BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI -------------------------------------------------
T R Ầ N Q U A N G S Â M
TRẦN QUANG SÂM
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGUỒN VỐN
NGÂN SÁCH CỦA HUYỆN THANH BA , TỈNH PHÚ THỌ
Q U Ả N T R Ị
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
K I N H D O A N H
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ THÀNH PHƯƠNG
HÀ NỘI – 2014
K H Ó A 2 0 1 1 B
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
5. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ, ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 3-39
VÀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
1.1. HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 3-17
1.1.1. Khái niệm về hoạt động ĐT và các đặc trưng cơ bản của hoạt động ĐT 3-5
1.1.1.1. Khái niệm về hoạt động đầu tư 3
1.1.1.2. Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư 4-5
1.1.2. Chi phí và kết quả đầu tư 5-6
1.1.2.1. Chi phí đầu tư 5
1.1.2.2. Kết quả đầu tư 6
1.1.3. Dự án ĐT và phân loại DA ĐT 6-7
6 1.1.3.1. Khái niệm
6-7 1.1.3.2. Phân loại dự án đầu tư
7-17 1.1.4. Chu kỳ DA ĐT
1.1.4.1. Khái niệm chu kỳ của dự án đầu tư 7-10
10-12 1.1.4.2. Nghiên cứu cơ hội đầu tư
1.1.4.3. Nghiên cứu tiền khả thi 12-14
1.1.4.4. Nghiên cứu khả thi 14-16
1.1.4.5. Thực hiện dự án 16
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội
1.1.4.6. Vận hành (sử dụng, khai thác …) dự án 16
1.1.4.7. Đánh giá sau khi thực hiện dự án 16-17
1.1.4.8. Kết thúc dự án 17
1.2. ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 17-27
17-19 1.2.1. Khái niệm ĐT từ NSNN
19-20 1.2.2. Quan điểm đánh giá hiệu quả ĐT PT từ NSNN
1.2.2.1. Quan điểm của nhà đầu tư 20-21
1.2.2.2.Quan điểm của Nhà nước 21
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ĐT PT từ NSNN 21
1.2.3.1. Đối với các nhà đầu tư 21-24
1.2.3.2. Đối với Nhà nước 24-25
1.2.3.3. Phạm vi ĐT PT từ NSNN 25-26
1.3. QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NSNN VÀ CÁC YẾU TỐ 26-28
ẢNH HƯỞNG
1.3.1. Những khái niệm chung 26-27
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng 27-28
1.3.2.1. Môi trường kinh tế - xã hội 28
1.3.2.2. Cơ chế chính sách và các quy định của nhà nước 27-28
1.3.2.3. Quan điểm của huyện 28
1.3.2.4. Năng lực quản lý của huyện nói chung và của đội ngũ cán bộ 28
1.3.2.5. Phương pháp quản lý ĐT PT từ NSNN của huyện 28
1.4. NỘI DUNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NSNN 29-39
1.4.1. Công tác lập và quản lý quy hoạch 29
1.4.2. Lập kế hoạch và bố trí vốn ĐT 29-31
1.4.3. Phân cấp quản lý ĐT và xây dựng 31
1.4.4. Công tác lập và thẩm định DA ĐT 32-35
1.4.5. Công tác quản lý đấu thầu 35-36
1.4.6. Giám sát, giải ngân và quản lý chất lượng công trình quản lý đầu tư 36-38
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội
1.4.7. Nghiệm thu và thanh quyết toán 38-39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TỪ 40-89
VỐN NS CỦA HUYỆN THANH BA.
2.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN 40-43
THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ.
2.1.1. Yếu tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 40
2.1.2. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên 40-41
2.1.3. Tài nguyên khoáng sản 41-42
2.1.4. Danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hóa 42-43
2.2. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG THỜI 43-47
GIAN 2005 - 2009
2.2.1. Tăng trưởng kinh tế, thu chi ngân sách và đầu tư 43-44
2.2.2. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế 44-45
2.2.3. Tiềm năng, lợi thế và khó khăn, thách thức 45-47
2.2.3.1. Tiềm năng, lợi thế 45-46
2.2.3.2. Những khó khăn, thách thức 46-47
2.3. PHÂN TÍCH CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ 47-87
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA HUYỆN THANH BA
2.3.1. Đánh giá chung công tác quản lý ĐT PT từ NSNN của huyện 47-56
2.3.1.1. Kết quả đầu tư 47-51
2.3.1.2. Tác động đến phát triển kinh tế xã hội 51-55
2.3.2. Phân tích công tác quản lý ĐT PT từ NSNN của huyện 55-84
2.3.2.1. Công tác lập và quản lý quy hoạch 55-56
2.3.2.2. Lập kế hoạch và bố trí vốn ĐT 56-60
2.3.2.3. Phân cấp quản lý ĐT và xây dựng 60-61
2.3.2.4. Công tác lập và thẩm định DA ĐT 61-65
2.3.2.5. Công tác quản lý đấu thầu 65-67
2.3.2.6. Giám sát, giải ngân và quản lý chất lượng công trình 67-72
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội
2.3.2.7. Nghiệm thu và thanh quyết toán 72-74
2.3.2.8. Những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại. 74-82
2.3.3.Phân tích công tác quản lý ĐTPT từ NSNN của huyện theo các yếu tố 82-88
ảnh hưởng
2.3.3.1. Môi trường kinh tế - xã hội 82
2.3.3.2. Những ảnh hưởng của cơ chế chính sách và các quy định của nhà nước 83
2.3.3.3.Quan điểm của huyện 83-84
2.3.3.4. Năng lực quản lý của huyện nói chung và của đội ngũ cán bộ 84-85
2.3.3.5. Phương pháp quản lý đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước của huyện 85-86
86-87
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN 88-107
LÝ ĐTPT TỪ VỐN NSNN CỦA HUYỆN THANH BA
3.1. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 88
HUYỆN THANH BA GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
3.2. XÁC ĐỊNH CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA HUYỆN 89
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN 89-106
LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
3.3.1 Định hướng chung các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý các dự án 89-90
đầu tư của huyện
3.3.2. Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư 90-104
phát triển từ nguồn ngân sách huyện
3.3.2.1 Nâng cao chất lượng quy hoạch xây dựng: 90-92
3.3.2.2 Nâng cao chất lượng kế hoạch hóa vốn đầu tư 92-93
3.3.2.3 Nâng cao chất lượng công tác tư vấn trong lập báo cáo đầu tư, lập dự án 93-94
đầu tư, thẩm định đầu tư
3.3.2.4 Nâng cao về công tác lựa chọn nhà thầu và tổ chức thầu, chỉ định thầu 94-95
3.3.2.5 Nâng cao về quản lý thi công xây dựng công trình 95-96
3.3.2.6 Nâng cao về công tác nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử dụng 96
3.3.2.7 Nâng cao chất lượng công tác quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành 97-98
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội
3.3.2.8 Tăng cường công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ làm công tác quản lý 98-99
đầu tư, quản lý tài chính đầu tư
3.3.2.9 Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, thanh tra sử dụng vốn đầu tư 99
trong XDCB
3.3.2.10 Thực hiện tốt công tác giám sát cộng đồng và công khai tài chính 99-100
trong đầu tư XDCB
3.3.2.11 Chống thất thoát vốn Nhà nước trong đầu tư và xây dựng 100-104
3.4. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 104-105
3.4.1. Kiến nghị với Nhà nước. 104-105
3.4.2. Kiến nghị với UBND tỉnh và các ngành chức năng của tỉnh. 105
3.4.3. Kiến nghị với UBND huyện và các ngành chức năng của huyện. 105
KẾT LUẬN 105-106
TÓM TẮT LUẬN VĂN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108-109
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, tôi
đã được các thầy giáo, cô giáo trực tiếp giảng dạy, truyền tải kiến thức, kinh
nghiệm quản lý rất thiết thực bổ ích cho hoạt động nghiên cứu và công tác
thực tiễn của bản thân.
Tôi xin tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến TS Đỗ Thành Phương người tận
tình hướng dẫn, tạo điều kiện giúp tôi thực hiện và hoàn thành luận văn tốt
nghiệp này.
Xin được cảm ơn lãnh đạo UBND huyện Thanh Ba đã tạo điều kiện
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình nghiên cứu do khả năng và trình độ còn hạn chế nên
bản luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định mong nhận được
sự góp ý chân thành của các thầy giáo, cô giáo, để đề tài nghiên cứu được
hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Người thực hiện
Trần Quang Sâm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của tôi. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc, được trích dẫn
và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã
được công bố và các trang web…
Tôi xin cam đoan các giải pháp nêu trong luận văn được rút ra từ cơ sở lý
luận và quá trình nghiên cứu từ thực tiễn.
Người thực hiện
Trần Quang Sâm
1
Luận văn: Thạc sỹ khoa học
Trường: ĐHBK Hà Nội
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND: Ủy ban nhân dân
HĐND: Hội đồng nhân dân.
XDCB: Xây dựng cơ bản.
ĐTXD: Đầu tư xây dựng.
NSNN:Ngân sách nhà nước.
DAĐT: Dự án đầu tư
ĐT: Đầu tư
KT-XH: Kinh tế - xã hội
ĐTPT: Đầu tư phát triển
Khoa: Kinh tế và quản lý
Học viên: Trần Quang Sâm
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Đầu tư phát triển là nhiệm vụ chiến lược, một giải pháp chủ yếu để thực hiện
các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định và bền
vững cho một đất nước cũng như trong từng địa phương.
Thời gian vừa qua cùng với cả nước, huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ đã có
nhiều cố gắng và thu được một số kết quả trong lĩnh vực đầu tư phát triển. Việc
quản lý dự án theo điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng, thực hiện quy chế đấu thầu
đã có tiến bộ. Nhiều dự án đầu tư đã hoàn thành và từng bước phát huy hiệu quả,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện từng bước đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân. Song đến nay so với mặt bằng chung của cả nước, Thanh Ba là
huyện có điểm xuất phát và tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế thấp. Tổng ngân sách
dành cho đầu tư phát triển rất nhỏ, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn hạn chế. Bởi
vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển luôn thu hút sự quan
tâm của các cấp, các ngành. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, huyện Thanh Ba ,
tỉnh Phú Thọ đang trong tiến trình đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá - hiện đại hoá,
phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng GDP ngày một cao và bền vững, nhằm nhanh
chóng khắc phục tình trạng tụt hậu về kinh tế. Đặt ra nhu cầu đầu tư phát triển rất
lớn, trong khi các nguồn lực nhất là nguồn vốn đầu tư của Nhà nước còn hạn hẹp.
Vì thế, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
phát triển bằng vốn Nhà nước càng là vấn đề cấp thiết. Xuất phát từ yêu cầu thực tế
đó, tôi đã chọn vấn đề: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công
tác quản lý đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách của huyện Thanh Ba ,
tỉnh Phú Thọ” làm đề tài tốt nghiệp. Sinh viên mong mỏi có thể đóng góp một
phần nhỏ bé hỗ trợ cho việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư, đồng thời, góp phần thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế của huyện.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
2.1. Đánh giá thực trạng đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách huyện.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 2
2.2. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
phát triển từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ nhằm
đáp ứng yêu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế trong giai đoạn tới.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đầu
tư, quản lý đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển. Phương hướng chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ và các giải pháp
quản lý đầu tư xây dựng liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển.
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào lĩnh vực đầu tư phát triển bằng vốn ngân
sách Nhà nước tại huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ trong thời gian qua (2005 –
2013) và giai đoạn tới đến năm 2015.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Luận văn sử dụng lý luận và phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, kết hợp lịch sử với logic, kết hợp các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích
và tổng hợp, đồng thời kết hợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn ở địa phương
để nghiên cứu, giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài.
5. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:
Luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về đầu tư và quản lý đầu tư từ nguồn vốn ngân sách
Chương 2: Phân tích thực trạng sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
trên địa bàn huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư từ nguồn
vốn ngân sách của huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
1.1 . HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.1. Khái niệm về hoạt động đầu tư và các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư
1.1.1.1. Khái niệm về hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nhằm thu lợi trong tương lai.
Không phân biệt hình thức thực hiện, nguồn gốc của vốn … mọi hoạt động
có các đặc trưng nêu trên đều được coi là hoạt động đầu tư.
Đầu tư trên góc độ nền kinh tế là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra
các tài sản mới cho nền kinh tế.
Đầu tư phát triển là quá trình thực hiện sự chuyển hoá vốn bằng tiền thành
vốn hiện vật để tạo ra những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tạo ra
cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất kinh doanh mới, thông qua việc mua sắm
lắp đặt thiết bị, máy móc xây dựng nhà cửa vật kiến trúc và tiến hành các công việc
có liên quan đến sự phát huy tác dụng của các cơ sở vật chất kỹ thuật do hoạt động
đầu tư phát triển tạo ra.
Đầu tư phát triển là một nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội,
là chìa khoá để tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá nhằm tạo ra thế và lực đưa nền kinh tế cả nước cũng như mỗi địa
phương phát triển và hội nhập vào nền kinh tế quốc tế.
Do vậy, đầu tư phát triển vừa là nhiệm vụ chiến lược vừa là một giải pháp
chủ yếu để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn
định và bền vững. Bất kỳ quốc gia nào muốn có tốc độ tăng trưởng cao, đời sống
nhân dân được cải thiện đều phải quan tâm đến đầu tư phát triển.
Để đầu tư phát triển ngày một đáp ứng yêu cầu về quy mô và hiệu quả, vấn
đề hết sức quan trọng là phải giải quyết được nhu cầu về vốn đầu tư và các định chế
về sử dụng hiệu quả vốn đầu tư.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 4
1.1.1.2. Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư
- Là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư thường là và trước hết là quyết
định việc sử dụng các nguồn lực mà biểu hiện cụ thể dưới các hình thức khác nhau
như tiền, đất đai, tài sản, vật tư thiết bị, giá trị trí tuệ …
Vốn được hiểu như là các nguồn lực sinh lợi. Dưới các hình thức khác nhau
nhưng vốn có thể xác định dưới hình thức tiền tệ, vì vậy các quyết định đầu tư
thường được xem xét từ phương diện tài chính (tốn phí bao nhiêu vốn, có khả năng
thực hiện không, có khả năng thu hồi được không, mức sinh lợi là bao nhiêu …).
Nhiều dự án có thể khả thi ở các phương diện khác (kinh tế, xã hội) nhưng không
khả thi về phương diện tài chính và vì thế cũng không thể thực hiện trên thực tế.
- Là hoạt động có tính chất lâu dài.
Khác với các hoạt động thương mại, các hoạt động chi tiêu tài chính khác,
đầu tư luôn luôn là hoạt động có tính chất lâu dài. Do tính lâu dài nên mọi sự trù
liệu đều là dự tính, chịu một xác suất biến đổi nhất định do nhiều yếu tố. Chính điều
này là một trong những vấn đề hệ trọng phải tính đến trong mọi nội dung phân tích,
đánh giá của quá trình thẩm định dự án.
- Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong
tương lai.
Đầu tư trên một phương diện nào đó là một sự hy sinh lợi ích hiện tại để
đánh đổi lấy lợi ích tương lai (vốn để đầu tư không phải là các nguồn lực để dành),
vì vậy luôn luôn có sự so sánh, cân nhắc giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai. Rõ
ràng rằng, nhà đầu tư mong muốn và chấp nhận đầu tư chỉ trong điều kiện lợi ích
thu được trong tương lai lớn hơn lợi ích hiện nay họ tạm thời phải hy sinh (không
tiêu dùng hoặc không đầu tư vào nơi khác).
- Là hoạt động mang nặng rủi ro.
Các đặc trưng nói trên đã cho thấy hoạt động đầu tư là một hoạt động chứa
đựng nhiều rủi ro. Bản chất của sự đánh đổi lợi ích và lại thực hiện trong một thời
gian dài không cho phép nhà đầu tư lượng tính hết những thay đổi có thể xảy ra
trong quá trình thực hiện đầu tư so với dự tính. Vì vậy, chấp nhận rủi ro như là bản
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 5
năng của nhà đầu tư. Tuy nhiên nhận thức rõ điều này nên nhà đầu tư cũng có
những cánh thức, biện pháp để ngăn ngừa hay hạn chế khả năng rủi ro để sự sai
khác so với dự tính là ít nhất.
1.1.2. Chi phí và kết quả đầu tư
1.1.2.1. Chi phí đầu tư
Một cách chung nhất, mọi nguồn lực (tiền vốn, đất đai, tài nguyên, tài sản,
lao động, trí tuệ…) được sử dụng cho hoạt động đầu tư (bao gồm việc tạo ra TSCĐ,
phương tiện và các điều kiện để đảm bảo hoạt động bình thường).
Theo tính chất của các loại chi phí có thể chia ra 2 loại chính:
+ Chi phí đầu tư cố định: Đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, các cơ sở
phụ trợ, tiện ích khác và các chi phí trước vận hành.
Phần chi phí trước vận hành tuy không trực tiếp tạo ra tài sản, phương tiện
phục vụ cho hoạt động đầu tư nhưng là các chi phí gián tiếp hoặc liên quan đến việc
tạo ra và vận hành khai thác các tài sản đó để đạt được mục tiêu đầu tư. Các chi phí
này thường gồm các khoản sau:
- Chi phí cho công tác chuẩn bị ban đầu, phát hiện dự án: Điều tra, khảo sát
để lập, trình duyệt dự án …
- Chi phí cho tư vấn, khảo sát, thiết kế, giám sát trong quá trình triển khai
thực hiện dự án …
- Chi phí quản lý dự án
- Chi phí chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật (đào tạo, huấn luyện …)
- Các chi phí tài chính: Các khoản chi phí phát sinh từ việc sử dụng vốn như
lãi vay trong thời gian xây dựng, phí thu xếp tài chính, phí cam kết, phí bảo lãnh ...
+ Vốn lưu động ban đầu: Là các chi phí để tạo ra tài sản lưu động ban đầu,
các điều kiện để dự án có thể đi vào hoạt động bình thường theo các điều kiện kinh
tế kỹ thuật dự tính. Vốn lưu động ban đầu gồm các khoản sau:
- Dự trữ sản xuất (vật tư, vật liệu, nhiên liệu … cho một chu kỳ sản xuất kể
cả dự trữ bảo hiểm cần thiết).
- Dự trữ cho bán thành phẩm, thành phẩm tồn kho.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 6
- Các khoản thuộc quỹ tiền mặt.
Tuỳ thuộc vào đặc điểm, điều kiện của từng dự án mà có thể hoặc không có;
có nhiều hoặc ít nhu cầu về vốn lưu động ban đầu.
1.1.2.2. Kết quả đầu tư
Kết quả đầu tư là những biểu hiện của mục tiêu đầu tư dưới dạng các lợi ích
cụ thể. Kết quả đầu tư có thể biểu hiện ở các dạng sau:
- Kết quả tài chính: là các lợi ích về tài chính thu nhận được từ dự án biểu
hiện bằng giá trị theo giá thị trường.
- Kết quả kinh tế: là các lợi ích về kinh tế biểu hiện bằng giá trị tính theo giá kinh tế.
- Kết quả xã hội: Kết quả biểu hiện dưới dạng các lợi ích xã hội (trình độ dân
trí, khả năng phòng chống bệnh tật, đảm bảo môi trường sống …). Kết quả xã hội
biểu hiện khá phong phú và thường không thể đo lường một cách rõ ràng.
1.1.3. DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ PHÂN LOẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.3.1. Khái niệm
Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao
đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị. Sự chuẩn bị này được thể hiện trong việc
soạn thảo các dự án đầu tư (lập dự án đầu tư), có nghĩa là phải thực hiện đầu tư theo
dự án đã được soạn thảo với chất lượng tốt.
Dự án là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hay cải
tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến
hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời
gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp).
Nói một cách ngắn gọn, dự án đầu tư là tập hợp các đối tượng được hình
thành và hoạt động theo một kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định (các
lợi ích) trong một khoảng thời gian nhất định.
1.1.3.2. Phân loại dự án đầu tư
Có nhiều cách phân loại dự án đầu tư tuỳ theo mục đích và phạm vi xem xét.
Ở đây chỉ nêu cách phân loại liên quan tới yêu cầu công tác lập, thẩm định và quản
lý dự án đầu tư trong hệ thống văn bản pháp quy, các tài liệu quản lý hiện hành:
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 7
- Theo nguồn vốn: Theo nguồn vốn có thể chia dự án thành dự án đầu tư
bằng vốn ngân sách Nhà nước; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín
dụng do nhà nước bảo lãnh; vốn huy động của doanh nghiệp và các nguồn vốn
khác; dự án được đầu tư bằng các nguồn vốn hốn hợp …
- Theo luật chi phối: Dự án được chia ra thành dự án đầu tư theo Luật Đầu
tư; theo Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (FDI) …
- Theo hình thức đầu tư: Tự đầu tư, Liên doanh, Hợp đồng hợp tác kinh
doanh, BOT, BTO, BT …
- Theo các hình thức thực hiện đầu tư: Xây dựng, Mua sắm, Thuê …
- Theo lĩnh vực đầu tư: Dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, phát triển cơ sở
hạ tầng, văn hoá xã hội …
- Phân loại theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư
+ Đối với đầu tư trong nước chia làm 4 loại: Dự án quan trong cấp quốc gia
do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; các dự án còn lại được phân
thành 3 nhóm A, B, C theo quy định về quản lý đầu tư và xây dựng.
+ Đối với dự án đầu tư nước ngoài, gồm 3 loại A, B và loại được phân cấp
cho các địa phương.
1.1.4. CHU KỲ CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1.4.1. Khái niệm chu kỳ của dự án đầu tư
Chu kỳ của dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải qua
bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt hoạt động.
Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư trải qua 3 giai đoạn:
Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư.
Nội dung các bước công việc của mỗi giai đoạn của các dự án không giống
nhau, tuỳ thuộc vào lĩnh vực đầu tư (sản xuất kinh doanh hay kết cấu hạ tầng, sản
xuất công nghiệp hay nông nghiệp …), vào tính chất tái sản xuất (đầu tư chiều rộng
hay chiều sâu), đầu tư dài hạn hay ngắn hạn, …
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 8
Nghiên cứu cơ hội (Nhận dạng dự án)
Lậ
LẬP DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Nghiên cứu khả thi
Thiết kế
Nghiên cứu Tiền khả thi Nghiên cứu cơ hội Nghiên cứu khả thi
Xây dựng
Vận hành, khai thác
Đánh giá sau dự án
THỰC HIỆN DỰ ÁN
Kết thúc dự án
KHAI THÁC , VẬN HÀNH
Hình 1.1 Chu kỳ của dự án đầu tư
Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành
tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ sung cho nhau nhằm
nâng cao dần mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu và tạo thuận lợi cho
việc tiến hành nghiên cứu ở các bước kế tiếp.
Trong 3 giai đoạn trên đây, giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề và quyết
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 9
định sự thành công hay thất bại ở 2 giai đoạn sau, đặc biệt là ở giai đoạn vận hành
kết quả đầu tư. Do đó, đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư, vấn đề chất lượng, vấn đề
chính xác của các kết quả nghiên cứu, tính toán và dự đoán là quan trọng nhất.
Trong quá trình soạn thảo dự án phải dành đủ thời gian và chi phí theo đòi hỏi của
các nghiên cứu.
Tổng chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư chiếm từ 0,5 – 15% vốn đầu tư
của dự án. Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng tốt 85 -
99,5% vốn đầu tư của dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư (đúng tiến độ, không phải
phá đi làm lại, tránh được những chi phí không cần thiết khác …). điều này cũng tạo
cơ sở cho quá trình hoạt động của dự án thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư
và có lãi (đối với các dự án sản xuất kinh doanh), nhanh chóng phát huy hết năng
lực phục vụ dự kiến (đối với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng và dịch vụ xã hội).
Trong giai đoạn 2, vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả. Ở giai đoạn này, 85
- 99,5% vốn đầu tư của dự án được chi ra và nằm đọng trong suốt những năm thực
hiện đầu tư. Đây là những năm vốn không sinh lời. Thời gian thực hiện đầu tư càng
kéo dài, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn. Lại thêm những tổn thất do thời
tiết gây ra đối với vật tư, thiết bị chưa hoặc đang được thi công, đối với các công
trình đang được xây dựng dở dang.
Đến lượt mình, thời gian thực hiện đầu tư lại phụ thuộc nhiều vào chất lượng
công tác chuẩn bị đầu tư, vào việc quản lý quá trình thực hiện đầu tư, quản lý việc
thực hiện những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quả của quá trình
thực hiện đầu tư đã được xem xét trong dự án đầu tư.
Giai đoạn 3, vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư (giai đoạn
sản xuất kinh doanh dịch vụ) nhằm đạt được các mục tiêu của dự án. Nếu các kết
quả do giai đoạn thực hiện đầu tư tạo ra đảm bảo tính đồng bộ, giá thành thấp, chất
lượng tốt, đúng tiến độ, tại địa điểm thích hợp, với quy mô tối ưu thì hiệu quả hoạt
động của các kết quả này và mục tiêu của dự án chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào quá
trình tổ chức quản lý hoạt động của các kết quả đầu tư. Làm tốt công tác của giai
đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư thuận lợi cho quá trình tổ chức quản lý
phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư. Thời gian phát huy tác dụng của các kết
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 10
quả đầu tư chính là vòng đời (kinh tế) của dự án, nó gắn với đời sống sản phẩm (do
dự án tạo ra).
1.1.4.2. Nghiên cứu cơ hội đầu tư (Nhận dạng dự án, xác định dự án)
Mục đích của bước nghiên cứu này là xác định một cách nhanh chóng,
nhưng ít tốn kém về các cơ hội đầu tư.
Nội dung của việc nghiên cứu là xem xét các nhu cầu và khả năng cho việc
tiến hành các công cuộc đầu tư, các kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện
đầu tư.
Đây là những ý tưởng ban đầu được hình thành trên cơ sở cảm tính trực quan
của nhà đầu tư hoặc trên cơ sở quy hoạch định hướng của vùng, của khu vực hay
của quốc gia, quy hoạch tổng thể phát triển ngành. Thường giai đoạn này kết thúc
bằng một kế hoạch mang tính chất chỉ đạo về hướng đầu tư và hình thành tổ chức
nghiên cứu.
Cần phân biệt 2 loại cơ hội đầu tư tuỳ thuộc vào phạm vi phát huy tác dụng
của các kết quả đầu tư và phân cấp quản lý đầu tư. Đó là:
+ Cơ hội đầu tư chung cho đất nước, cho địa phương, cho ngành kinh tế - kỹ
thuật hoặc cho một loại tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Chẳng hạn như cơ hội đầu
tư phát triển du lịch của nước ta; cơ hội đầu tư để khai thác dầu mỏ và khí đốt của nước
ta, cơ hội đầu tư trồng và chế biến các sản phẩm từ cà phê của các tỉnh khu vực Tây
Nguyên nước ta …
Đối với loại cơ hội đầu tư này, thường có nhiều dự án. Chẳng hạn các dự án đầu
tư cơ sở hạ tầng cho các khu du lịch, xây dựng khách sạn để thu hút khách du lịch …
+ Cơ hội đầu tư cụ thể cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ. Trong
trường hợp này, mỗi cơ hội đầu tư thường sẽ có một dự án đầu tư.
Khi nghiên cứu để phát hiện các cơ hội đầu tư phải xuất phát từ những căn cứ
sau đây:
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc chiến lược phát
triển sản xuất kinh doanh dịch vụ của ngành, của cơ sở. Đây là những định hướng
lâu dài cho sự phát triển của đất nước và của các cơ sở. Mọi công cuộc đầu tư
không xuất phát từ những căn cứ này sẽ không có tương lai và tất nhiên sẽ không
được chấp nhận.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 11
- Nhu cầu trong nước và trên thế giới về những mặt hàng hoặc những hoạt
động dịch vụ cụ thể. Đây là nhân tố quyết định sự hình thành và hoạt động của các
dự án đầu tư. Không có nhu cầu thì sự hoạt động của các dự án không để làm gì mà
chỉ dẫn đến sự lãng phí tiền của và công sức xã hội, ảnh hưởng không tốt đến sự
hình thành và hoạt động của các dự án có nhu cầu. Nhu cầu ở đây trong điều kiện
nền kinh tế mở, bao gồm cả nhu cầu trong nước và nhu cầu thế giới, trong đó nhu
cầu trong phạm vi thế giới lớn hơn rất nhiều so với nhu cầu trong nước. Trong hoạt
động đầu tư luôn chú ý tận dụng mọi cơ hội để tham gia vào phân công lao động
quốc tế, để có thị trường ở nước ngoài.
- Tình hình cung cấp những mặt hàng hoặc hoạt động dịch vụ trên đây ở
trong nước và trên thế giới còn chỗ trống cho để dự án chiếm lĩnh trong một thời
gian dài. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là điều tất nhiên.
Tuy nhiên, ở những lĩnh vực hoạt động cung chưa đáp ứng cầu thì sự cạnh tranh
trong tiêu thụ sản phẩm và tiến hành các hoạt động dịch vụ không là vấn đề phải
quan tâm nhiều. Do đó, tìm chỗ trống trên thị trường để tiến hành các hoạt động đầu
tư sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ sản phẩm không gặp phải sự cạnh tranh gay gắt với
các cơ sở khác. Điều này cho phép giảm chi phí tiêu thụ sản phẩm, tăng năng suất
lao động, nhanh chóng thu hồi đủ vốn đã bỏ ra.
Một điều cần lưu ý là do vốn chi cho một công cuộc đầu tư phát triển thường
rất lớn, các thành quả của công cuộc đầu tư cần và phải hoạt động trong một thời
gian dài mới thu hồi đủ vốn đã bỏ ra. Vì vậy, “chỗ trống” trong thị trường tiêu thụ
sản phẩm của dự án đầu tư cũng phải tồn tại trong một thời gian dài đủ để dự án
hoạt động hết đời và chủ đầu tư tiêu thụ hết sản phẩm của dự án.
- Tiềm năng sẵn có cần và có thể khai thác về vốn, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động
để thực hiện dự án của đất nước, của địa phương, của ngành, hoặc của các cơ sở. Những lợi
thế so sánh nếu thực hiện đầu tư so với nước khác, địa phương khác hoặc cơ sở khác.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, có lợi thế so sánh sẽ đảm bảo khả
năng thắng đối thủ cạnh tranh rất nhiều. Vì vậy, khi dự kiến tiến hành các công cuộc
đầu tư sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận, không thể không chú ý đến vấn đề
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 12
lợi thế so sánh. Nếu tự nó không có lợi thế so sánh (tài nguyên thuộc loại khan
hiếm, lao động vào loại có giá rẻ, vị trí rất thuận lợi cho tiêu thụ sản phẩm …) thì
phải dự kiến phương án tạo ra lợi thế so sánh như đầu tư sang các nước khác có
nhiều lợi thế so sánh hơn trong nước hoặc ở nước dự kiến ban đầu sẽ đầu tư (không
bị đánh thuế xuất khẩu hàng hoá của dự án, nhập khẩu thiết bị của dự án - chứ
không phải để bán kiếm lời - khai thác tài nguyên khan hiếm …) hoặc đề ra các biện
pháp để tạo lợi thế so sánh như sử dụng vật liệu mới, vật liệu khai thác tại chỗ để
giảm chi phí đầu vào, tận dụng lao động dư thừa giá rẻ của địa phương (một phần
hoặc toàn bộ thời gian lao động của họ) để khai thác nguyên vật liệu tại chỗ vừa làm
giảm chi phí công nhân vừa giảm chi phí vận chuyển các đầu vào thường xuyên.
- Những kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư. Đây là tiêu
chuẩn tổng hợp để đánh giá tính khả thi của toàn bộ dự án đầu tư. Những kết quả và
hiệu quả này phải lớn hơn hoặc chí ít cũng phải bằng nếu đầu tư vào dự án khác
hoặc bằng định mức thì cơ hội đầu tư mới được chấp nhận để chuyển tiếp sang giai
đoạn nghiên cứu tiền khả thi hoặc khả thi.
1.1.4.3. Nghiên cứu tiền khả thi
Đây là bước nghiên cứu tiếp theo của các cơ hội đầu tư có nhiều triển vọng đã
được lựa chọn có quy mô đầu tư lớn, phức tạp về mặt kỹ thuật, thời gian thu hồi vốn lâu,
có nhiều yếu tố bất định tác động. Bước này nghiên cứu sâu hơn các khía cạnh mà khi
xem xét cơ hội đầu tư còn thấy phân vân chưa chắc chắn, nhằm tiếp tục lựa chọn, sàng
lọc các cơ hội đầu tư (đã được xác định ở cấp độ ngành, vùng hoặc cả nước) hoặc để
khẳng định lại cơ hội đầu tư đã được lựa chọn có đảm bảo tính khả thi hay không.
Đối với các cơ hội đầu tư quy mô nhỏ, không phức tạp về mặt kỹ thuật và triển
vọng đem lại hiệu quả rõ ràng thì có thể bỏ qua giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi.
Nội dung nghiên cứu tiền khả thi bao gồm các vấn đề sau đây:
+ Các bối cảnh chung về kinh tế, xã hội, pháp luật có ảnh hưởng đến dự án.
+ Nghiên cứu thị trường
+ Nghiên cứu kỹ thuật
+ Nghiên cứu về tổ chức và nhân sự
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 13
+ Nghiên cứu về tài chính
+ Nghiên cứu lợi ích kinh tế xã hội
Những nội dung này cũng được xem xét ở giai đoạn nghiên cứu khả thi sau này.
Đặc điểm nghiên cứu các vấn đề trên ở giai đoạn này là chưa chi tiết, xem
xét ở trạng thái tĩnh, ở mức trung bình mọi đầu vào, đầu ra, mọi khía cạnh kỹ thuật,
tài chính kinh tế của cơ hội đầu tư và toàn bộ quá trình thực hiện đầu tư vận hành
kết quả đầu tư. Do đó độ chính xác chưa cao.
Đối với các khoản chi phí nhỏ có thể tính nhanh chóng. Chẳng hạn dự tính vốn
lưu động cho một chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp bằng cách chia tổng doanh thu
bình quân năm cho số chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp trong năm. Đối với chi phí
bảo hiểm, thuế: ước tính theo tỷ lệ phần trăm so với doanh thu, chi phí lắp đặt thiết bị:
ước tính theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị công trình hoặc thiết bị (các tỷ lệ này khác
nhau đối với các dự án khác nhau). Đối với các chi phí đầu tư lớn như giá trị công trình
xây dựng, giá trị thiết bị và công nghệ … phải tính toán chi tiết hơn.
Sản phẩm cuối cùng của nghiên cứu tiền khả thi là luận chứng tiền khả thi.
Nội dung của luận chứng tiền khả thi bao gồm các vấn đề sau:
- Giới thiệu chung về cơ hội đầu tư theo các nội dung nghiên cứu tiền khả thi ở trên.
- Chứng minh cơ hội đầu tư có nhiều triển vọng đến mức có thể quyết định cho
đầu tư. Các thông tin đưa ra để chứng minh phải đủ sức thuyết phục các nhà đầu tư.
- Những khía cạnh gây khó khăn cho thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả
của đầu tư sau này đòi hỏi phải tổ chức nghiên cứu chức năng hoặc nghiên cứu hỗ trợ.
Nội dung nghiên cứu hỗ trợ đối với các dự án khác nhau, thường khác nhau tuỳ
thuộc vào những đặc điểm về mặt kỹ thuật của dự án, về nhu cầu thị trường đối với sản
phẩm do dự án cung cấp, về tình hình phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật trong nước
và trên thế giới. Chẳng hạn đối với các dự án có quy mô sản xuất lớn thời hạn thu hồi
vốn lâu, sản phẩm do dự án cung cấp sẽ phải cạnh tranh trên thị trường thì việc nghiên
cứu hỗ trợ về thị trường tiêu thụ sản phẩm là rất cần thiết để từ đó khẳng định lại quy mô
của dự án và thời gian hoạt động của dự án bao nhiêu là tối ưu, hoặc phải thực hiện các
biện pháp tiếp thị ra sao để tiêu thụ hết sản phẩm của dự án và có lãi.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 14
Nghiên cứu thị trường đầu vào của các nguyên liệu cơ bản đặc biệt quan trọng
đối với dự án phải sử dụng nguyên liệu với khối lượng lớn mà việc cung cấp có nhiều
trở ngại như phụ thuộc vào nhập khẩu, hoặc đòi hỏi phải có nhiều thời gian (như
trồng tre, nứa, gỗ để cung cấp nguyên liệu cho sản xuất giấy) và bị hạn chế bởi điều
kiện tự nhiên (phải có đủ diện tích đất đai thích hợp cho việc trồng tre, nứa, gỗ trong
ví dụ trên). Nghiên cứu quy mô kinh tế của dự án là một nội dung trong nghiên cứu
hỗ trợ. Có nghĩa là nghiên cứu các khía cạnh của dự án về mặt kinh tế, tài chính, kỹ
thuật, quản lý, từ đó lựa chọn các quy mô thích hợp nhất để đảm bảo cuối cùng đem
lại hiệu quả kinh tế tài chính cao nhất cho chủ đầu tư và cho đất nước.
Nghiên cứu hỗ trợ vị trí thực hiện dự án đặc biệt quan trọng đối với các dự
án có chi phí vận chuyển đầu vào và đầu ra lớn (kể cả hao hụt tổn thất trong quá
trình vận chuyển). Nhiệm vụ của nghiên cứu hỗ trợ ở đây là nhằm xác định được vị
trí thích hợp nhất về mặt địa lý vừa đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật trong hoạt động,
vừa đảm bảo chi phí vận chuyển là thấp nhất.
Nghiên cứu hỗ trợ để lựa chọn công nghệ, trang thiết bị được tiến hành đối
với các dự án đầu tư có chi phí đầu tư cho công nghệ và trang thiết bị là lớn, mà
công nghệ và trang thiết bị này lại có nhiều nguồn cung cấp với giá cả khác nhau,
các thông số kỹ thuật (công suất, tuổi thọ …), thông số kinh tế (chi phí sản xuất,
chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, giá cả sản phẩm có thể bán được) khác nhau.
Các nghiên cứu hỗ trợ có thể được tiến hành song song với nghiên cứu khả thi, và
cũng có thể tiến hành sau nghiên cứu khả thi tuỳ thuộc thời điểm phát hiện các khía cạnh
cần phải tổ chức nghiên cứu sâu hơn. Chi phí cho nghiên cứu hỗ trợ nằm trong chi phí
nghiên cứu khả thi.
1.1.4.4. Nghiên cứu khả thi
Đây là bước sàng lọc lần cuối để lựa chọn được dự án tối ưu. Ở giai đoạn này phải
khẳng định cơ hội đầu tư có khả thi hay không? Có vững chắc, có hiệu quả hay không?
Ở bước nghiên cứu này, nội dung nghiên cứu cũng tương tự như giai đoạn
nghiên cứu tiền khả thi, nhưng khác nhau ở mức độ chi tiết hơn, chính xác hơn. Mọi
khía cạnh nghiên cứu đều được xem xét ở trạng thái động, tức là có tính đến các yếu
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 15
tố bất định có thể xảy ra theo từng nội dung nghiên cứu. Xem xét sự vững chắc hay
không của dự án trong điều kiện có sự tác động của các yếu tố bất định, hoặc cần có
các biện pháp tác động gì để đảm bảo cho dự án có hiệu quả.
Tất cả ba giai đoạn nghiên cứu nói trên phải được tiến hành đối với các dự
kiến đầu tư lớn nhằm đảm bảo từng bước phân tích sâu hơn, đầy đủ và chi tiết hơn,
phát hiện và khắc phục dần những sai sót ở các giai đoạn nghiên cứu trước thông
qua việc tính toán lại, đối chiếu các dữ kiện, các thông số, thông tin thu thập được
qua mỗi giai đoạn. Điều này sẽ đảm bảo cho các kết quả nghiên cứu khả thi đạt
được độ chính xác cao.
Đối với dự án đầu tư nhỏ, quá trình nghiên cứu có thể gom lại làm một bước.
Bản chất, mục đích và công dụng của nghiên cứu khả thi
- Bản chất của nghiên cứu khả thi
Xét về mặt hình thức, tài liệu nghiên cứu khả thi là một tập hồ sơ trình bày
một cách chi tiết và có hệ thống tính vững chắc, hiện thực của một hoạt động sản
xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội theo các khía cạnh thị trường, kỹ thuật,
tài chính, tổ chức quản lý và kinh tế xã hội.
Ở Việt Nam, nghiên cứu khả thi thường được gọi là lập luận chứng kinh tế
kỹ thuật. Nghiên cứu khả thi được tiến hành dựa vào kết quả của các nghiên cứu cơ
hội đầu tư và nghiên cứu tiền khả thi đã được cấp có thẩm quyền chấp nhận. Ở giai
đoạn nghiên cứu khả thi, dự án được soạn thảo kỹ lưỡng hơn, đảm bảo cho mọi dự
đoán, mọi tính toán đạt được ở mức độ chính xác cao trước khi được đưa ra để các
cơ quan kế hoạch, tài chính, ngân hàng, các định chế tài chính quốc tế thẩm định.
- Mục đích của nghiên cứu khả thi
Như phần trên đã đề cập, quá trình nghiên cứu khả thi được tiến hành qua 3
giai đoạn. Giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư nhằm loại bỏ ngay những dự kiến rõ
ràng không khả thi mặc dù không cần đi sâu vào chi tiết. Tính không khả thi này
được chứng minh bằng các số liệu thống kê, các tài liệu thông tin kinh tế dễ tìm.
Điều đó giúp cho tiết kiệm được thời giờ, chi phí của các nghiên cứu kế tiếp.
Việc nghiên cứu tiền khả thi nhằm loại bỏ các dự án bấp bênh (về thị trường,
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 16
về kỹ thuật), những dự án mà kinh phí đầu tư quá lớn, mức sinh lời nhỏ, hoặc không
thuộc loại ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội hoặc chiến lược phát
triển sản xuất kinh doanh. Nhờ đó các chủ đầu tư có thể loại bỏ hẳn dự án để khỏi
tốn thời gian và kinh phí, hoặc tạm xếp dự án lại chờ cơ hội thuận lợi hơn.
Còn việc nghiên cứu khả thi là xem xét lần cuối cùng nhằm đi đến những kết
luận xác đáng về mọi vấn đề cơ bản của dự án bằng các số liệu đã được tính toán
cẩn thận, chi tiết, các đề án kinh tế - kỹ thuật, các lịch biểu và tiến độ thực hiện dự
án trước khi quyết định đầu tư chính thức.
Như vậy, nghiên cứu khả thi là một trong những công cụ thực hiện kế hoạch kinh
tế của ngành, của địa phương và của cả nước, để biến kế hoạch thành hành động cụ thể
và đem lại lợi ích kinh tế xã hội cho đất nước, lợi ích tài chính cho nhà đầu tư.
1.1.4.5. Thực hiện dự án
Thực hiện dự án là giai đoạn biến các dự án đầu tư thành hiện thực nhằm đưa
dự án vào hoạt động trong thực tế của đời sống kinh tế xã hội. Giai đoạn này bao
gồm một loạt các quá trình kế tiếp hoặc xen kẽ nhau từ khi thiết kế đến khi đưa dự
án vào vận hành khai thác.
Thực hiện dự án là giai đoạn hết sức quan trọng, có liên quan chặt chẽ với
việc đảm bảo chất lượng và tiến độ thực hiện dự án và sau đó là hiệu quả đầu tư.
1.1.4.6. Vận hành (sử dụng, khai thác …) dự án
Giai đoạn này được xác định từ khi chính thức đưa dự án vào vận hành khai thác
cho đến khi kết thúc dự án. Đây là giai đoạn thực hiện các hoạt động theo chức năng của
dự án và quản lý các hoạt động đó theo các kế hoạch đã dự tính.
1.1.4.7. Đánh giá sau khi thực hiện dự án
Thực chất đây là việc phân tích, đánh giá các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của
dự án trong giai đoạn vận hành, khai thác. Phân tích, đánh giá dự án trong giai đoạn
này nhằm:
- Hiệu chỉnh các thông số kinh tế - kỹ thuật để đảm bảo mức đã được dự kiến
trong Nghiên cứu khả thi.
- Tìm kiếm cơ hội phát triển, mở rộng dự án hoặc điều chỉnh các yếu tố của
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 17
dự án cho phù hợp với tình hình thực tế để đảm bảo hiệu quả dự án. Dựa vào các kết
quả phân tích, đánh giá quá trình vận hành, khai thác dự án để có quyết định đúng
đắn về sự cần thiết kéo dài hoặc chấm dứt thời hạn hoạt động của dự án.
1.1.4.8. Kết thúc dự án
Tiến hành các công việc cần thiết để chấm dứt hoạt động của dự án (thanh
toán công nợ, thanh lý tài sản và hoàn thành các thủ tục pháp lý khác).
Công dụng của các dự án đầu tư:
- Đối với nhà nước và các định chế tài chính thì dự án đầu tư là cơ sở để
thẩm định và ra quyết định đầu tư, quyết định tài trợ cho dự án đó.
- Đối với chủ đầu tư thì dự án đầu tư là cơ sở để:
+ Xin phép được đầu tư (hoặc được ghi vào kế hoạch đầu tư) và giấy phép
hoạt động.
+ Xin phép được nhập khẩu vật tư, máy móc thiết bị.
+ Xin hưởng các khoản ưu đãi (nếu dự án thuộc diện ưu tiên) về đầu tư.
+ Xin gia nhập các khu chế xuất, khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
+ Xin vay vốn của các định chế tài chính trong và ngoài nước.
+ Kêu gọi góp vốn hoặc phát hành cổ phiếu, trái phiếu.
1.2. ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1. Khái niệm đầu tư từ ngân sách nhà nước
Đầu tư phát triển bằng vốn Nhà nước là việc sử dụng phần vốn ngân sách
Nhà nước dành cho đầu tư phát triển, vốn vay nước ngoài của Chính phủ và vốn hỗ
trợ phát triển chính thức của nước ngoài cho Chỉnh phủ và Chính quyền các cấp
(ODA), vốn tín dụng đầu tư của các ngân hàng quốc doanh và vốn đầu tư của doanh
nghiệp Nhà nước, dùng để đầu tư vào các khâu then chốt và cần thiết của nền kinh
tế quốc dân, các dự án đầu tư có hiệu quả, các ngành kinh tế mũi nhọn có vị trí
quyết định đến sự hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá - hiện đại hoá. Những ngành này cần một lượng vốn đầu tư lớn, thời gian xây
dựng và thu hồi vốn dài …
Đầu tư phát triển bằng vốn Nhà nước chủ yếu được tiến hành theo kế hoạch Nhà
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 18
nước, nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
Căn cứ vào khả năng thu hồi vốn trực tiếp của dự án đầu tư và tính chất
nguồn vốn, hiện tại Nhà nước định ra ba hình thức đầu tư phát triển đó là: Cấp phát
đầu tư, tín dụng đầu tư và doanh nghiệp tự đầu tư.
- Hình thức cấp phát dành cho các dự án đầu tư không có khả năng thu hồi
vốn trực tiếp thuộc các lĩnh vực như kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các dự án giao
thông, thuỷ lợi, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng Quốc gia, khu bảo tồn
thiên nhiên, các trạm thú y, động thực vật; nghiên cứu giống mới và cải tạo giống; các
dự án xây dựng công trình, dự án quản lý Nhà nước, khoa học kỹ thuật; dự án bảo vệ
môi trường sinh thái; dự án an ninh quốc phòng, các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động
công ích, góp vốn cổ phần liên doanh bằng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà
nước, các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo
quy định của pháp luật; một số doanh nghiệp thuộc lĩnh vực then chốt của nền kinh tế
quốc dân theo quyết định của Chính phủ; các dự án quy hoạch ngành, lãnh thổ, quy
hoạch xây dựng đô thị, nông thôn; các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội.
Tất cả nhu cầu vốn trên được cấn đối từ ngân sách Nhà nước.
- Hình thức tín dụng đầu tư dành cho các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kinh
tế, các cơ sở sản xuất, kinh doanh tạo việc làm có khả năng thu hồi vốn; các dự án
đầu tư cho một số ngành kinh tế quan trọng của Nhà nước trong từng thời kỳ (như
điện, xi măng, sắt thép …); Các dự án đầu tư của ngành đảm bảo hiệu quả kinh tế
và khả năng thu hồi vốn. Các nhu cầu vốn này một phần được ngân sách Nhà nước
bố trí theo chính sách từng thời kỳ, số còn lại là nguồn vốn tín dụng đầu tư của các
ngân hàng quốc doanh.
- Hình thức doanh nghiệp tự đầu tư dành cho các dự án đầu tư mới hoặc mở
rộng sản xuất của các doanh nghiệp Nhà nước bằng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp.
Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý theo hướng xoá bao cấp về vốn đầu tư,
chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh, xu hướng hình thức cấp
phát vốn đầu tư sẽ giảm, thay vào đó là hình thức tín dụng đầu tư sẽ tăng lên.
+ Đầu tư phát triển bằng vốn Nhà nước có điểm khác cơ bản với đầu tư bằng
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 19
vốn không phải của Nhà nước là cơ chế quản lý. Do chủ sở hữu vốn đầu tư phát triển
của Nhà nước là Nhà nước, chủ đầu tư chỉ là người sử dụng vốn nên cần có cơ chế
quản lý chặt chẽ đi liền với việc kiểm tra giám sát để hạn chế tiêu cực, thất thoát, lãng
phí. Còn vốn đầu tư không phải của Nhà nước, chủ đầu tư là chủ sở hữu vốn đích
thực nên cơ chế quản lý đơn giản, gọn nhẹ hơn.
1.2.2. Quan điểm đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước
Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là bộ phận cấu thành trong toàn bộ vốn
đầu tư toàn xã hội, mặc dù thường chiếm tỷ trọng không cao, song đầu tư phát triển từ
nguồn ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng đặc biệt thể hiện trên các mặt sau:
- Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là công cụ kinh tế quan trọng để
Nhà nước trực tiếp tác động đến quá trình kinh tế, xã hội, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Bằng việc cung
cấp những dịch vụ công cộng như hạ tầng kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng … mà
các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không được đầu tư; Các
dự án đầu tư từ ngân sách Nhà nước được triển khai ở các vị trí quan trọng then chốt
nhất nhằm đảm bảo cho nền kinh tế xã hội phát triển ổn định.
- Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là công cụ để Nhà nước chủ động
điều chỉnh tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế:
Về mặt cầu: Đầu tư phát triển trong đó có đầu tư từ ngân sách Nhà nước sẽ
tạo ra khả năng kích cầu tiêu dùng trong sản xuất, thúc đẩy lưu thông, tạo công ăn
việc làm, thu nhập.
Về mặt cung: Khi các dự án hoàn thành đưa vào sử dụng, năng lực mới của
nền kinh tế tăng lên tác động làm tăng tổng cung trong dài dạn, kéo theo tăng sản
lượng tiềm năng, giá cả sản phẩm giảm.
- Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là công cụ để Nhà nước chủ động
điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành, vùng, lãnh thổ:
Thông qua đầu tư các Chương trình dự án ở vùng sâu vùng xa về giao thông,
y tế, giáo dục … giúp cho các vùng này có điều kiện giao thông thuận lợi, nhân dân
được giáo dục nâng cao dân trí, chăm sóc sức khoẻ tạo điều kiện phát triển vùng.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 20
Thông qua các dự án đầu tư phát triển của mình Nhà nước có thể điều chỉnh
giúp ngành nghề này phát triển, hạn chế ngành nghề khác không có lợi.
- Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh
tế và cho toàn nền kinh tế phát triển. Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước được
coi là vốn mồi để thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển. Chẳng
hạn có đường giao thông thuận lợi thì thị trường hàng hoá có điều kiện phát triển, cơ sở
hạ tầng kinh tế phát triển sẽ tạo khả năng to lớn để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài
nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá giáo dục, y tế, du lịch …
- Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước có vai trò mở đường cho sự phát triển
nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, chăm sóc sức khoẻ của nhân dân.
Do các dự án đầu tư vào những lĩnh vực trên thường rất tốn kém, độ rủi ro
cao, khả năng thu hồi vốn thấp nên Nhà nước thường phải đầu tư bằng nguồn vốn
ngân sách nhà nước như: các dự án đầu tư cho phòng thí nghiệm trọng điểm, các
trạm, trại nghiên cứu giống mới, các trường đại học, các bệnh viện, các trung tâm y
tế dự phòng. Có đầu tư của Nhà nước sẽ cung cấp các dịch vụ công tạo điều kiện
nâng cao hiệu quả đầu tư của nền kinh tế xã hội.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh nói chung, hoạt động đầu tư phát triển nói riêng đều phải
được xem xét từ hai góc độ Nhà đầu tư (Doanh nghiệp) và Nhà nước.
1.2.2.1. Quan điểm của nhà đầu tư
Trên góc độ nhà đầu tư tức là các doanh nghiệp mục đích cụ thể của họ có
nhiều, nhưng quy tụ lại là lợi nhuận và lợi nhuận tối đa. Vì vậy họ quan tâm đến kết
quả cụ thể của một đồng vốn bỏ ra sẽ mang lại hiệu quả tài chính như thế nào?
Muốn vậy, nhà đầu tư phải tìm kiếm lĩnh vực đầu tư sao cho vốn đầu tư bỏ ra ít,
chi phí sản xuất thấp nhất, giá thành sản phẩm hạ nhưng lại tăng chất lượng, sản lượng và
lợi nhuận. Bởi vì lợi nhuận phản ánh kết quả thực chất, cuối cùng của hoạt động đầu tư.
Do đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển có thời gian dài, giá trị đồng
tiền cũng biến đổi theo thời gian nên trong quá trình lựa chọn đầu tư, nhà đầu tư
phải sử dụng hệ thống chỉ tiêu để đánh giá. Ví dụ như chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 21
đầu tư, NPV, IRR, thời gian thu hồi vốn đầu tư, …
Tuy vậy, trong quá trình thực hiện đầu tư với mục đích là lợi nhuận nhà đầu tư
cũng trực tiếp tạo ra lợi ích cho xã hội (mặc dù lợi ích này không phải là mục tiêu quan
tâm của nhà đầu tư) như tạo thêm việc làm, đóng góp cho ngân sách nhà nước, nâng
cao trình độ kỹ thuật, quản lý của người lao động …
1.2.2.2.Quan điểm của Nhà nước
Nhà nước là người chủ đại diện cho toàn xã hội nên Nhà nước không chỉ
quan tâm đến lợi ích kinh tế của nhà đầu tư, mà còn quan tâm đến lợi ích của cả nền
kinh tế và toàn xã hội. Thậm chí có dự án còn gây nguy hiểm cho xã hội, nhất là về
môi trường, khai thác tài nguyên … Do đó trên giác độ quản lý vĩ mô Nhà nước
phải xem xét đánh giá việc thực hiện hoạt động đầu tư đó có những tác động gì đối
với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Có nghĩa là phải xem xét
mặt kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư, xem xét những lợi ích xã hội do đầu tư
đem lại, những chi phí mà nền kinh tế xã hội phải gánh chịu, để từ đó cơ quan có
thẩm quyền của Nhà nước chấp nhận có cho phép đầu tư hay không.
Vì vậy cần có sự quản lý, kiểm soát của Nhà nước trong hoạt động đầu tư
phát triển theo định hướng mục tiêu đã định, và việc đánh giá hiệu quả đầu tư phải
xét trên quan điểm toàn diện của nền kinh tế quốc dân. Phải kết hợp giữa lợi ích
toàn xã hội, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Đồng thời phải xét đến các mặt kinh
tế - chính trị xã hội. Đối với Nhà nước chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế vốn đầu tư
quan trọng nhất là mức tăng trưởng GDP, là mức tăng năng suất xã hội, tăng thu
ngân sách gắn liền với các chỉ tiêu về xã hội và công bằng xã hội.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ĐT PT từ NSNN
Do việc đánh giá hiệu quả đầu tư được xem xét trên 2 góc độ: Nhà đầu tư và nhà
nước nên hình thành ra 2 hệ thống chỉ tiêu khác nhau để đánh giá hiệu quả đầu tư.
1.2.3.1. Đối với các nhà đầu tư
Nhà đầu tư thường sử dụng một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư như sau:
a. Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư. Đây là vấn đề được các nhà đầu tư quan tâm nhất.
Tỷ suất lợi nhuận phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận thu được của nhà đầu tư so
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 22
với vốn đầu tư bỏ ra. Chỉ tiêu này được tính bằng 2 công thức sau:
RR
=
%100x
i
W i I
vo
a1. Tính theo lợi nhuận hàng năm:
Trong đó:
RRi: Tỷ suất lợi nhuận.
Wi: Lợi nhuận năm thứ i.
Ivo: Vốn đầu tư.
W
pv
=RR
%100x
I
vo
a2. Tính theo cả vòng đời dự án:
pvW : Lợi nhuận bình quân năm.
RR : Tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Trong đó:
Ivo : Số vốn đầu tư.
b. Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu. Là chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ
giữa lợi nhuận và doanh thu. Nếu tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ hoạt động cho đầu tư
có hiệu quả và ngược lại.
Chỉ tiêu này được tính bằng 2 công thức sau:
=
x %100
r oi
W i O i
b1. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu từng năm được tính như sau:
Trong đó:
Roi: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu năm thứ i.
Wi: Lợi nhuận năm i.
Oi: Doanh thu năm i.
b2. Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bình quân năm của cả đời dự án được tính là:
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 23
W
pv
=
%100x
r opv
O
pv
opvr
pvW : Lợi nhuận bình quân năm.
pvO : Doanh thu bình quân năm.
: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu bình quân.
c. Chỉ tiêu NPV (giá trị hiện tại thuần) NPV là mức lợi nhuận mà cả vòng đời dự án
NPV
i i
n Σ= 1=i
)C- B( i )r+1(
đem lại:
Trong đó:
Bi: Tổng thu nhập của dự án năm thứ i.
Ci: Tổng chi phí của dự án năm thứ i.
r: Tỷ lệ chiết khấu được chọn.
Kết quả nếu NPV (+) thì hiệu quả dự tính của dự án tốt, nếu NPV (-) thì dự
án bị lỗ.
d. Chỉ tiêu IRR (tỷ lệ hoàn vốn nội bộ) IRR là tỷ lệ lãi mà nếu dùng làm tỷ lệ chiết
0
) i
n i 1
B C - ( i i 1( ) IRR
khấu tính các khoản thu chi và quy về hiện tại thì tại đó tổng thu bằng tổng chi
Kết quả nếu IRR > lãi suất tiền gửi ngân hàng dài hạn cùng thời điểm (chi
phí cơ hội của vốn) thì dự án đầu tư có hiệu quả.
Trường hợp ngược lại, dự án đầu tư không có hiệu quả.
e. Thời gian thu hồi vốn đầu tư là thời gian cần thiết để các khoản thu từ lợi nhuận
thuần bình quân hoặc từ khấu hao bình quân và lợi nhuận thuần bình quân đủ bù
vo
I = T TH W
pv
đắp vốn đầu tư ban đầu. Chỉ tiêu này được tính bằng 1 trong 2 công thức:
Trong đó: TTH: Thời gian thu hồi vốn
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 24
pvW : Lợi nhuận thuần bình quân năm.
Ivo: Vốn đầu tư
I
vo
T
TH
D
W
pv
pv
Hoặc:
pvD : Mức khấu hao bình quân năm.
Trong đó:
1.2.3.2. Đối với Nhà nước
Nhà nước thường sử dụng một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả đầu tư như sau:
a. Hệ số ICOR
ICOR=(Kt-Kt-1)/ (Yt - Yt-1)
Hệ số ICOR thể hiện khả năng sử dụng có hiệu quả đồng vốn bỏ ra. Hệ số ICOR cao
hay thấp thể hiện số vốn đầu tư nhiều hay ít cho sự tăng trưởng một đồng GDP.
Chỉ số gia tăng vốn và sản lượng có thể áp dụng vào toàn bộ nền kinh tế
quốc dân hoặc áp dụng vào từng khu vực riêng biệt cho ngành nông nghiệp, công
nghiệp hoặc từng ngành công nghiệp chuyên sâu. Do tính chất tổng hợp của chỉ tiêu
ICOR cho nên chỉ tiêu này sẽ chỉ có ý nghĩa đối với các nguồn vốn có tỷ trọng lớn
trong đầu tư. Đối với các nguồn vốn quá nhỏ, chỉ tiêu này sẽ có rất ít ý nghĩa. Tuy
nhiên cũng cần phải thấy rằng, đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước không chỉ
đơn thuần nhằm mục tiêu kinh tế mà còn bao hàm cả mục tiêu về chính trị xã hội.
Nó không chỉ là phương tiện đơn thuần để làm thay đổi cơ cấu kinh tế có hiệu quả
hơn mà còn giải quyết vấn đề chính trị quan trọng như: thu hẹp khoảng cách phát
triển ở các vùng núi, khó khăn, đảm bảo an ninh quốc phòng … Điều này đảm bảo
cho việc phân tích toàn diện hiệu quả chứ không chỉ là những nhận định đơn thuần
về hiệu quả kinh tế.
b. Chỉ tiêu hệ số hiệu quả kinh tế vốn đầu tư
Hệ số hiệu quả kinh tế chung của vốn đầu tư là kết quả cụ thể của một đồng vốn
đầu tư bỏ vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào đó sẽ thu được bao nhiêu tiền lãi. Nó có tác
dụng để đánh giá kết quả đầu tư giữa các thời kỳ hoặc giữa các ngành, xí nghiệp. Chỉ tiêu
này được xác định trong những phạm vi khác nhau tuỳ theo yêu cầu của việc nghiên cứu.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 25
Đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân hoặc của các ngành sản xuất lớn người
N
E
c V
qd
ta xác định chỉ tiêu này như sau:
cE : là hệ số hiệu quả kinh tế chung của vốn đầu tư.
N : là mức tăng thu nhập quốc dân trong kỳ.
qdV : là vốn đầu tư bỏ vào lĩnh vực sản xuất trong kỳ đưa đến mức tăng thu
Trong đó:
nhập quốc dân.
c. Chỉ tiêu giá trị sản phẩm thuần tuý tăng thêm. Ký hiệu là NVA. Đây là chỉ tiêu
phản ánh hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư. NVA là mức chênh lệch giữa toàn bộ giá
trị đầu ra và toàn bộ giá trị đầu vào. NVA được tính bằng công thức:
NVA = O – (M1 + Iv)
Trong đó:
O: là tổng giá trị đầu ra dự kiến (doanh thu)
M1: là tổng giá trị đầu vào
Iv: là vốn đầu tư hoặc (khấu hao)
d. Chỉ tiêu số lao động có việc làm. Do thực hiện đầu tư và số lao động có việc làm
tính trên một đơn vị vốn đầu tư.
Số lao động có việc làm bao gồm số lao động có việc làm trực tiếp và việc
làm gián tiếp. Hệ số lao động có việc làm trên một đơn vị vốn đầu tư được tính
I = T
L T I
VT
bằng công thức:
Trong đó:
IT: là hệ số lao động có việc làm trên một đơn vị vốn đầu tư IVT: Tổng số vốn đầu tư
LT: Tổng số lao động có việc làm.
1.2.3.3. Phạm vi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước
Trong điều kiện nguồn vốn ngân sách nhà nước có hạn, nhà nước chỉ đầu tư
vào những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư, không có
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 26
khả năng đầu tư hoặc không được phép đầu tư. Do đó phạm vi đầu tư phát triển từ
ngân sách nhà nước tập trung chủ yếu vào các dự án thuộc loại sau:
- Dự án có quy mô lớn mà các thành phần kinh tế khác khó có khả năng đáp
ứng. Các công trình loại này thường là các công trình lớn có phạm vi ảnh hưởng sâu
rộng đến sự phát triển kinh tế, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng,
miền, địa phương hoặc ngành kinh tế.
- Dự án có khả năng thu hồi vốn thấp. Các dự án này do khả năng thu hồi
vốn thấp nên không hấp dẫn các thành phần kinh tế khác đầu tư vào trong khi công
trình lại có ý nghĩa kinh tế xã hội quan trọng nên nhà nước phải sử dụng ngân sách
nhà nước để đầu tư xây dựng.
- Dự án mà các thành phần kinh tế khác không được phép đầu tư. Loại này
thường là các công trình thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng, các công trình có ảnh
hưởng lớn đến đời sống kinh tế xã hội của nhân dân.
1.3. QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CÁC
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
1.3.1. khái niệm chung
Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối
tượng quản lý để điều khiển đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
Quản lý đầu tư chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng quá
trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết
quả đầu tư cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tư tạo ra) bằng một hệ thống đồng bộ
các biện pháp kinh tế - xã hội và tổ chức - kỹ thuật cùng các biện pháp khác nhằm
đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên
cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật
vận động đặc thù của đầu tư nói riêng.
Để nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển, vấn đề quan trọng là quản lý vốn đầu tư.
Quản lý vốn đầu tư phát triển là quá trình quản lý các chi phí đầu tư để đạt được mục tiêu
đầu tư. Các chi phí đó bao gồm chi phí khảo sát, quy hoạch, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi
phí mua sắm thiết bị xây lắp và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán được duyệt.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 27
Quản lý đầu tư ở tầm vĩ mô là quản lý các dự án đầu tư. Quá trình hình thành
và vận hành dự án qua ba giai đoạn là: chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư và vận
hành khai thác dự án. Mỗi giai đoạn gồm nhiều bước công việc khác nhau được tiến
hành một cách liên tục. Quá trình quản lý đầu tư theo các dự án cũng là quá trình
quản lý trong từng bước, từng giai đoạn của nó.
Vốn đầu tư phát triển được quản lý theo yêu cầu, nguyên tắc, mục đích và
trình tự, thủ tục như sau:
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng
1.3.2.1. Môi trường kinh tế - xã hội
Nếu môi trường đầu tư hấp dẫn về lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh như tài
nguyên thiên nhiên, sức lao động, thị trường tiêu thụ, giá thuê đất, thuế, tín dụng … thì sẽ
thu hút được nhà đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư sẽ có điều kiện cao hơn và ngược lại.
Nếu điều kiện chính trị - xã hội ổn định, luật pháp đảm bảo, nhất quán sẽ làm
cho mọi người yên tâm bỏ vốn đầu tư, yên tâm làm ăn, một điều kiện thuận lợi cho
việc phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và ngược lại.
1.3.2.2. Cơ chế chính sách và các quy định của nhà nước
Nếu cơ chế quản lý đầu tư xây dựng phù hợp với chế độ sở hữu vốn, tạo
được động lực và sự ràng buộc về quyền lợi, trách nhiệm, tính chủ động sáng tạo
của chủ đầu tư thì sẽ phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và ngược lại.
Chính sách và cơ chế đầu tư là nhân tố chủ quan, nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả đầu tư. Nếu có cơ chế và chính sách đúng thì sẽ huy động và khai thác tốt các
điều kiện khả năng, lợi thế so sánh của các quốc gia, các doanh nghiệp và dân cư.
Chính sách đầu tư với những ưu đãi thì tạo điều kiện không chỉ các nhà đầu
tư nước ngoài mà cả các nhà đầu tư trong nước đến đầu tư, bên cạnh thu hút được
nhiều vốn, mà còn thu hút cả kinh nghiệm quản lý, công nghệ và tạo điều kiện để
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Chính sách đầu tư bao gồm một hệ thống đồng bộ các công cụ, cơ chế
khuyến khích đầu tư như: chính sách thuế, lãi suất, tín dụng, lao động, tiền lương,
đất đai, chính sách khuyến khích đầu tư theo vùng, ngành. Đối với những vùng,
miền ưu tiên thì cần phải có những chính sách cụ thể, nhất quán, mang tính ổn định
và lâu dài.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 28
Bằng việc nhận dạng nguyên nhân gây ra sự khác biệt giữa việc định giá
kinh tế và giá tài chính, nhà phân tích có thể nói được liệu sự khác biệt đó là do thị
trường hay chính sách gây ra. Nếu là do chính sách gây ra, thì phải xem xét chi phí
và lợi ích của sự thay đổi chính sách làm cho những đánh giá kinh tế và tài chính
xích lại gần nhau hơn. Do vậy, cần phải cân nhắc kỹ khi đầu tư xây dựng một dự án,
như địa điểm, qui mô vào thời gian nào, đã đúng lúc chưa, hay liệu có tốt hơn
không nếu thuyết phục các cơ quan chức năng thay đổi chính sách
1.3.2.3. Quan điểm của huyện
Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới phát triển huyện. Trong đó đầu tư từ
nguồn ngân sách nhà nước là một nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã
hội của huyện. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đến thực hiện dự án,
đồng thời cũng phải quản lý chặt chẽ trong tất cả các khâu của dự án để chống lãng
phí, thất thoát đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
1.3.2.4. Năng lực quản lý của huyện nói chung và của đội ngũ cán bộ
Đa số chủ đầu tư, Ban quản lý thiếu tính chuyên nghiệp, chưa được đào tạo
đầy đủ, thiếu kinh nghiệm, yếu cả về chuyên môn và khả năng quản lý XDCB .
Năng lực cán bộ quản lý đầu tư xây dựng bao gồm các cấp cán bộ như chủ
đầu tư, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý, cán bộ lãnh đạo … đáp ứng yêu cầu về năng
lực trình độ, thích ứng với cơ chế thị trường là điều kiện thuận lợi phát huy hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư và ngược lại.
1.3.2.5. Phương pháp quản lý ĐT PT từ NSNN của huyện
Để quản lý đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách, huyện Thanh Ba đã thành lập hai
ban quản lý dự án là Ban QLDA đầu tư xây dựng khối kinh tế và Ban QLDA đầu tư xây
dựng khối văn hóa – xã hội do 2 đồng chí phó Chủ tịch UBND huyện làm trưởng ban; các
phó ban là các trưởng phòng: Tài chính – kế hoạch, Kinh tế và hạ tầng, Nông nghiệp và
phát triển nông thôn; các thành viên trong ban là do chuyên viên các phòng chuyên môn
tham gia. Cả hai Ban QLDA hoạt động theo cơ chế kiêm nhiệm vừa là công chức nhà
nước và hoạt động kiêm nhiệm quản lý dự án. Các bước từ khảo sát thiết kế, đến giám sát,
thi công đều được giao cho các công ty có đủ năng lực thực hiện.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 29
1.4. NỘI DUNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ VỐN NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC
1.4.1. Công tác lập và quản lý quy hoạch
- Tất cả các chủ đầu tư khi tiến hành lập dự án đầu tư các dự án thuộc thẩm
quyền quyết định đầu tư của UBND huyện Thanh Ba phải được quy hoạch địa điểm
xây dựng (đối với dự án chưa được cấp đất) hoặc phải được xác nhận địa điểm có
phù hợp hay không (đối với dự án chủ đầu tư đã được cấp đất). UBND huyện Thanh
Ba lựa chọn và phê duyệt quy hoạch .
- Trước khi tiến hành xây dựng chủ đầu tư phải được cấp giấy phép xây dựng.
+ UBND huyện cấp giấy phép xây dựng các công trình trên địa bàn mình quản
lý gồm:
- Công trình của các tổ chức được xây dựng trên địa bàn các xã, thị trấn.
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội; quy hoạch phát triển ngành; quy hoạch
phát triển vùng … Mục đích, yêu cầu của công tác lập và quản lý quy hoạch là xây dựng
những căn cứ khoa học, thực tiễn, làm cơ sở cho việc hoạch định và chỉ đạo thực hiện các
chủ trương, các kế hoạch, chương trình, dự án phát triển trong 5 năm, 10 năm và 15 năm.
Quy hoạch giúp cho nhân dân, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong
huyện, ngoài huyện và nước ngoài hiểu rõ được tiềm năng, thế mạnh, cơ hội đầu tư,
khả năng hợp tác liên doanh, liên kết trên địa bàn cũng như với các huyện khác. Mặt
khác giúp các cấp uỷ Đảng, UBND các cấp chỉ đạo, điều hành việc thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, đột phá phát triển phù hợp với cơ chế thị trường.
1.4.2. Lập kế hoạch và bố trí vốn ĐT
+ Điều kiện để các dự án được bố trí kế hoạch vốn đầu tư hàng năm của Nhà nước:
- Đối với các dự án quy hoạch: có đề cương hoặc nhiệm vụ dự án quy hoạch
và dự toán chi phí công tác quy hoạch được duyệt theo thẩm quyền.
- Đối với các dự án chuẩn bị đầu tư: phải phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và
lãnh thổ được duyệt; có dự toán chi phí công tác chuẩn bị đầu tư được duyệt theo thẩm quyền.
- Đối với các dự án thực hiện đầu tư: phải có quyết định đầu tư từ thời điểm
trước 31 tháng 10 năm trước năm kế hoạch, có thiết kế, dự toán và tổng dự toán
được duyệt theo quy định.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 30
Trường hợp dự án được bố trí vốn trong kế hoạch thực hiện đầu tư nhưng chỉ
để làm công tác chuẩn bị thực hiện dự án thì phải có quyết định đầu tư và dự toán
chi phí công tác chuẩn bị thực hiện dự án được duyệt.
+ Lập kế hoạch, bố trí và thẩm tra phân bổ vốn đầu tư năm:
* Lập kế hoạch:
- Theo quy định của Luật NSNN về việc lập dự toán NSNN hàng năm, căn
cứ vào tiến độ và mục tiêu thực hiện dự án, chủ đầu tư lập kế hoạch vốn đầu tư của
dự án gửi cơ quan quản lý cấp trên.
- Thời gian lập, trình, duyệt, giao kế hoạch vốn đầu tư theo quy định của Luật
NSNN.
* Phân bổ vốn:
- Ủy ban nhân dân huyện Thanh Ba lập phương án phân bổ vốn đầu tư trình Hội
đồng nhân dân huyện quyết định. Theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân phân bổ và quyết định giao kế hoạch vốn đầu tư cho từng dự án thuộc phạm
vi quản lý đã đủ các điều kiện quy định, đảm bảo khớp đúng với chỉ tiêu được giao về
tổng mức đầu tư; cơ cấu vốn trong nước, vốn ngoài nước, cơ cấu ngành kinh tế; đúng
với Nghị quyết Quốc hội, nghị quyết Tỉnh uỷ, Huyện uỷ chỉ đạo của UBND tỉnh về
điều hành kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán NSNN hàng năm.
Phòng Tài chính Kế hoạch huyện có trách nhiệm cùng với các cơ quan chức
năng của huyện tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện phân bổ vốn đầu tư cho từng
dự án do huyện quản lý.
- Sau khi phân bổ vốn đầu tư huyện Thanh Ba có trách nhiệm gửi kế hoạch
vốn đầu tư cho Sở Tài chính.
* Giao kế hoạch vốn cho các chủ đầu tư:
Sau khi việc phân bổ vốn đã được sở Tài chính thẩm tra, chấp thuận.UBND
huyện giao chỉ tiêu kế hoạch cho các chủ đầu tư để thực hiện, đồng gửi Kho bạc nhà
nước nơi dự án mở tài khoản để theo dõi, làm căn cứ kiểm soát, thanh toán vốn.
* Thẩm tra và thông báo danh mục dự án và vốn đầu tư:
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 31
- Căn cứ kế hoạch vốn đầu tư đã được Ủy ban nhân dân quyết định, phòng
Tài chính Kế hoạch huyện xem xét thủ tục đầu tư xây dựng của các dự án, thông
báo gửi các cơ quan chức năng trong huyện, đồng gửi Kho bạc nhà nước để làm căn
cứ kiểm soát thanh toán vốn.
- Trường hợp dự án không đủ thủ tục đầu tư xây dựng hoặc việc phân bổ kế
hoạch chưa đúng với quy định, phòng Tài chính Kế hoạch có văn bản báo cáo Ủy
ban nhân dân đồng cấp để chỉ đạo hoàn tất thủ tục theo quy định.
- Chủ đầu tư phải gửi phòng Tài chính - kế hoạch các cấp các tài liệu cơ sở của các
dự án trong kế hoạch để thẩm tra, thông báo danh mục thanh toán vốn của các dự án
đầu tư.
1.4.3. Phân cấp quản lý ĐT và xây dựng
Quản lý dự án các công trình trên địa bàn huyện Thanh Ba nói riêng và cấp xã
nói chung trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đều theo hệ thống quy định pháp luật về đầu tư
xây dựng cơ bản do Chính Phủ quy định. Được thực hiện trên cơ sở hướng dẫn của
Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và các bộ chủ quản theo chuyên ngành..
Tại địa bàn huyện Thanh Ba tỉnh Phú thọ các dự án đầu tư được thực hiện
trên cơ sở cơ quan quyết định đầu tư là UBND huyện Thanh Ba. Các dự án đầu tư
có quy mô dưới 15 tỷ đồng được UBND tỉnh quy định tại quyết định số: 04/2013/QĐ-
UBND ngày 23 tháng 4 năm 2013 của UBND tỉnh Phú Thọ về việc phân cấp cho Chủ
tịch UBND các huyện, thành thị thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng công trình sử
dụng vốn hỗ trợ từ ngân sách cấp trên;
Theo phân cấp quy định của Chính phủ thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp
quyết định đầu tư các dự án nhóm A, B, C trong phạm vi và khả năng cân đối ngân
sách của địa phương sau khi thông qua Hội đồng nhân dân cùng cấp. Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được uỷ quyền hoặc phân cấp quyết định đầu tư
đối với các dự án nhóm B, C cho cơ quan cấp dưới trực tiếp; Tùy theo điều kiện cụ
thể của từng địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể cho
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã được quyết định đầu tư các dự án có
sử dụng nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách cấp trên. Hiện tại UBND tỉnh Phú Thọ chưa
có quy định phân cấp quyết định đầu tư cho UBND các xã trong tỉnh.Vì vậy, các xã
chỉ quản lý xây dựng công trình do cấp trên giao cho làm chủ đầu tư.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 32
1.4.4.Công tác lập và thẩm định dự án đầu tư:
Đối với các dự án sử dụng ngân sách địa phương thuộc thẩm quyền quyết định
đầu tư của UBND huyện (hoặc xã), phòng tài chính kế hoạch huyện Thanh Ba phối
hợp với các phòng, ban chuyên ngành thuộc huyện thẩm định dự án, báo cáo kinh tế
kỹ thuật trình UBND huyện (hoặc gửi kết quả thẩm định cho UBND xã) phê duyệt. Trong giai đoạn thẩm định dự án đầu tư, Chủ đầu tư cần thẩm tra, đánh giá
lại toàn bộ nội dung dự án đầu tư đã được lập, về cả kinh tế và kỹ thuật, trong đó
bao gồm cả việc thẩm định tổng mức đầu tư và thông qua quyết định đầu tư. Quá
trình này đòi hỏi sự phân tích tổng thể để nhận định các phương án đầu tư khả thi,
đánh giá các khoản chi phí ban đầu, xác định những đặc điểm riêng biệt của dự án
và kết hợp với trực giác nhạy cảm nghề nghiệp, chủ đầu tư ra quyết định đầu tư.
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư được kết thúc bằng quyết định cuối cùng về đầu tư
bởi các nhà đầu tư hoặc các định chế tài chính.
Thông thường công tác thẩm định dự án đầu tư do các cơ quan chuyên môn
của Chủ đầu tư thực hiện hoặc có thể hợp đồng với một đơn vị tư vấn để thẩm định
dự án. Ngoài ra, theo quy định của Luật Đầu tư 2005, đối với các dự án vay vốn tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước phải được tổ chức cho vay thẩm định và chấp
thuận phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay trước khi quyết định đầu tư.
Theo Điều 39 Luật Xây dựng 2003, dự án đầu tư xây dựng công trình trước
khi quyết định đầu tư phải được thẩm định theo quy định của Chính phủ. Tổ chức,
cá nhân thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về kết quả thẩm định của mình. Người quyết định đầu tư xây dựng công
trình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình.
1.4.4. Công tác lập và thẩm định DA ĐT
Theo Nghị định số 12/2009/NĐ-CP của Chính phủ, nội dung thẩm định dự
án đầu tư xây dựng công trình bao gồm 2 phần: thẩm định dự án đầu tư của người
quyết định đầu tư và thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan có thẩm quyền
thẩm định thiết kế cơ sở.
1. Nội dung thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình của người quyết
định đầu tư:
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 33
a. Xem xét các yếu tố đảm bảo tính hiệu quả của dự án, bao gồm: sự cần
thiết đầu tư; các yếu tố đầu vào của dự án; quy mô, công suất, công nghệ, thời gian,
tiến độ thực hiện dự án; phân tích tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án;
b. Xem xét các yếu tố đảm bảo tính khả thi của dự án, bao gồm: sự phù hợp
với quy hoạch; nhu cầu sử dụng đất, tài nguyên (nếu có); khả năng giải phóng mặt
bằng, khả năng huy động vốn đáp ứng tiến độ của dự án; kinh nghiệm quản
lý của chủ đầu tư; kết quả thẩm định thiết kế cơ sở; khả năng hoàn trả vốn vay; giải
pháp phòng, chống cháy nổ; các yếu tố ảnh hưởng đến dự án như quốc phòng, an
ninh, môi trường trên cơ sở ý kiến bằng văn bản của các cơ quan liên quan và các
quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Nội dung thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan có thẩm quyền:
a. Sự phù hợp của thiết kế cơ sở với quy hoạch xây dựng; sự kết nối với các
công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào;
b. Việc áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về xây dựng, môi trường,
phòng chống cháy nổ;
c. Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức tư vấn, năng lực hành
nghề của cá nhân lập thiết kế cơ sở theo quy định.
Trên thực tế, khi thẩm định dự án đầu tư, cơ quan thẩm định còn cần phải
thẩm định những nội dung cụ thể sau:
- Sự phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch
phát triển ngành, quy hoạch xây dựng; trong trường hợp chưa có các quy hoạch này
thì phải có ý kiến thoả thuận của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đó.
- Đối với các dự án phải lập Báo cáo đầu tư xây dựng công trình (dự án lớn
phải được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư): cần thẩm định sự
phù hợp của dự án đầu tư với Báo cáo đầu tư xây dựng công trình đã được lập.
- Sự phù hợp của thiết kế cơ sở về quy hoạch xây dựng, quy mô xây
dựng, công nghệ, công suất thiết kế, cấp công trình; các số liệu sử dụng trong thiết kế, các
quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng; các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật so với yêu cầu của dự án.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 34
- Sự phù hợp của thiết kế cơ sở với phương án kiến trúc đã được lựa chọn
thông qua thi tuyển đối với các dự án có thi tuyển phương án kiến trúc.
- Sự hợp lý của các giải pháp thiết kế trong thiết kế cơ sở.
- Kiểm tra điều kiện năng lực hoạt động của tổ chức tư vấn, năng lực hành
nghề của cá nhân lập dự án và lập thiết kế cơ sở theo quy định của Bộ Xây dựng.
Ngoài ra, nội dung về thẩm định dự án đầu tư còn được quy định chi tiết trong các
văn bản sau: Thông tư số: 03/2009/TT-BXD ngày 26 tháng 3 năm 2009 của Bộ
Xây dựng hướng dẫn một số nội dung về: lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư
xây dựng công trình; giấy phép xây dựng và tổ chức quản lý dự án đầu tư xây
dựng công trình quy định tại Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009
của Chính phủ, Nghị định số 15/2013/NĐ -CP ngày 06 tháng 02 năm 2013 của
Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng; thông tư số 10/2013/TT-
BXD ngày 25 tháng 7 năm 2013 về quy định chi tiết một số nội dung về quản lý
chất lượng công trình xây dựng.
Thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư theo Điều 10 Nghị định số
12/2009/NĐ-CP như sau:
1. Người quyết định đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định dự án trước
khi phê duyệt. Đầu mối thẩm định dự án là đơn vị chuyên môn trực thuộc
người quyết định đầu tư. Đơn vị đầu mối thẩm định dự án có trách nhiệm gửi hồ sơ
dự án lấy ý kiến thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan có thẩm quyền và lấy ý kiến
các cơ quan liên quan để thẩm định dự án.
2. Thủ tướng Chính phủ thành lập Hội đồng thẩm định nhà nước về các dự
án đầu tư để tổ chức thẩm định dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư và
dự án khác nếu thấy cần thiết.
3. Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước:
a. Cơ quan cấp Bộ tổ chức thẩm định dự án do mình quyết định đầu tư. Đầu
mối tổ chức thẩm định dự án là đơn vị chuyên môn trực thuộc người quyết
định đầu tư;
b. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định dự án do mình quyết định đầu tư.
Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối tổ chức thẩm định dự án. ủy ban nhân dân cấp huyện,
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 35
cấp xã tổ chức thẩm định dự án do mình quyết định đầu tư. Đầu mối thẩm định dự án là
đơn vị có chức năng quản lý kế hoạch ngân sách trực thuộc người quyết định đầu tư.
4. Đối với dự án khác thì người quyết định đầu tư tự tổ chức thẩm định dự án.
5. Đối với dự án đầu tư xây dựng công trình đặc thù thì việc thẩm định dự án
thực hiện theo quy định tại Nghị định số 71/2005/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm
2005 của Chính phủ.
Trong đó Nghị định này quy định công trình đặc thù là các công trình liên quan
đến bí mật nhà nước, công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp và công trình tạm.
6. Việc thẩm định thiết kế cơ sở được thực hiện cùng lúc với việc thẩm định
dự án đầu tư, không phải tổ chức thẩm định riêng.
Các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tham gia ý kiến về thiết kế cơ sở:
a. Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành đối với dự án quan trọng quốc
gia, dự án nhóm A;
b. Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành đối với dự án nhóm B, nhóm C.
7. Thời gian thẩm định dự án, được tính từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cụ thể:
a. Đối với dự án quan trọng quốc gia: thời gian thẩm định dự án không quá 90
ngày làm việc;
b. Đối với dự án nhóm A: thời gian thẩm định dự án không quá 40 ngày làm việc;
c. Đối với dự án nhóm B: thời gian thẩm định dự án không quá 30 ngày làm việc;
d. Đối với dự án nhóm C: thời gian thẩm định dự án không quá 20 ngày làm việc.
1.4.5. Công tác quản lý đấu thầu
Chủ tịch UBND huyện, hồ sơ mời thầu, kết quả đấu thầu các công trình xây
dựng thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của mình trên cơ sở trình duyệt của chủ
đầu tư và kết quả thẩm định của các tổ chức tư vấn đấu thầu, của phòng tài chính kế
hoạch huyện hoặc tổ chấm thầu do UBND huyện thành lập.
Quy chế đấu thầu được Chính phủ ban hành lần đầu tiên vào năm 1996
(Nghị định 43/NĐ-CP và 93/NĐ-CP), năm 2006 Quy chế Đấu thầu ban hành theo
Nghị Định số: 111/2006/NĐ-CP và tiếp tục được hoàn thiện và chỉnh sửa để phù hợp
với thực tế hoạt động đấu thầu qua các nghị định 58/2008/NĐ-CP và nghị định
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 36
85/2009/NĐ-CP của Chính phủ. Qua nghiên cứu quy chế đấu thầu của Nhà nước và
tìm hiểu thực tế rút ra một số nhận xét sau:
- Hệ thống pháp lý về đấu thầu của Nhà nước đã được sửa đổi, hoàn chỉnh
phù hợp với thực tế, tạo điều kiện thuận lợi để các cá nhân, tổ chức áp dụng. Quy
chế đấu thầu là một công cụ để toàn xã hội giám sát các hoạt động của các Ban quản
lý, Chủ đầu tư; làm cho việc sử dụng đồng tiền của nhà nước có hiệu quả.
- Đấu thầu mang lại hiệu quả rõ rệt. Hiệu quả qua đấu thầu trước tiên là ở chỗ thông
qua đấu thầu chúng ta lựa chọn được nhà thầu đủ kinh nghiệm và năng lực để thực hiện
công việc theo yêu cầu. Nhà thầu phải có giải pháp khả thi để thực hiện công việc được
giao và đảm bảo trúng thầu không được vượt giá gói thầu và giá dự toán được duyệt.
- Hiệu quả của đấu thầu chính là tạo ra sự cạnh tranh để làm động lực cho sự
phát triển, đã lựa chọn được công ty mạnh có đủ năng lực thiết bị, con người và tiền
vốn đảm đương được công trình phức tạp và vốn lớn, thời gian thi công được rút
ngắn, đạt được chất lượng cao.
- Tiết kiệm được nguồn vốn đầu tư.
- Thông qua đấu thầu công tác giải ngân, thanh quyết toán nhanh gọn hơn.
- Các công trình đưa vào sử dụng đúng tiến độ sớm phát huy được hiệu quả.
1.4.6. Giám sát, giải ngân và quản lý chất lượng công trình quản lý đầu tư
Kho bạc nhà nước thanh toán cho chủ đầu tư theo hợp đồng xây lắp giữa chủ
đầu tư và nhà thầu.
Khi có khối lượng hoàn thành được nghiệm thu, chủ đầu tư lập hồ sơ đề nghị
thanh toán gửi Kho bạc nhà nước, bao gồm:
- Biên bản nghiệm thu hoàn thành bộ phận công trình xây dựng, giai đoạn thi
công xây dựng hoặc biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình hoặc công
trình để đưa vào sử dụng kèm theo bản tính giá trị khối lượng được nghiệm thu;
- Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư;
- Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng vốn đầu tư (nếu có thanh toán tạm ứng);
- Giấy rút vốn đầu tư.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 37
Đối với khối lượng xây dựng công trình hoàn thành theo hình thức đấu thầu,
Kho bạc nhà nước căn cứ vào tiến độ thực hiện do chủ đầu tư và nhà thầu xác định
trên cơ sở hợp đồng và khối lượng nghiệm thu để thanh toán.
Kiểm soát được hiểu là một quá trình hoạt động và là một hệ thống.
Kiểm soát dự án bao gồm một loạt hành động và công việc được thực hiện theo
một quy trình nhất định, đồng bộ từ ý tưởng đầu tư, qua thực hiện cho đến khi dự
án được vận hành đi vào hoạt động. Việc lập báo cáo trong tiến trình thực hiện đối
với dự án kéo dài khoảng vài ba năm là hàng tuần hoặc 2 tuần một lần. Mục tiêu
của báo cáo là nhằm cung cấp thông tin đầy đủ cho chủ nhiệm dự án, nâng cao hiệu
quả quản lý. Nền tảng tổng thể của quá trình kiểm soát là sự so sánh tiến độ và chi
phí giữa kế hoạch và thực tế để khi cần sẽ tiến hành các hành động điều chỉnh, đảm
bảo cho dự án đi theo đúng quỹ đạo đã vạch sẵn để đạt được mục tiêu.
Trong quá trình quản lý dự án đồng thời với công tác kiểm soát, công tác giám sát
cũng đóng vai trò rất quan trọng. Giám sát là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự
án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết
các vướng mắc trong quá trình thực hiện, nghiệm thu đưa dự án vào sử dụng.
Nội dung giám sát và kiểm soát dự án gồm nhiều nội dung, nhưng trong quản lý
dự án thì những nội dung quan trọng nhất cần được theo dõi kiểm soát là: Tiến độ
thi công; chi phí; chất lượng và rủi ro của dự án.
Công tác giám sát công trình là công việc kiểm tra để đảm bảo dự án được thực
hiện đúng theo hồ sơ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Công tác giám sát công
trình phải được thực hiện đầy đủ từ khâu khảo sát đến khâu thi công công trình,
giám sát phải được thực từ nhiều phía như giám sát của đơn vị tư vấn giám sát,
giám sát của chủ đầu tư và giám sát cộng đồng. Đặc biệt đơn vị tư vấn giám sát phải
luôn có mặt tại công trình để giám sát quá trình thực hiện dự án đảm bảo thi công
theo đúng phê duyệt, kiểm tra chất lượng thi công và nghiệm thu các khối lượng
hoàn thành. Việc giám sát chất lượng công trình rõ ràng nhất được thể hiện ở các
giai đoạn nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử dụng.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 38
Công tác giải ngân là công tác thanh toán khối lượng công việc đã hoàn
thành. Công tác giải ngân phải được thực hiện nhanh chóng khi có khối lượng hoàn
thành đã được các bên nhất trí nghiệm thu.
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là công việc hết sức quan trọng
trong quá trình thực hiện dự án đầu tư và phải được tiến hành nghiêm ngặt trong tất
cả các khâu từ khảo sát, thiết kế, thẩm định, thi công, lắp đặt, nghiệm thu và bàn
giao để đảm bảo những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của
công trình nhưng phải phù hợp với qui chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các qui định
trong văn bản qui phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế. Chất lượng
công trình xây dựng không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn phải
thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có chứa đựng yếu tố xã hội và kinh tế.
1.4.7. Nghiệm thu và thanh quyết toán
Công tác nghiệm thu là công việc mà các bên tham gia trong việc thực hiện dự
án cùng nhau kiểm tra về chất lượng và khối lượng của một công việc hay một hạng
mục công việc hoặc toàn bộ công trình và đối chiếu với hồ sơ đã được phê duyệt
cùng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng xem công việc hay hạng mục công việc đó
đã đảm bảo hay chưa.
Chủ đầu tư thực hiện quyết toán theo hướng dẫn của phòng tài chính kế hoạch, hoặc
ban tài chính xã (nếu có đủ năng lực) theo các quy định, hướng dẫn của thông tư
33/2007/TT-BTC về hướng dẫn quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước.
Về thẩm tra, phê duyệt quyết toán:
UBND huyện phê duyệt quyết toán các dự án hoàn thành thuộc thẩm quyền quyết
định đầu tư của mình trên cơ sở kết quả thẩm tra của phòng tài chính kế hoạch.
Phòng tài chính kế hoạch thẩm tra quyết toán dụ án hoàn thành đối với các công trình
xây dựng thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư của cấp huyện và các dự án hoàn thành thuộc
thẩm quyền quyết định đầu tư của cấp xã nếu nhận được yêu cầu bằng văn bản của cấp xã.
Chủ tịch UBND xã phê duyệt quyết toán trên cơ sở kết quả thẩm tra của ban
tài chính xã, hoặc kết quả thẩm tra quyết toán của phòng tài chính kế hoạch huyện
các dự án hoàn thành thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 39
Công tác thanh quyết toán nhằm đánh giá lại toàn bộ hoạt động đầu tư, xác định giá
trị và hiệu quả thực tế của các dự án hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng. Cùng với
việc thực hiện công tác nghiệm thu, lập hồ sơ hoàn công thì công tác thanh quyết toán
vốn đầu tư cũng cần được thực hiện hiệu quả, theo sát thực tế công trình.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Đầu tư phát triển là nhiệm vụ chiến lược, một giải pháp chủ yếu để thực hiện
các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định và bền
vững cho một đất nước cũng như trong từng địa phương.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là một trong những nhiệm vụ hàng đầu
của nền kinh tế, của các cấp, các ngành và của nhà đầu tư, là một đòi hỏi khách quan của
sự công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, là một biện pháp tích cực nhất để giải quyết
đúng đắn mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng kinh tế ở tốc độ cao, bền vững với khả
năng tích luỹ có hạn của các nền kinh tế nói chung, của đất nước ta nói riêng.
Để nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển, vấn đề quan trọng là quản lý vốn đầu tư. Quản
lý vốn đầu tư phát triển là quá trình quản lý các chi phí đầu tư để đạt được mục tiêu đầu tư.
Quản lý đầu tư ở tầm vĩ mô là quản lý các dự án đầu tư. Quá trình hình thành
và vận hành dự án qua ba giai đoạn là: chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư và vận
hành khai thác dự án. Mỗi giai đoạn gồm nhiều bước công việc khác nhau được tiến
hành một cách liên tục. Quá trình quản lý đầu tư theo các dự án cũng là quá trình
quản lý trong từng bước, từng giai đoạn của nó.
Các nội dung chủ yếu của quản lý các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà
nước gồm: Công tác kế hoạch hoá vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách; Công
tác lập và quản lý quy hoạch; Công tác lập và thẩm định dự án đầu tư, thiết kế kỹ
thuật, tổng dự toán; Quản lý công tác đấu thầu; Công tác thanh quyết toán; Công tác
quản lý chất lượng công trình xây dựng; Năng lực Ban quản lý và chủ đầu tư; Công
tác giám sát đánh giá đầu tư; Trách nhiệm của các cấp, các ngành trong quản lý đầu
tư và xây dựng.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 40
CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
TỪ VỐN NGÂN SÁCH CỦA HUYỆN THANH BA
2.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN THANH BA,
TỈNH PHÚ THỌ.
2.1.1. Yếu tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
+ Vị trí địa lý, địa hình;
Thanh Ba là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc tỉnh Phú Thọ. Phía Bắc
giáp huyện Hạ Hòa phía Bắc- Đông bắc giáp huyện Đoan hùng ; Phía đông giáp
huyện Phù Ninh ; Phía Tây- Tây Nam giáp huyện Cẩm Khê ; Phía Nam giáp huyện
Tam Nông và Phía Đông - Đông nam giáp Thị xã Phú Thọ. Trung tâm huyện Thị là
Thị trấn Thanh Ba cách thành phố Việt trì khoảng 40km về phía Tây Bắc.
+ Cảnh quan môi trường
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đã tạo cho Thanh Ba một phong cảnh đẹp với địa
hình đa dạng bao gồm cả đồng bằng và trung du, miền núi. Sự sắp xếp các gò đồi ngẫu
nhiên theo dạng bát úp, xen giữa là những thung lũng hẹp chạy dài uốn lượn. Dòng Sông
Hồng chảy từ phía Tây bắc xuống Đông Nam với lượng nước phong phú, phục vụ sản
xuất và đời sống nhân dân địa phương và nó là một yếu tố tạo khả năng phát triển du lịch
sinh thái và du lịch thiên nhiên. Môi trường sinh thái của Thanh Ba trong thời gian gần đây
do tác động của các cơ sở công nghiệp như nhà máy Rượu, nhà máy Xi măng ở khu vực
Thị trấn huyện, hay yếu tố dùng thuốc bảo vệ thực vật do tập quán trồng chè trong khu vực
đất dân sinh cũng đã có những biểu hiện ô nhiễm môi trường nước, không khí ở những
khu vực có liên quan, ảnh hưởng khá lớn đến đời sống sinh hoạt của dân cư lân cận
2.1.2. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
+ Về đất đai
Đất đai của huyện thanh Ba chia làm hai nhóm có nguồn gốc phát sinh khác nhau
đó là nhóm đất đồng bằng, thung lũng và nhóm đất gò đồi. Nhóm đất đồng bằng chịu
ảnh hưởng của quá trình tích tụ của các sản phẩm bị rửa trôi, quá trình glay hóa. Những
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 41
đá mẹ có thành phần khoáng vật và thành phần hóa học dễ bị phong hóa nên phong hóa
nhanh và tầng đất dầy. nhóm đất đồi gò lại hình thành và phát triển trên nền đá mẹ biến
chất glay lẫn pecmatich và phiến thạch mica chịu sự tác động của quá trình feralitic
là chủ yếu.Tổng quý đất (diện tích đất tự nhiên) là 19 503,41 ha
+ Về tài nguyên Rừng
Hiện tại ở Thanh Ba tài nguyên Rừng có chất lượng không cao, diện tích rừng
của huyện chủ yếu là rừng trồng mới, rừng tái sinh chưa đến tuổi được khai thác.
Trong những năm gần đây, công tác quản lý và bảo quản rừng được thực hiện khá
tốt, nên diện tích rừng của huyện đang từng bước được thu hồi. Độ che phủ rừng
được nâng lên năm 2009 là 24,4% năm 2011 là 26,9%. Trong địa bàn huyện về cơ
bản đã hình thành được vùng sản xuất hàng hóa từ phát triển kinh tế đồi rừng , kinh
tế trang trại nhiều hộ từng bước đi lên làm giầu bằng kinh tế đồi rừng.
+ Tài nguyên nước:
Tài nguyên nước của Thanh Ba được cung cấp chủ yếu bằng 3 nguồn chính:
nước mặt, nước ngầm và nước mưa tự nhiên.
2.1.3. Tài nguyên khoáng sản
Theo báo cáo kết quả điều tra địa chất, trên địa bàn huyện Thanh Ba, có 15
mỏ khoáng sản và điểm quặng. Tình hình cụ thể phản ánh qua bảng sau:
Bảng 2.1: Số lượng và quy mô mỏ quặng trên địa bàn Thanh Ba
Quy mô mỏ Loại hình khoáng STT Số lượng Lớn và vừa nhỏ điểm sản quặng
1 Nhóm nhiên liệu 2 0 1 1
Gốm thủy tinh vật 2 4 0 0 4 liệu chịu lửa
3 Vật liệu xây dựng 9 0 2 7
Tổng cộng 15 0 3 12
Nguồn: Phòng Tài nguyên môi trường huyện Thanh Ba
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 42
Nhìn chung trên địa bàn huyện Thanh Ba, tài nguyên khoáng sản phân bổ rải rác
với quy mô nhỏ, chủ yếu tồn tại dưới điểm quặng và chất lượng không ổn định trong quá
trình khai thác. Toàn huyện có 3 loại khoáng sản chính như sau: Than nâu( khoáng sản
nhiên liệu), với trữ lượng khoảng 12 000 tấn. Các nguyên liệu gốm sứ, thủy tinh, vật liệu
chịu lửa, chủ yếu là kaolin, bao gồm 3 điểm quặng, nằm trên địa bàn . Tổng tữ lượng các
loại quặng này ở cả 3 điểm khoảng 150.000 tấn, hiện chưa được khai thác.
2.1.4. Danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hóa
Là một huyện miền núi phía bắc của tỉnh Phú Thọ, Thanh Ba là mảnh đất
giầu truyền thống cách mạng và có bề dầy văn hóa lâu đời. Hàng vạn năm trước
đây, Thanh Ba là nơi cư trú của người nguyên thủy với nhiều dấu tích của nền văn
hóa Sơn Vi được phát hiện ở Núi Thắm ( xã Võ Lao hiện nay). Trên địa bàn huyện
hiện còn bảo tồn được nhiều di sản văn hóa có giá trị, bao gồm các di sản văn hóa
vật thể và phi vật thể. 13 di tích được công nhận là di tích lịch sử văn hóa, trong đó
có 2 di tích được nhà nước công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia là: Đền Du Yến
xã Chí tiên: Đây là nơi thờ Nữ tướng Nguyễn Thị Hạnh một trưởng lĩnh tiền quân
thời hai Bà Trưng khởi nghĩa đánh giặc Đông – Hán những năm đầu công nguyên.
Đền Du Yến không những là di tích lịch sử văn hóa mà còn là danh lam thắng cảnh;
Đình và đền Mạo phổ (xã Lương Lỗ được công nhận năm 1992) là nơi thờ các
tướng lĩnh thời Vua Hùng Vương thứ 17 đánh giặc trong buổi đầu dựng nước. 11 di
tích còn lại là di tích lịch sử cấp tỉnh đó là: Đền Thông ( xã Thanh Xá), Đền Cóc xã
Thanh Xá, Đình Trại xã Đồng Xuân, Đền Mánh xã Ninh Dân, Đền Năng Yên xã
Năng Yên, Đình Ngõa và Chùa Thọ Khuê xã Yển Khê, Đình Mạo Thanh xã Thanh
Hà, Đình Mạn Lạn xã Mạn Lạn, Đình Bổ Đầu và Chùa Bảo Sái xã Lương Lỗ.
Về văn hóa phi vật thể, Thanh Ba vốn là địa phương có truyền thống văn hóa
dân gian phong phú, nhiều hoạt động lễ hội như: hội thi bơi trải đu bay ở Hoàng xá
và xã Vũ Yển; Hội trọi Trâu ở xã Hoàng Cương; Hội vật ở xã Hanh Cù và Đông
Thành, văn hóa dân gian Thanh Ba cũng khá đa dạng: hát ví đồi chè; hát đối làng
ngai xã Khải Xuân. Thanh Ba cũng có nhiều nghề tiểu thủ công nghiệp truyền
thống, cũng được xem là nét đẹp văn hóa địa phương như nghề cắt sơn ( Võ Lao),
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 43
Nghề đan cót và chắp mâm ( Đỗ Xuyên) hiện nay sản phẩm này đã có mặt trên thị
trường quốc tế....
Tất cả các tiềm năng văn hóa lịch sử và danh lam thắng cảnh nói trên là cơ sở cho
Thanh Ba có thể phát triển trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội truyền thống; về kinh
tế, có thể tạo cho Thanh Ba khả năng phát triển du lịch sinh thái, tín ngưỡng, lịch sử
trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện phù hợp với xu thế phát triển
2.2. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG THỜI
GIAN 2010 - 2013
2.2.1. Tăng trưởng kinh tế, thu chi ngân sách và đầu tư
a. Tăng trưởng kinh tế: Từ năm 2010 – 2013, tăng trưởng kinh tế của huyện
đạt tới 6,9%/năm và cao hơn mức bình quân trung bình của cả nước (5,82%). Năm
2012, tốc độ tăng trưởng ngành về nông nghiệp đạt trên 3,2%, công nghiệp xây
dựng đạt xấp xỉ 18% và dịch vụ đạt tới 7,3%. Năm 2013, các chỉ tiêu nêu trên đều
vượt, đặc biệt tốc độ tăng trưởng cao hơn (10,2%), trong đó giá trị sản xuất nông
nghiệp tăng 5,2%. Chất lượng tăng trưởng có bước cải thiện vì đã có một số mặt
hàng (nấm, mộc nhĩ, chè xuất khẩu, may mặc, du lịch… ) xác định được vị thế khá
tốt trên thị trường.
Tổng sản phẩm xã hội bình quân tăng hàng năm xấp xỉ 6,9%, tăng 1,75 lần so
với giai đoạn 2005 – 2008. Bình quân GDP người năm 2012 gấp 1,834 lần năm
2005, đạt 11,89 triệu đồng. Tuy nhiên GDP/người hiện nay mới đạt khoảng 63,49%
so với mức trung bình của cả nước và bằng gần 53,57% của vùng. Trên đà phát
triển như vậy, năm 2009 cũng đạt được các thành tựu kinh tế tốt hơn, cụ thể
GDP/người đạt 11,785 triệu đồng.
b. Thu ngân sách của huyện: Thu ngân sách trên địa bàn huyện trong giai
đoạn từ 2005-2009 liên tục tăng. Năm 2009 thu ngân sách đạt 387,45 tỷ đồng và
vượt mức kế hoạch đặt ra, tăng bình quân trong giai đoạn 31,2%/năm, đến năm
2009 vẫn giữ mức tăng cao trên 62,8%.
c. Tổng đầu tư xã hội: Đầu tư xã hội đạt mức tương đối khá (1.702 tỷ đồng),
gồm đầu tư của nhà nước, đầu tư của doanh nghiệp và đầu tư của nhân dân. Đầu tư
cơ sở hạ tầng tập trung vào củng cố hệ thống giao thông, hệ thống đô thị, mạng lưới
điện, viễn thông và một số công trình hạ tầng dịch vụ cho du lịch, hệ thống thuỷ lợi.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 44
Biểu 2.2. Tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách và đầu tư
So với cả nước, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005- 2012
TT Chỉ tiêu Cả nước Tỉnh Phú Thọ Thanh Ba Đơn
vị 2005 - 2010 - 2005 - 2010 - 2005 - 2010 -
2009 2013 2009 2013 2009 2013
Tốc độ tăng trưởng 7,20 5,78 10,75 8,62 8,76 10,2 1 cả giai đoạn %
2 Tổng GDP (giá SS) Tỷ đ 6.647.531 9.894.070 47.053 82.697 3.619 6.361
3 Tổng thu ngân sách Tỷ đ 1.709.009 3.278.781 3.077 10.993 237 846
4 Tổng đầu tư Tỷ đ 2.373.230 4.240.063 2.457 12.223 189 940
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ
Tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2010 - 2013 đạt 10,2% tổng thu ngân
sách đạt 846 tỷ VNĐ hiện là thấp so với mức trung bình của cả nước.
2.2.2. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế đã và đang chuyển dịch, tỷ trọng nông - lâm - thuỷ sản giảm
nhanh (năm 2005 là 31,71% đến năm 2013 là 23,35%) trong khi công nghiệp xây
dựng tăng lên (28,62% năm 2009 đến năm 2013 là 30,23%). Tỷ trọng dịch vụ tăng
lên khá mạnh nhưng chưa tương xứng với tiềm năng của huyện là huyện du lịch tín
ngưỡng (42,76 năm 2009 đến năm 2013 là 46,42).
Biểu 2.3 So sánh cơ cấu kinh tế Thanh Ba với cả nước,
Tỉnh Phú Thọ năm 2009 và năm 2013
Đơn vị so sánh
TT Cơ cấu kinh tế Huyện Thanh Cả nước Tỉnh Phú Thọ Ba
2009 2013 2009 2013 2009 2013
1 Công nghiệp - xây dựng % 16,42 18,4 12,95 15,18 28,62 30,23
2 Nông – lâm – thuỷ sản % 41,93 38,3 44,2 37,32 31,71 23,35
3 Dịch vụ % 41,66 43,3 42,85 47,5 42,76 46,42
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 45
Như vậy chuyển đổi cơ cấu kinh tế chưa tiến bộ kịp được cơ cấu kinh tế của cả
nước nói chung cũng như của các tỉnh Phú Thọ nói riêng. Cơ cấu kinh tế chuyển
dịch còn chậm, chưa ổn định vì chưa phát huy đầy đủ được tiềm năng, thế mạnh của
mình. Tuy nhiên, 2 năm gần đây cơ cấu kinh tế huyện Thanh Ba chuyển nhanh theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn
nên đã thu được những kết quả khá tốt, đặc biệt lĩnh vực dịch vụ.
Đối với huyện Thanh Ba, lao động đóng góp vào tăng trưởng kinh tế là 73%.
Điều này chứng tỏ tốc độ tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào lao động, công nghệ
còn đang kém (cả nước mức đóng góp của lao động trong tăng trưởng kinh tế
khoảng 69%).
2.2.3. Tiềm năng, lợi thế và khó khăn, thách thức
2.2.3.1. Tiềm năng, lợi thế
Đường lối đổi mới ngày càng thu được nhiều kết quả tốt đẹp đưa đất nước ta
nói chung và huyện Thanh Ba nói riêng lên tầm thế mới. Huyện đã chớp thời cơ,
củng cố hệ thống tổ chức và đưa ra các giải pháp tích cực để chỉ đạo sát sao, kịp
thời phát triển kinh tế - xã hội, thu được kết quả khá tốt.
Về diện mạo phát triển kinh tế đã có tăng trưởng kinh tế cao với mức bình
quân trong 5 năm vừa qua đạt xấp xỉ 10,3%, đã có một số sản phẩm chủ lực như
nấm dơm, mộc nhĩ, may xuất khẩu, chè xuất khẩu, giầy da xuất khẩu cùng một số
đồ mỹ nghệ…
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng tích cực, tỷ trọng nông nghiệp
trong cơ cấu kinh tế từng bước giảm xuống và được áp dụng công nghệ cao. Ngành
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng tăng lên rõ rệt, tạo động lực mới tăng
trưởng kinh tế. Du lịch bước đầu tạo được khởi sắc và trong tương lai sẽ là lợi thế vì
huyện Thanh Ba có lợi thế đặc biệt là được thiên nhiên ưu đãi nguồn nước khoáng
nóng quý, hiếm và cơ sở hạ tầng đang phát triển nhanh chóng.
Về quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự xã hội được đảm bảo ổn định vì đã
đạt được tiến bộ về: tuyên truyền, thông tin và quốc phòng; an ninh chính trị – xã
hội; Xây dựng thế trận quốc phòng nhân dân, chú trọng chống diễn biến hoà bình;
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 46
Phối kết hợp giữa hoạt động quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, giảm nghèo
và công tác tôn giáo.
Về tài nguyên, do có nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú vì có
cả sông, đồng bằng, đồi rừng. Đất đai, tài nguyên nước … bảo đảm để phát triển
bền vững..
Tài nguyên phục vụ du lịch (di tích Đền Chí Tiên, Đền Năng Yên, đình Lương
Lỗ…) là những đảm bảo cho sự tăng trưởng dịch vụ, cụ thể là du lịch nhằm mục
đích công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế và đưa Thanh Ba trở thành một
huyện giàu đẹp.
Do thời tiết giai đoạn vừa qua thuận lợi, tạo tiền đề tốt để phát triển sản xuất
nông lâm nghiệp và thuỷ sản nên đã đạt được kết quả tốt. Thành tựu này rất quan
trọng vì trên 70% dân số vẫn là nông dân sinh sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông
lâm nghiệp thuỷ sản.
2.2.3.2. Những khó khăn, thách thức
So với các huyện khách trong tỉnh thì Thanh Ba là huyện nghèo, quy mô của
nền kinh tế còn nhỏ bé, cơ cấu kinh tế lạc hậu và GDP/người thấp.
Mặc dù có các mặt hàng, đặc biệt là hàng hoá nông, lâm nghiệp, thuỷ hải sản
rất phong phú nhưng quy mô nhỏ bé, nhiều loại mới sơ chế, chưa theo tiêu chuẩn
quốc tế và chưa xuất khẩu được trực tiếp.
Trình độ khoa học công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật và trình độ chuyên môn,
quản lý còn hạn chế so với mặt bằng chung của tỉnh cung như so với cả nước.
Chưa có tư duy, cách làm mới để đưa kinh tế xã hội vượt lên, đặc biệt là du
lịch và công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp do nguồn nhân lực còn hạn chế - chủ yếu
là lao động nông nghiệp, chậm phát triển khu công nghiệp.
Điều kiện kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông gồm cả các điểm nút
còn hạn chế, thiếu đồng bộ gây trở ngại trong phát triển kinh tế của ngành chủ yếu
như du lịch và công nông nghiệp.
Khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, huy động các nguồn lực trong nước
còn hạn chế, năng suất lao động thấp mà yêu cầu đầu tư phát triển và đổi mới công
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội 47
nghệ cao, công tác quy hoạch còn hạn chế.
Mâu thuẫn giữa mở cửa, hội nhập cùng phát triển nhanh, bền vững và gìn giữ
phong tục tập quán, chống các tệ nạn xã hội cũng như nâng cao chất lượng cuộc
sống khám chữa bệnh, giáo dục … cho tất cả các bộ phận dân cư sẽ còn là thách
thức không nhỏ trong suốt quá trình phát triển.
2.3. PHÂN TÍCH CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA HUYỆN THANH BA
2.3.1. Đánh giá chung công tác quản lý ĐT PT từ NSNN của huyện
2.3.1.1. Kết quả đầu tư
a. Việc huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển trong những năm qua tăng khá
Trong các năm qua (2010 – 2013), huyện đã khai thác tốt các nguồn thu, huy
động và thu hút tốt hơn các nguồn lực cho đầu tư phát triển, kết quả nguồn vốn đầu
tư toàn xã hội năm sau cao hơn năm trước, tổng vốn đầu tư được huy động và đưa
vào nền kinh tế đạt 940 tỷ đồng (năm 2010: 179,93 tỷ đồng; năm 2011: 222,98 tỷ
đồng; năm 2012: 252,92 tỷ đồng; năm 2013: 283,84 tỷ đồng) gấp hơn 4,97 lần tổng
vốn đầu tư giai đoạn 2005 – 2009. Bao gồm: Nguồn ngân sách Nhà nước do địa
phương quản lý: 288,7 tỷ đồng, chiếm 30,72%; vốn tín dụng đạt: 49,36 tỷ đồng,
chiếm 5,25%; vốn đầu tư của các doanh nghiệp đạt: 306,03 tỷ đồng, chiếm 32,56%;
vốn huy động của dân đạt: 295,57 tỷ đồng, chiếm 31,45%;.
Riêng nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý được đưa vào
cân đối 5 năm (2010 - 20013) bố trí cho các công trình XDCB, tổng số: 132,14 tỷ
đồng, gấp 2,4 lần so với giai đoạn 2005 - 2009 .
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Luận văn thạc sỹ Trường: ĐHBK Hà Nội
49
Biểu 2.4. Nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ thời kỳ 2010 - 2013
Đơn vị tính: Tỷ đồng
tSố
Diễn giải
2010
2011
2012
2013
TT
Số tiền
%
Số tiền %
Số tiền %
Số tiền %
1 Vốn ngân sách Nhà nước
50,92
28,3
69,292
31,1
71,992
31,2
96,496
31,6
2 Vốn tín dụng
10,848
6,0
12,012
5,4
10,841
4,7
15,66
5,1
Vốn đầu tư của các doanh
3
52,976
29,4
61,963
27,8
102,9
44,6
88,2
28,8
nghiệp
4 Vốn của dân và tư nhân
65,184
36,2
79,716
35,7
45,186
19,6
105,48
34,5
Tổng cộng
179,93
100
222,98
100
230,92
100
305,84
100
Nguồn: Niên giám thống kê huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
50
Luận văn thạc sỹ
Về nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ thời
kỳ 2010 – 2013 ta thấy, nguồn vốn dành cho đầu tư phát triển có sự tăng nhanh qua
các năm. Nếu như năm 2010, tổng vốn đầu tư đạt 179,93 tỷ đồng thì đến năm 2013
là 305,84 tỷ đồng, tăng gấp 1,689 lần so với năm 2010.
Trong đó nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước ngày một tăng. Năm 2010
chiếm 28,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, năm 2011 là 31,1% và năm 2012 là 31,2
%, và năm 2012 là: 31,6.
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp cũng tăng nhanh, năm 2013 đầu tư 88,2 tỷ
đồng, tăng 1,66 lần so với năm 2010, điều đó chứng tỏ huyện đã quan tâm tập trung
đầu tư vốn vào những lĩnh vực trực tiếp sản xuất kinh doanh, tạo ra sản phẩm hàng hoá
và lợi nhuận. Thông qua hình thức đầu tư này đã giúp địa phương xây dựng được một
số cơ sở vật chất kỹ thuật tạo ra nhiều năng lực sản xuất mới như: Nhà máy gạch
HaCeCo Yển Khê, Nhà máy chè Vân Lĩnh, Công ty may xuất khẩu Sơn Thủy …
Vốn đầu tư của dân và tư nhân tăng với tốc độ nhanh , năm 2013 đầu tư
105,484 tỷ đồng, gấp 1,61 lần năm 2010, điều đó chứng tỏ cơ chế chính sách của
Nhà nước đã thu hút được nguồn vốn của dân và tư nhân đầu tư vào các lĩnh vực
kinh tế - xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng.
Biểu 2.5. Cơ cấu vốn đầu tư phát triển thời kỳ 2010 - 2013
Phân theo ngành kinh tế
TT Ngành kinh tế 2010 2011 2012 2013
Tổng số 100 100 100 100
1 Nông lâm nghiệp thuỷ sản 21,114 20,475 12,954 8,43
2 Công nghiệp xây dựng 53,429 48,042 55,311 58,27
3 Dịch vụ 25,457 31,483 31,735 33,3
Nguồn: Niên giám thống kê
Xét về cơ cấu đầu tư theo ngành: Cơ cấu đầu tư theo ngành kinh tế của huyện
Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ là tương đối hợp lý giảm tỷ trọng đầu tư cho lĩnh vực nông
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
51
Luận văn thạc sỹ
nghiệp và tăng tỷ trọng đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.
Điều đó đã làm cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch một cách hợp lý.
b. Cơ sở vật chất được tăng cường, nhiều công trình hoàn thành đưa vào sử
dụng phát huy hiệu quả
Trong các năm qua, vốn huy động đầu tư phát triển trên địa bàn đạt kết quả
cao, nhiều công trình cơ sở hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi, trường học hoàn thành phát
huy hiệu quả, khẳng định chủ trương đầu tư đúng hướng, tạo điều kiện cho kinh tế phát
triển, giao lưu hàng hoá thông suốt, các mặt xã hội về giáo dục, văn hoá, thể thao có
nhiều tiến bộ.
Nhiều dự án lớn do địa phương quản lý đã đưa vào sử dụng như: Dự án cứng
hóa kênh mương tại các xã Vân Lĩnh, Đông Thành, Quảng Nạp, đường giao thông
Ninh Dân, đường giao thông nông thôn xã Quảng Nạp; Xây dựng Đài tưởng niệm
liệt sỹ xã Đông Thành , Xây dựng hội trường xã Quảng Nạp Xây dựng trung tâm
học tập cộng đồng xã Quảng Nạp v.v..
Một số công trình lớn của tỉnh trên địa bàn được xây dựng và đưa vào sử
dụng phát huy hiệu quả như: Cải tạo đường tỉnh lộ 314, Đường tránh lũ 314 B, Cải
tạo nâng cấp đường 320 C, v. v..
Ngoài ra còn một số công trình do các doanh nghiệp trên địa bàn đã được
hoàn thành, đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả tốt, như: Nhà mày chè Đại
Đồng, Nhà máy gạch HaCeCo...
c. Công tác quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng đã có nhiều tiến bộ, chất
lượng, hiệu quả công trình, dự án được nâng cao
- Việc thẩm định, phê duyệt dự án, thiết kế dự toán, kết quả đấu thầu, thanh
quyết toán đã tuân thủ theo Quy chế Quản lý đầu tư và xây dựng ban hành theo
Nghị định số: 12/2009/NĐ-CP, 99/2007/NĐ-CP; 112/NĐ-CP; 15/2013/NĐ-CP; Quy
chế Đấu thầu ban hành theo Nghị Định số: 58/2008/NĐ-CP; 85/2009/NĐ-CP của
Chính phủ, các quy định của các Bộ, ngành và của UBND tỉnh về công tác đầu tư
và xây dựng. Trong quá trình thẩm định các dự án đã căn cứ vào các quy hoạch đã
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
52
Luận văn thạc sỹ
được UBND tỉnh, huyện đã phê duyệt.
- Việc bố trí vốn cho các công trình đầu tư XDCB trong kế hoạch năm 2005 -
2009 được thực hiện trên nguyên tắc và định hướng của Thường vụ Huyện uỷ trong
quản lý đầu tư và xây dựng, coi trọng các nguyên tắc tập trung, dứt điểm, chất
lượng và hiệu quả trong đầu tư XDCB.
- Các năm 2005 - 2009 việc giao kế hoạch đã được chuẩn bị sớm, dân chủ,
công khai và chấp hành tương đối tốt các quy định về trình tự và thủ tục trong quản
lý đầu tư và xây dựng.
- Công tác kiểm tra để chỉ đạo tiến độ và chất lượng công trình đã được
HĐND và UBND huyện, các cấp, các ngành, các chủ đầu tư quan tâm hơn. Đã tổ
chức một số cuộc thanh tra, kiểm tra về tiến độ và chất lượng xây dựng các công
trình, nhất là công trình trọng điểm. Qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện và bổ sung
những sai sót kịp thời để đẩy nhanh tiến độ thi công.
- Việc thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng đã được thực
hiện có kinh nghiệm hơn, đạt kết quả tốt hơn, tạo điều kiện để các dự án, nhất là các
dự án trọng điểm đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành đưa vào sử dụng.
- Kinh nghiệm quản lý đầu tư XDCB trên địa bàn đã có nhiều tiến bộ và dần đi
vào nề nếp, hiệu quả, chất lượng công trình ngày một tăng.
- Đa số công trình xây dựng đảm bảo yêu cầu thiết kế được duyệt, đảm bảo
tiến độ, các công trình xây dựng xong đưa vào sử dụng đã phát huy hiệu quả ngay.
2.3.1.2. Tác động đến phát triển kinh tế xã hội
Trong thời kỳ 20010 - 2013, kết quả của các hoạt động đầu tư đã góp phần
tích cực làm thay đổi cục diện nền kinh tế huyện. Hàng chục công trình xây dựng cơ
bản đã hoàn thành đang đi vào khai thác, sử dụng, trong đó có nhiều công trình lớn
có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của địa phương.
Cùng với việc đầu tư hoàn thành các dự án khác đã làm tăng thêm một số
năng lực sản xuất mới trên nhiều lĩnh vực thuộc các ngành kinh tế - xã hội.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
53
Luận văn thạc sỹ
Biểu 2.6. GDP và tốc độ tăng trưởng GDP thời kỳ 2010 - 2013
Năm Năm Năm Năm
TT Diễn giải ĐVT 2010 2011 2012 2013 BQ
GDP trong huyện (giá
1 SS) Tỷ đồng 2.052,2 1.754,8 1.281,4 1.272,6 1590,25
Tốc độ tăng trưởng
GDP huyện Thanh Ba,
% 2 tỉnh Phú Thọ 11,2 10,8 9,7 9.2 10,2
Tốc độ tăng trưởng
% 3 GDP cả nước 6,78 5,89 5,03 5,42 5.78
Nguồn: Niên giám thống kê
Hiệu quả đầu tư phát triển ở huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ được thể hiện
thông qua việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá
hiện đại hoá:
Một trong những nội dung quan trọng của đường lối đổi mới kinh tế do Đảng
ta khởi xướng và lãnh đạo là đổi mới cơ cấu kinh tế, bao gồm cơ cấu kinh tế ngành,
cơ cấu kinh tế vùng và cơ cấu thành phần kinh tế. Trong những năm ở thời kỳ 2010
- 2013 xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ
tương đối rõ nét, nhất là cơ cấu ngành.
Cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, khai thác có hiệu quả
tiềm năng thế mạnh của huyện, áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản
xuất nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế chính là kết quả của chuyển đổi cơ cấu vốn đầu
tư. Trong những năm 2010 - 2013, cơ cấu vốn đầu tư có nhiều thay đổi đáng kể, chính
điều đó tác động tích cực tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Giai đoạn 2010 - 2013, vốn đầu tư tăng nhanh, đầu tư cho lĩnh vực nông – lâm
– thuỷ sản vẫn tiếp tục tăng nhưng tỷ trọng đầu tư vào khu vực này giảm dần và
tăng dần cho khu vực công nghiệp và dịch vụ.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
54
Luận văn thạc sỹ
* Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư được thể hiện thông qua việc chuyển dịch lao
động giữa các khu vực kinh tế và tạo thêm việc làm:
Do kết quả cơ cấu vốn đầu tư được điều chỉnh, nên lực lượng lao động giữa
các khu vực cũng có nhiều thay đổi.
Biểu 2.7. Tỷ lệ lực lượng lao động giữa các khu vực
trong các ngành kinh tế thời kỳ 2010- 2013
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2013 TT
Tổng số 100 100 100 100
Chia ra:
Lao động nông - lâm – thuỷ sản 75,52 66,42 63,23 61,02 1
Lao động công nghiệp, xây dựng 16,24 17,27 18,81 19,03 2
Lao động khu vực dịch vụ 8,24 16,31 17,96 19,95 3
Nguồn: Niên giám thống kê
Lực lượng lao động đã được chuyển dịch từ khu vực sản xuất nông lâm thủ
sản sang khu vực sản xuất công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.
Hiệu quả tổng hợp của vốn đầu tư toàn xã hội đã trực tiếp và gián tiếp tạo ra
bình quân một năm khoảng 1.000 việc làm, đó là con số có ý nghĩa xã hội rất lớn.
Biểu 2.8. Số lao động chia theo ngành
Năm Năm Năm Năm Chỉ tiêu ĐVT BQ 2010 2011 2012 2013
Tổng số Lao động Người 47.870 52.554 48.601 52.463 50.372
Công nghiệp - Xây Người dựng 31.703 36.159 32.124 36.282 34.067
Nông, lâm nghiệp, Người 9.264 9.262 8.720 7.976 8.805 thuỷ sản
Thương mại, Dịch Người 6.902 7.133 7.757 8.205 7.499 vụ, Du lịch
Nguồn: Niên giám thống kê
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
55
Luận văn thạc sỹ
Kết quả của việc tăng cường vốn đầu tư và chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư, thực
hiện phân công lại lao động xã hội, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đã
thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nếu phân chia nền kinh tế thành 3 khu
vực: (I) Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; (II) Công nghiệp – xây dựng; (III) Dịch vụ thì tỷ
trọng giá trị tăng thêm của mỗi khu vực trong tổng sản phẩm của huyện đã chuyển dịch
theo hướng tăng dần tỷ trọng của khu vực công nghiệp và dịch vụ (khu vực II và III);
Giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp (khu vực I), trong khi vẫn duy trì được tốc độ tăng
của tất cả các khu vực và các ngành kinh tế. Đó là sự chuyển dịch cơ cấu đúng hướng và
phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Biểu 2.9. Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn huyện
Phân theo ba khu vực kinh tế
Đơn vị tính: %
TT Ngành kinh tế 2010 2011 2012 2013
1 Nông lâm nghiệp thuỷ sản 32,1 30,2 30,6 29,8
2 Công nghiệp xây dựng 38,4 41,9 41,8 42,7
3 Dịch vụ 29,5 27,9 27,6 27,5
Nguồn: Niên giám thống kê
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư được thể hiện rõ nét trong việc thực hiện quy chế
đấu thầu. Công tác đấu thầu đã được triển khai và đạt kết quả. Từ năm 2010 đến năm
2013, tổ chức đấu thầu 17 gói thầu, với tổng giá gói thầu là 97,572 tỷ đồng. Qua đấu
thầu đã thực hiện tiết kiệm được cho Nhà nước 4,053 tỷ đồng, tỷ lệ giảm giá trung
bình là 4,15 % so với tổng giá gói thầu. Điển hình như gói thầu số 1 công trình Xây
dựng nhà văn hóa huyện Thanh Ba, biến động qua đấu thầu tiết kiệm được 792 triệu
đồng, bằng 8,27 % so với dự toán được duyệt.
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước được thể hiện thông qua
công tác thẩm định. Từ năm 2010 đến năm 2013 thẩm định 261 dự án vốn ngân sách,
tổng mức đầu tư do chủ đầu tư trình là 187,25 tỷ đồng, kết quả thẩm định là 183,327
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
56
Luận văn thạc sỹ
tỷ đồng, giảm 3,923 tỷ đồng, tỷ lệ giảm là 2,09 %. Điển hình như công trình đường
Bê tông nông thôn xã Sơn Cương, tổng mức đầu tư là 3,149 tỷ đồng, qua thẩm định
giảm được 0,41 tỷ, bằng 13,02 % so với tổng mức đầu tư do chủ đầu tư trình.
Trong thời gian qua, nguồn vốn đầu tư Nhà nước trên địa bàn huyện (bao
gồm vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng phát triển của Nhà nước, vốn tín dụng
do Nhà nước bảo lãnh, vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước) ngày càng tăng cao,
đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng đối với hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy
mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện rõ nét đời sống của nhân dân. Tuy
nhiên công tác quản lý đầu tư và xây dựng bằng nguồn vốn Nhà nước còn bộc lộ
những yếu kém, thiếu sót dẫn đến gây thất thoát lãng phí, hiện tượng tiêu cực trong
đầu tư và xây dựng đang được xã hội quan tâm.
2.3.2. Phân tích công tác quản lý ĐT PT từ NSNN của huyện
2.3.2.1. Công tác lập và quản lý quy hoạch
Nhiều quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng chi tiết còn thiếu hoặc đã quá
cũ, lạc hậu. Một số quy hoạch vừa mới lập và phê duyệt đã xin sửa đổi, bổ sung.
Quy hoạch xây dựng không đồng bộ, chất lượng quy hoạch thấp. Nhiều quy hoạch
chưa phù hợp với điều kiện thực tế dẫn đến khi thực hiện dự án gây lãng phí, nhất là
khâu đền bù giải phóng mặt bằng.
Việc phối kết hợp giữa ngành với ngành, giữa ngành với cấp trong việc lập
quy hoạch còn hạn chế, trình độ của đơn vị tư vấn lập quy hoạch chưa cao, do đó có
những quy hoạch vừa mới duyệt xong đã phải phê duyệt lại.
Quy hoạch xây dựng xã, thị trấn đã được quan tâm, hầu hết các xã, đã có quy
hoạch nông thôn mới.
Công tác quản lý quy hoạch còn buông lỏng. Phân công, phân cấp không rõ
ràng, thiếu một khung pháp lý đầy đủ cho việc lập, phê duyệt, quản lý quy hoạch,
thiếu sự chỉ đạo và hướng dẫn thống nhất về các vấn đề liên quan đến công tác quy
hoạch, thiếu kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch.
Nhiều đơn vị, cá nhân chưa nhận thức đúng đắn về vai trò của công tác quy
hoạch. Việc phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong quá trình lập quy hoạch
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
57
Luận văn thạc sỹ
ngành, lãnh thổ chưa thống nhất, thiếu sự phối hợp nên xảy ra tình trạng quy hoạch
chồng chéo và không ăn khớp giữa quy hoạch ngành, quy hoạch vùng lãnh thổ.
Các quy hoạch sau khi được duyệt chưa công bố rộng rãi để các tổ chức, cá
nhân được biết và thực hiện theo quy hoạch.
2.3.2.2. Lập kế hoạch và bố trí vốn ĐT
Công tác lập kế hoạch trong các năm qua đã được triển khai sớm, dân chủ,
công khai, chấp hành nghiêm túc các quy định, nguyên tắc, định hướng của Chính
phủ, của UBND tỉnh, của UBND huyện các cấp, các ngành đã tập trung chỉ đạo
thực hiện kế hoạch theo đúng các quy định của nhà nước về quản lý đầu tư xây
dựng. Hàng năm huyện đã xác định và ưu tiên đầu tư cho các công trình, dự án
trọng điểm, các công trình phục vụ chuyển đổi cơ cấu kinh tế, giải quyết các vấn đề
xã hội bức xúc; các dự án cơ sở hạ tầng và phát triển sản xuất có lợi thế cạnh tranh và
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển xã hội. Đã thực hiện việc rà soát thực
hiện các mục tiêu phát triển KT - XH, các chương trình dự án ưu tiên đầu tư, hiện
trạng các công trình XDCB, khả năng cân đối để phân bổ và bố trí vốn đầu tư từ
nguồn ngân sách do địa phương quản lý.
Thực hiện đúng cơ cấu vốn đầu tư do Chính phủ bố trí cho các dự án và
chương trình mục tiêu cũng như chương trình mục tiêu quốc gia.
Đẩy mạnh việc phân cấp quản lý đầu tư và xây dựng cho các xã, thị trấn, gắn
quản lý đầu tư xây dựng với quản lý ngân sách.
Về cơ cấu đầu tư theo ngành và lĩnh vực huyện Thanh Ba là tương đối hợp
lý giảm đầu tư trong lĩnh vực Nông lâm nghiệp thuỷ sản và tăng đầu tư trong lĩnh
vực công nghiệp xây dựng và văn hoá hạ tầng du lịch. Tuy nhiên trong từng ngành
cụ thể huyện chưa trú trọng đầu tư cho lĩnh vực quan trọng trọng điểm như chưa trú
trọng nhiều đến lĩnh vực giao thông dẫn đến tình trạng đường liên xã, liên liên thôn
nhiều tuyến trên địa bàn huyện đi lại rất khó khăn gây bức xúc trong nhân dân. Bên
cạnh đó trong lĩnh vực Nông lâm nghiệp thuỷ sản cũng tương tự, Thanh Ba đặc thù
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
58
Luận văn thạc sỹ
là một huyện nằm dọc bờ sông tiềm năng trong lĩnh vực thuỷ hải sản rất lớn nhưng
huyện lại đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp là không phù hợp với tiềm năng
và lợi thế của huyện.
Biểu 2.10. Kế hoạch đầu tư XDCB qua các năm phân theo ngành, lĩnh vực
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2013 TT
Tổng cộng 72,91 85,78 94,36 107,22 1
Nông lâm nghiệp thuỷ 2 sản 15,09 16,73 11,98 11,26
2.1 Nông nghiệp 7,98 9,45 6,21 5,85
Hạ tầng giống thuỷ sản,
2.2 cây trồng vật nuôi, cây
lâm nghiệp 7,11 7,27 5,77 5,41
Công nghiệp xây dựng 38,57 40,40 50,67 58,76 3
- Giao thông 9,55 8,10 9,85 9,94 3.1
- Cụm công nghiệp 16,53 15,92 18,72 17,49 3.2
- Trụ sở quản lý Nhà nước 12,50 16,38 22,10 31,33 3.3
Văn hoá, hạ tầng du lịch 19,25 28,65 31,70 37,21 4
- Văn hoá 7,98 11,23 13,02 15,27 4.1
- Hạ tầng du lịch 11,27 17,42 18,68 21,93 4.2
Nguồn: Niên giám thống kê
Mặt khác, lượng nợ đọng vốn xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách còn
lớn, nhiều công trình hoàn thành nhưng chưa có khả năng thanh toán và thiếu khả
năng cân đối. Khả năng cân đối nguồn vốn đầu tư từ ngân sách hàng năm cho đầu
tư xây dựng còn rất hạn hẹp, chỉ đáp ứng được từ 70-80% nhu cầu, trong khi đó số
lượng các dự án đầu tư do các đơn vị trình duyệt và đề xuất ngày càng nhiều, trên
thực tế số lượng dự án được duyệt đã không phù hợp với khả năng cân đối.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
59
Luận văn thạc sỹ
Biểu 2.11. Kế hoạch và thực hiện kế hoạch đầu tư XDCB qua các năm
Đơn vị: Tỷ đồng
TT Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2013
Về nguồn vốn ngân sách do địa 60,761 71,483 78,632 89,354 1 phương quản lý đưa vào cân đối
2 Số công trình bố trí kế hoạch 32 63 74 57
- Số công trình chuyển tiếp 16 28 32 21
- Số công trình khởi công mới 2 7 7 10
- Số công trình quyết toán 11 26 33 23
3 Số công trình hoàn thành đưa vào
3 2 2 3 sử dụng còn thiếu vốn thanh toán
4 Giá trị khối lượng thực hiện 66,253 72,796 87,537 89,990
5 Số vốn còn thiếu để thanh toán 5,49 1,31 8,91 0,64 khối lượng
6 Số công trình được ghi KH chuẩn 6 13 15 11 bị đầu tư
Nguồn: Phòng Tài chính – kế hoạch
Nguyên nhân của tình trạng nợ đọng vốn xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách là:
Nhiều chủ đầu tư và các đơn vị chủ quản còn tư tưởng cho rằng nếu công
trình được duyệt sử dụng vốn ngân sách thì cứ triển khai xây dựng, không quan tâm
nhiều đến khả năng cân đối vốn trong kế hoạch hàng năm, nếu thi công vượt khối
lượng được giao sẽ chờ xin vốn Nhà nước để bổ sung thanh toán, làm mất cân đối
giữa mục tiêu đầu tư và khả năng cân đối vốn của kế hoạch năm sau.
Chưa có những giải pháp cụ thể và có hiệu lực để thống nhất trong quản lý
nhằm kiểm soát và hạn chế được việc duyệt dự án đầu tư không cân đối với khả
năng nguồn vốn hiện có hoặc triển khai thực hiện vượt khả năng cân đối vốn hàng
năm. Vốn để lại đối ứng không đáp ứng được yêu cầu.
Nhiều công trình với lượng vốn bố trí quá ít nên với lượng vốn đó sẽ không đủ
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
60
Luận văn thạc sỹ
để hoàn thành một hạng mục. Việc bố trí vốn cho xây lắp, thiết bị và kiến thiết cơ bản
khác trong một dự án còn chia đều theo tỷ lệ, trong khi chi trả cho tư vấn cần phải thực
hiện trước vì tư vấn đã hoàn thành hợp đồng, đủ điều kiện thanh toán.
Ví dụ: Công trình đường giao thông nông thôn khu 7 xã Khải Xuân công trình
khởi công mới năm 2011, có tổng mức đầu tư là 6.398 triệu đồng, bố trí kế hoạch năm
2011 là 1.350 triệu đồng, Công trình cải tạo nâng cấp hè phố thị trấn Thanh Ba có tổng
mức đầu tư là 5.300 triệu đồng, đã bố trí kế hoạch năm 2010 là 2.000 triệu đồng, đến
năm 2011 đã bố trí kế hoạch vốn là: 500 triệu đồng…
Nguyên nhân của tình trạng bố trí kế hoạch dàn trải là do chủ trương đầu tư:
Cho lập dự án mới còn nhiều, trong khi khả năng bố trí vốn để đầu tư xây
dựng còn bị hạn chế. Hàng năm có kế hoạch chuẩn bị đầu tư, xong số dự án ghi
danh mục chuẩn bị đầu tư vẫn còn nhiều, mặt khác trong năm phát sinh thêm không
ít chủ trương cho lập dự án.
Một số dự án chưa triển khai thực hiện đã có chủ trương cho lập lại, thay đổi
quy mô hoặc phát sinh khối lượng. Các xã, thị trấn trình UBND huyện xin chủ
trương đầu tư quá nhiều đây là nguyên nhân chính dẫn đến đầu tư dàn trải.
Ví dụ: Công trình đường giao thông nội thị thị trấn Thanh Ba huyện đã bố trí
kế hoạch năm 2009 nhưng phê duyệt lại dự án do phải chuyển địa điểm xây dựng.
Một số dự án khi xin chủ trương cho lập dự án, chủ đầu tư đề nghị phê duyệt dự
án để xin tài trợ quốc tế hoặc hỗ trợ từ các Trung ương, nhưng sau một thời gian không
có nguồn, lại xin chuyển sang phần vốn đã được phân bổ cho ngân sách huyện, làm cho
lượng ngân sách đầu tư xây dựng của huyện đã hạn hẹp lại càng khó khăn hơn.
Trong quy chế quản lý đầu tư và xây dựng quy định đối với các dự án nhóm
C, cơ quan quyết định đầu tư phải bảo đảm cân đối vốn đầu tư để thực hiện dự án
không quá 2 năm; nhóm B không quá 4 năm, nhưng trên thực tế một số dự án nhóm
C kéo dài quá 2 năm, nhóm B quá bốn năm, số lượng các dự án đầu tư do các đơn
vị đề xuất vẫn khá lớn, vượt khả năng cân đối vốn hàng năm.
Ví dụ: Công trình đường giao thông liên xã Đồng Xuân – Vân Lĩnh, có tổng
mức đầu tư theo quyết định phê duyệt là 6.877.triệu đồng, là dự án nhóm C nhưng đã
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
61
Luận văn thạc sỹ
bố trí kế hoạch vốn đầu tư kéo dài 4 năm từ 2007– 2009.
Công tác kế hoạch hoá vốn đầu tư đến nay mới làm được các nguồn vốn ngân
sách đầu tư tập trung, vốn ODA và các Chương trình mục tiêu. Còn nguồn vốn đầu tư
của các doanh nghiệp Nhà nước chưa phản ảnh trong kế hoạch. Việc tổ chức theo dõi
các nguồn vốn đầu tư của Trung ương, tỉnh, nguồn tài trợ của nước ngoài đầu tư cho
các ngành ở địa phương, vốn đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, của dân
cư chưa đầy đủ, kịp thời. Đầu tư tư phát triển của khu vực ngoài quốc doanh chưa có
định hướng và quản lý của Nhà nước mà thường mang tính tự phát.
Công tác lập kế hoạch và tổ chức thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách là vô cùng quan trọng nhưng trong giai đoạn 2005-2009 huyện vẫn chưa
thực hiện tốt công tác này. Vẫn còn nhiều dự án triển khai không đúng theo kế
hoạch đã được phê duyệt, còn nhiều dự án phải điều chỉnh kéo dài tiến độ thi công,
nhiều dự án phải bổ sung thiết kế dự toán.Chất lượng nhiều công trình khi đưa vào
sử dụng không đảm bảo nên sau một thời gian sử dụng đã bị xuống cấp, buộc phải
nâng cấp cải tạo gây lãng phí cho nguồn ngân sách nhà nước.
2.3.2.3. Phân cấp quản lý ĐT và xây dựng
UBND tỉnh được UBND tỉnh quy định tại quyết định số: 04/2013/QĐ-
UBND ngày 23 tháng 4 năm 2013 của UBND tỉnh Phú Thọ về việc phân cấp cho
Chủ tịch UBND các huyện, thành thị có mức vốn không quá 15 tỷ đồng; Những dự
án đầu tư xây dựng công trình có nhiều nguồn vốn khác nhau cùng tham gia, nếu
nguồn vốn của tỉnh chiếm dưới 50% (Trong dự án có nguồn vốn đầu tư dưới 15 tỷ
đồng. Các dự án được phân cấp phải được UBND cấp trên đồng ý về mặt chủ
trương, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và phù hợp với
khả năng cân đối nguồn vốn.
Việc thực hiện tốt việc phân cấp quản lý đầu tư và xây dựng đã giành quyền tự
quyết định và tự chịu trách nhiệm cho các cấp ở cơ sở và các chủ đầu tư.
Tạo điều kiện cho cấp huyện chủ động quyết định đầu tư các dự án thuộc
thẩm quyền được phân cấp. Giảm thủ tục hành chính với các cấp các ngành.
Giảm bớt công việc không cần thiết cho UBND tỉnh và các ngành.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
62
Luận văn thạc sỹ
Nâng cao trách nhiệm của cấp được phân cấp trong quản lý đầu tư và xây dựng.
Qua thực tế thực hiện cho thấy còn nhiều bất cập, phân bổ vốn cho nhiều
công trình, dự án khá phân tán; bố trí vốn cho các dự án quá nhỏ không có khả năng
hoàn thành dự án theo tiến độ để đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả. Tình trạng bố
trí vốn dàn trải, phân tán đã giảm ở Huyện. Trình độ chuyên môn về quản lý đầu tư
của các đơn vị được phân cấp chưa đáp ứng được yêu cầu, độ ngũ cán bộ còn thiếu.
đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đầu tư và xây dựng ở cáccác xã, thị trấn vừa
thiếu vừa yếu kém về trình độ; 1 số bộ phận ở cấp xã không có cán bộ có trình độ Đại
học quản lý đầu tư xây dựng chuyên ngành; Việc chấp hành quy định về chế độ báo
cáo tình hình thực hiện các công trình XDCB, báo cáo giám sát đánh giá đầu tư của các
xã các chủ đầu tư với các cơ quan quản lý nhà nước còn thiếu và chậm.
2.3.2.4. Công tác lập và thẩm định DA ĐT
- Lập dự án đầu tư.
Chủ đầu tư có trách nhiệm lập (hoặc thuê tổ chức tư vấn) báo cáo nghiên cứu
tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo đầu tư để trình cơ quan có
thẩm quyền phê duyệt, phần lớn các chủ đầu tư của Tỉnh không đủ khả năng lập dự
án nên đều phải thuê tư vấn, điểm hạn chế ở đây là, chủ đầu tư đã chọn nhà tư vấn
trước khi trình do đó không có tính cạnh tranh, chất lượng tư vấn thấp.
Tư vấn lập dự án đầu tư, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công - tổng dự
toán ở một số công trình chất lượng còn thấp, chưa đưa ra nhiều phương án để lựa
chọn, chưa tuân thủ theo tiêu chuẩn, quy phạm (có một số công trình tư vấn làm theo
yêu cầu của chủ đầu tư, nâng quy mô càng lớn càng tốt), số liệu điều tra, khảo sát
chưa chính xác. Trong thiết kế thường tính thiên về an toàn quá lớn, trong tính toán
dự toán áp dụng đơn giá, định mức và các chế độ tài chính trong XDCB chưa chính
xác hoặc sót khối lượng công việc.
- Chủ đầu tư có trách nhiệm trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thiết kế
kỹ thuật, tổng dự toán, trước khi trình, chủ đầu tư phải tổ chức nghiệm thu sản
phẩm do nhà tư vấn thực hiện, chủ đầu tư của huyện nói chung chưa thực hiện được
việc này.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
63
Luận văn thạc sỹ
- Tư vấn lập dự án đầu tư: Chất lượng một dự án phụ thuộc vào rất nhiều vào
trình độ của tư vấn, theo Quy chế đấu thầu phải xem xét nhiều nhà tư vấn để chọn
một tư vấn có năng lực nhất.
Thực tế trong thời gian qua, mặc dù huyện đã có quy định ít nhất phải có 3
nhà tư vấn, nhưng chủ đầu tư mới chỉ trình UBND huyện có một nhà tư vấn để xin
chỉ định lập dự án.
Do không được lựa chọn, so sánh điểm mạnh, điểm yếu của mỗi nhà tư vấn
để lựa chọn nhà tư vấn tốt nhất nên một số nhà tư vấn được lựa chọn rất yếu, thậm
chí có nhà tư vấn thiếu kinh nghiệm trong việc lập dự án, nên dự án lập ra thiếu sức
thuyết phục, có nhà thầu tư vấn trong quá trình lập dự án bỏ qua các quy định của
nhà nước, không áp dụng Quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn, quy phạm thiết kế,
không có khảo sát địa hình, địa chất công trình, không quan tâm đến hướng gió
hoặc có nhà tư vấn bỏ sót các hạng mục quan trọng như cấp thoát nước, phòng
chống cháy, nổ, ví dụ: Dự án xây dựng Trụ sở UBND xã Đông Thành, Xây dựng
trường mầm non Chí Tiên …
Một trong những nguyên tắc quan trọng của việc lập dự án đầu tư là nhà tư
vấn phải đưa ra được nhiều phương án, phân tích lựa chọn phương án tối ưu để chủ
đầu tư và cơ quan thẩm định xem xét hoặc nếu có thêm một số phương án thì các
phương án đó, nhà tư vấn chỉ tính toán một cách chiếu lệ, ít giá trị so sánh.
- Thẩm định dự án đầu tư
Trong quá trình thẩm định dự án đầu tư đã tuân thủ theo quy hoạch phát triển kinh
tế, quy hoạch vùng, ngành lãnh thổ, áp dụng đúng chế độ chính sách của Nhà nước hiện
hành, đúng thời gian qui định và giảm các thủ tục phiền hà thực hiện theo chế độ một cửa.
Các dự án đã thẩm định cơ bản đã được bố trí kế hoạch thực hiện đầu tư. Một
số dự án đã đưa vào sử dụng đạt hiệu quả cao.
Công tác thẩm định còn bộc lộ những yếu điểm sau:
- Độ chính xác của công tác thẩm định chưa cao do chất lượng hồ sơ dự án cũng
như thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán thấp, chưa đề cập hết các nội dung của một dự án như
quy định (Ví dụ: Số liệu khảo sát, nghiên cứu hiện trạng và dự báo không chính xác...)
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
64
Luận văn thạc sỹ
- Thời gian thẩm định của một số dự án kéo dài so với quy định do việc phối
hợp giữa các cơ quan có liên quan thiếu chặt chẽ, có cơ quan chưa thực hiện nghiêm
về thời gian theo quy định, (cơ quan được lấy ý kiến đã không trả lời hoặc kéo dài
thời gian so với quy định)
- Thời gian khởi công - hoàn thành: Thường các chủ đầu tư đề xuất thời gian
khởi công - hoàn thành ngắn, nhiều dự án chưa thực hiện đúng theo thời gian trong
quyết định đầu tư, thậm chí có dự án hết thời gian thực hiện vẫn chưa khởi công xây
dựng. Nguyên nhân của việc kéo dài thời gian thực hiện dự án là: Khả năng nguồn
vốn cho các dự án không đáp ứng được; Số lượng dự án bố trí trong kế hoạch chuẩn
bị đầu tư và cho phép lập dự án của cấp có thẩm quyền quá nhiều; một số dự án do
yêu cầu của các nhà tài trợ vốn phải lập và phê duyệt dự án trước; đã gây không ít
khó khăn cho công tác thẩm định.
- Quy chuẩn xây dựng có nhiều điểm không phù hợp với tình hình hiện tại.
Ví dụ diện tích sử dụng bình quân trên đầu người, định mức này không thể áp dụng
chung cho tất cả các cơ quan mà phải tuỳ chức năng cụ thể, đặc thù của từng cơ
quan. Ví dụ: Diện tích bình quân đầu người của Sở Xây dựng phải khác Sở Công
nghiệp, Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn.
- Về suất đầu tư: Cũng tuỳ thuộc vào từng cơ quan, ví dụ: Cơ quan liên quan nhiều đến công
tác đối ngoại phải được sử dụng các loại vật liệu đắt tiền hơn, do đó suất đầu tư phải cao hơn.
- Mỗi một nội dung thẩm định do một cơ quan chịu trách nhiệm, thời gian
thẩm định dự án nhanh hay chậm không chỉ so một cơ quan mà phụ thuộc vào thời
gian giải quyết các vấn đề cụ thể của các cơ quan có liên quan.
Thời gian qua thực tế có cơ quan được lấy ý kiến đã không trả lời hoặc kéo
dài thời gian so với quy định. Nghị định số 16/2005/NĐ-CP và Nghị định
112/2006/NĐ-CP quy định thời gian thẩm định cho từng loại dự án như sau:
Dự án quan trọng quốc gia: Không quá 30 ngày
Dự án nhóm A: Không quá 20 ngày.
Dự án nhóm B: Không quá 15 ngày.
Dự án nhóm C: Không quá 10 ngày.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
65
Luận văn thạc sỹ
* Công tác lập, thẩm định TKKT, tổng dự toán
+ Lập Thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán: Về tồn tại của tổ chức tư vấn lập Thiết
kế kỹ thuật, tổng dự toán.
- Một số tổ chức tư vấn có xu hướng chạy theo doanh thu và quá giữ mình
nên đã đẩy hệ số an toàn lên cao, dẫn đến tổng dự toán cao. Ví dụ: Dự án đầu tư xây kỳ
đài sân vận động huyện Thanh Ba, do Công ty Cổ phần Kiến trúc A.T.T.A khảo sát,
lập dự án đầu tư, có Thiết kế kết cấu móng quá an toàn, cụ thể là chọn số lượng cọc quá
thừa so với yêu cầu (có đài cọc chọn tới 8 cọc trong khi yêu cầu chỉ cần 4 cọc), kích
thước đài móng quá lớn… dẫn đến tổng dự toán lớn, gây lãng phí; cụ thể sau khi thẩm
định, chi phí xây dựng của phần cọc ép đã giảm từ 1.820 triệu đồng xuống còn 990
triệu đồng (giảm 45,6%), và một số phần công việc khác làm cho tổng chi phí xây
dựng giảm từ 15.620 triệu đồng xuống còn 14.630 triệu đồng (giảm 6,3%).
- Một số tổ chức tư vấn yếu kém về chuyên môn nên đã bỏ sót nhiều yếu tố, bỏ
sót hạng mục của công trình hoặc thiết kế công trình không theo đúng quy định của nhà
nước. Ví dụ: Công ty Cổ phần Tư giao thông Phú Thọ khảo sát, lập dự án đầu tư xây
dựng: Nâng cấp, cải tạo đường Đại An – Hoàng Cương khi tính toán khối lượng đào
nền đường không chính xác, sử dụng biện pháp thi công trong quá trình đào gây tổn
thất cho nhà nước cả về khối lượng và giá cả, áp dụng định mức của nhà nước không chính xác. Sau khi thẩm định lại khối lượng đã giảm từ 120.611m3 xuống còn 98.562m3 (Giảm 18,28%), đơn giá đào nền đường sau khi chuyển sang biện pháp thi
công phù hợp đã tiết kiệm cho nhà nước 111.275.000 đồng. Phần móng đá thải định
mức của Nhà nước chỉ có 1,32 đơn vị tư vấn lập là 1,428 sau khi thẩm định lại đã giảm
đơn giá từ 48.256 đồng xuống còn 44.856 đồng (Giảm 7,1%).
- Tổ chức thiết kế chưa thực hiện công tác giám sát tác giả trong suốt quá
trình thi công, xây lắp, hoàn thiện và nghiệm thu công trình.
+ Thẩm định thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công - tổng dự toán:
Về tồn tại trong thẩm định thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công - tổng
dự toán có thể nêu tóm tắt như sau:
- Chủ đầu tư không tổ chức nghiệm thu sản phẩm thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản
vẽ thi công - tổng dự toán do cơ quan tư vấn lập trước khi trình thẩm định.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
66
Luận văn thạc sỹ
- Có cơ quan thẩm định quá tin tưởng ở đơn vị tư vấn.
- Thời gian thẩm định kéo dài.
Biểu 2.12. Kết quả thẩm định các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách
Đơn vị: Triệu đồng
TT Nội dung 2010 2011 2012 2013
1 Tổng số dự án 42 38 57 46
2 Tổng mức đầu tư
- Chủ đầu tư trình 18.367 25.450 63.001 51.085
- Kết quả thẩm định 17.327 24.951 60.871 50.330
3 Cắt giảm
- Tổng số 1.040 499 2.130 755
- Tỷ lệ 5,66% 1,96% 3,38% 1,48%
Nguồn: Phòng Tài chính – kế hoạch
2.3.2.5. Công tác quản lý đấu thầu
Quy chế đấu thầu được Chính phủ ban hành lần đầu tiên vào năm 1996
(Nghị định 43/CP và 93/CP), năm 2006 Quy chế Đấu thầu ban hành theo Nghị Định
số: 111/2006/NĐ-CP; 58/2008/NĐ-CP; 85/2009/NĐ-CP của Chính phủ, từ thực tiễn
của công tác đấu thầu trong huyện rút ra một số nhận xét sau:
- Hệ thống pháp lý về đấu thầu đã được hình thành và luôn luôn được hoàn
chỉnh cho phù hợp. Trong thực tế, Qui chế đấu thầu là một công cụ để toàn xã hội
giám sát các hoạt động của các Ban quản lý, Chủ đầu tư; làm cho việc sử dụng đồng
tiền của nhà nước có hiệu quả.
- Đấu thầu mang lại hiệu quả rõ rệt.
- Hiệu quả qua đấu thầu trước tiên là ở chỗ thông qua đấu thầu chúng ta lựa
chọn được nhà thầu đủ kinh nghiệm và năng lực để thực hiện công việc theo yêu cầu.
Nhà thầu phải có giải pháp khả thi để thực hiện công việc được giao và đảm bảo trúng
thầu không được vượt giá gói thầu và giá dự toán được duyệt.
- Hiệu quả của đấu thầu chính là tạo ra sự cạnh tranh để làm động lực cho sự
phát triển, đã tạo ra được nhiều công ty mạnh có đủ năng lực thiết bị, con người và
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
67
Luận văn thạc sỹ
tiền vốn đảm đương được công trình phức tạp và vốn lớn, thời gian thi công ngắn,
đạt được chất lượng cao như công trình: Trung tâm luyện tập thể dục thể thao thị
trấn Thanh Ba, xây dựng mới trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Thanh Ba ....
- Tiết kiệm được nguồn vốn đầu tư
- Thông qua đấu thầu công tác giải ngân, thanh quyết toán nhanh gọn hơn.
- Các công trình đưa vào sử dụng đúng tiến độ sớm phát huy được hiệu quả.
- Công tác đấu thầu đã được toàn xã hội quan tâm.
Biểu 2.13. Kết quả thực hiện công tác đấu thầu giai đoạn 2010- 2013
Đơn vị: Triệu đồng
TT Nội dung 2010 2011 2012 2013
Tổng số gói thầu 3 3 2 1 1
Tổng giá gói thầu 12.369 17.630 11.631 7.253 2
Tổng giá trúng thầu 11.936 16.932 10.963 6.985 3
268 Tiết kiệm trong đấu thầu 433 698 668 4
Tỷ lệ giảm giá 3,70% 3,50% 3,96% 5,74% 5
Nguồn: Phòng Tài chính – kế hoạch
Biểu 2.14. Tỷ lệ áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu
Biểu 2.13. Tỷ lệ áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu
Năm Rộng rãi Hạn chế Chỉ định thầu và các hình Tổng số
thức còn lại
2010 1 1 35 37
Tỷ lệ (%) 2,70 2,70 94,6
2011 0 3 54 57
Tỷ lệ (%) 1,75 0 98,25
2012 0 3 43 46
Tỷ lệ (%) 6,52 0,00 93,48
2013 0 2 36 38
Tỷ lệ (%) 5,26 0,00 94,74
Nguồn: Phòng Tài chính – kế hoạch
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
68
Luận văn thạc sỹ
Tuy nhiên, trong những năm qua, quản lý công tác đấu thầu còn bộc lộ
những hạn chế:
Trong những năm qua hầu hết các dự án chủ đầu tư đều trình xin chủ trương
UBND huyện cho đấu thầu hạn chế hoặc chỉ định thầu.
- Nhiều gói thầu tiến hành tổ chức đấu thầu còn mang tính hình thức, không
có sự cạnh tranh bình đẳng do áp dụng hình thức đấu thầu hạn chế. Tỷ lệ giảm giá
thấp, giá trúng thầu của hầu hết các gói thầu xấp xỉ bằng giá gói thầu (giá dự toán).
Thời gian qua, huyện chưa tổ chức đấu thầu tư vấn mà chỉ thực hiện hình
thức chỉ định thầu. Sự hiểu biết về trình tự và các quy định về đấu thầu của một số
các cơ quan quản lý và các nhà thầu còn hạn chế.
Việc lập Hồ sơ mời thầu của một số gói thầu chưa đảm bảo yêu cầu, chưa
bám sát yêu cầu kỹ thuật của thiết kế nên phải điều chỉnh, sửa chữa nhiều lần.
Công việc xét thầu của tổ tư vấn còn có gói thầu còn mang tính chất chiếu lệ,
hình thức, xét thầu không kỹ.
Việc lựa chọn năng lực các Nhà thầu tham gia đấu thầu còn hạn chế, nhiều Nhà
thầu năng lực kém không phù hợp với yêu cầu gói thầu mà vẫn được Chủ đầu tư mời
tham gia dự thầu, dẫn đến có Nhà thầu tham gia dự thầu nhiều các gói thầu nhưng không
trúng thầu. Chất lượng hồ sơ dự thầu của các nhà thầu không trúng thầu rất thấp, mang
tính chất hình thức, không bám sát hồ sơ mời thầu.
2.3.2.6. Giám sát, giải ngân và quản lý chất lượng công trình
Công tác giám sát công trình và quản lý chất lượng công trình trên địa bàn
huyện Thanh Ba đã được chú trọng hơn. Trong quá trình thực hiện thi công các
công trình, hạng mục công trình của dự án, công tác giám sát đã được các chủ đầu
tư coi trọng, việc thực hiện công tác giám sát ngoài các chủ đầu tư trực tiếp tham
gia còn thuê các đơn vị tư vấn giám sát cùng thực hiện. Các đơn vị tư vấn và chủ
đầu tư đã chấp hành đúng theo quy định trong quá trình giám sát thực hiện thi công.
Trên địa bàn huyện trong thời gian qua chưa xảy ra các công trình bị sự cố của chất
lượng công trình trong khâu thi công.. Ngoài ra công tác giám sát cộng đồng trên
địa bàn huyện Thanh Ba đang được thực hiện rất tốt, đây là một điểm sáng của hoạt
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
69
Luận văn thạc sỹ
động đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện Thanh Ba nói riêng và của tỉnh Phú
Thọ nói chung. Qua giám sát của cộng đồng nhiều sai phạm trong thi công đã được
phát hiện, chấn chỉnh kịp thời, bảo đảm đúng thiết kế, định mức tiêu chuẩn quy
định, góp phần nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.
Công tác tổ chức thi công xây lắp của các công trình đặc biệt là các công
trình có quy mô vừa trở lên đều được các tổ chức xây lắp có tư cách pháp nhân, có
năng lực và kinh nghiệm đảm nhận. Trình tự xây lắp, quy trình và quy phạm trong
thi công được đảm bảo hơn trước, các bước nghiệm thu kỹ thuật, quản lý chất lượng
được thực hiện theo quy định hiện hành của Nhà nước. Nhật ký thi công, biên bản
nghiệm thu, kể cả khối lượng phát sinh đã có biên bản và thủ tục theo quy định. Hầu
hết các công trình xây dựng đều tiến hành kiểm tra thí nghiệm vật liệu trước khi đưa
vào thi công xây lắp, đã quan tâm chú ý thí nghiệm vật liệu trong thi công nền
móng, tổ chức nghiệm thu kỹ thuật theo giai đoạn. Các nhà thầu đã chú trọng đầu tư
mua sắm trang thiết bị, máy móc phục vụ thi công, bảo đảm an toàn lao động, nâng
cao chất lượng công trình xây dựng. Nhiều đơn vị thi công đã thành lập bộ phận
quản lý chất lượng và tổ chức học tập cho cán bộ công nhân về quản lý chất lượng
công trình.Trong thi công xây lắp đã quan tâm bố trí giám sát công trình, qua đó
làm giảm và phát hiện xử lý những nội dung thi công sai thiết kế, sai quy chuẩn tiêu
chuẩn, chấn chỉnh bảo đảm chất lượng công trình điển hình như công trình: Nhà
làm việc UBND, HĐND huyện, một số dự án thuỷ sản, chăn nuôi...
Về công tác giải ngân vốn đầu tư: công tác này do Kho bạc Nhà nước phối
hợp cùng phòng Tài chính - kế hoạch huyện thực hiện. Quy trình thanh toán vốn
đầu tư XDCB hiện nay được thực hiện theo thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày
03/4/2007 hướng dẫn về quản lý thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính
chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước và thông tư số 73/2007/TT-BTC
của Bộ tài chính. Việc thanh toán được tiến hành dựa trên kế hoạch vốn hàng năm
và khối lượng công việc có đủ điều kiện thanh toán. Tuy nhiên, ở huyện Thanh Ba
hiện vẫn còn tình trạng thanh toán ngược quy trình, kho bạc nhà nước chỉ thanh
toán một phần vốn tạm ứng, rồi sau đó mới thanh toán tiếp khi có quyết toán phê
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
70
Luận văn thạc sỹ
duyệt. Như vậy, Kho bạc nhà nước đã không thực hiện đúng chức năng, chưa đảm
bảo thanh toán đúng thời gian quy định, gây nhiều khó khăn cho nhà thầu về vấn đề
vốn trong quá trình thi công, xây dựng công trình do không được thanh toán kịp
thời, gây chậm trễ trong công tác giải ngân vốn đầu tư XDCB. Tình trạng nợ thanh
toán vốn đầu tư XDCB vẫn chưa giảm. Tính đến 28/2/214 số vốn còn nợ của các dự
án, công trình, hạng mục công trình là: 27.417.084.000 đồng. Đây là số nợ tương
đối lớn, bằng 54% tổng chi vốn đầu tư XDCB năm năm 2013 là: 50.330.000.000.
Chi tiết thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.15: Tổng hợp tình hình nợ thanh toán vốn xây dựng cơ bản
trên địa bàn huyện Thanh Ba đến 28/02/2014
Đơn vị: Triệu đồng
Tổng dự S Tên đơn vị Thanh Số nợ đến toán T sử dụng vốn toán đến 28/2/2014 được duyệt T 28/2/2014
1 Thị Trấn 12.043.544 11.568.222 475.322
2 Đồng Xuân 2.179.257 1.230.430 948.827
3 Lương Lỗ 2.825.685 1.742.790 1.082.895
4 Hanh Cù 4.715.878 2.700.500 2.015.378
5 Yển Khê 1.011.049 435.000 576.049
6 Vũ Yển 7.868.794 3.133.000 4.735.794
7 Phương Lĩnh 2.402.134 1.812.636 589.498
8 Mạn Lạn 454644 115461 339.183
9 Hoàng Cương 614.281 393.014 221.267
10 Thanh Xá 725.230 234236 490.994
11 Chí Tiên 8.686.544 7.562.444 1.124.100
12 Sơn Cương 8.564.088 4.973.170 3.590.918
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
71
Luận văn thạc sỹ
13 Đỗ Sơn 412.927 320.000 92.927
14 Thanh Hà 3.303.664 2.563.409 740.255
15 Đông Thành 1.019.305 857.145 162.160
16 Khải Xuân 1.486.755 1.486.755 -
17 Võ Lao 2.808.838 1.402.740 1.406.098
18 Quảng Nạp 1.535.126 1.360.141 174.985
19 Ninh Dân 6.907.391 5.182.024 1.725.367
20 Yên Nội 1135365 863123 272.242
21 Thái Ninh 452345 126355 325.990
22 Đông Lĩnh 1.516.708 1.163.258 353.450
23 Đại An 5.329.030 2.898.912 2.430.118
24 Năng Yên 3.926.683 3.067.017 859.666
25 Đỗ Xuyên 3.061.563 800.000 2.261.563
26 Thanh Vân 2.543.294 2.181.224 362.070
27 Vân Lĩnh 1.704.988 1.511.137 193.851
Tổng cộng 77.191.566 50.115.921 27.075.645
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện vốn đầu tư đến 28/2/2014).
Ngoài ra, việc thanh toán vốn đầu tư trực tiếp cho các đối tượng được thụ hưởng
chưa được thực hiện một cách triệt để, còn tồn tại việc thanh toán cho các đối tượng thụ
hưởng thông qua trung gian, điển hình như: chủ đầu tư làm hộ dân. Theo quy trình hiện
nay, đối với công tác đền bù giải phòng mặt bằng (chi cho hộ nông dân) ban quản lý dự
án thực hiện rút tiền mặt trực tiếp từ quỹ ngân sách Nhà nước, chi cho hộ dân theo
phương án đền bù đã được duyệt. Sau đó việc chi trả như thế nào? do ban quản lý tự
quyết định. Đây là một vấn đề cần được xem xét và quan tâm xử lý trong quy trình
thanh toán vốn đầu tư (đối với chi phí đền bù giải phòng mặt bằng).
Thực trạng về công tác quản lý chất lượng của các công trình xây dựng của
huyện những năm qua còn không ít những bất cập dẫn đến chất lượng kỹ, mỹ thuật
một số công trình chưa được đảm bảo do các nguyên nhân sau:
- Chủ đầu tư không có năng lực chuyên môn và kinh nghiệm về lĩnh vực đầu tư
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
72
Luận văn thạc sỹ
của dự án, ban quản lý dự án kiêm nhiệm nhiều; việc thành lập ban quản lý dự án
không tuân thủ theo quy định của quy chế quản lý đầu tư và xây dựng.
Một dự án đầu tư đã được thiết kế tốt đến bao nhiêu mà trong quá trình thi
công, chủ đầu tư không có năng lực, không có tinh thần trách nhiệm thì vẫn sẽ
không xây dựng được một công trình có chất lượng cao, đảm bảo yêu cầu của thiết
kế được duyệt. Chất lượng công trình xây dựng phụ thuộc vào các đối tượng sau:
- Chủ đầu tư: Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây
dựng ngay từ khi chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư cho đến khi kết thúc xây dựng,
đưa công trình vào khai thác sử dụng. Trách nhiệm quản lý chất lượng công trình
xây dựng gồm:
+ Thực hiện đầy đủ các quy định của nhà nước về lập, thẩm định, trình duyệt
báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, tổ chức đấu thầu hoặc
lựa chọn nhà thầu.
+ Tuyển chọn tổ chức tư vấn, cung ứng vật tư, thiết bị, xây lắp có đủ tư cách pháp
nhân, có đủ năng lực để đảm nhận các công việc trong quá trình đầu tư.
+ Kiểm tra chất lượng các loại vật tư, cấu kiện xây dựng, thiết bị lắp đặt
đúng theo yêu cầu thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuật được duyệt.
+ Được quyền yêu cầu các tổ chức tư vấn, cung ứng, tổ chức nhận thầu xây
lắp giải trình về chất lượng vật liệu, thiết bị và công việc do các tổ chức này thực
hiện nếu thấy không đạt yêu cầu quy định có quyền yêu cầu sửa chữa, thay thế hoặc
từ chối nghiệm thu.
Để thực hiện các nhiệm vụ trên đòi hỏi Chủ đầu tư phải có đủ năng lực để
quản lý dự án hoặc thành lập Ban quản lý Dự án để giúp chủ đầu tư quản lý dự án.
Ở huyện Thanh Ba, thời gian qua các dự án đều do chủ đầu tư trực tiếp quản
lý dự án, do đó đã có những tồn tại sau:
- Chủ đầu tư khoán trắng công việc cho đơn vị tư vấn hoặc đơn vị thi công. Có
chủ đầu tư khi cơ quan quản lý đến làm việc nếu không có nhà thầu thì chủ đầu tư
không thể báo cáo được tình hình thực hiện hoặc chỉ nêu được những nét chung nhất.
- Các chủ đầu tư không nắm được các quy định về quản lý một dự án, lúng túng
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
73
Luận văn thạc sỹ
trong tổ chức thực hiện, từ lập dự án, trình duyệt, thẩm định, tổ chức đấu thầu, giám sát
thi công xây lắp và nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng.
- Công tác giám sát thi công, nghiệm thu từng phần và nghiệm thu toàn bộ do
không có cán bộ nên chủ yếu dựa vào báo cáo của nhà thầu. Có công trình không
đảm bảo chất lượng nhưng vẫn được nghiệm thu.
- Không kiểm soát được nhà thầu.
- Trách nhiệm của nhà thầu: Trách nhiệm của nhà thầu được quy định tại
Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 về quản lý dự án đầu tư xây dựng
công trình và Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 về sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ.
+ Chỉ được phép nhận thầu thi công những công trình thực hiện đúng thủ tục
đầu tư và xây dựng, phù hợp với năng lực của mình; thi công đúng thiết kế được
duyệt; áp dụng đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng đã được quy định và chịu sự
giám sát, kiểm tra thường xuyên về chất lượng công trình của chủ đầu tư tổ chức
thiết kế và cơ quan giám định nhà nước theo phân cấp quản lý chất lượng công trình
xây dựng;
+ Chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và trước pháp luật về chất lượng thi
công xây lắp công trình kể cả những phần việc do nhà thầu phụ thực hiện theo quy
định của hợp đồng giao nhận thầu xây lắp;
+ Vật liệu cấu kiện xây dựng sử dụng vào công trình phải có chứng nhận về
chất lượng gửi cho cho chủ đầu tư để kiểm soát trước khi sử dụng theo quy định;
+ Tổ chức hệ thống bảo đảm chất lượng công trình để quản lý chất lượng sản
phẩm xây dựng trong quá trình thi công.
2.3.2.7. Nghiệm thu và thanh quyết toán
Công tác nghiệm thu:
Công tác nghiệm thu được thực hiện chưa chặt chẽ, việc đo đếm khối lượng
nghiệm thu nhiều khi còn sơ sài.
Nhiều chủ đầu tư không có cán bộ có chuyên môn về lĩnh vực xây dựng cơ
bản nên trong quá trình đầu tư về xây dựng cơ bản việc nghiệm thu công việc hay
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
74
Luận văn thạc sỹ
giai đoạn chủ yếu là giao cho tư vấn giám sát và nhà thầu tự thực hiện.
Công tác nghiệm thu còn chậm, nhiều công trình khi hoàn thành không
nghiệm thu đưa vào sử dụng ngay làm kéo dài thời gian bảo hành gây khó khăn, tốn
kém cho đơn vị thi công. Ví dụ: Trường mầm non Ninh Dân do công ty cổ phần
Toàn Thịnh thi công sau khi thi công xong 6 tháng mới bàn giao đưa vào sử dụng
khiến cho công ty cổ phần Toàn Thịnh phải cắt cử bảo vệ các thiết bị trong công
trình trong suốt quá trình chưa nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng vào kéo dài
thời gian bảo hành công trình thêm 6 tháng.
Công tác thanh quyết toán:
Công tác thanh quyết toán của chủ đầu tư chậm so với qui định, chất lượng
lập hồ sơ quyết toán còn thấp thiếu cơ sở.
Một số dự án thủ tục thanh toán, cấp phát chưa đảm bảo nhưng vẫn cấp phát.
Có công trình đã quyết toán nhưng khi thanh tra, kiểm tra vẫn tìm ra những thất
thoát lãng phí. Thủ tục thanh toán, cấp phát và thẩm định quyết toán chưa cải tiến,
đôi khi còn gây phiền hà không cần thiết.
Biểu 2.16. Kết quả thực hiện công tác quyết toán giai đoạn 2005 - 2009
Đơn vị: Triệu đồng
Nội dung 2005 2006 2007 2008 2009
Tổng số
Tổng mức đầu tư 77.976 60.684 156.936 246.240 150.612
Tổng dự toán 70.008 55.368 149.472 237.408 136.440
A-B đề nghị quyết toán 66.348 52.464 140.340 216.012 125.820
Giá trị chấp nhận quyết toán 64.668 51.528 138.108 212.304 124.836
Tiết kiệm trong quyết toán -1.680 -936 -2.232 -3.708 -984
Tỷ lệ giảm giá -2,53% -1,78% -1,59% -1,72% -0,78%
Nguồn: Phòng Tài chính – kế hoạch
Về giá xây dựng:
Một số công tác xây dựng chuyên ngành hoặc có công nghệ thi công mới
chưa xây dựng được định mức, đơn giá.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
75
Luận văn thạc sỹ
Giá vật liệu thông báo chậm, thông báo không đầy đủ theo các tháng không
phù hợp với sự thay đổi nhanh của thị trường. Hệ số đơn giá vật liệu khu vực chỉ
cho các trung tâm các huyện, chưa phù hợp với những công trình nằm xa trung tâm
được tính hệ số, dẫn đến chủ đầu tư phải xin thông báo giá riêng cho từng công
trình, điều này gây ra hiện tượng giá vật liệu xây dựng không có tính thống nhất.
Một số giá vật liệu chưa sát giá thị trường.
2.3.2.8. Những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại.
Những tồn tại:Mặc dù trong những năm gần đây công tác quản lý Nhà nước
về đầu tư XDCB đã có một số tiến bộ và đạt được những thành quả nhất định... Tuy
nhiên, công tác quản lý đầu tư XDCB nói chung và đầu tư xây dựng cơ bản từ
nguồn vốn ngân sách Nhà nước nói riêng còn tồn tại nhiều bức xúc: quy hoạch, kế
hoạch đầu tư chưa đồng bộ, chất lượng chưa cao; quy hoạch, kế hoạch đầu tư theo
ngành chưa gắn chặt với vùng địa phương; một số quyết định chủ trương đầu tư
thiếu chính xác; tình trạng đầu tư dàn trải còn phổ biến; thất thoát lãng phí xảy ra ở
nhiều ngành, lĩnh vực, trong tất cả các khâu của quá trình đầu tư, từ chủ trương đầu
tư, quy hoạch, lập, thẩm định dự án, khảo sát thiết kế đến thực hiện đầu tư, đấu
thầu, nghiệm thu, điều chỉnh tăng dự toán, thanh quyết toán và đưa công trình vào
khai thác sử dụng; nợ tồn đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở mức cao và có xu
hướng ngày càng tăng; hiệu quả đầu tư thấp...
Đi sâu vào từng giai đoạn, từng khâu, từng chủ thể của đầu tư XDCB có thể
thấy được còn rất nhiều bất cập, tồn tại cần giải quyết. Cụ thể như sau:
Công tác quy hoạch và chuẩn bị đầu tư còn nhiều hạn chế: Đối với các dự án
quy hoạch mang tính định hướng như quy hoạch phát triển kinh tế xã hội trong thời
gian tới của huyện và các ngành sau khi đã hoàn thành thì ít được quan tâm sử
dụng. Đối với các quy hoạch xây dựng cho các dự án, các công trình thì chưa được
quan tâm đúng mức, trên địa bàn huyện trong thời gian qua mới chỉ đề cập đến công
tác quy hoạch của các khu công nghiệp và cụm công nghiệp… và công tác quy
hoạch này nhiều khi được lập sau khi đã có một số các dự án công trình cụ thể đã
được đầu tư như : khu công nghiệp thị trấn Thanh Ba ....
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
76
Luận văn thạc sỹ
Công tác phân bổ kế hoạch vốn đầu tư, lập báo cáo kinh tế kỹ thuật, lập dự án đầu
tư còn nhiều hạn chế, nhiều dự án, báo cáo kinh tế kỹ thuật đã phải điều chỉnh trong quá
trình thực hiện: đó là điều chỉnh bổ sung các hạng mục công trình, công trình trong dự
án, thay đổi điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư… vì khi lập dự án các chủ đầu tư, các tư
vấn thiết kế chưa lường hết được những công việc phát sinh trong thực tế làm cho quá
trình thực hiện các dự án bị kéo dài... Ngoài ra tình trạng “chạy dự án - lại quả” trong đầu
tư XDCB nói chung và đầu tư XDCB trên địa bàn huyện Thanh Ba nói riêng vẫn còn, có
những khi nhiều phòng, ban, địa phương muốn ghi kế hoạch vốn đầu tư từ ngân sách nhà
nước vì những lý do ngoài kinh tế. Có khá nhiều trường hợp người ta vẽ ra hiệu quả tính
toán hấp dẫn trong dự án đầu tư để trình cấp trên phê duyệt, và cấp có thẩm quyền phê
duyệt dự án vẫn xét duyệt theo đúng quy chế... Khi công trình đưa vào sử dụng mới lộ rõ
những sai sót, thậm chí gian dối trong tình toán. Tình trạng đầu tư tràn lan vẫn xảy ra, có
những trường hợp nể nang, kể cả ở những cơ quan có trách nhiệm quản lý quy hoạch và
cấp vốn đầu tư xây dựng.
Về công tác giải phóng mặt bằng: Đối với một số dự án đầu tư XDCB trên
địa bàn huyện Thanh Ba , công tác giải phóng mặt bằng đang thực sự gặp rất nhiều
khó khăn: vốn đền bù giải phóng mặt bằng chiếm tỷ trọng lớn, công tác giải phóng
mặt bằng của nhiều dự án chưa được các chủ đầu tư triển khai một cách quyết liệt,
còn có nhiều khó khăn về cơ chế, chính sách do liên quan đến nhiều phòng, ban, thủ
tục đền bù giải phóng mặt bằng chưa đồng bộ, giá đền bù và phương thức đền bù
chưa được người dân ủng hộ... điển hình là các dự án phải sử dụng đất nông nghiệp
như thuỷ sản, chăn nuôi, hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các dự án mở
rộng đường giao thông...
Về công tác lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán công trình còn yếu:
việc lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán hiện nay đều do chủ đầu tư thực
hiện. Tuy nhiên, đa số các chủ đầu tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách
Nhà nước trên địa bàn huyện Thanh Ba hầu như không thể tự thực hiện công việc
này. Do đó công việc này được các chủ đầu tư thuê các tổ chức, công ty tư vấn thiết
kế thực hiện. Phí thiết kế dự toán được trích theo tỷ lệ phần trăm của giá trị xây lắp.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
77
Luận văn thạc sỹ
Vì thế nhiều tư vấn thiết kế dự toán muốn có quy mô dự án lớn để nhận thiết kế phí
nhiều hơn, dẫn tới thiết kế quá mức an toàn, sử dụng vật liệu, vật tư quá đắt so với
yêu cầu gây lãng phí ngân sách Nhà nước, một số công trình thiết kế kiến trúc chưa
đẹp, chỗ thừa, chỗ thiếu phải sửa chữa nhiều lần, không phù hợp với thực tế gây
khó khăn cho công tác lập dự toán và thi công công trình. Do vậy khi thi công các
công trình, hạng mục công trình phải điều chỉnh làm cho thời gian thi công luôn
phải kéo dài chờ đợi các thủ tục để điều chỉnh thiết kế và dự toán.
Công tác đấu thầu, chỉ định thầu còn nhiều bất cập: Hiện nay, công tác đấu
thầu và chỉ định thầu được thực hiện theo các quy định của luật đấu thầu số
61/2005/QH11 ngày 12/12/2005 và nghị định 111/2006/NĐ-CP ngày 29/09/2006
của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật
xây dựng cùng một số văn bản quy phạm pháp luật khác... Tuy nhiên, công tác đấu
thầu, chỉ định thầu của các dự án trên địa bàn huyện Thanh Ba vẫn còn nhiều bất
cập. Đấu thầu chưa thực sự công khai, công bằng, thông tin về đấu thầu còn hạn
chế, tổ chức xét duyệt kết quả đấu thầu còn khuất tất... thậm chí một số gói thầu
chưa đấu thầu đã biết đơn vị trúng thầu... Việc lựa chọn nhà thầu chủ yếu dựa trên
tiêu chí giá dự thầu, giá thấp thì trúng thầu chứ chưa thực sự chú ý đến các tiêu chí
kỹ thuật, năng lực nhà thầu... Kết quả đấu thầu vẫn bị chi phối bởi những sự can
thiệp của các thế lực khác nhau... Ngoài ra bản thân các văn bản quy phạm pháp
luật còn chưa thực sự thuyết phục, như trong quy định về chỉ định thầu quá phức
tạp, độ phức tạp về hồ sơ chỉ định thầu không hề thua kém đấu thầu, gây ra nhiều
khó khăn phiền hà không cần thiết.
Công tác thi công xây lắp cũng bộc lộ nhiều hạn chế yếu kém: từ việc chuẩn
bị thi công, tổ chức thực hiện đến kiểm tra giám sát công trình. Trong thi công lựa
chọn thiết bị, chuẩn bị mặt bằng chưa tốt, thiếu cán bộ kỹ thuật giỏi và thợ bậc cao.
Tình trạng nhà thầu sử dụng nhân công chưa qua đào tạo, theo thời vụ, lại chưa tổ
chức hướng dẫn, huấn luyện đầy đủ cho người lao động, chưa tổ chức giám sát chặt
chẽ kể cả giám sát tác giả và giám sát thi công, còn khoán trắng cho các đội thi công
và phó mặc cho giám sát chủ đầu tư. Một số chủ đầu tư thuê tư vấn giám sát nhưng
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
78
Luận văn thạc sỹ
tổ chức tư vấn giám sát bố trí cán bộ một lúc giám sát nhiều công trình do vậy chất
lượng giám sát chưa cao. Một số đơn vị chưa thực hiện nghiêm túc quy định ghi
chép nhật ký thi công, chưa cập nhật thường xuyên, chỉ tiêu phản ảnh chưa đầy đủ
theo quy định.
Về công tác giám định đầu tư và nghiệm thu: Việc tổ chức nghiệm thu theo
quy định của Bộ Xây dựng về quản chất lượng công trình chưa nghiêm. Một số
công trình đã quyết toán đưa vào sử dụng nhưng chất lượng không đảm bảo như còn
lún, nứt, thấm dột, xuống cấp rất nhanh phải bổ sung sửa chữa. Hệ thống quản lý
chất lượng công trình xây dựng tuy đã được quan tâm củng cố, song hoạt động hiệu
quả còn thấp, thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn cao, lại không được thường
xuyên cập nhật, bồi dưỡng kiến thức.
Chất lượng công tác nghiệm thu công trình chưa cao do trình độ nhân lực,
trình độ chuyên môn của đội nhũ cán bộ làm công tác làm công tác này chưa đáp
ứng được yêu cầu đặt ra, hay do sự tắc trách trong yêu cầu quản lý đầu tư và đạo
đức nghề nghiệp. Trong thời gian qua trên địa bàn huyện Thanh Ba có nhiều hiện
tượng khối lượng nghiệm thu không khớp với khối lượng thực tế thi công tại hiện
trường, mà chỉ thông qua kiểm tra, kiểm soát thanh toán vốn mới phát hiện. Điều
này phải nói đến trách nhiệm của chủ đầu tư và cơ quan tư vấn giám sát thi công đã
vi phạm trình tự và quy chế quản lý đầu tư và xây dựng.
Như chúng ta đã biết công tác nghiệm thu xây dựng cơ bản hoàn thành đóng
vai trò quan trọng trong công tác thanh toán vốn đầu tư; qua công tác nghiệm thu để
đánh giá khối lượng công việc gì đã làm được, đã hoàn thành, những khối lượng
công việc chưa làm ... Từ đó làm cơ sở tính toán áp định mức, đơn giá để tính toán
số vốn đề nghị thanh toán. Nhưng thực tế thời gian qua, việc chấp hành chế độ
nghiệm thu chưa được thực hiện nghiêm túc, nhiều khối lượng công trình xây dựng
cơ bản đã hoàn thành nhưng chưa được nghiệm thu hoặc đã tổ chức nghiệm thu
nhưng chậm hoàn tất thủ tục thanh toán dẫn đến khối lượng dở dang khá lớn gây
đọng vốn của những khối lượng này.
Tình trạng nghiệm thu thanh toán không đúng khối lượng thực tế thi công,
không đúng chế độ, đơn giá thực tế và chủng loại vật tư; việc làm này đã làm tăng
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
79
Luận văn thạc sỹ
giá trị công trình không đúng chế độ quy định, thoát ly thực tế gây thất thoát, lãng
phí vốn của Nhà nước.
Về công tác thanh toán vốn đầu tư: công tác này do Kho bạc Nhà nước phối
hợp cùng phòng Tài chính - kế hoạch huyện thực hiện. Quy trình thanh toán vốn
đầu tư XDCB hiện nay được thực hiện theo thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày
03/4/2007 hướng dẫn về quản lý thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính
chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước và thông tư số 73/2007/TT-BTC
của Bộ tài chính. Việc thanh toán được tiến hành dựa trên kế hoạch vốn hàng năm
và khối lượng công việc có đủ điều kiện thanh toán. Tuy nhiên, ở huyện Thanh Ba
hiện vẫn còn tình trạng thanh toán ngược quy trình, kho bạc nhà nước chỉ thanh
toán một phần vốn tạm ứng, rồi sau đó mới thanh toán tiếp khi có quyết toán phê
duyệt. Như vậy, Kho bạc nhà nước đã không thực hiện đúng chức năng, chưa đảm
bảo thanh toán đúng thời gian quy định, gây nhiều khó khăn cho nhà thầu về vấn đề
vốn trong quá trình thi công, xây dựng công trình do không được thanh toán kịp
thời, gây chậm trễ trong công tác giải ngân vốn đầu tư XDCB. Tình trạng nợ thanh
toán vốn đầu tư XDCB vẫn chưa giảm.
Như vậy, trong điều kiện hiện nay khi các tổ chức kiểm toán độc lập, các tổ
chức tư vấn về đầu tư xây dựng cơ bản chưa thực sự phát triển rộng khắp trên địa
bàn tỉnh Phú Thọthì công tác thẩm tra quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản dự án
hoàn thành vẫn thực sự là một gánh nặng cho phòng tài chính - kế hoạch. Chất
lượng của công tác thẩm tra phê duyệt quyết toán vẫn chưa thể được nâng cao.
Về trình độ đội ngũ cán bộ quản lý trong lĩnh vực quản lý hoạt động đầu tư:
Nhìn chung trình độ và phẩm chất một số cán bộ quản lý trong lĩnh vực đầu tư còn
hạn chế, yếu kém trong việc thực hiện kỷ cương phép nước, công tác kiểm tra,
thanh tra còn buông lỏng, nhiều người có trọng trách trong quản lý dự án đầu tư
nhưng không có bằng cấp chuyên môn trong lĩnh vực mình đảm nhận. Một số cán
bộ quản lý dự án đầu tư bị tác động tiêu cực của thị trường, sút kém phẩm chất đạo
đức nghề nghiệp...
Về công tác quản lý của chủ đầu tư: Vấn đề này còn rất nhiều hạn chế, yếu
kém. Các chủ đầu tư chưa nghiên cứu tìm hiểu kỹ chế độ, chính sách pháp luật và
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
80
Luận văn thạc sỹ
các văn bản có liên quan đến đầu tư xây dựng công trình nên chưa làm tròn trách
nhiệm của mình đặc biệt là các ban quản lý kiêm nhiệm và các chủ đầu tư cấp xã.
Một số chủ đầu tư không có chuyên môn và kiến thức xây dựng cơ bản, lại không
thuê tư vấn nhất là tư vấn giám sát nên không đủ trình độ nghiệm thu sản phẩm thiết
kế do tổ chức tư vấn thiết kế bàn giao, không phát hiện được sai sót trong thiết kế,
kiến trúc và kết cấu công trình. Chưa thực hiện tốt chức năng giám sát hiện trường,
nhiều sai sót trong thi công không được phát hiện và xử lý kịp thời, còn ỷ lại cho tư
vấn thiết kế và tư vấn giám sát.
Về công tác thanh tra, kiểm tra tuy đã có nhiều cố gắng song chưa thường
xuyên, qua thanh tra, kiểm tra chưa phát hiện được nhiều sai phạm để uốn nắn, chấn
chỉnh kịp thời, góp phần đưa công tác quản lý tài đầu tư XDCB vào nề nếp. Trong
điều kiện hiện nay công tác kiểm tra, thanh tra chưa thực sự thể hiện được hết vai
trò và chức năng của mình, chưa xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm làm thất
thoát vốn của Nhà nước làm buông lỏng kỷ cương phép nước và đó cũng là nguyên
nhân làm cho việc sử dụng vốn đầu tư không mang lại hiệu quả mong đợi.
Đầu tư XDCB là một lĩnh vực liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều tổ
chức. Sự sai phạm trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản thường xảy ra theo dây
chuyền. Do vậy việc xử lý vi phạm trong thanh tra, kiểm tra vấn đề quản lý đầu tư
XDCB là rất khó khăn. Có một thực tế là các kết luận thanh tra, kiểm tra chưa chỉ rõ
sai phạm và trách nhiệm của các cơ quan chức năng, chưa xử lý nghiêm các sai phạm
do quản lý Nhà nước về đầu tư XDCB gây ra, các kết luận thanh tra, kiểm tra mới chỉ
chú trọng vào các nhà thầu. Do đó việc xử lý triệt để các vấn đề tồn tại là rất khó thực
hiện. Đầu tư xây dựng cơ bản vẫn là một vấn đề mà khi kiểm tra bất kỳ đâu cũng phát
hiện sai phạm, vẫn gây thất thoat lãng phí lớn cho ngân sách nhà nước.
- Không chỉ riêng ở huyện Thanh Ba, trên toàn bộ tỉnh Phú Thọ quản lý đầu tư
XDCB còn vô số những vướng mắc cần giải quyết; thất thoát, lãng phí ngân sách Nhà
nước trong đầu tư XDCB vẫn chiếm tỷ trọng lớn; sai phạm trong lĩnh vực này vẫn
đang gia tăng; ... Để có thể giải quyết các tồn tại, hạn chế trong đầu tư XDCB cần
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
81
Luận văn thạc sỹ
thẳng thắn và nhận thức một cách toàn diện, sâu sắc các nguyên nhân dẫn đến những
tồn tại, hạn chế đó. Có thể kể ra một số nguyên nhân quan trọng và trực tiếp như sau:
* Thứ nhất: Việc chấp hành pháp luật trong đầu tư XDCB chưa nghiêm, sai
phạm xảy ra trong nhiều khâu của quá trình đầu tư dưới nhiều hình thức khác nhau,
đối tượng tham gia vào đầu tư XDCB đa dạng về ngành nghề và hình thức cho nên
rất khó kiểm soát; trong quản lý nhà nước về đầu tư XDCB cũng còn rất nhiều vấn
đề, không ít cán bộ quản lý, điều hành thiếu trách nhiệm, phẩm chất đạo đức yếu
kém, lợi dụng chức trách, nhiệm vụ bớt xén, tham nhũng... Đây chính là nguyên
nhân quan trọng và trực tiếp nhất dẫn đến hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư xây
dựng cơ bản thấp, đặc biệt là đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước.
* Thứ hai: Do trình độ phát triển kinh tế của Phú Thọ nói chung và huyện
Thanh Ba nói riêng còn thấp; cơ sở vật chất còn thiếu thốn nên tỷ lệ tiết kiệm và đầu
tư so với GDP còn hạn hẹp. Khối lượng vốn đầu tư huy động được còn rất hạn chế,
không đáp ứng được nhu cầu đầu tư; hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh
tranh còn thấp. Đầu tư vẫn còn tình trạng dàn trải chưa hợp lý. Chưa xác định chính
xác và tập trung đầu tư cho những ngành sản phẩm mũi nhọn của Thanh Ba. Thu
hút vốn đầu tư nước ngoài thấp, dịch vụ chất lượng cao còn chậm phát triển, hiệu
quả hạn chế, lĩnh vực tài chính ngân hàng chậm đổi mới, sản xuất chưa kịp gắn kết
với nhu cầu thị trường, hoạt động của hợp tác xã sau chuyển đổi còn nhiều lúng
túng. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chưa được quan tâm, hỗ trợ đúng mức từ
phía nhà nước. Tình trạng quan hệ giữa hợp tác xã với địa phương, và giữa các địa
phương trong huyện còn nhiều hạn chế, điều này làm cho lượng vốn đầu tư huy
động được ít, kết hợp với việc bố trí thiếu tập trung, thiếu đồng bộ, co kéo đáp ứng
nhiều mục tiêu đầu tư cùng lúc nên hiệu quả đầu tư còn nhiều hạn chế.
* Thứ ba: Chưa thực sự làm tốt công tác quy hoạch, quy hoạch không phù
hợp với thực tế, chất lượng quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội thấp, quy hoạch chủ
yếu là để đủ thủ tục phê duyệt dự án dẫn đến thường phải điều chỉnh quy hoạch khi
dự án đi vào thực hiện, việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch nhiều khi không đúng
thẩm quyền.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
82
Luận văn thạc sỹ
* Thứ tư: Cơ chế phân công, phân cấp của UBND tỉnh, sự phối hợp trong
quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản chưa rõ ràng, chưa đề cao được trách
nhiệm của từng sở, ngành, phòng, ban, địa phương... nhất là về trách nhiệm của
từng cá nhân. Phân cấp chưa phù hợp với năng lực của chủ thể quản lý.
* Thứ năm: Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chưa thường xuyên, diện
còn rất hẹp, chưa sâu, chất lượng còn hạn chế, báo cáo kết quả thanh tra, kiểm tra,
chưa chỉ rõ trách nhiệm thuộc về ai, xử lý trách nhiệm của tổ chức, cá nhân vi phạm
chưa triệt để và còn kéo dài sau thanh tra, kiểm tra.
* Thứ sáu: Văn bản pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản tuy nhiều nhưng
chưa đủ, dàn trải nhưng chưa cụ thể, nhiều quy định nhưng thiếu những chế tài đủ
mạnh để đảm bảo việc tuân thủ pháp luật về đầu tư XDCB. Cơ chế quản lý đầu tư
xây dựng và tổ chức đầu tư chưa đồng bộ và còn bộc lộ nhiều bất cập. Trong nhiều
năm qua tuy đã xác định được vai trò và vị trí của xây dựng cơ bản nhưng Đảng ta
chưa có nghị quyết riêng về lĩnh vực quan trọng và đặc thù này, mà thường đặt
chung trong lĩnh vực công nghiệp. Đặc biệt là việc đầu tư vốn trong lĩnh vực xây
dựng cơ bản cũng rất khác so với vốn trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp. Mặt
khác, cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng trong thời gian qua liên tục thay đổi do
những quy định có tính chất pháp lý cao nhất vẫn tạo ra nhiều khe hở và bất cập dẫn
đến tình trạng tỷ lệ thất thoát vốn ngày một gia tăng.
* Thứ bảy: Năng lực của một số chủ đầu tư tuy đã có chuyển biến, nhưng chưa theo
kịp yêu cầu của nhiệm vụ được giao, thiếu những cán bộ có năng lực, có trình độ chuyên
môn, nên triển khai các thủ tục xây dựng cơ bản còn lúng túng mất nhiều thời gian trong
khâu thủ tục hành chính. Một số chủ đầu tư thiếu tinh thần trách nhiệm, có hiện tượng
giao phó bỏ mặc cho đơn vị tư vấn triển khai chuẩn bị dự án. Mặt khác khi nói đến hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước không thể bỏ qua yếu tố trình độ chuyên
môn trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản. Đây là vấn đề cần quan tâm nhất trong tất cả
các khâu của quá trình đầu tư xây dựng cơ bản.
* Thứ tám: Chất lượng công tác tư vấn còn thấp. Mặc dù đã có nhiều biến
chuyển nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Hầu hết dự án trình thẩm định
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
83
Luận văn thạc sỹ
xét duyệt đều phải chỉnh sửa, bổ sung. Nhiều dự án trong quá trình tổ chực thực
hiện “thậm chí chưa khởi công” đã phải phê duyệt điều chỉnh, dẫn tới kéo dài thời
gian triển khai thủ tục chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị phê duyệt dự án. Cơ chế chính sách
vận hành của dự án là một trong những yếu tố quyết định đến tính khả thi trong việc
triển khai dự án. Tuy nhiên vấn đề này chưa được đầu tư chất xám một cách thoả
đáng, còn tồn tại tình trạng chủ đầu tư và tư vấn trông chờ, ỉ lại vào ý kiến tư vấn
của cơ quan thẩm định.
*Thứ chín: Môi trường đầu tư trên địa bàn huyện Thanh Ba chưa thực sự được
cải thiện, cơ chế chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài còn nhiều bất cập, chưa tạo
nên một hành lang pháp lý thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi góp vốn đầu tư. Mặt
khác, do thủ tục hành chính chồng chéo .
2.3.3. Phân tích công tác quản lý ĐTPT từ NSNN của huyện theo các yếu tố
ánh hưởng.
2.3.3.1. Môi trường kinh tế - xã hội
Thời gian vừa qua, nước ta đã hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới,
Việt Nam đã tham gia vào hầu hết các tổ chức quốc tế lớn như: ASEAN, WTO,
APEC… do vậy trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang khủng hoảng, Việt Nam
cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc, lạm phát tăng cao, rất nhiều nghành công nghiệp của
nước ta đang bị đình trệ như: sản xuất xi măng, thép, xây dựng… trong bối cảnh
kinh tế khó khăn phải tiết kiệm chi phí, UBND huyện đã đề ta mục tiêu đề ra, tiết
kiệm chi phí so. Để đạt được kết quả đó các phòng ban đã tham mưu đề xuất đầu tư
các công trình có quy môh sát với tình hình địa phương. Từ khâu lập dự án, thẩm
định, trình phê duyệt, thực hiện dự án, lãnh đạo huyện, các phòng ban và quản lý dự
án đã phải tiến hành họp bàn rất nhiều, tiến hành thận trọng tỷ mỷ từng bước để
đảm bảo thực hiện dự án thành công.
Những yếu tố về kinh tế - xã hội khi có sự biến động đã ảnh hưởng đến công
tác quản lý dự án huyện nhưng với sự linh hoạt huyện đã thích ứng tốt trước tình
hình mới, triển khai thành công dự án, kịp thời đáp ứng cho sản xuất và phát triển.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
84
Luận văn thạc sỹ
2.3.3.2. Những ảnh hưởng của cơ chế chính sách và các quy định của nhà nước
Có thể nói chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến Công tác quản lý dự
án tại huyện. Trong giai đoạn 2005 – 2013, Nhà nước đã ban hành nhiều bộ luật, nghị định
tạo ra hành lang pháp lý khá đầy đủ cho các hoạt động đầu tư, quản lý dự án đầu tư
Các luật đã ban hành: Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005; Luật
đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của
các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12; Luật doanh nghiệp
số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
Các nghị định đã ban hành và bị thay thế gồm: Nghị định về quản lý dự án đầu tư
xây dựng công trình số 16/2005/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình;
Nghị định 99/2007/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình; Nghị định
111/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo luật xây
dựng; Nghị định 58/2008/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đấu thầu;
Các nghị định hiện hành: Nghị định về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình số
12/2009/NĐ-CP; Nghị định số 112/2009/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công
trình; Nghị định 85/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu
theo luật xây dựng; Nghị định 15/2013/NĐ-CP về quản lý chất lượng xây dựng công trình.
Qua các thống kê trên ta thấy các nghị định hướng dẫn của chính phủ đều đã phải
điều chỉnh, ban hành lại và đặc biệt là nghị định hướng dẫn thi hành luật đấu thầu và lựa
chọn nhà thầu phải điều chỉnh liên tiếp trong các năm từ 2006 -2009. Sự thay đổi của các
Nghị định như vậy là cần thiết để phù hợp với thực tế quản lý dự án đầu tư nhưng nó cũng
đem lại những khó khăn trong việc áp dụng kịp thời các chính sách thay đổi đối với huyện.
2.3.3.3.Quan điểm của huyện
Tạo lập môi trường tài chính lành mạnh thông thoáng nhằm giải phóng và
phát triển các nguồn lực tài chính và tiềm năng sản xuất của các doanh nghiệp... Sử
dụng ngân sách nhà nước phải chủ động và có hiệu quả, tăng cường kiểm soát chi,
kiên quyết chống lãng phí thất thoát. Nâng cao hiệu quả đầu tư bằng vốn ngân sách
nhà nước từ xác định chủ trương, lập và duyệt dự án đến thực hiện dự án. Thực hiện
chính sách khuyến khích phát triển đối với các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
85
Luận văn thạc sỹ
quan tâm đầu tư nhiều hơn cho các vùng khó khăn
Nghị quyết của Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVIII đã chỉ rõ:
Tạo chuyển biến cả về tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế với mức cao
hơn nhiệm kỳ trước, tăng trưởng đi đôi với phát triển bền vững, bắt nhịp với đà phát
triển chung của cả nước. Tiếp tục đổi mới toàn diện, khai thác tiềm năng, thế mạnh để
phát triển, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; xác định khâu đột phá quan trọng là "phát
triển kết cấu hạ tầng". Nâng cao hiệu quả các nguồn lực đầu tư cải thiện chất lượng kết
cấu hạ tầng, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển đô thị
và các vùng sản xuất hàng hoá, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu
lao động trên địa bàn.Mục tiêu tổng quát của huyện Thanh Ba trong 5 năm tới là: Đảm
bảo tốc độ tăng trương kinh tế nhanh và bền vững, tạo sự chuyển biến căn bản về chất
lượng tăng trưởng kinh tế. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao
động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh
của các sản phẩm truyền thống của huyện tạo nhiều sản phẩm mới có chất lượng cao,
giá cả cạnh tranh, nâng cao tiềm lực của các doanh nghiệp của Trung ương cũng như
của tỉnh trên địa bàn. Huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển.
2.3.3.4. Năng lực quản lý của huyện nói chung và của đội ngũ cán bộ
Trong công tác quản lý nói chung, chất lượng nhân lực là yếu tố quan trọng
quyết định đến chất lượng quản lý. Có thể nói trong công tác quản lý dự án, chất
lượng nhân lực là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến mọi quá trình thực hiện dự án.
Năng lực của mỗi cá nhân nói riêng và cả bộ máy quản lý nói chung ảnh hưởng đến
tất cả moi mặt của dự án như: Tiến độ thực hiện dự án, chất lượng thực hiện và quan
trọng hơn cả là hiệu quả của dự án. Một đội ngũ quản lý dự án tốt với những thành
viên am hiểu sâu về dự án có thể giải quyết hầu hết các công việc của dự án sẽ giúp
cho dự án được thực hiện theo đúng kế hoạch, đạt được muc tiêu đề ra và ngược lại
một bộ máy quản lý dự án không có những thành viên có chất lượng thì sẽ làm giảm
hiệu quả đầu tư của dự án thậm chí có thể làm thất bại dự án. Trong các giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng quản lý quản lý dự án thị biện pháp cải thiện và nâng cao
chất lượng nhân lực là biện pháp có thể thực hiện ngay và đem lại hiệu quả rõ rệt
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
86
Luận văn thạc sỹ
như: Tổ chức các lớp bồi dưỡng về quản lý dự án hoặc cử những cán bộ tham gia dự
án đi học những lớp chuyên môn, nâng cao về nghiệp vụ quản lý dự án, ngoài ra còn
có thể thuê hoặc tuyển các chuyên gia quản lý dự án về làm việc tại UBND huyện
Những năm gần đây, UBND huyện đã bồi dưỡng trình độ cho các đồng chí
tham gia quản lý dự án như: 100% những người tham gia thực hiện dự án đã được
học qua các lớp về quản lý dự án, quản lý đấu thầu, đánh giá dự án. Một số đồng chí
kỹ sư, cử nhân trẻ đã được Công ty cử đi học các lớp Cao học về quản lý kinh tế, kỹ
thuật để nâng cao trình độ chuyên môn và tạo nguồn nhân lực chất lượng tham gia
quản lý các dự án sắp được triển khai tại huyện.
Trong bối cảnh, nền kinh tế có nhiều biến động chịu ảnh hưởng bởi suy thoái
kinh tế toàn cầu, Nhà nước có nhiều sự thay đổi thì yêu cầu phải nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực là một yêu cầu cấp bách cần được ưu tiên thực hiện. Một đội
ngũ nhân lực có chất lượng sẽ giúp cho huyện thích ứng nhanh, đứng vững trước
những khó khăn và đặc biệt trong công tác quản lý dự án, chất lượng của đội ngũ
quản lý có ảnh hưởng to lớn đến chất lượng, hiệu quả của dự án.
2.3.3.5. Phương pháp quản lý đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước
của huyện
Trong thời gian vừa qua, công tác tổ chức quản lý dự án tại huyện thực sự
chưa được tốt, đây chính là nguyên nhân làm cho phần lớn các dự án đầu tư cho sản
xuất của Công ty bị chậm tiến độ so với dự kiến và gây phát sinh chi phí trong quá
trình thực hiện dự án. Từ những phân tích ở các giai đoạn thực hiện dự án như: Lập
, thẩm định, trình phê duyệt, tổ chức thực hiện ở giai đoạn nào cũng thấy có những
tồn tại hạn chế như: Sự phối hợp thực hiện giữa các phòng chức năng trong huyện
chưa chặt chẽ, nhiều khi chỉ coi trọng công tác chuyên môn mà chưa có sự quan
tâm, chú trọng đúng mức cho công tác quản lý thực hiện các dự án. Vấn đề này
không chỉ xuất phát từ nguyên nhân chủ quan từ các phòng chức năng mà nó còn do
mô hình quản lý dự án của huyện chưa thật sự phù hợp. Mô hình quản lý dự án do
chủ đầu tư tự thực hiện thường được áp dụng cho các dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật
đơn giản và gần với chuyên môn sâu của chủ đầu tư, đồng thời chủ đầu tư có đủ
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
87
Luận văn thạc sỹ
năng lực chuyên môn và kinh nghiệm để quản lý dự án. Tuy nhiên trong thực tế
triển khai tại huyện, hầu hết các dự án đầu tư tăng năng lực sản xuất đều có quy mô
khá lớn, nhiều hạng mục như: xây lắp, mua sắm trang thiết bị... nguyên nhân mô
hình tổ chức quản lý dự án không thật sự phù hợp vẫn được áp dụng tại huyện trong
thời gian dài là do ban lãnh đạo huyện chưa thật sự chú trọng cho Công tác quản lý
dự án, sử dụng bộ máy hiện có trực tiếp quản lý dự án để tiết kiệm chi phí.
Ban quản lý dự án tại huyện bao gồm các đồng chí trưởng phòng của các
phòng chức năng và một đồng chí Phó chủ tịch huyện phụ trách về dự án làm
trưởng ban. Các đồng chí trong ban quản lý đều là kiêm nhiệm. Ngoài chức năng
quản lý dự án, các đồng chí còn phải giải quyết các vấn đề chuyên môn liên quan
đến quản lý nhà nước ví dụ: Đồng chí phó chủ tịch phụ trách dự án còn phải phụ
trách giải quyết các công việc trên địa bàn huyện do vậy việc tập trung toàn bộ trí
tuệ, sức lực để tổ chức quản lý thực hiện dự án tốt là ngoài khả năng của các đồng
chí trong ban quản lý dự án. Mặt khác tính toàn diện giải quyết được tất cả các vấn
đề trong công tác quản lý dự án của hầu hết các đồng chí trong ban quản lý dự án là
chưa có. Ngoài đồng chí Phó chủ tịch làm trưởng ban có hiểu biết tương đối toàn
diện về dự án thì các đồng chí còn lại chỉ thực hiện được công việc được phân công
phù hợp với chuyên môn mà mình đang phụ trách.
Từ những nguyên nhân vừa nêu có thể đánh giá năng lực tổ chức thực hiện dự án tại
huyện chưa được tốt. Đây là nguyên nhân hàng đầu làm giảm hiệu quả của dự án.
Do vậy trong thời gian tới huyện cần gấp rút có những biện pháp cụ thể cải thiện
năng lực tổ chức, đổi mới mô hình quản lý dự án để có thể triển khai thành công các
dự án đầu tư phát triển sản xuất đạt hiệu quả cao
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Qua phân tích tình hình thực trạng của công tác quản lý đầu tư phát triển từ nguồn
ngân sách nhà nước của huyện Thanh Ba những năm qua, có thể đánh giá một số
nét chính như sau:
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
88
Luận văn thạc sỹ
Từ năm 2005, công tác đầu tư của huyện đã có nhiều chuyển biến, nhiều dự án có tổng mức đầu tư lớn, tạo ra nhiều chuyển biến rõ rệt thúc đẩy sản xuất phát triển. Công tác quản lý dự án đầu tư đã có nhiều cố gắng đưa dần vào nền nếp trên tất cả các khâu quản lý trong điều kiện chế độ chính sách có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, huyện Thanh Ba cần có những biện pháp khắc phục thiếu sót, tồn tại cụ thể đã nêu trên và các tồn tại chính như sau: - Hầu hết các phòng chuyên môn chất lượng tổ chức thực hiện các công tác lập kế hoạch vốn, chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị thực hiện dự án và theo dõi quá trình thực hiện dự án chưa đảm bảo yêu cầu.
- Chất lượng công tác thẩm định thiết kế của các phòng chức năng còn nhiều thiếu sót, nhất là việc xác định tính hợp lý của thiết kế, thời gian thẩm định thiết kế còn kéo dài. Việc phối hợp thực hiện giữa các phòng chức năng còn chưa tốt. - Quá trình tổ chức thực hiện một số dự án còn thiếu sót về tuân thủ đúng quy định của Quy chế quản lý đầu tư và Quy chế đấu thầu nhất là việc tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, lựa chọn nhà thầu xây lắp còn nhiều thiếu sót từ khâu lập Hồ sơ mời thầu đến việc đánh giá Hồ sơ dự thầu và phê duyệt kết quả đấu thầu.
- Công tác quyết toán dự án chưa đảm bảo yêu cầu tiến độ, còn thiếu xót
trong việc chuẩn bị hồ sơ trình duyệt.
Việc bố trí vốn vẫn còn tình trạng dàn trải. Lượng nợ đọng vốn xây dựng cơ
bản từ nguồn vốn ngân sách còn lớn, khối lượng công trình hoàn thành nhưng chưa
có khả năng thanh toán và thiếu khả năng cân đối
Công tác lập và quản lý quy hoạch chưa phù hợp với xu hướng phát triển,
chưa có tầm nhìn xa hơn, rộng hơn, chưa kết hợp với các lĩnh vực.
Công tác lập và thẩm định dự án đầu tư, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán; Công
tác đấu thầu còn nhiều bất cập gây thất thoát, lãng phí và kém hiệu quả;
Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, còn yếu về năng lực
chuyên môn và kinh nghiệm; Năng lực ban quản lý và chủ đầu tư còn hạn chế; chưa
quan tâm đúng mức đến công tác giám sát đánh giá đầu tư …
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
89
Luận văn thạc sỹ
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TỪ
VỐN NGÂN SÁCH CỦA HUYỆN THANH BA
3.1. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN
THANH BA GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
Quán triệt và vận dụng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc và các Chỉ thị,
Nghị quyết của Trung ương vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương. Đại hội Đảng bộ
huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ lần thứ XXIV đã đề ra phương hướng chủ yếu về
lĩnh vực kinh tế xã hội trong 5 năm 2011 – 2015 là:
“Duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng phát
triển, phấn đấu đạt GDP bình quân đầu người đạt mức trung bình khá trong tỉnh.
Khai thác và huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển; đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, tập trung cao cho phát triển công nghiệp và dịch vụ, du lịch và xuất
khẩu; nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực; tiếp tục thực hiện xoá đói giảm nghèo, tạo
thêm nhiều việc làm, giảm các tệ nạn xã hội; giữ vững an ninh chính trị, tăng cường
trật tự xã hội; kết hợp hài hoà đồng bộ giữa ba mặt của sự phát triển, nâng cao
trách nhiệm và năng lực chỉ đạo điều hành, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các
ngành, các cấp trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội”.
Từ phương hướng trên đặt ra một số mục tiêu chủ yếu đến năm 2015 là:
- Tổng sản phẩm trong huyện (GDP) tăng bình quân hàng năm 11,5% trở lên.
Trong đó, giá trị sản xuất ngành công nghiệp xây dựng tăng 21%; giá trị sản xuất
ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 8%; giá trị sản xuất ngành dịch vụ tăng 14%.
- GDP bình quân đầu người đạt gấp 1,9 lần so với năm 2009 đạt 33 đến 34 triệu đồng.
- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 650 đến 750 tỷ đồng.
- Tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2015 còn 2,7%.
- Tỷ lệ lao động được đào tạo đến năm 2015 đạt 65% tổng số lao động.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
90
Luận văn thạc sỹ
3.2. XÁC ĐỊNH CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA HUYỆN
Huy động các nguồn vốn, lao động trong dân cư để xây dựng các công trình
cơ sở hạ tầng như: giao thông - thuỷ lợi. Tranh thủ các nguồn vốn từ bên ngoài như
vốn đầu tư qua các Bộ, ngành Trung ương, từ tỉnh, vốn đầu tư trực tiếp của nước
ngoài, các nguồn ODA, nguồn vốn của tổ chức phi Chính phủ. Vốn tín dụng đầu tư
qua các ngân hàng.
Tạo môi trường thu hút vốn đầu tư tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức,
doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài huyện đầu tư sản xuất kinh doanh.
Thực hiện điều chỉnh cơ cấu đầu tư trên cơ sở điều chỉnh quy hoạch phát
triển kinh tế xã hội theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế,
tạo ra nhiều lợi thế trong hội nhập.
Thực hiện tăng đáng kể mức đầu tư cho nông lâm nghiệp, giao thông thuỷ
lợi, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến gắn với phát triển vùng nguyên liệu tại
địa phương. Sớm hình thành hai ngành kinh tế mũi nhọn là: Sản xuất công nghiệp
và phát triển du lịch - dịch vụ.
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH
3.3.1 Định hướng chung các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý các
dự án đầu tư của huyện
Như tác giả đã trình bày trong chương 2, công tác quản lý dự án của huyện còn
nhiều thiếu xót trong trình tự triển khai các bước của quá trình đầu tư, thiếu xót trong
từng nội dung cụ thể của các bước về mặt thủ tục, thiếu xót trong từng bước của quá
trình thực hiện... điển hình là trong quá trình triển khai thực hiện công tác đấu thầu mua
sắm thiết bị, xây lắp của các dự án trong những năm qua. Nguyên nhân của các vấn đề
còn tồn tại trên đã được xác định gồm các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Thứ nhất là, do công tác đầ tư của huyện được đẩy mạnh trong thời gian ngắn,
trong khi lực lượng cán bộ vừa thiếu, vừa yếu, do vậy đã không đáp ứng được chất lượng
và tiến độ thực hiện đầu tư. Ngoài ra cơ cấu bộ máy làm công tác quản lý dự án đầu tư
của cơ quan huyện chưa được tổ chức tốt cũng là một yếu tố rất quan trọng.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
91
Luận văn thạc sỹ
- Thứ hai là nâng cao chất lượng quy hoạch xây dựng: Quy hoạch xây dựng
bao gồm: quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch chung xây dựng đô thị và nông
thôn, quy hoạch chi tiết các khu chức năng đô thị, nông thôn, quy hoạch xây dựng
chuyên ngành như quy hoạch hệ thống giao thông, quy hoạch hệ thống cấp nước,
cấp điện, thông tin liên lạc các công trình xử lý chất thải đảm bảo vệ sinh môi
trường. Quy hoạch phải đi trước một bước, quy hoạch phải thực hiện được các mục
tiêu đề ra, không chồng chéo, quy hoạch chi tiết phải phù hợp vơi quy hoạch chung.
Mọi lãng phí trong đầu tư xuất phát không thực hiện theo quy hoạch hoạc đầu tư
không có quy hoạch chắp vá, hiệu quả đầu tư thấp.
+ Tăng cường quản lý xây dựng theo quy hoạch đảm bảo các quy hoạch kinh
tế, quy hoạch xây dựng sau khi được phê duyệt phải được chỉ đạo thực hiện thống
nhất, chấm dứt việc giao đất, cấp phép xây dựng không theo quy hoạch.
+ Tất cả các loại đồ án quy hoạch phải do các tổ chức chuyên môn có tư cách
pháp nhân được Nhà nước cho phép hoạt động và quy hoạch phải được cấp có thẩm
quyền phê duyệt. Sau khi quy hoạch được duyệt phải tổ chức công bố công khai
trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông báo tại trụ sở chính quyền để nhân
dân biết và giám sát thực hiện.
+ Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy hoạch, kiên quyết
sử lý các trường hợp xây dựng trái phép không theo quy hoạch được duyệt đặc biệt đối
với các trường hợp giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án không phù hợp với quy
hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch sử dụng đất được UBND huyện phê duyệt.
- Thứ ba là, công tác chuẩn bị đầy đủ các nguồn lực để đáp ứng cho yêu cầu kế
hoạch chưa được thực hiện tốt, đặc biệt là về nguồn vốn và phân bổ vốn để đáp ứng kế
hoạch ngân sách của các dự án kịp thời, vì vậy cần tập trung các nguồn lực, trong đó
định hướng chủ yếu về nguồn vốn để đáp ứng kịp thời cho yêu cầu kế hoạch đầu tư xây
3.3.2. Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác quản lý các dự án
đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách huyện
3.3.2.1 Nâng cao chất lượng quy hoạch xây dựng:
+ Quy hoạch xây dựng bao gồm: quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch
chung xây dựng đô thị và nông thôn, quy hoạch chi tiết các khu chức năng đô thị,
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
92
Luận văn thạc sỹ
nông thôn, quy hoạch xây dựng chuyên ngành như quy hoạch hệ thống giao thông,
quy hoạch hệ thống cấp nước, cấp điện, thông tin liên lạc các công trình xử lý chất
thải đảm bảo vệ sinh môi trường. Quy hoạch phải đi trước một bước, quy hoạch
phải thực hiện được các mục tiêu đề ra, không chồng chéo, quy hoạch chi tiết phải
phù hợp vơi quy hoạch chung. Mọi lãng phí trong đầu tư xuất phát không thực hiện
theo quy hoạch hoạc đầu tư không có quy hoạch chắp vá, hiệu quả đầu tư thấp.
+ Tăng cường quản lý xây dựng theo quy hoạch đảm bảo các quy hoạch kinh
tế, quy hoạch xây dựng sau khi được phê duyệt phải được chỉ đạo thực hiện thống
nhất, chấm dứt việc giao đất, cấp phép xây dựng không theo quy hoạch.
+ Tất cả các loại đồ án quy hoạch phải do các tổ chức chuyên môn có tư cách
pháp nhân được Nhà nước cho phép hoạt động và quy hoạch phải được cấp có thẩm
quyền phê duyệt. Sau khi quy hoạch được duyệt phải tổ chức công bố công khai
trên các phương tiện thông tin đại chúng, thông báo tại trụ sở chính quyền để nhân
dân biết và giám sát thực hiện.
+ Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy hoạch, kiên
quyết sử lý các trường hợp xây dựng trái phép không theo quy hoạch được duyệt
đặc biệt đối với các trường hợp giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án không
phù hợp với quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch sử dụng đất được UBND huyện
phê duyệt.
- Quy định, đề cao trách nhiệm và xử lý trách nhiệm các nhân trong từng
khâu đầu tư, nhất là trách nhiệm của người quyết định dự án quy hoạch, dự án đầu
tư; làm rõ sai phạm, quy rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm minh, triệt để bằng biện
pháp hành chính, hình sự và bồi hoàn thiệt hại vật chất; khắc phục tình trạng chỉ
quy kết trách nhiệm, nhận thiếu sót, yếu kém tập thể, chung chung...; kiên quyết đưa
ra khỏi công quyền những cán bộ công chức phẩm chất kém, thiếu tinh thần trách
nhiệm, gây phiền hà, nhũng nhiễu, năng lực trình độ chuyện môn yếu trong quản lý
đầu tư XDCB.
- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung hoặc xây dựng mới các dự án quy hoạch, kế
hoạc đầu tư. Gắn quy hoạch với mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội,
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
93
Luận văn thạc sỹ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo đảm tính liên ngành, liên vùng. Triển khai phân
cấp, phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng phòng, ban, giữa
huyện với xã; xác định rõ và nâng cao trách nhiệm của chủ tịch UBND huyện, hoặc
phó chủ tịch UBND huyện phụ trách về công nghiệp – XDCB đối với hoạt động
quản lý đầu tư XDCB; của chủ đầu tư. Ngăn chặn và xử lý nghiêm những trường
hợp không chấp hành đúng quy định của pháp luật, quyết định của cơ quan có thẩm
quyền, của cấp trên. Xây dựng lộ trình cụ thể để từng bước xoá bỏ tình tạng khép
kín trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản.
3.3.2.2 Nâng cao chất lượng kế hoạch hóa vốn đầu tư
- Căn cứ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, của UBND tỉnh Phú
Thọ. UBND huyện Thanh Ba chỉ đạo, phối hợp các phòng, ban chức năng trong
huyện triển khai các quy định cụ thể về quy trình, chế tài về thanh tra, kiểm tra,
giám sát nguồn vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước trong từng khâu của quá
trình đầu tư; các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn xây dựng cơ bản; định
mức lập dự toán đầu tư và tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư cho từng dự án và từng
ngành. Thực hiện công khai minh bạch các quy định pháp luật; các dự án công trình
từ chủ trương đầu tư, thẩm định phê duyệt dự án đầu tư, khảo sát, thiết kế, đấu thầu
đến nghiệm thu, thanh quyết toán; công khai kết quả thanh tra, kiểm tra và kết quả
xử lý thanh tra, kiểm tra.
- Chỉ lập, bố trí vốn cho một dự án khi : Dự án đó phải nằm trong quy hoạch
xây dựng được duyệt, đã đảm bảo đủ điều kiện để thi công theo quy định của quy
chế đầu tư XDCB và phải bố trí sát tiến độ mục tiêu thực hiện của dự án, tránh trình
trạng bố trí vốn tách rời mục tiêu hoàn thành công trình tạo ra khối lượng dở dang,
chậm đưa công trình vào sử dụng, vốn đọng chậm phát huy được hiệu quả.
- Thực hiện rà soát các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đầu tư XDCB
để kịp thời bổ sung các văn bản hướng dẫn của cấp trên, sửa đổi, bổ sung hoặc ban
hành mới các văn bản thuộc thẩm quyền, hình thành hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật về đầu tư XDCB đồng bộ hơn, cơ tính pháp lý cao hơn.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
94
Luận văn thạc sỹ
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý đầu tư XDCB
trong thời gian tời, có kế hoạch chỉ đạo thanh tra, kiểm tra kịp thời những công trình
có biểu hiện tiêu cực được nhân dân và công luận phản ánh.
- Giải quyết triệt để nợ đọng vốn đầu tư XDCB, đặc biệt là nợ đọng của các
công trình, dự án có nguồn vốn từ thu tiền sử dụng đất, hàng quý, năm có báo cáo
kịp thời với sở Tài chính và các ban ngành chức năng trong tỉnh.
3.3.2.3 Nâng cao chất lượng công tác tư vấn trong lập báo cáo đầu tư, lập
dự án đầu tư, thẩm định đầu tư
Để nâng cao chất lượng của công tác tư vấn trong lập báo cáo đầu tư, lập dự
án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư cần thực hiện các giải pháp sau:
+ Một là: Đối với các tổ chức đơn vị thực hiện các công tác tư vấn và cơ
quan được phân cấp giao nhiệm vụ thẩm định dự án đầu tư cần phải nâng cao trình
độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp của đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư, kỹ sư
kinh tế làm công tác tư vấn và công tác thẩm định.
+ Hai là: Các đơn vị tư vấn thường xuyên phải tăng cường các trang thiết bị phù
hợp với từng công việc tư vấn, đồng thời khai thác sử dụng có hiệu quả để đảm bảo đủ
điều kiện năng lực đáp ứng yêu cầu đối với công tác tư vấn theo quy định của pháp luật;
thực hiện việc thi tuyển thiết kế kiến trúc theo điều 26 – nghị định số 16/2005/NĐ-CP
ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình .
+ Ba là: Cấp có thẩm quyền sớm thành lập hệ thống thông tin về năng lực
và hoạt động của các tổ chức, cá nhân hành nghề tư vấn xây dựng trong phạm vi cả
nước theo quy định tại điều 4 - NĐ số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 v/v sửa
đổi bổ sung một số điều của NĐ số 16/2005/NĐ-CP để các chủ đầu tư quản lý dự
án được tham khảo đầy đủ thông tin trong việc lựa chọn các nhà thầu tư vấn đáp
ứng được mục tiêu, yêu cầu của dự án.
+ Bốn là: Khi lựa chọn các nhà tư vấn để thực hiện các công việc tư vấn
trong hoạt động đầu tư XDCB, thì các chủ đầu tư phải căn cứ vào điều kiện năng
lực của các đơn vị tư vấn có phù hợp với quy định của Nhà nước để lựa chọn và chủ
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
95
Luận văn thạc sỹ
đầu tư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những thiệt hại do việc lựa chọn các
nhà tư tư vân không đủ điều kiện năng lực phù hợp với công việc.
+ Năm là: Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch đầu tư, việc thẩm định
dự án đầu tư yếu tố hiệu quả kinh tế phải được coi trọng đúng mức. Cơ quan, đơn vị
thẩm định dự án đầu tư khi xem xét các yếu tố nhằm bảo đảm tính khả thi của dự án
nhất thiết cần lấy ý kiến tham gia bằng văn bản của các cơ quan chuyên ngành có
liên quan để xem xét, tham khảo và phải làm rõ mục tiêu và hiệu quả kinh tế của dự
án trước khi tổng hợp trình người có thẩm quyền quyết định phê duyệt dự án đầu tư.
+ Sáu là: Tăng cường công tác thanh tra kiểm tra các hoạt động tư vấn đối
với các tổ chức, cá nhân hành nghề tư vân xây dựng, phát hiện và có biện pháp xử
lý kịp thời hiện tượng vi phạm theo quy định của Luật xây dựng và các văn bản quy
phạm pháp luật có liên quan.
3.3.2.4 Nâng cao về công tác lựa chọn nhà thầu và tổ chức thầu, chỉ định thầu
Lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng được thực hiện đối với các công
việc, nhóm công việc hoặc toàn bộ công việc: Lập quy hoạch chi tiết xây dựng, lập dự
án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, giám sát và các
hoạt động xây dựng khác. Việc lựa chọn nhà thầu là nhằm tìm được nhà thầu chính,
tổng thầu, thầu phụ có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề
phù hợp với loại và cấp công trình. Yêu cầu lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây
dựng phải bảo đảm những yêu cầu sau đây:
- Đáp ứng được hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình;
- Phải chọn được nhà thầu có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng,
năng lực hành nghề phù hợp, có giá hợp lý;
- Phải bảo đảm khách quan, công khai, công bằng, minh bạch;
- Người quyết định đầu tư, chủ đầu tư xây dựng công trình có quyền quyết
định hình thức lựa chọn nhà thầu.
+ Các hình thức lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng:
Tuỳ theo quy mô, tính chất, nguồn vốn xây dựng công trình, người quyết định đầu
tư hoặc chủ đầu tư xây dựng công trình lựa chọn nhà thầu theo các hình thức sau :
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
96
Luận văn thạc sỹ
- Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế.
- Chỉ định thầu.
- Lựa chọn nhà thầu thiết kế kiến trúc công trình xây dựng.
+ Để nâng tăng cường quản lý vốn thông qua công tác lựa chọn nhà thầu cần làm tốt các
công tác sau:
+ Nâng cao nghiệp vụ, tiến tới chuyên môn hoá chuyên nghiệp hoá về việc
lựa chọn nhà thầu cho các đối tượng tham gia, các đối tượng tham gia trong quá
trình lựa chọn nhà thầu bao gồm: Ngừơi có thẩm quyền, chủ đầu tư, tổ chuyên gia
đấu thầu, nhà thầu tham dự, cơ quan tổ chức thẩm định.
+ Thực hiện tốt trình tự thực hiện đấu thầu bao gồm: Chuẩn bị đấu thầu, tổ chức
đấu thầu, làm rõ hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ, làm rõ hồ sơ dự thầu, xét duyệt trúng
thầu, trình duyệt thẩm định kết quả trúng thầu, phê duyệt kết quả đấu thầu, thông báo kết
quả đấu thầu, thương thảo, hoàn thiệnh hợp đồng và ký kết hợp đồng.
+ Cương quyết chống các hình thức khép kín trong đấu thầu.
+ Bảo đảm tính cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu được quy định trong Luật đấu thầu.
+ Thực hiện phân cấp triệt để trong lựa chọn nhà thầu.
+ Xử lý các tình huống trong đấu thầu theo nguyên tắc đảm bảo cạnh tranh
công bằng minh bạch và hiệu quả kinh tế , căn cứ kế hoạch đấu thầu được duyệt,
nội dung của hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu, người có thẩm quyền là người quyết
định xử lý tình huống trong đấu thầu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết
định của mình.
+ Xử lý nghiêm minh theo luật định các tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm các
hành vi bị cấm trong đấu thầu theo Luật đấu thầu (có 17 hành vi bị cấm trong đấu thầu -
Điều 12 –Luật đấu thầu).
+ Giám sát và xử lý triệt để đối với hành vi quyết định chỉ định thầu của
người có thẩm quyền đối với những gói thầu không được phép chỉ định thầu.
+ Giải quyết dứt điểm các kiến nghị trong đấu thầu nếu có.
3.3.2.5 Nâng cao về quản lý thi công xây dựng công trình
+ Thực hiện tốt các công tác tuyên truyền và thực hiện Luật Xây dựng và các
Nghị định của Chính phủ về công tác quản lý đầu tư XDCB đối với các cấp các
ngành, tạo sự thống nhất, nâng cao nhận thức về công tác quản lý chất lượng xây dựng.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
97
Luận văn thạc sỹ
+ Cải tiến nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư xây dựng, đây là vấn
đề hết sức quan trọng quyết định chất lượng xây dựng công trình. Các dự án đầu tư
phải được lấy ý kiến của các ngành có liên quan, bảo đảm sự phù hợp với quy hoạch
phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch xây dựng và quy hoạch ngành.
+ Nâng cao chất lượng công tác thẩm định đồ án thiết kế, thực hiện nghiêm
túc quy định phân cấp thẩm định đồ án thiết kế.
+ Nâng cao chất lượng công tác thi công xây lắp để đảm bảo đúng quy trình
quy phạm xây dựng.
+ Nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư. Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm chính
trong việc quản lý chất lượng công trình xây dựng. Vì vậy chủ đầu tư phải có trách
nhiệm và năng lực điều hành, phải có quan điểm trong việc chon nhà thầu tư vấn thiết
kế, nhà thầu thi công xây lắp, nhà thầu giám sát, khắc phục tình trạng năng lực nhà thầu
kém, đầu thầu hình thức, bỏ thầu thấp để được xây dựng công trình khi có sự cố công
trình không đảm bảo chất lượng thì chủ đầu tư đứng ngoài cuộc, đổ lỗi cho tư vấn thiết
kế, giám sát và thi công xây lắp, chấm dứt tình trạng tiêu cực như chạy trọt, mua thầu,
bán thầu, gian dối trong việc chứng nhận khối lượng và chất lượng công trình.
3.3.2.6 Nâng cao về công tác nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử dụng
Công trình sau khi xây dựng hoàn thành, phải được nghiệm thu - bàn giao đưa
vào sử dụng. Việc nghiệm thu công trình xây dựng phải tuân thủ các quy định về quản lý
chất lượng xây dựng công trình. Nghiệm thu công trình xây dựng bao gồm nghiệm thu
từng công việc, từng bộ phận, từng giai đoạn, từng hạng mục công trình, nghiệm thu đưa
công trình vào sử dụng. Riêng các bộ phận bị che khuất, khép kín của công trình phải
được nghiệm thu và vẽ bản vẽ hoàn công trước khi tiến hành các công việc tiếp theo.Chỉ
được nghiệm thu khi đối tượng nghiệm thu đã hoàn thành và có đủ hồ sơ theo quy định.
Công trình chỉ được nghiệm thu đưa vào sử dụng khi bảo đảm đúng yêu cầu thiết kế, bảo
đảm chất lượng và đạt các tiêu chuẩn theo quy định. Việc bàn giao công trình phải bảo
đảm các yêu cầu về nguyên tắc, nội dung và trình tự bàn giao công trình đã xây dựng
xong đưa vào sử dụng theo quy định của pháp luật về xây dựng, đảm bảo an toàn trong
vận hành, khai thác khi đưa công trình vào sử dụng.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
98
Luận văn thạc sỹ
3.3.2.7 Nâng cao chất lượng công tác quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành
Để nâng cao chất lượng quyết toán vốn đầu tư XDCB hoàn thành trước tiên phải
thực hiện sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa cơ quan cấp phát, thanh toán vốn và đơn vị
Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án trong việc kiểm tra, đối chiếu, xác nhận số liệu vốn đầu tư
đã cấp phát, thanh toán cho công trình, hạng mục công trình, dự án hoàn thành. Bên cạnh
đó nâng cao trách nhiệm của các đơn vị nhận thầu trong việc cùng Chủ đầu tư tiến hành
xử lý dứt điểm các vấn đề còn tồn tại theo hợp đồng đã ký kết trước khi hoàn thiện hồ sơ
thanh toán, quyết toán dự án hoàn thành.
Theo chế độ quy định thì công trình dự án hoàn thành đưa vào khai thác sử
dụng, chậm nhất là 9 tháng đối với dự án nhóm B; 6 tháng đối với dự án nhóm C
chủ đầu tư phải quyết toán công trình hoàn thành để bàn giao tài sản cho đơn vị sử
dụng. Đây là khâu cuối cùng rất quan trọng của quá trình đầu tư vốn. Nó quyết định
giá trị của công trình đối với người sử dụng. Do đặc điểm của hoạt động đầu tư phát
triển là thời gian dài nhiều yếu tố liên quan đến giá thành sản phẩm lại biến động,
việc quản lý, theo dõi phức tạp, nhất là trong điều kiện chúng ta xác định kinh tế
quốc doanh là chủ đạo, các sản phẩm đầu tư xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước là
chính … nên việc xác định đúng giá trị đích thực của sản phẩm đầu tư xây dựng
trong cơ chế quản lý hiện hành là việc rất khó khăn.
Vì vậy tình trạng chủ đầu tư và nhà thầu đề nghị quyết toán cao hơn giá trị đích
thực, công trình xây dựng hoàn thành chưa được quyết toán, quyết toán chậm đang là phổ
biến. Nhất là các dự án thuộc ngân sách huyện, xã. Như trong phần đánh giá đã đề cập, vấn
đề là Nhà nước phải bổ sung quy định sao cho mọi chủ đầu tư, cấp trên chủ đầu tư buộc
phải quan tâm đến việc quyết toán. Khắc phục tư tưởng thấy công trình khánh thành là
xong công việc. Để từng bước khắc phục tình trạng này, theo tôi cấp có thẩm quyền cần
chỉ đạo các ngành, nắm chính xác số lượng dự án đầu tư hoàn thành bằng vốn Nhà nước
đến nay chưa được duyệt quyết toán theo quy định, để có giải pháp xử lý. Đối với dự án
mới hoàn thành cần hướng dẫn chủ đầu tư và nhà thầu lập báo cáo quyết toán theo chế độ
trong thời gian quy định. Tuỳ theo quy mô và tính chất phức tạp của từng dự án cơ quan
cấp phát hoặc cho vay vốn trực tiếp thẩm tra báo cáo quyết toán hoặc trình cấp có thẩm
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
99
Luận văn thạc sỹ
quyền thành lập tổ tư vấn thẩm tra quyết toán. Dù có tổ tư vấn hay không có tổ tư vấn trách
nhiệm chính vẫn do cơ quan chủ trì thuộc ngành tài chính, ngân hàng, vẫn do cá nhân từng
cán bộ thẩm tra quyết toán. Vì vậy các cán bộ làm công tác này phải có năng lực để phát
hiện ra những sai trái, thủ thuật của chủ đầu tư và nhà thầu trong công tác quyết toán như
khối lượng khống, áp định mức, đơn giá cao hơn quy định phải đảm bảo thời gian thẩm tra
theo chế độ và phải công tâm không được tiêu cực thông qua việc hợp thức hoá cho nhà
thầu. Trong thẩm tra quyết toán đối với công trình đấu thầu hết sức chú ý đến chất lượng,
chủng loại vật liệu và biên bản nghiệm thu chất lượng công trình, bản vẽ hoàn công, khối
lượng phát sinh ngoài thầu. Đối với công trình chỉ định thầu hết sức chú ý đơn giá và khối
lượng. Thực hiện nghiêm túc việc giữ lại 5% giá trị chờ quyết toán. Đề nghị:
- Tất cả các công trình kết thúc đầu tư phải thanh, quyết toán theo đúng thời
gian quy định. Các công trình thanh, quyết toán chậm so với qui định, cơ quan thẩm
định quyết toán có quyền đề nghị UBND huyện phạt chủ đầu tư 10%30% giá trị
chi phí Ban quản lý dự án. Không thẩm định các quyết toán chưa đủ thủ tục theo
quy định. Các cơ quan cấp phát và thẩm định quyết toán phải chịu trách nhiệm về
việc cấp phát, thẩm định quyết toán sai khi các cơ quan kiểm tra phát hiện ra.
- Tiến hành lập và thông báo giá vật liệu theo tháng. Giá được lập theo đúng
quy trình, phải phù hợp với thị trường và phải tạo điều kiện khuyến khích cạnh tranh
giữa các nhà cung cấp vật liệu. Giao phòng Tài chính và phòng kinh tế & hạ tầng lập
và trình UBND huyện Quyết định ban hành bảng hệ số điều chỉnh giá vật liệu đến chân
công trình với mật độ điểm tính toán dầy hơn (có thể tới cụm xã, phường). Không
duyệt đơn giá vật liệu riêng cho từng công trình nếu vật liệu đó (hoặc vật liệu có tính
chất tương tự) đã có thông báo chung.
3.3.2.8 Tăng cường công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ làm công tác quản lý đầu
tư, quản lý tài chính đầu tư
Con người luôn là nhân tố có ý nghĩa quyết định mọi sự thành công nói
chung và tác động to lớn đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ
NSNN qua các thời kỳ. Do vậy việc không ngừng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ
làm công tác quản lý đầu tư XDCB và quản lý tài chính đầu tư là yêu cầu khách
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
100
Luận văn thạc sỹ
quan, là việc làm thường xuyên liên tục. Để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ và năng lực quản lý về công tác ĐTXD và công tác quản lý tài chính đầu tư
trong thời gian tới đáp ứng được yêu cầu quản lý trong giai đoạn hiện nay cần tập
trung vào các giải pháp cụ thể sau:
+ Có kế hoạch cụ thể, chi tiết cho chiến lược đào tạo và đào tạo lại đội ngũ
cán bộ làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng như đối với chương trình
đào tạo phân theo từng lĩnh vực chuyên môn khác nhau để thực hiện đào tạo chuyên
môn sâu lĩnh vực đang công tác.
+ Đối với công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm nhiệm vụ quản lý dự án đầu tư
XDCB và quản lý tài chính đầu tư cần được quan tâm thường xuyên để phổ cập, cập nhật
kiến thức kịp thời về quản lí đầu tư XDCB, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay.
Đặc biệt chú trọng đến công tác quản lý tập huấn nghiệp vụ chuyên môn liên quan
đến quản lý đầu tư XDCB và quản lý tài chính đầu tư ở cấp cơ sở, việc phân cấp quản lý đầu
tư xây dựng phải phù hợp với năng lực quản lý ở cơ sở. Có như vậy mới từng bước đáp ứng
được yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng và tài chính đầu tư trong tình hình mới.
3.3.2.9 Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, thanh tra sử dụng vốn đầu tư
trong XDCB
Hoạt động thanh tra công tác đầu tư XDCB là một trong những chức năng
quan trọng của Nhà nước đã được Chính phủ qui định trong các Nghị định của
Chính phủ và thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành liên quan. Việc tăng cường
công tác kiểm tra, thanh tra tài chính đối với các tổ chức, các chủ đầu tư tham gia
vào quản lý vốn đầu tư XDCB là rất cần thiết, yêu cầu các chủ đầu tư thực hiện đầy
đủ các qui định của nhà nước về quản lý đầu tư và XDCB.
3.3.2.10 Thực hiện tốt công tác giám sát cộng đồng và công khai tài chính trong
đầu tư XDCB
Để phát huy quyền làm chủ của cán bộ công chức Nhà nước, tập thể người
lao động và cộng đồng nhân dân trong việc thực hiện quyền kiểm tra giám sát quá
trình quản lý và sử dụng vốn, tài sản Nhà nước, huy động, quản lý và sử dụng các
khoản đóng góp của dân theo quy định của pháp luật; phát hiện và ngăn chặn kịp
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
101
Luận văn thạc sỹ
thời các hành vi, vi phạm chế độ về quản lý tài chính bảo đảm sử dụng có hiệu quả
Ngân sách nhà nước, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đòi hỏi phải thực hiện tốt
công tác giám sát đầu tư cộng đồng và công khai tài chính.
Giám sát đầu tư của cộng đồng là hoạt động tự nguyện của dân cư sinh sống
trên địa bàn nhằm theo dõi đánh giá việc chấp hành các các quy định về quản lý đầu
tư của Cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, Chủ đầu tư, Ban quản lý dư án,
các nhà thầu và đơn vị thi công dự án trong quá trình đầu tư, phát hiện, kiến nghị
với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các việc làm vi phạm các quy định về quản
lý đầu tư để kịp thời ngăn chặn và xử lý các việc làm sai quy định, gây lãng phí, thất thoát
vốn và tài sản nhà nước, xâm hại lợi ích của cộng đồng.
Bên cạnh việc giám sát của Chủ đầu tư, hoặc các tổ chức tư vấn... thì công tác
giám sát của nhân dân, của cộng đồng có vai trò quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn đâù tư xây dựng cơ bản. Việc dựa vào nhân dân và tổ chức quần chúng,
lắng nghe và phân tích dư luận xã hội có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao chất lượng
công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư XDCB.
Tóm lại: nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, thanh tra, quyết toán và thực
hiện tốt công tác giám sát đầu tư cộng đồng và công khai vốn đầu tư XDCB đó là
một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư XDCB
từ Ngân sách nhà nước.
3.3.2.11 Chống thất thoát vốn Nhà nước trong đầu tư và xây dựng
Lãng phí, thất thoát, tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động kinh tế xã hội nói
chung và lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng là vấn đề được xã hội rất quan tâm.
Đó là vấn đề phức tạp liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành. Đòi hỏi phải được nghiên
cứu kỹ lưỡng, khách quan, thận trọng để tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục.
Xuất phát từ đặc điểm của đầu tư phát triển ngành xây dựng và sản phẩm xây
dựng là tiến hành thời gian dài: phạm vi rộng lớn, tính chất chi phí phức tạp, trừu tượng,
nhiều loại ẩn khuất khó xác định; giá cả lại biến động nên việc xác định chất lượng và giá
trị đích thực của sản phẩm xây dựng rất khó khăn. Mặt khác chủ sở hữu các nguồn vốn
đầu tư và tài sản mới hình thành là Nhà nước. Các chủ đầu tư là người chủ sử dụng công
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
102
Luận văn thạc sỹ
trình nhưng không phải là người chủ thực sự của đồng vốn nên thường họ thiếu ý thức
tiết kiệm trong chi tiêu, thậm chí còn tìm cách xin được càng nhiều vốn của Nhà nước
càng tốt. Từ đó tạo ra những kẽ hở gây thất thoát, lãng phí, tiêu cực, tham nhũng vốn đầu
tư của Nhà nước dưới nhiều hình thức tinh vi khác nhau.
Thực tế cho thấy thất thoát vốn đầu tư của Nhà nước thường do 2 nguyên nhân:
- Về nguyên nhân trực tiếp: Thất thoát do chủ đầu tư và nhà thầu cố tình vi phạm
các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng như thi công ăn bớt khối lượng và chất
lượng theo thiết kế được duyệt; trong thanh toán khai tăng chi phí và giá cả … Tuy nhiên
trên tổng thể thì thất thoát từ nguyên nhân trực tiếp không phải là chủ yếu. Vì các đối
tượng sợ bị xử lý pháp luật khi sự cố xảy ra.
- Về nguyên nhân gián tiếp: do sơ hở bởi chính sách chế độ quản lý đầu tư và
xây dựng chưa chặt chẽ. Như việc xác định chủ trương đầu tư, công tác kế hoạch
hoá vốn đầu tư, thanh quyết toán … Làm cho vốn thất thoát không xác định được rõ
đối tượng và mức độ vi phạm nên thất thoát do nguyên nhân này là chủ yếu.
Để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng thất thoát, lãng phí, tham nhũng trong lĩnh
vực đầu tư và xây dựng cần coi trọng các biện pháp phòng ngừa, cần khẩn trương
bổ sung hoàn chỉnh về cơ chế, chính sách quản lý đầu tư và xây dựng cho chặt chẽ
gắn trách nhiệm cá nhân từng khâu công việc hạn chế sơ hở, cần tăng cường công
tác kiểm tra, giám sát:
Đây là một việc lớn, phức tạp, bao gồm nhiều công việc nhiều nội dung song
trước mắt cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:
a. Về quyết định đầu tư phải bảo đảm quyết định trúng, kịp thời, hiệu quả.
Đây là khâu quan trọng có ý nghĩa tiên quyết. Nếu việc quyết định đầu tư sai lầm sẽ
dẫn tới lãng phí rất lớn. Vì sản phẩm xây dựng cơ bản không dẽ dàng chuyển mục
đích sử dụng.
- Việc quyết định các thủ tục xây dựng cơ bản như phê duyệt thiết kế kỹ
thuật, tổng dự toán, dự toán chi tiết, cấp có thẩm quyền cần tổ chức thẩm định
nghiêm túc, chặt chẽ. Trên cơ sở thiết kế đầu tư đảm bảo hệ số an toàn, công năng
sử dụng của công trình, biện pháp thi công hợp lý, phẩm chất vật liệu phù hợp, định
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
103
Luận văn thạc sỹ
mức, đơn giá áp đúng, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc điều chỉnh bổ sung, một
biện pháp tích cực ngăn chặn sơ hở tiêu cực thất thoát.
Thực tế cho thấy chỉ riêng việc quyết định biện pháp thi công không phù hợp
đã gây thất thoát rất lớn. Đặc biệt là lĩnh vực cầu đường, nhiều khi chi phí cho việc áp
dụng biện pháp thi công chiếm tỷ trọng khá lớn trong giá trị sản phẩm xây dựng.
Nhiều khi chênh lệch trong việc áp dụng giữa các biện pháp thi công thủ công và cơ
giới rất cao. Đây là 1 trong những sơ hở mà nhà thầu có thể móc ngoặc với tổ chức tư
vấn. Đề nghị cấp có thẩm quyền không cho phép chủ đầu tư vừa thiết kế vừa thi công
trừ trường hợp đặc biệt do thiên tai.
b. Về công tác kế hoạch hoá
Sau chủ trương đầu tư, khâu kế hoạch cũng góp phần không nhỏ làm lãng
phí thất thoát vốn đầu tư từ thực trạng công tác kế hoạch hoá vốn đầu tư nêu ở phần
trên để tạo ra sự ách tắc, cửa quyền, phiền hà và hiện tượng “chạy vốn” trong quá
trình bố trí kế hoạch. Đây là những điều kiện cho tiêu cực phát sinh. Để ngăn chặn
các hiện tượng trên cơ chế kế hoạch cần sớm hoàn thiện theo hướng phải coi trọng
việc xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.
Dành vốn thoả đáng cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư và coi nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư
phải đi trước một bước làm cơ sở cho kế hoạch đầu tư hàng năm. Chỉ bố trí kế
hoạch đầu tư theo những dự án đã đảm bảo nguồn vốn và theo hướng tập trung dứt
điểm như phần giải pháp đổi mới công tác kế hoạch hoá đầu tư.
c. Tăng cường quyền hạn trách nhiệm chủ đầu tư
Theo quy định của điều lệ, chủ đầu tư là người trực tiếp quản lý sử dụng vốn
đầu tư, quản lý sử dụng tài sản sau đầu tư nên chủ đầu tư phải có trách nhiệm từ khâu
lập dự án đến quá trình khai thác sử dụng. Để tăng cường quyền hạn và trách nhiệm
chủ đầu tư, ngăn ngừa thất thoát lãng phí cần chấn chỉnh khâu này theo hướng sau:
- Chuyển nhiệm vụ chủ đầu tư từ một số Sở chuyên ngành như Sở Giáo dục,
Sở Y tế về cơ quan trực tiếp sử dụng công trình là trường học, bệnh viện … nhằm
gắn trách nhiệm trong quá trình đầu tư và sử dụng.
- Xác định rõ trách nhiệm cá nhân của chủ đầu tư đối với hoạt động đầu tư.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
104
Luận văn thạc sỹ
Quản lý chặt chẽ chủ đầu tư trong việc thành lập Ban quản lý dự án, trong việc lựa
chọn nhà thầu, trong đấu thầu và chỉ định thầu, phân chia gói thầu, việc thay đổi thiết
kế và các phát sinh sau đấu thầu, phương thức thanh toán và thời gian thanh toán, việc
quản lý giá cả và thời gian xây dựng. Ban hành cơ chế kiểm tra và ràng buộc chủ đầu
tư nhằm hạn chế sự chi phối các hoạt động đấu thầu và thanh quyết toán công trình.
Đây là khâu quan trọng để hạn chế thất thoát, tham nhũng.
Tăng cường công tác tập huấn, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho các cơ
quan, các cán bộ quản lý đầu tư, các chủ đầu tư, các nhà thầu.
UBND huyện sẽ tiến hành thành lập Ban quản lý dự án chung các dự án có
qui mô lớn hoặc các dự án chủ đầu tư không đủ năng lực quản lý.
Đối với các cơ quan không có chuyên môn quản lý đầu tư và xây dựng sẽ áp
dụng hình thức chủ nhiệm điều hành dự án. Đối với các chủ đầu tư là cơ quan của tỉnh,
Ban quản lý dự án của tỉnh trực tiếp điều hành dự án hoặc chủ đầu tư có thể thuê các đơn
vị tư vấn có đủ khả năng để điều hành dự án. Đối với các chủ đầu tư là các cơ quan của
huyện, thị, chủ đầu tư có thể sử dụng Ban quản lý dự án của huyện, thành phố hoặc thuê
các tổ chức tư vấn để điều hành dự án.
d. Áp dụng triệt để hình thức đấu thầu, khoán gọn
Như phần đánh giá và giải pháp về công tác đấu thầu đã trình bày để công
tác đấu thầu được áp dụng rộng rãi trước hết cần chấn chỉnh và hoàn thiện cơ chế kế
hoạch theo hướng đã nêu ở phần trên. Đồng thời cải tiến thủ tục sao cho gọn nhẹ,
đơn giản, dễ làm phù hợp với trình độ tổ chức thực hiện của chủ đầu tư và các nhà
thầu. Đồng thời quy định rõ trách nhiệm quyền hạn cụ thể về kinh tế và pháp luật
với chủ đầu tư. Phải thực hiện đúng trình tự quy định, làm tốt công tác chuẩn bị đấu
thầu hết sức chú ý hồ sơ mời thầu; Xác định đúng “giá xét thầu” để làm cơ sở cho
việc đánh giá, xét chọn.
Mặt khác, nên làm thử và mở rộng hình thức khoán gọn như đã trình bày.
Trường hợp cần thiết phải áp dụng hình thức giao thầu cần hoàn thành đầy đủ thiết
kế kỹ thuật, dự toán trước khi cấp có thẩm quyền quyết định.
e. Cải tiến thủ tục cấp phát, cho vay vốn, chấn chỉnh và tăng cường kỷ luật
quyết toán vốn đầu tư
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
105
Luận văn thạc sỹ
Lâu nay việc thanh toán vốn bao gồm cả cấp phát và cho vay, việc quyết toán
công trình thường chậm. Gây ách tắc về tài chính cho đơn vị thi công, chậm tiến độ
xây dựng và tạo ra sơ hở trong công tác quản lý vốn. Để khắc phục những tồn tại
trên cần quy định rõ trách nhiệm của từng khâu, từng cấp và từng người có liên
quan một cách cụ thể gắn với chế độ thưởng phạt nghiêm minh.
f . Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng
Tăng cường công tác quản lý chất lượng theo đúng Nghị định số:
15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình
xây dựng;
Các cơ quan quản lý đầu tư và xây dựng, các chủ đầu tư, các nhà thầu phải
chịu trách nhiệm kiểm tra, theo dõi thường xuyên chất lượng của sản phẩm từ tư vấn
đến thi công xây lắp và cung cấp thiết bị. Công trình có chất lượng kém, trách nhiệm
trước tiên thuộc về chủ đầu tư.
Phòng kinh tế & hạ tầng tăng cường công tác kiểm tra chất lượng các công trình
xây dựng do huyện quản lý. Phát hiện, báo cáo UBND huyện những sai phạm về chất
lượng, để xử lý kịp thời.
3.4. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất,
kinh tế cho xã hội, là nhân tố quyết định, làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân ở mỗi địa
phương, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Qua nghiên cứu, em xin đưa ra
một số kiến nghị sau:
3.4.1. Kiến nghị với Nhà nước.
* Về cơ chế chính sách cần có tính ổn định, thống nhất: hiện nay cơ chế chính
sách trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng không có tính ổn định lâu dài, thường
xuyên thay đổi gây ra nhiều khó khăn và bất cập cho những người làm công tác quản lý
tài chính trong lĩnh vực này.
* Đối với công tác giám định đầu tư: đề nghị cần xem xét lại công tác giám
định đầu tư như hiện nay là chưa thực sự mang tính khách quan. Vì theo giám định
thì ai là người ra quyết định đầu tư thì người đó quyết định tổ chức giám định đầu
tư, trong khi đó nội dung của giám định đầu tư bao gồm cả việc ra quyết định đầu
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
106
Luận văn thạc sỹ
tư, giám định chủ đầu tư, đánh giá lại các quyết định đầu tư khi kết thúc quá trình
đầu tư ...
* Đề nghị Nhà nước cần có biện pháp giúp các nhà thầu trong việc thanh
quyết toán chậm: có nhiều nguyên nhân gây chậm trễ trong việc thanh quyết toán
cho các nhà thầu như : bố trí vốn không theo tiến độ, kế hoạch vốn chậm... Hiện nay
theo quy định của Chính phủ thì chủ đầu tư phải trả lãi vay cho nhà thầu (nếu chậm
trả thanh toán cho các khối lượng đã hoàn thành); thực tế thì gần như không thực
hiện được vì: chủ đầu tư thường là các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp (không
phải là doanh nghiệp) nên không có kinh phí để chi trả cho nội dung này.
3.4.2. Kiến nghị với UBND tỉnh và các ngành chức năng của tỉnh.
* Đề nghị UBND tỉnh thay thế hoặc sửa đổi một số quyết định hoặc qui định
của UBND tỉnh về qui định thống nhất, cụ thể các khoản thu, chi khối trường học.
* Đề nghị UBND tỉnh ủy quyền cho UBND huyện quyết định mức giá sàn
hay giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất làm nhà ở trên cơ sở không thấp
hơn mức giá do UBND tỉnh qui định cho giá đất ở.
3.4.3. Kiến nghị với UBND huyện và các ngành chức năng của huyện.
Đề nghị UBND huyện chỉ đạo các ngành chức năng thuộc huyện, hàng năm tổ
chức bồi dưỡng cập nhật kiến thức về quản lý đầu tư XDCB cho đội ngũ công chức từ
huyện đến cơ sở, nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước trên từng lĩnh
vực liên quan đến quản lý đầu tư, nhất là đối với đội ngũ các bộ xã, thị trấn.
KẾT LUẬN
Đầu tư xây dựng cơ bản là một hoạt động đầu tư vô cùng quan trọng tạo ra
hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, là tiền đề cơ bản
để thực hiện CNH – HĐH đất nước. Quản lý đầu tư XDCB là một hoạt động quản
lý kinh tế đặc thù, rất phức tạp và luôn luôn biến động nhất là trong điều kiện môi
trường pháp lý, các cơ chế chính sách quản lý kinh tế còn chưa hoàn chỉnh thiếu
đồng bộ và luôn thay đổi như ở nước ta hiện nay.
Vấn đề tăng cường quản lý vốn đầu tư là một phạm trù tất yếu khách quan vì
bất cứ ở đâu vào lúc nào nhu cầu đầu tư luôn luôn lớn hơn khả năng đầu tư.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
107
Luận văn thạc sỹ
Việc tăng cường quản lý vốn đầu tư sẽ góp phần đáp ứng đầu tư kịp thời hơn
yêu cầu vốn đầu tư XDCB cho sự nghiệp phát triển KT – XH của huyện Thanh Ba,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, văn hóa, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật
chất tinh thần cho người dân trong huyện.
Với đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản
lý đâu tư phát triển từ nguồn ngân sách của huyện Thanh Ba”, đề tài đã tập trung
vào đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước tại huyện
Thanh Ba thời kì 2005 - 2009, tìm ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn
chế đó. Đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư xây
dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. Hy vọng ngững giải pháp chủ yếu
nêu trên sẽ góp phần nhỏ vào công tác quản lý đầu tư xây dựng tại địa phương để
nâng cao hiệu quả trong quá trình thực hiện đầu tư XDCB những năm tới.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
108
Luận văn thạc sỹ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển hiện nay là một vấn đề bức xúc và liên
quan đến nhiều cấp, nhiều ngành. Việc nghiên cứu, tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư phát triển, nhằm khắc phục những hạn chế trong hoạt động
đầu tư và xây dựng ở huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ khi nền kinh tế chuyển đổi theo
cơ chế thị trường và hội nhập là việc làm có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực
tiễn. Trong luận án này tôi tập trung hoàn thành một số công việc sau:
1. Đã hệ thống hoá những lý luận cơ bản liên quan đến đầu tư, dự án đầu tư,
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, và công tác quản lý vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước.
2. Đã mô tả, phân tích, đánh giá thực trạng công tác đầu tư, hiệu quả sử dụng
vốn đầu tư và công tác quản lý vốn đầu tư tại huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ một
cách trung thực, khách quan. Rút ra những kết quả đạt được, những tồn tại thiếu sót
cần khắc phục. Đây là những vấn đề quan trọng làm cơ sở cho việc đề ra các giải
pháp, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển.
3. Đề xuất phương hướng, chiến lược đầu tư phát triển, về một số giải pháp
chủ yếu có tính thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển nói
chung và trên địa bàn huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ nói riêng, nhằm đáp ứng yêu
cầu và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.
Trước mắt cần tập trung điều chỉnh cơ cấu đầu tư, đổi mới công tác kế hoạch
hoá, hết sức quan tâm đến việc lập và thẩm định dự toán đầu tư, đổi mới công tác
cán bộ quản lý dự án, thực hiện nghiêm túc Luật đấu thầu, đẩy nhanh tốc độ giải
ngân, làm tốt công tác quyết toán, thực hiện tích cực và hiệu quả việc chống thất
thoát lãng phí trong đầu tư - xây dựng, hoàn chỉnh cơ chế chính sách quản lý và
nâng cao trình độ cán bộ quản lý vốn đầu tư. Trong các giải pháp trên thì giải pháp
lập và thẩm định dự án đầu tư giữ vai trò quyết định.
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
109
Luận văn thạc sỹ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. PGS.PTS Nguyễn Ngọc Mai (1998), Giáo trình Kinh tế đầu tư, Đại học Kinh tế
Quốc dân Hà Nội
2. PGS.PTS Nguyễn Ngọc Mai (1995), Phân tích và quản lý dự án đầu tư, NXB
Khoa học kỹ thuật
3. Nguyễn Trung Dũng (1993), Tính toán và đánh giá dự án đầu tư trong nền kinh
tế thị trường, NXB Khoa học kỹ thuật
4. TS. Nguyễn Ái Đoàn (2004), Kinh tế học vĩ mô, NXB Chính trị Quốc gia
5. Trần Thu Hà (2005), Bài giảng môn quản lý dự án, Đại học Bách khoa HN.
6. Chính phủ, Nghị định số 16/2005/NĐ-CP, Nghị định số 112/2006/NĐ-CP và
Nghị định số 12/2009/NĐ-CP Hướng dẫn và quản lý dự án đầu tư xây dựng
công trình
7. Chính phủ, Nghị định số 99/2007/NĐ-CP và Nghị định số 112/2009/NĐ-CP
Hướng dẫn chi phí đầu tư xây dựng công trình
8. Chính phủ, Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 về quản lý chất lượng
công trình xây dựng
9. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, Luật Xây dựng số
16/2003/QH11
10. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, Luật Đầu tư số
59/2005/QH11 ngày 22/9/2005, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các luật
liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12
11. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, Luật Đấu thầu số
61//2005/QH11 ngày 29/11/2005
12. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm bồi dưỡng cán bộ kinh tế – kế hoạch (2004),
Bài giảng nghiệp vụ kế hoạch và đầu tư
13.Huyện uỷ Thanh Ba (2010), Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Thanh Ba , tỉnh
Phú Thọ lần thứ XXIV
Học viên: Trần Quang Sâm
Viện Kinh tế và quản lý
Trường: ĐHBK Hà Nội
110
Luận văn thạc sỹ
14. Phòng Tài chính – kế hoạch huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ, Quy hoạch phát
triển KT - XH huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ đến năm 2015
15. Phòng Tài chính – kế hoạch huyện Thanh Ba , tỉnh Phú Thọ(2010), Báo cáo về
Tình hình và những giải pháp chấn chỉnh quản lý đầu tư và xây dựng bằng
nguồn vốn nhà nước trong thời gian tới
16. Chi cục Thống kê huyện Thanh Ba , Niên giám thống kê Thanh Ba (các năm)

