intTypePromotion=3

Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học: Từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt (đối chiếu giữa các phương ngữ)

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:116

0
137
lượt xem
50
download

Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học: Từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt (đối chiếu giữa các phương ngữ)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học: Từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt (đối chiếu giữa các phương ngữ) giới thiệu một số vấn đề về từ và phương ngữ tiếng Việt; từ ngữ chỉ thực vật trong các phương ngữ tiếng Việt xét về mặt cấu tạo và ngữ âm - ngữ nghĩa.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học: Từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt (đối chiếu giữa các phương ngữ)

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Lê Hồng Nhiên TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG TIẾNG VIỆT (ĐỐI CHIẾU GIỮA CÁC PHƯƠNG NGỮ) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Lê Hồng Nhiên TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG TIẾNG VIỆT (ĐỐI CHIẾU GIỮA CÁC PHƯƠNG NGỮ) Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 60. 22. 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS. ĐẶNG NGỌC LỆ Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
  3. 2 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện của rất nhiều người, sau đây là lời cảm ơn chân thành của tác giả: Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn - PGS.TS. Đặng Ngọc Lệ - đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn, giúp tôi hoàn thành luận văn. Thứ hai, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy, cô Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là PGS.TS. Hoàng Dũng đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt thời gian học tập tại Trường. Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, luôn ủng hộ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn.
  4. 3 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... 2 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................... 6 DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ 7 MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 8 0.1. Lí do chọn đề tài..................................................................................... 8 0.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ................................................................... 10 0.3. Mục đích nghiên cứu............................................................................ 12 0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................... 12 0.5. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................... 13 0.6. Những đóng góp của luận văn ............................................................. 15 0.7. Cấu trúc luận văn ................................................................................. 16 Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỪ VÀ PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT . 17 1.1. TỪ TIẾNG VIỆT ................................................................................. 17 1.1.1. Khái niệm....................................................................................... 17 1.1.2. Cấu tạo ........................................................................................... 19 1.1.3. Ngữ âm - ngữ nghĩa ...................................................................... 21 1.2. PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT ............................................................ 24 1.2.1. Khái niệm ..................................................................................... 24 1.2.2. Sự hình thành ................................................................................ 25 1.2.3. Phân vùng ..................................................................................... 29 Chương 2. TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG CÁC PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT XÉT VỀ MẶT CẤU TẠO ....................................................... 32 2.1. TỪ ........................................................................................................ 32 2.1.1. Phương ngữ Bắc ............................................................................ 32 2.1.2. Phương ngữ Trung ........................................................................ 33 2.1.3. Phương ngữ Nam .......................................................................... 33
  5. 4 2.2. NGỮ ..................................................................................................... 36 2.2.1. Phương ngữ Bắc ........................................................................... 36 2.2.2. Phương ngữ Trung ........................................................................ 38 2.2.3. Phương ngữ Nam .......................................................................... 41 Chương 3. TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG CÁC PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT XÉT VỀ MẶT NGỮ ÂM - NGỮ NGHĨA .............................. 48 3.1. TỪ NGỮ VỪA CÓ SỰ BIẾN THỂ VỀ NGỮ ÂM VỪA CÓ SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỀ NGHĨA ...................................................................... 48 3.3.1. Biến thể phụ âm đầu ...................................................................... 48 3.3.2. Biến thể phần vần .......................................................................... 51 3.3.3. Biến thể thanh điệu ........................................................................ 55 3.2. TỪ NGỮ CÓ SỰ BIẾN THỂ VỀ MẶT NGỮ ÂM VÀ CÓ BIẾN ĐỔI ÍT NHIỀU VỀ NGHĨA................................................................................ 57 3.3. TỪ NGỮ CÓ HÌNH THỨC NGỮ ÂM TRÙNG NHAU NHƯNG NGHĨA KHÁC NHAU ............................................................................... 60 3.4. TỪ NGỮ CÓ NGHĨA GIỐNG NHAU NHƯNG HÌNH THỨC NGỮ ÂM KHÁC NHAU ...................................................................................... 64 3.4.1. Lựa chọn những thuộc tính không giống nhau làm cơ sở khu biệt khi định danh ........................................................................................... 65 3.4.2. Xuất phát từ những nguồn gốc khác nhau .................................... 73 3.4.3. Lưu giữ từ ngữ cổ, từ ngữ địa phương ......................................... 77 3.5. MỞ RỘNG HOẶC THU HẸP DUNG LƯỢNG NGHĨA CỦA TỪ NGỮ ............................................................................................................ 81 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 85 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 88 PHỤ LỤC I...................................................................................................... 94 PHỤ LỤC II .................................................................................................... 96
  6. 5 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU Âm Ký hiệu Âm Ký hiệu 1. Nguyên âm đơn 5. Phụ âm i i k/c k ê e b b e ɛ m m a ��/a v v ư ɯ t t ơ ɤ th ť â ɤ� d đ ă ǎ n n u u x s ô o l l o ɔ ch c 2. Nguyên âm đôi p p iê/ ia i�e tr ʈ ươ/ưa ��� ng ŋ uô/ua u�o nh ɲ 3. Bán nguyên âm kh x u/o ṷ gi/d z i/y j g γ 4. Âm đệm r ʐ o/u w s ʂ
  7. 6 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DT : danh từ ĐT : động từ TT : tính từ ĐP : địa phương PN : phương ngữ PNB : phương ngữ Bắc PNN : phương ngữ Nam PNT : phương ngữ Trung TD : toàn dân YT : yếu tố YTPN : yếu tố phương ngữ YTTD : yếu tố toàn dân Từ ngữ TD : từ ngữ toàn dân Từ ngữ ĐP : từ ngữ địa phương
  8. 7 DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 2.1: Số lượng và tỉ lệ các tiểu loại từ giữa các PN 34 Bảng 2.2: Số lượng và tỉ lệ từ TD và ĐP giữa các PN 35 Bảng 2.3: Số lượng và tỉ lệ từ và ngữ giữa các PN 43 Bảng 2.4: Số lượng và tỉ lệ các tiểu loại ngữ giữa các PN 43 - 44 Bảng 2.5: Số lượng và tỉ lệ các tiểu loại ngữ láy giữa các PN 44 Bảng 2.6: Số lượng và tỉ lệ ngữ láy TD và ĐP giữa các PN 45 Bảng 2.7: Số lượng và tỉ lệ YT tạo ngữ của ngữ ghép giữa các PN 45 - 46 Bảng 2.8: Số lượng và tỉ lệ YT từ loại theo sau DT chỉ loại giữa các PN 46 - 47 Bảng 3.1: Sơ đồ sự đối ứng các từ ngữ vần mở 54 Bảng 3.2: Thống kê từ ngữ có hình thức ngữ âm trùng nhau nhưng nghĩa khác nhau giữa các PN 60 - 63 Bảng 3.3: Số lượng và tỉ lệ các đặc trưng được chọn định danh thực vật giữa các PN 67 - 69 Bảng 3.4: Số lượng, tỉ lệ và hạng các đặc trưng được chọn định danh thực vật giữa các PN 69 - 71 Bảng 3.5: Thống kê từ ngữ TD, từ ngữ ĐP, từ ngữ cổ giữa các PN 77 - 79 Bảng 3.6: Số lượng và tỉ lệ các tiểu loại từ ngữ có nghĩa giống nhau nhưng hình thức ngữ âm khác nhau giữa các PN 80 Bảng 3.7: Thống kê từ ngữ có sự mở rộng hoặc thu hẹp dung lượng nghĩa giữa các PN 82
  9. 8 MỞ ĐẦU 0.1. Lí do chọn đề tài Thực vật có vai trò quan trọng trong đời sống con người và xã hội. Từ khi xuất hiện, loài người đã tiếp xúc với thực vật. Con người đã biết tận dụng chúng để phục vụ nhu cầu vật chất hàng ngày như ăn, mặc, ở đi lại,… dần dần họ còn biết tận dụng chúng để trang trí, thưởng thức và nhiều loại đã trở thành những biểu tượng tinh thần cao quý. Cũng từ đó, loài người đã phải tìm cách gọi tên để ghi nhớ và phân biệt các loại cây cối với nhau. Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, địa hình có sự phân hóa đa dạng. Do đó, giới thực vật ở đây đa dạng về chủng loại, nhiều về số lượng và có giá trị về chất lượng. Mỗi loại có những thuộc tính, công dụng khác nhau. Khi đặt tên cho những loại thực vật này, người Việt Nam thường dựa vào một hoặc một số thuộc tính nào đó của chúng, làm căn cứ để hiểu, phân biệt. Vì vậy, định danh có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc sống con người. Nếu đối tượng xung quanh con người không có tên gọi thì con người sẽ không phân biệt được đâu là A, đâu là B và sẽ ảnh hưởng đến quá trình giao tiếp và tư duy. Đỗ Hữu Châu đã từng nhận định: “Con người cần đến các tên gọi các đối tượng xung quanh như cần đến không khí” vì “mất cái tên gọi con người sẽ mất một trong những khả năng định hướng trong thế giới quanh mình” [10; 192]. Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia thống nhất, là ngôn ngữ chung cho cả 54 dân tộc anh em sống trên lãnh thổ Việt Nam. Xét ở mặt bất biến, ngôn ngữ quốc gia là thống nhất cho toàn xã hội vì “là cái chung cho mọi người trong một xã hội, không thể nào mảy may vi phạm nó được, vi phạm nó lập tức sự giao tiếp bị chặn lại, người nói và người nghe sẽ không hiểu nhau” [12; 34]. Nhưng trong phạm vi cái bất biến đó, vẫn có những độ xê dịch khá lớn, cho từng YT, từng cấu trúc. Vì vậy, tiếng Việt thống nhất trong sự đa dạng. Tính
  10. 9 đa dạng của tiếng Việt thể hiện trên nhiều mặt, ở phong cách thể hiện, ở hiệu quả thể hiện, ở tính phân tầng xã hội, ở khu vực dân cư. Xét trên bình diện địa lý, như chúng ta đã biết, lịch sử phát triển của Việt Nam luôn phải trải qua những biến động với những giai đoạn lịch sử khác nhau. Lịch sử văn hóa Việt Nam gắn liền với quá trình Nam tiến của dân tộc. Vì vậy, ở mỗi vùng miền khác nhau, có những đặc điểm về mặt lịch sử - tự nhiên khác nhau. Sự giao lưu, tiếp xúc các giá trị văn hóa cũng có sự khác nhau rõ rệt. Điều đó được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là ngôn ngữ - một thành tố quan trọng của văn hóa. Những người Việt Nam ở các khu vực địa lý khác nhau, do ảnh hưởng bởi những điều kiện tự nhiên – xã hội, sự giao lưu, tiếp xúc khác nhau như vậy nên cũng cùng một loại thực vật, họ có thể có những cách nhìn nhận, đặt tên khác nhau. Sự khác nhau đó không chỉ đơn thuần là sự khác nhau về cách phát âm, từ ngữ mà đằng sau nó còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, cách tri nhận mang đậm đặc điểm tâm lý của người dân từng vùng. Sự khác nhau này tuy góp phần làm cho tiếng Việt thêm phong phú, đa dạng nhưng cũng gây ra nhiều khó khăn trong việc giao tiếp, hiểu biết lẫn nhau của những người ở các vùng miền khác nhau. Nhưng hiện nay lại chưa có công trình nào quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống, để khám phá ra những đặc điểm có tính quy luật, những khác biệt chủ yếu về mặt cấu tạo, ngữ âm - ngữ nghĩa trong cách định danh từ ngữ chỉ thực vật. Mặt khác, đối chiếu từ ngữ chỉ thực vật cũng có thể giúp chúng ta thấy rõ hơn vai trò của từ ngữ ĐP trong một vài lĩnh vực về mặt sử dụng, như trong sáng tạo văn học nghệ thuật, trong công cuộc giữ gìn sự trong sáng và chuẩn hóa ngôn ngữ; là cơ sở khoa học cho sự phân vùng PN tiếng Việt.
  11. 10 Xuất phát từ yêu cầu lí luận và thực tiễn như trên, thiết nghĩ đề tài: “Từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt (đối chiếu giữa các phương ngữ)” được thực hiện sẽ mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực, đóng góp cùng các tác giả đi trước nghiên cứu từ ngữ chỉ thực vật trong các PN tiếng Việt một cách toàn diện hơn. 0.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu Trong lịch sử phát triển văn minh nhân loại, thực vật luôn giữ một vai trò quan trọng. Vì vậy, một hệ thống từ ngữ chỉ thực vật được ra đời từ rất sớm trong ngôn ngữ loài người. Chính điều này cũng đã thu hút sự chú ý của các nhà khoa học nghiên cứu về từ ngữ chỉ thực vật. Trong tiếng Việt, chúng ta có thể kể đến đóng góp của các nhà nghiên cứu với các công trình tiêu biểu theo thời gian như sau: Năm 1999, trong công trình “Vai trò của thực vật trong đời sống văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á”, Trần Ngọc Thêm [54] đã đi sâu phân tích vai trò của thực vật trong ăn uống, trồng trọt (văn minh cây cỏ); ở, đi lại, đồ dùng (văn minh tre gỗ) và trong tôn giáo, ngôn ngữ, nghệ thuật (đời sống tinh thần) của người Việt Nam . Bốn năm sau, Trong Luận án Từ ngữ chỉ động thực vật trong tiếng Việt và tiếng Anh [70], Nguyễn Thanh Tùng đã so sánh từ ngữ chỉ thực vật tiếng Việt và tiếng Anh trong từ điển giải thích, trong thành ngữ và tục ngữ dựa trên cơ sở phân loại từ ngữ chỉ thực vật dùng theo nghĩa đen và nghĩa bóng. Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra những đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của hai dân tộc Việt và Anh với hai loại hình ngôn ngữ và văn hóa khác biệt nhau. Hồ Văn Tuyên (2005) trong Đặc điểm định danh từ vựng trong phương ngữ Nam Bộ” [71; 95 - 99], tác giả có đề cập đến cách định danh thực
  12. 11 vật ở Nam Bộ xét về mặt cấu tạo, phương thức biểu thị và ngữ nghĩa. Qua cách định danh này, tác giả cho ta thấy rõ nét văn hóa rất đặc trưng trong tư duy của người Việt nói chung và người Nam Bộ nói riêng. Năm 2008, với công trình “Văn minh cây cỏ trong văn hóa Việt Nam”, Triệu Thế Hùng [29] lại một lần nữa bàn về vai trò của thực vật trong đời sống văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, quan niệm văn minh cây cỏ của tác giả bao hàm cả văn minh cây cỏ, văn minh tre gỗ và đời sống tinh thần theo quan niệm của Trần Ngọc Thêm. Cách quan niệm tuy có khác nhau nhưng nhìn chung bài viết cũng không có phát hiện gì mới so với những phát hiện của Trần Ngọc Thêm. Trong công trình “Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt” [53; 247-254], Lý Toàn Thắng đi sâu vào việc nghiên cứu ngữ nghĩa của từ “cây” và sự phân loại dân dã thực vật ở người Việt”. Ông xác định có 11 ý nghĩa và cách dùng của từ cây và sự phân loại dân dã thực vật của người Việt, về cơ bản, không phải là nguyên lý “phân loại sinh học” mà quan trọng là tính chất về tri giác và văn hóa, và trong đó chủ yếu là nguyên lý “lấy con người làm trung tâm”. Năm 2010, trong công trình Đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy, Nguyễn Đức Tồn [65; 281 - 283] đã trình bày 18 loại đặc trưng được chọn làm cơ sở để định danh thực vật trong tiếng Việt có sự đối chiếu với tên gọi trong tiếng Nga, Cadắcstan, Anh. Thông qua bảng đối chiếu và cách tính hệ số tương quan về tư duy giữa các dân tộc, tác giả nhận thấy bộ lí do của tiếng Việt phong phú hơn các ngôn ngữ khác và khi định danh thực vật, tư duy người Việt gần với người Cadắcstan hơn, sau đó là người Anh. Trong công trình “Văn minh vật chất của người Việt” [60; 324], Phan Cẩm Thượng đã đề cập đến vai trò của thực vật trong mối quan hệ với sự phát triển nền văn minh vật chất của người Việt. Dựa trên mục đích sử dụng, ông
  13. 12 chia thế giới thực vật của người Việt thành “bốn loại rõ ràng: cây cho quả, cây cho gỗ, cây làm cảnh và cây hoa màu để ăn”. Tóm lại, từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt được các tác giả đi trước đề cập đến ở nhiều góc độ: văn hóa, tri nhận, đối chiếu. Tuy nhiên, ở đây các tác giả đối chiếu tiếng Việt với một hay một vài ngôn ngữ khác, chứ chưa đối chiếu từ ngữ chỉ thực vật trong nội bộ ngôn ngữ với nhau. Vì vậy, có thể nói rằng, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về từ ngữ chỉ thực vật nhằm tìm ra những khác biệt giữa các PN. Luận văn kế thừa và phát triển những thành tựu nghiên cứu liên quan đến từ ngữ chỉ thực vật của những người đi trước và xem chúng như chỗ dựa về mặt lý thuyết cho những miêu tả, lý giải và nhận định trong công trình nghiên cứu này. 0.3. Mục đích nghiên cứu Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm những mục đích sau: 1. Thông qua khảo sát các từ điển thường dùng và thực tế điền dã, người viết cố gắng thu thập từ ngữ chỉ thực vật có sự khác nhau trong định danh giữa các PN, sau đó thống kê, phân loại; 2. Đối chiếu từ ngữ chỉ thực vật giữa các PN xét về mặt cấu tạo, ngữ âm - ngữ nghĩa để làm rõ cách tri nhận, cũng như YT văn hóa, địa lý có ảnh hưởng đến quy luật định danh của từng PN nói riêng và Việt Nam nói chung. 3. Bên cạnh đó, thông qua đối chiếu nhóm từ ngữ chỉ thực vật giữa các PN, người viết rút ra những đặc trưng, những nét khác biệt chủ yếu về mặt cấu tạo, ngữ âm - ngữ nghĩa giữa các PN, có sự so sánh với ngôn ngữ TD. 0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt. Nói đến từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt, chúng ta có thể đề cập đến
  14. 13 nhiều vấn đề khác nhau. Tuy nhiên, trong công trình này, chúng tôi chỉ nghiên cứu từ ngữ chỉ thực vật trên các phương diện: đối chiếu cấu tạo, ngữ âm - ngữ nghĩa giữa các PN. Thực vật được người viết quan niệm ở đây là các loại cây cỏ. Các thực vật được chọn để đối chiếu phải là những thực vật có quan hệ gần gũi trong thực tiễn và có vai trò quan trọng trong đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được chúng tôi thu thập từ hai nguồn chủ yếu sau:  Từ điển • Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê chủ biên [45] • Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh của Nguyễn Nhã Bản [3] • Từ điển từ ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín [62] • Từ điển tranh về các loại củ, quả của Lê Quang Long [37] • Từ điển tranh về các loài hoa của Lê Quang Long [38] • Từ điển tranh về các loài cây của Lê Quang Long [39]  Điền dã Do giới hạn thời gian, chúng tôi không thể khảo sát hết tất cả các tỉnh mà chỉ chọn khảo sát điểm. Cụ thể như sau: • PNB, khảo sát các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội; • PNT, khảo sát các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh; • PNN, khảo sát các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh. 0.5. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
  15. 14  Phương pháp thống kê ngôn ngữ học Phương pháp thống kê được chúng tôi sử dụng để thống kê tất cả từ ngữ chỉ thực vật trong các từ điển thường dùng của Việt Nam, kết quả điền dã. Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành phân loại theo các nhóm từ nhất định. Các số liệu được phân tích theo tần suất, tỷ lệ nhằm tìm ra tính nổi trội của việc định danh và mối liên hệ giữa các đối tượng.  Phương pháp miêu tả Phương pháp miêu tả được chúng tôi sử dụng để làm rõ diện mạo và đặc điểm riêng của các từ ngữ chỉ thực vật trong ba PN tiếng Việt xét trên các bình diện: cấu tạo, ngữ âm - ngữ nghĩa.  Phương pháp phân tích ngữ nghĩa Đây là phương pháp đặc trưng rất quan trọng trong việc miêu tả đối tượng trên bình diện ngữ nghĩa, để từ đây xác định được đặc điểm của từ ngữ chỉ thực vật từng vùng miền khác nhau.  Phương pháp so sánh - đối chiếu Các đối tượng khảo sát được chúng tôi đối chiếu trên bình diện cấu tạo, ngữ âm – ngữ nghĩa nhằm tìm ra những nét tương đồng và khác biệt của từ ngữ chỉ thực vật giữa các PN. Đây là phương pháp quan trọng bậc nhất trong quá trình nghiên cứu.  Phương pháp điều tra – điền dã Phương pháp điều tra – điền dã được thực hiện nhằm hai mục đích cơ bản: Thứ nhất, thu thập thêm số liệu về từ ngữ chỉ thực vật giữa các PN; Thứ hai, kiểm tra, đối chiếu mức độ chính xác về từ ngữ chỉ thực vật được thu thập từ các từ điển thường dùng.
  16. 15 Như đã trình bày, chúng tôi tiến hành chọn và khảo sát điền dã ở một số tỉnh theo ba vùng PN. Ở mỗi tỉnh, chúng tôi chọn từ 15 đến 20 nhân chứng cho điều tra cách định danh về thực vật. Điều kiện về nhân chứng được chọn điều tra là: - Những người đã lớn tuổi (từ 45 tuổi trở lên); - Có trình độ văn hóa từ cấp 1 đến cấp 3; - Cư dân địa phương, cư trú ổn định tại địa bàn các tỉnh trên. Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp trên được vận dụng kết hợp; có khi tùy vào từng nội dung nghiên cứu, tùy vào từng đối tượng cụ thể mà sử dụng ưu tiên một phương pháp linh hoạt thích hợp trong từng trường hợp cụ thể. 0.6. Những đóng góp của luận văn Khi chọn đề tài này, luận văn hướng đến các trọng tâm sau: Về phương diện lý luận Luận văn góp phần làm rõ cách gọi tên về từ ngữ chỉ thực vật ở các PN; Lí giải những cách định danh thực vật khác nhau nhằm làm rõ đặc điểm của PN từng vùng, nhất là những loại thực vật mà cả ba vùng định danh khác nhau; Chỉ ra những quy luật, các YT ảnh hưởng đến quá trình định danh thực vật giữa các vùng miền khác nhau. Về phương diện thực tiễn Luận văn sẽ có những đóng góp thiết thực cho việc định hướng sử dụng ngôn ngữ TD để đáp ứng nhu cầu giao tiếp nói chung; Cung cấp tư liệu cho những nhà nghiên cứu về từ ngữ chỉ thực vật, hay đối chiếu giữa các PN;
  17. 16 Cung cấp dữ liệu cho việc biên soạn các từ điển đối chiếu giữa các PN một cách chính xác. 0.7. Cấu trúc luận văn Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, chính văn của luận văn gồm ba chương. Chương một trình bày một số vấn đề chung về từ và PN tiếng Việt. Trên cơ sở đúc kết những thành tựu của các nhà nghiên cứu trước đó, chúng tôi sẽ đưa ra quan niệm về từ tiếng Việt: khái niệm, cấu tạo, đặc trưng về mặt ngữ âm - ngữ nghĩa; PN tiếng Việt: khái niệm, sự hình thành, phân vùng. Đó sẽ là những tiền đề cơ sở lí luận quan trọng để chúng tôi khảo sát ở các chương tiếp theo. Chương hai đối chiếu cấu tạo về từ ngữ chỉ thực vật trong các PN tiếng Việt. Từ đó, rút ra những điểm tương đồng và khác biệt về cấu tạo giữa các PN. Chương ba đối chiếu ngữ âm - ngữ nghĩa về từ ngữ chỉ thực vật trong các PN tiếng Việt. Từ đó, rút ra những điểm tương đồng và khác biệt về mặt ngữ âm - ngữ nghĩa giữa các PN.
  18. 17 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TỪ VÀ PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT 1.1. TỪ TIẾNG VIỆT 1.1.1. Khái niệm Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ nhưng vấn đề nhận diện và định nghĩa từ cho tới nay vẫn chưa có sự thống nhất. F. de Saussure đã viết “vì từ, mặc dầu khó định nghĩa, vẫn là một đơn vị mà trí tuệ buộc phải chấp nhận, một cái gì đó có địa vị trung tâm trong cơ thể của ngôn ngữ” [17; 214]. Ở Việt Nam, cho đến nay, vấn đề ranh giới từ vẫn đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi. Trên đại thể, chúng tôi nhận thấy có hai khuynh hướng khác nhau trong cách giải quyết vấn đề ranh giới từ trong tiếng Việt. Khuynh hướng thứ nhất coi tiếng là từ. Đại diện tiêu biểu là Nguyễn Tài Cẩn [6], Nguyễn Thiện Giáp [18],... Nguyễn Tài Cẩn cho rằng tiếng là đơn vị cơ bản trong truyền thống ngữ văn Việt Nam. Trong hệ thống đơn vị ngữ pháp “có thể coi tiếng như một đơn vị đứng ở điểm giao nhau của hai hệ thống nhỏ” [6; 368]. Hai hệ thống nhỏ ấy là: Hệ thống 1, nửa tổ chức, nửa chức năng, có từ, cú vị, câu; Hệ thống 2, đơn thuần tổ chức, có tiếng, tổ hợp cố định (bao gồm từ ghép) và tổ hợp tự do (bao gồm đoản ngữ). Về hệ thống 2, tác giả viết “khi đi từ tiếng lên tổ hợp tiếng, tách tổ hợp cố định nói chung, tách từ ghép nói riêng với tổ hợp tự do, tách tổ hợp tự do thành đoản ngữ, mệnh đề,… lại là đi theo con đường đơn thuần tổ chức [6; 368]. Xét về mặt khối lượng và quan hệ nội tại giữa tiếng, từ ghép và đoản ngữ, tác giả cho rằng tiếng chặt hơn từ ghép, từ ghép chặt hơn đoản ngữ, và ngược lại, đoản ngữ lớn hơn từ ghép, từ ghép lớn hơn tiếng. Tác giả viết
  19. 18 “trong tiếng Việt, đi từ tiếng lên từ ghép hay từ từ ghép lên đoản ngữ rõ ràng là đi từ một từ bé lên một từ lớn hơn” [6; 352]. Có thể hình dung quan niệm của ông qua sơ đồ sau: Tiếng chặt Từ ghép ↓ Đoản ngữ lỏng bé → lớn Trong hệ thống này, tác giả cho rằng: từ ghép thuộc tổ hợp cố định, đoản ngữ thuộc tổ hợp tự do. Điểm khác biệt giữa hai tác giả này là ở chỗ: Nguyễn Thiện Giáp [18] không thừa nhận từ ghép là từ, còn tiếng được Nguyễn Thiện Giáp coi là từ (bao gồm cả những từ điển hình và những từ không điển hình). Từ đó, ông kết luận: “đường ranh giới rành mạch nhất, hiển nhiên nhất bao giờ cũng là đường ranh giới độc lập một bên là “tiếng” (từ điển hình, từ không điển hình) và một bên là “tổ hợp tiếng” (bao gồm từ ghép và các tổ hợp cố định còn lại)” Đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng thứ hai là các tác giả: Nguyễn Kim Thản [52], Đái Xuân Ninh [43], Hồ Lê [36], Hữu Đạt [16], Hoàng Văn Hành [22], Đỗ Hữu Châu [9], Nguyễn Văn Tu [67],... Nhìn chung, các tác giả đều cho rằng: 1. Để nhận diện từ, nhất thiết phải dựa vào ba tiêu chí: - Tính nhất thể về ngữ âm - Tính hoàn chỉnh về ngữ nghĩa - Tính độc lập về cú pháp 2. Tuy còn tồn tại những khó khăn nhất định, song có thể chấp nhận và vận dụng khái niệm hình vị vào để phân tích cấu trúc của từ tiếng Việt.
  20. 19 3. Dù còn có sự phức tạp trong sự phân định ranh giới, nhưng từ vẫn luôn là một thực thể, tồn tại với tư cách là một từ cơ bản của tiếng Việt, và khái niệm từ vẫn luôn là một khái niệm trung tâm của Việt ngữ học. 4. Từ tiếng Việt về cơ bản có thể phân thành: từ đơn, từ phức (bao gồm từ ghép và từ láy). Tuy nhiên, giữa các tác giả thuộc khuynh hướng thứ hai này vẫn còn tồn tại những điểm khác biệt về hệ thống phân loại, tiêu chí phân loại, sử dụng hệ thống thuật ngữ,… Có thể nói, mỗi khuynh hướng đều có những ưu nhược điểm riêng.Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi thống nhất theo quan niệm thứ hai, xem hình vị là đơn vị cơ bản để cấu tạo từ tiếng Việt. Đây cũng là quan điểm được nhiều nhà Việt ngữ học đồng tình. Từ đó, chúng tôi hiểu: từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa, hoạt động tự do, dùng để đặt câu. 1.1.2. Cấu tạo Hiện nay, xung quanh vấn đề cấu tạo từ ngữ tiếng Việt vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau. Tuy nhiên, như đã xác định, chúng tôi chọn “hình vị” là đơn vị cơ bản cấu tạo từ ngữ tiếng Việt. Trên cơ sở kế thừa quan niệm của các nhà Việt ngữ học ở khuynh hướng thứ hai, chúng tôi cho rằng tiếng Việt có từ và ngữ. Phương thức sử dụng một hình vị độc lập để tạo một từ. Ứng với phương thức cấu tạo này, ta có từ đơn tiết. Ví dụ: cây, hoa, nhà, trâu, ngựa, cười, vui, buồn, đẹp,… Phương thức sử dụng hai hay nhiều âm tiết không độc lập để tạo một hình vị độc lập. Ứng với phương thức cấu tạo này, ta có từ đa tiết. Ví dụ như a ti sô, ti gon, cà phê,…

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản