắc màu biểu trưng cho

lực hướng thượng trong sự đan thoa bóng tối và ánh sáng hấp dẫn ở các thánh đường kiểu

Roma, nơi mà bóng tối không còn là mặt trái của ánh sáng, mà đi kèm theo nó để khẳng định

tốt hơn giá trị của nó và góp phần cho sự nở tươi của nó… Có một sự hiện diện được tán

tụng của mặt trời, không chỉ trong kiến trúc nhà thờ, mà còn cả trong lễ thức tụng kinh ngợi

ca vẻ mê hồn của ánh sáng.” [1;563].

Phật giáo cũng sử dụng màu sắc trong việc thể hiện ý nghĩa của các biểu tượng như:

trang trí trên tranh ảnh, các pho tượng, cờ Phật giáo, áo quần, đồ dùng... Do đặc trưng của

nền văn hóa phương Đông nên Phật giáo hay sử dụng các màu chủ yếu sau: màu đỏ, màu

vàng nghệ, màu trắng, màu xanh và màu xanh lá cây. Trong Phật giáo Tây Tạng, màu sắc

mang ý nghĩa biểu trưng riêng. Trong nghệ thuật trang trí tranh ảnh người ta thường kết hợp

năm màu với nhau (đôi khi màu đen được thay thế bằng màu xanh).

Khi nghiên cứu một biểu tượng, nhất là biểu tượng tôn giáo chúng ta dựa vào rất nhiều

yếu tố, không chỉ cấu trúc hình thức của biểu tượng (bản thân biểu tượng như: phương thức

biểu đạt, biểu tượng đó sự dụng những phương thức biểu đạt nào? Thường mỗi biểu tượng

có sự kết hợp của nhiều phương thức biểu đạt khác nhau và con số và màu sắc cũng không

ngoại lệ) mà còn tùy thuộc vào yếu tố văn hóa và quan trọng hơn nữa là cách nhìn nhận, cách

hiểu biểu tượng đó của mỗi cá nhân.

3.6. Quan hệ giữa hình thức và nội dung trong biểu tượng tôn giáo

Biểu tượng là một loại kí hiệu, loại kí hiệu này khác với ngôn ngữ ở chỗ mối quan hệ

giữa hai mặt của biểu tượng mang tính lí do, trong khi ngôn ngữ là võ đoán. Cụ thể trong Cơ

đốc giáo người ta dùng hình ảnh chim bồ nông làm biểu tượng cho Chúa Jesus. Nguyên nhân

là chim bồ nông dùng máu của mình để nuôi con biểu tượng của tấm lòng hi sinh cao cả.

Điều này cũng giống như Chúa Jesus vì yêu thương nhân loại nên chịu chết trên cây thập tự.

Hay như hình ảnh chiếc ngai để trống là biểu tượng cho Đức Phật từ bỏ vương quyền đề tìm

đường giải thoát cho chúng sinh. Chiếc ngai là biểu tượng của quyền lực, sự thông thái và

thần thánh. Chiếc ngai trống mang ý nghĩa là sự nối kết giữa Chúa nhân loại. Vì thế trong cả

hai tôn giáo này hình ảnh chiếc ngai để trống là biểu tượng cho đức tính tốt đẹp của vị chúa

tể.

Nguyên tắc sáng tạo chữ viết ghi ý và chữ viết tượng hình cũng gần giống với việc

sáng tạo biểu tượng. Để biểu thị nội dung là “cây” thì người Trung Hoa vẽ hình giống cái

cây 木 (mộc), rồi muốn chỉ ý nghĩa “rừng” thì ghép hai chữ mộc lại với nhau thành chữ

lâm木木. Đối với người Ai Cập cổ, việc sáng tạo chữ viết (chữ tượng hình) dựa vào quá

trình quan sát cuộc sống hàng ngày. Người ta vẽ vòng tròn lớn có tâm ở giữa để chỉ mặt trời

.

Đối với chữ viết ghi ý hay chữ viết tượng hình, chúng ta rất dễ nhận ra mối quan hệ

giữa nội dung và hình thức vì cách kết hợp này có lí do. Có những biểu tượng có nguồn gốc

từ hệ thống chữ viết ghi ý, chữ viết tượng hình. Như biểu tượng về thánh giá Ankh của người

Ai Cập. Ý nghĩa của biểu tượng này: trường thọ, sự tái sinh, sinh lực của người Ai Cập. Biểu

tượng này được tìm thấy trên hang đá, lăng mộ. Nó còn là biểu tượng của quyền lực, nguyên

nhân vì hình dáng của nó giống với quyền trượng của các vị thần. Như vậy người ta dùng vật

dụng thường dùng để đại diện cho một đối tượng.

Nhưng cũng có những trường hợp nếu như chúng ta không thêm vào một số thông tin

thì khó lòng có thể hiểu được ý nghĩa. Ví dụ như hệ thống kí hiệu của những kẻ lang thang

, kí hiệu này có nghĩa là: “ở đây người ta cho thức ăn và tiền”. Như vậy nguyên nhân nào

khiến những người vô gia cư dùng biểu tượng này để chỉ nội dung trên? Đây là biểu tượng

được sử dụng trong nhiều nền văn hóa, chỉ mặt trời. Mặt trời là nguồn sáng đem lại thức ăn.

Mối quan hệ giữa hai mặt hình thức và nội dung của biểu tượng không phải là mối

quan hệ 1-1, chỉ một cái biểu đạt giúp ta nhận thức ra nhiều cái được biểu đạt…, hay cái

được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt. Như vậy biểu tượng luôn mang tính đa trị. Cùng biểu

tượng cá (cái biểu đạt), nhưng có nhiều cách giải thích rất khác nhau:

- Nó là biểu tượng của nguyên tố nước

- Cá là biểu tượng của sự sống và tính mắn đẻ (do nó có khả năng sinh sản kì lạ với số

trứng niều vô kể)

- Ở Trung Quốc, cá là biểu tượng của vận may

- Trong Cơ Đốc Giáo cá là biểu tượng của Chúa Jesus

3.7. Các biểu tượng tôn giáo Việt Nam

Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (từ đầu công nguyên), được bản địa hóa

khi du nhập từ ẤN Độ và Trung Quốc. Theo thống kê của Ban tôn giáo chính phủ Việt Nam

vào năm 2009 thì hiện có gần 60 triệu tín đồ Phật giáo. Cùng với lượng tín đồ đó thì số

lượng chùa chiền cũng phát triển rất nhiều. Cơ Đốc giáo du nhập vào Việt Nam muộn hơn so

với Phật giáo (đầu thế kỷ 16). Hiện tại số tín đồ Cơ đốc giáo khoảng hơn 6 triệu người.

Để phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn này, chúng tôi đã đến các ngôi chùa, các nhà

thờ lớn tại thành phố Hồ Chí Minh để thu thập tư liệu.

Qua khảo sát (PL A I) chúng tôi nhận thấy Phật giáo sử dụng các biểu tượng chính

sau:

- Biểu tượng chữ Vạn (xoay theo chiều kim đồng hồ và ngược chiểu kim đồng hồ, biểu

tượng này được trang trí trên cửa chùa, trên ngực của các tượng Phật… ) (PL C8)

- Bánh xe pháp luân được trang trí trên nóc của ngôi chùa (biểu tượng này được sử dụng

từ thời Nguyễn đến nay) (PL C8)

- Biểu tượng lưỡng long chầu nguyệt (bên trong có trang trí biểu tượng chữ Vạn) (PL

C8)

- Biểu tượng hoa sen (PL C8)

- Biểu tượng rồng (trang trí thành đôi, hay được trang trí trên chuông chùa) (PL C8)

- Về màu sắc thường sử dụng các màu sau để trang trí biểu tượng: màu đỏ, màu vàng,

màu trắng, màu xanh

Nhà thờ Cơ đốc giáo sử dụng các biểu tượng tiêu biểu sau:

- Biểu tượng thập tự giá (PL B10): đủ các loại, được trang trí trên nóc của nhà thờ, trên

tháp chuông, trên cửa sổ, trên bàn thờ…

- Biểu tượng các tông đồ (PL B12)

- Biểu tượng chim bồ câu (PL B12)

- Biểu tượng hoa iris …

- Biểu tượng về tam vị nhất thể (PL B12)

Nhìn chung ở Việt Nam hệ thống biểu tượng của hai tôn giáo trên không khác biệt

nhiều so với thế giới. Tuy nhiên khi du nhập vào Việt Nam, do ảnh hưởng của yếu tố văn

hóa, cách sử dụng biểu tượng có biến đổi ít nhiều. Đơn cử như: nhà thờ Đa Minh sử dụng

biểu tượng rồng là chủ yếu trong kiến trúc của thánh đường, hay như nhà thờ cha Tam trong

kiến trúc cũng như cách sử dụng màu sắc trong trang trí chịu ảnh hưởng của văn hóa người

Hoa.

3.7.1. Biểu tượng rồng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo

Hình ảnh con rồng không chỉ xuất hiện trong những kiến trúc của Phật giáo mà ngay

cả Cơ đốc giáo, hình ảnh con rồng cũng xuất hiện nhiều. Ở các chùa Việt Nam hình tượng

con rồng được tạc trên mái của các ngôi chùa, hay trên các chuông chùa… nguyên nhân do

việc tiếp nhận Phật giáo từ Trung Hoa. Quan niệm của người Trung Hoa, rồng là tinh linh

của núi, là thần linh bảo vệ năm vùng (bốn phương và trung tâm), là kẻ bảo vệ năm hồ bốn

biển.

Trong thời kỳ đất nước ta bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc, rồng Việt Nam chịu

ảnh hưởng của những con rồng các thời Tần, Hán, Đường, Tống... và được cách điệu hóa

dần dần để biến thành rồng hoàn chỉnh, tượng trưng cho uy quyền độc tôn của vua chúa

phong kiến và thường được trang trí ở những nơi linh thiêng. Rồng được sử dụng trong kiến

trúc tôn giáo theo một số nét: mắt quỷ, sừng nai, tai thú, trán lạc đà, miệng lang, cổ rắn, vảy

cá chép, chân cá sấu, móng chim ưng. Và con rồng luôn là hình ảnh sâu đậm trong tâm hồn

mỗi người Việt Nam.

Phương Đông và phương Tây có quan niệm khác nhau về biểu tượng rồng. Truyền

thống phương Đông, rồng được miêu tả như một sức mạnh có giá trị, đem đến sức sống cho

thế giới.

Trong Cơ đốc giáo con rồng là biểu tượng của Satan [8, Khải huyền 12:9], là kẻ cám

dỗ gieo rắc tội lỗi và xấu xa, là đối tượng cần phải chinh phục. Rồng là hiện thân của quỹ dữ

vì thế mà trong các tranh ản phương Tây rồng được vẽ với hình ảnh đầu bị đập vỡ, các con

rắn bị tiêu diệt. Điều đó trở thành biểu tượng cho sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác.

Ở phương Đông, rồng là biểu tượng của sự sáng tạo của sự sống. Rồng là đại diện cho

nguyên tố nước, không khí. Nguyên nhân phương Đông là xứ nóng mưa nhiều tạo nên những

vùng đồng bằng rộng lớn. Như vậy yếu tố sông nước rất quan trọng đối với văn hóa phương

Đông. Qua quá trình phát triển của dân tộc phương Đông hình tượng rồng được gắn liền với

nguồn gốc dân tộc, ví như dân tộc Việt tự hào là con Rồng cháu của Tiên, gắn với vương

quyền (các vua chúa hay lấy hình tược rồng để đại diện cho uy lực của triều đình, hình tượng

rồng cũng được thêu trên áo của vua mặc), gắn liền với sự may mắn, thịnh vượng.

Trong kinh điển Phật giáo, rồng xuất hiện ba lần

Lần thứ nhất, khi đức Phật giáng sinh thì có 9 con rồng phun nước tắm cho Đức Phật

(cửu long phún thủy). Ở các chùa miền Nam khi học khắc hoặc cham trổ tượng, bao giờ

cũng có tượng Đản sinh, xung quanh có 9 con rồng đứng hầu (là lấy tích lúc đức Phật sinh ra

có 9 con rồng phun nước tắm cho Phật).

Rồng xuất hiện lần thứ hai qua câu chuyện đức Phật hàng phục Hỏa Long (rồng lửa).

Lần thứ ba đề cập chuyện Văn Thù sư lợi đem Kinh đi giáo hóa ở Long cung.

Trong thái độ ứng xử với tự nhiên, người dân nông nghiệp phương Đông do phải phụ

thuộc nhiều vào thiên nhiên, dẫn đến coi trọng rồng, đề cao rồng; còn người dân du mục

phương Tây do cuộc sống nay đây mai đó, không cố định, có tham vọng chinh phục và chế

ngự thiên nhiên đã dẫn đến tâm lý xem rồng là một biểu tượng cho những thế lực xấu xa cần

được khuất phục.

Với các dân tộc phương Đông, rồng là biểu tượng của sự cao quý tốt đẹp, thăng hoa và

thịnh vượng, rồng xuất hiện là để thể hiện sự vươn tới cái đẹp chân - thiện - mỹ. Với các dân

tộc phương Tây, rồng là biểu tượng của sự xấu xa, phá hoại,... tiêu diệt rồng có nghĩa là

chiến thắng cái xấu, cái ác, cái tối tăm... qua đó biểu hiện một cách khác về vẻ đẹp của con

người.

Có thể nói do điều kiện môi trường tự nhiên của phương Tây và phương Đông khác

nhau đã làm thành hai nền văn hoá với những đặc trưng khác nhau.

 Phương Tây: điều kiện khí hậu lạnh, khô, có vùng đồng cỏ nên thích hợp chăn nuôi,

tạo nên lối sống du cư, có tâm lý coi thường, có tham vọng chinh phục tự nhiên (văn

hóa gốc du mục).

 Phương Đông: khí hậu nóng, ẩm có nhiều đồng bằng thích hợp nghề trồng trọt tạo nên

lối sống định cư có tâm lý tôn trọng, hoà hợp với tự nhiên lối tư duy thiên về tổng hợp,

biện chứng (văn hóa gốc nông nghiệp).

3.7.2. Ảnh hưởng của yếu tố văn hóa qua các biểu tượng Cơ đốc giáo tại Việt

Nam

- Văn hóa của người Hoa qua các biểu tượng tại nhà thờ cha Tam:

 Tên nhà thờ ghi bằng chữ Hán (PLB12)

 Hai bên cây thánh giá có hai con cá chép.

 Trên nóc nhà thờ gắn hoa sen. (PLB12)

 Hai bức liễn ở hai bên cửa ra vào cũng viết bằng chữ Hán,

 Dùng màu đỏ để trang trí bốn cây cột nơi chính điện, trong khi màu này không

phổ biến trong nhà thờ Công giáo.

- Văn hóa Việt trong kiến trúc của nhà thờ Đa Minh (PLB12):

Nhà thờ thiết kế theo hình vuông (theo người Việt cổ quan niệm: trái đất hình vuông),

mái cong, thêm nữa điểm đặc biệt của nhà thờ này là hình ảnh con rồng được sử dụng rất

nhiều trong trang trí các đầu đao, trên tháp chuông, mỗi góc mái là một đầu đao hình đầu

rồng quy về hướng thánh giá.

Tháp chuông hình trụ vuông gồm ba tầng mái với kiểu dáng mái cong truyền thống,

được cách điệu và hiện đại hóa. Mỗi góc mái là một tàu đao hình đầu rồng quy hướng về

Thánh giá. Trên nóc của thánh đường Đa Minh, trên các tàu đao người ta chọn hình đầu

rồng. Tuy nhiên việc trang trí này khác với kiến trúc Phật giáo ở chỗ, trên các mái chùa có

hình ảnh “long chầu nguyệt” thì thánh đường Đa Minh các con rồng “chầu Thánh giá”.

Trong kiến trúc của nhà thờ Đa Minh phía trước thánh đường có đặt bốn bức tượng

con Nghê. Nghê là một trong hai linh vật đặc biệt của văn hóa Việt Nam (chim Hạc và con

Nghê). Trong các đền đài miếu mạo người ta hay đặt tượng con nghê đặt trên tam cấp với ý

nghĩa bảo vệ.

Điểm đặc biệt nữa là biểu tượng thánh giá kết hợp với hai con rồng hai bên, bao quanh

bởi hình vuông, bên ngoài hình vuông là bốn quẻ (như trong Kinh Dịch) (PL B10)

Nhìn chung cả Phật giáo và Cơ đốc giáo tại Việt Nam đều sử dụng hệ thống biểu

tượng giống như thế giới, Cơ đốc giáo đại diện cho nền văn hóa phương Tây, nên khi du

nhập vào Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa phương Đông. Phật giáo cũng vậy,

ban đầu giáo lý của Đạo Phật gần với Triết học, Đức Phật (Đức Phật lịch sử Thích Ca Mầu

Ni) là một vị giáo chủ không phải là một đấng thần linh, thượng đế mà là một con người thật

sự. Sau 6 năm tu khổ hạnh, 49 ngày đêm tư duy thiền định, Ngài trở thành vị chứng ngộ giữa

đời hiệu là Thích Ca Mầu Ni. Ngài đã dạy rằng: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là những

vị Phật sẽ thành”. Khi Đạo Phật du nhập vào Việt Nam thì được bản địa hóa, tiếp thu những

yếu tố văn hóa Việt để có thể hòa nhập và tồn tại như: tín ngưỡng dân gian đa thần giáo của

người Việt, thêm nữa xã hội người Việt bấy giờ con người sinh sống đựa trên nền tảng xã hội

nông nghiệp trồng lúa nước vì thế yếu tố thời tiết rất quan trọng vì thế mà người Việt tôn

sùng tứ Pháp: Pháp vân (thần mây), Pháp vũ (thần mưa), Pháp lôi (thần sấm), Pháp điện

(thần chớp).

Cũng giống như ngôn ngữ, các biểu tượng tôn giáo cũng chịu tác động bởi các yếu tố

văn hóa, và khi du nhập vào Việt Nam chúng cũng bị Việt hóa để gần gũi với văn hóa Việt.

KẾT LUẬN

Biểu tượng thường được sử dụng trong những trường hợp hết sức đặc biệt, vì thế mà

tôn giáo hay sử dụng biểu tượng (đối tượng cụ thể như chiếc mão triều thiên, chiếc ngai để

trống, con vật: chiên con, chim bồ câu, rồng, rắn…; hay một hình ảnh, màu sắc, từ ngữ) để

chỉ những gì liên quan đến những nhân vật chính trong tôn giáo như Thượng đế, ma quỉ,

thánh thần, đức tính tốt lành của những người đặt niềm tin vào tôn giáo…

Hệ thống biểu tượng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo vô cùng phong phú, vì thế để tìm

hiểu toàn bộ hệ thống biểu tượng trong hai tôn giáo trên trong khuôn khổ của một luận văn là

việc làm quá sức. Nhiều học giả chỉ nghiên cứu một biểu tượng nhỏ trong hệ thống biểu

tượng này (biểu tượng dấu chân Phật chẳng hạn, phải mất rất nhiều năm và còn phải thu thập

nhiều chứng cứ từ các nước có nền Phật giáo phát triển để tìm ra những nét tương đồng và dị

biệt). Ở đây công việc chính của chúng tôi chỉ là giới thiệu những biểu tượng tiêu biểu nhất

mà hai tôn giáo này sử dụng.

Để biểu thị nội dung, các biểu tượng tôn giáo sử dụng rất nhiều hình thức biểu đạt như

hình ảnh, màu sắc, chữ viết…Tuy nhiên các biểu tượng tôn giáo thường kết hợp hình ảnh và

màu sắc là chủ yếu còn việc kết hợp chữ viết sử dụng ít hơn (chữ viết chỉ tên Chúa, hay

những âm tiết thiêng liêng trong đạo Phật).

Qua quá trình nghiên cứu hệ thống biểu tượng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo chúng

tôi nhận thấy việc sáng tạo các biểu tượng hay như cách giải thích cùng một biểu tượng chịu

nhiều tác động của yếu tố văn hóa. Cơ đốc giáo đại diện cho văn hóa phương Tây còn Phật

giáo đại diện cho nền văn hóa phương Đông. Vì thế các phương thức biểu đạt của hai tôn

giáo này mang dấu ấn văn hóa rất sâu sắc. Về các con vật Cơ đốc giáo hay sử dụng hình ảnh

con chiên, còn phương Đông dùng hình ảnh con rồng. Hay như hoa lá làm biểu tượng người

ta cũng sử dụng hoa cỏ gần gũi với môi trường sống của mình. Cơ đốc giáo dùng hình ảnh

hoa huệ tây, cỏ ba lá, cây nho, còn Phật giáo dùng hình ảnh hoa sen quen thuộc.

Chúng ta nhận thấy tuy hai tôn giáo khác nhau, thuộc hai nền văn hóa khác nhau

nhưng trong không ít trường hợp vẫn sử dụng hình ảnh giống nhau để biểu thị cùng nội dung

(hình ảnh chiếc ngai để trống, sử dụng bộ 3), có những biểu tượng không chỉ xuất trong hai

tôn giáo trên mà các tôn giáo khác cũng sử dụng từ rất lâu như hình ảnh cây thánh giá, hay

như hình chữ thập ngoặc, hình vuông, hình tam giác, hình tròn. Nguyên nhân vì đây là những

biểu tượng cơ bản của thế giới. Nếu chúng ta nắm bắt được ý nghĩa của những biểu tượng cơ

bản này thì việc giải thích ý nghĩa của biểu tượng sẽ rất dễ dàng. Ví dụ như “hình vuông”

thường được sử dụng làm biểu tượng cho đất, cho những gì liên quan đến đất.

Mối quan hệ giữa hai mặt hình thức và nội dung của biểu tượng tôn giáo có lí do cho

nên chúng ta có thể dựa vào phương thức biểu đạt để giải thích nội dung của biểu tượng. Tuy

nhiên không phải lúc nào việc làm này cũng thành công mà đôi khi việc sử dụng phương

thức biểu đạt do qui ước nên khi giải thích ý nghĩa, chúng ta cũng cần có một số tri thức nền.

Ví dụ như trên các thánh giá thường có sự kết hợp các chữ cái như Α (Alpha) và Ω (Omega)

đây là chữ đầu và chữ cuối trong bộ chữ cái Hy Lạp dùng để biểu trưng cho tất cả. Vì Chúa

có phán: “ Ta là Alpha và omega” [8;1:8]. Như vậy A và Ω trở thành biểu tượng chỉ Chúa

Jesus: Ngài là khởi thủy đầu tiên cũng là sau cùng trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa.

Trong các biểu tượng tôn giáo thì cái được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt. Nguyên

nhân là khi đứng trước một biểu tượng, thì việc giải thích ý nghĩa phụ thuộc vào nhiều yếu tố

như: bản thân cá nhân tìm hiểu biểu tượng, môi trường văn hóa, môi trường lịch sử, quá trình

quan sát của mỗi cá nhân trong từng thời điểm nhất định. Vì thế khi nghiên cứu biểu tượng

chúng ta cần phải tập trung tất cả các cách hiểu khác nhau về bản thân của mỗi biểu tượng.

Chúng ta thấy rằng khi so sánh hệ thống biểu tượng sử dụng trong các nhà thờ và các

ngôi chùa, như trên đã nói Phật giáo xuất phát từ Phương Đông nên khi du nhập vào Việt

Nam rất gần gũi và rất dễ tiếp nhận. Còn Cơ đốc giáo khi vào Việt Nam dần dần chịu nhiều

chi phối của văn hóa phương Đông. Nguyên nhân là do chủ trương hội nhập văn hóa

“Inculturation” của Cơ đốc giáo. Vì thế chúng ta thấy ngày càng nhiều biểu tượng trong văn

hóa người Việt được sử dụng trong các nhà thờ Cơ đốc như: khi xây cung thánh người ta

dùng các biểu tượng như hình vuông, hình tròn để làm bệ thờ (quan niệm của người Việt

“Trời tròn đất vuông”), hay như sử dụng các hình ảnh như hoa sen, trống đồng, hình ảnh

chùa một cột, các quẻ trong Kinh Dịch để đưa vào trang trí trong các nhà thờ. Việc làm này

đúng hay sai vẫn còn nhiều bàn cãi, tuy nhiên điều này minh chứng một điều yếu tố văn hóa

ảnh hưởng rất lớn đế việc sử dụng các biểu tượng.

Biểu tuợng cũng là phương tiện dùng để giao tiếp, nó cũng là “một ngôn ngữ phổ

biến” [1;XXXIII]. Không cần thông qua trung gian ngôn ngữ nói hay viết mọi người đều có

thể hiểu nó. Ngày nay biểu tượng không chỉ được sử dụng trong tôn giáo mà còn được sử

dụng ở nhiều lĩnh vực khác.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt:

1. Chervalier Jean, Gheetbrant Alain, Phạm Vĩnh Cự dịch (1997), Từ điển biểu tượng

văn hoá thế giới: huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình,

màu sắc, con số, Nxb Đà Nẵng.

2. Thích Minh Cảnh (2005), Từ điển Phật học Huệ Quang (tập VIII), Nxb Tổng hợp

thành phố Hồ Chí Minh.

3. Nguyễn Đức Dân (2006), Ký hiệu học - Một số vấn đề cơ bản (đề tài khoa học cấp

ĐHQG-HCM), Trường Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.

4. Thích Phước Đạt (2008), Tín ngưỡng tứ pháp trong vai trò chấn hưng văn hóa Đại

Việt, Nguyệt san giác ngộ (152).

5. Thích Phước Đạt (2009), Phật giáo Việt Nam tiếp biến và hội nhập, Nguyệt san

giác ngộ (163).

6. Phạm Thị Minh Hải (2009), Logo thương mại dưới góc nhìn kí hiệu học, Luận văn

thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.

7. Nguyễn Thị Ngân Hoa (2006), Tìm hiểu những nhân tố tác động tới quá trình biến

đổi ý nghĩa của biểu tượng trong ngôn ngữ nghệ thuật, Ngôn ngữ (10).

8. Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước (2002), Nxb Tôn giáo.

9. Nguyễn Thiện Giáp (2005), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục.

10. Nguyễn Thiện Giáp (2009), Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb Giáo

dục.

11. Carl Gustav Jung, Vũ Đình Lưu dịch (2007), Thăm dò tiềm thức, Nxb Tri thức.

12. Hà Thúc Minh (2010), Phật giáo Việt Nam và chữ Vạn, Nguyệt san Giác ngộ

(170).

13. Đỗ Thị Hồng Nhung (2005), Ý nghĩa biểu trưng của các con số trong tiếng Việt (có

so sánh với tiếng Hán), Khoá luận tốt nghiệp, Khoa ngữ văn trường Đại học Sư

Phạm thành phố Hồ Chí Minh.

14. Nguyễn Thị Hồng Ngân, Biểu tượng nước trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp,

Hội thảo khoa học trẻ I, Khoa ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội.

15. Hoàng Phê (chủ biên) (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.

16. Ferdinard De Saussure, Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (bản tiếng Việt 1973),

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

17. Floyd H. Ross, Tynette Hills, Thích Tâm Quang dịch (2007), Những tôn giáo lớn

trong đời sống nhân loại, Nxb Tôn giáo.

18. Nguyên Thành (2010), Một đời người một câu thần chú, Nxb Văn hóa thông tin.

19. Lý Toàn Thắng (2005), Ngôn ngữ học tri nhận từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn

tiếng Việt, Nxb Khoa Học Xã Hội.

20. Thích Tâm Thiện (1999), Tìm hiểu tôn giáo của đạo Phật, Nxb thành phố Hồ Chí

Minh.

21. Hoàng Tuệ (1984), Tín hiệu và biểu trưng, Cuộc sống ở trong ngôn ngữ, Nxb Hà

Nội.

22. Về một số biểu tượng trong phim Việt Nam ở nước ngoài (2007),

thegioidienanh.vn.

23. Robert Lado, Hoàng Văn Vân dịch (2003), Ngôn ngữ học qua các nền văn hóa,

Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.

24. Howard Marshall, A. R. Millard, J. I. Packer, D. J. Wiseman, Viện Thần Học Tin

Lành Việt Nam dịch (2009), Thánh kinh tân từ điển, Nxb Phương Đông.

Tiếng Anh:

25. Umberto Eco (1976), A theory of semiotics, Indiana University.

26. David Fontana (1993), The serect language of symbols, Pavilion.

27. Carl G. Liungman (1994), Dictionary of symbols, W.W. Norton & Company.

28. Dean Moe (1985), Christian symbols handbook, Augsburg Publishing House.

29. Dagyab Rinpoche (1995), Buddhist symbols in Tibetan Culture, Wisdom

Publications.

30. Sign and symbols (2003), Pepin press.

31. Carroll E. Whittemore (1987), Symbols of the church, Abingdon.

Các trang web:

I. Cơ Đốc Giáo:

32. http://cuocsongviet.com.vn

33. http://www.seiyaku.com

34. http://www.home.att.net

35. http://www.en.wikipedia.org

36. http://www.religioustolerance.org

37. http://www.nazarite.net

38. http://www.library.nd.edu

39. http://www.symbols.com

40. http://www.fisheaters.com

41. http://www.commons.wikimedia.org

42. http://www.christiansymbols.net

43. http://www.symbols.net

44. http://www. eureka4you.com

45. http://www.prs.org

46. http://christianity.about.com

47. http://www.jesuswalk.com

48. http://www.princetonol.com

49. http://catholic-resources.org

50. http://www.gocek.org

51. http://www.godweb.org

52. http://www.prayerbook.com

53. http://www.christiansymbols.net

II. Phật Giáo:

54. http://www.falundafa.org

55. http://www.lieuquanhue.vn.com

56. http://www.religionfacts.com

57. http://www.nationsonline.org

58. http://www.buddhanet.net

59. http://www.buddhamind.info

60. http://www.thebigview.com

61. http://www.viewonbuddism.org

62. http://www.britannica.com

63. http://www.en.wikipedia.org

64. http://web.singnet.com.sg

65. http://gbgm-umc.org

66. http://www.khandro.net

67. http://www.apostles.com

68. http://www.stmargaretmary-moon.org

69. http://www.gbgm-umc.orgl

70. http://www.buddhist-tourism.comterms.html

71. http://www2.bremen.de

72. http://viewonbuddhism.org

…..

PHỤ LỤC A

I. ĐỊA CHỈ CÁC CHÙA VÀ NHÀ THỜ LỚN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1. Chùa:

 Việt Nam Quốc tự, địa chỉ: 16B, đường 3 tháng 2, Q10

 Chùa Lâm Tế, địa chỉ: 212A3 Nguyễn Trãi, P. Bến Thành, Q. 1, TP.HCM

 Chùa Vĩnh Nghiêm, địa chỉ: 339 Nam Kì Khởi Nghĩa, phường 7, Q3

 Chùa Huỳnh Kim, địa chỉ: 10/6 A, đường Quang Trung, P11, Q. Gò Vấp

 Chùa Thới Hòa, địa chỉ: 7516A đường Quang Trung phường 10 quận Gò Vấp

 Chùa Pháp Hoa, địa chỉ: 220A, Lê Văn Sĩ, p14, Q3

2. Các nhà thờ:

 Nhà thờ Đa Minh, địa chỉ: 190 Lê Văn Sĩ, P10, Quận Phú Nhuận

 Nhà thờ Đức Bà, địa chỉ: số 1, Công trường Công xã Pari, Q1

 Nhà thờ Huyện Sĩ, địa chỉ: số 1, Tôn Thất Tùng, Q1

 Nhà thờ Hạnh Thông Tây, địa chỉ: 53/7 Quang Trung, P11, Q. Gò Vấp

 Nhà thờ Cha Tam (Nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê), địa chỉ: 25 Học Lạc, phường 14,

Q5

II. THỐNG NHẤT TÊN GỌI

(*) Từ trước đến nay người ta hay dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ về đạo

Thiên Chúa như: Ki tô giáo, Thiên Chúa giáo, Công giáo, Cơ đốc giáo. Những cách gọi này

gây ra nhiều sự nhầm lẫn đáng tiếc. Thật ra Thiên Chúa giáo chỉ về những tôn giáo tôn thờ

Đức Chúa Trời như: Do Thái giáo, Hồi giáo và Cơ đốc giáo (hay Kitô giáo). Từ “Kitô” xuất

phát từ chữ “Khristos” trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là "Đấng được xức dầu", dịch từ chữ

Messiah trong tiếng Hebrew.

Trong Cơ đốc giáo gồm các nhánh như: Công giáo (“Công giáo”: được dùng dể dịch

chữ Hy Lạp“katholikos”, với ý nghĩa đó là đạo chung, đạo phổ quát, đạo công cộng đón

nhận mọi người, chứ không riêng cho dân tộc hay quốc gia nào), Chính thống giáo, Tin lành

và Anh giáo.

Trong luận văn này chúng tôi nghiên cứu về hệ thống biểu tượng của Cơ đốc giáo nói

chung. Vì thế chúng tôi dùng thuật ngữ “Cơ đốc giáo. Để tránh bàn cãi trong quá trình sử

dụng thuật ngữ, trong luận văn này chúng tôi chọn “Cơ đốc giáo” để chỉ những tín đồ tôn

thờ Thiên chúa.

PHỤ LỤC B HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG CƠ ĐỐC GIÁO

Chữ viết Latin và Hy Lạp

Tên của Chúa

Tên của Chúa

Alpha và Omega

Con vật

Chiên con

Chim bồ câu

Bồ nông

Hoa lá

Cỏ ba lá

Hoa iris

Mão gai

Nhánh ô liu

Sự vật

Thánh giá Số 1

Ngôi sao Số 2

Mỏ neo Số 3

Tam vị nhất thể Số 7…

Con số

Màu sắc

Màu đen

Màu xanh

Màu vàng

Màu trắng

1. CÁC BIỂU TƯỢNG CƠ BẢN SỬ DỤNG TRONG CƠ ĐỐC GIÁO

2. BIỂU TƯỢNG CON VẬT TRONG CƠ ĐỐC GIÁO (ANIMAL SYMBOL IN

Thánh Francis

Bò, Thánh Antipas

Kì lân, Chúa Jesus

Đại bàng, Thánh Wenceslas

Sò, Thánh James

Chim công, biểu tượng cho sự hồi sinh

Bồ nông, Chúa Jesus

Hươu, Thánh Eustace

CHRISTIAN)

Hươu, Thánh Aidan

Bướm, Chúa Jesus

Chim Phượng hoàng, biểu tượng cho sự hồi sinh và sự bất tử

Tổ ong, Thánh Chrysostrum hay Chrysostom

Gà trống, Thánh Phierơ

Rồng, biểu tượng Satan

Quái vật sư tử đầu chim, biểu tượng chỉ Chúa Jesus

Đàn hạc và sư tử, biểu tượng chỉ vua Đavit

Đức Chuá Jesus chế ngự bóng tối

Ngựa, Thánh Theodore Tyro

Cậu bé chăn chiên, Thánh Cuthbert

Thiên nga, biểu tượng cho sự dối trá

Thánh Luke

Người chăn chiên, Chúa Jesus

Vỏ sò, biểu tượng cho lễ rửa tội của Chúa

Con bồ nông, biểu tượng cho sự hi sinh của Chúa

Bò, biểu tượng cho Chúa Jesus

Chó với ngọn nến, Thánh Dominic

Ốc sên, vỏ sò, Thánh Lydia

Rồng, Thánh Margaret

Chim bồ câu, Chúa Jesus

Chim ưng, Thánh Basil

Chim bồ câu với nhánh oliver, biểu tượng hòa bình

BT Chi-Rho, giỏ, chim bồ câu ngậm nhành olive

Chim bồ câu biểu tượng cho hòa bình

Hình ảnh chim bồ câu trang trí trên cửa kính

Hai mỏ neo, chim bồ câu ngậm nhành oliver.

Chim và nhánh nho, biểu tượng cho máu của Đấng Christ

Chiên bị hiến tế

Chiên

Chiến thắng của Chiên con, và cuốn sách với 7 con dấu

Biểu tượng cho nỗi thống khổ của Chúa Jesu

Chiên con và 4 tác giả Phúc Âm

Thiên đường Jerusalem

Chiên con nằm trên quyển sách có bảy con dấu

Chiên con bằng chất liệu đồng thau trên bệ thờ, thánh đường ở Kentucky

Thánh Cuthbert

Chiên con, Thánh Agnes

Chiên đứng với ngọn cờ chiến thắng

12 con chiên, biểu tượng cho 12 tông đồ

Rắn, Thánh Hilda

Rắn và quả táo

Rắn và thế giới

Rắn và cỏ ba lá, Thánh Patrick

Biểu tượng hình con cá

Biểu tượng hình con cá

Biểu tượng hình con cá

Biểu tượng hình con cá

Jesus con của Đấng cứu thế

Cá và sách, biểu tượng của Simon

Biểu tượng hình con cá

Biểu tượng hình con cá

Cá, Chúa Jesus

Biểu tượng hình con cá

Biểu tượng hình con cá tìm thấy trên hầm mộ

Biểu tượng hình cá ban đầu được tạo nên từ các kí tự Hy Lạp ΙΧΘΥΣ

Sư tử có cánh, thánh Mark

Chim đại bàng, thánh John

ANDREW BARTHOLOMEW

JOHN

JAMES THE GREATER

JAMES THE LESS

JUDE

MATHEW

MATHIAS

PETER

PHILIP

THOMAS

SIMON

3. CÁC TÔNG ĐỒ

PETER

PHILIP

THOMAS

ANDREW

JUDE

4. TẬP HỢP CÁC BIỂU TƯỢNG KHÁC VỀ CÁC TÔNG ĐỒ

SIMON

BARTHOLOMEW

JAMES THE GREATER

JAMES THE LESS

JOHN, AN APOSTL E

MATHEW

MATHIAS

THÁNH AGNES THÁNH AIDAN THÁNH ALBAN

THÁNH AGATHA

THÁNH AMBROSE

THÁNH ANNE

THÁNH ATHANASIUS

THÁNH AUGUSTINE

THÁNH ANTHONY OF PADUA

THÁNH AUGUSTINE OP HIPPO

THÁNH BASIL

THÁNH BEDE

THÁNH BRIDE

THÁNH BERNARD

THÁNH BONIFACE

THÁNH CLARE

THÁNH CECILIA

THÁNH CHRISTOPHER

THÁNH CHARLES

THÁNH CHRYSOSTOM

THÁNH CLEMANT

THÁNH COLUMBA

THÁNH CUTHBERT

THÁNH CYRIS CỦA JERUSALEM

THÁNH CYRIL CỦA ALEXANDRIA

5. TẬP HỢP CÁC BIỂU TƯỢNG VỀ CÁC VỊ THÁNH ĐỒ

THÁNH CYPRIAN

THÁNH DOMINIC

THÁNH DUNSTAN

THÁNH ELIZABETH

THÁNH EDWARD THE MARTYR

THÁNH FRANCIS

THÁNH GABRIEL

THÁNH GEORGE

THÁNH GREGORY

THÁNH HELENA

THÁNH HILDA

THÁNH IGNATIUS

THÁNH JOHN THE BAPTIST

THÁNH JOSEPH

THÁNH HILARY CỦA POITIERS

THÁNH LOUIS

THÁNH LYDA

THÁNH MARTHA

THÁNH MARTIN

THÁNH KATHERINE CỦA SIENNA

THÁNH MARY

THÁNH MARY MADARLEN

THÁNH MARY OF BETHANY

THÁNH MICHEL

THÁNH MARY CỦA CLEOPHAS

THÁNH MONICA

THÁNH OLAF

THÁNH NATHANIEL

THÁNH NICHOLAS

THÁNH PATRICK

THÁNH VALENTINE

THÁNH VINCENT

THÁNH WENCESLAS

THÁNH WILFRID

TẤT CẢ CÁC THÁNH

THÁNH RAPHAEL

THÁNH SIMEON

THÁNH STEPHEN

THÁNH SYLVANUS

THÁNH THADDAEUS

THÁNH TIMOTHY

THÁNH MATTHEW

THÁNH MARK

THÁNH LUKE

THÁNH JOHN

TG bốn đầu nhọn

TG Crucifix

TG, bt cho sự thương khó của Chúa

TG, bt cho sự thương khó của Chúa

TG giáo hội Công giáo La Mã

TG đồi Sọ

TG và mão gai

TG Lambeau

TG có trang trí hoa lyly

TG với hình mũi đinh

TG với biểu tượng 3 ngôi

TG với biểu tượng 3 ngôi

TG với biểu tượng 3 ngôi

TG Thánh Nicholas

TG Thánh James (trang trí bằng hoa iris và có 1 đầu nhọn)

TG (Ankh: chìa khoá)

TG với hình quả táo

TG với hình quả táo

TG với hình quả táo

TG được dùng ở các nhà thờ Ai Cập

TG với hình

Thánh giá

Thánh giá, bt

Thánh giá, bt

Thánh giá của

6. CÁC LOẠI THÁNH GIÁ

quả táo

thánh Giăng

của Giáo hoàng

Giáo hoàng

của Đức giám mục

TG lõm

TG tộc trưởng

TG dùng trong chiến trận

TG có khứa răng cưa

TG giáo hội chính thống giáo

TG tràng hạt

TG rỗng

TG ô vuông

TG thuộc dòng tu Dominic

TG với vòng tròn nhỏ

TG Thánh Peter

TG trang trí dây thừng

TG dây thừng bao quanh

TG dây thừng bao quanh

TG, bt của thánh Andrew

TG hình mỏ neo

TG hình chữ Y

TG hình mỏ neo

TG hình mỏ neo

TG hình mỏ neo

TG hình mỏ neo

TG hình mỏ neo

TG trang trí dây nho

TG trang trí hoa hồng Sharon

TG do Thánh Columba tạo nên tại đảo Iona

TG xứ Xen tơ TG hình chữ T

TG T. Phanxit

TG INRI

TG INRI

TG Hoà bình

TG Alpha & Omega

TG + các chữ viết tắt “Jesus

Sự hợp nhất giữa hai bt

Jesus, Đấng cứu thế

Christ, đấng chiến thắng”

alpha và Omerga

Đức mẹ Mari

Hồng ân của Chúa

TG dùng trong quân đội

Jesus Christ, con của Chúa, là đấng cứu thế

Jesus Christ, con của Chúa là đấng cứu thế

TG Phos Zoe

Thánh giá UC

Chi (X) Rho (P): Christ

TG Thánh Benedict

Jesus Christ “Iota” (I) “Chi” (X)

Rho (P)

Chi Pro

IC: Jesus Christ đấng cứu thế

Monogram of Jesus

Thánh giá Chi Pro và BT ba ngôi

Monogram of Jesus

TG thánh Valentine

TG bt của lễ cưới

TG bt của lễ cưới

TG bt của lễ cưới

TG với bt cá và bánh mì

Vũ khí dùng tra tấn Chúa Jesus

TG được trang trí áo choàng đỏ

TG và ngọn giáo

Thang và thánh giá

TG và BT ba ngôi

TG và BT ba ngôi

TG và chiên con

TG Thánh Brendan

TG Thánh đường

TG Hy Lạp

TG rỗng

TG của dân tộc Giecman

TG Thánh Chad

Thánh giá Jerusalem

TG Cantonee Thánh giá nhỏ TG hình vuông

TG với bt ba ngôi

TG hình quả táo

TG Đồi Sọ

TG rửa tội

TG hình mỏ neo

TG Consecration

TG Consecration

TG Thánh John TG Thánh John

TG Thánh John

TG dùng trong quân đội

TG Thánh John (Maltese)

TG Thánh John

TG chìa khóa

TG màu đỏ

TG Thánh Patrick

TG Thánh John

7. BIỂU TƯỢNG THÁNH GIÁ DÙNG TRONG NGÀNH Y TẾ

Gậy Asclepius

Rắn

BT chữ thập đỏ

Thánh giá Hy Lạp

BIỂU TƯỢNG Y TẾ BIỂU TƯỢNG CƠ ĐỐC GIÁO

BT về việc làm từ thiện

Thánh giá Hy Lạp

Ngôi sao sự sống

BT Jesus Christ

Bệnh về đường hô hấp

Thánh giá Lorraine

Thánh giá trang trí huy hiệu

Thánh giá đảo Malta

Thánh John

Thánh John

Thánh Andrew

Thánh Andrew

Sự chữa bệnh thần diệu

Thánh Andrew

8. MÀU SẮC CỦA THÁNH GIÁ

Màu cam

Thánh Lazarus Thánh Lazarus

Thánh Lazarus

Màu vàng

Gyronny Cross

Màu xanh

Màu tía

Màu đen

Dòng Đa Minh

Dây thừng

Màu trắng

Compony Cross

Cầu vồng

Thánh giá trang trí với nhiều mảnh ghép

TG Old Glory

Thánh James

Li băng

TG, bt của Chúa Jesus

Hoàng đạo

Thuỵ Sĩ

Đỏ tía

TG Thánh David

TG Thánh Patrick

Hội Giam Lí

9. THÁNH GIÁ TRANG TRÍ TRÊN LÁ CỜ

Florida

Jersey (cờ của nước Anh)

Burgundy (Tây Ban Nha)

Potchefstroom (Nam Phi)

St. Patrick, Valdivia & Alabama (tiểu bang của Mỹ)

Thánh giá, biểu tượng của Thánh Andrew

Fortaleza (Brazin) Rio de Janeiro

Katwijk (Hà Lan)

Nova Scotia (Canada)

Kanjiza (Serbia)

Zagubica, Serbia

Jamaica

Monterey (Hoa Kì)

Peñamellera Baja (Tây Ban Nha)

Confederate (bang của Mỹ từ 1861-1865)

St Albans (Anh)

Lado (Sudan)

Amieva (Tây Ban Nha)

Wijchen (Hà Lan)

Lapovoc, Serbia

Burundi

Quốc Kì Anh

Pecinci, Serbia

Koceljeva, Serbia

Ikurrina (vùng tự trị miền bắc TBN)

Scotland

Tallahassee, USA

Amsterdam, Hà Lan

Ouder-Amstel, Hà Lan

Amstelveen, Hà Lan

Strijen, Hà Lan

Breda, Hà Lan

Breukelen, Hà Lan

Cromstrijen, Hà Lan

Bernisse, Hà Lan

Hendrik-Ido- Ambacht, Hà Lan

Hy Lạp

Nhà thờ xứ Wales

Dominican

TP Marseille (Pháp)

TP Groningen (Hà Lan)

Thánh giá Hy Lạp

Ražanj, Serbia

Piedmont (Ý)

Cờ nước Anh

Obrenovac, Serbia

Quốc đảo Tonga

London

Cộng hoà Georgia

Montreal (Canada)

Gornji Milanov ac, Serbia

Leskovac, Serbia

Alderney (Anh )

Đảo Sardinia (Ý)

Sitges (Tây Ban Nha)

Guernsey (thuộc Vương quốc Anh)

Đảo Herm (thuộcGuerns ey )

Čukarica, Serbia Starčevo, Serbia

Zhytomyr Obl ast, Ukraine

Cộng hoà Malta

Alderney (thuộc Guernsey)

St. David, Wales

Quebec (Canada)

Morcín (Tây Ban Nha)

St. Petroc, Devon (vương quốc Anh)

St. Piran, Cornwall (Vương quốc Anh)

Dominica

De Haan, Bỉ

Đảng Dân Chủ, Trung Quốc

Switzerland & Santa Cruz de Mompox

Serbian cross

Arandjelovac

Kragujevac

Surdulica

Vozdovac

Vracar

Zvezdara

Biểu tượng thánh giá của người Secbi được sử dụng trên cờ tôn giáo của liên bang Nam Tư

Iceland

Thuỵ Điển

Phần Lan

Đảo Åland (Phần Lan)

Shetland & Calais (Scotlen)

Đan Mạch

Volyn, Ukraine

Na Uy

Thánh giá Bắc Âu

Đảo Faroe (Đan Mạch)

Bayamón (thuộc Puerto Rico)

Vepsia

São Paulo, Brazil

Đảo Orkney (Scotlen)

Christian

Slovakia

Arilje, Serbia

Các loại thánh giá khác

Stari Grad, Serbia

Free French

Asturias (TBN)

Sobrescobio (TBN)

Ternopil Oblast, Ukraine

Sumy Oblast, Ukraine

Adjuntas (Puerto Rico)

Vrnjačka Banj a, Serbia

Rivne Oblast, Ukraine

Vinnytsia Oblast, Ukraine

Poltava Oblast, Ukraine

Barajevo, Serbia

Čajetina, Serbia Kukljica, Croatia

Covilhã, Bồ Đào Nha

Occitan, (Pháp)

Horni Mostenice, Czech Republic

Crossland

Indian flag of

New Mexico,

Vinnytsia

Kuna, Panama &

Banner

Jainism

Colombia

USA

city, Ukraine

Nhà thờ Đa Minh

Nhà thờ Đức Bà

Nhà thờ Hạnh Thông Tây

10. CÁC LOẠI THÁNH GIÁ Ở CÁC NHÀ THỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nhà thờ Huyện Sĩ

Nhà thờ Cha Tam

11. TAM VỊ NHẤT THỂ (THE TRINITY)

BT ba ngôi

BT ba ngôi

BT ba ngôi

BT ba ngôi trong Kinh Thánh

BT ba ngôi

BT ba ngôi

BT ba ngôi trên cửa sổ

Vòng tròng và hình tam giác, bt ba ngôi

Hoa iris, bt ba ngôi

BT ba ngôi

BT ba ngôi

BT ba ngôi của người Xento

3 con cá, BT ba ngôi

Sự kết hợp của ba ngôi

Hoa iris, bt ba ngôi

Sự kết hợp của ba ngôi

BT ba ngôi

BT ba ngôi

BT ba ngôi

BT ba ngôi

BT ba ngôi

BT ba ngôi hình ba lá

BT ba ngôi mô phỏng hình dáng cái khiên

BT ba ngôi với 3 vòng tròn lồng vào nhau

BIỂU TƯỢNG

TÊN

Nhà thờ Đa Minh

Thánh Luca

Thánh Marco

Thánh Gioan

Thap chuông

12. BIỂU TƯỢNG Ở CÁC NHÀ THỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Đầu rồng

Chim bồ câu

Thập giá chìa khóa

Chim bồ câu

Thánh giá

Thánh giá

Nhà thờ Đức Bà

BT Tam vi nhất thể

Alpha và Omega

Thánh giá

Thánh giá

Tên Chúa

Mắt Chúa

Nhà thờ Hạnh Thông Tây

Thánh giá

BT ba ngôi

BT Omega

Bàn thờ

Nhà thờ Huyện Sĩ

Ngôi sao 6 cánh

Chiên con

Chim bồ nông

Ngôi sao tám cánh

Nhà thờ Cha Tam

Hình tròn

Thánh giá

Thánh giá

Thánh giá

BT tam vị nhất thể

Hoa sen

PHỤ LỤC C HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG PHẬT GIÁO

Dấu chân Phật

1. DẤU CHÂN PHẬT

Dấu chân Phật làm bằng sơn mài với 108 biểu tượng tốt

Dấu chân Phật (Gandhara / Swat Area, Pakistan) 2nd - 3rd centuries A.D.,

Dấu chân Phật tại Sanchi

Dấu chân Phật bằng đá, 1st-2nd century

Dấu chân Phật bằng đá vôi trên tháp chứa hài cốt Amaravati, Ấn Độ, 1st cent. BC.

Dấu chân Phật và hoa, tại đền Mahbodhi, Ấn Độ

Dấu chân Phật tp cổ Saraburi, Bangkok, Thai Lan

Dấu chân Phật

Dấu chân Phật tại Thái Lan (với hoa và đồng xu)

Dấu chân Phật với những biểu tượng của Phật giáo, Srilanka

Dấu chân Phật xuất hiện trong nghệ thuật vào TK 16

Dấu chân Phật tại Settawya Paya, Myanmar

Tranh về dấu chân Phận, Thái Lan

Dấu chân Phật tại bảo tàng nghệ thuật

Tập hợp 108 tướng tốt của Phật

Dấu chân Phật tại đền Ananda Pahto

Dấu chân Phật tại Shwemoktaw Paya, Pathein.

Dấn chân Phật lớn ở đền Wat Bowon, Thái Lan Dấu chân Phật nằm nghiêng, Bangkok

Dấu chân Phật, Pakistan

Dấu chân Phật, Pakistan

Dấu chân Phật, Myanmar

Dấu chân Phật nằm nghiêng, tại Myanmar

Dấn chân và biểu tượng bánh xe luân hồi

Dấu chân Phật tại Tây Tạng

Dấu chân Phật, Nhật Bản

Dấu chân Phật tại đền Gokurakuji, Nhật Bản

Dấu chân Phật trên đá, tại đền Yakushi, Nhật Bản

Dấu chân Phật thời Edo, tại đền Kannonji, Nhật Bản

2. BIỂU TƯỢNG CON VẬT TRONG PHẬT GIÁO (THE ANIMAL SYMBOL IN

Rồng

Hổ

Sư tử trắng

Chim ưng khổng lồ

Rồng Tây Tạng

Hổ Tây Tạng

Hươu cái

Sư tử trắng là biểu tượng quốc gia của Tây Tạng

Chim Phượng hoàng

Bò Tây Tạng

Bò Tây Tạng

Bốn đạo hữu hòa thuận

BUDDHIST)

Bốn đạo hữu hòa thuận

Cá vàng

Cá vàng

Cá vàng

Ba con vật lai

fur-bearing fish (con của rái cá và cá)

Sư tử tám chân (con của chim ưng và sư tử)

makara crocodile (con của ốc sên và cá sấu )

Ngựa trắng

Biểu tượng tam bảo

Biểu tượng tam bảo, tìm thấy trên tháp chứa hài cốt Sanchi, 1st century BC

Biểu tượng tam bảo trên dấu chân Phật 1st century CE, Gandhara.

Sự kết hợp của các biểu tượng Phật giáo, trên cổng Torana tại bảo tháp Sanchi, 1st century BC.

Biểu tượng tam bảo

Biểu tượng tam bảo

Biểu tượng tam bảo

Dấu chân Phật và biểu tượng tam bảo, from 1st-2nd century Gandhara

3. THREE JEWELS SYMBOLS IN BUDDHIST (TAM BẢO)

Biểu tượng tam bảo Biểu tượng tam bảo

Biểu tượng tam bảo

Hai kiểu khác nhau về biểu tượng tam bảo

Biểu tượng tam bảo

Biểu tượng tam bảo

Biểu tượng tam bảo

Tư thế chấp tay trước ngực giữ biểu tượng tam bảo

Biểu tượng chữ Vạn

Biểu tượng chữ Vạn

Biểu tượng chữ Vạn trên ngôi chùa ở Đài Loan

Biểu tượng chữ Vạn trên ngưỡng của của ngôi nhà ở Maharashtra, Ấn Độ.

Ngai vàng và dấu chân Phật với biểu tượng mặt trời và chữ Vạn

Biểu tượng chữ Vạn theo chiều kim đồng hồ

Biểu tượng chữ Vạn ngược chiều kim đồng hồ

Biểu tượng chữ Vạn được vẽ trên đồ gốm vào thời kì đồ đá mới (2600- 2300 B.C), bảo tàng nghệ thuật Hồng Kông

Biểu tượng chữ Vạn

Biểu tượng chữ Vạn và

Biểu tượng chữ Vạn

Biểu tượng chữ

4. SWASTICA (THEO CHIỀU KIM ĐỒNG HỒ)

dấu chân Phật

Vạn(dùng trong đạo Hindu, Ấn Độ)

Biểu tượng chữ Vạn (đạo Hindu)

Biểu tượng chữ Vạn (đạo Jain)

Biểu tượng chữ Vạn trở nên phổ biến trong văn hóa

Biểu tượng chữ Vạn (đạo Hindu)

Biểu tượng chữ Vạn (nhà của người Ấn Độ)

Biểu tượng chữ Vạn trên đồ trang sức của người Ấn Độ

Biểu tượng chữ Vạn trong đám cưới của người Ấn Độ

Biểu tượng chữ vạn trên ngôi chùa ở Hàn Quốc

Biểu tượng chữ Vạn trên ngực của tượng Phật

Biểu tượng chữ Vạn phổ biến ở các ngôi chùa Hàn Quốc

Tượng Phật với biểu tượng chữ Vạn tại chùa Hanshan, Trung Quốc

Biểu tượng chữ Vạn trên bản đồ tàu điện ngầm ở Đài Bắc

Biểu tượng chữ Vạn ngược chiều kim đồng hồ

Biểu tượng chữ Vạn được trang hoàng ở đường viền mái nhà của ngôi chùa ở Hồng Kông

Biểu tượng chữ Vạn tại miếu thờ Phật ở Tokyo

5. SAUSWASTIKA (NGƯỢC CHIỀU KIM ĐỒNG HỒ)

Biểu tượng chữ Vạn và hoa sen trên cây đèn ở Hàn Quốc

Biểu tượng chữ Vạn trên cửa một ngôi chùa ở Hàn Quốc

Biểu tượng chữ Vạn trên ngực của Đức Phật (trên tờ tiền của người Hoa ở Bangkok, 2001)

Biểu tượng chữ Vạn trên ngực tượng Phật bằng đồng

Biểu tượng chữ Vạn tại Sensoji

Biểu tượng chữ Vạn trên đá gần Ilkley, phía Tây Yorkshire

Văn phòng hành chính Woljeongsa Hàn Quốc, có biểu tượng chữ Vạn hết sức ấn tượng

Dấu hiệu chữ Vạn trên ngực của tượng Phật

Cờ của Đảng quốc xã

Cờ của Đảng quốc xã

Cờ của Đảng quốc xã

Cờ của Đảng quốc xã

Cờ nghi thức đặc biệt của tổng thống Phần Lan

Cờ của quân đội Đức

Cờ của Đảng quốc xã

Chim đại bàng và biểu tượng chữ vạn trên lá cờ

Đền thờ Hindu treo cờ có biểu tượng chữ Vạn, Sarahan India

Chim đại bàng và biểu tượng chữ vạn trên lá cờ của đế chế Đức

Cờ nước Đức: chữ vạn,thánh giá,

Cờ đuôi nheo được gắn trên

Cờ nước Mỹ, năm 1932

Cờ của Đảng quốc xã

Cờ Hy Lạp với biểu tượng chữ vạn

6. BIỂU TƯỢNG CHỮ VẠN TRÊN LÁ CỜ

chim đại bàng

xe sĩ quan cao cấp Đức

Cờ của không quân Phần Lan

Cờ của đạo Tainism (Ấn Độ)

Cờ của Stamfordshire năm 2004

Cờ của thổ dân Panama và miền Tây Bắc Colombia

Cờ nước Mỹ với biểu tượng chữ vạn, năm 1915

7. BIỂU TƯỢNG CHỮ THẬP NGOẶC ĐẢNG QUỐC XÃ SỬ DỤNG (THE NAZI

Chim đại bàng và biểu tượng chữ vạn

Cờ của Đảng quốc xã

Chim đại bàng và biểu tượng chữ vạn (biểu tượng của quốc gia)

Tấm áp phích chính trị kêu gọi bầu cử, tháng 11/1932

Cờ của Đảng quôc xã

Biểu tượng của Đảng quốc xã

Biểu tượng của Đảng quốc xã

Biểu tượng của Đảng quốc xã

Biểu tượng của Đảng quốc xã

Các biểu tượng của Đức quốc xã: bao gồm Swastika (chữ vạn)

Biểu tượng của Đảng quốc xã

Tranh biếm họa, so sánh hai biểu tượng: ngôi sao Davit và biểu tượng của Đảng quốc xã, cho rằng chúng giống nhau (Ad-Dustour, November 13, 2000).

SWASTICA)

Đảng quốc xã

Biểu tượng của Đảng quốc xã

Con tem có hình ảnh biểu tượng của ĐQX treo trên giá treo cổ

Phụ nữ Tiệp Khắc treo cờ ĐQX, đề phòng quân đội Đức chiếm đóng, 30/9/1938

Thánh giá và biểu tượng chữ vạn (được sử dụng trong ĐQX)

Con tem có biểu tượng chim đại bàng và biểu tượng chữ vạn

Hitler với các thành viên ĐQX vào năm 1030

Máy bay nhào lộn trên không có biểu tượng của ĐQX, được trình diễn trong Olympic mùa hè, 1936, trưng bày tại bảo tàng hành không Ba Lan

Chùa Huỳnh Kim

Chùa Huỳnh Kim

Chùa Huỳnh Kim

Chùa Thới Hòa

Chùa Thới Hòa

Chùa Thới Hòa

Chùa Lâm Tế

Chùa Thới Hòa

Chùa Lâm Tế

Chùa Vĩnh Nghiêm

Chùa Vĩnh Nghiêm

Chùa Vĩnh Nghiêm

Việt Nam Quốc Tự

8. SWASIKA Ở CÁC CHÙA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

9. BIỂU TƯỢNG Ở CÁC CHÙA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TÊN

BIỂU TƯỢNG

Chùa Huỳnh Kim

Hoa sen

Long chầu nguyệt

Bánh xe pháp

Chùa Lâm Tế

Hình tròn

Hoa sen

Cá chép hóa rồng

Chùa Thới Hòa

Bánh xe pháp

Long chầu nguyệt

Hoa sen

Bánh xe pháp

Bình quí

Hoa sen

Bánh xe pháp

Bánh xe pháp

Chùa Vĩnh Nghiêm

Bánh xe pháp

Chữ vạn

Bảo tháp

Hoa sen

Việt Nam Quốc Tự

Hoa sen

Hoa sen

Chữ Vạn

Hoa sen

Bánh xe pháp

Cá chép hóa rồng Long chầu nguyệt

Long chầu nguyệt

Chùa Pháp Hoa

Hoa sen

Bình quí

Dây trường thọ

Tam bảo

10. CÁC NHÓM BIỂU TƯỢNG TIÊU BIỂU TRONG PHẬT GIÁO

TÁM BIỂU TƯỢNG VỀ VẬN MAY (THE EIGHT SYMBOLS OF GOOD FORTUNE)

Cá vàng

Vỏ ốc xà cừ

Hoa sen

Cái lọng

Bình quí

Bánh xe pháp luân

Dây trường thọ

Dấu hiệu chiến thắng

BỐN ĐẠO HỮU HÒA THUẬN (THE FOUR HARMONIOUS BROTHERS)

1. Voi 2. Khỉ 3. Thỏ 4. Gà gô

NĂM BIỂU TƯỢNG VỀ SỰ VUI MỪNG (THE FIVE QUALITIES OF ENJOYMENT)

TÂY TẠNG

1. Gương 2. Sáo 3. Chậu hương trầm 4. Trái cây 5. Dải lụa

SÁU BIỂU TƯỢNG VỀ CUỘC SỐNG TRƯỜNG THỌ

1. Núi đá 2. Nước 3. Cây 4. Ông lão 5. Đôi sếu 6. Linh dương

BA CON VẬT LAI (THE THREE SYMBOL OF VICTORY IN THE FIGHT AGAINST DISHARMONY)

1. Sư tử (Eight– legged lion) 2. Cá (Fur–bearing fish) 3. Cá sấu (Makara Crocodile)