BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Hương Thảo QUAN HỆ GIỮA CÁI BIỂU ĐẠT VÀ CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT TRONG CÁC BIỂU TƯỢNG TÔN GIÁO
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ Mã số: 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. NGUYỄN ĐỨC DÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
Thầy Nguyễn Đức Dân, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá
trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Các thầy cô trong khoa Ngữ Văn và các cán bộ Phòng KHCN – SĐH, thư viện trường
ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
Cảm ơn linh mục Giuse Nguyễn Thể Hiện (nhà thờ Kỳ Đồng), TS. Thích Phước Đạt
(Trưởng khoa Phật giáo Việt Nam tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại tp. HCM) đã nhiệt
tình giúp đỡ tôi về những vấn đề liên quan đến tôn giáo.
Cảm ơn vợ chồng em Nguyễn Thành Nhân đã giúp tôi tìm những tài liệu liên quan để
thực hiện đề tài này.
Cảm ơn bạn Võ Trần Bạch Lê đã cùng tôi đến các nhà thờ và các ngôi chùa lớn tại
tp.HCM chụp hình các biểu tượng.
Cảm ơn gia đình đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi yên tâm học tập và nghiên
cứu.
Thành phố Hồ Chí Minh, 2010
Nguyễn Thị Hương Thảo
DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
F. De Saussure nói rằng, mỗi kí hiệu gồm có hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt.
Quan hệ của chúng được coi là võ đoán. Tuy nhiên, những biểu tượng, một loại kí hiệu trong
tôn giáo, thì giữa cái biểu đạt viết là Sa (phương diện hình thức của kí hiệu) và cái được biểu
đạt viết là Se (phương diện nội dung của kí hiệu) lại có quan hệ rất mật thiết. Trong luận văn
này, chúng tôi thử tìm hiểu, phân tích mối quan hệ đó trong những biểu tượng tôn giáo.
Chúng ta đang sống trong một thế giới kí hiệu. Kí hiệu không chỉ là từ. Nó gồm hình
ảnh, hình vẽ, màu sắc, âm thanh, cử chỉ, hương vị, các nghi thức lễ hội, cúng bái, các kiểu
dệt áo quần…nghĩa là tất cả các phương tiện dùng để thông tin có thể mã hóa và chuyển
thành thông điệp mà người khác tiếp nhận được.
Ví dụ: Các kí hiệu âm nhạc, biển chỉ dẫn giao thông, các kí hiệu hóa học…
Bản thân ngôn ngữ cũng là một hệ thống kí hiệu (ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu
biểu hiện những ý niệm). Vì thế việc nghiên cứu kí hiệu đã được nhiều người quan tâm. Tuy
nhiên có nhiều lĩnh vực của bộ môn kí hiệu học chưa được quan tâm thỏa đáng. Thế nên
trong luân văn này, chúng tôi chọn một phần nhỏ trong lĩnh vực kí hiệu học để nghiên cứu,
cụ thể là: nghiên cứu mối quan hệ giữa hai mặt nội dung và hình thức của hệ thống biểu
tượng trong Phật giáo và Cơ đốc giáo.
Dọc theo lịch sử văn minh nhân loại, con người luôn tìm hiểu và lý giải thế giới xung
quanh. Trong quá trình ấy, có những vấn đề rất trừu tượng, khó hiểu. Từ đó, con người đã
sáng tạo việc dùng một hình ảnh này để thay thế cho một vật hay hiện tượng khác theo
hướng đơn giản, dễ hiểu và gần gũi hơn.
Ví dụ: Chim bồ câu là biểu tượng của hòa bình, cây thánh giá là biểu tượng của những
người theo Cơ đốc giáo* (PL AII), tiên rồng là biểu tượng của dân tộc Việt, trái tim, hoa
hồng là biểu tượng của tình yêu, lá cờ là biểu tượng của một quốc gia, hai thanh gươm bắt
chéo nhau là biểu tượng của chiến tranh, chiên con là biểu tượng chỉ Chúa Jesus, hoa sen là
biểu tượng chỉ Đức Phật…Biểu tượng được dùng trong những ngành nghệ thuật, những tổ
chức xã hội, tôn giáo, những phạm trù tinh thần, tâm linh…
Biểu tượng gắn liền với ngành Kí hiệu học (Semiotics), Sémiotique trong tiếng Pháp
có lúc được dùng với nghĩa kí hiệu học của những hệ thống kí hiệu phi ngôn ngữ, đặc biệt là
kí hiệu học của những biểu tượng.
Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các tôn giáo khác nhau, đôi lúc khi biểu
đạt một nội dung nào đó cũng có sự trùng hợp trong việc sử dụng các phương tiện hình thức,
rồi cùng nội dung nhưng hình thức khác và cũng có trường hợp hình thức giống nhau và nội
dung giống nhau. Vì thế trong luận văn này ngoài việc tìm hiểu mối liên hệ giữa mặt nội
dung và hình thức của các biểu tượng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo chúng tôi còn tiến hành
nghiên cứu và so sánh hệ thống các biểu tượng chính trong hai tôn giáo trên (có so sánh với
các biểu tượng của hai tôn giáo này tại Việt Nam).
Việc làm này, nhằm tìm hiểu lịch sử hình thành, ý nghĩa cũng như những nét tương
đồng và khác biệt của các biểu tượng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo. Đề tài này không chỉ
có ý nghĩa về mặt văn hóa mà còn giúp mọi người có cái nhìn chi tiết hơn về kí hiệu học (kí
hiệu học không phải chỉ bó hẹp trong lĩnh vực ‘Ngôn ngữ kí hiệu’).
2. Lịch sử vấn đề
Kí hiệu học có rất nhiều phân ngành nhỏ, và việc nghiên cứu biểu tượng đã được các
học giả rất quan tâm. Tuy nhiên nghiên cứu vấn đề này thật không đơn giản, để có thể hiểu
cách thức hình thành, lối xếp đặt, cũng như cách giải thích các biểu tượng không chỉ là
nhiệm vụ của ngành kí hiệu học, ngôn ngữ học mà còn có sự đóng góp của các ngành khoa
học khác như: khoa lịch sử các nền văn minh và các tôn giáo, khoa văn hóa nhân chủng học,
khoa phê bình nghệ thuật, khoa tâm lí học, y học… Các học giả không chỉ nghiên cứu về các
biểu tượng trong tôn giáo mà còn nghiên cứu về nhiều lĩnh vực khác của biểu tượng như:
biểu tượng của giấc mơ, biểu tượng được dùng trong các ngành nghệ thuật, những biểu
tượng y học, biểu tượng thiên văn học (chiêm tinh), biểu tượng chính trị…
Thật vậy, biểu tượng luôn có sức hấp dẫn riêng của nó (có lẽ do nguyên nhân hình
thành hết sức thú vị và cách giải thích các biểu tượng không bao giờ theo nguyên mẫu
chung), vì thế mà nhà phân tâm học người Thụy Sĩ Carl Gustav Jung đã mất một nửa thế kỉ
để nghiên cứu những biểu tượng tự nhiên và ông đi đến kết luận rằng: “Giấc mơ và biểu
tượng giấc mơ không phải là nhảm nhí, mà cũng không phải là không có ý nghĩa. Trái lại,
giấc mơ đem lại cho ta những sự hiểu biết quí giá, nếu ta chịu khó tìm hiểu những biểu tượng
của nó”. Tác phẩm “Thăm dò tiềm thức” của ông khái quát những nét đại cương về phâm
tâm học trong đó ông có dành trọn chương 8 để trình bày về vai trò của biểu tượng.
Ở nhiều nước trên thế giới có nhiều bộ sách bách khoa toàn thư có giá trị, và tri thức
nhân loại ngày càng phát triển vì vậy mà cần phải tập hợp vốn tri thức phong phú này, song
song với các bộ bách khoa toàn thư còn xuất hiện nhiều bộ từ điển tri thức chuyên ngành
giúp người đọc dễ dàng tra cứu và tìm hiểu. Cuốn “Từ điển các biểu tượng” (Dictionnaire
des symbols) của hai tác giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant đã tập hợp và giải thích ý
nghĩa các biểu tượng của thế giới thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau (sách được nhà xuất bản
Robert Laffont ấn hành lần đầu năm 1969). Đây là tác phẩm bao quát được nhiều khu vực
văn hóa trên thế giới liên quan đến các phương diện: dân tộc học, xã hội học, tâm lý học,
thần thoại học, tôn giáo học… Ngoài ra còn có thể kể ra nhiều cuốn từ điển khác cũng đề cập
đến các biểu tượng chung của thế giới như:
- Tom Chetwynd (1982), A dictionary of symbols, NXB Granada (England). Cuốn từ
điển này bao gồm 450 trang chủ yếu giải thích những biểu tượng thuộc về giấc mơ.
- Eduardo Cirlot (1969), Diccionario de simbolos (Dictionary of symbols) tái bản lần
thứ hai, tại nhà xuất bản Labor S.A, Barcelona. Cuốn từ điển dày 500 trang đề cập đến
mối quan hệ của biểu tượng đối với văn học. Quyển sách này đã được dịch sang tiếng
Anh.
- Goblet d’ Alviella (1894), The migration of symbols, London. Nội dung chính của
cuốn từ điển này đề cập đến các biểu tượng chính như: biểu tượng cây thập tự giá,
biểu tượng chữ Phạn, và biểu tượng về cái đinh ba… trong những nền văn hóa khác
nhau.
Ngoài ra sức thu hút của biểu tượng cũng được tiểu thuyết gia Dan Brown sáng tác
nhiều tác phẩm gây tiếng vang: Mật mã Da Vinci (The Da Vinci code), Pháo đài số (Digital
Fortress), Thiên thần và ác quỉ (Angels and demons), Biểu tượng đánh mất (The lost
symbol). Trong các tác phẩm này tác giả giúp người đọc đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên
khác khi cùng nhà biểu tượng học người Mỹ Robert Langdon giải mã những điều ẩn giấu
đằng sau các biểu tượng tôn giáo (chủ yếu là các biểu tượng Cơ đốc giáo).
Chúng ta đã điểm qua những công trình nghiên cứu về biểu tượng nhưng có thể nói hệ
thống các biểu tượng trong tôn giáo được các học giả hết sức quan tâm. Có thể kể ra đây các
tác phẩm tiêu biểu như:
1. David Fontana (1993), The serect language of symbols, Pavilion. Nội dung của cuốn
sách này đề cập đến vai trò cũng như cách sử dụng biểu tượng trong các lĩnh vực như:
nghệ thuật cũng như những ứng dụng của việc nghiên cứu biểu tượng để giải thích ý
nghĩa của giấc mơ. Vấn đề quan trong tiếp theo tác giả trình bày thế giới biểu tượng
theo từng chủ đề như: màu sắc, hình dáng, con vật, thế giới tự nhiên…
2. Carl G. Liungman (1994), Dictionary of symbols, W.W. Norton & Company. Cuốn từ
điển này tác giả trình bày các biểu tượng theo từng nhóm nhỏ (dựa vào quá trình phát
triển về hình dáng cấu trúc của các biểu tượng). Bao gồm những biểu tượng có từ thời
xa xưa và cả những biểu tượng được sử dụng trong thời hiện đại.
3. Dean Moe (1985), Christian symbols handbook, Augsburg Publishing House. Nội
dung của cuốn sách giải thích ý nghĩa của những biểu tượng chủ yếu được dụng trong
Cơ đốc giáo (kèm hình vẽ).
4. Dagyab Rinpoche (1995), Buddhist symbols in Tibetan Culture, Wisdom
Publications. Trong cuốn sách này tác giả trình bày tất cả những biểu tượng được sử
dụng trong Phật giáo Tây Tạng theo hệ thống (có hình vẽ minh họa kèm lời giải thích).
5. Sign and symbols (2003), Pepin. Cuốn sách tập trung tất cả những hình ảnh về biểu
tượng và các kí hiệu ở tất cả các lĩnh vực.
6. Carroll E. Whittemore (1987), Symbols of the church, Abingdon.
7. Dahlby, Frithiof (1963), De heliga tecknens hemlighet (The serect of the holy signs),
Stockholms.
…
Ở Việt Nam có nhiều bài viết đề cập đến vấn đề biểu tượng:
- Nguyễn Đức Dân trong công trình “Kí hiệu học – một số vấn đề cơ bản” có đề cập đến
vấn đề biểu tượng và tác giả cũng dành hẳn chương III trình bày về biểu tượng và
những kí hiệu phi ngôn ngữ.
- Hoàng Tuệ trong tác phẩm “Cuộc sống ở trong ngôn ngữ” có bài viết đề cập đến vấn
đề “Tín hiệu và biểu trưng”.
- Đỗ Thị Hồng Nhung trong khóa luận tốt nghiệp của mình nghiên cứu về vấn đề “Ý
nghĩa biểu trưng của các con số trong tiếng Việt”.
- Nguyễn Thị Hồng Ngân trong hội thảo khoa học trẻ lần I cũng có bài nghiên cứu về
“Biểu tượng nước trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”.
- Nguyễn Thị Ngân Hoa có bài viết đề cập đến vấn đề: “Tìm hiểu những nhân tố tác
động đến ý nghĩa của biểu tượng”. Bài viết được đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 10
năm 2006.
Ngoài ra trên các trang web tiếng Việt rải rác có nhiều bài viết giải thích về ý nghĩa
biểu tượng của Phật giáo và Cơ đốc giáo như: giải thích ý nghĩa của biểu tượng chữ Vạn, ý
nghĩa của biểu tượng thánh giá…
Có thể nói vấn đề nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam đã được các học giả quan tâm,
trong đó ý nghĩa biểu trưng của các con số và màu sắc được quan tâm khá nhiều. Tuy nhiên
việc nghiên cứu về các biểu tượng tôn giáo chỉ là những bài nghiên cứu nhỏ, mang tính chất
tôn giáo nhiều hơn. Vì thế người viết chọn đề tài này với mong muốn nghiên cứu sâu hơn về
hệ thống giao tiếp đặc biệt của con người được hình thành khá lâu (trước khi ra đời chữ viết).
Như chúng ta biết, các biểu tượng có lịch sử hình thành tương đối lâu dài và mang đặc
trưng văn hóa của từng dân tộc (thánh giá, ngôi sao...là các biểu tượng được tạo nên từ hàng
nghìn năm trước). Nếu như văn hóa phương Tây khá quen thuộc với các biểu tượng của Cơ
đốc giáo thì phương Đông rất gần gũi với các biểu tượng Phật giáo.
Thông qua luận văn này người viết mong muốn đóng góp phần nhỏ vào vấn đề khá lí
thú nhưng còn bỏ ngõ ở Việt Nam: “Quan hệ giữa hình thức và nội dung trong các biểu
tượng tôn giáo”.
3. Đối tượng nghiên cứu
Trong cuộc sống hằng ngày “dẫu ta có nhận biết hay không, đêm ngày trong hành
ngôn, trong các cử chỉ, hay trong các giấc mơ của mình, mỗi chúng ta đều sử dụng các biểu
tượng…Ngày nay tất cả các khoa học về con người cũng như các ngành nghệ thuật và tất cả
các ngành kỹ thuật bắt nguồn từ các khoa học ấy…Nói là chúng ta sống trong một thế giới
biểu tượng thì vẫn còn chưa đủ, phải nói một thế giới biểu tượng sống trong ta” [1;XIII-
XIV].
Qua nhận xét trên của hai tác giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant chúng ta thấy rõ
vai trò quan trọng của các biểu tượng. Biểu tượng không chỉ hiện diện trong lĩnh vực tôn
giáo mà còn xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác nữa. Nhiều biểu tượng cổ xưa đã được các
nhà khảo cổ phát hiện và nghiên cứu: các biểu tượng trong tín ngưỡng của Ai Cập, Hi Lạp,
Do Thái giáo, Cơ đốc giáo, Phật giáo…
Mỗi tôn giáo đều có hệ thống biểu tượng riêng, Cơ đốc giáo và Phật giáo cũng vậy: hệ
thống các biểu tượng mà hai tôn giáo này sử dụng rất phong phú (Cơ đốc giáo có gần một
trăm biểu tượng, các biểu tượng trong Phật giáo cũng phong phú không kém). Trong luận
văn này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu những biểu tượng tiêu biểu trong hai tôn giáo
trên.
4. Phạm vi nghiên cứu
Các biểu tượng trong tôn giáo rất đa dạng, đó là: những mẫu gốc (theo Carl.G.Jung
chúng giống như những nguyên mẫu của các tập hợp biểu tượng ăn sâu trong vô thức đến nỗi
chúng trở thành như một cấu trúc, ví dụ như thần núi Tản Viên (sơn thần trong tứ bất tử)),
những hình ảnh minh họa, các hành vi tôn giáo, những hiện tượng tự nhiên… Trong tôn giáo
người ta cũng xem các văn bản tôn giáo, các nghi lễ là các biểu tượng.
Thế nên trong phạm vi một luận văn khó có thể đi sâu nghiên cứu từng lĩnh vực cụ thể
của các biểu tượng trong tôn giáo. Vì thế phạm vi nghiên cứu của luận văn này chủ yếu là
“các biểu tượng đồ họa” (graphic) (có thể là chữ viết, hình vẽ được viết, vẽ hay chạm khắc).
Cơ đốc giáo hình thành nên ba nhánh chính (PL AII), ở đây chúng tôi không khảo sát
hệ thống biểu tượng của Tin lành (biểu tượng của đạo Tin lành không nhiều) mà chủ yếu
khảo sát hệ thống biểu tượng của Công giáo. Còn đối với Phật giáo chúng tôi chủ yếu nghiên
cứu các biểu tượng cơ bản của phái Đại thừa.
Ngoài việc tìm hiểu mối quan hệ giữa hai mặt: hình thức và nội dung của hệ thống
biểu tượng trong hai tôn giáo trên chúng tôi còn mong muốn tìm hiểu xem khi các biểu
tượng của hai tôn giáo này du nhập vào Việt Nam thì chúng chịu ảnh hưởng của các yếu tố
văn hóa Việt như thế nào?
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê: Để hoàn thành luận văn chúng tôi cần phải dựa vào nguồn
dữ liệu lớn, trước hết cần phải hệ thống lại tất cả các biểu tượng phục vụ cho việc
nghiên cứu. Ngoài ra chúng tôi còn phải tập hợp các tài liệu có liên quan để giải quyết
phần nội dung của luận văn liên quan đến các lĩnh vực như: ngôn ngữ học, tâm lí học,
lịch sử, văn hóa…
Về nguồn dữ liệu chúng tôi tập hợp trên các sách báo viết về các biểu tượng tôn giáo,
trên mạng internet. Bên cạnh đó chúng tôi trực tiếp đến các nhà thờ và các chùa lớn tại
thành phố Hồ Chí Minh để thu thập tư liệu.
- Phương pháp phân loại: Sau khi tập hợp được nguồn dữ liệu thô chúng tôi tiến hành
phân loại các biểu tượng dựa theo mặt hình thức (cái biểu đạt). Phương pháp này giúp
chúng ta có thể tìm thấy những nét tương đồng trong việc sử dụng các phương tiện
hình thức để biểu thị nội dung của biểu tượng giữa các tôn giáo khác nhau.
- Phương pháp so sánh – đối chiếu: Sau khi phân loại chúng tôi sẽ tiến hành so sánh
và đối chiếu giữa hệ thống biểu tượng của hai tôn giáo để tìm ra những nét tương đồng
và dị biệt về mặt hình thức cũng như nội dung mà các biểu tượng muốn chuyển tải. Từ
đó tìm hiểu xem các biểu tượng đó nói gì, đó cũng là cách để tìm hiểu về mỗi nền văn
hóa mà các biểu tượng đại diện (văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây).
6. Ý nghĩa khoa học
Như chúng ta biết kí hiệu học là “mảnh đất màu mỡ” cần được quan tâm thỏa đáng.
Việc nghiên cứu các biểu tượng tôn giáo chỉ là một lĩnh vực nhỏ của bộ môn kí hiệu học.
Trên thế giới việc tìm hiểu về các biểu tượng tôn giáo đã được các nhà nghiên cứu quan tâm
từ khá sớm, nhưng ở Việt Nam lĩnh vực này còn khá mới mẻ. Thông qua luận văn này người
viết mong muốn góp một phần nhỏ để mở ra khái niệm rộng về ngôn ngữ nói chung. Để biểu
đạt ý nghĩ, chúng ta không chỉ dùng kí hiệu ngôn ngữ mà còn dùng các kí hiệu phi ngôn ngữ.
Biểu tượng, nhất là biểu tượng tôn giáo cũng là một loại ngôn ngữ thể hiện ý niệm thông qua
hình ảnh.
Trong lĩnh vực kí hiệu học thì ngôn ngữ được xem là hệ thống kí hiệu đặc biệt nhất, vì
thế việc mở rộng đối tượng nghiên cứu thuộc lĩnh vực này là vấn đề hết sức lý thú. Thông
qua việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hai mặt: nội dung và hình thức của các biểu tượng
trong tôn giáo người viết mong muốn tìm hiểu những nét tương đồng và dị biệt giữa hai hệ
thống kí hiệu: biểu tượng và ngôn ngữ.
Thêm nữa việc nghiên cứu đề tài này giúp mọi người hiểu thêm về hai nền văn hóa lớn
của thế giới: văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây. Vì ý nghĩa của các biểu tượng
tôn giáo biểu thị giá trị tâm linh của mỗi người dân Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung
theo đạo.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung chính gồm
3 chương:
Chương 1: Lý luận chung, giải quyết những vấn đề liên quan đến lý thuyết và đưa
ra khái niệm chung về biểu tượng.
Chương 2: Chúng tôi tiến hành phân loại các biểu tượng trong Cơ đốc giáo và Phật
giáo thành hệ thống và trình bày những phương thức biểu đạt được sử dụng trong
hệ thống biểu tượng của hai tôn giáo trên.
Chương 3: Chúng tôi tiến hành so sánh hệ thống biểu tượng và giải mã một số biểu
tượng tiêu biểu. Tiếp theo chúng tôi tìm hiểu cách thức chuyển tải nội dung của các
biểu tượng cũng như mối quan hệ giữa hai mặt hình thức và nội dung của các biểu
tượng tôn giáo. Cuối cùng chúng tôi sẽ nghiên cứu những tác động của yếu tố văn
hóa Việt đối với các biểu tượng Phật giáo và Cơ đốc giáo khi du nhập vào Việt
Nam.
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Nguồn gốc hình thành biểu tượng
Thuật ngữ symbol bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp σύμβολον (sýmbolon) với gốc từ συν-
(syn-) nghĩa là "cùng nhau" và βολή (bolē) có nghĩa là “ném”, vậy nghĩa của thuật ngữ này
là: hợp lại, tập trung lại, tụ họp lại.
Ban đầu ý nghĩa của biểu tượng như là dấu hiệu để nhận diện. Nó là một vật được cắt
làm đôi. Ý nghĩa của thuật ngữ này có lẽ bắt nguồn từ tập tục của người Hi Lạp cổ đại. Ở
thời đó, để có thể nhận ra nhau (cha mẹ và con, chủ và khách, hai người bạn sắp chia tay lâu
ngày, người cho vay và người đi vay, hai kẻ hành hương…) thì người ta dùng một miếng đất
sét nung, chia làm hai, mỗi thành viên giữ một mảnh, sau này ráp hai mảnh lại họ sẽ nhận ra
nhau. Cách thức này còn được các hội kín sử dụng để kết nạp các thành viên. Người ta sẽ
giao cho mỗi thành viên các mảnh vỏ sò có chạm khắc đặc biệt. Mỗi khi hội họp, các thành
viên dùng các vỏ sò này làm dấu hiệu để nhận ra nhau.Tác giả cuốn “Từ điển Văn hóa thế
giới” nhận xét rằng: “Biểu tượng chia ra và kết hợp lại với nhau, nó chứa hai ý tưởng phân li
và tái hợp; nó gợi lên ý nghĩa về một cộng đồng đã bị chia tách và có thể tái hợp, hình thành.
Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ; ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong
những cái vừa là gãy vỡ vừa là nối kết những phần của nó đã bị vỡ ra” [1;XXIII].
Qua ý nghĩa ban đầu của biểu tượng có thể hiểu một cách khái quát rằng: “Biểu tượng
đại diện cho những điều ngoài bản thân nó”. Nếu lấy hoa hồng làm biểu tượng, thì nó không
chỉ là hoa hồng mà mang ý nghĩa phong phú hơn nhiều, nó là biểu tượng của tình yêu, của
cái đẹp.
Qúa trình hình thành của biểu tượng cũng rất khác nhau
- Có những biểu tượng được hình thành qua sự liên tưởng: như hoa sen 8 cách ứng với 8
hướng không gian khiến hoa sen là biểu tượng của sự hài hòa vũ trụ. Hoa Perce (hoa
bướm) là biểu tượng của tư duy con người. Ý nghĩa biểu trưng của loài hoa này dựa
vào số cánh hoa (hoa bướm có năm cánh) mà con số năm lại biểu trưng cho con người.
Vì nếu dang tay ra thì con người được xếp đặt thành năm phần theo hình chữ thập: hai
tay, nửa thân trên, phần giữa - chỗ của trái tim – đầu và hai chân.
- Có những biểu tượng được hình thành qua qui ước. Hãng xe hơi nổi tiếng thế giới của
Đức BMW, trong suốt quá trình phát triển của mình luôn trung thành với biểu tượng
hình cánh quạt trắng xanh. BMW là công ty chuyên sản xuất ôtô xe máy nhưng tiền
thân của công ty này là hai công ty sản xuất động cơ máy bay (Raap Motor Works và
BMW GmbH). Trên những chiếc máy bay được sản xuất vào thập kỉ 20 các phi công
quan sát được hình ảnh chuyển động của hai cánh quạt, khi chạy với tốc độ nhất định
thì hai cánh quạt này sẽ chia quĩ đạo của chúng thành bốn phần bằng nhau. Hai phần
mang màu trắng đậm, hai phần còn lại mang màu xanh. Vì thế logo của công ty là sự
kết hợp của hình khối đơn giản và những màu sắc quen thuộc (hai màu xanh và trắng
là màu cờ của xứ Bavaria, màu xanh còn mang ý nghĩa biểu trưng cho sức sống, cho hi
Biểu tượng của công ty BMW
vọng).
- Có những biểu tượng được hình thành từ kinh nghiệm thực tế. Noel hàng năm, người
dân khắp nơi trên thế giới chuẩn bị cho ngày lễ trọng thể này rất chu đáo và việc trang
hoàng cây thông vào dịp Noel là một việc làm không thể thiếu. Hình ảnh cây thông
Noel được xem là biểu tượng của niềm hi vọng và sức sống mới trong lễ hội đón chào
năm mới. Vậy ý nghĩa của biểu tượng này bắt đầu như thế nào? Tương truyền, thánh
Martin Luther (người cải chính đạo Tin Lành) khoảng năm 1500, ngài dạo bước qua
cánh rừng vào một đêm Noel, trời quang đãng và rất lạnh, đặc biệt có loài cây nhỏ
khiến ngài hết sức chú ý. Trên cành cây tuyết trắng phủ đầy lung linh dưới ánh trăng,
nhìn xuyên qua kẽ lá là ánh sáng của muôn vàn vì sao. Cảnh vật hôm đó đã làm Luther
thật sự rung động. Vì thế khi trở về ngài đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại
câu chuyện này với lũ trẻ. Để tái tạo ánh sáng của muôn vàn ánh sao ngài treo nến trên
cành cây và thắp sáng những ngọn nến bày tỏ tấm lòng tôn kính Chúa. Từ đó phong
Cây thông được trang hoàng vào đêm Noel
tục cây thông giáng sinh trở nên phổ biến vào dịp Noel (Theo wikipedia tiếng Việt).
- Trong văn học ở những tình huống cụ thể trên cơ sở những ẩn dụ hợp logic mà hình
thành những biểu tượng lâm thời của một tác phẩm. Hình ảnh “con hạc đầu đình ”
trong câu ca dao xưa là biểu tượng về thân phận người phụ nữ:
Em như con hạc đầu đình
Muốn bay không nhấc nổi mình mà bay
Hình ảnh “con hạc đầu đình” là biểu tượng lâm thời của tác phẩm chỉ người con gái.
Vì đặc điểm cơ bản của “con hạc đầu đình” là được làm bằng đá nên không thể bay được.
Trong xã hội phong kiến người phụ nữ cũng vậy, không thể tự quyết định số phận của
bản thân mình, họ bị bó buộc, giam hãm giống như cách nói của câu ca dao trên “muốn
bay không nhấc nổi mình mà bay”. Như vậy chỉ trong văn cảnh này thì người đọc mới
hiểu “con hạc đầu đình” chỉ về số phận của người phụ nữ.
1.2. Qúa trình phát triển và vai trò của biểu tượng
1.2.1. Qúa trình phát triển của biểu tượng
Với những thành tựu to lớn của ngành khảo cổ học, người ta đã chứng minh được sự
tồn tại của con người cách đây hàng triệu năm (Từ 4 đến 6 triệu năm) và sống thành cộng
đồng. Khi sống thành cộng đồng thì nhu cầu giao tiếp của con người là không thể thiếu. Từ
đó hình thành ngôn ngữ, một công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người. Chữ viết chỉ
mới xuất hiện vào đầu thời kỳ đồ đồng (cuối thiên niên kỷ thứ 4 trước công nguyên). Trước
khi có chữ viết thì con người đã dùng những phương tiện nào để truyền tin cho nhau?
Trong quá trình truyền nội dung thông tin, người truyền tin có thể quên hoặc lầm lẫn.
Vì thế người ta tìm cách tạo ra những kí hiệu giúp cho trí nhớ. Vì thế có nhiều kiểu kí hiệu
truyền tin khác nhau: dùng các thẻ gỗ được khắc vạch để ghi nhớ (mỗi vạch hoặc mỗi nhóm
vạch khắc theo một kiểu nhất định như chữ thập, dấu song song, dấu nhân, ô vuông…sẽ ứng
với một loại thông tin quan trọng cần nhớ), dùng các chuỗi vỏ sò, vỏ hến được gọi là các
wampum của những người Indiens ở Bắc Mỹ (cách xâu các vỏ sò này thành chuỗi theo
những kiểu nào đó, theo những màu sắc nào đó còn là một cách để thông tin), dùng dây để
thông tin, dùng cử chỉ, nét mặt, điệu bộ, dùng các bộ phận của con vật để thông báo (trong
giai đoạn con người sinh sống bằng săn bắn, hái lượm), chẳng hạn cặp sừng hươu thông báo
rằng nơi này nhiều hươu nai, cành cây bắt chéo nơi dấu chân cọp sẽ cho người khác biết nơi
đó có nhiều thú dữ. Tuy nhiên cách thông báo này có nguy cơ bị mất thông tin. Vì thế mà đã
nảy sinh cách dùng hình vẽ để thay cho vật thực. Thay vì để một cặp sừng hươu thật thì
người ta vẽ hoặc khắc lên vách đá một cặp sừng hươu, người ta vẽ những mũi tên để thông
báo nơi đây có nhiều chim muông. Người dân du mục sống trong hoang mạc ở Ai Cập có thể
vẽ một đường tròn có một vạch thẳng đứng ở trên biểu thị cho cái dilu (là cái túi bằng da đeo
ở cổ bằng một sợi dây thừng) để chỉ rằng anh ta đã đào đất ở đây và tìm thấy nước.
Từ đây hình thành các loại kí hiệu bằng các hình vẽ biểu trưng. Các hình vẽ trở thành
kí hiệu chứa đựng thông tin: dùng một sự vật cụ thể để biểu thị một khái niệm trừu tượng.
Ngay từ thời tiền sử các loại kí hiệu bằng hình vẽ này đã được sử dụng và tiếp tục phát
triển trong suốt thời kì đồ đá mới trong khoảng thời gian từ 10 000 đến 20 000 năm. Ngày
nay các nhà khảo cổ đã tìm thấy những hình vẽ trên các hang đá Lascaux (Pháp), Altamira
Hình vẽ trên hang Lascaux (Pháp), nghệ thuật thời đồ đá cũ
(Tây Ban Nha) các hình ảnh như: nai, voi ma mút, bò rừng, ngựa…
Ở thời kì này, các biểu tượng được vẽ chủ yếu theo hai chủ đề chính: các con vật, và
, hình những hình ảnh mang tính hình học (cơ bản gồm năm nhóm chính) như: đường cong
xoắn ốc , , dấu chấm • hay đường thẳng ─.
Giai đoạn tiếp theo, cấu trúc các hình vẽ phức tạp hơn, những kí hiệu sau được tìm
thấy trong các hang đá và được khắc chạm trên đá: , , , , . Tuy nhiên ở giai
đoạn này vẫn còn những kí hiệu chủ yếu mang tính chất miêu tả như hình bàn tay , bàn
chân , . Ở Bắc Âu các nhà khảo cổ đã phát hiện hình ảnh dấu chân duy nhất được khắc
trên đá có niên đại khoảng 1500 năm trước công nguyên (dấu chân trở thành biểu tượng của
đạo Phật, và thường được kết hợp với nhiều biểu tượng khác nữa ).
Các biểu tượng không ngừng phát triển, chúng ta có thể minh họa qua các biểu tượng
của người Ai Cập cổ đại có lịch sử khoảng 4000 năm trước công nguyên. Trong giai đoạn
này có thể kể ra các biểu tượng tiêu biểu như: , , .
Khoảng 3000 năm trước công nguyên là kỉ nguyên của nền văn hóa Ấn Độ với biểu
tượng tiêu biểu là (swastika) của đạo Hin du, đạo Jain, đạo Phật…
Đại biểu tiếp theo là Hi Lạp. Nền văn hóa của họ phát triển rực rỡ vào khoảng 1000
năm trước công nguyên. Biểu tượng tiêu biểu trong giai đoạn này là hình ngôi sao sáu cánh
. Trong nhiều thế kỉ tiếp theo thì những biểu tượng như: , bắt đầu
được sử dụng.
Sau công nguyên có khoảng 1500 nhóm cấu trúc chữ viết ghi ý khác nhau. Chúng chủ
yếu tồn tại ở các nền văn hóa phát triển như chữ viết tượng hình của người Ai Cập và hệ
thống chữ số của người La Mã, và hệ thống chữ viết của tượng hình của người Maya.
Trong thế kỉ 19, ý nghĩa của các biểu tượng không chỉ dựa vào cấu trúc hình thức mà
còn tùy thuộc vào các yếu tố khác nữa như: màu sắc, bối cảnh.
Sang thế kỉ 20 có sự kết hợp của các mẫu biểu tượng cũ tạo nên những biểu tượng mới
phức tạp hơn , , . Vào nửa đầu thế kỉ 20 xuất hiện nhiều biểu tượng mới, chủ yếu
được sử dụng trong truyện tranh vui và qua các hình ảnh quảng cáo.
Còn lịch sử hình thành của các biểu tượng tôn giáo có thể bắt đầu từ thời kì đồ đá cũ
(cách đây khoảng 95 000 đến 35 000 năm), trong thời kì này mới chỉ là các tín hiệu đầu tiên
với những hình thức tôn giáo sơ khai như Đạo vật tổ, ma thuật, tang lễ. Bước sang thời kì đồ
đá giữa con người chuyển từ săn bắn, hái lượm sang chăn nuôi và trồng trọt thì các hình thức
tôn giáo dân tộc ra đời với sự thiêng liêng hóa nguồn lợi của con người trong sản xuất và
cuộc sống: thần Lúa, thần Khoai, thần Sông…hoặc tôn thờ các biểu tượng của sự sinh sôi
(thờ giống cái, hình ảnh phụ nữ, phồn thực…) đây là các vị thần của thị tộc mẫu hệ. Khi đồ
sắt xuất hiện, các quốc gia dân tộc ra đời các vị thần ấy còn tồn tại chừng nào dân tộc tạo ra
các vị thần ấy vẫn tồn tại. Theo thời gian, do nội dung của tôn giáo mang tính phổ quát,
không gắn chặt với một quốc gia cụ thể, với các vị thần cụ thể, với các nghi thức cụ thể của
một cộng đồng người hay một dân tộc, quốc gia nhất định nên sự bành trướng của nó diễn ra
thuận lợi, dễ dàng thích nghi với các dân tộc khác. Sự bành trước của tôn giáo xảy ra trong
Những vị thần của người Ai Cập cổ Biểu tượng về những nguyên tố ban đầu
(không khí, đất, nước, lửa)
suốt thời kì văn minh công nghiệp và cho tới tận ngày nay.
Ngày nay có bao nhiêu tôn giáo thì có bấy nhiêu hệ thống biểu tượng phục vụ cho tôn
giáo đó. Phật giáo và Cơ đốc giáo cũng vậy, những biểu tượng của hai tôn giáo này ngày
càng phổ biến như: biểu tượng thánh giá, chim bồ câu, nhánh cây ô liu, chữ vạn, hoa sen…
Nguồn gốc của các biểu tượng trong Phật giáo và Cơ đốc giáo chủ yếu dựa vào các kinh
sách.
Trải qua các thời kì trên thế giới có các hình thức tôn giáo sau:
- Tôn giáo trong xã hội chưa có giai cấp: Tô tem giáo (thờ vật tổ), Ma thuật giáo, Bái
vật giáo và Vật linh giáo.
Hình ảnh totem
- Tôn giáo trong xã hội có giai cấp: Tôn giáo bản địa và tôn giáo thế giới, tôn giáo thế
giới mang tính đa quốc gia, ảnh hưởng đến nhiều khu vực rộng lớn trên thế giới như:
Phật giáo, Cơ đốc giáo, Hồi giáo…
Có thể nói các phương tiện giao tiếp của con người rất phong phú: ngôn ngữ nói, ngôn
ngữ viết, ngôn ngữ kí hiệu của người câm điếc, các nghi lễ tượng trưng, các hình ảnh, cử chỉ,
điệu bộ, biểu tượng …trong đó ngôn ngữ chỉ là hệ thống giao tiếp quan trọng nhất trong
những hệ thống này (chứ không phải là hệ thống giao tiếp duy nhất).
Như vậy biểu tượng hình thành từ khi chưa có chữ viết và không ngừng phát triển cho
đến ngày nay. Biểu tượng được xem là hệ thống tiền ký tự, vì chúng khá dễ nhớ, ghi lại ý và
truyền đạt thông tin nhanh nhất. Ngày nay do tiết kiệm lời, tránh phải in ấn dịch thuật phức
tạp, do thế giới ngày nay là ‘thế giới phẳng’, trong xu thế toàn cầu hóa đó người ta đã hình
thành những kí hiệu giao tiếp bằng hình vẽ ghi ý, tạo thành những đơn vị có nghĩa trong giao
tiếp. Có những hình vẽ (Sa) có thể nhận thức được. Lại có những hình vẽ (Sa) chỉ hoàn toàn
qui ước.
Cái biểu đạt (Sa) Cái được biểu đạt (Se) Kiểu nghĩa vị
Nội tại (có thể nhận Cấm hút thuốc thức được)
Hạnh phúc, buồn, Nội tại giận hờn
Ngoại tại (do qui Biểu tượng của Chúa ước)
1.2.2. Vai trò của biểu tượng
Ngày nay, những kí hiệu hình vẽ này mang tính phổ quát, dùng chung cho khắp thế
giới hay ít nhất cũng chung cho một khu vực. Biểu tượng được sử dụng trong nhiều lĩnh vực:
nghệ thuật, hình thức ẩn dụ, thần thoại, tôn giáo và các nghi lễ tôn giáo...
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình biểu tượng không hề giảm vai trò quan
trọng của nó, biểu tượng vẫn tiếp tục xuất hiện trong văn học, phim ảnh. Vì thế mà có nhiều
bài viết nghiên cứu hệ thống biểu tượng được sử dụng trong văn học và phim ảnh, như bài
viết “Biểu tựơng nước trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp” của tác giả Nguyễn Thị
Hồng Ngân hay bài viết “Một số biểu tượng trong phim Việt Nam ở nước ngoài” được đăng
trên trang web thegioidienanh.vn.
Không những thế trong lĩnh vực tâm lí học người ta nhận thấy tầm quan trọng của các
biểu tượng, đó là các biểu tượng của giấc mơ (Con người tri giác thế giới không chỉ bằng các
giác quan mà còn bằng tiềm thức nữa. Chúng ta phản ứng trước những hiện tượng có thực,
trước những khích động thị giác và thính giác và những cảm giác ấy được chuyển từ bên
ngoài vào tâm trí ta, những cảm giác trở thành những thực thể tinh thần) nó trở thành liệu
pháp để điều trị các căn bệnh liên quan đến tâm lí (khi chúng ta giải thích ý nghĩa các biểu
tượng trong giấc mơ, thì chúng ta có thể chữa được bệnh): bệnh suy nhược thần kinh, bệnh
mất trí nhớ…Cụ thể trong trường hợp một người Cơ đốc giáo mộ đạo, thì biểu tượng cây
thánh giá chỉ có thể suy diễn trong nội dung Cơ đốc giáo mà thôi (Nhưng chúng ta không thể
nói rằng bất cứ ở đâu hay lúc nào thì biểu tượng thập tự cũng có cùng một ý nghĩa).
“Có biết bao sự kiện vượt khỏi phạm vi hiểu biết của người ta, bởi vậy chúng ta luôn
luôn dùng những biểu tượng để hình dung những khái niệm mà chúng ta không thể định
nghĩa và hiểu biết đầy đủ. Cũng vì lẽ ấy mà tôn giáo dùng thứ ngôn ngữ đầy biểu tượng và
diễn đạt ý tưởng một cách có ý thức như thể chỉ là một phương diện của một sự kiện tâm lí
rất quan trọng: vì rằng người ta cần tạo ra biểu tượng một cách ngẫu nhiên và phi ý thức”
[11; 19].
Biểu tượng có vai trò nối kết con người ở các thế hệ khác nhau, bởi vì mỗi nhóm
người, mỗi thời đại có những biểu tượng của riêng mình: khi chúng ta rung động trước biểu
tượng nghĩa là chúng ta đã tham gia vào nhóm người và thời đại ấy. Như vậy biểu tượng còn
mang tính xã hội hóa.
Thêm nữa, biểu tượng còn là một ngôn ngữ phổ biến, bởi vì không cần thông qua
trung gian ngôn ngữ nói hay viết, mọi người đều có thể hiểu được nó. Biểu tượng là công cụ
hiệu quả đế các cá nhân, các nhóm người, các dân tộc có thể thấu hiểu lẫn nhau. Khi chúng
ta hiểu sâu sắc ý nghĩa các biểu tượng của một cá nhân hay một dân tộc tức là chúng ta đã
hiểu được tận cùng con người và dân tộc ấy.
Để nhấn mạnh vai trò quan trọng của biểu tượng trong đời sống chúng tôi sử dụng
nhận xét sau của các tác giả từ điển Văn hóa thế giới: “Thời đại không có biểu tượng là thời
đại chết; xã hội thiếu biểu tượng là xã hội chết. Một nền văn minh không còn có biểu tượng
thì sẽ chết; nó chỉ còn thuộc về lịch sử” [1;XXXIII].
1.3. Những cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “biểu tượng”
Từ trước đến nay có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “symbol”.“Sự lẫn lộn này
khiến biểu tượng bị yếu đi, thoái hóa thành một dạng tu từ, thành kinh viện hay tầm thường”
[1;XVII]. Chính điều này dẫn đến nhiều nhầm lẫn đáng tiếc, cụ thể: khi thuật ngữ logo chưa
ra đời thì từ symbol trong tiếng Anh và symbole trong tiếng Pháp cũng được dùng để chỉ
chung cho cả logo và biểu tượng. Wikipedia Việt Nam khi định nghĩa logo cũng đã dùng từ
biểu trưng để chỉ khái niệm này, nó khiến người đọc dễ cho rằng hai khái niệm symbol và
logo là một: “Logo tương đương trong tiếng Việt là biểu trưng. Biểu trưng có thể hiểu là
biểu tượng cho một công ty, một tổ chức, một hoạt động (như một cuộc thi…) hay một ban
nhóm. Biểu trưng mang tính đặc trưng cho đối tượng mà nó đại diện. Trong hoạt động
quảng bá, biểu trưng không phải là thương hiệu, tuy rằng nó cũng là ấn tượng bên ngoài đại
diện cho thương hiệu, giúp công chúng dễ nhận ra thương hiệu”.
Do có nhiều sự nhầm lẫn về hai thuật ngữ này nên Phạm Thị Minh Hải trong luận văn
thạc sĩ của mình đã phân biệt rõ Logo và Biểu tượng. Tác giả đã chỉ ra những nét tương đồng
và dị biệt của hai thuật ngữ trên:
Tương đồng Khác biệt
- Được tạo ra dựa trên tư Logo Biểu tượng
duy về thị giác, hình ảnh - Chỉ được hiện
- Ngoài việc biểu hiện cô đọng mang tính đại thực hóa thông
ra trên đồ họa còn diện. qua hình thức đồ
được hiện thực hóa - Về mặt cấu trúc: cả hai họa trên mặt
thông qua tri nhận của đều có thể thông qua ba phẳng.
con người hoặc qua hình thức của: hình ảnh, kí
những sự vật cụ thể tự, màu sắc…
trong đời sống. - Trong sử dụng: cả hai có
- Biểu tượng không nhất ngữ cảnh khá tương đồng, - Logo chỉ mang ý
thiết hiện thực hóa trên đôi khi đồng nhất. nghĩa khi nó tồn
văn bản. tại rõ ràng trên
văn bản.
- Phạm vi sử dụng của - Phạm vi sử dụng
biểu tượng rất rộng. của logo hẹp: chỉ
được quen gọi
trong lĩnh vực
kinh tế.
(Logo thương mại dưới góc nhìn kí hiệu học, trang 12, 13)
Người ta không chỉ sử dụng nhầm lẫn giữa biểu tượng với logo mà còn nhầm lẫn thuật
ngữ này với khái niệm kí hiệu. Nguyên nhân là do các tác giả dùng thuật ngữ symbol theo ý
nghĩa như là một kí hiệu. Vì thế Peirce và Saussure dùng thuật ngữ symbol theo hai cách
hiểu khác nhau. Đối với Peirce, symbol là một kí hiệu “mọi từ ngữ, mọi câu, mọi quyển sách
và tất cả những kí hiệu qui ước đều là các symbols”- “all words, sentences, books and other
conventional signs are symbols”. Còn Saussure dùng từ symbole với kí hiệu toán học, đại số
học, khoa học là những kí hiệu mang tính chất hoàn toàn võ đoán: mỗi kí hiệu toán học Sa có
một Se là một khái niệm, được xác lập hoàn toàn võ đoán.
Sở dĩ Saussure dùng từ symbole để chỉ những kí hiệu toán học vì ông muốn nhấn
mạnh tính chất võ đoán của kí hiệu ngôn ngữ. Vì người ta cho rằng ngôn ngữ như là hệ thống
kí hiệu mang tính biểu trưng, hay nói đúng hơn là chỉ cái biểu đạt. Trong khi đó Saussure
tránh xa quan điểm này vì biểu trưng có một đặc tính là không bao giờ hoàn toàn võ đoán, nó
không phải là trống rỗng mà có mối tương quan giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt.
Chính vì thế mà các nhà nghiên cứu như Sebeok, Lev Semionovich Vygotsky, và
Susanne Langer… đã nghiên cứu nhằm phân biệt rõ giữa kí hiệu và biểu tượng.
Thomas Albert Sebeok phân kí hiệu thành 6 loại: signal, symptom, icon, index,
symbol, name. Đối với symbol ông định nghĩa như sau: “A sign without either similarity or
contiguity, but only with a conventional link between its signifer and its denotata, and with
an intentional class for its designatum, is called a symbol” tạm dịch là: “Một kí hiệu mà
giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt không có sự gần nhau hay tương tự nhau nhưng mối
liên hệ giữa chúng mang tính qui ước và có sự chi phối của ngữ cảnh xã hội thì được gọi là
biểu tượng”.
Lev Semionovich Vygotsky trong “Though and Language” phân biệt 3 khái niệm:
tool, sign, symbol.
Còn Susanne Langer trong “Philosophy in a New Key” cũng đã tiến hành phân biệt 3
khái niệm: sign, signal, symbol. Signs trỏ một cái gì đó không phải là chủ đích của ai.
Chẳng hạn, ánh chớp là kí hiệu của sấm và dông tố còn symbols là những biểu tượng văn
hóa, gắn với lịch sử, phong tục, tín ngưỡng…. Chẳng hạn, tiên rồng là biểu tượng văn hóa
gắn với truyền thuyết về sự hình thành dân tộc Việt. Mỗi dân tộc có thể chọn những đối
tượng khác nhau làm biểu tượng cho những khái niệm khác nhau.
Ngoài việc lẫn lộn giữa biểu tượng với logo, với kí hiệu còn có sự nhầm lẫn giữa hệ
biểu tượng và tính biểu tượng. Hệ biểu tượng là tập hợp các quan hệ và những cách giải
thích gắn với một biểu tượng và tập hợp các biểu tượng đặc trưng cho một truyền thống. Đôi
khi người ta cũng gọi hệ biểu tượng là ngành khoa học hay lý thuyết về các biểu tượng, đây
là một ngành khoa học thực chứng cơ sở trên sự tồn tại các biểu tượng, lịch sử và các qui
luật thực tế của chúng. Còn tính biểu tượng chỉ nói đến một đặc tính chung, mà đặc tính đó là
cơ sở để gợi nên những biểu tượng. Cụ thể: khi chúng ta tập hợp các biểu tượng như: mặt
trời, bầu trời, mặt trăng, các sao… thành hệ biểu tượng về trời, hay khi chúng ta tập hợp các
biểu tượng như: núi lửa, nước, hang đá…thành hệ biểu tượng của đất. C.Lévy Strauss đã
nhận xét rằng: “Mọi nền văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ biểu tượng trong đó
xếp ở hàng đầu là ngữ ngôn, các qui tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học
và tôn giáo” [1;XXIII]. Còn khi ta nói đến tính biểu tượng của mặt trăng là nói về một đặc
tính chung của mặt trăng.
Với mục đích xác định rõ thuật ngữ biểu tượng, cần phân biệt rạch ròi hình ảnh tượng
trưng với tất cả những hình ảnh khác mà nó quá thường hay lẫn lộn, nên tác giả từ điển văn
hóa thế giới đã tiến hành phân biệt rõ khái niệm biểu tượng với biểu hiệu, vật hiệu, phúng
dụ, ẩn dụ, loại suy, triệu chứng, dụ ngôn, ngụ ngôn luân lý (xem chi tiết từ điển văn hóa thế
giới, trang bìa XVII).
Trong tiếng Anh và tiếng Pháp symbol và symbole không có định nghĩa chuẩn. Vì thế
mà có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm biểu tượng. Có lẽ do mức độ xuất hiện trong
ngữ cảnh của biểu tượng rất cao, việc dùng biểu tượng phổ biến trong nhiều lĩnh vực như:
văn học, khoa học, toán học, âm nhạc, tâm lí, tôn giáo… Bên cạnh đó biểu tượng ngoài việc
biểu hiện ra trên đồ họa còn có thể được hiện thực hóa thông qua sự tri nhận của con người
hoặc qua những sự vật cụ thể trong đời sống. Tùy từng lĩnh vực mà có những định nghĩa
khác nhau về biểu tượng:
- Trong lĩnh vực kí hiệu học
Theo Daniel Chandler trong “Semiotic for beginner” cho rằng: “Biểu tượng là kí hiệu
trong đó cái biểu đạt không tương đồng với cái được biểu đạt nhưng về cơ bản thì mối
quan hệ giữa chúng là tùy ý hay chỉ là mang tính qui ước” (http://www.aber.ac.uk).
- Trong lĩnh vực tâm lí học
Đại diện tiêu biểu là nhà phân tâm học người Thụy Sĩ Carl Gustav Jung cho rằng:
“Chúng ta gọi là biểu tượng, một danh từ, một tên gọi hay một hình ảnh đã quen thuộc
với ta hằng ngày, nhưng còn gợi lên những ý nghĩ khác thêm vào ý nghĩa ước định hiểu
nhiên của nó. Biểu tượng gợi lên cái gì mờ mịt, xa lạ hay tàng ẩn đối với ta” [11;17]. Ông
định nghĩa tiếp tục: “Một chữ hay một hình ảnh sẽ trở thành một biểu tượng khi nó gợi
đến cái gì khác ngoài ý nghĩa hiển nhiên và trực tiếp” [11;18].
“Theo quan điểm của kí hiệu học hiện đại thì ngôn ngữ là một dạng điển hình của các
- Trong lĩnh vực ngôn ngữ học
loại kí hiệu mang màu sắc biểu trưng. Đó chính là một hệ thống các phù hiệu (symbols),
bởi vì tương ứng với một cái biểu hiện cụ thể bao giờ cũng có một cái được biểu hiện đi
kèm. Xét theo nguồn gốc và bản chất của ngôn ngữ với tư cách là một hiện tượng của
hành vi con người thì ngôn ngữ mang tính cụ tượng(*)(cụ tượng là mối liên hệ trực tiếp
giữa mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện của tín hiệu không thông qua bất kì một phép
ẩn dụ hoặc hoán dụ, hoặc một quá trình nhân tạo nào), vì có thể tìm ra được các lí do
khác nhau cho mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện trong một hệ thống
ngôn ngữ. Tuy nhiên, nếu xét trong bình diện sử dụng thì người ta không quan tâm nhiều
lắm đến bản chất có lí do của mối quan hệ này mà chỉ quan tâm đến các giá trị (giá trị xã
hội) trong khi sử dụng của hệ thống kí hiệu này mà thôi. Trong diện đồng đại của vấn đề,
người ta có thể trừu tượng hoá tính cụ tượng của ngôn ngữ và thay vào đó là tính biểu
trưng hay tính phù hiệu của mỗi một yếu tố của hệ thống ngôn ngữ” [Phù hiệu ngôn ngữ,
ngonngu.net].
- Trong các ngành khoa học hiện đại
Biểu tượng là hệ thống các kí hiệu được dùng trong các lĩnh vực như: hóa học, toán học,
vật lí học, âm nhạc…Sở dĩ các biểu tượng được sử dụng nhiều vì tính đơn giản, thuận lợi
và ngắn gọn súc tích của các kí hiệu dùng để biểu thị các đối tượng. Chỉ cần một hay hai
kí tự làm kí hiệu cho một đối tượng. Ví dụ: Carbon: C; Zinc: Zn…
- Trong các ngành nghệ thuật, tôn giáo
Symbol là những biểu tượng văn hóa, gắn với lịch sử, phong tục tín ngưỡng…Việc sử
dụng các hình ảnh làm biểu tượng yêu cầu phải cô đọng giúp mọi người lĩnh hội nhanh.
Ví dụ để tìm hình ảnh dùng làm biểu tượng cho con tuần lộc người ta chỉ cần vẽ hai cái
sừng là đủ.
Trước khi đi đến định nghĩa vể biểu tượng chúng ta cần phân biệt giữa hai khái niệm:
kí hiệu và biểu tượng. Như vậy dựa vào đâu để có thể phân biệt giữa kí hiệu và biểu tượng?
Mối quan hệ mang tính có lí do, tính tất yếu giữa hai mặt của biểu tượng chính là điểm quan
trọng để phân biệt biểu tượng với dấu hiệu và kí hiệu. Các tác giả “Từ điển biểu tượng văn
hóa thế giới” đã chỉ ra rất đúng rằng: “Biểu tượng cơ bản khác với dấu hiệu, ở chỗ dấu hiệu
là một qui ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt vẫn xa lạ nhau, trong khi
biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực
năng động tổ chức” [1;XIX].
Như vậy thì biểu tượng phong phú hơn một dấu hiệu, kí hiệu đơn thuần: hiệu lực của
nó vượt ra ngoài ý nghĩa, nó phụ thuộc và cách giải thích và cách giải thích thì phụ thuộc vào
một thiên hướng nào đó.
Dù không có cách gì định nghĩa được một biểu tượng. Vì tự bản chất của nó phá vỡ
các khuôn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong cùng một ý niệm. Nó giống như mũi
tên bay mà không bay, đứng yên mà biến ảo, hiển nhiên mà lại không nắm bắt được. Biểu
tượng bộc lộ rồi lủi trốn; càng tự phơi bày sáng rõ nó càng tự giấu mình đi; nói như Georges
Gurvich thì các biểu tượng tiết lộ mà che giấu và che giấu mà tiết lộ [1;15].
Tuy nhiên chúng ta cũng cần xác định lại thế nào là biểu tượng (dù khái niệm biểu
tượng có nhiều cách hiểu khác nhau và không dễ gì định nghĩa nó). Vì thế trong luận văn này
chúng tôi tiếp thu cách hiểu của Nguyễn Đức Dân trong “Kí hiệu học một số vấn đề cơ
bản”, đề tài khoa học cấp đại học quốc gia – tp Hồ Chí Minh.
Biểu tượng có thể là một đối tượng, hình ành, từ ngữ, âm thanh, hay những dấu hiệu
đặc biệt dùng để biểu hiện những đối tượng khác thông qua sự liên tưởng, qua sự giống
nhau, hay do qui ước.
Biểu tượng được dùng trong những ngành nghệ thuật, những tổ chức xã hội, tôn giáo, những
phạm trù tinh thần, tâm linh…
1.4. Bản chất kí hiệu của biểu tượng
Theo Saussure thì “Kí hiệu học là ngành khoa học nghiên cứu đời sống của các tín
hiệu trong lòng sinh hoạt xã hội; nó sẽ là một bộ phận của tâm lí học xã hội và của tâm lí học
đại cương” [12;40]. Nửa sau thế kỉ XIX, Saussure và triết gia Charles Sanders Peirce là hai
người đặt nền móng cho khoa kí hiệu học.
Vậy kí hiệu là gi? Vì sao nói “Chúng ta đang sống trong một thế giới kí hiệu?”. Theo
định nghĩa của Nguyễn Đức Dân thì: Một đối tượng A được dùng để thay thế cho một đối
tượng B khác thì A là một kí hiệu của B [2;8].
Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta giao tiếp với nhau không chỉ bằng ngôn ngữ mà
bằng các kênh giao tiếp khác nữa. Ngôn ngữ chỉ là hệ thống giao tiếp quan trọng nhất mà
thôi (chứ không phải là duy nhất). Vì nếu một người khiếm thị hay khiếm thính thì làm sao
họ có thể giao tiếp với mọi người xung quanh? Trẻ nhỏ khi chưa biết nói thông qua tiếng
khóc, thông qua những hành động cử chỉ chúng ta cũng có thể đoán ra ý muốn của trẻ là gì.
Rồi thông qua các triệu chứng cụ thể các bác sĩ có thể đoán ra được bệnh. Thời xưa cha ông
ta cũng có thể dự báo được thời tiết thông qua những dấu hiệu cụ thể như:
(1)Chớp đông nhay nháy
Gà gáy thì mưa
(2)Mỡ gà thì gió
Mỡ chó thì mưa
Các kí hiệu trong cuộc sống quanh ta không ngừng phát triển, nhất là trong thời đại
“Kĩ thuật số” như ngày nay. Các kĩ sư xây dựng có thể dựa vào một bản thiết kế để hướng
dẫn công nhân xây nhà. Các chuyên viên máy tính có thể dùng những mã riêng để viết nên
những phần mềm vi tính. Khi ra đường chỉ cần nhìn những biển chỉ dẫn giao thông, người đi
đường có thể đi đúng qui định. Nói chung trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kí hiệu đều
thể hiện vai trò quan trọng của nó. Kí hiệu là tất cả các phương tiện dùng để thông tin có thể
mã hóa và chuyển thành thông điệp mà người khác tiếp nhận được.
Khi nghiên cứu về bản chất của kí hiệu hiện có hai quan điểm chính về kí hiệu và hình
thành nên hai trường phái: quan điểm thứ nhất theo truyền thống châu Âu có sự lưỡng phân
trong kí hiệu, quan điểm thứ hai theo trường phái Mỹ, các kí hiệu được nhìn nhận theo quan
hệ bộ ba.
Theo quan điểm thứ nhất, bắt nguồn từ Saussure thì một kí hiệu có hai phương diện:
Cái biểu đạt, viết tắt là Sa signifier (Signifiant) và cái được biểu đạt, viết tắt là Se signified
(Signifié). Mối quan hệ giữa Sa và Se trong một kí hiệu là hai mặt không thể tách rời nhau,
và mối quan hệ này mang tính võ đoán.
Khái niệm
Hình ảnh âm thanh
- Cái được biểu đạt(signfied) : mặt nội dung của kí hiệu
- Cái biểu đạt (signifier) : mặt hình thức của kí hiệu
Theo quan điểm thứ hai, bắt nguồn từ Ch. Peirce:
Sign vehicle (Kí hiệu): Dạng thức của kí hiệu
Sence (Nghĩa): Nghĩa do kí hiệu tạo nên
Tam giác kí hiệu học
Referent (Vật qui chiếu): Cái mà kí hiệu đại diện
Sở dĩ Saussure nói “ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt” vì nhiều nguyên lí
trong ngôn ngữ học không chỉ riêng cho ngôn ngữ mà có thể áp dụng cho mọi loại mã. Vì
thế khi nghiên cứu biểu tượng, cụ thể là các biểu tượng tôn giáo chúng ta cũng có thể áp
dụng các nguyên lí của ngôn ngữ học.
- Về mặt bản chất
Đối với ngôn ngữ mối quan hệ giữa hai mặt: nội dung và hình thức mang tính võ đoán
còn đối với biểu tượng mối quan hệ giữa hai mặt này mang tính có lí do.
- Ngôn ngữ có tính hình tuyến trong khi đó các kí hiệu tạo hình không tổ chức theo hình
tuyến mà theo không gian.
- Ngôn ngữ có tính phân chiết hai tầng, biểu tượng cũng có thể phân tích được thành
những đơn vị nhỏ có nghĩa: hình dạng, hình ảnh, màu sắc, chữ viết, con số.
- Đặc điểm cơ bản của những cái biểu đạt trong biểu tượng là: chúng có những đơn vị
tạo hình tối thiểu. Đó là các chấm, nét, vùng; Có những đơn vị lớn hơn được hình
thành từ các đơn vị tối thiểu bằng cách thay đổi độ lớn, hình dạng và hướng của
chúng.
- Mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt không phải là quan hệ 1-1, chỉ một
cái biểu đạt giúp ta nhận thức ra nhiều cái được biểu đạt…, hay cái được biểu đạt dồi
dào hơn cái biểu đạt. Như vậy biểu tượng luôn mang tính đa trị.
Cấp độ đầu tiên của biểu tượng là các mẫu gốc, khi đi vào đời sống thì mỗi mẫu gốc
có thể sản sinh ra nhiều biểu tượng khác nhau. Khi nghiên cứu biểu tượng trước hết chúng ta
cần lập một danh mục các biểu tượng sau đó liệt kê các kiểu giải thích tiêu biểu nhất về các
biểu tượng cụ thể.
Chương 2: PHÂN LOẠI CÁC BIỂU TƯỢNG
Chúng tôi dựa vào cái biểu đạt (mặt hình thức) như chữ viết, màu sắc, con số, hình ảnh
(sự vật, hoa lá, hình học, con vật, bộ phận cơ thể) để làm căn cứ phân loại hệ thống biểu
tượng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo. Trong hai tôn giáo trên số lượng biểu tượng vô cùng
phong phú, vì thế khi dựa vào mặt hình thức để phân loại trong phạm vi một bảng chúng tôi
không liệt kê ra hết, chỉ xin liệt kê những biểu tượng thật sự tiêu biểu mang tính chất đại
diện.
Chữ viết Latin và Hy Lạp
Tên của Chúa
Tên của Chúa
Alpha và Omega
Hình ảnh
Con vật
Chiên con
Chim bồ câu
Cá
Bồ nông
Hoa lá
Cỏ ba lá
Hoa iris
Mão gai
Nhánh ô liu
Sự vật
Thánh giá
Ngôi sao
Mỏ neo
Tam vị nhất thể
Bộ phận cơ thể
Mắt
Bàn tay
Màu sắc
Màu trắng
Màu tía
Màu đỏ
Hình vuông Số 1
Hình tam giác Số 2
Hình tròn Số 3
Màu xanh lá cây Hình chữ thập Số 7…
Hình học Con số
2.1. Hệ thống biểu tượng trong Cơ đốc giáo
Biểu tượng gồm có hai mặt: hình thức và nội dung. Nội dung chính mà các phương
tiện hình thức thể hiện nhiều trong Cơ đốc giáo và Phật giáo là hình ảnh Thiên Chúa ba ngôi
và Tam bảo. Vì thế chúng tôi sẽ liệt kê tất cả những cái biểu đạt dùng để chỉ cái được biểu
đạt là Tam bảo và Tam vị nhất thể. Ngoài ra chúng tôi cũng tìm hiểu thêm một số biểu tượng
mang tính đại diện cho Phật giáo và Cơ đốc giáo như chữ vạn và thánh giá.
2.1.1. Tam vị nhất thể (the Trinity)
Theo Kinh Thánh thì Thiên Chúa ba ngôi hiện hữu trong ba thân vị: Chúa cha (the
Father), Chúa con (the Son Jesus Christ: Chúa Jesus) và Chúa Thánh linh (the Holy Spirit:
Đấng yên ủi). Để biểu thị ý nghĩa về sự thống nhất của ba thân vị, trong tiếng Anh người ta
dùng thuật ngữ “three trinity: Chúa ba ngôi”, biểu tượng chỉ Chúa ba ngôi: ba vòng tròn
(bằng nhau) lồng vào nhau, hoa iris, cỏ ba lá, biểu tượng ba ngôi hình cái khiên, ba hào
quang, ngôi sao David, hình tam giác đều (hình tam giác với thánh giá, ba con cá làm thành
hình tam giác), hình tam giác với tên Chúa (Yahweh), hình tam giác với từ Sanctus (có nghĩa
là linh thiêng), hình có ba cạnh (PL B11)…
2.1.1.1. Chúa cha (God the father)
Chúa cha là một phần của bộ ba Chúa ba ngôi, là đấng sáng thế. Từ xa xưa để chỉ
Chúa Cha người ta thường sử dụng các biểu tượng cụ thể sau:
BIỂU TƯỢNG CHỈ ĐỨC CHÚA TRỜI (GOD FATHER)
Hình ảnh Lí giải
Tên của Chúa (Jehova, Yhwh, Adonai), thường được viết bên
trong hình tam giác hoặc hình tròn. Biểu tượng này thường được
dùng trang trí trong nhà thờ, trong nghệ thuật.
Mắt được vẽ bên trong hình tam giác, bên ngoài có 3 ánh hào
quang, biểu tượng này được tìm thấy tại các nhà thờ ở Anh và Hy
Lạp. Nguyên nhân người ta dựa vào thông điệp trong Kinh Thánh.
[8;Thithiên33:18]
Ban đầu người ta hay dùng hình ảnh bàn tay phải để chỉ Chúa Cha,
vì người ta dựa vào những lời được chép trong Kinh Thánh
[8;Xuất Ê Díp Tô ký15:6 và Thithiên48:10].
Bàn tay với 2 ngón mở rộng và 3 ngón gập lại: bt của sự ban
phước thông qua Chúa Jesus.
Các ngón tay khum lại giữ lấy những con người bên trong, bt
này mang ý nghĩa: Chúa sẽ gìn giữ những người công bình
trong cách tay yêu thương của Ngài.
Bàn tay duỗi thẳng, xuyên qua đám mây, xung quanh có ba
vòng hào quang, bt cho sự sáng tạo của Chúa.
Bàn tay với ba ngón mở rộng bt của 3 ngôi; 2 ngón gập lại bt
cho hai đặc tính của Chúa Jesus: người, thánh.
Bàn tay với ngón trỏ duỗi thẳng, ngón tay thứ hai cong vào
trong, ngón thứ 3 và ngón cái bắt chéo nhau tạo thành hình
thánh giá, ngón thứ 4 cong vào trong, cách sắp xếp này tạo
nên một số kí tự trong tiếng Hy Lạp “ IC XC” tên của Chúa
Jesus.
Hai hình tam giác đều, lồng vào nhau, trông giống hình cái khiên
của vua David. Người ta gọi đó là ngôi sao sáng tạo, vì Chúa sáng
tạo thế giới trong 6 ngày.
2.1.1.2. Chúa Jesus (God the son)
Jesus Christ, con của Đức Chúa Trời, là ngôi 2 (trong ba ngôi). Ngài giáng thế làm
người, hi sinh trên thập tự giá, cứu chuộc tội lỗi cho nhân loại. Sau 3 ngày, Ngài sống lại, trở
về trời và hứa sẽ tái lâm để phán xét nhân loại
Từ xưa đến nay người ta đã dùng các biểu tượng sau để chỉ Chúa Jesus.
CÁC BIỂU TƯỢNG CHỈ CHÚA JESUS (GOD THE SON)
Hình ảnh Lí giải
Mỏ neo, biểu tượng cho sự kiên định mà chúng ta có trong
Chúa Jesus; biểu tượng của lòng tin, hi vọng, tình yêu [8;Hê
bơ rơ 6:19].
Thánh giá trên quả cầu, biểu tượng này có ý nghĩa: Chúa
Jesus chế ngự tội lỗi thế gian.
Mão triều thiên: Chúa Jesus thực hiện 3 nhiệm vụ trên đất:
nhà tiên tri, thầy, vua. Mão triều thiên biểu tượng cho cuộc
sống bất diệt [8;Giacơ1:12].
Chúa Jesus bị đóng đinh trên cây thập tự (crucifix),
Biểu tượng cho sự thống khổ của Chúa Jesus.
Cá (ichthus): đây là biểu tượng phổ biến chỉ về Chúa Jesus.
Ichthus trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là cá. Tuy nhiên từ này
tập hợp những chữ cái đầu của cụm từ “Jesus Christ, con
của Đức Chúa Trời, là đấng cứu thế”.
Chiên con và quyển sách có 7 con dấu: Chúa Jesus là chiên
con – vật sinh tế - cất khỏi tôi lỗi cho nhân loại
[8;Giăng1:29].
Chúa Jesus là người chăn chiên hiền lành [8;Giăng10:11].
Chiên con với lá cờ chiến thắng: Chúa Jesus đắc thắng tội
lỗi.
Bồ nông: biểu tượng cho sự hi sinh của Chúa, Chúa chết để
nhân loại được sống.
Con bò (ox): Chúa trở thành vật sinh tế, đổ huyết để đền tội.
Sao năm cánh: Biểu tượng của Chúa Jesus, Chúa giáng sinh
làm người [8; Dân số kí 24:17].
Nho: Biểu tượng của Chúa Jesus [8;Giăng 15:5] Ngài phán
rằng “Ta là gốc nho và nhánh”.
Năm cây thánh giá: Biểu tượng chỉ năm vết thương của
Chúa Jesus trên cây thập tự.
2.1.1.3. Chúa Thánh linh (God the holy spirit)
BIỂU TƯỢNG CHỈ ĐỨC THÁNH LINH (THE HOLY SPIRIT)
Hình ảnh Lí giải
Chim bồ câu [8;Mathiơ 5:16], sau khi Chúa Jesus chịu lễ
Baptem, Đức Thánh linh trong hình ảnh của chim bồ câu
đậu trên vai Ngài.
Ngọn lửa: biểu tượng phổ biến để chỉ Đức Thánh Linh
[8;Công vụ các sứ đồ 2:3].
Chín bông trái Thánh linh: Ngôi sao chín cánh gồm chín
chữ cái đầu trong tiếng Latin: (charitas, gaudium, pax,
longanimitas, benignitas, bonitus, fides, mansuetudo and
continentia) lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn
nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ
[8;Galati5:22].
Bảy món quà của Chúa Thánh linh: bảy con chim bồ câu
xung quanh vòng tròn có hai chữ SS (Sanctus Spiritus:
trong tiếng Latin có nghĩa là Chúa Thánh Linh), biểu tượng
cho 7 món quà của Chúa Thánh Linh: quyền phép, giàu có,
khôn ngoan, năng lực, tôn quí, vinh hiển, ngợi khen
[8;Khải huyền 5:12].
Bảy ngọn nến: 7 món quà của Chúa Thánh Linh.
Bảy ngọn đèn: bảy ngọn đèn được thắp sáng trước ngai cúa
Chúa [8;Khải huyền 4: 5], biểu tượng của Đức Thánh Linh.
2.1.2. Thánh giá (hình chữ thập)
Thánh giá được sử dụng phổ biến trong nền văn hóa Phương Tây, và là biểu tượng
chính của Cơ đốc giáo khắp nơi trên thế giới. Thật ra không phải biểu tượng này được dùng
phổ biến sau khi Chúa Jesus bị đóng đinh trên cây thập tự mà nó là biểu tượng cổ xưa được
sử dụng ở Hy Lạp và nhiều nơi trên thế giới cách đây hàng nghìn năm trước công nguyên.
Người ta thường sử dụng thánh giá trong các trường hợp sau:
- Trang trí trên các trần của nhà thờ
- Trang trí trên cung thánh
- Tường của nhà thờ
- Trên các ngôi mộ của người theo Cơ đốc giáo
- Trang trí trên các áo choàng thời Trung cổ
- Trang trí trên lá cờ của các quốc gia
- Còn là vật trang sức phổ biến ngày nay
…
Dựa vào hình dáng, người ta chia thánh giá thành các loại chính sau:
Thánh giá hình Thánh giá Latin Thánh giá hình Thánh giá hình
chữ T (Latin cross) chữ Y chữ X
Về chiều dài của các thanh tạo nên thánh giá, có hai loại chính:
(Tau cross) (shape Y cross) (shape X cross)
Các thanh có độ dài không bằng nhau
Có các cạnh bằng nhau
Thánh giá Latinh Thánh giá Hy Lạp
Từ trước đến nay có hai loại thánh giá được sử dụng nhiều là thánh giá Hy Lạp và
thánh giá Latin. Tuy nhiên mỗi kiểu loại có nhiều sự biến đổi, người ta ước tính có đến bốn
trăm loại thánh giá khác nhau. Trong đó có năm mươi loại được sử dụng nhiều nhất trong
các nhà thờ và xứ đạo (PL B6;8).
- Thánh giá kết hợp với chữ viết
- Thánh giá trang trí trên lá cờ
- Thánh giá có trang hoàng cây cối và động vật
- Màu sắc của thánh giá
Ngoài các loại thánh giá chính vừa nêu, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy có nhiều biểu
tượng thánh giá có hình dạng không giống với các thánh giá thông thường. Đơn cử như:
- Thánh giá Maltese (xứ Mantơ): mỗi cạnh của thánh giá chia hai tượng trưng cho 8 đức
tính của hiệp sĩ: sự trung thành, lòng mộ đạo, sự rộng lượng, lòng dũng cảm, nhu mì,
xem nhẹ cái chết, giúp đỡ cho người nghèo và những ngừơi yếu đuối cần được che
chở, tôn trọng nhà thờ (PL B6;12).
- Thánh giá của giáo hoàng, thánh giá của giáo trưởng, thánh giá của nhà thờ chính
thống giáo ở Nga (kiểu loại của các thánh giá loại này khác biệt ở chỗ số lượng các
thanh ngang) (PL B6;9).
Trong nền văn hóa Hy Lạp người ta đã sử dụng nhiều loại thánh giá khác nhau, có
khoảng 20 đến 30 loại thánh giá, xuất hiện vào khoảng 1000 năm trước công nguyên. Đơn cử
như biểu tượng hình chữ thập ngoặc (ngày nay được sử dụng nhiều trong Phật giáo, nó là
biểu tượng cho sự tái sinh, sự thịnh vượng). Ban đầu chúng được trang trí trên các bình, lọ.
Và Cơ đốc giáo cũng sử dụng biểu tượng này, được gọi là Crux Gammata, tên của biểu
tượng bắt đầu từ chữ cái Gamma trong tiếng Hy Lạp, quay theo chiều kim đồng hồ (trong
tiếng Trung Quốc biểu tượng này là chữ Wan có nghĩa là 10 000).
Dựa vào việc biến đổi hình dạng của thánh giá, chúng ta thấy rằng nếu thay đổi số
thanh hay cách sắp xếp các thanh (thanh ngang, thanh chéo, xiên, tăng số lượng thanh ngang)
sẽ dẫn đến việc thay đổi ý nghĩa của biểu tượng thánh giá (đó là chìa khóa để chúng ta có thể
giải thích ý nghĩa của các loại thánh giá). Ví dụ thánh giá hình chữ Y (biểu tượng của thánh
Peter (Phiero) vì ông cảm thấy không xứng đáng khi bị đóng đinh trên cây thập tự cùng kiểu
với Chúa Jesus).
Có thể thấy thánh giá (hình chữ thập) là biểu tượng cổ xưa của con người, chúng được
tìm thấy trên các hang đá tại Tây Âu và người ta cho rằng nó xuất hiện từ thời tiền sử. Thánh
giá không chỉ sử dụng trong tôn giáo mà biểu tượng này còn đi vào các lĩnh vực khác nhau
của đời sống: hóa học, toán học (dấu cộng được sử dụng vào thế kỉ thứ 17, dấu nhân xuất
hiện vào 150 năm sau).
Chữ
viết
Om
Om Mani Padme Hum
Hình
ảnh
Con vật
Bốn đạo
Chim đại
Đôi cá
Hổ
Sư tử
hữu hòa
Rồng
bàng
vàng
thuận
2.2. Hệ thống biểu tượng trong Phật giáo
Hoa lá
Hoa sen
Sự vật
Vỏ ốc xà
Dây
Bánh xe
Banơ chiến
Cái lọng
Bình quí
cừ
pháp luân
thắng
trường thọ
Bộ phận cơ thể
Mắt Phật
Cử chỉ bàn tay
Màu sắc
Xanh
Trắng
Đen
Vàng
Xanh lá cây Màu đỏ
Hình tròn
Hình chữ thập ngoặc
1
2
3
4
6
8…
Hình học Con số
(Three refuges, Three Jewels, Three Treasures, Triple Gem) 2.2.1. Tam bảo
Tam bảo là ba ngôi báu quý nhất ở đời, là điều mà Phật tử quy y, gồm:
- Đức Phật (Buddha) là bậc giác ngộ hoàn toàn.
- Pháp (Dharma): những lời dạy của Phật được ghi lại trong Tam Tạng kinh điển.
- Tăng (Sangha): là một đoàn thể gồm bốn người trở lên sống đời sống không gia đình,
theo sáu nguyên tắc hòa hợp, thanh tịnh.
Biểu tượng tam bảo thường được trang trí cùng dấu chân Phật (Buddhapada: footprints of
the Buddha, nghĩa là “dấu chân Phật”), hoa sen, và bánh xe pháp luân (tượng trưng cho
lời dạy của Đức Phật). Hình dáng của của tam bảo có 3 nhánh trông giống như chữ “W”,
tương tự như Trishula (cái xiên tượng trưng cho thần Shiva) trong đạo Hindu. Trong
Phật giáo Tây Tạng biểu tượng tam bảo được thể hiện bằng hình ảnh ba viên ngọc bên
trong một vòng tròn lửa (PL C3).
2.2.1.1. Phật
Để chỉ Đức Phật người ta dùng các biểu tượng sau: Mắt Phật; Mudras: cử chỉ của
Phật; Dấu chân Phật; Cây bồ đề: nơi Đức Phật ngồi thiền định để tìm ra con đường cứu vớt
chúng sinh và Ngài đã giác ngộ chân lý; Ngai để trống; Sư tử; Bảo tháp: biểu tượng cho sự
giác ngộ của Phật; hoa sen.
CÁC BIỂU TƯỢNG VỀ ĐỨC PHẬT
Hình ảnh Lí giải
Mắt Phật: (Buddha Eyes) Tại Tây Tạng, trên các bảo
tháp người ta thường vẽ hình ảnh mắt Phật rất lớn, với
ý nghĩa Phật có thể nhìn thấu nhân gian. Mũi Phật
được vẽ giống như dấu hỏi, trong tiếng Tây Tạng đó
là kí tự chỉ con số 1, với ý nghĩa chỉ duy nhất, chỉ có
một cách để khai sáng tâm hồn, đó là thông qua
những lời dạy, giáo lý của Đức Phật.
Dấu chân Phật: biểu tượng cho sự hiện hữu của Đức
Phật ở nhân gian.
Mudras (cử chỉ)
Bhumisparsa: biểu tượng của sự khai sáng và sự kiên
định. Trong quá trình thiền định Đức Phật luôn bị quỉ
Mara quấy nhiễu nhưng vẫn không làm cho Đức Phật
có thể xao nhãng.
Dhyana Mudra: biểu tượng của sự suy ngẫm, thiền
định. Bàn tay trái đặt trên bàn tay phải. Đức Phật đang
tìm ra nguyên nhân của sự khổ đau và tìm con đường
giải thoát nỗi thống khổ.
Abhaya Mudra: ban phước và bảo vệ.
Sự cầu nguyện ("Gesture of Praying"): đây là cử chỉ
phổ biến của Phật Avalokiteshvara.
Vitarka Mudra: dạy bảo, chỉ dẫn, lập luận. Đây là cử
chỉ phổ biến của Đức Phật.
Uttarabodhi Mudra: sự khai sáng của Đấng tối cao.
Ngai để trống: Thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ vương quyền
để tìm kiếm những điều quan trọng hơn trong đời
sống.
Sư tử: là biểu tượng quan trọng trong đạo Phật. Vì sư
tử là chúa tể sơn lâm khiến ta liên tưởng đến vương
quyền, sức mạnh, năng lực.
Bảo tháp: biểu tượng cho sự giác ngộ của Đức Phật.
Nó đại diện cho năm nguyên tố: chân đế hình vuông
tượng trưng cho nguyên tố đất; vòm tròn tượng trưng
cho nguyên tố nước; phần tiếp theo hình nón tượng
trưng cho nguyên tố lửa; hình bán nguyệt tượng trưng
cho nguyên tố không khí; phần trên cùng tượng trưng
cho không gian.
Hoa sen biểu trưng cho chân lý. Chân lý hiện thực
trong đời đầy phiền não và hệ lụy. Trong tôn giáo,
hoa sen biểu trưng cho quá trình tu học của người
Phật tử, từ bậc phàm phu nhờ công tu tập cũng trờ
thành Phật. Vì thế trong Kinh Phật có nói “Phật là hoa
sen, hoa sen là Phật”.
2.2.1.2. Pháp (Dharmachakra)
Bánh xe, hay bánh xe pháp luân tượng trưng cho lời dạy của Đức Phật (Pháp) được
thường chuyển còn gọi là pháp luân thường chuyển. Cần phân biệt bánh xe pháp luân và
bánh xe luân hồi. Ngoài bánh xe pháp còn có 8 biểu tượng về sự chiến thắng có liên quan
đến những lời Phật dạy (THE EIGHT AUSPICIOUS SYMBOLS) trong Phật giáo Tây Tạng:
- Cái dù
- Đôi cá vàng
- Bình đựng vật quý
- Hoa sen
- Vỏ sò
- Dây trường thọ
- Banơ chiến thắng
- Bánh xe pháp luân
Bánh xe Pháp luân: biểu tượng “bánh xe pháp” là một hình tròn như bánh xe có nhiều
căm, đó chính là biểu tượng đã được vua A Dục khắc lên trụ đá, và ngày nay nó được in trên
lá cờ của nước Ấn Độ. Bánh xe Pháp được vẽ hình tròn bên trong có 6, 8 hoặc 12 gọng. Con
số 12 tượng trưng cho “Mười hai nhân duyên”, con số 8 tượng trưng cho “Bát chánh đạo”,
con số 6 tượng trưng cho "Lục đạo". Trong đó bánh xe Pháp có 8 gọng được vẽ nhiều hơn
cả. Bánh xe pháp luân có các ý nghĩa như sau:
Bánh xe Pháp chuyển động không ngừng, giáo lý của Đức Phật phát triển không
ngừng, hợp thời, hợp cơ, hợp lý, nhưng công năng vẫn là di chuyển, đưa chúng sanh
từ trong bóng tối đến ánh sáng, từ khổ đến vui, từ căn trí thấp để có căn trí cao, từ vô
minh đến Giác Ngộ, từ địa ngục tới Niết-Bàn.
Bánh xe Pháp lan tới đâu thì cỏ gai, sỏi đá bị nghiền nát tới đó, mê lầm phiền não
cũng bị dẹp tan.
SỰ KHÁC NHAU GIỮA BÁNH XE LUÂN HỒI VÀ BÁNH XE PHÁP LUÂN
Bánh xe Pháp chỉ tiến thẳng lên phía trước, không bao giờ thoái lui.
Đối Bánh xe luân hồi Bánh xe pháp luân tượng
Hình
ảnh
Bánh xe luân hồi là mô hình Bánh xe pháp có hình tròn như
phức tạp mô tả mối quan hệ biện chiếc bánh xe có nhiều căm: 6, 8
chứng của 12 nhân duyên. Bao hoặc 12. Bánh xe Pháp đưa
gồm một vòng tròn theo hai chúng sanh ra khỏi cảnh luân hồi
chiều: ngược và xuôi. Nói về quá thoát cảnh trầm luân. Chúng Lí giải
trình luân hồi: con người phải sanh nương nhờ Pháp Phật mà
chịu trách nhiệm về hành vi của tiến về giác ngộ và giải thoát.
mình và phải gánh lấy kết quả do
cái nghiệp mà mình đã tạo.
2.2.1.3. Tăng
Trong Phật giáo, Tam bảo bao gồm: Phật (Đức Phật), Pháp (lời dạy của Đức Phật) và
Tăng (tăng đoàn: đoàn thể tăng già từ bốn người trở lên sống theo nguyên tắc hòa hợp, thanh
tịnh) cũng giống như các thánh đồ trong Cơ đốc giáo. Như vậy chúng ta thấy bộ ba trong Cơ
đốc giáo và Phật giáo có điểm khác biệt. Thế nên trong Cơ đốc giáo sử dụng nhiều biểu
tượng chỉ 12 tông đồ (tông đồ có vị trí riêng không đứng cùng bộ 3), còn trong Phật giáo các
tông đồ nằm trong bộ 3 (Tăng).
2.2.2. Chữ vạn (hình chữ thập ngoặc)
Chữ Vạn trong tiếng Anh (swastika) có nguồn gốc từ tiếng Sancrit, hình chữ thập với
bốn cạnh bằng nhau có ý nghĩa: phúc lộc, an khang, thành công, thịnh vượng. Biểu tượng
này được dùng rộng rãi trong Hindu giáo, Phật giáo và đạo Jain (trong Hin đu giáo thì biểu
tượng chữ Vạn có bốn chấm ở bốn góc ).
Từ swastika có nguồn gốc từ tiếng Sancrit được sử dụng trong tiếng Anh từ năm 1871
thay cho từ Gammadition trong tiếng Hy Lạp, ngoài ra trong tiếng Hy Lạp nó còn được gọi
theo tên khác là Tetraskele (bốn cạnh bằng nhau).
Chữ Vạn có hai cách viết:
Xoay phải theo chiều kim đồng hồ (swastika) nó đại diện cho năng lượng vũ trụ, sức
mạnh và trí thông minh.
Xoay trái ngược chiều kim đồng hồ (suavastika) nó đại diện cho sự từ bi.
Chữ Vạn xuất hiện vào khoảng 16 000 đến 14 000 năm trước công nguyên. Chữ Vạn
được coi là biểu tượng của Phật giáo, hàm chứa Phật tính. Đây là một trong 80 vẻ đẹp của
Phật. Trong truyền thống đạo Bon bản địa của Tây Tạng, chữ Vạn là biểu tượng của sự vĩnh
hằng, bất biến. Chữ swastika của đạo này quay ngược chiều kim đồng hồ, hoặc cùng chiều
kim đồng hồ. Chữ Vạn được xuất hiện trên ngực hoặc trên lòng bàn tay và gót chân của Phật.
Nó còn được dùng làm hoa văn trang trí trên vải, tạo thành đường viền cho mẫu thiết kế.
Trong tín ngưỡng Ấn Độ giáo, chữ Vạn được đồng hóa với thần Vishnu và được liên kết với
thần Shiva và việc thờ rắn thần Nagar (http://vi.wikipedia.org/).
Người theo Phật giáo ở các quốc gia ngoài Ấn Độ hay sử dụng chữ Vạn xoay về phía
phải theo chiều kim đồng hồ.
CHỮ VẠN
Chiều quay của chữ Vạn Các tôn giáo sử dụng chữ Vạn
Xoay về phía Xoay về phía Đạo Phật Đạo Hindu Đạo Jain
phải trái
2.3. Phương thức biểu đạt của biểu tượng tôn giáo
Về hệ thống biểu tượng trong Phật giáo và Cơ đốc giáo, người ta thường sử dụng các
phương thức biểu đạt sau:
- Dùng các hình ảnh tượng trưng
- Dùng các hình ảnh tượng trưng kèm chữ viết
- Có sự kết hợp giữa màu sắc và các con số
- Các cử chỉ cũng mang ý nghĩa biểu tượng
2.3.1. Biểu đạt thông qua hình ảnh tượng trưng
Theo Nguyễn Thị Ngân Hoa “biểu tượng (theo nghĩa rộng nhất) là một loại tín hiệu
mà mối quan hệ giữa mặt hình thức cảm tính (tồn tại trong hiện thực khách quan hoặc trong
sự tưởng tượng của con người: cái biểu trưng) và mặt ý nghĩa (cái được biểu trưng) mang
tính có lí do, tất yếu” [7]. Chính vì thế mà mối quan hệ giữa hai mặt của biểu tượng nhất là
biểu tượng tôn giáo có lí do. Khi sử dụng một hình ảnh để chỉ một đối tượng nào đấy người
ta dựa vào các nguyên tắc sau: sự giống nhau, liên tưởng hay qui ước, thế nên khi giải thích ý
nghĩa của một biểu tượng chúng ta cần phải nghiên cứu kĩ phương thức biểu đạt của chúng.
Dựa vào nội dung mà hình ảnh biểu thị chúng tôi nhận thấy có các kiểu loại như sau:
2.3.1.1. Hình ảnh biểu thị con người và sự vật
Hình ảnh biểu thị một bộ phận của con người: bàn tay (tay phải), bàn chân, mắt
(lấy bộ phận để chỉ toàn thể). Tay phải thường liên quan đến sự trung thực (đối với
một số dân tộc khi ăn cơm bằng tay người ta luôn ăn bằng tay phải) và tay trái
thường liên quan đến sự không thành thật. Cử chỉ của bàn tay thường mang nhiều ý
nghĩa đặc biệt. Ví dụ: ngón tay cái giơ lên cao là dấu hiệu của sự chiến thắng, kiên
cường. Trong Hindu giáo và Phật giáo và cả Cơ đốc giáo sử dụng hơn năm trăm cử
chỉ (mudras) trong các lễ nghi và trong các điệu nhảy (mỗi cử chỉ mang ý nghĩa
khác nhau). Bàn chân là biểu tượng của sự kiên định và sự tự do. Người ta tin rằng
chúng có thể để lại năng lượng trên mặt đất. Những dấu vết tìm thấy trên đá có
hình bàn chân, người ta tin rằng đó là dấu chân của Thượng đế. Dấu chân Phật là
biểu tượng thần thánh: theo bước chân của Ngài thì nhân loại sẽ tự tìm được con
đường khai sáng.
Trong tôn giáo, ban đầu người ta hay dùng bộ phận để chỉ cái toàn thể, ít khi vẽ chân
dung của các vị thánh thần. Sau này việc vẽ chân dung trở nên phổ biến người ta mới dùng
các hình ảnh cụ thể như hình ảnh Chúa Jesus bị đóng đinh trên cậy thập tự, Chúa Jesus tại
vườn Ghết sê ma nê hay các tranh ảnh, tượng của Đức Phật.
Hình ảnh biểu thị sự vật
+ Động vật: dựa vào đặc tính của các con vật mà người ta dùng nó làm các đối tượng
mang ý nghĩa tượng trưng. Bao gồm những con vật mang tính huyền thoại và các con vật
có thật trong đời sống:
- Những con vật mang tính huyền thoại: sư tử trắng, chim garuda, rồng, quái vật đầu
chim, con kì lân…
- Những con vật có thật trong đời sống: chim bồ câu, chim đại bàng, chim bồ nông,
thiên nga, bướm, voi, khỉ, ngựa, cá, rắn…
Trong Hindu giáo, Phật giáo và Cơ đốc giáo hay dùng các con vật để làm biểu tượng
chỉ các vị thần. Thông thường khi sử dụng các con vật làm biểu tượng người ta hay dựa vào
một số bản tính của con người như: dục vọng, sự tham lam, tính hung bạo, tuy nhiên những
đức tính xấu này luôn bị chế ngự và tiêu diệt đi. Ví dụ như Cơ đốc giáo, bốn tác giả Phúc âm
được miêu tả thông qua hình ảnh bốn con vật (PL B5) (thiên thần có cánh, bò, sư tử, chim
đại bàng). Thánh Mark dùng hình ảnh sư tử có cánh (loại dã thú nơi đồng vắng), vì sách Tin
lành Mark bắt đầu bằng lời rao giảng của Giăng Báp tít (Giăng Bap tít sống trong đồng
vắng). Thánh Luke dùng hình ảnh con bò bị tế vì sách Tin lành Luke bắt đầu với lời mời gọi
dành cho vị tư tế Dacaria khi vị này đang thi hành nhiệm vụ tại đền thờ. Thánh John dùng
hình ảnh con chim đại bàng vì tác giả sách Tin lành Giăng được nhìn thấy những hình ảnh
rực rỡ, đẹp đẽ nơi thiên đàng. Còn Satan được miêu tả qua hình ảnh con rắn; Đối với Phật
giáo Tây Tạng khi miêu tả bánh xe pháp luân người ta vẽ vòng tròn trong đó có 3 con vật: gà
trống, rắn, lợn cắn đuôi nhau tạo thành một vòng tròn, đó chính là tam độc. Con lợn đen
tượng trưng cho sự ngu dốt, con rắn xanh tượng trưng cho lòng ghen ghét và thù hận, con gà
trống tượng trưng cho sự tham lam và thèm khát. Chúng sinh bị ba độc tố đó lôi kéo nên phải
tái sinh vào các cảnh giới khổ đau.
+ Thực vật
- Hoa: sen (Phật Thích Ca Mầu Ni ngự trên tòa sen), hoa huệ tây, hoa iris, hoa hồng
đỏ…
- Lá nho, nhành nho, bụi gai cháy, cỏ ba lá (là biểu tượng của Chúa ba ngôi), cây bồ
đề …
Dùng hoa làm biểu tượng người ta dựa vào một số tính chất sau:
Số cánh hoa: cỏ ba lá, hoa huệ tây, hoa iris có ba cánh vì thế trong Cơ đốc
giáo người ta hay dùng các loại hoa này để làm biểu tượng cho ba ngôi Đức
Chúa Trời; hoa sen có 8 cánh ứng với tám hướng không gian, vì thế sen là
biểu tượng của sự hài hòa vũ trụ. Đức Phật Thích Ca ngự trên trục bánh xe
tám nan hoa, giữa đóa sen tám cánh không bị môi trường bùn lầy tác động.
Màu sắc của hoa và hương thơm của hoa:
o Hoa hồng đỏ: trong Cơ đốc giáo, hoa hồng đỏ là biểu tượng của Đức
mẹ Mari, nó còn là biểu tượng của máu Chúa Jesus đổ ra trên cây thập
tự. Ba hoa hồng sẽ là biểu tượng của: ánh sáng, tình yêu, và sự sống.
o Màu trắng của hoa huệ tây là biểu trưng cho vẻ trong trắng, thơ ngây,
trinh bạch.
o Sen trắng: biểu tượng cho đức hạnh, sự tinh khiết, cho trí tuệ tinh
khiết. Nó là đặc trưng của phái Mật tông và là đặc trưng của các vị
Phật.
o Sen hồng: là loại sen tối thượng, biểu tượng của Đấng tối cao: Đức
Phật.
o Sen đỏ: biểu tựơng của sự khởi thủy của tự nhiên, sự tinh khiết của
tâm hồn, biểu tượng của tình yêu, lòng trắc ẩn, đây là loại sen của
Quan Thế Âm.
o Sen xanh: biểu tượng linh thiêng nhất, là biểu tượng của trí tuệ, đây là
loại sen của Văn Thù Sư Lợi hiện thân của trí tuệ viên thành.
o Hương thơm của hoa sen mọc từ bùn đen là biểu tượng của sự thăng
hoa tinh thần.
+ Sự vật cụ thể: thánh giá, lưới, mỏ neo, bánh xe, ngai để trống, ngôi sao, vương miện,
chân đèn…Người ta sử dụng các sự vật cụ thể này liên quan đến nghề nghiệp hay chức
vụ, địa vị…của các đối tượng trở thành biểu tượng. Ví như hình ảnh chiếc ngai trống là
biểu tượng cho vương quyền, sự thông thái và sự thiêng liêng. Chiếc ngai trống đại diện
cho mối quan hệ giữa Thượng đế và nhân loại. Vì thế mà Phật giáo và Cơ đốc giáo đều
sử dụng hình ảnh này làm biểu tượng cho Đấng tối cao.
Như vậy đối với phương thức biểu hiện của các biểu tượng tôn giáo chúng ta thấy rằng
cùng một cái được biểu đạt người ta dùng nhiều cái biểu đạt khác nhau, cụ thể là các biểu
tượng về Chúa hay Đức Phật…
2.3.1.2. Hình ảnh biểu thị bằng hình học
Trong Cơ đốc giáo và Phật giáo người ta cũng sử dụng hình học làm biểu tượng, đó là
các hình: tròn, tam giác, vuông, hình chữ thập ngoặc (chữ Vạn). Người ta có thề sử dụng
riêng lẽ (hình tam giác là biểu tượng của Ba ngôi, được dùng nhiều trong Cơ đốc giáo) hay
kết hợp ba loại trên trong cùng một biểu tượng (hình bảo tháp trong Phật giáo Tây Tạng),
cũng có trường hợp các hình này khi sử dụng làm biểu tượng thường được trang trí hay kết
hợp với các hình ảnh khác (hình ảnh bánh xe luân hồi: vòng ngoài cùng là hình tròn, có con
quỷ ôm gọn hình tròn đó, bên trong hình tròn có hình ảnh của ba con vật cắn đuôi nhau tạo
thành vòng tròn, hay như người ta vẽ hình tam giác, chính giữa hình tam giác vẽ thêm con
mắt…). Hình tròn, hình tam giác, hình vuông được xem là những hình ảnh linh thiêng, được
sử dụng làm biểu tượng trong những nền văn hóa khác nhau.
Hình tròn: Ban đầu nó biểu tượng cho tính nam thần thánh, thường xuất hiện cùng
với ánh hào quang xung quanh đầu của các thiên thần. Nó còn mang ý nghĩa cho sự
vô tận, sự hoàn hảo, và sự tồn tại vĩnh hằng. Vì thế hình tròn thường được dùng để
làm biểu tượng cho Thượng đế.
Hình vuông: Hình dáng của nó biểu tượng cho sự vững chắc, nguyên do hình dáng
không thay đổi. Nó bao hàm các tính chất sau: sự đáng tin cậy, lòng trung thực, sự
bảo vệ, sự an toàn. Hình vuông là biểu tượng thường gặp trong đạo Hin đu, nói về
vạn vật và sự cân bằng trong thế đối lập nhau.
Hình tam giác: Số ba thần thánh thường chỉ về Chúa ba ngôi. Hình tam giác chỉ về
con đường đến thiên đàng, đại diện cho nguyên tố lửa (thuộc giống đực). Nó còn là
biểu tượng về những ơn huệ từ thiên đàng đổ xuống đại diện cho nguyên tố nước
(thuộc giống cái).
2.3.2. Biểu đạt thông qua màu sắc
Từ xưa con người đã biết dùng màu sắc để tạo thành các biểu tượng biểu trưng cho
những giá trị tâm linh trong đời sống văn hóa xã hội. Màu sắc xuất hiện ở mọi nơi làm bệ đỡ
cho biểu tượng.
Cách thức hình thành những màu sắc biểu tượng theo qui luật: dùng một màu hay
nhiều màu để biểu trưng cho một điều khái quát trong nhận thức, trong tâm linh.
Dùng màu sắc để biểu trưng có thể theo hai cách:
- Dùng riêng lẽ từng màu
- Dùng kết hợp một số màu với nhau
2.3.2.1. Màu sắc trong Cơ đốc giáo
Cơ đốc giáo thường dùng màu sắc để trang hoàng các bức tranh, lá cờ, thánh giá, chủ
yếu là hai loại thánh giá chính: thánh giá Latin và thánh giá Hy Lạp và màu sắc còn được sử
dụng trong các nghi lễ khác nhau. Trong các nhà thờ Cơ đốc việc sử dụng màu sắc có tính
quy ước riêng. Cụ thể, người ta sử dụng các màu sau:
- Màu đen biểu tượng cho sự đau buồn, bệnh tật, sự chết. Màu này được sử dụng trong
ngày lễ thương khó.
- Màu xanh: biểu tượng cho thiên đàng, lòng nhân hậu, biểu tượng của Đức mẹ Mari,
được sử dụng trong mùa vọng.
- Màu vàng: biểu tượng cho sức khỏe, sự lộng lẫy, vương giả. Màu vàng là biểu tượng
của Chúa Jesus.
- Màu xanh lá cây: biểu tựơng cho sự sống, hi vọng, sự trung thực, sự bất tử. Màu xanh
lá cây được dùng trong ngày nghỉ lễ vào ngày chủ nhật sau ngày Đức thánh linh giáng
lâm.
- Màu hồng: biểu tượng của sự vui mừng, màu của ngọn nến được thắp lên trong mùa
vọng.
- Màu tím: biểu tượng của sự ăn năn, sự khổ hình, màu của hoàng gia. Màu tím được
dùng trong các ngày lễ: mùa vọng (bốn tuần lễ trước ngày giáng sinh của Chúa), mùa
chay, ngày thứ năm trứơc lễ Phục sinh, tuần thánh (tuần trước ngày chủ nhật phục
sinh).
- Màu đỏ: biểu tượng của tình yêu, tuổi trẻ, sự nhiệt tình, lòng hăng hái; màu của máu,
màu của sự đau đớn; biểu tượng của Đức thánh linh. Màu đỏ được dùng trong các
ngày lễ sau: lễ Đức thánh linh giáng lâm, Lễ tạ ơn Chúa sau mùa gặt, lễ kỉ niệm những
người tử vì đạo.
- Màu trắng: biểu tượng của ánh sáng, sự tinh khiết, sự vô tội, niềm vui, sự trinh trắng,
sự rửa tội. Màu trắng được dùng trong các ngày lễ: giáng sinh, lễ thăng thiên, lễ biến
hình, Thánh linh giáng lâm, sự kiện Chúa Jesus hiện ra cùng các môn đồ, lễ thương
khó.
2.3.2.2. Màu sắc được dùng trong Phật giáo
Hệ thống màu sắc trong Phật giáo được dùng nhiều trong nghệ thuật Phật giáo và các
nghi lễ tôn giáo. Trong Phật giáo, đặc biệt là trong Phật giáo Tây Tạng, năm màu dưới đây
biểu tượng cho suy nghĩ, bản chất thiêng liêng của Đức Phật, là một phần của cơ thể, là một
phần trong câu thần chú cầu thần, hay nó còn đại diện cho các nguyên tố.
- Màu xanh: biểu tượng cho sự trầm tĩnh, sự vô cùng, vô tận, sự trong sạch, tinh khiết,
đại diện cho nguyên tố không khí.
- Màu đen: biểu tượng của bóng tối, thù địch, đại diện cho nguyên tố không khí.
- Màu xanh lá cây: màu của tự nhiên, của cỏ cây, của sự cân bằng, của sự hài hòa, cân
đối, sự mạnh mẽ, của tuổi trẻ.
- Màu đỏ: trong văn hóa Tây Tạng màu đỏ là màu được sử dụng nhiều nhất, màu đỏ là
một trong năm màu chính của đạo Phật, màu đỏ còn là màu áo của các tu sĩ. Biểu
tượng cho sức mạnh, sự bảo tồn, màu của máu trong trái tim luôn chảy, màu của lửa,
của sự linh thiêng. Màu đỏ đại diện cho nguyên tố lửa.
- Màu trắng: biểu tượng của kiến thức, sự hiểu biết, sự trường thọ. Đại diện cho
nguyên tố nước. Thường xuất hiện nhiều trong những chuyện kể về Đức Phật, quan
trong nhất liên quan đến sự ra đời của Ngài, chuyện kể rằng: trước khi sinh Ngài mẹ
Ngài nằm mơ thấy con voi trắng dùng vòi của mình chạm vào người bà.
- Màu vàng: biểu tượng của sự hi sinh, quên mình, màu vàng nghệ là màu được sử
dụng nhiều nhất trong Phật giáo, màu áo cà sa của các tu sĩ. Khi Phật Thích Cac Mầu
Ni chọn màu này thì nó trở thành biểu tượng của sự cao quý, sự đoạn tuyệt, ngăn
cách với xã hội vật chất, sống quên mình từ bỏ dục vọng. Màu vàng là biểu tượng
của đất.
Màu sắc trong Phật giáo còn đại diện cho các phần cơ bản của cơ thể:
- Màu xanh: tai
- Màu trắng: mắt
- Màu đỏ: lưỡi
- Màu xanh lá cây: đầu
- Màu vàng: mũi
Màu sắc còn đại diện cho năm hướng trong không gian: phương đông: màu trắng,
phương tây màu đỏ, phương bắc màu xanh lá cây, phương nam màu vàng, trung tâm là màu
xanh.
2.3.3. Kết hợp với con số để biểu đạt
Chúng ta thấy rằng trong quá trình sáng tạo các biểu tượng thì cả hai tôn giáo đều kết
hợp các con số với các hình ảnh khác như cỏ ba lá, hoa iris, số lượng chân đèn, số lượng nan
hoa trong bánh xe pháp luân, số cách hoa sen... Ý nghĩa từng con số trong mỗi tôn giáo có
khác nhau nhưng nhìn chung trong Cơ đốc giáo số 3 và số 7 được xem là con số thiên liêng,
còn trong Phật giáo số 3 và 4 cũng gắn với tính biểu tượng cao.
Con số khi dùng để biểu trưng thì nó không còn ý nghĩa số lượng chính xác nữa,
chúng thường mang ý nghĩa khái quát thuộc phạm trù trí tuệ và tâm thức trong thế giới loài
người [3;120]. Con số có thể biểu trưng cho đối tượng (vì mỗi đối tượng được gán bằng một
con số); con số trỏ số lượng một tập hợp các đối tượng (con số cũng là biểu tượng của một
tập hợp các đối tượng).
2.3.3.1. Các con số được sử dụng trong Cơ đốc giáo
Chúng ta không thể phủ nhận vai trò về mặt ý nghĩa của các con số trong Kinh Thánh.
Ý nghĩa của các con số trong Cơ đốc giáo thường liên quan đến các sự kiện trong Kinh
Thánh. Ví dụ như con số 40 liên quan đến sự kiện dân Do Thái đến được vùng đất hứa phải
đi trong đồng vắng mất 40 năm, con số 3 liên quan đến sự kiện tiên tri Jona ở trong bụng cá
3 ngày, con số 4 liên quan đến vấn đề như: có bốn sách tiên tri trong Kinh thánh Cựu ước và
có 4 sách Phúc âm trong sách Tân ước, liên quan đến con số 12: thời Cựu ước có 12 chi phái,
đến thời Tân ước có 12 tông đồ của Chúa Jesus.
Các con số sử dụng trong Cơ đốc giáo: Các con số từ 1 đến 10, 12, 13, 30,40, 666,
1000.
- Số 1: con số của sự thống nhất, sự hòa hợp (ba ngôi một thể).
- Số 2: con số của sự phân chia. Chúa Jesus có hai bản tính: thần tính và nhân tính, con
số chỉ về giới tính: nam và nữ, hai phần chính trong Kinh Thánh: Cựu ước và Tân
ước, hai loại người (cừu: tin và không tin: dê) [8;Mathio 25:33].
- Số 3: con số thần thánh, con số của sự hoàn hảo, ba ngôi của Đức Chúa Trời, ba
chức vụ của Chúa Jesus: nhà tiên tri, thầy, vua; thuộc tính của Đức Chúa Trời:
Thượng đế, có mặt khắp nơi, có quyền tuyệt đối, vô hạn.
- Số 4: con số của sự sáng tạo, bốn hướng, bốn mùa trong năm. Bốn vị tiên tri trong
Kinh thánh Cựu ước Isaiah, Jeremiah, Ezekiel and Daniel, bốn tác giả của sách Phúc
âm Matthew, Mark, Luke and John, bốn chất liệu được sử dụng để làm nên hòm giao
ước.
- Số 5: con số của sự trọng đãi, sự chiếu cố, số vết thương mà Chúa Jesus phải gánh
chịu trên thập tự giá, số lượng đá mà Đavit dùng để đánh bại Goliat [8;I Samuel
17:40].
- Số 6: con số của sự không hoàn chỉnh, con số sáu đại diện cho con người, Chúa tạo
dựng thế giới trong sáu ngày, đến ngày thứ sáu (ngày cuối cùng Ngài tạo dựng nên
loài người), ngày thứ sáu là ngày mà loài rắn được dựng nên.
- Số 7: con số thần thánh, số ngày trong một tuần, số lượng con dấu trong sách Khải
huyền, số 7 được nhắc nhiều trong sách Khải huyền, 7 màu sắc của cầu vồng, 7 món
quà của Chúa Thánh linh, bảy chân đèn…
- Số 8: con số của sự bắt đầu, số người trên tàu của Nô ê [8;2Phierơ 2:5]. Con số của
sự tái sinh, phục hồi, tám ngày sau khi sinh các bé trai Do Thái phải chịu phép cắt bì.
- Số 9: con số của sự phán đoán, óc suy xét. Con số chỉ về chín trái Thánh linh.
- Số 10: Con số thần thánh, con số thiêng liêng, mười điều răn của Chúa [8;Xuất
Êdipto kí 20], mười tai vạ Chúa giáng xuống dân Ai Cập [8;Xuất Êdiptô kí 7 – 12].
- Số 12: con số của sự hoàn thiện, con số của các chi phái của người Do Thái, 12 tông
đồ của Chúa Jesus, số tháng trong một năm, số giờ trong một ngày, số 12 được đề
cập trong Khải Huyền (21:10-14).
- Con số 13: con số của sự phản bội, số người trong bữa ăn tối cuối cùng (môn đồ
cùng ăn tối với Chúa Jesus).
- Con số 30: đó là số năm mà Chúa Jesus sống trên đất.
- Con số 40: con số của sự thử thách và trải nghiệm. Đó là số ngày Chúa Trời làm nên
cơn đại hồng thủy hủy diệt thế giới [8;Sáng thế kí: 7], đó là số ngày dân sự của Chúa
lang thang trong đồng vắng trong bốn mươi năm, đó là số ngày mà Môise ở cùng
Chúa trên núi Sinai để nhận bảng luật pháp, đó là số ngày mà Jona đến thành Niniver
trước khi thành này bị hủy diệt [8;Jonah 3:4], đó là số ngày mà Chúa Jesus ở trong
đồng vắng [8;Matthew 4:2].
- Con số 666: số hiệu của con thú [8;Khải huyền 13:8].
- Con số 1000 được nhắc đến trong sách Khải huyền đoạn 20: 7
2.3.3.2. Các con số được sử dụng trong Phật giáo
- Số 1: con số của sự hoàn hảo: khởi đầu, phát triển biểu thị cho một pháp, chính là tất
cả vạn pháp.
- Số 2: nói về tính hai mặt của sự luân hồi; tính nam và tính nữ; lý thuyết và thực hành,
sự hiểu biết và phương pháp.
- Số 3: theo truyền thống thì số 3 biểu hiện cho tam bảo, tam giới (dục giới, sắc giới, vô
sắc giới), tam thời (quá khứ, hiện tại, tương lai), tam vô lậu học (giới, định, tuệ).
- Số 4: liên quan đến con số 4 có:
Tứ diệu đế là bốn chân lí cơ bản trong đạo Phật bao gồm: khổ đế, tập đế, diệt đế và
đạo đế.
Tứ nhiếp pháp, là bốn pháp tu tập của người Phật tử.
Tứ niệm xứ: quán niệm về thân, quán niệm về thọ, quán niệm về tâm, quán niệm về
pháp.
Tứ chánh cần: là 4 sự nỗ lực tinh cấn (tinh cần ngăn không đẻ sanh khởi các ác pháp
chưa sanh, tinh cần đoạn tận các ác pháp đã sanh, tinhcần làm phát khởi các thiện pháp
chưa sanh, tinh cần làm tăng trưởng các thiện pháp đã sanh).
Tứ như ý túc: dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, tư duy như ý túc, nhất tâm như ý túc.
- Số 5: người ta tin rằng trái tim có các phương diện sau: trung tâm của trái tim biểu
trưng cho vũ trụ. Nó còn là biểu tượng của ngọn núi thiêng bao quanh bởi bốn hòn
đảo. Số năm còn biểu thị cho 5 pháp cấu thành con người gọi là ngũ uẩn (sắc, thọ,
tưởng, hành, thức).
- Số 7: Đức Phật lúc đản sinh đã bước bảy bước (nở ra bảy đóa sen), tượng trưng cho
quyền ngự trị tâm linh của Ngài bao trùm lên toàn vũ trụ và 7 pháp tu tập gôi là thất
giác chi (trạch pháp giác chi, niệm giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an
giác chi, định giác chi, xã giác chi).
- Số 8: Trong tín ngưỡng Phật giáo Tây Tạng số 8 là con số của sự hoàn thành, số 8 còn
là biểu tượng của điềm tốt, bát chánh đạo trong đạo Phật, 8 đồ cúng và 8 vật quý của
truyền thuyết phật giáo.
- Số 9: Trong tín ngưỡng Phật giáo con số 9 có sức mạnh thần thánh nhất, và là con số
của bầu trời.
- Số 12: Có 12 thành viên trong hội đồng tu sĩ Tây Tạng (Dalai Lama), 12 nhân duyên.
- Số 108: Trong Phật học thì con số 108 tượng trưng cho 108 phiền não (Kleśā) của con
người. Lục giác (thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác, cảm giác, và thức giác) nhân
làm ba, tức ba loại phản ứng (lạc, khổ, vô ký) thì ra con số 18. Mười tám nhân hai, tức
hai thể (thiện hay bất thiện) thì có con số 36. Ba mươi sáu nhân ba, tức ba thời (quá
khứ, hiện tại, và vị lai) thì là con số 108 phiền não. Phật giáo Việt Nam thì giải thích là
khi lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) không thanh tịnh vì thiếu lục thức (nhãn
thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức) thì dễ bị giao động bởi lục trần
(sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp). Sáu căn, sáu trần, và sáu thức cộng lại, thành ra
thập bát giới (18). Con số này nhân cho sáu phiền não căn bản (tham, sân, si, mạn,
nghi, ác kiến) thì là số thành 108 (http://vi.wikipedia.org).
2.3.4. Kết hợp hình ảnh tượng trưng và chữ viết để biểu đạt
2.3.4.1. Cơ đốc giáo
Trong Cơ đốc giáo người ta cũng dùng chữ viết chỉ tên Chúa để làm biểu tượng
(monograms) hay còn gọi là Chirstogram (biểu tượng chỉ Chúa Cơ đốc bằng chữ viết). Tuy
nhiên ở đây chúng tôi chỉ tìm hiểu chữ viết tên Chúa có kết hợp với các hình ảnh khác như:
thánh giá, cá, chiên con. Sự kết hợp của các kí tự tao nên tên Chúa gồm:
- Tên Chúa được cấu thành bằng hai chữ P và X (CHI PHO) trong tiếng Hy Lạp (theo
kiểu Constantin) được dùng đến tận ngày nay.
Chi (X = Ch)
Pho (P = R)
Đây là 3 kí tự đầu tiên trong từ Christ (Christos). Biểu tượng này xuất hiện vào thế kỉ
thứ hai và được tìm thấy trên các hầm mộ và trên các bức tranh tường.
Chi Pho có nhiều dạng khác nhau: Có khi sự kết hợp của hai chữ X và P giống như
chữ N. N có thể là chữ cái đầu của từ “Nika” có nghĩa là “đắc thắng” hoặc cũng có thể là chữ
cái đầu của từ “Noster” nghĩa là “Chúa của chúng ta”.
- Các kí tự: IC XC là chữ viết tắt của tên Chúa Jesus trong tiếng Hy Lạp:
IC: iota (Ι) và sigma (ς), chữ cái đầu và cuối của tên Chúa Jesus (Ιησους).
XC: chi (Χ) and sigma (ς), chữ đầu và cuối của từ Christ (Χριστος).
Như vậy IC XC là chữ cái đầu và cuối của tên Chúa Jesus trong tiếng Hy Lạp “Iasous
Christos: Jesus Christ ”.
- IHS (Ihc): là những chữ cái đầu trong cụm từ tiếng La Tinh “Iesus Hominum
salvator” nghĩa là “Jesus saviour of man: Jesus đấng cứu thế”.
- INRI là những kí tự viết tắt cho câu tiếng Latinh: “IESVS NAZARENVS REX
IVDAEORVM” nghĩa là “Giê-su người Nazareth, Vua dân Do Thái”.
Nhiều tượng thánh giá có cả một tấm bảng hay tấm giấy da đúng kiểu mang những kí
tự INRI viết lên đó, thỉnh thoảng được khắc trực tiếp lên thánh giá, thông thường nó chỉ
được treo ở bên trên tượng Chúa Jeusu. INRI dòng chữ này thường được viết trên thánh giá
với hình Chúa Jesus bị đóng đinh trên đó.
- ΑΩ: (Alpha and Omega) xuất phát từ câu nói của Chúa Jesus "Ta là alpha và omega".
Alpha (A) và Omega (Ω) là chữ cái đầu tiên và cuối cùng trong bảng chữ cái Hy Lạp.
Biểu tượng Alpha và Omega thường được kết hợp với thánh giá, Chi Rho và các biểu
tượng Cơ đốc giáo khác.
- ΙΧΘΥΣ(chữ in hoa) (Ichthys: chữ thường): Người ta sử dụng biểu tượng “Ichthys”
ngay từ rất sớm. Ichthys (trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là cá). Từ Ichthys được kết hợp
từ những chữ cái đầu tiên của câu "Jesus Christ, God's son, savior," (Jesus Christ, đấng
cứu thế, con của Đức Chúa Trời) trong tiếng Hy Lạp.
Iota (i) là chữ cái đầu tiên của từ Iēsous (Ἰησοῦς), trong tiếng Hy Lạp có nghĩa
là "Jesus".
Chi (ch) là chữ cái đầu tiên của từ Christos (Χριστὸς), trong tiếng Hy Lạp có
nghĩa là “Đấng chịu xức dầu”.
Theta (th) là chữ cái đầu tiên của từ Theou (Θεοῦ), trong tiếng Hy Lạp có nghĩa
là Chúa, Upsilon (y) is the first letter of yios (Υἱὸς), trong tiếng Hy Lạp có
nghĩa là Con trai.
Sigma (s) chữ cái đầu tiên của từ sōtēr (Σωτήρ), trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là
đấng cứu thế.
- UC (IC): Chữ U và C được sử dụng trong ngôn ngữ Slavơ:
U = ts
C = s
UC (ts và s) là những chữ cái đầu của từ “Star slavy: King of Glory”. Thỉnh thoảng cũng
được viết như sau: “King of the Jews: vua dân Do Thái”
Thánh giá có dòng chữ này thường được sử dụng ở Nga vào khoảng thế kỉ thứ 18. Khi trang
trí trên thánh giá thì U ở bên phía trái còn C ở bên phía phải, bên dưới hai chữ này có hai
thiên thần đứng cạnh.
- PHOS ZOE: là những chữ cái trong tiếng Hy Lạp tạo nên hình cây thánh giá .
phi (Φ), omega (Ω) and sigma (Σ), đọc là Phos
zeta (Ζ), omega (Ω) and eta (Η), đọc là Zoe
Phos trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là ánh sáng, ngọn đèn và Zoe trong tiếng Hy Lạp có
nghĩa là cuộc sống 'life'. Như vậy biểu tượng thánh giá Phos Zoe có nghĩa là “light and life
of Christ: Đấng Christ là ánh sáng và sự sống”.
Thỉnh thoảng thì chữ omega được viết là (ít dùng) (ω) và trong các nhà thờ chính
thống giáo thường thay thế chữ sigma (Σ) với chữ cái thuộc ngôn ngữ Slavơ, khi chuyển tự
sang tiếng Latinh được viết là “C” .
- PAX: từ trong tiếng La tinh có nghĩa là “hòa bình”
Hầu hết những thánh giá Cơ đốc giáo có kết hợp với chữ cái được gọi là những biểu tượng
chỉ Chúa cơ đốc bằng chữ viết (Christograms, Chrismons), đó là những chữ viết lồng nhau
chỉ tên Chúa Jesus Christ bao gồm: Alpha và Omega, Chi-Rho, Ichthys, ICXC và IHS. Còn
INRI, PAX, PHOZ ZOE không phải là những chữ viết lồng nhau.
2.3.4.2. Phật giáo
Nếu như trong Cơ đốc giáo tên của Đức Chúa Trời thường đọc chệch đi, hoặc thay
bằng cách đọc khác, nguyên nhân do các tín đồ thể hiện sự tôn kính đối với danh xưng của
Ngài. Và một số chữ viết chữ viết trở thành biểu tượng chỉ Đức Chúa Trời và Đức Chúa
Jesus. Trong Phật giáo nhất là Phật giáo Tây Tạng hay sử dụng những câu mật chú như: Om,
Om Mani Padme Hum, Kalakachra… để tụng niệm. Việc tụng niệm mantra làm cho tâm
được tập trung.
Đầu tiên phải kể đến “Om” là đầu nguồn của mantra (mật chú). Om là từ biểu trưng
cho cái vô cùng, viên mãn, vĩnh hằng. Chữ Om có ý nghĩa là “lời chào mừng hòa bình” của
Ấn Độ, biểu tượng này được sử dụng tại phương Tây vào năm 1960. Nó đại diện cho bốn
trạng thái của ý thức: nhận thức, giấc mơ, giấc ngủ không mộng mị và trạng thái mơ hồ.
Trong Phật giáo Tây Tạng người ta xem câu thần chú “Om Mani Padme Hum” “Hail
to the jewel in the lotus: chân linh trong hoa sen” được xem là thần chú cầu Quan Thế Âm
Bồ Tát. Nó được gọi nôm na là thần chú sáu chữ, và cách gọi chính xác là thần chú Mani.
Thế giới bắt đầu bằng chữ Om và kết thúc bằng chữ Hum. Ý nghĩa của câu thần chú như sau:
Om : Quy mệnh, hướng cả 3 nghiệp thân, khẩu, ý về Phật pháp.
Mani : Viên ngọc như ý của trí huệ.
Padme : Bên trong hoa sen, tức là lòng đại bi nảy nở tựa như hoa sen vươn lên khỏi
bùn lầy.
Hum : có nghĩa là ý nghĩa cao đẹp của cuộc sống.
Tóm lại nội dung thần chú có thể tạm dịch là: “Viên ngọc như ý trong hoa sen trí huệ
giúp con thoát khỏi bùn lầy vô minh, làm cao đẹp cuộc sống”.
Đối với Phật giáo Tây Tạng thì “Om Mani Padme Hum” chính là lòng từ bi rộng lớn,
muốn đạt Niết-bàn vì lợi ích của chúng sinh. Vì vậy sáu âm tiết của thần chú này cũng được
xem là tương ứng với sáu cõi tái sinh của dục giới.
Ở những nước Châu Á, chịu ảnh hưởng của Phật giáo Tây Tạng thì câu thần chú này
được khắc, vẽ trên đá hay trên tường để mọi người có thể nhìn thấy. Thông thường người ta
trang trí câu thần chú theo các màu sau:
Om: màu trắng
Ma: màu xanh lá cây
Ni: màu vàng
Pad: màu xanh da trời
Me: màu đỏ
Hung: màu đen
Người ta cũng vẽ câu thần chú này trong vòng tròn linh thiêng, , hình tròn hình quả
trứng bên trong vòng tròn lớn tượng trưng cho cánh hoa sen: trong mỗi cánh hoa là mỗi âm
tiết của câu thần chú “Om Mani Padme Hum”. Vòng tròn nhỏ chính giữa là biểu tượng của
sự khai sáng. Hình dánh và các kí tự liên kết với nhau để giúp mọi người tập trung suy nghĩ
dựa trên hoa sen nở đó là bản chất quí báu trong mỗi con người.
Câu thần chú thứ hai: “Kalachakra”: bánh xe thời gian (wheel of time), biểu tượng
này rất phổ biến ở Tây Tạng bao gồm 7 âm tiết “Ham Ksha Ma La Va Ra Ya”. Những âm
tiết này kết hợp với các biểu tượng sau: trăng lưỡi liềm và hình trăng tròn, và hình ngọn lửa
ở trên cùng tạo thành mười yếu tố, tượng trưng cho mười quyền lực của Phật pháp.
Âm tiết Ham: màu xanh
Âm tiết Ksha: xanh lá cây
Âm tiết Ma: pha nhiều màu
Âm tiết La: màu vàng
Âm tiết Va: màu trắng
Âm tiết Ra: màu đỏ
Âm tiết Ya: màu đen
Những người Phật tử Tây Tạng tin tưởng rằng bản thể của vũ trụ thể hiện qua âm thanh
mật chú. Mật chú có sực mạnh làm cho tâm thức tập trung. Man tra là những âm thanh
hướng chúng ta đến thực tại, lôi kéo sự chú ý của chúng ta và đưa chúng ta hòa nhập với
nhịp điệu vận hành của vũ trụ.
Trong Chương hai, thông qua quá trình liệt kê các biểu tượng chính trong hai tôn giáo:
Cơ đốc giáo và Phật giáo, chúng tôi đã rút ra được những phương thức biểu đạt chính về các
biểu tượng của hai tôn giáo nói trên. Sang chương 3, chúng tôi sẽ tiến hành giải mã một số
biểu tượng tiêu biểu cũng như tìm hiểu về mối quan hệ giữa hai mặt hình thức và nội dung
của các biểu tượng trong hai tôn giáo này.
Chương 3: GIẢI MÃ CÁC BIỂU TƯỢNG
3.1. So sánh hệ thống biểu tượng Phật giáo và Cơ đốc giáo
Mỗi tôn giáo đều có hệ thống biểu tượng riêng, nếu nghiên cứu từng hệ thống biểu
tượng của mỗi tôn giáo chúng ta có thể dựa và nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại. Trong
luận văn này ngoài việc tìm hiểu mối quan hệ giữa hai mặt hình thức và nội dung của các
biểu tượng trong Phật giáo và Cơ đốc giáo chúng tôi còn so sánh điểm tương đồng và khác
biệt của hai hệ thống biểu tượng nói trên. Vì thế chúng ta không thể dựa vào cái được biểu
đạt để làm tiêu chí phân loại và tiến hành so sánh. Thế nên khi so sánh chúng tôi chủ yếu dựa
vào cái biểu đạt để làm làm căn cứ.
Nhìn chung trong Cơ đốc giáo các biểu tượng chủ yếu biểu thị các nội dung cơ bản
sau: tam vị nhất thể (Chúa cha, Chúa con, Chúa Thánh linh), các tông đồ, các vị thánh đồ.
Còn trong Phật giáo bao gồm các nội dung chính như: tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). Thông
qua những nội dung chính này người ta sử dụng rất nhiều phương tiện hình thức để biểu thị
như đã trình bày ở chương hai.
Qua hai bảng phân loại ở chương 2 về hệ thống các phương thức chủ yếu trong tôn
giáo dùng làm biểu tượng, chúng ta nhận thấy để chỉ về một nội dung, người ta sử dụng rất
nhiều các phương tiện hình thức. Như vậy không chỉ cái được biểu đạt mang tính đa trị mà
ngay cả cái biểu đạt cũng phong phú không kém.
3.1.1. Những hình ảnh chỉ “Đấng tối cao”
Cụ thể khi chỉ về Đấng tối cao (trong Phật giáo Đức Phật – Đấng giác ngộ - là người
thầy hướng dẫn chúng sinh tìm thấy con đường tự giải thoát, Đức Phật không phải là Thượng
Đế) người ta dùng “cái biểu đạt” như sau:
Cái được biểu đạt Thiên chúa Đức Phật (ba ngôi) Cái biểu đạt
Mắt, bàn tay, bàn Bộ phận cơ thể Mắt, bàn tay chân
Ngai để trống, mão Sự vật liên quan đến vương Ngai để trống quyền triều thiên
Chim bồ câu, bướm,
Con vật cá, chiên con, chim Sư tử
bồ nông, kì lân, bò
Alpha và omega, PX, Om, Om Mani Padme Chữ viết IC XC, IHS, Ichthys Hum, Kalachakra
Mão gai, nhánh nho,
Hoa lá hoa iris, hoa hồng, Cây bồ đề, hoa sen
cỏ ba lá
Thánh giá, mỏ neo, Bánh xe pháp, bảo Các sự vật khác ngôi sao tháp
Nhận xét: Để chỉ “Đấng tối cao” (Thiên Chúa, Đức Phật), trong tôn giáo sử dụng
nhiều phương thức biểu đạt từ những bộ phận liên quan đến cơ thể cho đến những hình ảnh
và sự vật khác. Những biểu tượng này chủ yếu dựa vào các Kinh sách (Kinh Phật và Kinh
Thánh). Ví như vì sao người ta dùng hình ảnh mão gai để chỉ Chúa Jesus? Vì biểu tượng này
liên quan đến việc Chúa Jesus chịu thương khó. Điều này có chép trong Kinh Thánh Mathiơ
27:29 “Đoạn họ đương một cái mão gai mà đội trên đầu, và để một cây sậy trong tay hữa
Ngài”.
Trong Phật giáo, hình ảnh cây bồ đề trở thành biểu tượng tiêu biểu. Trong kinh Phật
có dạy rằng: “Này các Tỳ - kheo, sau khi ta diệt độ tất cả thiện nam, tín nữ, người mà có lòng
tin nơi Phật pháp nên đi đến 4 nơi linh thiêng và ghi nhớ rằng đây là Lumbini, nơi Ta đản
sanh, đây là Bodhgaya nơi Ta thành đạo, đây là Sarnath nơi Ta chuyền pháp luân và đây là
Kushinagar nơi ta nhập niết bàn”.
Một trong 4 thánh tích mà Đức Phật đề cập ở trên là Bodhgaya nơi mà Phật giác ngộ.
Ngày nay nơi này trở thành địa điểm hành hương của những tín đồ Phật giáo.
3.1.2. Những hình ảnh biểu thị bộ 3
Để chỉ về bộ 3 trong Phật giáo và Cơ đốc giáo người ta sử dụng các hình ảnh sau:
- Trong Cơ đốc giáo:
Hoa lá: cỏ ba lá, hoa iris
Con số: con số 3
Hình học: hình tam giác, hình tròn
- Trong Phật giáo:
Con số: con số 3 (ba viên ngọc quý)
Hình học: hình dáng của biểu tượng trinity có 3 nhánh
Đối tượng so Hình thức Nội dung
sánh Cơ đốc giáo Phật giáo
,
,
,
Để diễn tả bộ 3 cả hai tôn
Bộ 3 giáo đều sử dụng hình ảnh
gần tương tự nhau.
Người ta dùng hình ảnh hoa lá có hình 3 cánh, hoặc con số 3, hay 3 sự vật…Như vậy
để chỉ cùng nội dung người ta sử dụng cùng hình thức.
3.2. Giải thích ý nghĩa một số biểu tượng cơ bản
3.2.1. Bộ 3 thần thánh
Trên thế giới người ta quan niệm, ba là con số cơ bản. Nó là kết quả của 1 + 2. Nó
biểu hiện cho sự hợp nhất, là biểu hiện của sự toàn thể, sự hoàn thành. Vì không thể thêm cái
gì vào đây được nữa. Số 1 chỉ Trời, số 2 chỉ Đất và số 3 chỉ người.
Có nhiều tôn giáo sử dụng bộ 3 thần thánh. Như trong đạo Hinđu, thần linh tối thượng
cũng hiện hình thành 3: Brahma, Vishnu, Civa. Trong Phật giáo đó là hệ thống tam bảo:
Phật, Pháp, Tăng. Hay Cơ đốc giáo là ba ngôi của Đức Chúa Trời (Chúa Trời là một song có
3 ngôi). Trong nhiều truyền thuyết tôn giáo người ta đều thấy những bộ tam phân, bộ ba
tương ứng với ba sức mạnh nguyên khởi, được tách rời thành ba thần linh. Và rất khó phân
tích mối quan hệ giữa các phần của những bộ ba này. Có thể nói bộ 3 Tam vị nhất thể của Cơ
đốc giáo được nhận định một cách chính xác và vững chắc. Ở Pê Ru, vào thời xa xưa người
Pê Ru thừa nhận có một vị thần tối thượng (thần Sét) phân ra ba ngôi: thần cha nắm quyền
công lý, thần con trưởng và thần con út, thần út là thần Mưa, tạo nên sự phì nhiêu và do đó
đây là vị thần nuôi dưỡng loài người [1;864]. Thời gian phân ba: quá khứ, hiện tại, tương lai;
thế giới có ba thành phần: Bhu (đất), Bhuvas (khí quyển), Swar (trời).
Người xưa quan niệm rằng: tất cả mọi vật trong vũ trụ đều có thái cực, thái cực ở
trong mọi vật nhưng vẫn chỉ có một.
Đạo sinh nhất (= Thái Cực),
Nhất sinh nhị (Âm Dương),
Nhị sinh tam (= Tam Tài, thiên địa nhân),
Tam sinh vạn vật.
Tam tài: là thuật ngữ triết học chỉ Thiên (Trời), Địa (đất), Nhân (người). Người ta
dùng Tam tài như một ngữ cố định chỉ các đối tượng khác có đặc tính tam vị nhất thể (tuy ba
ngôi vị được phân xuất ra là khác nhau nhưng vốn là một thể).
Tam hình: những hình thể hiện ba thứ thành bộ; động vật, thần thánh đều có thể tạo
thành những bộ ba tùy theo tính chất, có thể là ba tầng vũ trụ, ba hoạt động liên quan với
nhau: tạo dựng, bảo tồn và phá hủy; hoặc ba phẩm chất liên quan với nhau: sức khỏe, đạo
đức, tri thức; sức sống, trí tuệ, tâm hồn…
Tất cả các bộ ba đều thể hiện thông qua hình ảnh. Nhưng cách thể hiện thành ba như
thế bao hàm đằng sau nó một sự thống nhất, tuy ba mà là một. Trong biểu tượng điều này
không kém phần quan trọng so với sự thể hiện tách rời từng thứ ra.
Ngoài bộ 3 trong tôn giáo chúng tôi cũng xin kể thêm về những tam phân khác đã
được nhắc đến khi nói về từ đơn âm tiết thiêng liêng OM đọc thành “ar - oo- mm”.
Trong thần thoại người ta cũng thường nhắc đến bộ ba: ở Trung Quốc, các ông chủ
của mặt trời, mặt trăng là ba anh em; trong thần thoại Hy Lạp cũng có ba anh em khác làm
chủ thể vũ trụ: Zeus chủ thể trời và đất, Poseidon cai trị biển và Hades cai trị âm phủ.
Ngày nay trong các ngành kinh doanh, hình ảnh biểu trưng gắn liền với con số 3 được
sử dụng để thiết kế logo. Các công ty lớn sử dụng hình ảnh này làm logo như: Mitsubishi
dùng biểu tượng , Mercedes – Benz …
3.2.2. Thử giải thích ý nghĩa một vài biểu tượng cơ bản khác
Ý nghĩa của biểu tượng tam bảo: Trong Phật giáo để chỉ tam bảo người ta vẽ vòng tròn
lửa bên ngoài, bên trong có viên ngọc quý. Ba viên ngọc quý tượng trưng cho 3 ngôi báu ở
đời là Phật, Pháp, Tăng. Còn vòng lửa bên ngoài được gọi là vòng lửa sinh tử tượng trưng
cho lòng tham, sân, si của thế gian luôn bùng cháy. Tuy nhiên vòng lửa đó không ảnh hưởng
đến tam bảo.
Ý nghĩa của biểu tượng “tam vị nhất thể”. Để chỉ biểu tượng tam vị nhất thể, trong Cơ
đốc giáo người ta dùng các hình ảnh sau để biểu thị như: hình ảnh hoa iris (số cánh hoa),
hình ảnh cỏ 3 lá, hình tam giác đều, hình tròn (ba vòng tròn nối nhau) để nói lên tính vĩnh
hằng chung của ba ngôi, hình ba con cá. Những hình ảnh dùng để biểu thị có liên quan đến
số ba thần thánh để chỉ ba ngôi. Ý nghĩa chung của biểu tượng này như sau: Đức Chúa Cha,
Đức Chúa con, Đức Thánh Linh đều hoàn toàn là Đức Chúa Trời đời đời (Đức Chúa Trời chỉ
có một). Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, Đức Thánh Linh đều có một thân vị riêng.
Ý nghĩa của biểu tượng hoa sen trong Phật giáo: hoa sen tượng trưng cho Phật và Phật
tính ở mỗi con người. Vì hoa sen là một loài hoa đặc biệt, nó chỉ mọc trong đầm lầy nhưng
hoa và hương của nó luôn tinh khiết. Có thể tóm tắt ý nghĩa của biểu tượng hoa sen như sau:
- Mọc trong bùn nhơ nhưng không bị ô nhiễm.
- Hoa chỉ nở khi đã vươn lên khỏi mặt nước.
- Trong một hoa có cả nhụy, đài, gương, hạt
Đây chính là ba đặc tính biểu tượng cho Phật tính ở mỗi con người:
- Sự giác ngộ, sự giải thoát không thể thoát ly ngoài con người trần thế và cuộc đời
trần thế mà có.
- Tâm Vô thượng Chánh giác chỉ thành tụu khi nào vươn lên khỏi mọi trần cấu, nhiễm
ô.
- Trong một bản thể tâm vốn cưu mang đầy đủ mọi đức tính, như tất cả chủng tử nằm
im trong chiều sâu tâm thức.
Vì những lẽ trên nên hoa sen trở thành chủ đề trung tâm của toàn bộ kinh Pháp Hoa,
cũng như là biểu tượng đặc thù trong kinh điển Phật pháp. Vì thế trong các chùa chiền biểu
tượng hoa sen luôn hiện diện, Phật ngự trên tòa sen, hình ảnh chùa Một cột là hình ảnh hoa
sen mọc trên hồ…Biểu tượng hoa sen cũng gắn liền với những hình ảnh khác như: khi lễ
Phật hai bàn tay chắp lại thành hình hoa sen chưa nở gọi là “liên hoa hợp chưởng”, cõi cực
lạc Adiđà gọi là “liên bang: nơi có nhiều hoa sen”.
Chúng ta thấy rằng đối với biểu tượng thì mối liên hệ giữa cái biểu đạt và cái được
biểu đạt là có lí do. Ở đây có mối liên hệ giữa nội dung và hình thức của một biểu tượng vì
thế chúng ta có thể giải thích được ý nghĩa của các biểu tượng dựa vào cái biểu đạt.
3.3. Những biểu tượng gần gũi trong cuộc sống
Ngày nay có những biểu tượng trong tôn giáo trở nên phổ biến, và được sử dụng trong
nhiều lĩnh vực của đời sống. Ở đây chúng tôi xin chọn hai biểu tượng tiêu biểu trong Cơ đốc
giáo và Phật giáo để tìm hiểu, đó là biểu tượng Thánh giá và biểu tượng chữ Vạn.
3.3.1. Biểu tượng thánh giá
Thánh giá (hình chữ thập) là một biểu tượng có từ thời thượng cổ, được tìm thấy tại:
Ai Cập, Trung Hoa, đảo Cret. Đây là một trong những biểu tượng cơ bản, nó còn là một biểu
tượng mang tính tổng hợp. Nguyên nhân từ mô hình của hình chữ thập chúng ta có thể vẽ ra
nhiều hình dáng khác nhau: tâm hình tròn, hình vuông, hình tam giác, hình tròn.
Sự có mặt của cây thánh giá còn được tìm thấy trong thiên nhiên: con người dang hai
tay, con chim bay, con tàu với cột buồm, những dụng cụ nhà nông (cày, cái cào)…
Hình chữ thập tượng trưng cho đất, là cơ sở của mọi biểu tượng định hướng (hướng về
bốn phương), là biểu tượng hướng thượng. Trong Cơ đốc giáo ý nghĩa của cây thập tự gắn
liền với việc Chúa Jesus chịu khổ hình cứu chuộc tội lỗi nhân loại.
Trong cuộc sống hình ảnh chữ thập là nền tảng cho tất cả các hình tượng định hướng
về không gian và thời gian. Có mặt trên kí hiệu giao thông để chỉ một ngã tư, một giao lộ. Có
mặt trên bản đồ để chỉ một bệnh viện hay nhà thờ. Thánh giá là hình ảnh quen thuộc được
trang trí ở các nhà thờ. Trong các nghĩa trang hình ảnh cây thánh giá được trang trí trên mộ
để chỉ về đức tin của người đã khuất. Thánh giá còn được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực
khác nữa, chúng tôi nhận thấy trên các lá cờ của các quốc gia hay các tổ chức tôn giáo người
ta cũng sử dụng hình ảnh thánh giá, và trong lĩnh vực y tế hình ảnh cây thập tự trở thành biểu
tượng tiêu biểu.
Cross chỉ thập tự giá, có nghĩa chủ yếu chỉ một cây cọc hoặc một cây đòn thẳng đứng,
và một cây cọc phụ được dùng như một dụng cụ để trừng phạt và hành hình [24;1735]. Việc
hành hình tử tội bằng cách thức đóng đinh trên thập tự được người La Mã sử dụng rộng rãi.
Chỉ những tôi phạm thuộc hạng nô lệ, dân tỉnh lẻ và những người thấp kém mới bị đóng đinh
[24;1735]. Đế quốc La Mã dùng nó không chỉ như một công cụ tra tấn và hành quyết mà còn
như một sự bêu riếu, nhục nhã dành cho kẻ tồi tệ và thấp kém nhất. Đối với người Do Thái
thì nó là dấu hiệu của sự nguyền rủa [24;1735]. Vậy thì nguyên nhân do đâu biểu tượng này
trở nên phổ biến và trở thành hình ảnh của tình yêu thương? Khi Chúa Jesus bị đóng đinh
trên cây thập tự thì biểu tượng này trở nên phổ biến, vì theo quan niệm của Cơ đốc giáo
Chúa chết để cứu chuộc tội lỗi cho cả nhân loại.
3.3.1.1. Thánh giá trang trí trên lá cờ
Thánh giá dùng trên lá cờ gồm các dạng sau (PL B9):
- Thánh giá thánh Andrew với hình dạng chữ X.
- Thánh giá Hi Lạp, được trang trí chủ yếu trên các lá cờ của những vùng có liên quan
đến nước Anh.
- Thánh giá Serbia: được sử dụng trên các lá cờ thuộc các vùng của nước Serbi.
- Thánh giá Bắc Âu: được sử dụng ở những vùng thuộc Đan Mạch và các lá cờ của
vùng Scandinavi.
- Thánh giá ở các vùng phía Nam: trên lá cờ của các nước thuộc các vùng nam bán cầu
có sự kết hợp giữa thánh giá và hình ảnh ngôi sao.
Tuy hình ảnh thánh giá được trang trí trên lá cờ nhưng không phải chỉ chỉ về đạo Cơ
đốc mà còn biểu hiện cho đất nước hay từng vùng lãnh thổ. Khi chào cờ thường thì người ta
không “nhớ đến” hình ảnh cây Thánh giá là biểu tượng của đạo Cơ đốc. Khi chào cờ người
ta thể hiện sự tôn trọng, lòng tự hào, sự kính trọng… trước lá cờ của tổ quốc. Hình ảnh lá cờ
là biểu tượng mang ý nghĩa hết sức lớn lao, vì nó biểu trưng cho một quốc gia.
Cờ của các nước Bắc Âu, hay vùng Scăndinavia đều có hình cây thánh giá. Việc thiết
kế hình cây thánh giá trên lá cờ có phần giống nhau giữa các nước, hình ảnh cây thánh giá
Latin được thiết kế nằm ngang, các cạnh của thánh giá được kéo dài ra đến mép của lá cờ.
Khi kéo cờ lên hình ảnh cây thánh giá sẽ nằm ở vị trí trung tâm. “Dannebrog”, quốc kỳ của
Đan Mạch, là lá cờ chính quyền cổ nhất còn tồn tại, tiếp sau đó lá cờ của Thụy Điển, Na Uy,
Phần Lan, Aixơlen.
Theo truyền thuyết lá cờ của Đan Mạch có nguồn gốc như sau: trong trận đánh tại
Lyndanisse vào ngày 15 thang 16 năm 1219, quân Đan Mạch sắp thua thì có một lá cờ có
hình thập tự rơi từ trên trời xuống, vua Đan Mạch nhận lấy lá cờ (chưa rơi xuống đất), việc
này làm tăng thêm sức mạnh tinh thần cho quân đội Đan Mạch, đem đến chiến thắng cho đội
quân Đan Mạch. Từ đó hình ảnh cây thánh giá có mặt trên lá cờ của Đan Mạch cho đến ngày
nay. Vì người Đan Mạch cho rằng Chúa đã ban lá cờ chiến thắng cho họ.
3.3.1.2. Thánh giá dùng trong lĩnh vực y tế
Chữ thập đỏ [PL B7] là biểu tượng được thiết kế dựa trên lá cờ của Thụy Sĩ. Biểu
tượng này là hình ảnh chữ thập đỏ trên nền trắng, là màu sắc đảo ngược của quốc kì Thụy
Điển, để tưởng nhớ đến công lao của Henry Dunant. Ông là công dân Thụy Sĩ. Trong một
lần chứng kiến cảnh tượng thương tâm về cuộc chiến giữa quân đội liên minh Pháp và Ý
chống lại quân Áo tại Solferino vào năm 1859 (gần 40 000 người chết và bị thương bị bỏ lại
trên trận địa. Ông kêu gọi dân chúng giúp đỡ những người bị thương bất kể họ là người bên
nào). Sau đó Henry đưa ra hai ý tưởng cũng là lời kêu gọi nhân đạo: ở mỗi quốc gia thành
lập một hội cứu trợ bao gồm những người tình nguyện, họ là nhhững người có tên tuổi,
những chính khách để chăm sóc những người bị thương khi có chiến tranh xảy ra; vận động
một thỏa thuận quốc tế để bảo vệ những người bị thương và những người chăm sóc họ. Dựa
trên sáng kiến này, vào ngày 17 tháng 2 năm 1863, ủy ban đã thông qua tên gọi “ủy ban quốc
tế cứu trợ những người bị thương”. Đến năm 1875 ủy ban này đổi tên thành “Ủy ban chữ
thập đỏ quốc tế”. Do biểu tượng Chữ thập đỏ không thích hợp với niềm tin tôn giáo ở một số
nước, nên ở các nước Hồi giáo, biểu tượng thánh giá được thay bằng hình ảnh “Trăng lưỡi
liềm đỏ”.
3.3.2. Biểu tượng chữ Vạn (chữ thập ngoặc)
Chữ Vạn là một biểu tượng có lịch sử lâu đời, người ta tìm thấy biểu tượng này trong
nền văn hóa Sumer. Nó là biểu tượng được nhiều nền văn hóa sử dụng. Đây là biểu tượng
của mặt trời, sức mạnh, quyền lực tối cao. Trước công nguyên biểu tượng này được sử dụng
tại Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, các nước nước phía nam Châu Âu, và còn được sử dụng ở
Nam Mỹ. Người ta phát hiện các chứng cứ của Chữ Vạn được vẽ trên các hang đá của người
Maya thuộc nền văn hóa Inca.
Tại các nước có nền Phật giáo phát triển như Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc biểu
tượng này được sử dụng nhiều. Tại Trung Quốc nguồn gốc của chữ này bắt nguồn từ chữ
Wan, có nghĩa là 10 000. Tại Nhật Bản thời Trung cổ biểu tượng này bắt nguồn từ chữ
manji, đó là kí hiệu của sự may mắn tột bậc, và sự bảo vệ chống lại sức mạnh của quỷ dữ.
Còn tại Ấn Độ thì từ swastika gồm hai từ “su”: có nghĩa là tốt lành, và “asti”: có nghĩa là
tương lai và hậu tố “ka”, với các cạnh quay theo chiều kim đồng hồ. Còn biểu tượng chữ
Vạn có hướng quay ngược chiều kim đồng hồ gọi là sauvastika biểu tượng của những điều
không may mắn.
Biểu tượng này cũng được sử dụng rộng rãi tại Hy Lạp cách nay khoảng 1000 năm
trước công nguyên. Nó được sử dụng để trang trí trên các bình, lọ, chén bằng gốm, trên tiền
đồng, và nhà cửa. Tuy nhiên tại Bắc Âu, biểu tượng chữ Vạn ít được sử dụng. Cho đến thế kỉ
19 thì biểu tượng được này được chấp nhận như là biểu tượng của Phật giáo và những tổ
chức chống đạo Cơ đốc.
Biểu tượng chữ Vạn có khá nhiều tên gọi khác nhau:
- Ở Đức được gọi là Hakenkreuz
- Ở Anh có tên gọi là Fylfot
- Tại Ý được gọi là Crux gammata
- Còn ở Hy Lạp được gọi là gammadion
Về hình dáng biểu tượng chữ Vạn là một hình chữ thập đều, với những cánh bị bẻ
vuông về cùng một hướng, thường là bên phải, hay theo chiều kim đồng hồ, có chiều chuyển
động quay xung quanh một tâm điểm cố định. Như vậy nó là biểu tượng của sự hoạt động,
của sự biểu hiện, của chu kỳ và sự tái sinh bất tận. Chính vì thế mà chữ thập ngoặc thường
được đi kèm với hình ảnh các đấng cứu tinh của nhân loại: Chúa, Đức Phật (vì Ngài tượng
trưng cho bánh xe pháp quay xung quanh tâm điểm bất di bất dịch).
Hệ biểu trưng của các con số giúp ta hiểu rõ hơn ý nghĩa về sức mạnh tổng thể của
biểu tượng này: chữ thập ngoặc được tạo nên bởi một chữ thập mà mỗi nhánh, do được định
hướng bởi những vec – tơ xác định chiều quay rồi chuyển về tâm điểm, nên được tăng gấp
bốn lần. Vậy trị số của chữ thập ngoặc là bốn lần bốn, nghĩa là mười sáu. Đó là sự phát triển
mạnh mẽ của hiện hữu hay là vũ trụ. Với sự phát triển của vũ trụ được tạo dựng, nó gắn với
những gương mặt sáng thế và cứu thế vĩ đại. Còn trong sự phát triển của một hiện thực nhân
loại, chữ thập ngoặc biểu thị sự phát triển của một quyền lực thế tục, vì thế nó trở thành biểu
hiệu của những quyền năng lịch sử: vua Charlemagne, Hitler [1;408].
Ngày nay, chữ Vạn vẫn là một biểu tượng được sử dụng rộng rãi trong Phật giáo, đạo
Giai-na, và Ấn Độ giáo (đạo Hindu). Trong Phật giáo, chữ Vạn đại biểu cho Phật. Trong đạo
Giai-na, nó mô tả vị thánh thứ 7, và 4 cánh được sử dụng để nhắc nhở những tín đồ về bốn
nơi có thể tái sinh: thế giới thú vật và cây cối, Địa ngục, Trái đất và thế giới linh hồn. Với
người Hindu, chữ Vạn với các cánh bẻ về bên trái được gọi là sathio hay sauvastika, đại biểu
cho ban đêm, phép thuật, sự tinh khiết, và nữ thần tàn phá Kali. Cả ở Ấn Độ giáo và đạo
Giai-na, chữ Vạn, hay sathio được sử dụng để đánh dấu những trang mở của cuốn sách ghi
chép, ngưỡng cửa, cửa và đồ cung tiến.
3.3.2.1. Biểu tượng chữ Vạn trong Phật giáo
Trong Phật giáo chữ Vạn có ý nghĩa như sau: chữ Vạn là một trong 32 tướng tốt của
Đức Phật. Thường được vẽ dưới gót chân, lòng bàn chân hay trên ngực của các pho tượng
Phật để ám chỉ ý nghĩa giác ngộ vẹn toàn của Đức Phật, còn hình chữ Vạn được vẽ chính
giữa ngực để nói lên cho cái lý Trung Đạo không kẹt hai bên. Trong Phật giáo chữ Vạn là
một biểu tượng chứ không phải chữ viết, chữ Vạn xoay bên phải hay bên trái đều được (tuy
rằng có một số nhà Phật học tranh luận nhau về hướng xoay của phù hiệu nầy) đều dùng để
tượng trưng cho lòng từ bi và trí tuệ của Đức Phật.
Việc xoay theo chiều nào của chữ Vạn vẫn có nhiều ý kiến khác nhau. Và nhiều người
có sự lầm lẫn với biểu tượng chữ thập ngoặc trên lá cờ của Đức Quốc Xã. Vì thế nên chăng
cần có sự thống nhất về chiều xoay của biểu tượng chữ Vạn được sử dụng trong Phật giáo để
tránh sự lầm lẫn đáng tiếc.
3.3.2.2. Chữ thập ngoặc được dùng làm làm biểu tượng chính trên lá cờ của
Hitler.
Chữ Vạn là một biểu tượng của người Aryan, trong tiếng Phạn có nghĩa là ‘quý tộc’.
Người Aryan là một nhóm người từng định cư ở Iran và Bắc Ấn Độ. Họ tin rằng bản thân họ
là một chủng tộc thuần khiết, siêu việt hơn tất cả các nền văn hóa xung quanh. Khi người
Đức đi tìm một biểu tượng, họ đã tìm một thứ đại diện cho sự thuần khiết mà họ tin là thuộc
về họ. Đức Quốc Xã tự coi mình là ‘người Aryan’ và sử dụng biểu tượng của người Aryan.
Cuối thế kỷ 19, Swastika của người Aryan đã xuất hiện trong tạp chí về chủng tộc xuất
bản định kỳ của những người Đức theo chủ nghĩa quốc gia và là biểu tượng chính thức của
những vận động viên thể thao Đức.
Đầu thế kỷ 20, Swastika của người Aryan đã trở thành một biểu tượng chung của chủ nghĩa
dân tộc Đức (German nationalism) và có thể tìm thấy ở nhiều nơi như biểu tượng của
Wandervogelb - một phong trào tuổi trẻ Đức; trên tạp chí Ostarra, một tạp chí định kỳ bài Do
Thái của Joerg Lanz von Liebenfels; trên nhiều đơn vị Freikorps khác nhau; và như một biểu
tượng của Hội Thule.
Hitler cũng dùng phù hiệu nầy cho Đảng áo nâu của mình, nhưng đặt nghiêng. Chữ
Vạn mà Hitler dùng còn gọi là chữ thập móc (chữ thập ngoặc). Người ta cũng giải thích chữ
thập ngoặc trên lá cờ của Đức Quốc Xã là sự kết hợp của hai chữ SS là chữ cái đầu của
Stafellzschutz. Hai chữ SS chéo nhau để thành chữ Vạn theo chiều kim đồng hồ nhưng nằm
xéo (chữ Vạn xoay theo hướng phải). Từ đó Swastika nằm nghiêng chính thức trở thành biểu
tượng của quỷ dữ. Hitler lạm dụng biểu tượng chữ Vạn, khiến biểu tượng này trở thành biểu
tượng của tội ác dưới con mắt của nhân dân thế giới.
Biểu tượng chữ vạn được dùng trong nhiều nền văn hóa khác nhau
3.4. Những nhân tố tác động đến nội dung của biểu tượng
tôn giáo
Việc tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng, nhất là các biểu tượng trong tôn giáo không phải
là công việc đơn giản. Khi giải thích ý nghĩa của biểu tượng chúng ta không chỉ dựa vào diện
mạo bên ngoài mà còn phải dựa vào nhiều yếu tố khác nữa. Chúng tôi nhận thấy việc giải
thích ý nghĩa của biểu tượng chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau.
3.4.1. Ý nghĩa biểu tượng mang tính cá nhân
Cảm nhận ý nghĩa của một biểu tượng là một công việc hết sức cá nhân, cùng một
biểu tượng nhưng từng cá nhân cá cảm nhận riêng. Vì mỗi cá nhân sống trong môi trường
văn hóa khác nhau, có trải nghiệm riêng, tri thức nền cũng khác…Vì thế khi giải thích ý
nghĩa của biểu tượng chúng ta khó lòng đưa ra mẫu số chung, mọi sự giải thích chỉ mang
tính chất gợi ý nhiều hơn.
Như thế, tìm hiểu một biểu tượng là trình bày những kích thích hơn là những kiến
thức, đó là phương pháp của Gaston Bachelard (triết gia người Pháp). Trước một biểu tượng
như lửa, nước, khí v.v., ông ghi lại những cảm nhận cá nhân bắt nguồn từ toàn bộ con người
(lửa: nấu bếp, sưởi nóng, đốt nhà, bắn súng …), từ cái di sản thừa kế của cả một dân tộc (như
nước : ruộng nước, lúa nước, thủy tinh v.v.) hoặc cả một thời đại (lửa : lửa tình yêu, Thánh
Thần).
Thông thường khi giải thích ý nghĩa của biểu tượng người ta dựa vào cấu trúc hình
thức. Đây cũng là phương pháp để người ta quy ước những cách giải thích khác nhau. Ví như
cách giải thích khác nhau về biểu tượng chim bồ câu. Trong Cơ đốc giáo hình ảnh chim bồ
câu ngậm cành ô liu là biểu tượng của hòa bình, còn hình ảnh chim bồ câu vói ngọn lửa lại là
biểu tượng của Đức Thánh Linh giáng lâm. Chim bồ câu còn là biểu tượng của tình yêu,
nguyên nhân do tập tính dịu hiền của chúng. Ở Trung Hoa cổ, chim bồ câu là biểu tượng của
mùa xuân. Một số nơi khác thì chim bồ câu lại là giống chim báo điềm gở vì tiếng gù của
chim là lời kêu than của những linh hồn đau khổ.
3.4.2. Ý nghĩa biểu tượng thay đổi theo từng nền văn hóa
Ý nghĩa của biểu tượng không chỉ biến đổi tùy theo cách cảm nhận của từng cá nhân
mà còn biến đổi theo từng vùng văn hóa. Cùng biểu tượng “rồng” nhưng văn hóa phương
Tây và văn hóa phương Đông có cánh giải thích khác nhau. Khi giải thích ý nghĩa của biểu
tượng không thể chì nhìn vào diện mạo bên ngoài, mà còn tìm hiểu sự vận động của nó trong
môi trường văn hóa và vai trò của nó trong hiện tại.
Khi đứng trước một số biểu tượng có hình thức giống nhau, việc giải thích không chỉ
căn cứ vào hình ảnh biểu thị mà nhiệm vụ của người nghiên cứu cần tìm ra sắc thái, cái ý
nghĩa riêng đồng thời cũng cần tìm ra mẫu số chung của các biểu tượng. Tuy nhiên chúng ta
không nên đặc thù hóa quá mức cũng như không nên khái quát quá vội vì cả hai điều này là
sai lầm vì hợp lí hóa biểu tượng sẽ giết chết nó. Việc tiếp nhận biểu tượng loại trừ thái độ
đứng nhìn, mà đòi hỏi thái độ nhập cuộc. Pierre Emmanuel nói: phân tích một cách lý trí
biểu tượng, tức là bóc một củ hành ra để tìm củ hành [1;XLIV].
3.4.3. Ý nghĩa biểu tượng thay đổi theo môi trường lịch sử
Điều quan trọng tiếp theo là ý nghĩa của biểu tượng phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử. Có
trường hợp ý nghĩa của biểu tượng có thể thay đổi do những biến cố lịch sử, có thể kể ra đây
như: hình ảnh cây thập tự ban đầu là biểu tượng cho sự sỉ nhục, xấu xa, là nơi để hành hình
những kẻ tội đồ nhưng khi Chúa Jesus bị đóng đinh trên cây thập tự thì cây thánh giá trở
thành biểu tượng của tình yêu thương, hay như biểu tượng Chữ Vạn, ban đầu nó có ý nghĩa
của sự khỏe mạnh, hạnh phúc, nhưng khi Hitler dùng hình ảnh chữ thập ngoặc làm biểu
tượng cho Đảng quốc xã thì ý nghĩa của biểu tượng này bị biến đổi. Đến nỗi có khá nhiều
câu chuyên lí thú xoay quanh biểu tượng này. Dưới thời Pháp thuộc, năm 1941, viên công sứ
Pháp, đi từ Phủ Doãn lên đàn Nam Giao, khi ngang qua chùa Từ Đàm Huế, thấy các hình
trang trí chữ Vạn xung quanh tường rào được trang trí nằm trong không gian có thể trông từ
hai phía, ông ta đã nổi giận và bắt vị Trụ trì chùa phải xây phông ở phía sau để chỉ được nhìn
về phía mặt chữ Vạn của Phật giáo.
(http://phattuvietnam.net/nghiencuu/3202.html)
Chúng ta dễ dàng nhận thấy, ý nghĩa của biểu tượng luôn biến đổi, chỉ có các biểu
tượng về mặt trời, mặt trăng, và các hành tinh là tương đối ổn định. Nguyên nhân vì bối cảnh
của những biểu tượng này là gần gũi nhau, những biểu tượng này thường được quan sát bởi
những cá nhân có cách nhìn giống nhau, đó là các nhà thiên văn học, nhà chiêm tinh học, nhà
tâm lí học. Việc ý nghĩa của một biểu tượng biến đổi thường trải qua giai đoạn rất dài, có
khi lên đến hàng ngàn năm, quá trình biến đổi này diễn ra rất chậm và khó nhận thấy.
Ví như biểu tượng , được sử dụng cách đây 2000 năm, là biểu tượng của thần chiến
tranh trong thần thoại Hy Lạp. Ngày nay biểu tượng này được dùng để chỉ sao Hỏa. Và ý
nghĩa của biểu tựơng này ngày nay không còn liên quan nhiều đến nội dung chiến tranh, hay
xâm lược như ban đầu nữa. Trong một vài trường hợp ý nghĩa ban đầu của biểu tượng biến
mất hay có thể được thay thế bằng một số ý nghĩa sau: sự khẳng định, hệ thống hành tinh,
sắt…[27;9]
3.4.4. Ý nghĩa của biểu tượng vô cùng phong phú
Ở trên chúng ta đã liệt kê ra được những cách thức để tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng.
Tuy nhiên không phải mọi việc diễn ra dễ dàng mà đôi khi đứng trước một biểu tượng chúng
ta cần suy nghĩ thấu đáo. Việc tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng không giống như tìm hiểu
một kí hiệu. Vì đối với kí hiệu khi nhìn vào hình thức bên ngoài, chúng ta có thể đoán định
được nội dung mà kí hiệu đó muốn biểu đạt, kí hiệu thường đại diện cho một đối tượng nào
đó. Ví như các kí hiệu giao thông, nhìn vào các hình vẽ chúng ta có thể đoán biết đâu là biển
cấm đường một chiều, đường đang thi công, đường cấm. Còn biểu tượng thì khác, thật khó
có thể thiết lập được ý nghĩa đơn nhất của một biểu tượng vì mặt hình thức của biểu tượng
khiến chúng ta có nhiều cách liên tưởng đến nhiều ý nghĩa khác nhau. Vì thế mà cùng một
biểu tượng lại có những cách giải thích hoàn toàn trái ngược nhau. Vì các biểu tượng luôn
luôn đa chiều.
Hầu hết những kí hiệu ban đầu thường có ít nhất hai nghĩa: đối lập nhau. Quy tắt này
chỉ áp dụng đối với những cấu trúc cơ bản mà thôi như: chữ thập (vừa là biểu tượng của cái
chết, đau buồn, vừa là biểu tượng của sự sống bất diệt, sự cứu rỗi), đường tròn (nghĩa ban
đầu của nó tồn tại và nghĩa ngược lại là không tồn tại, không nối kết), hình tam giác (biểu
tượng của sức mạnh, nguyên tố lửa; sức mạnh đen tối và nguyên tố nước), ngôi sao năm
cánh (vừa là biểu tượng của chiến trang và đau khổ vừa là biểu tượng của sự vui mừng, sự
thích thú)…Còn những kí hiệu hiện đại thường không mang ý nghĩa theo hai chiều. Ví như
hình trái tim không vừa mang ý nghĩa tình yêu và sự thù hận, ngôi sao sáu cánh, biểu tượng
của người Isaren không mang ý nghĩa ngược nhau. Trong truyền thuyết về Kaydara của dân
tôc Peul, người hành khất già (nhà khai tâm) nói với Mamadi (người hành hương đi tìm tri
thức): Hỡi anh em, hãy nhớ rằng mỗi biểu tượng đều có một, hai, hay nhiều nghĩa. Các ý
nghĩa ấy thuộc ban ngày hay ban đêm. Những cái thuộc ban ngày là điềm tốt, thuộc ban đêm
là điềm xấu [1;XXII].
Trong biểu tượng diễn ra một hiện tượng ngưng kết: “chỉ một cái biểu đạt giúp ta nhận
thức ra được nhiều cái được biểu đạt; hoặc giản đơn hơn cái được biểu đạt dồi dào hơn cái
biểu đạt. Như vậy có sự ứ tràn nội dung ra ngoài dạng biểu đạt của nó.
Ý nghĩa biểu tượng vừa mang tính đa chiều vừa mang tính ổn định (vì thế chúng ta
nhận thấy nhiều nền văn hóa khác nhau sử dụng biểu tượng để biểu thị nội dung giống nhau).
Vì thế đôi khi người ta giải thích ý nghĩa của biểu tượng dựa vào logic thông thường. Người
ta dùng hình vuông làm biểu tượng của đất. Nhiều không gian linh thiêng có hình bốn góc
như: bàn thờ, đình miếu, thành đô, doanh trại quân đội. Số bốn là số của hình vuông, là con
số toàn bích nhất trong mọi con số: đó là con số của sự thông tuệ và của kinh sách mang tên
Thượng đế. Mặt đất được đo bằng bốn chân Trời có hình vuông. Nó được phân chia thành
bốn phương. Ở Trung Hoa, vũ trụ có hình vuông, mỗi phương được án ngữ bằng một ngọn
núi chính. Ở người Trung Hoa quả đất hình vuông là một ý niệm rất cổ xưa, nó ăn sâu vào
trong ngôn ngữ. Vũ trụ được hoạch định bằng bốn phương, nhưng từ này cũng chỉ hình
vuông. Vì vậy Thổ thần được biểu trưng bằng mô đất hình vuông, kinh đô cũng hình vuông,
lãnh địa của vua chúa cũng thế. Cả phương Tây và phương Đông đều sử dụng biểu tượng
này để chỉ “đất”, “mặt đất”. Trên bản đồ, hình chữ nhật được dùng để chỉ địa điểm của nông
trại. Còn các nhà giả kim thì sử dụng biểu tượng này để chỉ “muối”, ngành khí tượng học thì
dùng để chỉ mặt đất…
Tôn giáo ưa dùng các biểu tượng vì chúng đưa chúng ta sang một thế giới khác, sống
động hơn, cao siêu hơn, vượt ra ngoài thế giới khả giác, trong đó cái phần vô hình được nhìn
thấy một cách huyền bí : Phật Quan Âm ngự tòa sen, tay cầm bông sen chứ không phải là
hoa huệ. Và khi một nền văn hóa bị các nền văn hóa khác xâm nhập thì biểu tượng trở thành
đa chiều và có khả năng thâm nhập lẫn nhau như : Tấm Cám với Cinderella, cái mõ hình con
cá nơi các giáo xứ …
Việc tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng chỉ là một sự gợi mở, nếu mở được cấu trúc hình
thức bên ngoài chúng ta sẽ chạm được vào nội dung phong phú bên trong. Cũng giống như
cách chúng ta xem các hình ảnh từ không gian ba chiều.
Tóm lại, có những yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến ý nghĩa của biểu tượng:
Cấu trúc của biểu tượng
Bối cảnh trực tiếp của biểu tượng
Bối cảnh mang tính chất cá nhân của người quan sát
Môi trường xã hội và môi trường lịch sử của biểu tượng
3.5. Vai trò của con số và màu sắc trong biểu tượng tôn giáo
Trong chương hai chúng tôi có đề cập đến các phương thức biểu đạt của các biểu
tượng trong tôn giáo. Chúng tôi nhận thấy việc kết hợp màu sắc và con số trong các biểu
tượng đều có mục đích nhất định. Vì thế khi tìm hiểu ý nghĩa của biểu tượng chúng ta cũng
cần tìm hiểu ý nghĩa của các con số và màu sắc. Ý nghĩa của các con số và màu sắc cũng
mang tính lý do, ví như màu đỏ là màu của máu, màu của chiến tranh, là màu đại diện cho
thần chiến tranh trong thần thoại Hy Lạp, biểu tượng của sức mạnh.
Việc giải thích ý nghĩa của màu sắc hay ý nghĩa của con số cũng tùy thuộc vào từng
nền văn hóa. Đối với người Trung Hoa thì màu đỏ là biểu tượng cho sự may mắn, vì thế mà
trong những dịp quan trọng như cưới hỏi, hay lễ tết người ta đều trang hoàng nhà của bằng
màu đỏ. Còn đếi với Cơ đốc giáo màu đỏ lại là màu của sự thống khổ, vì nó gợi nhớ đến sự
chết chuộc tội của Chúa Jesus trên cây thập tự.
3.5.1. Vai trò của con số
Ngôn ngữ nào cũng phải có số đếm, nhưng có vài con số có những hàm nghĩa đặc biệt.
Chính con số không có gì thần bí, nhưng từ chỗ sùng bái linh vật về ngôn ngữ, người ta đi
đến sùng bái về con số. Từ xa xưa người ta phát minh ra con số với mục đích dùng để đếm,
nhưng con số cũng là cơ sở để người ta xây dựng các biểu tượng. Con số không chỉ biểu thị
đại lượng mà còn bao hàm nhiều hàm ý khác nữa. Giải thích ý của con số là khoa học lâu đời
nhất. Trong tư tưởng người Azteque, các con số cũng mang tầm quan trọng trong vũ trụ. Mỗi
con số đều gắn với một vị thần, một màu sắc, một điểm trong không gian, một tập hợp những
ảnh hưởng, lành hay dữ. Theo một số tín ngưỡng, mỗi con số có khuynh hướng sinh ra một
con số lớn hơn, một sinh ra hai, hai sinh ra ba… bởi vì mỗi con số đều bị thúc đẩy vượt ra
ngoài giới hạn của mình. Đôi khi người ta không được phép dùng các con số không đúng lúc.
Vì chúng chứa một sức mạnh chưa được biết. Theo truyền thuyết của người Peul, số là mẹo
lừa cùa huyền lý. Nó là sản phẩm của lời nói và kí hiệu, cốt yếu hơn và huyền bí hơn các
phần hợp thành nó. Cho nên không bao giờ người ta nói ra số con, số bò, số vợ của mình, cả
số tuổi nữa dù đã biết. Ngược lại người ta sẵn sàng đếm các đồ vật không dính dáng trực tiếp
đến mình.
Người ta cho rằng có những số lành, may mắn, có những số dữ, xui xẻo. Phương Đông
và phương Tây có quan niệm khác nhau về vấn đề lành và dữ đối với ý nghĩa các con số.
Ví dụ ở các nước phương Tây, số 13 bị coi là số xấu, người ta luôn luôn kiêng và cố
lẩn tránh con số này. Ở các nhà cao tầng, người ta không lấy số 13, các bệnh viện và giường
bệnh số 13; trên máy bay xe lửa và ở mỗi hàng ghế đều không có ghế số 13. Người ta tiến
hành những việc quan trọng cũng cố tránh ngày 13. Nhưng ở Việt Nam và Trung Hoa lại
không tin như thế. Một vài tỉnh ở Trung Quốc người ta cho các số 3, 6, 9 là số đẹp, chọn
những ngày 3, 6, 9, 13, 16, 26, 29 âm lịch làm lễ cưới. Ở Nhật, người ta cho số 4 là xấu, vì
tiếng Nhật số 4 đọc lên nghe gần như chết (Xi = tứ, xi = tử) nên người Nhật thường kiêng số
này. Nhiều bệnh viện Nhật không có tầng số 4, phòng số 4 và giường số 4. Tiếng Trung Hoa
cũng như vậy, “tứ” đọc lên theo phương ngữ nào nghe cũng gần giống với “tử”, nên nhiều
bệnh nhân nằm bệnh viện kiêng số đó. Ở Việt Nam, người ta có quan niệm riêng về các con
số, coi số lẻ là tốt đẹp. Làm đám cưới cũng có thói quen chọn ngày, có người kiêng ngày 3
và ngày 7, vì đã có câu: “Chớ đi ngày bảy, chớ về ngày ba”.
Ngày nay trong giới kinh doanh người ta quan tâm nhiều đến ý nghĩa của con số, vì
thế mà có nhiều người sẵn sàng bỏ ra rất nhiều tiền để mua cho được những biển số xe, số
điện thoại mang ý nghĩa lộc phát, để cầu mua may bán đắt…
Trong tôn giáo con số cũng có vai trò và ý nghĩa riêng của nó. Hiểu ý nghĩa của con số
sẽ góp thêm phần không nhỏ làm sáng tỏ ý nghĩa của biểu tượng. Chúng ta sẽ không ngạc
nhiên nhiều khi nhiều tôn giáo sử dụng bộ 3, hay vì sao trong Cơ đốc giáo hay sử dụng con
số 7?
Việc giải thích ý nghĩa của tất cả các con số được dùng trong tôn giáo là không thể vì
thế ở đây chúng tôi chỉ xin giải thích ý nghĩa của các con số xuất hiện cùng với các biểu
tượng mà chúng tôi đã liệt kê.
Trong Cơ đốc giáo các con số sau được sử dụng nhiều: 3 (ba ngôi ), 5 (ngôi sao năm
cánh), 7 (7 ngọn đèn, 7 ngọn nến, 7 món quà của Chúa Thánh Linh, quyển sách có 7 con
dấu), 9 (chín bông trái thánh linh), 12 (12 tông đồ), 666 (số hiệu của con thú).
Con số 7 là con số của sự hoàn thành và sự đổi mới chu trình (thế giới được tao dựng
trong sáu ngày và Chúa Trời nghỉ ngơi trong ngày thứ 7, và lập nó làm ngày thánh), nó cũng
là biểu tượng của sự trọn vẹn, đầy đủ và hoàn hảo.
Con số 9 (9 bông trái thánh linh): chín là con số cuối cùng của mọi con số, số chín
cùng một lúc báo hiệu sự kết thúc và sự bắt đầu lại, tức là sự chuyển vị sang bình diện mới
…Nó biểu đạt một chu trình, hoàn thành một hành trình, khép kín một vòng [1;181]. (Kinh
thánh đề cập đến việc phải từ bỏ cuộc sống chiều theo xác thịt để trở thành người tốt, thánh
khiết bước đi theo Thánh linh).
Số 12 là số dùng để chia thời gian và không gian. Đây là tích số của bốn phương nhân
với ba bình diện thế giới. Đối với Kinh Thánh, số 12 là con số của người được chọn. Từ xưa
đến nay 12 là con số của sự hoàn thành, của một chu kì đã hoàn tất.
Chúng ta sẽ suy nghĩ về con số 666. Có nhiều cách giải thích khác nhau về ý nghĩa
con số này. Chúng ta biết rằng trong Kinh Thánh nhiều lần nhắc đến số 7 như là biểu hiện
cho sự trọn vẹn hoàn hảo của Đức Chúa Trời: Công cuộc sáng tạo vũ trụ của Đức Chúa Trời
được làm trọn trong 7 ngày trong đó Ngài làm việc 6 ngày và ngày thứ 7 thì Ngài nghỉ (Sáng
Thế Ký 1); Dân Y-sơ-ra-ên đi vòng quanh thành Giêricô 7 ngày và 7 lần trong ngày thứ 7
(Giôsuê 6); Chúa Giêxu dạy hãy tha thứ 70 lần 7 (Mathiơ 18:22). Con số 6 thiếu mất 1 so với
số 7, nó cũng gần với số 7 nhưng không phải là số 7. Con số 6 này chỉ về việc làm, biểu hiện
cho sự nhờ cậy việc làm để được cứu và sự bất toàn của con người. Quyền lực tột đỉnh của
con người, dù có vĩ đại đến đâu, vẫn chỉ là con số 6 mà không phải là con số 7 trọn vẹn của
Đức Chúa Trời. Sự lặp lại 3 lần 666 có lẽ được dùng để nhấn mạnh sự nhận diện của con thú
thứ hai này là tính chất con người mà không phải là Đức Chúa Trời.
Các con số được sử dụng kết hợp với các biểu tượng trong Phật giáo:2 (cặp cá vàng), 4
(bốn con vật hòa thuận), 3 (tam bảo), 6, 8, 12 (số gọng bánh xe trong bánh xe pháp luân).
Số 2: (hai nghiệp, hai nhãn, hai phiền não, hai sức mạnh, hai loại giới) là biểu tượng
của sự xung đột, sự đối lập, đây là con số chỉ sự cân bằng trong hiện thực hay những mối đe
dọa đang tiềm ẩn.
Số 6 (sáu độ, sáu căn, sáu đường, sáu phương…) là gấp đôi số 3, như vậy đây là con
số điềm lành.
Số tám (tám sức mạnh, tám vị thai tạng, tám tâm niệm của bậc đại nhân, bát chánh
đạo…). Bát chánh đạo bao gồm 8 con đường chân chính đưa người tu tập đến bờ giải thoát.
Bao gồm: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tấn,
chính niệm, chính định.
Số 12 (mười hai nhân duyên, mười hai hạnh đầu đà). Mười hai nhân duyên là giáo lý
đặc thù của đạo Phật. Giáo lý này giảng dạy về con người, đối tượng nghe là con người, sự
hành trì cũng thuộc về con người. Mười hai nhân duyên bao gồm: vô minh, hành, thức, danh
sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử.
3.5.2. Vai trò của màu sắc
Màu sắc có ảnh hưởng đến tâm lý con người điều đó đã được công nhận. Trong việc
kết hợp màu sắc đối với các biểu tượng có thể phản ảnh được tâm lý văn hóa dân tộc. Từ
xưa, người Việt chịu ảnh hưởng Trung Hoa có quan niệm tôn sùng màu vàng, vì từ đời Hán,
lấy năm sắc tượng trưng cho ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ và ngũ phương là
Ðông, Tây, Nam, Bắc. Vàng là tượng trưng cho Thổ và Trung ương và là màu của vương
quyền. Từ đời Hán trở xuống, các nhà vua đều mặc áo vàng, và đó là độc quyền của nhà vua.
Người Á đông thích màu đỏ, cho đó là tượng trưng cho sự may mắn, hạnh phúc, vui
vẻ, thành đạt. Vào các dịp ngày Tết, ngày lễ lớn thường treo câu đối đỏ, thắp nến đỏ...Ở
Trung Hoa còn treo đèn lồng đỏ, trong đám cưới cô dâu mặc toàn màu đỏ, trang hoàng trong
nhà toàn bằng màu đỏ. Trái lại ở Tây phương, cô dâu mặc bộ áo cưới màu trắng, họ cho rằng
màu trắng tượng trưng cho sự trong sạch, tinh khiết của cô dâu. Nhưng ở Trung Hoa dân
gian lại kiêng màu trắng trong đám cuới, vì họ vẫn coi màu trắng là màu tang tóc. Người Á
Ðông không thích màu đen cho rằng đó là vận không may, số đen, đen đủi trong khi vẫn có
nhiều người Tây phương thích sơn cửa màu đen cổ điển.
Màu sắc góp một phần không nhỏ vào việc xây dựng ý nghĩa của biểu tượng. Đặc tính
đầu tiên trong ý nghĩa biểu tượng của màu sắc là tính phổ quát, không chỉ theo nghĩa địa lý,
mà còn ở mọi cấp độ sinh tồn và nhận thức: vũ trụ, tâm lý, thần bí…Cách giải thích ý nghĩa
của biểu tượng tôn giáo cũng tùy thuộc vào màu sắc, vì mỗi tôn giáo đôi khi quan niệm về ý
nghĩa mỗi màu khác nhau.
Nhìn chung màu sắc có một số ý nghĩa biểu trưng sau:
- Tượng trưng cho các nguyên tố: màu đỏ và màu cam: tượng trưng cho nguyên tố lửa;
màu vàng hoặc màu trắng tượng trưng cho không khí; màu xanh lá cây tượng trưng
cho nước; màu đen hoặc nâu tượng trưng cho đất.
- Màu sắc còn tượng trưng cho không gian: màu xanh lam cho chiều thẳng đứng, lam
nhạt cho phía trên cùng trời, lam đậm cho phía dưới; màu đỏ chỉ chiều ngang, đỏ sáng
chỉ phía đông, đỏ sẫm chỉ phía tây.
- Chúng còn tượng trưng cho thời gian: màu đen cho thời gian; màu trắng cho cái phi
thời gian; và tất cả những gì kèm theo thời gian: sự luân phiên giữa bóng tối và ánh
sáng, giữa yếu đuối và sức mạnh, ngủ và tỉnh…
- Những màu sắc đối lập như trắng và đen tượng trưng cho tính nhị nguyên thuộc về
bản chất sinh tồn. Ví như một bộ y phục hai màu; hai con vật đối đầu hoặc tựa lưng
vào nhau, một con trắng một con đen; hai người múa, một trắng một đen [1;562].
Trong Cơ đốc giáo màu sắc được sử dụng mang một ý nghĩa tượng trưng riêng. Tôn
giáo này thường sử dụng bốn màu cơ bản, bốn màu thâu tóm toàn bộ vũ trụ, biểu trưng cho
bốn nguyên tố cấu thành: đất – trắng, nước – xanh, không khí – tím, lửa – đỏ. Vì thế những
bộ lễ phục, kể cả những lễ phục nhà thờ có cả bốn màu ấy tượng trưng cho tập hợp những
yếu tố cấu thành thế giới và từ đó gắn liền với cái chỉnh thể vũ trụ với những hoạt động nghi
lễ. Trong Cơ đốc giáo đề cao ánh sáng. “Những cách cảm thụ, lý giải màu sắc đưa ta về với
những quy phạm thời cổ đại gợi nhớ những bích họa Ai Cập cổ xưa. Sắc màu biểu trưng cho
lực hướng thượng trong sự đan thoa bóng tối và ánh sáng hấp dẫn ở các thánh đường kiểu
Roma, nơi mà bóng tối không còn là mặt trái của ánh sáng, mà đi kèm theo nó để khẳng định
tốt hơn giá trị của nó và góp phần cho sự nở tươi của nó… Có một sự hiện diện được tán
tụng của mặt trời, không chỉ trong kiến trúc nhà thờ, mà còn cả trong lễ thức tụng kinh ngợi
ca vẻ mê hồn của ánh sáng.” [1;563].
Phật giáo cũng sử dụng màu sắc trong việc thể hiện ý nghĩa của các biểu tượng như:
trang trí trên tranh ảnh, các pho tượng, cờ Phật giáo, áo quần, đồ dùng... Do đặc trưng của
nền văn hóa phương Đông nên Phật giáo hay sử dụng các màu chủ yếu sau: màu đỏ, màu
vàng nghệ, màu trắng, màu xanh và màu xanh lá cây. Trong Phật giáo Tây Tạng, màu sắc
mang ý nghĩa biểu trưng riêng. Trong nghệ thuật trang trí tranh ảnh người ta thường kết hợp
năm màu với nhau (đôi khi màu đen được thay thế bằng màu xanh).
Khi nghiên cứu một biểu tượng, nhất là biểu tượng tôn giáo chúng ta dựa vào rất nhiều
yếu tố, không chỉ cấu trúc hình thức của biểu tượng (bản thân biểu tượng như: phương thức
biểu đạt, biểu tượng đó sự dụng những phương thức biểu đạt nào? Thường mỗi biểu tượng
có sự kết hợp của nhiều phương thức biểu đạt khác nhau và con số và màu sắc cũng không
ngoại lệ) mà còn tùy thuộc vào yếu tố văn hóa và quan trọng hơn nữa là cách nhìn nhận, cách
hiểu biểu tượng đó của mỗi cá nhân.
3.6. Quan hệ giữa hình thức và nội dung trong biểu tượng tôn giáo
Biểu tượng là một loại kí hiệu, loại kí hiệu này khác với ngôn ngữ ở chỗ mối quan hệ
giữa hai mặt của biểu tượng mang tính lí do, trong khi ngôn ngữ là võ đoán. Cụ thể trong Cơ
đốc giáo người ta dùng hình ảnh chim bồ nông làm biểu tượng cho Chúa Jesus. Nguyên nhân
là chim bồ nông dùng máu của mình để nuôi con biểu tượng của tấm lòng hi sinh cao cả.
Điều này cũng giống như Chúa Jesus vì yêu thương nhân loại nên chịu chết trên cây thập tự.
Hay như hình ảnh chiếc ngai để trống là biểu tượng cho Đức Phật từ bỏ vương quyền đề tìm
đường giải thoát cho chúng sinh. Chiếc ngai là biểu tượng của quyền lực, sự thông thái và
thần thánh. Chiếc ngai trống mang ý nghĩa là sự nối kết giữa Chúa nhân loại. Vì thế trong cả
hai tôn giáo này hình ảnh chiếc ngai để trống là biểu tượng cho đức tính tốt đẹp của vị chúa
tể.
Nguyên tắc sáng tạo chữ viết ghi ý và chữ viết tượng hình cũng gần giống với việc
sáng tạo biểu tượng. Để biểu thị nội dung là “cây” thì người Trung Hoa vẽ hình giống cái
cây 木 (mộc), rồi muốn chỉ ý nghĩa “rừng” thì ghép hai chữ mộc lại với nhau thành chữ
lâm木木. Đối với người Ai Cập cổ, việc sáng tạo chữ viết (chữ tượng hình) dựa vào quá
trình quan sát cuộc sống hàng ngày. Người ta vẽ vòng tròn lớn có tâm ở giữa để chỉ mặt trời
.
Đối với chữ viết ghi ý hay chữ viết tượng hình, chúng ta rất dễ nhận ra mối quan hệ
giữa nội dung và hình thức vì cách kết hợp này có lí do. Có những biểu tượng có nguồn gốc
từ hệ thống chữ viết ghi ý, chữ viết tượng hình. Như biểu tượng về thánh giá Ankh của người
Ai Cập. Ý nghĩa của biểu tượng này: trường thọ, sự tái sinh, sinh lực của người Ai Cập. Biểu
tượng này được tìm thấy trên hang đá, lăng mộ. Nó còn là biểu tượng của quyền lực, nguyên
nhân vì hình dáng của nó giống với quyền trượng của các vị thần. Như vậy người ta dùng vật
dụng thường dùng để đại diện cho một đối tượng.
Nhưng cũng có những trường hợp nếu như chúng ta không thêm vào một số thông tin
thì khó lòng có thể hiểu được ý nghĩa. Ví dụ như hệ thống kí hiệu của những kẻ lang thang
, kí hiệu này có nghĩa là: “ở đây người ta cho thức ăn và tiền”. Như vậy nguyên nhân nào
khiến những người vô gia cư dùng biểu tượng này để chỉ nội dung trên? Đây là biểu tượng
được sử dụng trong nhiều nền văn hóa, chỉ mặt trời. Mặt trời là nguồn sáng đem lại thức ăn.
Mối quan hệ giữa hai mặt hình thức và nội dung của biểu tượng không phải là mối
quan hệ 1-1, chỉ một cái biểu đạt giúp ta nhận thức ra nhiều cái được biểu đạt…, hay cái
được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt. Như vậy biểu tượng luôn mang tính đa trị. Cùng biểu
tượng cá (cái biểu đạt), nhưng có nhiều cách giải thích rất khác nhau:
- Nó là biểu tượng của nguyên tố nước
- Cá là biểu tượng của sự sống và tính mắn đẻ (do nó có khả năng sinh sản kì lạ với số
trứng niều vô kể)
- Ở Trung Quốc, cá là biểu tượng của vận may
- Trong Cơ Đốc Giáo cá là biểu tượng của Chúa Jesus
3.7. Các biểu tượng tôn giáo Việt Nam
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (từ đầu công nguyên), được bản địa hóa
khi du nhập từ ẤN Độ và Trung Quốc. Theo thống kê của Ban tôn giáo chính phủ Việt Nam
vào năm 2009 thì hiện có gần 60 triệu tín đồ Phật giáo. Cùng với lượng tín đồ đó thì số
lượng chùa chiền cũng phát triển rất nhiều. Cơ Đốc giáo du nhập vào Việt Nam muộn hơn so
với Phật giáo (đầu thế kỷ 16). Hiện tại số tín đồ Cơ đốc giáo khoảng hơn 6 triệu người.
Để phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn này, chúng tôi đã đến các ngôi chùa, các nhà
thờ lớn tại thành phố Hồ Chí Minh để thu thập tư liệu.
Qua khảo sát (PL A I) chúng tôi nhận thấy Phật giáo sử dụng các biểu tượng chính
sau:
- Biểu tượng chữ Vạn (xoay theo chiều kim đồng hồ và ngược chiểu kim đồng hồ, biểu
tượng này được trang trí trên cửa chùa, trên ngực của các tượng Phật… ) (PL C8)
- Bánh xe pháp luân được trang trí trên nóc của ngôi chùa (biểu tượng này được sử dụng
từ thời Nguyễn đến nay) (PL C8)
- Biểu tượng lưỡng long chầu nguyệt (bên trong có trang trí biểu tượng chữ Vạn) (PL
C8)
- Biểu tượng hoa sen (PL C8)
- Biểu tượng rồng (trang trí thành đôi, hay được trang trí trên chuông chùa) (PL C8)
- Về màu sắc thường sử dụng các màu sau để trang trí biểu tượng: màu đỏ, màu vàng,
màu trắng, màu xanh
Nhà thờ Cơ đốc giáo sử dụng các biểu tượng tiêu biểu sau:
- Biểu tượng thập tự giá (PL B10): đủ các loại, được trang trí trên nóc của nhà thờ, trên
tháp chuông, trên cửa sổ, trên bàn thờ…
- Biểu tượng các tông đồ (PL B12)
- Biểu tượng chim bồ câu (PL B12)
- Biểu tượng hoa iris …
- Biểu tượng về tam vị nhất thể (PL B12)
…
Nhìn chung ở Việt Nam hệ thống biểu tượng của hai tôn giáo trên không khác biệt
nhiều so với thế giới. Tuy nhiên khi du nhập vào Việt Nam, do ảnh hưởng của yếu tố văn
hóa, cách sử dụng biểu tượng có biến đổi ít nhiều. Đơn cử như: nhà thờ Đa Minh sử dụng
biểu tượng rồng là chủ yếu trong kiến trúc của thánh đường, hay như nhà thờ cha Tam trong
kiến trúc cũng như cách sử dụng màu sắc trong trang trí chịu ảnh hưởng của văn hóa người
Hoa.
3.7.1. Biểu tượng rồng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo
Hình ảnh con rồng không chỉ xuất hiện trong những kiến trúc của Phật giáo mà ngay
cả Cơ đốc giáo, hình ảnh con rồng cũng xuất hiện nhiều. Ở các chùa Việt Nam hình tượng
con rồng được tạc trên mái của các ngôi chùa, hay trên các chuông chùa… nguyên nhân do
việc tiếp nhận Phật giáo từ Trung Hoa. Quan niệm của người Trung Hoa, rồng là tinh linh
của núi, là thần linh bảo vệ năm vùng (bốn phương và trung tâm), là kẻ bảo vệ năm hồ bốn
biển.
Trong thời kỳ đất nước ta bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc, rồng Việt Nam chịu
ảnh hưởng của những con rồng các thời Tần, Hán, Đường, Tống... và được cách điệu hóa
dần dần để biến thành rồng hoàn chỉnh, tượng trưng cho uy quyền độc tôn của vua chúa
phong kiến và thường được trang trí ở những nơi linh thiêng. Rồng được sử dụng trong kiến
trúc tôn giáo theo một số nét: mắt quỷ, sừng nai, tai thú, trán lạc đà, miệng lang, cổ rắn, vảy
cá chép, chân cá sấu, móng chim ưng. Và con rồng luôn là hình ảnh sâu đậm trong tâm hồn
mỗi người Việt Nam.
Phương Đông và phương Tây có quan niệm khác nhau về biểu tượng rồng. Truyền
thống phương Đông, rồng được miêu tả như một sức mạnh có giá trị, đem đến sức sống cho
thế giới.
Trong Cơ đốc giáo con rồng là biểu tượng của Satan [8, Khải huyền 12:9], là kẻ cám
dỗ gieo rắc tội lỗi và xấu xa, là đối tượng cần phải chinh phục. Rồng là hiện thân của quỹ dữ
vì thế mà trong các tranh ản phương Tây rồng được vẽ với hình ảnh đầu bị đập vỡ, các con
rắn bị tiêu diệt. Điều đó trở thành biểu tượng cho sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác.
Ở phương Đông, rồng là biểu tượng của sự sáng tạo của sự sống. Rồng là đại diện cho
nguyên tố nước, không khí. Nguyên nhân phương Đông là xứ nóng mưa nhiều tạo nên những
vùng đồng bằng rộng lớn. Như vậy yếu tố sông nước rất quan trọng đối với văn hóa phương
Đông. Qua quá trình phát triển của dân tộc phương Đông hình tượng rồng được gắn liền với
nguồn gốc dân tộc, ví như dân tộc Việt tự hào là con Rồng cháu của Tiên, gắn với vương
quyền (các vua chúa hay lấy hình tược rồng để đại diện cho uy lực của triều đình, hình tượng
rồng cũng được thêu trên áo của vua mặc), gắn liền với sự may mắn, thịnh vượng.
Trong kinh điển Phật giáo, rồng xuất hiện ba lần
Lần thứ nhất, khi đức Phật giáng sinh thì có 9 con rồng phun nước tắm cho Đức Phật
(cửu long phún thủy). Ở các chùa miền Nam khi học khắc hoặc cham trổ tượng, bao giờ
cũng có tượng Đản sinh, xung quanh có 9 con rồng đứng hầu (là lấy tích lúc đức Phật sinh ra
có 9 con rồng phun nước tắm cho Phật).
Rồng xuất hiện lần thứ hai qua câu chuyện đức Phật hàng phục Hỏa Long (rồng lửa).
Lần thứ ba đề cập chuyện Văn Thù sư lợi đem Kinh đi giáo hóa ở Long cung.
Trong thái độ ứng xử với tự nhiên, người dân nông nghiệp phương Đông do phải phụ
thuộc nhiều vào thiên nhiên, dẫn đến coi trọng rồng, đề cao rồng; còn người dân du mục
phương Tây do cuộc sống nay đây mai đó, không cố định, có tham vọng chinh phục và chế
ngự thiên nhiên đã dẫn đến tâm lý xem rồng là một biểu tượng cho những thế lực xấu xa cần
được khuất phục.
Với các dân tộc phương Đông, rồng là biểu tượng của sự cao quý tốt đẹp, thăng hoa và
thịnh vượng, rồng xuất hiện là để thể hiện sự vươn tới cái đẹp chân - thiện - mỹ. Với các dân
tộc phương Tây, rồng là biểu tượng của sự xấu xa, phá hoại,... tiêu diệt rồng có nghĩa là
chiến thắng cái xấu, cái ác, cái tối tăm... qua đó biểu hiện một cách khác về vẻ đẹp của con
người.
Có thể nói do điều kiện môi trường tự nhiên của phương Tây và phương Đông khác
nhau đã làm thành hai nền văn hoá với những đặc trưng khác nhau.
Phương Tây: điều kiện khí hậu lạnh, khô, có vùng đồng cỏ nên thích hợp chăn nuôi,
tạo nên lối sống du cư, có tâm lý coi thường, có tham vọng chinh phục tự nhiên (văn
hóa gốc du mục).
Phương Đông: khí hậu nóng, ẩm có nhiều đồng bằng thích hợp nghề trồng trọt tạo nên
lối sống định cư có tâm lý tôn trọng, hoà hợp với tự nhiên lối tư duy thiên về tổng hợp,
biện chứng (văn hóa gốc nông nghiệp).
3.7.2. Ảnh hưởng của yếu tố văn hóa qua các biểu tượng Cơ đốc giáo tại Việt
Nam
- Văn hóa của người Hoa qua các biểu tượng tại nhà thờ cha Tam:
Tên nhà thờ ghi bằng chữ Hán (PLB12)
Hai bên cây thánh giá có hai con cá chép.
Trên nóc nhà thờ gắn hoa sen. (PLB12)
Hai bức liễn ở hai bên cửa ra vào cũng viết bằng chữ Hán,
Dùng màu đỏ để trang trí bốn cây cột nơi chính điện, trong khi màu này không
phổ biến trong nhà thờ Công giáo.
- Văn hóa Việt trong kiến trúc của nhà thờ Đa Minh (PLB12):
Nhà thờ thiết kế theo hình vuông (theo người Việt cổ quan niệm: trái đất hình vuông),
mái cong, thêm nữa điểm đặc biệt của nhà thờ này là hình ảnh con rồng được sử dụng rất
nhiều trong trang trí các đầu đao, trên tháp chuông, mỗi góc mái là một đầu đao hình đầu
rồng quy về hướng thánh giá.
Tháp chuông hình trụ vuông gồm ba tầng mái với kiểu dáng mái cong truyền thống,
được cách điệu và hiện đại hóa. Mỗi góc mái là một tàu đao hình đầu rồng quy hướng về
Thánh giá. Trên nóc của thánh đường Đa Minh, trên các tàu đao người ta chọn hình đầu
rồng. Tuy nhiên việc trang trí này khác với kiến trúc Phật giáo ở chỗ, trên các mái chùa có
hình ảnh “long chầu nguyệt” thì thánh đường Đa Minh các con rồng “chầu Thánh giá”.
Trong kiến trúc của nhà thờ Đa Minh phía trước thánh đường có đặt bốn bức tượng
con Nghê. Nghê là một trong hai linh vật đặc biệt của văn hóa Việt Nam (chim Hạc và con
Nghê). Trong các đền đài miếu mạo người ta hay đặt tượng con nghê đặt trên tam cấp với ý
nghĩa bảo vệ.
Điểm đặc biệt nữa là biểu tượng thánh giá kết hợp với hai con rồng hai bên, bao quanh
bởi hình vuông, bên ngoài hình vuông là bốn quẻ (như trong Kinh Dịch) (PL B10)
Nhìn chung cả Phật giáo và Cơ đốc giáo tại Việt Nam đều sử dụng hệ thống biểu
tượng giống như thế giới, Cơ đốc giáo đại diện cho nền văn hóa phương Tây, nên khi du
nhập vào Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa phương Đông. Phật giáo cũng vậy,
ban đầu giáo lý của Đạo Phật gần với Triết học, Đức Phật (Đức Phật lịch sử Thích Ca Mầu
Ni) là một vị giáo chủ không phải là một đấng thần linh, thượng đế mà là một con người thật
sự. Sau 6 năm tu khổ hạnh, 49 ngày đêm tư duy thiền định, Ngài trở thành vị chứng ngộ giữa
đời hiệu là Thích Ca Mầu Ni. Ngài đã dạy rằng: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là những
vị Phật sẽ thành”. Khi Đạo Phật du nhập vào Việt Nam thì được bản địa hóa, tiếp thu những
yếu tố văn hóa Việt để có thể hòa nhập và tồn tại như: tín ngưỡng dân gian đa thần giáo của
người Việt, thêm nữa xã hội người Việt bấy giờ con người sinh sống đựa trên nền tảng xã hội
nông nghiệp trồng lúa nước vì thế yếu tố thời tiết rất quan trọng vì thế mà người Việt tôn
sùng tứ Pháp: Pháp vân (thần mây), Pháp vũ (thần mưa), Pháp lôi (thần sấm), Pháp điện
(thần chớp).
Cũng giống như ngôn ngữ, các biểu tượng tôn giáo cũng chịu tác động bởi các yếu tố
văn hóa, và khi du nhập vào Việt Nam chúng cũng bị Việt hóa để gần gũi với văn hóa Việt.
KẾT LUẬN
Biểu tượng thường được sử dụng trong những trường hợp hết sức đặc biệt, vì thế mà
tôn giáo hay sử dụng biểu tượng (đối tượng cụ thể như chiếc mão triều thiên, chiếc ngai để
trống, con vật: chiên con, chim bồ câu, rồng, rắn…; hay một hình ảnh, màu sắc, từ ngữ) để
chỉ những gì liên quan đến những nhân vật chính trong tôn giáo như Thượng đế, ma quỉ,
thánh thần, đức tính tốt lành của những người đặt niềm tin vào tôn giáo…
Hệ thống biểu tượng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo vô cùng phong phú, vì thế để tìm
hiểu toàn bộ hệ thống biểu tượng trong hai tôn giáo trên trong khuôn khổ của một luận văn là
việc làm quá sức. Nhiều học giả chỉ nghiên cứu một biểu tượng nhỏ trong hệ thống biểu
tượng này (biểu tượng dấu chân Phật chẳng hạn, phải mất rất nhiều năm và còn phải thu thập
nhiều chứng cứ từ các nước có nền Phật giáo phát triển để tìm ra những nét tương đồng và dị
biệt). Ở đây công việc chính của chúng tôi chỉ là giới thiệu những biểu tượng tiêu biểu nhất
mà hai tôn giáo này sử dụng.
Để biểu thị nội dung, các biểu tượng tôn giáo sử dụng rất nhiều hình thức biểu đạt như
hình ảnh, màu sắc, chữ viết…Tuy nhiên các biểu tượng tôn giáo thường kết hợp hình ảnh và
màu sắc là chủ yếu còn việc kết hợp chữ viết sử dụng ít hơn (chữ viết chỉ tên Chúa, hay
những âm tiết thiêng liêng trong đạo Phật).
Qua quá trình nghiên cứu hệ thống biểu tượng trong Cơ đốc giáo và Phật giáo chúng
tôi nhận thấy việc sáng tạo các biểu tượng hay như cách giải thích cùng một biểu tượng chịu
nhiều tác động của yếu tố văn hóa. Cơ đốc giáo đại diện cho văn hóa phương Tây còn Phật
giáo đại diện cho nền văn hóa phương Đông. Vì thế các phương thức biểu đạt của hai tôn
giáo này mang dấu ấn văn hóa rất sâu sắc. Về các con vật Cơ đốc giáo hay sử dụng hình ảnh
con chiên, còn phương Đông dùng hình ảnh con rồng. Hay như hoa lá làm biểu tượng người
ta cũng sử dụng hoa cỏ gần gũi với môi trường sống của mình. Cơ đốc giáo dùng hình ảnh
hoa huệ tây, cỏ ba lá, cây nho, còn Phật giáo dùng hình ảnh hoa sen quen thuộc.
Chúng ta nhận thấy tuy hai tôn giáo khác nhau, thuộc hai nền văn hóa khác nhau
nhưng trong không ít trường hợp vẫn sử dụng hình ảnh giống nhau để biểu thị cùng nội dung
(hình ảnh chiếc ngai để trống, sử dụng bộ 3), có những biểu tượng không chỉ xuất trong hai
tôn giáo trên mà các tôn giáo khác cũng sử dụng từ rất lâu như hình ảnh cây thánh giá, hay
như hình chữ thập ngoặc, hình vuông, hình tam giác, hình tròn. Nguyên nhân vì đây là những
biểu tượng cơ bản của thế giới. Nếu chúng ta nắm bắt được ý nghĩa của những biểu tượng cơ
bản này thì việc giải thích ý nghĩa của biểu tượng sẽ rất dễ dàng. Ví dụ như “hình vuông”
thường được sử dụng làm biểu tượng cho đất, cho những gì liên quan đến đất.
Mối quan hệ giữa hai mặt hình thức và nội dung của biểu tượng tôn giáo có lí do cho
nên chúng ta có thể dựa vào phương thức biểu đạt để giải thích nội dung của biểu tượng. Tuy
nhiên không phải lúc nào việc làm này cũng thành công mà đôi khi việc sử dụng phương
thức biểu đạt do qui ước nên khi giải thích ý nghĩa, chúng ta cũng cần có một số tri thức nền.
Ví dụ như trên các thánh giá thường có sự kết hợp các chữ cái như Α (Alpha) và Ω (Omega)
đây là chữ đầu và chữ cuối trong bộ chữ cái Hy Lạp dùng để biểu trưng cho tất cả. Vì Chúa
có phán: “ Ta là Alpha và omega” [8;1:8]. Như vậy A và Ω trở thành biểu tượng chỉ Chúa
Jesus: Ngài là khởi thủy đầu tiên cũng là sau cùng trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa.
Trong các biểu tượng tôn giáo thì cái được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt. Nguyên
nhân là khi đứng trước một biểu tượng, thì việc giải thích ý nghĩa phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như: bản thân cá nhân tìm hiểu biểu tượng, môi trường văn hóa, môi trường lịch sử, quá trình
quan sát của mỗi cá nhân trong từng thời điểm nhất định. Vì thế khi nghiên cứu biểu tượng
chúng ta cần phải tập trung tất cả các cách hiểu khác nhau về bản thân của mỗi biểu tượng.
Chúng ta thấy rằng khi so sánh hệ thống biểu tượng sử dụng trong các nhà thờ và các
ngôi chùa, như trên đã nói Phật giáo xuất phát từ Phương Đông nên khi du nhập vào Việt
Nam rất gần gũi và rất dễ tiếp nhận. Còn Cơ đốc giáo khi vào Việt Nam dần dần chịu nhiều
chi phối của văn hóa phương Đông. Nguyên nhân là do chủ trương hội nhập văn hóa
“Inculturation” của Cơ đốc giáo. Vì thế chúng ta thấy ngày càng nhiều biểu tượng trong văn
hóa người Việt được sử dụng trong các nhà thờ Cơ đốc như: khi xây cung thánh người ta
dùng các biểu tượng như hình vuông, hình tròn để làm bệ thờ (quan niệm của người Việt
“Trời tròn đất vuông”), hay như sử dụng các hình ảnh như hoa sen, trống đồng, hình ảnh
chùa một cột, các quẻ trong Kinh Dịch để đưa vào trang trí trong các nhà thờ. Việc làm này
đúng hay sai vẫn còn nhiều bàn cãi, tuy nhiên điều này minh chứng một điều yếu tố văn hóa
ảnh hưởng rất lớn đế việc sử dụng các biểu tượng.
Biểu tuợng cũng là phương tiện dùng để giao tiếp, nó cũng là “một ngôn ngữ phổ
biến” [1;XXXIII]. Không cần thông qua trung gian ngôn ngữ nói hay viết mọi người đều có
thể hiểu nó. Ngày nay biểu tượng không chỉ được sử dụng trong tôn giáo mà còn được sử
dụng ở nhiều lĩnh vực khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt:
1. Chervalier Jean, Gheetbrant Alain, Phạm Vĩnh Cự dịch (1997), Từ điển biểu tượng
văn hoá thế giới: huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình,
màu sắc, con số, Nxb Đà Nẵng.
2. Thích Minh Cảnh (2005), Từ điển Phật học Huệ Quang (tập VIII), Nxb Tổng hợp
thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyễn Đức Dân (2006), Ký hiệu học - Một số vấn đề cơ bản (đề tài khoa học cấp
ĐHQG-HCM), Trường Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
4. Thích Phước Đạt (2008), Tín ngưỡng tứ pháp trong vai trò chấn hưng văn hóa Đại
Việt, Nguyệt san giác ngộ (152).
5. Thích Phước Đạt (2009), Phật giáo Việt Nam tiếp biến và hội nhập, Nguyệt san
giác ngộ (163).
6. Phạm Thị Minh Hải (2009), Logo thương mại dưới góc nhìn kí hiệu học, Luận văn
thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
7. Nguyễn Thị Ngân Hoa (2006), Tìm hiểu những nhân tố tác động tới quá trình biến
đổi ý nghĩa của biểu tượng trong ngôn ngữ nghệ thuật, Ngôn ngữ (10).
8. Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước (2002), Nxb Tôn giáo.
9. Nguyễn Thiện Giáp (2005), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục.
10. Nguyễn Thiện Giáp (2009), Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb Giáo
dục.
11. Carl Gustav Jung, Vũ Đình Lưu dịch (2007), Thăm dò tiềm thức, Nxb Tri thức.
12. Hà Thúc Minh (2010), Phật giáo Việt Nam và chữ Vạn, Nguyệt san Giác ngộ
(170).
13. Đỗ Thị Hồng Nhung (2005), Ý nghĩa biểu trưng của các con số trong tiếng Việt (có
so sánh với tiếng Hán), Khoá luận tốt nghiệp, Khoa ngữ văn trường Đại học Sư
Phạm thành phố Hồ Chí Minh.
14. Nguyễn Thị Hồng Ngân, Biểu tượng nước trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp,
Hội thảo khoa học trẻ I, Khoa ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội.
15. Hoàng Phê (chủ biên) (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.
16. Ferdinard De Saussure, Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (bản tiếng Việt 1973),
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
17. Floyd H. Ross, Tynette Hills, Thích Tâm Quang dịch (2007), Những tôn giáo lớn
trong đời sống nhân loại, Nxb Tôn giáo.
18. Nguyên Thành (2010), Một đời người một câu thần chú, Nxb Văn hóa thông tin.
19. Lý Toàn Thắng (2005), Ngôn ngữ học tri nhận từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn
tiếng Việt, Nxb Khoa Học Xã Hội.
20. Thích Tâm Thiện (1999), Tìm hiểu tôn giáo của đạo Phật, Nxb thành phố Hồ Chí
Minh.
21. Hoàng Tuệ (1984), Tín hiệu và biểu trưng, Cuộc sống ở trong ngôn ngữ, Nxb Hà
Nội.
22. Về một số biểu tượng trong phim Việt Nam ở nước ngoài (2007),
thegioidienanh.vn.
23. Robert Lado, Hoàng Văn Vân dịch (2003), Ngôn ngữ học qua các nền văn hóa,
Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
24. Howard Marshall, A. R. Millard, J. I. Packer, D. J. Wiseman, Viện Thần Học Tin
Lành Việt Nam dịch (2009), Thánh kinh tân từ điển, Nxb Phương Đông.
Tiếng Anh:
25. Umberto Eco (1976), A theory of semiotics, Indiana University.
26. David Fontana (1993), The serect language of symbols, Pavilion.
27. Carl G. Liungman (1994), Dictionary of symbols, W.W. Norton & Company.
28. Dean Moe (1985), Christian symbols handbook, Augsburg Publishing House.
29. Dagyab Rinpoche (1995), Buddhist symbols in Tibetan Culture, Wisdom
Publications.
30. Sign and symbols (2003), Pepin press.
31. Carroll E. Whittemore (1987), Symbols of the church, Abingdon.
Các trang web:
I. Cơ Đốc Giáo:
32. http://cuocsongviet.com.vn
33. http://www.seiyaku.com
34. http://www.home.att.net
35. http://www.en.wikipedia.org
36. http://www.religioustolerance.org
37. http://www.nazarite.net
38. http://www.library.nd.edu
39. http://www.symbols.com
40. http://www.fisheaters.com
41. http://www.commons.wikimedia.org
42. http://www.christiansymbols.net
43. http://www.symbols.net
44. http://www. eureka4you.com
45. http://www.prs.org
46. http://christianity.about.com
47. http://www.jesuswalk.com
48. http://www.princetonol.com
49. http://catholic-resources.org
50. http://www.gocek.org
51. http://www.godweb.org
52. http://www.prayerbook.com
53. http://www.christiansymbols.net
II. Phật Giáo:
54. http://www.falundafa.org
55. http://www.lieuquanhue.vn.com
56. http://www.religionfacts.com
57. http://www.nationsonline.org
58. http://www.buddhanet.net
59. http://www.buddhamind.info
60. http://www.thebigview.com
61. http://www.viewonbuddism.org
62. http://www.britannica.com
63. http://www.en.wikipedia.org
64. http://web.singnet.com.sg
65. http://gbgm-umc.org
66. http://www.khandro.net
67. http://www.apostles.com
68. http://www.stmargaretmary-moon.org
69. http://www.gbgm-umc.orgl
70. http://www.buddhist-tourism.comterms.html
71. http://www2.bremen.de
72. http://viewonbuddhism.org
…..
PHỤ LỤC A
I. ĐỊA CHỈ CÁC CHÙA VÀ NHÀ THỜ LỚN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1. Chùa:
Việt Nam Quốc tự, địa chỉ: 16B, đường 3 tháng 2, Q10
Chùa Lâm Tế, địa chỉ: 212A3 Nguyễn Trãi, P. Bến Thành, Q. 1, TP.HCM
Chùa Vĩnh Nghiêm, địa chỉ: 339 Nam Kì Khởi Nghĩa, phường 7, Q3
Chùa Huỳnh Kim, địa chỉ: 10/6 A, đường Quang Trung, P11, Q. Gò Vấp
Chùa Thới Hòa, địa chỉ: 7516A đường Quang Trung phường 10 quận Gò Vấp
Chùa Pháp Hoa, địa chỉ: 220A, Lê Văn Sĩ, p14, Q3
2. Các nhà thờ:
Nhà thờ Đa Minh, địa chỉ: 190 Lê Văn Sĩ, P10, Quận Phú Nhuận
Nhà thờ Đức Bà, địa chỉ: số 1, Công trường Công xã Pari, Q1
Nhà thờ Huyện Sĩ, địa chỉ: số 1, Tôn Thất Tùng, Q1
Nhà thờ Hạnh Thông Tây, địa chỉ: 53/7 Quang Trung, P11, Q. Gò Vấp
Nhà thờ Cha Tam (Nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê), địa chỉ: 25 Học Lạc, phường 14,
Q5
II. THỐNG NHẤT TÊN GỌI
(*) Từ trước đến nay người ta hay dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ về đạo
Thiên Chúa như: Ki tô giáo, Thiên Chúa giáo, Công giáo, Cơ đốc giáo. Những cách gọi này
gây ra nhiều sự nhầm lẫn đáng tiếc. Thật ra Thiên Chúa giáo chỉ về những tôn giáo tôn thờ
Đức Chúa Trời như: Do Thái giáo, Hồi giáo và Cơ đốc giáo (hay Kitô giáo). Từ “Kitô” xuất
phát từ chữ “Khristos” trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là "Đấng được xức dầu", dịch từ chữ
Messiah trong tiếng Hebrew.
Trong Cơ đốc giáo gồm các nhánh như: Công giáo (“Công giáo”: được dùng dể dịch
chữ Hy Lạp“katholikos”, với ý nghĩa đó là đạo chung, đạo phổ quát, đạo công cộng đón
nhận mọi người, chứ không riêng cho dân tộc hay quốc gia nào), Chính thống giáo, Tin lành
và Anh giáo.
Trong luận văn này chúng tôi nghiên cứu về hệ thống biểu tượng của Cơ đốc giáo nói
chung. Vì thế chúng tôi dùng thuật ngữ “Cơ đốc giáo. Để tránh bàn cãi trong quá trình sử
dụng thuật ngữ, trong luận văn này chúng tôi chọn “Cơ đốc giáo” để chỉ những tín đồ tôn
thờ Thiên chúa.
PHỤ LỤC B HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG CƠ ĐỐC GIÁO
Chữ viết Latin và Hy Lạp
Tên của Chúa
Tên của Chúa
Alpha và Omega
Con vật
Chiên con
Chim bồ câu
Cá
Bồ nông
Hoa lá
Cỏ ba lá
Hoa iris
Mão gai
Nhánh ô liu
Sự vật
Thánh giá Số 1
Ngôi sao Số 2
Mỏ neo Số 3
Tam vị nhất thể Số 7…
Con số
Màu sắc
Màu đen
Màu xanh
Màu vàng
Màu trắng
1. CÁC BIỂU TƯỢNG CƠ BẢN SỬ DỤNG TRONG CƠ ĐỐC GIÁO
2. BIỂU TƯỢNG CON VẬT TRONG CƠ ĐỐC GIÁO (ANIMAL SYMBOL IN
Thánh Francis
Bò, Thánh Antipas
Kì lân, Chúa Jesus
Đại bàng, Thánh Wenceslas
Sò, Thánh James
Chim công, biểu tượng cho sự hồi sinh
Bồ nông, Chúa Jesus
Hươu, Thánh Eustace
CHRISTIAN)
Hươu, Thánh Aidan
Bướm, Chúa Jesus
Chim Phượng hoàng, biểu tượng cho sự hồi sinh và sự bất tử
Tổ ong, Thánh Chrysostrum hay Chrysostom
Gà trống, Thánh Phierơ
Rồng, biểu tượng Satan
Quái vật sư tử đầu chim, biểu tượng chỉ Chúa Jesus
Đàn hạc và sư tử, biểu tượng chỉ vua Đavit
Đức Chuá Jesus chế ngự bóng tối
Ngựa, Thánh Theodore Tyro
Cậu bé chăn chiên, Thánh Cuthbert
Thiên nga, biểu tượng cho sự dối trá
Thánh Luke
Người chăn chiên, Chúa Jesus
Vỏ sò, biểu tượng cho lễ rửa tội của Chúa
Con bồ nông, biểu tượng cho sự hi sinh của Chúa
Bò, biểu tượng cho Chúa Jesus
Chó với ngọn nến, Thánh Dominic
Ốc sên, vỏ sò, Thánh Lydia
Rồng, Thánh Margaret
Chim bồ câu, Chúa Jesus
Chim ưng, Thánh Basil
Chim bồ câu với nhánh oliver, biểu tượng hòa bình
BT Chi-Rho, giỏ, chim bồ câu ngậm nhành olive
Chim bồ câu biểu tượng cho hòa bình
Hình ảnh chim bồ câu trang trí trên cửa kính
Hai mỏ neo, chim bồ câu ngậm nhành oliver.
Chim và nhánh nho, biểu tượng cho máu của Đấng Christ
Chiên bị hiến tế
Chiên
Chiến thắng của Chiên con, và cuốn sách với 7 con dấu
Biểu tượng cho nỗi thống khổ của Chúa Jesu
Chiên con và 4 tác giả Phúc Âm
Thiên đường Jerusalem
Chiên con nằm trên quyển sách có bảy con dấu
Chiên con bằng chất liệu đồng thau trên bệ thờ, thánh đường ở Kentucky
Thánh Cuthbert
Chiên con, Thánh Agnes
Chiên đứng với ngọn cờ chiến thắng
12 con chiên, biểu tượng cho 12 tông đồ
Rắn, Thánh Hilda
Rắn và quả táo
Rắn và thế giới
Rắn và cỏ ba lá, Thánh Patrick
Biểu tượng hình con cá
Biểu tượng hình con cá
Biểu tượng hình con cá
Biểu tượng hình con cá
Jesus con của Đấng cứu thế
Cá và sách, biểu tượng của Simon
Biểu tượng hình con cá
Biểu tượng hình con cá
Cá, Chúa Jesus
Biểu tượng hình con cá
Biểu tượng hình con cá tìm thấy trên hầm mộ
Biểu tượng hình cá ban đầu được tạo nên từ các kí tự Hy Lạp ΙΧΘΥΣ
Sư tử có cánh, thánh Mark
Chim đại bàng, thánh John
ANDREW BARTHOLOMEW
JOHN
JAMES THE GREATER
JAMES THE LESS
JUDE
MATHEW
MATHIAS
PETER
PHILIP
THOMAS
SIMON
3. CÁC TÔNG ĐỒ
PETER
PHILIP
THOMAS
ANDREW
JUDE
4. TẬP HỢP CÁC BIỂU TƯỢNG KHÁC VỀ CÁC TÔNG ĐỒ
SIMON
BARTHOLOMEW
JAMES THE GREATER
JAMES THE LESS
JOHN, AN APOSTL E
MATHEW
MATHIAS
THÁNH AGNES THÁNH AIDAN THÁNH ALBAN
THÁNH AGATHA
THÁNH AMBROSE
THÁNH ANNE
THÁNH ATHANASIUS
THÁNH AUGUSTINE
THÁNH ANTHONY OF PADUA
THÁNH AUGUSTINE OP HIPPO
THÁNH BASIL
THÁNH BEDE
THÁNH BRIDE
THÁNH BERNARD
THÁNH BONIFACE
THÁNH CLARE
THÁNH CECILIA
THÁNH CHRISTOPHER
THÁNH CHARLES
THÁNH CHRYSOSTOM
THÁNH CLEMANT
THÁNH COLUMBA
THÁNH CUTHBERT
THÁNH CYRIS CỦA JERUSALEM
THÁNH CYRIL CỦA ALEXANDRIA
5. TẬP HỢP CÁC BIỂU TƯỢNG VỀ CÁC VỊ THÁNH ĐỒ
THÁNH CYPRIAN
THÁNH DOMINIC
THÁNH DUNSTAN
THÁNH ELIZABETH
THÁNH EDWARD THE MARTYR
THÁNH FRANCIS
THÁNH GABRIEL
THÁNH GEORGE
THÁNH GREGORY
THÁNH HELENA
THÁNH HILDA
THÁNH IGNATIUS
THÁNH JOHN THE BAPTIST
THÁNH JOSEPH
THÁNH HILARY CỦA POITIERS
THÁNH LOUIS
THÁNH LYDA
THÁNH MARTHA
THÁNH MARTIN
THÁNH KATHERINE CỦA SIENNA
THÁNH MARY
THÁNH MARY MADARLEN
THÁNH MARY OF BETHANY
THÁNH MICHEL
THÁNH MARY CỦA CLEOPHAS
THÁNH MONICA
THÁNH OLAF
THÁNH NATHANIEL
THÁNH NICHOLAS
THÁNH PATRICK
THÁNH VALENTINE
THÁNH VINCENT
THÁNH WENCESLAS
THÁNH WILFRID
TẤT CẢ CÁC THÁNH
THÁNH RAPHAEL
THÁNH SIMEON
THÁNH STEPHEN
THÁNH SYLVANUS
THÁNH THADDAEUS
THÁNH TIMOTHY
THÁNH MATTHEW
THÁNH MARK
THÁNH LUKE
THÁNH JOHN
TG bốn đầu nhọn
TG Crucifix
TG, bt cho sự thương khó của Chúa
TG, bt cho sự thương khó của Chúa
TG giáo hội Công giáo La Mã
TG đồi Sọ
TG và mão gai
TG Lambeau
TG có trang trí hoa lyly
TG với hình mũi đinh
TG với biểu tượng 3 ngôi
TG với biểu tượng 3 ngôi
TG với biểu tượng 3 ngôi
TG Thánh Nicholas
TG Thánh James (trang trí bằng hoa iris và có 1 đầu nhọn)
TG (Ankh: chìa khoá)
TG với hình quả táo
TG với hình quả táo
TG với hình quả táo
TG được dùng ở các nhà thờ Ai Cập
TG với hình
Thánh giá
Thánh giá, bt
Thánh giá, bt
Thánh giá của
6. CÁC LOẠI THÁNH GIÁ
quả táo
thánh Giăng
của Giáo hoàng
Giáo hoàng
của Đức giám mục
TG lõm
TG tộc trưởng
TG dùng trong chiến trận
TG có khứa răng cưa
TG giáo hội chính thống giáo
TG tràng hạt
TG rỗng
TG ô vuông
TG thuộc dòng tu Dominic
TG với vòng tròn nhỏ
TG Thánh Peter
TG trang trí dây thừng
TG dây thừng bao quanh
TG dây thừng bao quanh
TG, bt của thánh Andrew
TG hình mỏ neo
TG hình chữ Y
TG hình mỏ neo
TG hình mỏ neo
TG hình mỏ neo
TG hình mỏ neo
TG hình mỏ neo
TG trang trí dây nho
TG trang trí hoa hồng Sharon
TG do Thánh Columba tạo nên tại đảo Iona
TG xứ Xen tơ TG hình chữ T
TG T. Phanxit
TG INRI
TG INRI
TG Hoà bình
TG Alpha & Omega
TG + các chữ viết tắt “Jesus
Sự hợp nhất giữa hai bt
Jesus, Đấng cứu thế
Christ, đấng chiến thắng”
alpha và Omerga
Đức mẹ Mari
Hồng ân của Chúa
TG dùng trong quân đội
Jesus Christ, con của Chúa, là đấng cứu thế
Jesus Christ, con của Chúa là đấng cứu thế
TG Phos Zoe
Thánh giá UC
Chi (X) Rho (P): Christ
TG Thánh Benedict
Jesus Christ “Iota” (I) “Chi” (X)
Rho (P)
Chi Pro
IC: Jesus Christ đấng cứu thế
Monogram of Jesus
Thánh giá Chi Pro và BT ba ngôi
Monogram of Jesus
TG thánh Valentine
TG bt của lễ cưới
TG bt của lễ cưới
TG bt của lễ cưới
TG với bt cá và bánh mì
Vũ khí dùng tra tấn Chúa Jesus
TG được trang trí áo choàng đỏ
TG và ngọn giáo
Thang và thánh giá
TG và BT ba ngôi
TG và BT ba ngôi
TG và chiên con
TG Thánh Brendan
TG Thánh đường
TG Hy Lạp
TG rỗng
TG của dân tộc Giecman
TG Thánh Chad
Thánh giá Jerusalem
TG Cantonee Thánh giá nhỏ TG hình vuông
TG với bt ba ngôi
TG hình quả táo
TG Đồi Sọ
TG rửa tội
TG hình mỏ neo
TG Consecration
TG Consecration
TG Thánh John TG Thánh John
TG Thánh John
TG dùng trong quân đội
TG Thánh John (Maltese)
TG Thánh John
TG chìa khóa
TG màu đỏ
TG Thánh Patrick
TG Thánh John
7. BIỂU TƯỢNG THÁNH GIÁ DÙNG TRONG NGÀNH Y TẾ
Gậy Asclepius
Rắn
BT chữ thập đỏ
Thánh giá Hy Lạp
BIỂU TƯỢNG Y TẾ BIỂU TƯỢNG CƠ ĐỐC GIÁO
BT về việc làm từ thiện
Thánh giá Hy Lạp
Ngôi sao sự sống
BT Jesus Christ
Bệnh về đường hô hấp
Thánh giá Lorraine
Thánh giá trang trí huy hiệu
Thánh giá đảo Malta
Thánh John
Thánh John
Thánh Andrew
Thánh Andrew
Sự chữa bệnh thần diệu
Thánh Andrew
8. MÀU SẮC CỦA THÁNH GIÁ
Màu cam
Thánh Lazarus Thánh Lazarus
Thánh Lazarus
Màu vàng
Gyronny Cross
Màu xanh
Màu tía
Màu đen
Dòng Đa Minh
Dây thừng
Màu trắng
Compony Cross
Cầu vồng
Thánh giá trang trí với nhiều mảnh ghép
TG Old Glory
Thánh James
Li băng
TG, bt của Chúa Jesus
Hoàng đạo
Thuỵ Sĩ
Đỏ tía
TG Thánh David
TG Thánh Patrick
Hội Giam Lí
9. THÁNH GIÁ TRANG TRÍ TRÊN LÁ CỜ
Florida
Jersey (cờ của nước Anh)
Burgundy (Tây Ban Nha)
Potchefstroom (Nam Phi)
St. Patrick, Valdivia & Alabama (tiểu bang của Mỹ)
Thánh giá, biểu tượng của Thánh Andrew
Fortaleza (Brazin) Rio de Janeiro
Katwijk (Hà Lan)
Nova Scotia (Canada)
Kanjiza (Serbia)
Zagubica, Serbia
Jamaica
Monterey (Hoa Kì)
Peñamellera Baja (Tây Ban Nha)
Confederate (bang của Mỹ từ 1861-1865)
St Albans (Anh)
Lado (Sudan)
Amieva (Tây Ban Nha)
Wijchen (Hà Lan)
Lapovoc, Serbia
Burundi
Quốc Kì Anh
Pecinci, Serbia
Koceljeva, Serbia
Ikurrina (vùng tự trị miền bắc TBN)
Scotland
Tallahassee, USA
Amsterdam, Hà Lan
Ouder-Amstel, Hà Lan
Amstelveen, Hà Lan
Strijen, Hà Lan
Breda, Hà Lan
Breukelen, Hà Lan
Cromstrijen, Hà Lan
Bernisse, Hà Lan
Hendrik-Ido- Ambacht, Hà Lan
Hy Lạp
Nhà thờ xứ Wales
Dominican
TP Marseille (Pháp)
TP Groningen (Hà Lan)
Thánh giá Hy Lạp
Ražanj, Serbia
Piedmont (Ý)
Cờ nước Anh
Obrenovac, Serbia
Quốc đảo Tonga
London
Cộng hoà Georgia
Montreal (Canada)
Gornji Milanov ac, Serbia
Leskovac, Serbia
Alderney (Anh )
Đảo Sardinia (Ý)
Sitges (Tây Ban Nha)
Guernsey (thuộc Vương quốc Anh)
Đảo Herm (thuộcGuerns ey )
Čukarica, Serbia Starčevo, Serbia
Zhytomyr Obl ast, Ukraine
Cộng hoà Malta
Alderney (thuộc Guernsey)
St. David, Wales
Quebec (Canada)
Morcín (Tây Ban Nha)
St. Petroc, Devon (vương quốc Anh)
St. Piran, Cornwall (Vương quốc Anh)
Dominica
De Haan, Bỉ
Đảng Dân Chủ, Trung Quốc
Switzerland & Santa Cruz de Mompox
Serbian cross
Arandjelovac
Kragujevac
Surdulica
Vozdovac
Vracar
Zvezdara
Biểu tượng thánh giá của người Secbi được sử dụng trên cờ tôn giáo của liên bang Nam Tư
Iceland
Thuỵ Điển
Phần Lan
Đảo Åland (Phần Lan)
Shetland & Calais (Scotlen)
Đan Mạch
Volyn, Ukraine
Na Uy
Thánh giá Bắc Âu
Đảo Faroe (Đan Mạch)
Bayamón (thuộc Puerto Rico)
Vepsia
São Paulo, Brazil
Đảo Orkney (Scotlen)
Christian
Slovakia
Arilje, Serbia
Các loại thánh giá khác
Stari Grad, Serbia
Free French
Asturias (TBN)
Sobrescobio (TBN)
Ternopil Oblast, Ukraine
Sumy Oblast, Ukraine
Adjuntas (Puerto Rico)
Vrnjačka Banj a, Serbia
Rivne Oblast, Ukraine
Vinnytsia Oblast, Ukraine
Poltava Oblast, Ukraine
Barajevo, Serbia
Čajetina, Serbia Kukljica, Croatia
Covilhã, Bồ Đào Nha
Occitan, (Pháp)
Horni Mostenice, Czech Republic
Crossland
Indian flag of
New Mexico,
Vinnytsia
Kuna, Panama &
Banner
Jainism
Colombia
USA
city, Ukraine
Nhà thờ Đa Minh
Nhà thờ Đức Bà
Nhà thờ Hạnh Thông Tây
10. CÁC LOẠI THÁNH GIÁ Ở CÁC NHÀ THỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nhà thờ Huyện Sĩ
Nhà thờ Cha Tam
11. TAM VỊ NHẤT THỂ (THE TRINITY)
BT ba ngôi
BT ba ngôi
BT ba ngôi
BT ba ngôi trong Kinh Thánh
BT ba ngôi
BT ba ngôi
BT ba ngôi trên cửa sổ
Vòng tròng và hình tam giác, bt ba ngôi
Hoa iris, bt ba ngôi
BT ba ngôi
BT ba ngôi
BT ba ngôi của người Xento
3 con cá, BT ba ngôi
Sự kết hợp của ba ngôi
Hoa iris, bt ba ngôi
Sự kết hợp của ba ngôi
BT ba ngôi
BT ba ngôi
BT ba ngôi
BT ba ngôi
BT ba ngôi
BT ba ngôi hình ba lá
BT ba ngôi mô phỏng hình dáng cái khiên
BT ba ngôi với 3 vòng tròn lồng vào nhau
BIỂU TƯỢNG
TÊN
Nhà thờ Đa Minh
Thánh Luca
Thánh Marco
Thánh Gioan
Thap chuông
12. BIỂU TƯỢNG Ở CÁC NHÀ THỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đầu rồng
Chim bồ câu
Thập giá chìa khóa
Chim bồ câu
Thánh giá
Thánh giá
Nhà thờ Đức Bà
BT Tam vi nhất thể
Alpha và Omega
Thánh giá
Thánh giá
Tên Chúa
Mắt Chúa
Nhà thờ Hạnh Thông Tây
Thánh giá
BT ba ngôi
BT Omega
Bàn thờ
Nhà thờ Huyện Sĩ
Ngôi sao 6 cánh
Chiên con
Chim bồ nông
Ngôi sao tám cánh
Nhà thờ Cha Tam
Hình tròn
Thánh giá
Thánh giá
Thánh giá
BT tam vị nhất thể
Hoa sen
PHỤ LỤC C HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG PHẬT GIÁO
Dấu chân Phật
1. DẤU CHÂN PHẬT
Dấu chân Phật làm bằng sơn mài với 108 biểu tượng tốt
Dấu chân Phật (Gandhara / Swat Area, Pakistan) 2nd - 3rd centuries A.D.,
Dấu chân Phật tại Sanchi
Dấu chân Phật bằng đá, 1st-2nd century
Dấu chân Phật bằng đá vôi trên tháp chứa hài cốt Amaravati, Ấn Độ, 1st cent. BC.
Dấu chân Phật và hoa, tại đền Mahbodhi, Ấn Độ
Dấu chân Phật tp cổ Saraburi, Bangkok, Thai Lan
Dấu chân Phật
Dấu chân Phật tại Thái Lan (với hoa và đồng xu)
Dấu chân Phật với những biểu tượng của Phật giáo, Srilanka
Dấu chân Phật xuất hiện trong nghệ thuật vào TK 16
Dấu chân Phật tại Settawya Paya, Myanmar
Tranh về dấu chân Phận, Thái Lan
Dấu chân Phật tại bảo tàng nghệ thuật
Tập hợp 108 tướng tốt của Phật
Dấu chân Phật tại đền Ananda Pahto
Dấu chân Phật tại Shwemoktaw Paya, Pathein.
Dấn chân Phật lớn ở đền Wat Bowon, Thái Lan Dấu chân Phật nằm nghiêng, Bangkok
Dấu chân Phật, Pakistan
Dấu chân Phật, Pakistan
Dấu chân Phật, Myanmar
Dấu chân Phật nằm nghiêng, tại Myanmar
Dấn chân và biểu tượng bánh xe luân hồi
Dấu chân Phật tại Tây Tạng
Dấu chân Phật, Nhật Bản
Dấu chân Phật tại đền Gokurakuji, Nhật Bản
Dấu chân Phật trên đá, tại đền Yakushi, Nhật Bản
Dấu chân Phật thời Edo, tại đền Kannonji, Nhật Bản
2. BIỂU TƯỢNG CON VẬT TRONG PHẬT GIÁO (THE ANIMAL SYMBOL IN
Rồng
Hổ
Sư tử trắng
Chim ưng khổng lồ
Rồng Tây Tạng
Hổ Tây Tạng
Hươu cái
Sư tử trắng là biểu tượng quốc gia của Tây Tạng
Chim Phượng hoàng
Bò Tây Tạng
Bò Tây Tạng
Bốn đạo hữu hòa thuận
BUDDHIST)
Bốn đạo hữu hòa thuận
Cá vàng
Cá vàng
Cá vàng
Ba con vật lai
fur-bearing fish (con của rái cá và cá)
Sư tử tám chân (con của chim ưng và sư tử)
makara crocodile (con của ốc sên và cá sấu )
Ngựa trắng
Biểu tượng tam bảo
Biểu tượng tam bảo, tìm thấy trên tháp chứa hài cốt Sanchi, 1st century BC
Biểu tượng tam bảo trên dấu chân Phật 1st century CE, Gandhara.
Sự kết hợp của các biểu tượng Phật giáo, trên cổng Torana tại bảo tháp Sanchi, 1st century BC.
Biểu tượng tam bảo
Biểu tượng tam bảo
Biểu tượng tam bảo
Dấu chân Phật và biểu tượng tam bảo, from 1st-2nd century Gandhara
3. THREE JEWELS SYMBOLS IN BUDDHIST (TAM BẢO)
Biểu tượng tam bảo Biểu tượng tam bảo
Biểu tượng tam bảo
Hai kiểu khác nhau về biểu tượng tam bảo
Biểu tượng tam bảo
Biểu tượng tam bảo
Biểu tượng tam bảo
Tư thế chấp tay trước ngực giữ biểu tượng tam bảo
Biểu tượng chữ Vạn
Biểu tượng chữ Vạn
Biểu tượng chữ Vạn trên ngôi chùa ở Đài Loan
Biểu tượng chữ Vạn trên ngưỡng của của ngôi nhà ở Maharashtra, Ấn Độ.
Ngai vàng và dấu chân Phật với biểu tượng mặt trời và chữ Vạn
Biểu tượng chữ Vạn theo chiều kim đồng hồ
Biểu tượng chữ Vạn ngược chiều kim đồng hồ
Biểu tượng chữ Vạn được vẽ trên đồ gốm vào thời kì đồ đá mới (2600- 2300 B.C), bảo tàng nghệ thuật Hồng Kông
Biểu tượng chữ Vạn
Biểu tượng chữ Vạn và
Biểu tượng chữ Vạn
Biểu tượng chữ
4. SWASTICA (THEO CHIỀU KIM ĐỒNG HỒ)
dấu chân Phật
Vạn(dùng trong đạo Hindu, Ấn Độ)
Biểu tượng chữ Vạn (đạo Hindu)
Biểu tượng chữ Vạn (đạo Jain)
Biểu tượng chữ Vạn trở nên phổ biến trong văn hóa
Biểu tượng chữ Vạn (đạo Hindu)
Biểu tượng chữ Vạn (nhà của người Ấn Độ)
Biểu tượng chữ Vạn trên đồ trang sức của người Ấn Độ
Biểu tượng chữ Vạn trong đám cưới của người Ấn Độ
Biểu tượng chữ vạn trên ngôi chùa ở Hàn Quốc
Biểu tượng chữ Vạn trên ngực của tượng Phật
Biểu tượng chữ Vạn phổ biến ở các ngôi chùa Hàn Quốc
Tượng Phật với biểu tượng chữ Vạn tại chùa Hanshan, Trung Quốc
Biểu tượng chữ Vạn trên bản đồ tàu điện ngầm ở Đài Bắc
Biểu tượng chữ Vạn ngược chiều kim đồng hồ
Biểu tượng chữ Vạn được trang hoàng ở đường viền mái nhà của ngôi chùa ở Hồng Kông
Biểu tượng chữ Vạn tại miếu thờ Phật ở Tokyo
5. SAUSWASTIKA (NGƯỢC CHIỀU KIM ĐỒNG HỒ)
Biểu tượng chữ Vạn và hoa sen trên cây đèn ở Hàn Quốc
Biểu tượng chữ Vạn trên cửa một ngôi chùa ở Hàn Quốc
Biểu tượng chữ Vạn trên ngực của Đức Phật (trên tờ tiền của người Hoa ở Bangkok, 2001)
Biểu tượng chữ Vạn trên ngực tượng Phật bằng đồng
Biểu tượng chữ Vạn tại Sensoji
Biểu tượng chữ Vạn trên đá gần Ilkley, phía Tây Yorkshire
Văn phòng hành chính Woljeongsa Hàn Quốc, có biểu tượng chữ Vạn hết sức ấn tượng
Dấu hiệu chữ Vạn trên ngực của tượng Phật
Cờ của Đảng quốc xã
Cờ của Đảng quốc xã
Cờ của Đảng quốc xã
Cờ của Đảng quốc xã
Cờ nghi thức đặc biệt của tổng thống Phần Lan
Cờ của quân đội Đức
Cờ của Đảng quốc xã
Chim đại bàng và biểu tượng chữ vạn trên lá cờ
Đền thờ Hindu treo cờ có biểu tượng chữ Vạn, Sarahan India
Chim đại bàng và biểu tượng chữ vạn trên lá cờ của đế chế Đức
Cờ nước Đức: chữ vạn,thánh giá,
Cờ đuôi nheo được gắn trên
Cờ nước Mỹ, năm 1932
Cờ của Đảng quốc xã
Cờ Hy Lạp với biểu tượng chữ vạn
6. BIỂU TƯỢNG CHỮ VẠN TRÊN LÁ CỜ
chim đại bàng
xe sĩ quan cao cấp Đức
Cờ của không quân Phần Lan
Cờ của đạo Tainism (Ấn Độ)
Cờ của Stamfordshire năm 2004
Cờ của thổ dân Panama và miền Tây Bắc Colombia
Cờ nước Mỹ với biểu tượng chữ vạn, năm 1915
7. BIỂU TƯỢNG CHỮ THẬP NGOẶC ĐẢNG QUỐC XÃ SỬ DỤNG (THE NAZI
Chim đại bàng và biểu tượng chữ vạn
Cờ của Đảng quốc xã
Chim đại bàng và biểu tượng chữ vạn (biểu tượng của quốc gia)
Tấm áp phích chính trị kêu gọi bầu cử, tháng 11/1932
Cờ của Đảng quôc xã
Biểu tượng của Đảng quốc xã
Biểu tượng của Đảng quốc xã
Biểu tượng của Đảng quốc xã
Biểu tượng của Đảng quốc xã
Các biểu tượng của Đức quốc xã: bao gồm Swastika (chữ vạn)
Biểu tượng của Đảng quốc xã
Tranh biếm họa, so sánh hai biểu tượng: ngôi sao Davit và biểu tượng của Đảng quốc xã, cho rằng chúng giống nhau (Ad-Dustour, November 13, 2000).
SWASTICA)
Đảng quốc xã
Biểu tượng của Đảng quốc xã
Con tem có hình ảnh biểu tượng của ĐQX treo trên giá treo cổ
Phụ nữ Tiệp Khắc treo cờ ĐQX, đề phòng quân đội Đức chiếm đóng, 30/9/1938
Thánh giá và biểu tượng chữ vạn (được sử dụng trong ĐQX)
Con tem có biểu tượng chim đại bàng và biểu tượng chữ vạn
Hitler với các thành viên ĐQX vào năm 1030
Máy bay nhào lộn trên không có biểu tượng của ĐQX, được trình diễn trong Olympic mùa hè, 1936, trưng bày tại bảo tàng hành không Ba Lan
Chùa Huỳnh Kim
Chùa Huỳnh Kim
Chùa Huỳnh Kim
Chùa Thới Hòa
Chùa Thới Hòa
Chùa Thới Hòa
Chùa Lâm Tế
Chùa Thới Hòa
Chùa Lâm Tế
Chùa Vĩnh Nghiêm
Chùa Vĩnh Nghiêm
Chùa Vĩnh Nghiêm
Việt Nam Quốc Tự
8. SWASIKA Ở CÁC CHÙA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
9. BIỂU TƯỢNG Ở CÁC CHÙA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TÊN
BIỂU TƯỢNG
Chùa Huỳnh Kim
Hoa sen
Long chầu nguyệt
Bánh xe pháp
Chùa Lâm Tế
Hình tròn
Hoa sen
Cá chép hóa rồng
Chùa Thới Hòa
Bánh xe pháp
Long chầu nguyệt
Hoa sen
Bánh xe pháp
Bình quí
Hoa sen
Bánh xe pháp
Bánh xe pháp
Chùa Vĩnh Nghiêm
Bánh xe pháp
Chữ vạn
Bảo tháp
Hoa sen
Việt Nam Quốc Tự
Hoa sen
Hoa sen
Chữ Vạn
Hoa sen
Bánh xe pháp
Cá chép hóa rồng Long chầu nguyệt
Long chầu nguyệt
Chùa Pháp Hoa
Hoa sen
Bình quí
Dây trường thọ
Tam bảo
10. CÁC NHÓM BIỂU TƯỢNG TIÊU BIỂU TRONG PHẬT GIÁO
TÁM BIỂU TƯỢNG VỀ VẬN MAY (THE EIGHT SYMBOLS OF GOOD FORTUNE)
Cá vàng
Vỏ ốc xà cừ
Hoa sen
Cái lọng
Bình quí
Bánh xe pháp luân
Dây trường thọ
Dấu hiệu chiến thắng
BỐN ĐẠO HỮU HÒA THUẬN (THE FOUR HARMONIOUS BROTHERS)
1. Voi 2. Khỉ 3. Thỏ 4. Gà gô
NĂM BIỂU TƯỢNG VỀ SỰ VUI MỪNG (THE FIVE QUALITIES OF ENJOYMENT)
TÂY TẠNG
1. Gương 2. Sáo 3. Chậu hương trầm 4. Trái cây 5. Dải lụa
SÁU BIỂU TƯỢNG VỀ CUỘC SỐNG TRƯỜNG THỌ
1. Núi đá 2. Nước 3. Cây 4. Ông lão 5. Đôi sếu 6. Linh dương
BA CON VẬT LAI (THE THREE SYMBOL OF VICTORY IN THE FIGHT AGAINST DISHARMONY)
1. Sư tử (Eight– legged lion) 2. Cá (Fur–bearing fish) 3. Cá sấu (Makara Crocodile)

