BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRUYỆN KỂ ANDERSEN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRUYỆN KỂ ANDERSEN
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài MS : 60 22 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học
TS Nguyễn Thị Anh Thảo
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thị Anh Thảo người
thầy kính mến đã hết lòng hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành
luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô trong Khoa Văn học nước ngoài –
Trường Đại học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh cùng các bạn trong lớp Cao học VHNN
K.19 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt khóa học vừa qua.
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã cho
tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này.
Những lời cảm ơn sau cùng, tôi trân trọng gửi đến gia đình – những người
luôn hết lòng yêu thương, quan tâm và nâng đỡ tôi trong cuộc sống.
Lê Thị Phương Thảo
TP.Hồ Chí Minh – năm 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì luận văn nào khác.
Lê Thị Phương Thảo
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1 CHƯƠNG 1: ANDERSEN – NGƯỜI KỂ CHUYỆN THIÊN TÀI ............... 12 1.1. Thể loại truyện cổ tích của nhà văn ....................................................... 12 1.1.1. Khái niệm ........................................................................................... 12 1.1.2. Đặc trưng thể loại .............................................................................. 13 1.1.2.1. Đặc trưng của truyện cổ tích dân gian ....................................... 13 1.1.2.2. Đặc trưng truyện cổ tích của nhà văn ......................................... 15 1.1.3. Một số tác giả tiêu biểu ..................................................................... 16 1.1.3.1. Charles Perrault .......................................................................... 16 1.1.3.2. Anh em nhà Grimm ..................................................................... 18 1.1.3.3. Một số tác giả Việt Nam .............................................................. 21 1.2.Tác giả Andersen ...................................................................................... 23
1.2.1. Hình thái nghệ thuật truyện kể và vai trò vị trí riêng của Andersen23 1.2.2.Yếu tố tự nhiên xã hội ảnh hưởng tài năng của Andersen .............. 28
CHƯƠNG 2 : TỪ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI ĐẾN THẾ GIỚI NHÂN VẬT CỦA ANDERSEN .............................................................. 31 2.1.Quan niệm nghệ thuật về con người ....................................................... 31 2.2. Quan niệm nghệ thuật về con người của Andersen ............................. 33 2.2.1.Con người – Chủ thể sinh động của cuộc sống và sáng tạo ............ 33 2.2.2. Con người – Khát vọng cao đẹp về Chân, Thiện, Mĩ ...................... 36 2.3. Thế giới nhân vật của Andersen ............................................................ 39 2.3.1. Những nhân vật quen thuộc, gắn bó với cuộc sống con người ...... 40 2.3.2. Bức tranh thiên nhiên vừa gần gũi, thân thiết vừa bao la kì vĩ ...... 42 2.3.3. Hình tượng con người trong thế giới đa dạng, muôn màu ............ 43 2.4. Sức hấp dẫn của truyện kể Andersen thông qua thế giới nhân vật ... 44 2.4.1. Nhân vật truyện kể Andersen - Một thế giới cổ tích thần kì dành cho thiếu nhi ....................................................................................................... 44 2.4.2. Nhân vật truyện kể Andersen - Một thế giới hiện thực, đời thường của nhân loại ...................................................................................................... 48 CHƯƠNG 3 : NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRUYỆN KỂ ANDERSEN ................................................................................................. 53 3.1. Thi pháp nhân vật cổ tích ....................................................................... 53 3.1.1. Nhân vật hành động theo mạch cốt truyện ...................................... 53 3.1.2. Nhân vật có hành vi mang tính chức năng ...................................... 54 3.1.3. Nhân vật giữ vai trò một chức năng nghệ thuật .............................. 55 3.2. Nét đặc sắc trong thi pháp xây dựng nhân vật của Andersen ............ 55 3.2.1. Sự kế thừa từ truyện cổ tích .............................................................. 55 3.2.2. Sự sáng tạo của Andesen .................................................................. 59 3.2.2.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật ..................................... 59 3.2.2.2. Nghệ thuật miêu tả tính cách tâm lí nhân vật ............................. 61 3.2.2.3. Tính triết lí thông qua thế giới nhân vật truyện kể Andersen ..... 70 KẾT LUẬN ......................................................................................................... 76
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 92
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Tôi tựa hồ như nước, mọi điều chuyển động trong tôi, mọi điều phản chiếu
trong tôi…”
Andersen đã tự nhìn mình như thế trong một bức thư viết vào năm 1855. Trên
mỗi bước đường đi, nhà kể chuyện thiên tài ấy luôn cảm thấy vui sướng và thú vị với
tất cả, dù là lớn lao, vĩ đại, hay nhỏ bé, tầm thường. Chính điều đó đã làm tên tuổi
ông vượt ra khỏi biên giới của đất nước Đan Mạch, để trở thành vĩnh cửu trong lòng
mỗi người đọc trên toàn thế giới.
Trong thế giới nghệ thuật phong phú và đa dạng ấy, Andersen đã tập trung mở
rộng thế giới nhân vật đến mức tối đa. “Nhân vật là nơi tập trung hết thảy, giải quyết
hết thảy trong một sáng tác”(Tô Hoài). Thật vậy, nhà văn sáng tạo ra nhân vật để thể
hiện nhận thức của mình về một cá nhân, một loại người, một vấn đề nào đó của hiện
thực. Nhân vật của Andersen từ con người đến thần linh, loài vật, cỏ cây…tất cả đều
có tiếng nói riêng, tâm hồn riêng, tạo nên một thế giới đa thanh, qua đó ông gởi gắm
nhiều điều từ đơn giản của trẻ thơ đến triết lí sâu xa cho người trưởng thành.
Andersen từ trước đến nay vẫn thường được biết đến như một người kể chuyện
cổ tích thiên tài. Cùng với Charles Perrault của Pháp, anh em nhà Grimm của Đức,
những tác phẩm của Andersen đã làm nức lòng biết bao thế hệ độc giả nhỏ tuổi, đem
đến những bài học giản dị, những ước mơ trong sáng, chân thành… Thế nhưng không
chỉ dừng lại ở đó, đằng sau lớp vỏ cổ tích, sau câu chuyện thần tiên, là trăn trở của
Andersen trước cuộc sống hiện đại, là ước mơ vươn tới Chân, Thiện, Mĩ trong bộn bề
lo toan, vất vả thường nhật. Chính vì thế mà Andersen đã hoàn thành được ý nguyện
của mình, ông nói: “Những truyện ngắn làm tất cả mọi người đều thích thú và làm
xiêu lòng cả những người lớn, theo ý tôi, đó phải là mục đích của người viết truyện ở
thời đại chúng ta. Tôi đã tìm ra con đường dẫn tới tất cả mọi trái tim.”(10, 132).
Và cho đến hôm nay, “mọi trái tim” của người đọc vẫn không ngừng suy tư,
trăn trở. Các nhà nghiên cứu trong những bài viết của mình đã đề cập đến nhiều vấn
đề về Andersen như hình thái truyện kể, sức hấp dẫn về nội dung và nghệ thuật, tính
triết lí độc đáo, trong đó thế giới nhân vật vẫn còn là mảnh đất chờ đợi nhiều sự khám
phá mới mẻ.
Trong khuôn khổ luận văn và trên cơ sở tiếp thu những vấn đề từ các nhà
nghiên cứu trước, chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu về thế giới nhân vật phong phú
và đa dạng của Andersen. Luận văn chắc chắn còn nhiều sai sót, rất mong nhận được
sự đánh giá góp ý từ quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong phạm vi đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu về thế giới nhân vật
truyện kể Andersen. Đề tài giới hạn ở những truyện kể của ông và khảo sát ở tập
“Truyện cổ Andersen” do Mạnh Chương dịch(NXB Sài Gòn-1997), và “Truyện cổ
Andersen” do Minh Thu dịch(NXB PHS Sài Gòn-2009). Ngoài ra chúng tôi có liên
hệ so sánh đối chiếu với một số truyện của anh em Grimm, Charrles Perrault, và một
số truyện cổ tích Việt Nam từ « Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam » của Nguyễn
Đổng Chi.
3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nội dung nghiên cứu của đề tài liên quan đến khái niệm nhân vật, cụ thể là
những nhân vật trong truyện kể Andersen. Ở đây chúng tôi đặc biệt quan tâm đến các
công trình nghiên cứu về nhân vật văn học, nhân vật trong truyện cổ tích, và các bài
viết về tác giả Andersen cùng thế giới nhân vật của ông.
Đề cập đến vấn đề nhân vật trong tác phẩm văn học, lẽ tất nhiên không thể
không nhắc đến các vấn đề lí luận văn học về nhân vật. Viết về vấn đề này, tác giả
Đoàn Đức Phương trong bài viết “Nhân vật và tính cách” định nghĩa: “Nhân vật văn
học là hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ
mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc
điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách. Và cần chú ý thêm một điều, khái
niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ
là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc
chỉ thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là những sự vật, loài vật khác ít nhiều
mang bóng dáng, tính cách, của con người, được dùng như những phương thức khác
nhau để biểu hiện con người.” [12,159). Ngoài ra, tác giả còn phân loại nhân vật theo
kiểu nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm (xét về vai trò của nhân vật
trong tác phẩm), hay nhân vật chính diện, phản diện (xét về phương diện hệ tư tưởng,
về quan hệ đối với lí tưởng xã hội của nhà văn). Đề cập đến văn học cổ và truyện cổ
tích, tác giả còn nhắc đến kiểu nhân vật chức năng, đó là nhân vật xuất hiện nhằm để
thực hiện một chức năng nhất định nào đó.
Khái niệm nhân vật chức năng được nhiều nhà nghiên cứu tập trung đào sâu
trong các công trình của mình. Đầu tiên phải kể đến nhà nghiên cứu cổ tích người
Nga A.Propp. Trong công trình “Cấu trúc truyện cổ tích”, ông đã chọn một số truyện
cổ tích thần kì và tiến hành so sánh về mặt đề tài. Để làm được điều này, ông đã tách
ra những bộ phận tạo thành của cổ tích thần kì theo thủ pháp riêng, sau đó đem so
sánh các bộ phận tạo thành đó. Kết quả là ông có được hình thái học tức là sự miêu tả
truyện cổ tích theo các bộ phận cấu thành và theo mối quan hệ giữa các bộ phận ấy
với nhau cũng như đối với cái toàn thể. Thông qua một số ví dụ cụ thể thường gặp
trong các truyện cổ tích thần kì:
Ông vua tặng cho chàng trai dũng cảm một con chim ưng. Chim ưng mang
chàng đến một vương quốc khác.
Ông lão cho Xunenko một con ngựa. Con ngựa mang Xunenko đến vương
quốc khác.
Người phù thủy cho Ivan một chiếc thuyền. Chiếc thuyền mang Ivan đến
vương quốc khác.
Nữ hoàng cho Ivan một chiếc nhẫn. Những dũng sĩ từ trong chiếc nhẫn bước ra
và mang Ivan đến vương quốc khác.
Trong những ví dụ trên ta thấy tên gọi có thể thay đổi nhưng hành động của họ
không thay đổi. Do đó có thể kết luận truyện cổ tích thường gắn những hành động
giống nhau cho những nhân vật khác nhau. Nhân vật là những biến số còn hành động
của họ là những hằng số. Propp khẳng định, các nhân vật cổ tích dù đa dạng đến đâu
chăng nữa cũng thường thực hiện những hành động như nhau tuy biện pháp thực hiện
có thể khác. Như vậy, để nghiên cứu truyện cổ tích, vấn đề quan trọng đó là các nhân
vật cổ tích làm gì, còn vấn đề ai làm và làm như thế nào chỉ có tính chất phụ thuộc,
thứ yếu. Và từ những điều này cho phép người nghiên cứu truyện cổ tích dựa theo
những chứ năng của nhân vật hành động. Hay nhân vật cổ tích chính là nhân vật chức
năng.
Tác giả Nguyễn Xuân Đức trong sách “Những vấn đề thi pháp văn học dân
gian”, cũng gọi các nhân vật trong truyện cổ tích là nhân vật chức năng. “Đó là
những nhân vật chưa bộc lộ tính cách rõ ràng, những nhân vật chưa có nội tâm,
thậm chí chưa chú ý tới ngoại hình, tên tuổi, nhân vật cổ tích ít hành động theo suy
nghĩ của mình mà hành động theo những chức năng mà cốt truyện đã định sẵn. Nhân
vật cổ tích thường là những nét nhân cách của một tầng lớp xã hội chứ không phải
của một người”.[13,79]. Từ định nghĩa này tác giả đặt ra một vấn đề quan trọng đó là
khi phân tích một nhân vật cổ tích, chúng ta không thể áp dụng những phương pháp
như khi phân tích một nhân vật của văn học viết, nhân vật tính cách. Nhân vật viết đã
bộc lộ đầy đủ cá tính, tính cách, ngoại hình, nội tâm, nó là nhân vật của một tác phẩm
cụ thể, còn nhân vật cổ tích thì không. Trong bài viết này, tác giả cũng đã đề cập đến
công trình “Hình thái học của truyện cổ tích”của A.Propp, và trên cơ sở tiếp thu
những thành quả nghiên cứu của Propp, ông tiến hành khảo sát nhân vật ở ba dạng
khác nhau: nhân vật hành động trong cái khuôn định sẵn của cốt truyện, nhân vật có
những hành vi mang tính chức năng và nhân vật chỉ giữ vai trò là một chức năng
nghệ thuật. Và ông khẳng định đây là một trong những đặc trưng thi pháp nhân vật
của cổ tích thần kì.
Những điều này có thể áp dụng vào việc nghiên cứu thế giới nhân vật của
truyện kể Andersen. Bởi lẽ, những câu chuyện kể của Andersen luôn gần gũi với
thiếu nhi vì mang đậm màu sắc cổ tích, cho dù những ý nghĩa sâu xa khác của nó thì
người ta vẫn hồn nhiên chấp nhận đó là “truyện cổ tích Andersen”. Hơn nữa, tập
truyện đầu tiên của ông được xuất bản mang tên “Truyện cổ tích cho thiếu nhi”, cho
nên chúng ta không thể bỏ qua những nét đặc điểm thuần cổ tích trong truyện
Andersen. Và trong quá trình xây dựng thế giới nhân vật của mình, Andersen cũng đã
tạo nên một số lượng các nhân vật thuộc thế giới thần tiên, cổ tích với những chức
năng mà các nhà nghiên cứu đã đề cập.
Tác giả Đào Duy Hiệp trong bài viết “Đọc Andersen” đã nhấn mạnh đến sức
hấp dẫn của truyện kể Andersen thông qua một số phương diện nghệ thuật trong thi
pháp truyện kể như nhân vật, cốt truyện, giọng kể…Về nhân vật, ông đã tiến hành
khảo sát các nhân vật mang mẫu gốc của cổ tích, thông qua bốn câu chuyện tiêu biểu
đó là “Nữ chúa tuyết”, “Ip và cô bé Crixtin”, “Người bạn đồng hành”, và “Ông già
làm gì cũng đúng”. Trong đó, chức năng của nhân vật là bất biến, hay hằng số: họ
đều phải trải qua thử thách. Còn trải qua như thế nào là do mỗi sự trợ giúp khá nhau,
mỗi nhân vật khác nhau, đó là những biến số. Ông khẳng định đây là nhân vật chức
năng, các nhân vật có những hằng số về chức năng và biến số về phương tiện thực
hiện chức năng. Ngoài ra tác giả còn phân loại các cách đặt tên cho nhân vật của
Andersen và thống kê những nhân vật có tên gọi giống như cổ tích. Các nhân vật luôn
hành động trong các tình thế tương phản giữa giàu và nghèo, độc ác và lương thiện,
chính và tà, ngay thẳng và gian dối. Ông còn nhận ra nhân vật thiếu nhi chiếm một số
lượng lớn trong các tác phẩm của Andersen, với chất thơ của tuổi thơ rất đậm đặc
trong những hình ảnh và giọng kể. Andersen viết cho trẻ thơ nhưng tôn trọng chúng
đến mức người lớn cũng tìm thấy được mình và say mê trong đó. Đây chính là một
thành công mà không phải ai cũng có thể có được như nhà kể chuyện thiên tài này.
Vấn đề nhân vật của Andersen cũng được đề cập đến trong bài viết của một số
nhà nghiên cứu. Tác giả Lê Thị Thanh Tâm trong bài viết “Bi kịch hồn nhiên trong
truyện cổ Andersen” phát hiện nhân vật đồ vật, động vật rất gần gũi với ngụ ngôn
nhưng có thêm màu sắc của tiểu thuyết, thể hiện ở chất đời thường. Nhân vật của
Andersen như một kiểu mặt nạ, bị hành hạ, bóc trần, thua cuộc mà vẫn cứ là mặt nạ,
trò chơi của tuổi thơ. Các nhân vật vừa là trò chơi của lớp vỏ ngụ ngôn, vừa là thế
giới của con người thường nhật trùng khớp với mọi biến cố của tiểu thuyết hiện đại.
Tác giả khẳng định Andersen đã thiết kế thế giới nhân vật và tình huống trong cảm
hứng sâu kín về tình đời, tình người.
Rất nhiều tác giả đã dành cho Andersen những tình cảm tốt đẹp khi viết về
ông. Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Dục trong bài viết “Truyện Andersen” khẳng định,
trong mỗi con người luôn tồn tại những kí ức tươi đẹp của tuổi thơ, chỉ cần có một sự
khơi gợi thì đứa trẻ trong mỗi con người sẽ thức giấc. Và Andersen cùng với những
câu chuyện kể của mình đã làm được điều đó cho những độc giả yêu mến và say mê
ông. Có được điều đó là do Andersen suốt đời giữ được tấm lòng và con mắt trẻ thơ,
nên ông đã nhìn thấy, nghe thấy hơi thở của những vật nhỏ bé, tầm thường, vô tri.
Andersen còn là nhà thơ của những người nghèo hèn, yếu đuối, những số phận bị hắt
hủi, những kẻ xấu số…Thành công của Andersen chính là việc đề cao sức mạnh của
con người, của trí tuệ và tình yêu. Ông phản ánh trung thực cuộc đời đầy biến cố, và
ông trở thành niềm đam mê của cả trẻ thơ và người lớn. Truyện của ông dựa trên cơ
sở của hiện thực, của tự nhiên xã hội, kết hợp với tài hư cấu và lăng kính tưởng
tượng. Ông đã tìm thấy được bóng dáng của thực tại, nhìn thực tại bằng con mắt của
nhà thơ, với khiếu quan sát tinh vi hiện thực gắn với trí tưởng tượng mãnh liệt.
Nhưng dù cho có tưởng tượng phong phú đến đâu, dù là nhân vật có đa dạng, phong
phú đến đâu chăng nữa thì Andersen vẫn đề cao sức mạnh trí tuệ của con người. Hay
nói cách khác, Andersen mượn chuyện vật, mượn cổ tích để nói chuyện cuộc đời,
chuyện con người.
Tác giả Hà Minh Đức qua bài “Truyện cổ của Hans Christian Andersen” cũng
khẳng định không có sự ngăn cách lớn giữa hiện thực và thế giới tưởng tượng ước
mơ, giữa đời thường và chuyện thần kì thần thoại, nên số lượng nhân vật của
Andersen khá phong phú. Ở đó, chúng ta có thể thấy được mối quan hệ hòa đồng
giữa con người và thần linh, con người và loài vật, cỏ cây và tạo nên một thế giới
nhân vật giàu có và mang tính phổ biến rộng rãi từ vua chúa, tướng tá, hoàng tử, công
chúa, chàng hiệp sĩ…đến bác thợ giày, vị mục sư, cô gái, người làm vườn. Và đặc
biệt thế giới loài vật cỏ cây cũng có tiếng nói bình đẳng như con người. Việc mở ra
một thế giới nhân vật phong phú và đa dạng như vậy chính là nguồn tài liệu tham
khảo quí báu đối với các bài viết về thế giới nhân vật của Andersen.
Pauxtôpxki với những trang viết đầy chất thơ của mình trong “Người kể
chuyện cổ tích’ đã miêu tả lại cuộc gặp gỡ giữa mình với Andersen vào đêm giáng
sinh cuối cùng của thế kỉ 19. Đó là cuộc gặp gỡ “mộng trong đời thực”, Pauxtôpxki
khi ấy còn là một cậu bé, đã bị cuốn truyện kể của Andersen hấp dẫn tới mức không
còn thiết tha gì đến cây thông sáng lấp lánh trong ngày chào thế kỉ mới. Ông hiểu
được nguyên nhân nào khiến cho Andersen hình thành nên được tài năng. Đó là cuộc
đời gặp nhiều đau khổ nhưng không bao giờ khuất phục, cuộc đời bần hàn nhưng thơ
mộng từ lúc tuổi thơ. Đó còn là khả năng thâu nhận mọi thứ dù là nhỏ bé tầm thường
nhất mà người khác không thấy được, bằng trí tưởng tượng khoáng đạt thâu tóm
trong cuộc sống hàng trăm tiểu tiết và tập hợp chúng lại bằng những câu chuyện
chững chạc và thông minh. Chính vì điều đó mà Andersen đã dạy cho con người biết
tin tưởng vào ánh sáng trước bóng tối và của trái tim con người trên cái ác. Bài viết
của tác giả Pauxtốpxki đã tái hiện lại được quá trình lao động cần cù, sáng tạo và khả
năng thiên tài của một con người vĩ đại nhưng lại quen thuộc và gần gũi với tất cả
mỗi chúng ta.
Việc xác định hình thái nghệ thuật truyện kể Andersen cũng là một vấn đề thu
hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, trong đó có tác giả Nguyễn
Trường Lịch với bài viết “Hình thái nghệ thuật truyện kể Andersen”. Tác giả đã liệt
kê các tác phẩm của Andersen với nhiều cách gọi tên khác nhau như truyện kể, truyện
thần tiên, truyện rất ngắn, kiểu truyện dài với nhiều truyện lồng ghép với nhau theo
kiểu “truyện trong truyện”. Tác giả cũng chỉ ra những nét kế thừa từ cổ tích và những
sự khác biệt mới mẻ của riêng Andersen thông qua việc so sánh truyện kể của ông
với “Nghìn lẻ một đêm”, truyện của anh em Grimm, Perrault, và một số truyện cổ tích
Việt Nam. Từ điểm giống nhau như cách mở đầu bằng “ngày xửa ngày xưa” và kết
thúc có hậu như truyện cổ tích, Andersen cũng tạo ra những nét mới cho riêng mình
như một số truyện mở đầu bằng nhiều cách khác nhau mang dáng dấp thời sự của
những câu chuyện hiện đại, và có những câu chuyện kết thúc hoàn toàn không có hậu
như cổ tích. Và theo tác giả, thông qua việc khảo sát những cách mở đầu và kết thúc
đó, ông kết luận nên gọi truyện của Andersen là truyện kể là thích hợp hơn cả.
Nhà nghiên cứu Đào Ngọc Chương trong bài viết “Cái bóng như một cổ mẫu
hay là những suy nghĩ từ truyện Cái bóng của Hans Christian Andersen và một số tác
phẩm khác” đã chỉ ra hai yếu tố trong truyện của Andersen: yếu tố thần tiên huyền
thoại gắn với kiểu truyện cổ tích, và đặc biệt là yếu tố hiện đại của một truyện ngắn
bậc thầy cùng lồng ghép trong tác phẩm này. “Nhờ giữ nguyên đặc điểm nguyên thuỷ
của cổ mẫu cái bóng, tức miêu tả cái bóng từ khi hình hắt bóng, mà câu truyện của
Andersen thấm đẫm màu sắc huyền thoại, gắn với kiểu truyện cổ tích, truyện thần
tiên. Nhưng khi cái bóng tách khỏi hình, có một đời sống riêng độc lập và tự do, rồi
quay lại đẩy con người vào bi kịch thì bấy giờ vẫn với yếu tố li kì của truyện cổ tích,
truyện thần tiên nhưng Cái bóng đã vượt khỏi khuôn khổ của thể loại nguyên gốc này
để bước tới truyện ngắn huyền thoại hiện đại; một cách khác, truyện cổ tích ấy đã
lung linh huyền thoại hiện đại. Cái bóng như một phân thân, như một phản thân, như
một hoá thân, như một hiện thân, và như tất cả những thực thể ấy.”[41]. Bài viết lại
thêm một lần nữa khẳng định sức sáng tạo, tài năng và vị trí riêng không thể trộn lẫn
của Andersen trên văn đàn thế giới.
Cùng nghiên cứu về đặc trưng thể loại truyện kể của Andersen, tác giả Phạm
Thành Hưng có bài viết “Truyện Andersen - Một hình thức tự sự độc đáo”. Ở đây, tác
giả đã cắt nghĩa sức mạnh nghệ thuật của Andersen từ nhiều gốc độ khác nhau. Từ
gốc độ năng lực nghệ sĩ, ấy là óc quan sát tinh tế, lối tư duy - tưởng tượng dân gian;
từ gốc độ nhân cách, ấy là tình yêu tuổi thơ, tình yêu cuộc sống và khát vọng đấu
tranh vì những giá trị Chân, Thiện, Mĩ; từ gốc độ thế giới quan, ấy là tính nhân dân
sâu sắc hình thành tự nhiên từ hoàn cảnh xuất thân và cuộc đời lận đận của nhà văn.
Đặc biệt, từ gốc độ thi pháp học, Andersen cũng đã tạo ra cho mình một chỗ đứng rất
riêng biệt trong văn đàn. Trước hết, về quan niệm nghệ thuật, ông thuộc số người
cầm bút để tôn vinh sự sống và cái đẹp, ông ca ngợi sự hòa điệu giữa con người và
thiên nhiên. Về kết cấu, phần lớn truyện kể của ông phỏng theo lối kết cấu dân gian,
nhưng khác biệt hơn đó là ông không chủ trương những cốt truyện đơn giản mà lại
xây dựng những “kết cấu dàn”, truyện của ông như con sông nhiều nhánh, nhiều
nguồn lạch chảy vào tâm hồn người đọc. Qua những nét đặc trưng đó, tác giả khẳng
định đây là những kinh nghiệm quí báu cho những cây bút sở trường về truyện ngắn,
và góp phần hình thành một phong cách truyện ngắn dân gian trong văn học Châu
Âu.
Nhà nghiên cứu Vân Thanh trong bài viết “Người kể chuyện thiên tài -
Andersen” đã chỉ ra cho độc giả thấy nguyên nhân làm nên sức hấp dẫn của truyện
Andersen chính là nhờ ở sức tưởng tượng phong phú của tác giả. Dẫn ra một số ví dụ
ở các truyện kể như “Nàng công chúa và hạt đậu”, “Chú lính chì dũng cảm” để tác
giả khẳng định trí tưởng tượng của tác giả đã được phát huy ở những điểm bất ngờ
nhất , “tuy ly kì mà vẫn hợp lí, liên kết với nhau như trong một trận đồ ngoạn mục để
đi đến những kết luận tự nhiên, gần như là khó thay thế được”.[39, 30]. Và tác giả
khẳng định, để làm được điều đó, bên cạnh trí tưởng tượng, Andersen còn gởi gắm cả
vào đó niềm ao ước và mong muốn cho hạnh phúc của con người, và càng là những
con người bình thường, người bất hạnh, những mong ước về hạnh phúc cho họ càng
thiết tha. Điều đó tạo nên giá trị nhân văn sâu sắc cho các tác phẩm của Andersen.
Tác giả Lê Huy Bắc trong “Truyện cổ tích hiện đại cô bé bán diêm” thì chỉ tập
trung vào một nhân vật duy nhất là cô bé bán diêm bất hạnh và khẳng định đó là
nhân vật mang tính ẩn dụ đại diện và gợi nhớ đến vô vàn em bé nghèo khổ. Chính
điều này cũng đã khẳng định dược tính khái quát cao trong nghệ thuật miêu tả nhân
vật của Andersen. Ông không chỉ nói chuyện của một người, một đời mà là chuyện
của bao kiếp người lầm than trên khắp quả đất này.
Viết về nguyên nhân dẫn đến thiên tài Andersen, bài nghiên cứu “Gặp gỡ văn
học Đan Mạch” của Hữu Ngọc nhận xét Andersen thuộc thế hệ lãng mạn thứ hai
trong giai đoạn hình thành và trưởng thành của văn học Đan Mạch. Ông đặc trưng
cho những nét dân tộc nhất của Đan Mạch. “Truyện của ông có hai bình diện: bình
diện hấp dẫn tức khắc do cốt truyện có kịch tính, bình diện sâu lắng hơn do tính chất
tế nhị nên thơ, toát ra một tấm lòng ưu ái, mẫn cảm, đôi khi ngây thơ mà vẫn chinh
phục được lòng người. Phong cách của ông gắn liền thơ mộng với thực tế, mỉa mai
với tình cảm, luôn có những liên tưởng bất ngờ, thú vị, cơ bản là lạc quan”. [34, 10].
Những nhận xét của tác giả Hữu Ngọc tuy ngắn gọn nhưng đã khái quát được những
đặc trưng hết sức cơ bản về phong cách nghệ thuật cũng như là tài năng của
Andersen.
Lịch sử các công trình nghiên cứu về Andersen chính là nguồn tham khảo quí
báu để chúng tôi tham khảo trong qua trình nghiên cứu của mình. Các nhà nghiên
cứu đã chỉ ra các nguyên nhân hình thành tài năng của Andersen, những nét đặc sắc
về mặt nội dung và nghệ thuật trong truyện kể của ông. Tuy nhiên, về phần thế giới
nhân vật, các bài viết chỉ đưa ra những ý kiến khái quát trong những bình luận, đánh
giá tổng hợp về tác giả mà chưa có một bài viết cụ thể. Chính vì vậy, ở đề tài nghiên
cứu này, trên cơ sở tiếp thu học hỏi và phát hiện ra những nét khác biệt, chúng tôi
mong mỏi sẽ đóng góp thêm được những ý kiến mới về tác giả Andersen, đặc biệt là
về thế giới nhân vật vô cùng phong phú và đa dạng qua những chuyện kể của ông, để
rồi từ đó, tiến gần hơn đến với ông, nhà văn thiên tài của toàn nhân loại.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Từ những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích của Luận văn,
chúng tôi vận dụng những phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp lịch sử chức năng: Phương pháp này giúp chúng tôi xác định
được những yếu tố tự nhiên, xã hội, lịch sử, tâm lí… đã ảnh hưởng đến tính cách và
tài năng của Andersen.
- Phương pháp hệ thống giúp chúng tôi có cái nhìn bao quát về hệ thống tác
phẩm cũng như các bài nghiên cứu về tác giả Andersen và các tác phẩm của ông.
- Phương pháp thống kê và phân tích tổng hợp giúp chúng tôi phân loại hệ
thống nhân vật của Andersen cũng như nhận xét các yếu tố thuần cổ tích và nét hiện
đại mới mẻ trong truyện của ông.
- Luận văn cũng sử dụng phương pháp so sánh, so sánh tác phẩm của Andersen
với các truyện cổ tích khác để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt mang dấu
ấn riêng của tác giả.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Chỉ ra những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật mang cá tính
riêng của Andersen, bao gồm quan niệm nghệ thuật của tác giả về con người, tính
cách nhân vật, và nghệ thuật miêu tả nhân vật.
Phân tích sức hấp dẫn cả ở tính huyền thoại và màu sắc hiện thực trong truyện
Andersen trên cơ sở so sánh đối chiếu với truyện của anh em Grimm và một số
truyện cổ tích khác của Việt Nam và thế giới.
6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm có phần mở đầu, ba chương nội dung chính, phần kết luận và
danh mục tài liệu tham khảo. Trong đó nội dung chính của các chương như sau:
Chương 1: Andersen –Người kể chuyện thiên tài.
Chương 1 giới thiệu khái quát về thể loại truyện cổ tích của nhà văn với khái
niệm và những đặc trưng của nó, minh họa qua một số tác giả tiêu biểu của thế giới
và Việt Nam. Giới thiệu về hình thái nghệ thuật truyện kể và vai trò vị trí riêng, cũng
như các yếu tố tự nhiên và xã hội góp phần hình thành tài năng của tác giả Andersen.
Chương 2:Từ quan niệm nghệ thuật về con người đến thế giới nhân vật của
Andersen.
Chương 2 nêu lên nhưng quan điểm lí luận về vấn đề quan niệm nghệ thuật về
con người, chỉ ra quan niệm của tác giả Andersen về con người và những quan niệm
đó được thể hiện qua thế giới nhân vật của ông như thế nào. Điều đó đã tạo nên tính
hấp dẫn cho truyện kể Andersen đối với cả thiếu nhi và người trưởng thành.
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng thế giới nhân vật truyện kể Andersen
Chương 3 chỉ ra những thi pháp xây dựng nhân vật của truyện cổ tích dân gian,
để thấy được những điểm mà Andersen đã kế thừa truyện cổ tích và những sáng tạo
đặc sắc của riêng ông, những sáng tạo làm nên dấu ấn riêng không hề trộn lẫn của
Andersen.
CHƯƠNG 1: ANDERSEN – NGƯỜI KỂ CHUYỆN THIÊN TÀI
1.1. Thể loại truyện cổ tích của nhà văn
Tác giả Andersen từ trước đến nay vẫn được nhiều độc giả Việt Nam biết đến
như là một người kể chuyện cổ tích, người sáng tác truyện cổ tích thiên tài. Điều này
không phải là không có nguyên nhân của nó. Những câu chuyện của ông dường như
chỉ viết để dành riêng cho tuổi thơ, ngay cả những chuyện ông viết về cuộc đời mình.
Và điều đặc biệt là ông đã thành công khi mang đến sức hấp dẫn tuyệt vời ở tất cả các
thể loại mà mình thể hiện: huyền thoại, cổ tích, lịch sử…Andersen đã tạo nên một thế
giới vừa kì ảo vừa rất thực, và khẳng định được tên tuổi của mình bên cạnh Perrault,
Grimm và nhiều tác giả khác như Tônxtôi, Puskin… Ở Việt Nam, một số sáng tác
của các nhà văn như Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Tú Nam, Phạm Hổ... từ trước
Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, cũng cho chúng ta thấy có một thể loại văn học
mang phong cách dân gian đã xuất hiện trong văn học nước ta.
1.1.1. Khái niệm
Theo PGS.TS Võ Quang Trọng, ông đã chỉ ra một số khái niệm về thể loại
truyện cổ tích của nhà văn. Ở Nga, các nhà folklore đều thống nhất sử dụng thuật
ngữ truyện cổ tích văn học (literaturnaia xkadka). Truyện cổ tích của L. Tônxtôi,
truyện cổ tích của A. Puskin... thuộc loại này và để phân biệt với truyện cổ tích dân
gian (narotnaia xkadka). Còn giới nghiên cứu ngữ văn và folklore học Việt Nam lại
sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ thể loại này. Trên tuần báo Văn nghệ số 21
năm 1984, khi đánh giá tập “Chuyện hoa chuyện quả” của Phạm Hổ, tác giả Thu
Thảo sử dụng thuật ngữ cổ tích mới : “Với thể loại truyện cổ tích mới này, Phạm Hổ
đã đạt tới yêu cầu khắt khe của sáng tác cho thiếu nhi, đó là việc bồi bổ xúc cảm, sự
phát triển của năng lực tưởng tượng, liên tưởng”.[48].
Nhận xét về sáng tác của nhà văn Phạm Hổ, nhà nghiên cứu Vân Thanh cũng
sử dụng khái niệm truyện cổ tích mới: “Với thơ, anh thường qua thiên nhiên, qua
cuộc sống bình thường để làm nổi bật lên vẻ đẹp của con người và qua văn xuôi, anh
lại đi sâu vào cổ tích, truyền thuyết cho các em biết được vẻ đẹp của người Việt Nam,
ca ngợi những đức tính Việt Nam. Trước hết về cổ tích, Phạm Hổ đã mạnh dạn sáng
tác truyện cổ tích mới cho các em". [48]. Còn nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên thì gọi
đây là truyện cổ tích của văn học thành văn. Ông còn giải thích rõ thêm: “tức là
sáng tạo của cá nhân nhà văn và được cố định hóa bằng ngôn ngữ viết.”[8].
Tùy từng nhà nghiên cứu mà thuật ngữ được sử dụng khác nhau: truyện cổ tích
mới, truyện cổ tích văn học, truyện cổ tích thành văn, truyện cổ tích của nhà văn...
Rõ ràng là vấn đề xác định thể loại này cho đến nay trong giới nghiên cứu vẫn chưa
có được một khái niệm thống nhất.
Trong khi chờ đợi các nhà khoa học đưa ra được một thuật ngữ chính xác hơn,
gọi đúng và lột tả được bản chất của thể loại này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ truyện
cổ tích của nhà văn, với quan niệm đây là một thể loại thuộc sáng tác văn học viết và
phân biệt với truyện cổ tích dân gian ở đặc trưng thi pháp của nó. Truyện cổ tích của
nhà văn là các câu chuyện thần tiên của các tác giả cụ thể, đây là thể loại phản ánh rõ
nhất mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết.
1.1.2. Đặc trưng thể loại
Bởi vì truyện cổ tích dân gian và truyện cổ tích của các nhà văn có mối liên hệ
hữu cơ với nhau, cho nên trong quá trình nghiên cứu, chúng ta không thể bỏ qua các
đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích dân gian.
1.1.2.1. Đặc trưng của truyện cổ tích dân gian
Truyện cổ tích dân gian là một trong những thể loại văn xuôi thể hiện quan
niệm của con người về thiên nhiên, về thế giới xung quanh mình, nhưng lại không
phải biểu hiện nhận thức và sự sáng tạo nghệ thuật một cách có ý thức, không có
phạm trù thế giới quan, mà chỉ có phạm trù thẩm mĩ. Thế giới trong truyện cổ tích
dân gian đó là thế giới của những con người bình thường, thể hiện mình thông qua
những hành động phi thường, diễn ra trong những hoàn cảnh đặc biệt. Ở đó, loài vật
mang phẩm chất của con người, nhân vật là những sinh vật thần kì, những đồ vật có
phép nhiệm màu hoạt động. Hư cấu là một trong những đặc trưng cơ bản của truyện
cổ tích dân gian.
Trong truyện cổ tích dân gian, việc mô tả nhân vật thường theo khuynh hướng
nội dung có sẵn, không qua cá tính hóa mà theo con đường trừu tượng hóa, khái quát
hóa. Nhân vật trong truyện cổ tích dân gian mang đặc điểm tâm lí và khắc họa chân
dung ngắn gọn, được xây dựng chủ yếu qua con đường đối thoại và hành động. Do
vậy, hành động là quy luật xây dựng cốt truyện của truyện cổ tích dân gian. Việc đặt
nhân vật vào hoàn cảnh có tính chất hoang đường để nhân vật thực hiện mục đích
bằng hành động của mình đóng vai trò quan trọng trong truyện cổ tích dân gian.
Trong bất kì truyện cổ tích dân gian nào, những bước ngoặt bất ngờ của cốt truyện
bao giờ cũng có ý nghĩa đặc biệt cho sự phát triển hành động của cốt truyện.
Truyện cổ tích dân gian là những tác phẩm thường bằng văn xuôi truyền
miệng, hư cấu với hình ảnh kì vĩ, có cấu trúc kết cấu truyện ổn định và hướng đến
người nghe bằng hình thức kể chuyện.
Tuy nhiên, truyện cổ tích dân gian vốn lưu truyền bằng hình thức truyền miệng
và về sau được ghi chép lại. Việc truyện cổ tích dân gian được kể lại, thuật lại và ghi
chép lại là kết quả của sự xâm nhập của văn học viết, của sáng tạo cá nhân vào lĩnh
vực nghệ thuật mang tính tập thể.
Trong quá trình ghi chép này làm xuất hiện một số khuynh hướng. Thứ nhất,
một số tác giả trong khi thuật lại, kể lại đã nhấn mạnh đến ý nghĩa tư tưởng của
truyện cổ tích, một số khác quan tâm đến phong cách dân gian hóa qua sự biểu hiện
của tục ngữ, thành ngữ hoặc đưa vào truyện cổ tích những yếu tố, thành phần không
mang tính đặc trưng thi pháp dân gian như thay đổi vị trí, sử dụng vốn từ sách vở, từ
địa phương... Phong cách viết của từng tác giả làm cho tính toàn vẹn của hệ thống
nghệ thuật của truyện cổ tích dân gian bị phá vỡ, nhưng về cơ bản những đặc trưng
được quy định của một tác phẩm cụ thể được bảo lưu. Vào thời kì đầu, những thay
đổi của tác giả hầu như không đụng chạm đến cái cốt lõi của cốt truyện cổ tích dân
gian. Quá trình thay đổi của cả hệ thống nghệ thuật truyện cổ tích dân gian chủ yếu
chỉ thể hiện ở hình thức kể chuyện. Thường các tác giả lưu giữ cốt truyện và các
thành tố quan trọng thuộc cấu trúc kết cấu cốt truyện. Do vậy, tác phẩm sáng tạo
trong trường hợp này không khác nhiều lắm so với truyện cổ tích “nguyên bản”.
Thế nhưng, khi sự chế tác phát triển đến một mức độ nào đó trở thành đặc
điểm nổi trội làm xuất hiện sự biến đổi theo phong cách sách vở và truyện cổ tích
mang phong cách văn học viết ra đời. Một mặt nhà văn giữ lấy cốt truyện, chuyển nó
từ văn học dân gian thành tác phẩm của mình, mặt khác, nhà văn chỉ dựa vào nguyên
tắc và phương pháp sáng tác truyện cổ tích dân gian để tạo ra tác phẩm mới. Nói cách
khác, phương thức sáng tác thứ nhất là tuân thủ nội dung cốt truyện và thi pháp
truyện cổ tích dân gian; phương thức sáng tác thứ hai là dựa vào phong cách dân gian
để xây dựng nên một tác phẩm hoàn toàn mới. Hai phương thức sáng tác này khiến
cho tác phẩm văn học viết liên hệ với sáng tác dân gian theo hai phương diện: một là
quan hệ cội nguồn, hai là quan hệ loại hình. Chính vì vậy có thể nói rằng, thuộc tính
truyện cổ tích của nhà văn do đó là mức độ khác nhau giữa nó và truyện cổ tích dân
gian.
1.1.2.2. Đặc trưng truyện cổ tích của nhà văn
Mặc dù truyện cổ tích dân gian và truyện cổ tích của nhà văn có nhiều đặc
điểm chung giống nhau, nhưng truyện cổ tích của nhà văn cũng có những nét riêng
của một thể loại văn học viết.
Truyện cổ tích của nhà văn là thể loại thuộc sáng tác cá nhân, không phải là
sáng tác tập thể, mặc dù nó tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm thẩm mĩ dân gian. Đây
là thể loại được lưu truyền bằng văn bản. Tác phẩm có tác giả rõ ràng, văn bản là cố
định và không có dị bản. Đặc điểm này để phân biệt với truyện cổ tích dân gian là sản
phẩm chung của nhiều thế hệ dân chúng, tồn tại chủ yếu bằng hình thức truyền
miệng. Như vậy, truyện cổ tích của nhà văn đã chuyển từ hình thức truyền miệng dân
gian sang hình thức văn học viết, từ khuyết danh đến có tác giả cụ thể. Nếu ở truyện
cổ tích dân gian có nhiều dị bản khác nhau và hàng loạt mô típ nghệ thuật có sẵn
được lặp đi lặp lại nhiều lần thì truyện cổ tích của nhà văn là tác phẩm duy nhất và
không lặp lại, được thể hiện thông qua cá tính sáng tạo của nhà văn và phát triển theo
quy luật sáng tạo văn học.
Để phù hợp với hình thức lưu truyền bằng miệng, cốt truyện của truyện cổ tích
dân gian thường ngắn gọn đơn giản, còn ở truyện cổ tích của nhà văn không chỉ dùng
để kể mà chủ yếu là để đọc, nên bên cạnh những cốt truyện đơn giản còn có nhiều cốt
truyện phức tạp, có trường hợp có tới hai, ba cốt truyện cổ tích dân gian khác nhau
được tác giả ghép nối vào nhau.
Nếu như truyện cổ tích dân gian nặng về khái quát hóa, nhân vật mang đặc
điểm loại hình nhiều hơn, thì ở truyện cổ tích của nhà văn vừa có tính khái quát vừa
có tính cá thể. Có thể nói rằng với truyện cổ tích của nhà văn, việc đi vào miêu tả tâm
lí nhân vật bước đầu được chú ý hơn. Hơn nữa, trong truyện cổ tích dân gian không
có bình luận, có chăng chỉ là những lời giải thích sự việc xuất hiện ở phần kết thúc
câu chuyện. Còn trong truyện cổ tích của nhà văn, lời bình luận, triết lí của tác giả
không chỉ xuất hiện ở phần kết thúc mà nhiều khi được xen lẫn vào từng phần của
câu chuyện. Nhiều khái niệm mới, hiện đại của đời sống cũng được các nhà văn sử
dụng trong tác phẩm của mình.
Như vậy có thể nói, truyện cổ tích của nhà văn là tác phẩm tự sự, với hình thức
sử thi nhỏ, cốt truyện tưởng tượng, hệ thống hình ảnh ước lệ thần kì và khác với
truyện cổ tích dân gian ở quan niệm của tác giả về thế giới quan, nhiệm vụ tư tưởng
thẩm mĩ của thời đại và mối quan hệ với phương pháp nghệ thuật của nhà văn. Đặc
điểm hư cấu, được thừa nhận bởi tác giả và người nghe hoặc độc giả. Thứ hai, hình
thức truyện là tự sự. Có thể nói, những đặc điểm này là chung đối với truyện cổ tích
của nhà văn.
Thông qua những đặc trưng trên, chúng ta có thể kể ra ở đây rất nhiều những
nhà văn tiêu biểu cho thể loại truyện cổ tích của nhà văn này.
1.1.3. Một số tác giả tiêu biểu
1.1.3.1. Charles Perrault
Nhiều trẻ em Việt Nam từ lâu đã thuộc lòng những truyện cổ tích của
Charles Perrault như Cô gái Lọ Lem, Người đẹp ngủ trong rừng, Chú mèo đi hia, Cô
bé quàng khăn đỏ… mà không hề biết tác giả của chúng là ai. Khác hẳn với anh em
nhà Grimm hay Hans Christians Andersen luôn được hậu thế nhắc đến tên tuổi cùng
với những truyện cổ tích của mình, Charles Perrault lại giữ một vị trí khá khiêm tốn
trong lòng độc giả nhỏ tuổi Việt Nam, mặc dù đối với thế giới ông được coi như một
bậc tiền bối của truyện cổ tích. Hầu như ít người biết ông là ai, những sáng tác của
ông là gì. Một số người lại nhầm lẫn các tác phẩm của ông với anh em nhà Grimm.
Thậm chí có người lại cho rằng đây là những truyện cổ dân gian thuần tuý mà không
hề biết rằng thật ra chúng chỉ mới được sáng tác vào thế kỷ XVII.
Bắt đầu vào học nghề luật sư, nhưng ít lâu sau, nhờ sự bảo trợ của bộ trưởng
Bộ tài chính quyền uy Colbert, Perrault bắt đầu vào làm việc tại bộ của ông ta. Ông
nổi tiếng vì đã tham gia tích cực vào cuộc tranh luận về sau được ghi vào sách giáo
khoa văn học với tên gọi “cuộc tranh luận giữa phái Cổ đại và phái Hiện đại”.
Câu chuyện bắt đầu vào năm 1687, khi Perrault công bố tại Viện Hàn lâm Pháp
truyện thơ của mình “Thời đại của Louis Đại đế”. Perrault đã đánh giá nền văn học
đương thời cao hơn văn học cổ đại, và những người phản biện ông, trước hết là nhà lý
luận văn học Nicola Boileau (1636 – 1711) và nhà viết kịch vĩ đại Jean Racine (1639
– 99), cho rằng nền văn học cổ đại vẫn là “khuôn vàng thước ngọc”, cả trong nghĩa
bóng lẫn nghĩa đen của từ này. Thực chất, cuộc tranh luận diễn ra không chỉ về văn
học. Quan điểm của Perrault trước hết tập trung chống lại sự bắt chước các mẫu mực
cổ đại, mặc dù chính tác phẩm của ông cũng không thể gọi là hoàn toàn đổi mới,
cũng như bản thân ông – không phải là người triệt để ủng hộ sự tiến bộ.
Tuy nhiên, Perrault không bắt tay ngay vào sáng tác các truyện cổ tích mà ngày
nay chúng ta gắn với tên tuổi của ông. Ban đầu ông viết những tác phẩm mẫu mực
mang tính chất truyền thống đối với thời đại ông, những chuyển thể thơ các đề tài
phong nhã, trong đó không hề có đặc điểm dân tộc lẫn những yếu tố hoang đường.
Những tác phẩm này là một kiểu đáp ứng kịp thời mốt truyện cổ tích vốn phát triển
rất nhanh trong xã hội thượng lưu và ngay lập tức được các nhà văn khích lệ. Chỉ cần
một vài thao tác nhỏ nửa – “công khai hóa” hoàn toàn thể loại này và đưa nó vào nền
văn học “lớn”.
Perrault bắt đầu in truyện cổ tích trên các tạp chí từ năm 1695. Đây cũng là
một lời công kích trong cuộc tranh luận giữa phái cũ và phái mới: trong lời nói đầu
Perrault viết rằng những truyện cổ tích của ông cao hơn các tác phẩm cổ đại vì chúng
đề cao những phẩm chất đạo đức mà các mẫu mực cổ đại không có. Tiếp tục in
truyện cổ tích, Perrault gửi gắm vào đó những lời răn dạy đạo đức cần thiết.
Một năm sau truyện cổ tích “Người đẹp ngủ trong rừng” được công bố nặc
danh, và năm sau nữa ra đời cuốn “Truyện bà mẹ Ngỗng của tôi”, dành tặng công
nương Orléans, cháu họ của vua Louis XIV. Không thể nói rằng những truyện cổ tích
này là độc đáo từ đầu tới cuối. Trong sáng tác dân gian châu Âu có những cốt truyện
giống như nhiều câu chuyện của ông: Perrault không xa lạ gì với sáng tác dân gian,
và đã đọc cho con trai mình nghe nhiều truyện dân gian khác nhau. Chúng ta không
thể đoán ra những cốt truyện cổ tích nào, nói một cách nhẹ nhàng, là vay mượn, còn
những truyện nào do chính Perrault sáng tác. Trong mục lục của “Truyện bà mẹ
Ngỗng của tôi” có: “Người đẹp ngủ trong rừng”, “Em bé quàng khăn đỏ”, “Râu
xanh”, “Chú mèo đi hia”, “Lọ lem”, “Riquet có bờm” và “Chú bé ngón tay cái”…Hoá
ra, truyện cổ tích “Em bé quàng khăn đỏ” là tác phẩm của Perrault –nhưng ít ai đoán
biết được điều đó. Bởi truyện cổ tích này đã từ lâu trở nên vô cùng gần gũi đối với tất
cả trẻ em trên thế giới. Có nghĩa, nó là một truyện cổ tích đích thực.
Các truyện cổ tích của Perrault bắt đầu được dịch ra tiếng Nga vào cuối thế kỷ
XVIII. Ban đầu tên gọi của chúng trong bản dịch nghe hơi lỗi thời và buồn cười, ví
dụ: “Truyện cổ tích về chú mèo có cựa và đi giày”. Dịch giả nổi tiếng nhất của
Perrault chính là nhà văn Ivan Turgenev.
Ghi nhận “nét duyên dáng kiểu Pháp cổ khá tinh tế”, Ivan Turgenev viết rằng
“những truyện cổ tích của Perrault xứng đáng có một vị trí danh dự trong nền văn
học thiếu nhi. Chúng vui nhộn, hấp dẫn, thoải mái, không nặng nề bởi quá nhiều giáo
huấn đạo đức lẫn tham vọng của tác giả; trong đó bạn còn cảm nhận được hơi thở
của thơ ca dân gian; trong đó có sự kết hợp giữa cái kỳ diệu - khó hiểu và cái đời
thường - mộc mạc, cái cao thượng và cái ngộ nghĩnh, chúng tạo nên đặc điểm nổi bật
của sự hư cấu cổ tích đích thực”.(49).
Quả thật, tập truyện cổ tích của Perrault là cuốn sách đầu tiên viết cho thiếu
nhi, và cho dù tác giả của nó là ai đi nữa thì cũng là người khai sinh ra một khuynh
hướng lớn trong nền văn học thế giới - người sáng lập nền văn học thiếu nhi.
Perrault đã chiến thắng trong cuộc tranh luận với Boileau – năm 1700 chính
Boileau đã thừa nhận thất bại của mình. Nhưng điều đó chỉ có ý nghĩa đối với các nhà
văn học sử. Riêng tập truyện cổ tích mỏng mảnh dường như không nhận ra nhiều thế
kỷ đã trôi qua kể từ khi nó ra đời.
1.1.3.2. Anh em nhà Grimm
Anh em nhà Grimm là hai anh em người Đức Jacob Ludwig Karl (4 tháng
1 năm 1785 - 20 tháng 9 năm 1863) và Wilhelm Karl Grimm(24 tháng
2 năm 1786 - 16 tháng 12 năm 1859). Hai anh em Grimm là những nhà ngôn ngữ học
và nghiên cứu văn học dân gian, họ được biết tới nhiều nhất với việc xuất bản các bộ
sưu tập truyện dân gian và truyện cổ tích trong đó có nhiều truyện nổi tiếng và phổ
biến trên thế giới như Nàng Bạch Tuyết (Schneewittchen), Cô bé lọ lem (Cinderella) hay Hansel và Gretel (Hänsel und Gretel). Họ là hai trong số 9 người con của ông
Philipp Wilhelm Grimm. Năm Jacob lên 11 tuổi thì ông Philipp qua đời, cả gia đình
phải chuyển từ vùng làng quê yên bình lên một căn hộ chật hẹp ở thành phố. Hai năm
sau gia đình Grimm lại càng lâm vào cảnh khốn khó sau cái chết của ông Jacob và
Wilhelm. Theo một số nhà tâm lý học hiện đại, hoàn cảnh sống này đã ảnh hưởng tới
những câu truyện cổ tích của anh em Grimm, trong đó người bố thường được lý
tưởng hóa và bỏ qua mọi lỗi lầm, người có quyền lực cao hơn cả lại là các bà mẹ kế
độc ác, tiêu biểu là bà hoàng hậu, mẹ kế của Nàng Bạch Tuyết hay bà mẹ kế của Cô bé lọ lem..
Hai anh em Grimm theo học phổ thông Gymnasium Friedrichs ở Kassel, sau
đó cả hai cùng theo học luật tại Đại học Marburg. Khi Jacob và Wilhelm bước sang
tuổi 20, hai anh em bắt đầu nghiên cứu ngôn ngữ học mà thành quả lớn nhất sau này
là Luật Grimm trong ngành ngôn ngữ do hai người phát triển. Mặc dù việc nghiên
cứu ngôn ngữ là công việc chính của anh em nhà Grimm, họ lại được biết tới rộng rãi
hơn nhờ những câu chuyện cổ tích và dân gian được hai người sưu tập và kể lại theo
cách của họ.
Hai anh em nhà Grimm bắt đầu sưu tầm các truyện kể dân gian từ khoảng
năm 1807 khi nhu cầu tìm hiểu truyện dân gian ở Đức bắt đầu phát triển sau
khi Ludwig Achim von Arnim và Clemens Brentano phát hành tuyển tập bài hát dân
gian Des Knaben Wunderhorn. Từ năm 1810, hai người bắt đầu thực hiện bộ sưu tập
bản thảo truyện dân gian, những tác phẩm này được Jacob và Wilhelm ghi lại bằng
cách mời những người kể chuyện đến nhà và chép lại những gì họ kể. Trong số
những người kể chuyện này không chỉ có những nông dân mà còn có những người
thuộc tầng lớp trung lưu và các học giả, những người sở hữu các câu chuyện nghe
được từ người hầu của họ, Jacob và Wilhelm còn mời cả những
người Huguenot gốc Pháp tới kể những truyện dân gian có nguồn gốc từ quê hương
của họ
Năm 1812, Jacob và Wilhelm Grimm cho xuất bản bộ sưu tập 86 truyện cổ tích
Đức trong một cuốn sách mang tựa đề Kinder- und Hausmärchen ("Truyện của trẻ
em và gia đình"). Năm 1814 họ cho phát hành tập sách thứ hai với 70 truyện cổ tích,
nâng số truyện trong bộ sưu tập lên 156.
Lần xuất bản thứ hai của bộ Kinder- und Hausmärchen từ năm 1819 đến
năm 1822 được tăng lên 170 truyện. Tập sách này còn được tái bản thêm 5 lần nữa
khi anh em Grimm còn sống, mỗi lần đều có thêm những truyện mới và đến lần xuất
bản thứ 7 năm 1857 thì con số đã lên đến 211 truyện. Bên cạnh những lời khen ngợi,
tác phẩm của anh em Grimm cũng gặp phải những chỉ trích, một số người cho rằng
những truyện cổ tích này không thích hợp cho trẻ em mặc dù tên tập sách là dành cho
trẻ em, những người khác lại chỉ trích bộ sách có ngôn ngữ không đủ "chất Đức".
Tuy vậy điều khác biệt là trong khi Perrault thường ít khi tuân thủ nguyên gốc
những gì họ được nghe kể lại thì anh em nhà Grimm đã phát triển những truyện dân
gian này theo cách kể truyện của họ, trong đó viết lại gần như nguyên vẹn những chất
liệu dân gian mà họ thu thập được. Vì vậy Jacob và Wilhelm Grimm đã góp phần
phát triển phương pháp nghiên cứu hiện đại cho các nhà dân gian học (folklorist).
Mặc dù rất thành công trong việc sưu tầm truyện dân gian nhưng công việc
chính của hai anh em nhà Grimm là nghiên cứu ngôn ngữ học, đặc biệt là xác định
những tính chất của ngôn ngữ và văn hóa của nước Đức mới được hình thành. Hai
người đã soạn bộ từ điển tiếng Đức Deutsches Wörterbuch, tác phẩm lớn đầu tiên
trong việc chuẩn hóa tiếng Đức kể từ khi Martin Luther dịch Kinh Thánh ra tiếng
Đức. Đây là một bộ sách rất đồ sộ với 33 tập nặng tới 84 kg và cho đến nay vẫn được
coi là một tác phẩm tham khảo quan trọng của từ nguyên học Đức. Anh em Grimm
còn nổi tiếng với việc phát triển Luật Grimm trong ngôn ngữ hoc.
Bên cạnh Perrault và Grimm là hai tác giả luôn được nhắc tới khi đề cập đến
thể loại truyện cổ tích, chúng ta còn phải kể đến những tác giả mặc dù lừng danh ở
những lĩnh vực tiểu thuyết hiện đại hay thơ ca nhưng vẫn không quên dành tâm huyết
của mình cho độc giả nhỏ tuổi với những câu chuyện thần tiên, và qua đó gởi gắm
bao nhiêu điều lí thú đến độc giả lớn tuổi. Đó là Lep Tônxtôi và Puskin của
Nga.Tônxtôi đã in những truyện ngắn và truyện đồng thoại của mình dành cho trẻ
nhỏ trong những cuốn sách nhan đề "Sách học vấn" và "Những cuốn sách Nga để
đọc". Nhiều em nhỏ đã học đọc và học viết theo những cuốn sách này. Tônxtôi đã
đưa vào những cuốn sách dành cho trẻ nhỏ nhiều câu chuyện và truyền thuyết lấy từ
văn học cổ, từ cuộc sống của các dân tộc khác nhau trên thế giới. Ông đặc biệt thích
thú các truyện ngụ ngôn giản dị và ngắn mà nhà thông thái cổ Hy lạp Ê-dốp đã sáng
tác ra. Tôn-xtôi đưa các bản dịch truyện ngụ ngôn của Ê-dốp xích gần lại với cách
ngôn, tục ngữ ("Đắm thuyền") hoặc với truyện cổ dân gian ("Cáo và gà rừng"), hay
biến nó thành truyện sinh hoạt ("Hai người bạn"). Ông chuyển sự kiện của truyện
ngụ ngôn về môi trường thân quen. Chúng trở thành các truyện ngụ ngôn Nga, những
tác phẩm tự hào của Lép Tônxtôi. Thường thì các truyện ngụ ngôn cổ kết thúc bằng
một kết luận hoặc một lời giáo huấn. Tônxtôi vứt bỏ những đoạn kết ấy, chỉ giữ lại
hành động và tính cách của nhân vật, để cho trẻ em tự mình khám phá những bài học
nhân hậu và bổ ích cho chính mình.
Puskin được độc giả Việt Nam biết tới như là một tác giả của những bài thơ
tình bất hủ, hay những truyện ngắn hiện đại. Tuy nhiên ông cũng đã thể hiện tài năng
của mình ở việc sáng tác ra các bản trường ca và truyện cổ tích. Mang âm hưởng của
văn học dân gian Nga, bản trường ca về chàng Rutxlan và nàng Lutmila của ông từ
khi xuất hiện đã chiếm được vị trí vững chãi trong lòng công chúng. Truyện cổ tích
“Ông lão đánh cá và con cá vàng”được đưa vào chương trình giảng dạy ngữ văn bậc
Trung học cơ sở. Puskin không phải là nhà sưu tầm truyện cổ, và ông cũng thể hiện
cá tính riêng của mình bằng cách sáng tác truyện bằng thơ, dựa trên nguồn thi liệu
dân gian truyền thống. Bởi thế cho nên ông đã tạo cho mình một vị trí và một sức thu
hút riêng trong lĩnh vực này.
1.1.3.3. Một số tác giả Việt Nam
Nổi tiếng trong lĩnh vực sưu tầm và kể lại các câu chuyện cổ tích ở Việt Nam
đầu tiên có lẽ phải kể đến nhà sưu tầm, giáo sư Nguyễn Đổng Chi. Nước ta với nhiều
dân tộc, nhiều nét văn hóa khác nhau đã tạo nên một kho tàng truyện cổ phong phú
với những sự đặc sắc riêng. Giáo sư Nguyễn Đổng Chi đã sưu tầm và viết lại gần
2000 truyện cổ Việt Nam và quốc tế. Số truyện trên được ông sử dụng để soạn bộ
sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam gồm 5 tập. Đây cũng là bộ sách nghiên cứu
được biên soạn và in xong lâu nhất: 25 năm (1957-1982). Bộ sách không chỉ gồm các
truyện cổ tích đặc sắc, mà còn có phần giới thiệu và phần phân tích, lý luận văn học
về chủ đề văn học dân gian, cụ thể là thể loại truyện cổ tích truyền thuyết. Chính vì
vậy, những câu chuyện cổ vẫn có dáng dấp, phong cách riêng của người sưu tầm và
kể lại chúng: giáo sư Nguyễn Đổng Chi.
Bên cạnh đó một số sáng tác của các nhà văn như Tô Hoài, Nguyễn Huy
Tưởng, Phạm Hổ từ trước Cách Mạng Tháng Tám đến nay đã cho chúng ta thấy có
một thể loại văn học mang phong cách dân gian đã xuất hiện trong văn học nước ta.
Đó là truyện cổ tích được sáng tạo chủ yếu bởi các nhà văn.
Đối với Tô Hoài, ông từng viết “Chuyện cổ tích không biết có từ đời nào.
Tưởng đoán không ngoa là những của báu khảo cổ trên mặt đất này đã ra đời cùng
lúc với tiếng nói con người”. Ông chia sẻ “bấy lâu tôi vẫn ham thích viết cổ
tích…”.[46]. Quả đúng như vậy, Tô Hoài đã ấp ủ, đã cặm cụi, trăn trở và cuối cùng ra
mắt bạn đọc cuốn sách “Chuyện ngày xưa: 100 cổ tích”. Bạn đọc nhiều lứa tuổi sẽ
tìm thấy điều gì ở đây? Hơn hết là khối chuyện mang diện mạo và tâm hồn con
người, trải ngàn vạn năm còn ở lại với hôm nay. Truyện được chia thành 3 phần:
phần 1 gồm 58 truyện về các sự tích, loài vật; phần 2 là 22 truyện về các nhân vật,
truyền thuyết; phần 3 là 21 truyện đặc sắc của các dân tộc thiểu số. Ai cũng đã một
lần đọc, nghe cổ tích. Nhưng khi cả trăm truyện cổ đặt cạnh nhau ta mới thấy bề sâu
và ý nghĩa của chúng. “Nghe cổ tích, ngẫm cổ tích, thấy được và cắt nghĩa được tất
cả cơn cớ ta tồn tại, ta sinh sôi. Mỗi câu chuyện, mỗi nhân vật hoang đường đến đâu
đều thấm đượm ý nghĩa đời người, con người nỗi niềm than thở hay ngàn vạn ước
mong đều vẫn nảy nở từ trong tấm lòng nhân nghĩa và đức tính lam làm cùng với nụ
cười thật hóm, thật duyên và phóng khoáng mọi nhẽ. Cái cười, rừng cười trong cổ
tích Việt Nam sâu xa lòng tin và nghị lực”. [46]. Bên cạnh giá trị đã được khẳng định
của cổ tích, bạn đọc có lẽ còn có cái thú “thưởng” văn Tô Hoài khi đọc cổ tích do ông
kể. Do đó, ngay ở những câu chuyện quen thuộc vẫn thấy sự mới mẻ mang hơi hướng
của một cây bút vừa thâm trầm vừa hóm hỉnh. Đọc và thưởng thức chậm rãi, người
đọc sẽ nhận ra cổ tích từ ngàn vạn năm nay còn tồn tại cũng là bởi sự bồi đắp đời này
qua đời khác, trong đó cốt lõi là sự bồi đắp giá trị nhân văn.
Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng cũng đóng góp nhiều tác phẩm được coi là mẫu
mực cho văn học thiếu nhi, bao gồm truyện cổ tích và truyện kể lịch sử như Tìm mẹ,
An Dương Vương xây thành ốc, Hai bàn tay chiến sĩ, Chuyện kể Quang Trung, Lá cờ
thêu sáu chữ vàng...Ông đã dành cho thiếu nhi những trang văn đầy chất thơ, trong
trẻo đúng như lứa tuổi của các em.
Nói tới Phạm Hổ, trước hết và căn bản là nói tới một nhà văn chuyên viết cho
thiếu nhi. Thời kì kháng chiến chống Pháp, hoạt động ở vùng Nam Trung Bộ, Phạm
Hổ đã làm sách Hoa kháng chiến cho thiếu nhi. Những tác phẩm đầu tay của ông
thường được nhắc đến là Em Tre, Sáng trăng kể chuyện…Bằng tài năng và tâm huyết,
ông đã đóng góp cho nền văn học thiếu nhi nước nhà nhiều tác phẩm có giá trị. Đến
nay, ông đã có gần 20 tập thơ, hơn 50 truyện cổ tích, truyện dài, 3 vở kịch… viết cho
thiếu nhi. Nhiều tác phẩm của ông được giảng dạy trong nhà trường, được nhiều thế
hệ bạn đọc nhỏ tuổi yêu thích.
Đặc biệt với tập “Chuyện hoa chuyện quả”, Phạm Hổ đã được nhà nghiên cứu
Vân Thanh đánh giá như sau “Với thơ, anh thường qua thiên nhiên, qua cuộc sống
bình thường để làm nổi bật lên vẻ đẹp của con người và qua văn xuôi, anh lại đi sâu
vào cổ tích, truyền thuyết cho các em biết được vẻ đẹp của người Việt Nam, ca ngợi
những đức tính của người Việt Nam. Trước hết về cổ tích, Phạm Hổ đã mạnh dạn
sáng tác truyện cổ tích mới cho các em.”[48].
Các tác giả với công việc sáng tạo nên những câu chuyện cổ cho các thế hệ dã
tạo nên diện mạo mới cho văn học ở thể loại truyện cổ tích của nhà văn. Tuy nhiên
trong rất nhiều nhà văn đó, Andersen vẫn nổi lên với một vị trí đặc biệt, không thể
trộn lẫn. Điều đó tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn riêng của nhà văn đến từ đất nước
Đan Mạch xinh đẹp.
1.2.Tác giả Andersen
1.2.1. Hình thái nghệ thuật truyện kể và vai trò vị trí riêng của Andersen
Toàn bộ tác phẩm của Andersen được xuất bản gồm nhiều thể loại khác nhau
như: tiểu thuyết, thơ, tùy bút, kí sự, nhật kí, kịch…Riêng phần truyện kể chiếm vị trí
quan trọng, đã làm nên tên tuổi của Andersen trên khắp thế giới.
Thực tế cho thấy rằng, tên gọi “Truyện cổ tích Andersen” như xưa nay chúng
ta vẫn hay dùng chỉ là một cách gọi dựa theo những đặc trưng truyện kể của ông mà
thôi. Bởi bên cạnh những câu chuyện chế tác theo môtip cổ tích, ông còn có rất nhiều
các tác phẩm theo thể loại ngụ ngôn, tiểu thuyết…
Trong số các truyện kể, có khoảng 25% số truyện được mở đầu theo môtíp
“ngày xửa ngày xưa” như các câu chuyện cổ tích dân gian của rất nhiều nước trên thế
giới. Bởi lẽ ông viết những câu chuyện đó để dành cho trẻ em, cho nên cách tạo một
không gian quen thuộc với những qui cách thân thuộc thì còn gì thích hợp hơn? Khảo
sát một số truyện của ông, chúng ta có thể thấy cách mở đầu quen thuộc này: “Ngày
xưa, có một lão lái buôn giàu có đến nỗi có thể lấy bạc ra lát kín cả khu phố lão
ở…”(Chiếc hòm bay), “Ngày xưa, có một vị hoàng đế thích quần áo mới đến nỗi có
bao nhiêu tiền của đều tiêu pha vào việc may mặc hết…”(Bộ quần áo mới của hoàng
đế), “Ngày xưa, có một hoàng tử rất nghèo chỉ có một giang sơn chật hẹp…”(Anh
chàng chăn lợn).[6]. Những cách mở đầu như thế này sẽ dẫn dắt người đọc vào một
không gian quen thuộc, đầy cảm tình để con người có thể chiêm nghiệm, ước mơ,
hoài bão…
Tương tự, Andersen cũng có những cách kết thúc truyện đậm chất cổ tích,
nghĩa là người tốt, người bị áp bức bất công thì cuối cùng sẽ có hạnh phúc, và kẻ ác
tất nhiên sẽ bị trừng trị. Khảo sát cho thấy ông đã dành cho nhiều câu chuyện của
mình một kết thúc viên mãn như truyện cổ tích thương đem đến. Truyện “Ông già
làm gì cũng đúng” gợi liên tưởng về kiểu truyện chàng ngốc gặp may, truyện “Người
bạn đồng hành” kể về cuộc phiêu lưu của Giăng, lòng tốt của anh cuối cùng đã được
đền đáp xứng đáng, Giăng trở thành vua, giàu có, quyền lực và được vợ như ý. Như
là món quà dành tặng cho mỗi độc giả, mỗi câu chuyện cổ tích như vậy sẽ đem đến
cho người đọc cảm giác bình yên, thanh thản, nhất là với độc giả nhỏ tuổi, sẽ tạo
dựng thêm cho các em niềm tin yêu ở cuộc sống này.
Thế nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì tên tuổi Andersen cũng sẽ chìm khuất
trong rất nhiều những tên tuổi khác với hàng nghìn câu chuyên cổ tích trên khắp thế
giới. Điều đặc biệt khiến cho tên tuổi Andersen nổi bật trên văn đàn là ở chỗ ông đã
khéo léo có những sáng tạo cho riêng mình. Các nhà nghiên cứu đã mất nhiều công
sức khi xác định thể loại cho các tác phẩm của Andersen. Năm 1835, khi xuất bản
những truyện kể đầu tiên, ông đã gọi là “Eventyr cho trẻ em”, Eventyr là tiếng Đan
Mạch, tiếng Anh có nghĩa là fairy tale, tiếng Pháp được dịch là conte de fees, mà nhà
nghiên cứu Nhật Chiêu đã gọi rất hay là “huyền truyện”, những huyền truyện ngắn
dành cho bất cứ ai (a short fantastic story for any age of reader).[42].
Song song với những truyện hướng về những độc giả nhỏ tuổi, Andersen còn
có hàng loạt truyện hướng về rộng rãi công chúng, nhiều truyện của ông nếu tách
riêng ra có thể thành một truyện ngắn có giá trị độc đáo. Cho nên các nhà nghiên cứu
văn học dân gian không nhìn Andersen như là một Perrault hay Grimm của Đan
Mạch, ông hầu như nằm ngoài phạm vi quan tâm của họ. Còn đối với các nhà nghiên
cứu văn học viết thì Andersen cũng không nằm trong danh sách những cây bút truyện
ngắn chuyên nghiệp. Tuy nhiên điều đó càng làm cho tên tuổi của ông thêm nhiều
vinh dự, ông đã xác định cho mình một vị trí riêng.
Andersen bước vào văn đàn với thiên chức để tôn vinh cuộc sống, tôn vinh cái
đẹp. Ông say mê những gì đem đến cho thế giới cái đẹp và sự cứu rỗi. Ông không thể
không nhắc tới cái ác, cái xấu xa…nhưng tất cả những điều ấy chỉ là bước nền để tôn
vinh những gì là cái đẹp vĩnh hằng. Thêm vào đó, đối với Andersen, ông đã giải
phóng các mô típ huyền thoại trong kinh thánh, thần thoại, cổ tích, đưa chúng vượt
qua những giới hạn của tín ngưỡng để tái tạo trên một bình diện thẩm mĩ mới. Con
quỉ trong truyện của Andersen có thể liều chết xông vào đám cháy để cứu một tập thơ
(Con quỉ và cửa hàng tạp hóa), thần Chết trở thành người chăm sóc linh hồn con
người trước khi tiễn đưa họ về thiên đường (Chuyện về một người mẹ). Quan niệm
nghệ thuật của Andersen rất đỗi đơn giản nhưng chứa đựng rất nhiều thi vị, với ông
con người chỉ có thể hòa hợp với thiên nhiên, mạnh mẽ trong thiên nhiên. Nghệ thuật
phản ánh cuộc sống chính vì vậy nghệ thuật đẹp nhất, nghệ thuật đích thực vẫn là
cuộc sống. Con chim họa mi giả dù hót hay đến đâu chăng nữa thì cũng không thể
giữ mãi tiếng hót trong trẻo như con chim họa mi thật, con chim nhỏ bé của đất trời
tự do bao la (Con chim họa mi).
Andersen kết cấu các truyện kể của mình theo lối kết cấu dân gian, tuân theo
logic nhân quả. Tuy nhiên, các sáng tác truyền miệng thường được tổ chức một cách
ngắn gọn, đơn giản hơn. Truyện của Andersen thường được xây dựng theo lối kết cấu
dài. Có khi ông đi vào đề là một câu chuyện khác, nhưng toàn bộ diễn biến lại là
những câu chuyện tưởng chừng như không đi vào vấn đề chính, vậy mà cuối cùng lại
nổi bật ý nghĩa của câu chuyện mà tác giả không cần kể, không cần phải bình xét.
Câu chuyện “Dòng họ nhà chị vịt Meg” là một ví dụ điển hình. Câu chuyện về sự
phát triển hưng thịnh đến suy vong của một dòng họ, cuộc đời của một thiếu nữ xinh
đẹp, có nghị lực nhưng không hạnh phúc trong cuộc đời được tái hiện lên trong quá
khứ, mà hiện tại chỉ còn là một khu nhà đổ nát làm chuồng cho vịt ở. Lẽ hưng phế
trong cuộc đời và sự lãng quên của hiện tại đối với quá khứ thật chua xót biết bao
nhiêu. Andersen cho xuất hiện trong tác phẩm của mình rất nhiều những nhân vật
bình dân, ông cho họ những kết thúc không có hậu, ông đặt vào truyện những lời tự
sự, những triết lí thiết tha, cháy bỏng. Chính vì vậy, người đọc thưởng thức truyện
của ông như những lát cắt của cuộc sống, chân thật đấy nhưng vẫn không kém phần
mộng mơ, thi vị.
Về cách mở đầu, phần nhiều các sáng tác của Andersen có mở đầu theo một
phong cách riêng, không như cổ tích. Ở đây, chúng tôi tạm thời phân loại một số cách
mở đầu truyện của ông như sau:
- Câu chuyện mở đầu bằng sự hiện diện trực tiếp của cái tôi tác giả: “Các bạn
hãy chú ý, tôi bắt đầu kể…”(Nữ chúa Tuyết)
- Mượn lời của một nhân vật để kể lại câu chuyện mà nhân vật từng trải qua
hoặc chứng kiến: “Bác kể cho các cháu nghe một chuyện bác được nghe từ
nhỏ…”(Ông già làm gì cũng đúng)
- Mở đầu bằng cách nói có tính chất nửa vời: “Câu chuyện này gồm có hai
phần, phần đầu có thể lặng lẽ lướt qua…”(Một chuyện đau lòng)
- Mở đầu bằng cách gợi mở: “Câu chuyện này xảy ra lâu lắm rồi, chính vì vậy
càng phải nên kể lại kẻo mọi người quên mất…”(Chim họa mi)
- Mở đầu bằng lời khẳng định: “Bây giời chúng sắp sửa xem chuyện gì đã xảy
đến với họ, vì đây là một chuyện có thật…”(Cu nhớn và cu con)
- Mở đầu bằng cách nói giản dị, ngắn gọn: “Các bạn hãy lắng nghe câu chuyện
nhỏ này…”(Bông cúc trắng)..
Mỗi cách mở đầu khác nhau đều tạo nên một tác dụng riêng, và điều dặc biệt là
tạo nên một phong cách rất riêng của Andersen mà người đọc không thể nhầm lẫn với
bất cứ ai.
Bên cạnh đó, ở phần kết thúc truyện, Andersen cũng đã có phần lớn các tác
phẩm kết thúc không có hậu. Bởi lẽ trong thực tế không phải lúc nào cái thiện cũng
chiến thắng, và cái ác bị tiêu diệt. Ông khơi gợi lòng hướng thiện trong mỗi con
người bằng cách đề cao lòng nhân ái, nói lên tiếng nói của lương tâm con người.
Ngay cả nhân vật xấu xa, độc ác nhất vẫn có những phút hướng thiện tốt đẹp, và
những nhân vật lương thiện vẫn có các thói hư tật xấu riêng. Cho nên điều quan trọng
không phải là thiện hay ác chiến thắng, mà quan trọng là con người ta phải làm sao
càng ngày càng tới gần cái thiện và rời xa cái ác. Cái thiện có thể bị tiêu diệt nhưng là
bước chuẩn bị cho những điều tốt đẹp hơn sau đó ra đời.
Truyện của Andersen không quá xa rời với hiện thực, bởi theo ông “Truyện
phiêu lưu kỳ diệu nhất cũng từ thực tại mà ra”. [10, 126]. Ông đã từng bước xóa bỏ
sự ngăn cách giữa hiện thực và ước mơ, giữa thế giới thần kì với cuộc sống hiện tại.
Tất cả những hình tượng trong tác phẩm đều xuất phát từ cuộc sống và cuối cùng
quay trở về phục vụ chính cuộc sống.
Với sự kết hợp giữa tình cảm và triết lí, Andersen đã đem đến cho biết bao thế
hệ người đọc trên khắp thế giới những giấc mơ cao đẹp, những bài học giản dị nhưng
sâu sắc trong quá trình hoàn thiện nhân cách con người mình. Con người theo
Andersen phải biết làm chủ bản thân, phải hiểu được vị trí của mình, phải làm tròn
trách nhiệm mà cuộc đời giao phó. Thế nhưng những triết lí đó không phải như một
thứ triết học trừu tượng khô khan. Andersen có thể gởi gắm qua một câu chuyện đẹp
như một bài thơ với cảnh thiên nhiên thơ mộng, qua những lời tâm sự, dặn dò thiết
tha, qua sự phê phán, châm biếm…Cho nên thế hệ độc giả lớn tuổi vẫn thích đọc
truyện cổ Andersen, bởi họ vẫn tìm thấy ở đó những điều để răn mình, nhưng không
giáo điều khô khan, mà chân tình, nhẹ nhàng, thâm thúy…
Những câu chuyện của Andersen đã làm được việc mà ông hằng mong mỏi, đó
là tìm ra con đường liên kết mọi trái tim. Không còn là “chuyện con nít”, không phải
là chuyện của xứ sở Bắc Âu xa xôi, mà đó là chuyện của con người, của mỗi chúng
ta. Và chính điều đó đã đưa tên tuổi của ông lên một vị trí đặc biệt trên văn đàn thế
giới.
Qua những điều đã khảo sát về truyện của Andersen cũng như những nét đặc
sắc riêng của ông, chúng ta có thể nhận thấy không thể gọi những truyện kể của
Andersen là truyện cổ được. Điều đó cũng được nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận và
chọn một tên gọi đúng đắn nhất : truyện kể Andersen.
1.2.2.Yếu tố tự nhiên xã hội ảnh hưởng tài năng của Andersen
Đan Mạch nằm ở Bắc Âu, một vùng đất lạnh lẽo khiến cho con người dễ cảm
thấy cô đơn. Tuy nhiên, Đan Mạch ít chịu rét hơn, lại ảnh hưởng từ đại dương.
Andersen sinh ra tại thành phố Odense, một thành phố nằm trong thung lũng giữa
những quả đồi thấp trên đảo Fiun. Những thung lũng đó hầu như quanh năm sương
mù lẩn quất, còn trên đỉnh những quả đồi lại nở hoa thạch thảo. Pauxtôpxki đã ví
Odense như một thành phố đồ chơi của trẻ con bằng gỗ sồi đen. Bởi vì nơi đây nổi
tiếng với nghề chạm gỗ. Những người thợ lành nghề đã chạm trổ một bàn thờ đồ sộ
cho thánh đường Odense, và làm những pho tượng lớn để trang trí cho mũi của
những con tàu buồm rong ruổi khắp đại dương. Chính cái thành phố đồ chơi ấy phải
chăng đã hun đúc cho tâm hồn thơ trẻ của Andersen trí tưởng tượng phong phú, bay
bổng về những điều kì diệu, để ông sáng tạo nên nhiều kiệt tác?
Đất nước Đan Mạch với những rừng dẻ gai, những ao hồ núi non, hải đảo và
biển cả với sương mù, băng tuyết đã giúp Andersen tạo nên một thế giới thiên nhiên
sinh động, đầy màu sắc, thiên nhiên hơn lúc nào hết trở thành con người, thành nhân
vật trong các câu chuyện kể của ông với đầy đủ những hỉ, nộ, ái, ố của cuộc đời.
Trong rất nhiều câu chuyện của mình, Andersen đã tập trung miêu tả tỉ mỉ cảnh thiên
nhiên, và thiên nhiên chính là bước chuẩn bị, là cái cớ cho con người xuất hiện. Họ
gắn bó trong thiên nhiên không thể tách rời.
Andrsen lớn lên trong một gia đình lao động nghèo khổ, thuộc lớp người dưới
đáy xã hội. Ông không được nuôi dưỡng chu đáo. Từ nhỏ, cậu bé Andersen hay bám
theo bà nội đến bệnh viện để chăm sóc mảnh vườn hoa nơi đó. Bà nội vốn là người
có tài kể chuyện và bịa chuyện. Thêm vào đó là những câu chuyện không đầu không
đuôi của các bà lão lẩn thẩn trong viện. Thế nhưng chừng ấy cũng đủ cho ông nguồn
vốn văn chương bất tận để sáng tạo. Người bố làm thợ giày vốn hiền lành và ít nói
của Andersen lại luôn mong ước con trai có được tương lai xán lạn. Ông đã làm cho
Andersen những món đồ chơi đẹp, và đọc cho nghe những câu chuyện, những vở
kịch nổi tiếng. Cùng với những huyền thoại, những lễ hội phong phú của quê hương
đã đem đến cho Andersen trí tưởng tượng bay bổng, phong phú.
Vào những năm 30 của thế kỉ XIX, nền văn hóa nghệ thuật Đan Mạch bước
vào thời kì hoàng kim, giã từ chủ nghĩa cổ điển hướng theo chủ nghĩa lãng mạn đang
phát triển mạnh mẽ ở Châu Âu. Andersen đã chịu ảnh hưởng lớn từ các thế hệ đi
trước như nhà thơ, nhà tiểu thuyết lịch sử B.S.Ingemann(1789-
1862),A.Ochoehlenslhager(1779-1850),N.Grudtvig (1783-1872)…
Không dừng lại trong phạm vi Đan Mạch, trong suốt 70 năm của cuộc đời,
Andersen đã từng du lịch 29 lần ra nước ngoài như Đức, Anh, Ý, Thụy Sĩ, Tây Ban
Nha, Bồ Đào Nha, đến tận Trung Cận Đông…Ông nói “Những chuyến đi thật cần
thiết đối với tôi, không phải là để tạo nguồn cảm hứng mới, bởi nguồn mạch khá
phong phú mà cuộc sống ngắn ngủi sẽ làm khô cạn, mà cốt để tạo cho mình một ý
tưởng, một hình thức mạnh mẽ và mới lạ trong một khung cảnh chưa quen biết”. [10,
9].Những chuyến đi với những lần gặp gỡ các nhà văn, nhà tư tưởng vĩ đại như
Henrik Heine (1797-1856), V.Huygo(1802-1885), hay Lamartine, Balzac, A.Dumas..
đã giúp cho ông mở rộng tầm mắt, và chính vì vậy, tác phẩm của ông có sự pha trộn
của cả văn hóa Đan Mạch, văn hóa Bắc Âu và cả văn hóa Châu Âu.
Được nổi tiếng và tôn vinh như một công dân danh dự khắp Châu Âu, nhưng
trong tâm hồn Andersen vẫn mang một điệu buồn, một “nỗi buồn cô đơn man mác
triền miên”. Điều đó bắt nguồn từ nỗi buồn gia đình, đến giai cấp xuất thân mà
Andersen luôn mặc cảm. Cho nên Andersen đã tạo nên một thế giới nhân vật với đầy
đủ các tầng lớp người trong xã hội, và bao giờ ông cũng mang đến cho họ niềm mơ
ước lạc quan của cuộc sống. Vì thế mà truyện của ông không chỉ mang nặng chất tự
truyện của riêng ông mà là dáng dấp của tất cả những ai còn bất hạnh nhưng luôn
khao khát được vươn lên trong cuộc đời.
Lẽ đương nhiên, điều quan trọng nhất tạo nên thiên tài Andersen chính là khả
năng thiên bẩm của ông. Và tài năng ấy trải qua bao nhiêu thời gian, bao nhiêu thử
thách, vẫn luôn là bạn đồng hành tin cậy cho bất cứ những ai yêu cái thiện và ước
mong hướng tới Chân,Thiện, Mĩ trong cuộc đời này.
Khác với truyện cổ tích dân gian, truyện cổ tích nhà văn ghi nhận những dấu
ấn riêng trong sự sáng tạo của từng tác giả. Bên cạnh Perrault của Pháp, anh em
Grimm của Đức, hay các tác giả của Nga, Việt Nam…Andersen là nhà kể chuyện cổ
tích thiên tài với những đặc trưng rất riêng. Sức sống của các tác phẩm từ tài năng
sáng tạo của ông mà hình thành nên lẽ đương nhiên không bao giờ phai nhạt trong
tim mỗi người đọc qua bao thế hệ.
CHƯƠNG 2 : TỪ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI
ĐẾN THẾ GIỚI NHÂN VẬT CỦA ANDERSEN
2.1.Quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất cơ bản của thi pháp
học. Theo giáo sư Trần Đình Sử, vấn đề quan niệm nghệ thuật là khái niệm lí luận
quan trọng bậc nhất trong mấy thập niên qua, có ý nghĩa trả về cho văn học bản chất
nhân học. Vì vậy, theo ông để nghiên cứu vấn đề này, trước hết phải chú ý ở mấy vấn
đề như sau.
Thứ nhất, « quan niệm » không phải là khái niệm về đối tượng, về hiện thực,
mà là khái niệm về sự cắt nghĩa đối với đối tượng và hiện thực. Gắn liền với sự cắt
nghĩa là ý nghĩa của đối tượng, của hiện thực đối với chủ thể. Do vậy, « quan niệm »
xét về bản chất là một khái niệm về chủ thể, khái niệm về hệ qui chiếu, thể hiện tầm
lí giải, tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm…nói tổng quát là
tầm hoạt động của chủ thể. Quan niệm cung cấp một mặt bằng để trên đó diễn ra sự
lựa chọn khái quát, nhào nặn tạo ra hình tượng nghệ thuật, thậm chí có thể biến đổi
hình dạng sự vật hoặc miêu tả « không chính xác » về đời sống.
Thứ hai, trong nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật là một thứ giới hạn của tư duy
nghệ thuật, nó thể hiện một hiện tượng khách quan là thể thống nhất giữa hiện thực
được phản ánh và năng lực cắt nghĩa, lí giải của con người.
Thứ ba, với tư cách là giới hạn của tư duy nghệ thuật, của thế giới nghệ thuật,
quan niệm nghệ thuật là cơ sở chắc chắn nhất để nghiên cứu tính độc đáo của sáng tác
nghệ thuật cũng như sự tiến bộ của nghệ thuật.
Thứ tư, « quan niệm » vốn có bản chất của phương pháp, để sáng tạo ra một
thế giới nghệ thuật mới, nghệ sĩ chí ít phải có quan niệm về thế giới ấy như một điều
kiện tiên quyết, và với ý nghĩa đó nó là phương pháp sáng tạo. Do vậy, không thể
xem phương pháp chỉ như một nguyên tắc xuất phát của nhận thức chung, bởi nó là
điểm xuất phát có tính sáng tạo. Tuy nhiên khái niệm phương pháp ở đây cần được
hiểu ở ý nghĩa mở rộng
Thứ năm, cần phải phân biệt quan niệm tư tưởng với quan niệm nghệ thuật của
tác giả, dù cái sau có liên quan tới cái trước và là sự thể hiện của cái trước. Như vậy,
xem quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người là yếu tố của thế giới quan nhà
văn, nhấn mạnh vai trò tạo thế giới quan của nhà văn là đúng. Nhưng nếu tất cả đều
qui về quan niệm thế giới quan, qui về quan niệm xã hội là xem nhẹ đặc trưng sáng
tạo nghệ thuật của tác giả
Thứ sáu, khi nghiên cứu tính độc đáo của sáng tạo mà chỉ dừng lại ở việc phát
hiện các nguyên tắc thế giới quan là chưa đủ, mà cần phải xem xét cách mà các
nguyên tắc thế giới quan ấy chuyển hóa thành nguyên tắc của cái nhìn nghệ thuật đối
với thế giới thì mới hiểu nhiệm vụ của nhà văn, tính sáng tạo nghệ thuật của anh ta.
« Nghệ thuật bắt đầu ở nơi bắt đầu có hình thức nghệ thuật ».(L.Vưgốtxki).
Nói tóm lại quan niệm nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật học, nó gắn bó
với quan niệm thế giới quan, triết học, xã hội học về con người và thế giới nói chung,
nhưng tự bản thân nó đã là một ý thức hệ đặc biệt gắn liền với nhiệm vụ miêu tả nghệ
thuật. Đó là ý thức hệ nhân bản mà mục đích là khám phá ngày càng sâu sắc con
người như nó tự cảm nhận trong lịch sử tự nhiên xã hội và lịch sử với tất cả dự phong
phú và tinh tế.
Văn học nghiên cứu và thể hiện con người một cách đặc thù. Văn học không
ngừng khám phá, chiếm lĩnh những biểu hiện nhiều mặt của đời sống, tính cách, cảm
xúc, số phận con người. Con người trong văn học được thể hiện thông qua sáng tạo
nghệ thuật của nghệ sỹ, kết tinh ở hình tượng nghệ thuật. Khi sáng tạo ra nhân vật
bao giờ nhà văn cũng miêu tả theo cách hình dung, cảm nhận của mình. Mọi quan hệ
và chiều hướng con đường đời của nhân vật đều được thuyết minh từ “ cái nhìn nghệ
thuật”- từ quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của người nghệ sĩ. Nhà văn
quan niệm về con người như thế nào thì sẽ lựa chọn các phương tiện nghệ thuật thể
hiện phù hợp như thế. Chính nguyên tắc cắt nghĩa, lý giải tính qui luật số phận con
người của nhà văn đã phản ánh trình độ tư duy nghệ thuật, vai trò sáng tạo của họ
trong dòng chảy của văn học dân tộc
Từ đó, chúng ta có thể thấy, văn học nghệ thuật là một sự ý thức về đời sống,
nên nó mang tính chất quan niệm rất cụ thể. Hình tượng nghệ thuật một khi đã hình
thành là mang tính chất quan niệm, ngay cả vô thức cũng là quan niệm về cái vô thức.
Nhà văn không thể miêu tả đối tượng mà không có quan niệm về đối tượng. Quan
niệm là phương tiện thiết yếu để sáng tạo nghệ thuật.
Thông thường khi nghiên cứu nhân vật, chúng ta thường quan tâm đến tính
cách nhân vật, khái quát tính cách nhân vật là tốt hay xấu, cao thượng hay thấp hèn.
Rồi tìm các chi tiết để chứng minh. Nhưng vấn đề là nhà văn đã chọn chi tiết ấy theo
quan niệm nào. Quan niệm nghệ thuật gắn liền với thế giới quan, với quan điểm triết
học, chính trị. Nhưng nó có sự chuyển hóa từ quan niệm chính trị, quan niệm triết học
sang quan niệm nghệ thuật. Quan niệm ấy gắn liền với phương tiện nghệ thuật.
Với vị trí như vậy, chúng ta không thể tiếp cận với nghệ thuật một cách nghệ
thuật khi không phát hiện được quan niệm nghệ thuật về con người. Quan niệm nghệ
thuật về con người gắn liền với cá tính sáng tạo của nhà văn, với vận động của lịch
sử. Để tìm hiểu thế giới nhân vật của Andersen, việc đầu tiên yêu cầu chúng ta phải
tìm ra được quan niệm nghệ thuật về con người của ông. Trong các sáng tác của
mình, Andersen không đưa ra những tuyên ngôn cụ thể về con người, nhưng người
đọc có thể cảm nhận và suy luận được qua những điều mà ông gởi gắm. Cũng thật
chân thành và gần gũi như câu chuyện kể của mình, Andersen đưa ra các quan niệm
về con người phù hợp với tâm lí, ước mơ, nguyện vọng dành cho tất cả mọi người, ở
mọi thế hệ khác nhau.
2.2. Quan niệm nghệ thuật về con người của Andersen
2.2.1.Con người – Chủ thể sinh động của cuộc sống và sáng tạo
Đối với Andersen, con người chính là con người của xã hội. Trong môi trường
đa dạng và phức tạp đó, con người với những nét tính cách riêng, theo các mức độ
nông sâu khác nhau đã tạo nên một thế giới nhân vật phong phú, sinh động, thể hiện
thế giới quan sâu sắc của chính tác giả.
Con người trong tác phẩm của Andersen là con người làm chủ số phận và cuộc
đời mình. Truyện kể của ông mang phong vị thần tiên, với khung cảnh lung linh
huyền ảo, thế nhưng đằng sau tất cả vẫn là hiện thực, là cuộc sống con người với bao
trăn trở của người viết ra nó. Chính vì vậy mà truyện kể của ông thích hợp cho mọi
người, ở bất cứ một thời đại nào. Nhưng trước hết, đối tượng gần gũi cùng ông nhất
vẫn là thiếu nhi, nên ông luôn xây đắp rất nhiều hình tượng đẹp để các em nhìn vào
đó mà học tập, suy ngẫm về bản thân mình, về sự rèn luyện, nhân cách, phẩm giá của
chính mình. Xuất phát từ hoàn cảnh riêng của bản thân, Andersen cũng thường khai
thác hình ảnh những trẻ em nghèo, bất hạnh, những người lớn có hoàn cảnh đáng
thương. Họ luôn bị ám ảnh bởi cuộc sống cơm áo gạo tiền, bởi đói rét, bệnh tật. Họ là
những mảng màu đối lập với cuộc sống hoa lệ, giàu sang xung quanh. Đó là một em
bé bán diêm nghèo chết trong đêm mùa đông lạnh giá, đó là một em bé xuất thân từ
tầng lớp thấp hèn trong xã hội nên không được tham gia buổi tiệc với đám trẻ em
thượng lưu, đó là hai mẹ con người thợ giặt « vô tích sự », « hư hỏng » như người đời
nhận xét dù người ta vẫn rất tốt bụng và lương thiện. Cuộc sống của họ chính là hình
ảnh thu nhỏ của Đan Mạch hay bất cứ một quốc gia nào, nơi vẫn còn rất nhiều những
ngang trái bất công.
Thế nhưng tất cả không phải đều khép cửa với họ. Bởi lẽ con người trong tác
phẩm của ông còn luôn biết vươn lên, chiến thắng mọi khắc nghiệt của cuộc sống để
làm chủ số phận của mình. Đứa trẻ xuất thân bần hàn kia sau thành nhà kiến trúc nổi
tiếng. Mẹ con người thợ giặt vẫn có được tình thương từ nhiều người tốt bụng khác
bởi bản chất của họ là tốt đẹp. Ngay cả cô bé bán diêm dù phải chết nhưng đã chết
trong những mộng tưởng sung sướng cao đẹp, và ngay cả việc em không còn phải
sống để tiếp tục chịu cảnh cực khổ đói rét cũng đã là một sự giải thoát rồi. Con người
trong tác phẩm của ông luôn luôn đấu tranh để vươn lên, vượt qua những khó khăn
thử thách của thực tại. Cuộc sống luôn là sự đấu tranh không ngừng. Trước những thế
lực tàn ác, có sức mạnh, có quyền lực, thì con người vẫn luôn khẳng định được vị trí,
vai trò của mình. Câu chuyện « Bầy chim thiên nga » là liên tục những thất bại của
mụ phù thủy. Những con cóc mụ thả vào bồn nước cho Lidơ tắm với mong muốn
nàng trở nên xấu xí, tàn ác, ngu ngốc cuối cùng lại hóa thành những bông hoa xinh
đẹp, bởi vì chúng đã chạm đến trái tim nàng Lidơ. Âm mưu biến mười một hoàng tử
thành thiên nga vĩnh viễn cũng thất bại bởi vì tình thương của Lidơ dành cho các anh
là quá lớn, nó đủ sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Nếu bỏ đi lớp vỏ
thần tiên, huyền thoại, câu chuyện là một áng văn bất tử về tình người, về ý chí nghị
lực vươn lên đấu tranh để giành lấy quyền sống, quyền được sinh tồn của con người.
Không phải ngẫu nhiên mà tác giả xây dựng nên những chiến thắng của con người
trong mọi cuộc đấu tranh với thiên nhiên kì bí, với những thế lực tàn ác Chẳng hạn
như câu chuyện về nữ chúa tuyết, đây là một minh chứng cho sự chiến thắng của con
người trước thiên nhiên. Nữ chúa tuyết luôn muốn bắt sống Ruydi, nhưng hết lần này
đến lần khác mụ đều thất bại. Cho đến lần cuối cùng, khi chàng cùng vợ sắp cưới đi
chơi trên hồ, mụ mới thành công. Thế nhưng điều mà nữ chúa tuyết làm được cũng
chỉ là lớp vỏ bên ngoài, có bắt được con người nhưng không thể động chạm đến tâm
hồn họ, đến khát vọng về cuộc sống và sự vươn lên của họ. Và thực sự họ cũng
không hề cảm thấy buồn « can chi mà buồn ». Rõ ràng Andersen muốn nhấn mạnh
thiên nhiên dù rộng lớn bao la đến vô tận song con người vẫn vượt lên, vẫn luôn làm
chủ nó. Đó chính là niềm tin bất diệt của tác giả về con người, những con người nhỏ
bé nhưng sức mạnh lớn lao, vĩnh cửu.
Tuy nhiên, con người không phải lúc nào cũng đối đầu với thiên nhiên. Thực
tế, con người chỉ có thể sống tốt, sống vui vẻ khi sống cùng với thiên nhiên. Truyện
của Andersen còn là một bức thông điệp lớn về khả năng hòa hợp với thiên nhiên của
con người. Trên những bước đường lưu lạc của nhân vật, khi họ bơ vơ, lang thang
không nơi nương tựa, thì rừng xanh luôn mở rộng vòng tay để che chở cho họ. Cô bé
Lidơ, nàng Bạch Tuyết đều phải trải qua những ngày tháng cô độc trong rừng, nhưng
họ vẫn mạnh khỏe, xinh đẹp nhờ cây rừng trĩu quả ngọt cho họ hái, nhờ nước suối
trong mát cho các nàng uống và tắm gội. Đại dương mênh mông là nơi con người gột
rửa mọi dơ bẩn để tìm lại tâm hồn đích thực của mình. Dù thiên nhiên có mạnh mẽ,
lớn lao bao nhiêu, nhưng con người vẫn có thể tìm thấy sự bình yên ở đó, khi họ biết
yêu và sống hết mình cho người Mẹ thiên nhiên vĩ đại.
Khác với truyện cổ tích dân gian, Andersen đã không để cho nhân vật của mình
có nhiều cơ hội được thần tiên giúp đỡ, họ không chỉ biết thụ động chờ đợi sự ban
phát đơn thuần, mà họ chủ động đấu tranh để giành lấy hạnh phúc cho mình. Thậm
chí ngay cả trong trường hợp được thế lực siêu nhiên giúp đỡ, thì quyền quyết định
vẫn là ở con người. Không như cô Tấm của cổ tích Việt Nam, ngồi khóc và được Bụt
giúp đỡ, nàng tiên cá phải mình quyết định hạnh phúc cho mình. Và vì tình yêu, nàng
đã từ bỏ cuộc sống êm đềm nơi thủy cung, chấp nhận dấn thân. Lidơ phải cứu anh
bằng chính sức mình. Vịt con xấu xí phải tự mình vượt qua mùa đông lạnh giá trước
khi trở thành thiên nga xinh đẹp. Đây phải chăng cũng là lời nhắn nhủ của tác giả đến
người đọc, không có sự giúp đỡ nào tốt bằng sự nổ lực của chính bản thân mình ?
Xuất phát từ quan niệm xem con người như một chủ thể của cuộc sống, nên đối
với Andersen, mối quan tâm lớn nhất, được thể hiện nhiều nhất chính là con người.
Dù cho truyện của ông kể về đồ vật, loài vật, thiên nhiên...nhưng tất cả đều mang
dáng dấp của con người, là nói chuyện của con người. Và trong mỗi tác phẩm, con
nguời luôn là trung tâm, con người thể hiện bản ngã của mình giữa vũ trụ. Thần tiên,
ma quỉ, có chăng cũng chỉ để làm nổi bật con người lên chứ không có khả năng chi
phối, quyết định số cho con người. Qua từng câu chuyện kể, Andersen đã bộc lộ niềm
hứng khởi đến mức say mê khi viết về con người. Cuộc sống, tình yêu, hạnh phúc, sự
khổ đau, bất hạnh, trừng phạt...thói quen, tính xấu, nết tốt...tất cả đều tập hợp, hiện
diện trong các câu chuyện kể. Con người có thể tìm thấy ở đó những điều quen thuộc,
gần gũi với bản thân, và cả những thứ mà họ không thể vươn tới trong hiện tại mà chỉ
ước mơ, hi vọng ở tương lai. Từ con người, tác giả đã bộc lộ được thế giới quan, nhân
sinh quan của chính mình và giúp cho con người nhìn nhận ra chính mình. Tình yêu
không vụ lợi của nàng tiên cá, sự hi sinh quên mình của Lidơ, đó chẳng phải là điều
mà mọi con người đều khao khát được hướng tới hay sao ?
Andersen là một nhà văn với cặp mắt nhìn xuyên suốt cuộc sống, ông quan tâm
đến mỗi cành cây ngọn cỏ, đến từng rung động tinh tế nhất trong tâm hồn con người.
Con người – theo quan niệm của ông, đó chính là chủ thể sinh động nhất của cuộc
sống. Và nghệ thuật đích thực không gì khác chính là cuộc sống, xuất phát từ cuộc
sống.
2.2.2. Con người – Khát vọng cao đẹp về Chân, Thiện, Mĩ
Một trong những chức năng chính của văn học đó là chức năng giáo dục con
người. Văn học phải làm sao để giúp cho độc giả của mình nhận thức được điều hay
lẽ phải, hướng con người đến với cái đẹp, cái thiện. Andersen là một nhà văn gặp
nhiều thăng trầm trên bước đường đời, nhưng lúc nào cũng vậy, ông luôn đem đến
cho độc giả của mình những câu chuyện với đầy ắp mộng tuởng của cuộc sống.
Người ta có thể nghèo đói, người ta có thể xuất thân thấp hèn, nhưng không gì ngăn
cản được người ta vươn đến những điều tốt đẹp. Và cho dù có kể về những điều xấu
xa, đáng bị chê trách thì mục đích vẫn để giúp cho con người nhận thức được để
không bị vướng phải.
Con người trong truyện kể của ông trước hết là những con người cao đẹp trong
cuộc sống, vị tha, nhân hậu trong tình yêu. Andersen hướng về thế giới của những
con người bất hạnh, nghèo khổ, nhưng không phải như một đối tượng đáng thương,
mà ông khai thác cái phần tốt đẹp, trong trẻo như một sự đối lập với cái tối tăm, ảm
đạm của cuộc đời. Thế giới vốn rộng lớn và phức tạp, và những nhân vật được phản
ánh trong thế giới ấy cũng có muôn vàn dáng điệu, tính cách khác nhau. Điều mà
Andersen muốn nhấn mạnh ở đây là mặt tốt đẹp của họ, ông muốn tô vẽ lên những gì
tốt đẹp để làm xóa mờ đi những gì là xấu xa, không đáng được trân trọng trong cuộc
đời. Một nàng công chúa Lidơ xinh đẹp sẵn sàng chấp nhận mọi đau đớn, sự nghi
ngờ, kể cả bước lên giàn hỏa thiêu để cứu các anh mình khỏi âm mưu thâm độc của
mụ dì ghẻ, một nàng tiên cá đánh đổi tất cả để có được tình yêu với hoàng tử, và
không hề hận thù khi chàng không đáp lại tình cảm, một bà mẹ sẵn sàng cho đi đôi
mắt, giọng nói và cả mạng sống của mình dù chỉ để gặp lại đứa con thơ vừa bị thần
Chết bắt đi. Tất cả những sự hi sinh đó đều không cần trả giá, không cần bất cứ một
đáp đền nào. Con người hành động hơn hết chỉ vì tình yêu thương của bản thân dành
cho người khác, đó là tình yêu thương không hề toan tính, vụ lợi. Các nhân vật của
ông cũng không cần đến nhiều sự phù trợ từ các lực lượng siêu nhiên, thần bí, bởi
lòng vị tha của họ chính là sức mạnh lớn lao nhất để giúp họ vượt qua mọi thử thách
mà chiến thắng. Hầu như không có nhân vật nghèo nàn nhưng tính tình xấu xa trong
tác phẩm của Andersen. Cái nghèo đơn giản chỉ là hoàn cảnh sống, như một lớp áo
bên ngoài, không thể ảnh hưởng được đến tâm hồn, tính cách bên trong. Hoặc có khi,
chính cái sự nghèo nàn ấy lại là một thứ của cải vô giá không phải ai cũng có được.
giống như câu chuyện Trạng Quỳnh cho chúa ăn món mầm đá của người Việt,
Andersen nhiều lần nhắc tới niềm hạnh phúc vô biên khi được làm một con người
bình thường, giữa một cuộc sống bình dân mà gần gũi, thân thiện, luôn mang những
ước mơ, khát vọng vươn lên dù cho có gặp hoàn cảnh khó khăn, bị vùi dập trong
cuộc đời Và hơn hết, để giành chiến thắng, con người buộc phải có lòng tin, tình yêu
thương. Quan niệm đó về con người phải chăng luôn luôn mới mẻ qua bất cứ thời đại
nào.
Hết lòng ca ngợi con người, Andersen cũng thẳng tay và mỉa mai đối với tất cả
những gì khinh thị con người, đối với bất công và lừa dối. Từ đó, ông phê phán, châm
biếm những thói hư tật xấu trong cuộc đời. Nhưng phê phán không phải để triệt tiêu
nó, mà là để cảm hóa, phục thiện cho nó. Bởi vì Andersen hiểu rằng bản chất sâu xa
của mọi người luôn là tốt đẹp. Câu chuyện « Bộ quần áo mới của hoàng đế » là một
lời châm biếm sâu cay dành cho những kẻ kiêu căng, hãnh tiến, muốn có được sự hào
nhoáng bên ngoài nhưng bên trong lại rỗng tuếch, vô nghĩa. Mà điều đáng nói hơn là
nó đã lây lan ra toàn xã hội, người ta dù nhận ra hay không vẫn không dám chỉ mặt,
vẫn ngấm ngầm công nhận, thỏa hiệp cùng với nó. Chiếc áo tưởng tượng do bọn thợ
may lừa bịp may cho hoàng đế đã che mắt được tất cả xã hội, kể cả những quan lại tài
giỏi, những sinh viên có học thức, những người già có vốn sống dày dạn. Đó phải
chăng chính là thực tại của cuộc sống, con người ta vốn không đủ dũng cảm để làm
những điều trái với thói quen, nề nếp của xã hội, dù họ biết thói quen nề nếp đó là
xưa cũ, là lỗi thời, cần phải xóa bỏ đi ? Có phải vì vậy mà người ta phải trả giá bằng
cái chết khi dám tuyên bố là trái đất hình cầu, trái với niềm tin bất diệt từ xưa đến nay
là trái đất hình vuông và đứng yên ? Thế nhưng chân lí thì bao giờ cũng phải được
phơi bày, dù cho có phải trả giá như thế nào chăng nữa.Và Andersen cho cái người
dám đứng ra nói sự thật ấy là một đứa trẻ con. « Ra đường hỏi mụ tra, về nhà hỏi con
nít ». Trẻ em, một đối tượng còn ngây thơ, trong trắng, chưa bị bất cứ một chút vụ lợi
nào làm cho vẫn đục, chính là ngọn nguồn để hướng những người lớn, trưởng thành
quay trở về với chân lí, với những niềm tin thánh thiện trong cuộc đời. Nghĩa là chân
lí chỉ đến với những ai biết nhìn nhận thẳng sự thật mà không qua bất cứ một lớp vỏ
bọc che chắn nào. Chân lí đối với Andersen gắn với sự thật, chỉ những ai vô tư,
không vụ lợi mới đến được với sự thật. Có chất hài hước, vui vẻ, châm biếm, nhưng
sâu xa ở đó, câu chuyện thể hiện niềm tin bất diệt của tác giả vào một thế giới với
những điều trong sáng, thánh thiện, đó chính là sức mạnh để giúp con người vượt qua
mọi thử thách trong cuộc đời.
Đọc các tác phẩm của Andersen, ta như thấy được bóng dáng của chính mình ở
đó, một chút những nét tính cách tốt đẹp, kể cả những thói hư tật xấu. Cho nên nhân
vật của ông thường kết thúc không gặp một kết thúc dữ dội, bi thảm kiểu truyện cổ
tích dân gian, kẻ ác phải bị trừng trị đích đáng, mà ông luôn dành cho họ một khoảng
trống, khoảng lặng để suy ngẫm. Vị vua thích quần áo mới kia cảm thấy xấu hổ, hoài
nghi khi đứa bé phát hiện ra sự thật, nhưng ông vẫn phải tiến hành cho xong buổi
nghi lễ, và có lẽ sau đó ông sẽ phải suy ngẫm lại tất cả. Câu chuyện « Cô gái dẫm lên
bánh mì » kể lại câu chuyện một cô gái kiêu căng, không hề xem người khác ra gì, kể
cả cha mẹ đẻ của mình. Một ngày nọ, cô được người khác cho một ổ bánh mì dặn
đem về cho mẹ, nhưng trên đường đi phải qua một chỗ lầy lội, sợ bẩn giày mới, cô đã
ném ổ bánh mì xuống bùn để dẫm lên mà đi. Không ngờ cô đã bị lôi xuống đầm lầy.
Nhưng nhờ biết ân hận, cuối cùng cô bé hóa thành con chim hải âu, một loài chim tốt
bụng luôn giúp đỡ, chia sẻ với đồng loại của mình. Nghĩa là con người ta luôn có một
con đường để quay đầu lại, miễn là họ biết phục thiện mà thôi. Như vậy, đối với
Andersen, trong mỗi con người luôn tồn tại những phần tốt đẹp, có khi nó bị phần
xấu xa lấn át, nhưng nếu nó được dẫn đường mở lối thì nhất định nó sẽ chiến thắng.
Đó cũng là niềm tin tưởng của ông ở con người, lòng nhân hậu của ông vì vậy mà
không bao giờ cạn.
Là một người sáng tạo nghệ thuật và dành hết tâm huyết cuộc đời mình cho
nghệ thuật, Andersen nhấn mạnh nghệ thuật đích thực phải gắn liền với cuộc sống,
không gì có thể gọi là nghệ thuật nếu nó nằm ngoài cuộc sống, nếu nó không vì con
người mà lên tiếng. Và suốt cả cuộc đời ông, ông đã dành mọi tâm huyết để chứng
minh cho điều ấy. Andersen đã hiểu được những ước mơ, khát vọng cháy bỏng của
con người, ông đã đưa họ vượt qua bao vất vả, khó khăn của cuộc sống thường nhật
để vươn đến một chân trời mới tốt đẹp hơn, ông nhấn mạnh quà tặng tươi đẹp nhất,
quí giá nhất của cuộc sống này chính là con người. Chính vì những ý nghĩa nhân văn
ấy mà Andersen hơn hết là một người bạn, của tất cả những ai biết buồn vui trong
cuộc đời.
Với những quan niệm nghệ thuật về con người như vậy, Andersen đã xây dựng
lên trong truyện kể của mình một thế giới nhân vật đa dạng, sống động với những
tính cách, tâm lí khác nhau, tạo nên muôn mặt, muôn chiều của cuộc sống
2.3. Thế giới nhân vật của Andersen
Nhân vật văn học vốn là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không
phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện
của con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách…Và
thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều,
đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa
sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là những sự
vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của con người, được dùng như
những phương thức khác nhau để thể hiện con người. Điều đó đã được thể hiện rõ nét
trong truyện kể của Andersen, ông đã mở rộng thế giới nhân vật của mình đến mức
tối đa, xuất phát từ tình yêu cuộc sống và tấm lòng đôn hậu dành cho bất cứ những gì
dù là nhỏ nhất. Từ những con người cao sang quyền quý hay thấp hèn, từ thiên nhiên
hùng vĩ bao la tươi đẹp đến một bông hoa, ngọn cỏ trong vườn nhà, đến những vật
dụng tầm thường, bỏ đi…tất cả đối với Andersen đều có tâm hồn, có tiếng nói, có hơi
thở riêng. Và ông nâng niu tất cả. Trong thế giới nhân vật phong phú, đa dạng ấy có
thể phân thành các nhóm nhân vật khác nhau.
2.3.1. Những nhân vật quen thuộc, gắn bó với cuộc sống con người
Khi viết những câu chuyện kể cho trẻ thơ, hơn ai hết, tác giả Andersen nhận
thức được rằng trẻ thơ là lứa tuổi mà tư duy còn chưa phát triển hết, sự nhận thức về
thế giới xung quanh chủ yếu qua tình cảm, sự quan sát thô sơ, và trí tưởng tượng mộc
mạc, giản dị. Do vậy, những gì thu hút chúng phải là cái gần gũi, thân thương, dễ
hiểu, luôn luôn trông thấy hàng ngày. Andersen đã đem vào trong những câu chuyện
của mình sự hóm hỉnh, vui tươi với thế giới nhân vật khá quen thuộc của cuộc sống
đời thường. Từ những đồ chơi của các em như con quay, quả bóng, một ống đựng
tiền, đến những vật dụng trong nhà như cái chổi, cái kim thêu, cái cổ áo, hay những
con vật nuôi quen thuộc như gà, vịt, ngỗng…tất cả đều được thổi hồn để trở nên sinh
động. Dưới dạng nhân cách hóa, Andersen đem đến cho các nhân vật của mình những
tính cách đa dạng : những thói hư tật xấu như ganh ghét, đố kị, ảo tưởng, nhiều
chuyện…và cả những nét nhân cách tốt đẹp, điều này đã tạo nên sức hấp dẫn kì diệu
cho trẻ thơ và sự thâm trầm, sâu sắc cho người trưởng thành.
Câu chuyện « Cây kim thêu » kể về cuộc hành trình của một cây kim, nó rất đỗi
bình thường nhưng khổ nỗi nó lại không nghĩ như vậy. Luôn luôn tồn tại trong ý nghĩ
của nó rằng nó là một cây kim bằng vàng nên rất cao sang, quyền quý, nó không thể
làm việc nặng nhọc. Cuối cùng, cây kim bị gãy, và phiêu lưu đến nhiều nơi : trong
bụng cá, trong ống nước, và cuối cùng nằm vô dụng ở một nơi không ai biết đến.
Tương tự, câu chuyện về cái cổ áo luôn tự huyễn hoặc mình về một nguồn gốc cao
sang, nên đi tỏ tình với rất nhiều đối tượng như cây kéo, bàn là, bít tất…kết quả là nó
bị cháy xém, bị cắt đi và vứt bỏ vào trong mớ vải vụn, thế nhưng nó vẫn luôn « hoài
cổ » về một thế giới hào quang mà nó tự thêu dệt lên. Đã đọc truyện Andersen chắc
có lẽ ai cũng biết đến câu chuyện « Vịt con xấu xí ». Thực chất đó là một chú thiên
nga bị đặt nhầm vào ổ trứng vịt, cho nên mới có biết bao chuyện buồn xảy ra. Khi
thấy một đối tượng khác mình, thế là ngay lập tức « cộng đồng » xúm lại chế giễu,
dèm pha, xua đuổi, chú thiên nga lạc loài phải trải qua rất nhiều đau khổ trước khi tìm
lại được giá trị đích thực của mình. Đây cũng chính là hiện thực của cuộc sống quanh
ta, con người dù chưa biết là tốt hay xấu, có giá trị hay không, nhưng chỉ cần họ khác
với tập thể, không giống với cái chung là ngay lập tức bị xa lánh, khinh thị. Từ câu
chuyện về một ả gà mái bị rụng một chiếc lông nhưng qua miệng nhiều « cô nàng
gà » khác lại trở thành câu chuyện có năm ả gà mái chết vì nhổ tiệt hết lông để làm
duyên với gà trống, người đọc thấy đâu đây cuộc sống của mình với những thói hư tật
xấu không dễ bỏ.(Một chuyện có thật). Đưa ra những câu chuyện hóm hỉnh, để cười
đùa nhưng ẩn sâu trong đó vẫn là sự mỉa mai, chua xót về thế thái nhân tình. Những
câu chuyện này đem đến cho trẻ thơ bài học về sự khiêm tốn, giản dị, là bài học về
cách sống biết người biết ta cho người trưởng thành. Thế mới thấy rằng, đồ vật vốn
không chỉ nằm vô tri vô giác, nếu ta biết cảm nhận về chúng, thì chúng sẽ trở nên
sống động biết bao nhiêu.
Thế nhưng Andersen không phải đến với cuộc đời để làm một người không
thừa nhận. Ông chỉ ra những điều xấu, nhưng mục đích là để phát hiện và ca ngợi
nhưng gì tốt đẹp, cao cả. Câu chuyện về chú chim họa mi hót hay được đức vua mời
về cung, dù đã hót cho vua và các triều thần nghe bằng tất cả tâm huyết của mình, thế
nhưng chú cũng không vượt qua được con chim họa mi giả. Nó được mọi người yêu
chuộng hơn, vì có thể hót bất cứ lúc nào, và không phải chăm sóc cầu kì như chim
họa mi thật. Thế nhưng cuối cùng chim họa mi giả bị hỏng, đức vua đau ốm sắp sửa
băng hà, quần thần đang sắp sửa tôn vinh một vị vua mới, thì chim họa mi thật đã đến
hót cho vua nghe, và vua vượt qua cơn bệnh. Thế mới thấy chỉ có những gì xuất phát
từ trái tim thì mới có thể đến được với trái tim, còn những gì là gian dối, giả tạo cuối
cùng sẽ trở nên vô nghĩa. Lòng chung thủy của loài vật luôn được Andersen đề cao
trong các tác phẩm của mình, một chú nai thông minh đã đưa cô bé Giécđa vượt qua
bao hiểm nguy để tìm Kay trong « Nữ chúa Tuyết », một chú ngựa luôn bảo vệ cô chủ
khi cô bị hãm hại trong « Nàng công chúa chăn ngỗng ». Hay một chú lính chì dũng
cảm dù cho đến lúc chết vẫn tôn thờ, gìn giữ tình yêu của mình. Đó phải chăng chính
là niềm tin tưởng của tác giả về tình yêu thương trong cuộc sống này ?
2.3.2. Bức tranh thiên nhiên vừa gần gũi, thân thiết vừa bao la kì vĩ
Thiên nhiên xuất hiện trong các tác phẩm của Andersen rất đỗi đa dạng, phong
phú, từ bao la hùng vĩ đến nhỏ bé, gần gũi cuộc sống. Đất nước Đan Mạch xinh đẹp
cùng với thiên nhiên mà tác giả đã trải nghiệm qua những chuyến đi đã tạo nên
những bức tranh phong cảnh tuyệt vời trong truyện của ông, và hơn thế, thiên nhiên
trở thành một nhân vật cụ thể với tiếng nói, hơi thở riêng. Trong khi các truyện cổ
tích nói chung và truyện cổ Grimm nói riêng, thiên nhiên chỉ hiện hữu như những
khung cảnh bình thường, tồn tại như một không gian địa lí bình thường. Người đọc
có thể tìm thấy trong các sáng tác của Andersen những dãy núi phủ đầy tuyết ở đỉnh
núi Anpơ, những ngôi nhà gỗ bên hồ nước xanh với đàn thiên nga bơi lội, những rừng
thông xanh tít tắp và bạt ngàn hoa thạch thảo mỗi độ đông về. Thống kê trong 56
truyện kể của Andersen thì có đến 14 truyện được mở đầu bằng khung cảnh thiên
nhiên (chiếm 25%). Rõ ràng thiên nhiên đã tham gia vào tình tiết, cốt truyện, và trở
thành nhân vật không thể thiếu trong các sáng tác của người kể chuyện thiên tài này.
Thiên nhiên trong truyện kể của ông cũng biết yêu, ghét, giận, hờn, biết hi vọng và
thất vọng, thiên nhiên như một người bạn thực sự để con người gởi gắm vào đó nỗi
niềm tâm sự, những mơ ước. Thiên nhiên hiền hòa nâng đỡ bước chân con người, và
có đôi khi thiên nhiên cũng khắc nghiệt, dữ dội, tiêu diệt con người.
Thử so sánh văn bản câu chuyện « Sáu con thiên nga » của anh em Grimm và
« Bầy chim thiên nga » của Andersen. Trong khi văn bản của Grimm chỉ khoảng
2400 chữ, thì tác phẩm của Andersen gấp ba lần, gần 7200 chữ. Nguyên nhân khiến
cho văn bản « Bầy chim thiên nga » dài hơn hẳn là vì tác giả của nó đã dành phần lớn
vào việc miêu tả thiên nhiên. Đó là khung cảnh khu rừng khi nàng Lidơ đi lạc vào, đó
là cảnh biển khơi thay đổi nhiều lần khi bầy chim thiên nga đưa em vượt qua. Thiên
nhiên không chỉ góp phần tạo dựng cảnh mà trở thành một nhân vật thực sự trong
cuộc đấu tranh giành lại hạnh phúc của anh em nàng công chúa xinh đẹp nhưng bất
hạnh này. Chính thiên nhiên đã bao bọc, che chở, và đứng về phía cái thiện trong
cuộc đấu tranh chống lại cái ác. Con người tồn tại được và trở nên mạnh mẽ hay
không là nhờ một phần ở sự phù trợ của thiên nhiên.
Bên cạnh đó, thiên nhiên cũng có lúc chỉ chờ đợi để hạ gục, tiêu diệt con
người. Đó là nữ chúa tuyết với chuỗi thời gian dài chờ đợi để hãm hại chàng Ruyđi
dũng cảm, đó là bùn đen đã lôi kéo cô gái không biết hiếu thảo với cha mẹ trong câu
chuyện « Cô gái dẫm lên bánh mì » xuống đáy sâu. Người xấu bị thiên nhiên trừng trị
đó là lẽ phải, nhưng đôi khi kể cả người tốt cũng không tránh được. Đó phải chăng là
những ẩn số trong cuộc sống mà con người luôn luôn phải đi tìm và lí giải. Thế
nhưng dù sao đi nữa, dù có lúc thất bại nhưng con người vẫn luôn tự tin, mạnh mẽ để
vui sống, để hòa hợp với thiên nhiên -người bạn thân thiết của chính họ.
2.3.3. Hình tượng con người trong thế giới đa dạng, muôn màu
Nhân vật là trung tâm, linh hồn, sự sống của bất cứ một tác phẩm nào, trong đó
con người lại là những hình tượng trung tâm, tạo nên sức sống cho tác phẩm.
Andersen đã xây dựng một tập thể nhân vật vô cùng đa dạng với nhiều loại người,
nhiều hình thức khác nhau. Các nhân vật của ông tạo nên một thế giới muôn màu sắc,
khiến cho người đọc dù là bất cứ ai cũng có thể say mê, thỏa mãn và có thể tìm thấy
mình trong đó.
Trước hết phải kể đến những nhân vật thuộc thế giới cổ tích như vua, hoàng
hậu, công chúa, hoàng tử, bà tiên, mụ phù thủy…Andersen đã rất hiểu tâm lí của
thiếu nhi khi xây dựng nên những không gian cổ tích với cung điện, đền đài, thủy
cung, thiên đàng…, với những vật dụng màu nhiệm như chiếc hòm biết bay, chiếc bật
lửa thần, lọ thuốc có thể làm biến hình của mụ phù thủy…Những gì mà trẻ thơ mong
muốn ở một câu chuyện cổ tích, thì Andersen đã có thể đem đến được, với cách mở
đầu « ngày xửa ngày xưa » và lối kể chuyện hồn nhiên, hóm hỉnh, ông đã góp phần
xây đắp ước mơ, bồi đắp tâm hồn cho lứa tuổi nhỏ. Có câu chuyện kết thúc có hậu
như anh lính trong « Chiếc bật lửa » đã đánh lừa được mụ phù thủy, và trở nên giàu
có nhờ kho báu tìm được, nhưng cũng có chuyện kết thúc buồn như « Nàng tiên cá »,
nhưng tất cả đều đậm chất huyền ảo, lung linh. Chính vì vậy mà người ta không ai
phân vân, thắc mắc khi gọi các sáng tác của ông là truyện cổ tích, hơn nữa là truyện
cổ tích dành cho thiếu nhi.
Thế nhưng không chỉ dừng lại ở đó, con người xuất hiện trong các tác phẩm
của Andersen còn là những con người bình dân, tầm thường, họ là bất cứ ai mà ông
gặp trong cuộc sống như người thợ giặt, anh gác cổng, chủ cửa hàng tạp hóa, người
thủy thủ, bà cụ già neo đơn… Hơn thế nữa, Andersen còn đem vào sáng tác của mình
một thế giới nhân vật trẻ thơ với nhiều hoàn cảnh, số phận khác nhau. Một em bé bán
diêm chết cóng trong đêm mùa đông lạnh giá, một cậu bé với tên họ có vần « sen »
thấp hèn không được dự tiệc cùng với những bạn nhỏ con nhà quyền quý, cậu bé con
người gác cổng có năng khiếu vẽ những bức tranh tuyệt đẹp, cả những cậu bé ốm đau
bị thần chết đem về thiên đường để lại nỗi đau đớn không nguôi trong lòng bà mẹ…
Trái tim của Andersen đã dành tình cảm cho những kiếp người nhỏ bé, bất
hạnh, tội nghiệp. Xuất phát từ tuổi thơ không có nhiều niềm vui sướng do cuộc sống
nghèo nàn, xuất phát từ những chuyến đi với bao điều trông thấy trên mỗi bước chân
qua, Andersen đã thấu hiểu và cảm thông với tất cả. Ông hiểu họ đều có một cuộc
sống, một ước mơ, hoài bão khác nhau, và số phận của họ cũng là những mảng màu
sắc sinh động của cuộc đời. Cho nên ông không ít lần dành cho họ những điều tốt
đẹp, con trai người gác cổng cuối cùng trở thành nhà kiến trúc vĩ đại, cậu bé mặc cảm
với tên họ có vần « sen » của mình sau này là một họa sĩ tài ba, ngay cả cô bé bán
diêm, dù chết đi nhưng cũng được chết trong hạnh phúc được gặp lại bà, và không
phải tiếp tục chuỗi ngày đau khổ. Phải chăng Andersen đã nói dùm ta những ước mơ
thầm kín, sâu xa, người ấy có thể nói dùm ta những điều mà ta không thể diễn đạt
nổi. Cho nên, không chỉ là cổ tích dành cho trẻ em, truyện Andersen có thể tìm thấy
chỗ đứng trong tim bất cứ mỗi độc giả nào.
2.4. Sức hấp dẫn của truyện kể Andersen thông qua thế giới nhân vật
2.4.1. Nhân vật truyện kể Andersen - Một thế giới cổ tích thần kì dành cho
thiếu nhi
Đối với những độc giả nhỏ tuổi, truyện kể của Andersen như một cánh cửa mở
ra một thế giới diệu kì, đủ để các em thỏa sức thả trí tưởng tượng, ước mơ của mình
bay cao, bay xa. Vẫn chỉ là những vật dụng thường ngày, nhưng qua những trang viết
của ông đã trở nên có hồn hơn, bay bổng hơn, các em có thể nghe được tiếng nói của
chúng, lắng nghe được hơi thở, hiểu được mọi tâm tư tình cảm của nhân vật, để rồi từ
đó học cách sống nhân hậu hơn, chân thành hơn.
Bất cứ một trẻ em nào trên thế gian này sinh ra đều được tạo hóa dành cho một
đặc ân, đó là khả năng tưởng tượng phong phú và sức sáng tạo kì diệu. Những niềm
tin trong trẻo vào cuộc đời giúp cho các em xây đắp lên một thế giới huyền ảo nhưng
vô cùng sống động, ở đó tất cả đều tốt đẹp, đáng yêu, đáng quí, và tất nhiên cái gì xấu
xa, ác nghiệt sẽ bị trừng trị. Niềm tin đó các em có thể tìm thấy trong các câu chuyện
cổ tích, với bà tiên, hoàng hậu, mụ phù thủy, với công chúa, hoàng tử…Và Andersen,
với tình yêu thương vô bờ bến dành cho các em cũng đã làm được điều đó. Ông đã
đem đến cho độc giả của mình một thế giới huyền thoại với biết bao niềm say mê,
thích thú.Ta có thể tìm thấy trong truyện của ông những nhân vật, đồ vật thần kì,
những yếu tố siêu nhiên giúp con người khi họ bị yếu thế, đơn độc, những kết thúc có
hậu cho nhân vật xứng đáng được hưởng…Niềm tin an lành ấy đã cùng ông xây đắp
nên tâm hồn bao trẻ thơ qua nhiều thế hệ khác nhau, qua từng miền đất khác nhau
trên khắp quả đất này.
Thông qua những nhân vật thần kì, những yếu tố huyền ảo của cổ tích,
Andersen đã xây đắp cho độc giả nhỏ tuổi một niềm tin bất diệt vào cuộc đời, đó là ở
hiền nhất định phải gặp lành, thiện chắc chắn sẽ thắng ác, cứ ước mơ rồi chắc chắn sẽ
đạt được ước nguyện, cứ tin tưởng ở người khác rồi nhất định sẽ được đền đáp. Đối
với lứa tuổi nhỏ, khi các em chưa vấp phải những khó khăn, chưa phải đối mặt với
những điều ngang trái trong xã hội, tâm hồn các em như tờ giấy trắng tinh khôi, thì
đó là một việc làm hết sức cần thiết và cao cả. Thực tế điều này không phải chỉ
truyện Andersen mới có, ta còn có thể bắt gặp ở bất cứ một câu chuyện cổ tích nào, ở
bất cứ nước nào. Nhưng điều đặc biệt ở ông là ông đã xây đắp niềm tin cho trẻ em mà
không cần nhiều đến những thế lực siêu nhiên, thần tiên. Những đứa trẻ nghèo nàn
nhưng cuối cùng đã trở thành những con người tài giỏi như con trai người gác cổng,
cậu bé tên có vần « sen » ở cuối, tất cả đều bằng tài năng và sự nỗ lực hết mình của
bản thân. Chỉ cần có niềm tin ở bản thân mình mà thôi. Chính vì vậy mà truyện kể
của Andersen không giống như một truyện cổ tích đơn thuần, nó là truyện ngắn dành
cho tất cả mọi người, dù vẫn có những yếu tố kì ảo, nhưng kì diệu nhất vẫn là khả
năng tuyệt diệu của con người trong cuộc chiến vươn lên để chống lại số phận.
Trong thế giới nhân vật phong phú của mình, Andersen đã dành nhiều trang
viết để miêu tả thiên nhiên và thế giới đồ vật phong phú trong cuộc sống. Đây chính
là cách tốt nhất để mở rộng tầm nhìn cho các em. Thiên nhiên trong truyện của ông
bao la từ biển cả đến rừng núi sâu thẳm, với nghệ thuật miêu tả điêu luyện, ông đã vẽ
lên cho người đọc những khung cảnh thần vừa thần tiên huyền ảo nhưng vẫn mang
dáng dấp của cuộc sống xung quanh. Một trong những lí do khiến cho câu chuyện
« Bầy chim thiên nga » của ông hấp dẫn hơn hẳn « Sáu con thiên nga » của Grimm
cũng chính ở điều này. Nếu như Grimm chỉ tập trung kể lại câu chuyện mấy anh em
bị mụ phù thủy hãm hại, thì Andersen dành rất nhiều trang để miêu tả cảnh. Đó là
cảnh khu rừng khi Lidơ lạc vào, đó là biển cả mênh mông khi nàng nằm trên tấm lưới
dày và được các anh mình kéo bay qua biển. Cảnh tượng trước mắt nàng luôn luôn
thay đổi, lúc là một tòa lâu đài hùng vĩ, lúc lại hóa thành những con tàu đang lướt đi
trên biển, lúc lại là những pháo đài hùng tráng…Phải có khiếu quan sát, khả năng
tưởng tượng và tài miêu tả thì mới có thể tái hiện lại được những khung cảnh mĩ lệ
như vậy, và điều đó làm nên nét đặc sắc cho truyện kể của ông. Nó góp phần bồi đắp
cho tâm hồn người đọc khả năng suy nghĩ, tưởng tượng, đưa người đọc nhỏ tuổi vào
những thế giới thần tiên huyền ảo, tạo nên bao sắc màu tươi đẹp cho cuộc sống. Để
rồi tâm hồn trong sáng hơn lên, thánh thiện hơn lên.
Khi bất kì một nhà văn nào đó sáng tạo một tác phẩm, bên cạnh việc thể hiện
nội dung ý tưởng, tâm tư tình cảm của mình, điều nhà văn đó mong mỏi còn là làm
được một điều gì đó tác động đến tâm hồn người đọc, phải làm sao cho họ cũng suy
tư trăn trở những điều như mình, làm sao cho giữa nhà văn và người đọc có một mối
đồng cảm sâu sắc để người đọc đồng sáng tạo cùng với nhà văn. Có như vậy thì tác
phẩm của nhà văn mới vượt qua giới hạn của một vài người, trở thành tài sản chung
của toàn xã hội. Andersen đã làm được điều đó khi ông đem đến cho những độc giả
nhỏ tuổi những bài học sâu sắc nhưng rất đỗi nhẹ nhàng, thậm chí tới mức không ngờ
được.
Trước hết, ông đem đến cho độc giả nhỏ tuổi những bài học đạo đức quí giá để
rèn luyện nhân cách cho các em. Các em đọc câu chuyện về con bọ cánh cứng chuyên
ngủ trong chuồng ngựa của vua, nhưng lại bay đi khắp nơi khoác lác huênh hoang
như thể mình là một loài vật quyền quí (Con bọ cánh cứng); hay câu chuyện về gã cổ
áo, cô nàng bít tất luôn nhận mình có một xuất thân cao cả…tất cả cuối cùng đều có
một kết thúc thảm hại. Điều gì đọng lại trong lòng các em tốt hơn cả là bài học cần
phải khiêm tốn, biết mình biết ta hơn để khỏi phải trả giá. Hay những câu chuyện răn
dạy về lòng dũng cảm, sự chân thành, lòng hiếu thảo với cha mẹ, hay gởi gắm cho
các em một ý chí vươn lên trong cuộc sống, Andersen chưa bao giới nói rằng « các
em phải làm như thế này, như thế kia », nhưng chắc chắn độc giả của ông sẽ làm theo
lời ông, bởi chúng luôn nhìn thấy kết quả, người tốt sẽ như thế nào, còn người xấu sẽ
gặp hậu quả ra sao. Câu chuyện « Nàng tiên cá » kết thúc rất buồn, nhân vật chính
với lòng nhân hậu, trái tim tràn đầy tình yêu mãnh liệt cuối cùng tan thành bọt biển.
Nàng không được tình yêu, không còn cả giọng hát, không còn mạng sống, không
được trở lại thủy cung…và nàng phải đợi hàng trăm năm để trở thành bất tử. Nhưng
nếu mỗi khi nàng bay qua phòng một đứa trẻ ngoan, thì thời gian lại rút ngắn được
một năm, nếu có thêm một đứa trẻ hư, thì thời gian sẽ kéo dài thêm một năm. Có đứa
trẻ nào lại không yêu quí nàng tiên cá, có đứa trẻ nào lại không muốn nàng sớm được
hạnh phúc. Vậy nên chúng sẽ rất ngoan, bài học đến nhẹ nhàng nhưng thấm sâu vào
lòng hơn bất kì một lời giáo huấn hay răn đe nào. Bên cạnh đó là còn rất nhiều những
bài học về sự hiếu thuận, về lòng kiên nhẫn, khả năng chịu đựng của con người.
Những bài học đó không cần các em phải nằm lòng qua bài học đạo đức khô khan,
mà cứ mỗi ngày nó thấm sâu vào tâm trí các em qua những lời thủ thỉ đầy yêu thương
của người kể chuyện cổ tích thiên tài.
Andersen vốn là một đứa trẻ nghèo, ngoại hình lại không được bắt mắt cho
lắm, nên có nhiều giai đoạn trong cuộc đời ông gặp phải những điều không vui,
những tự ti, mặc cảm không thể che giấu. Thế nhưng cuối cùng ông đã trở thành con
người vĩ đại trên toàn thế giới, người ta chen nhau chỉ để được nhìn thấy ông, được
bắt tay ông. Điều gì đã giúp ông làm nên được một kết thúc có hậu như vậy ? Ông đã
hé mở cho chúng ta qua rất nhiều tác phẩm của mình. Ông muốn nhấn mạnh, nét
đáng quí không phải ở hình dáng bên ngoài, mà chính là vẻ đẹp tâm hồn bên trong, và
con người một khi đã có được tài năng và bản lĩnh thì không cần phải ngại ngần,
không cần trốn tránh mà hãy dũng cảm đối đầu. « Vịt con xấu xí » là một minh chứng
đầy đủ. Chú thiên nga nở không đúng chỗ, bị cho là xấu xí, dị hợm, chú phải mang
mặc cảm suốt thời gian dài trước khi trở thành thiên nga xinh đẹp thực sự. Trong
cuộc sống có bao nhiêu người là thiên nga nhưng phải sống cuộc đời của vịt con xấu
xí ? Lời nhắn nhủ của Andersen đó là chúng ta hãy biết nhận ra chân giá trị đích thực
của mình, để không phải mang những mặc cảm tự ti không đáng có. Như vậy bài học
về niềm tin ông đã đem đến cho biết bao thế hệ độc giả của mình thật nhẹ nhàng mà
thâm trầm biết bao nhiêu. Để rồi từ đó, con người có thêm nghị lực phấn đấu để vượt
qua số phận mà thay đổi nó.
Từ những bài học về đạo đức, điều quan trọng mà bất cứ nhà kể truyện cổ tích
nào cũng mong mỏi, đó là làm sao cho người đọc của mình mang được linh hồn của
truyện kể vào cuộc sống. Đó là con người phải biết sống chân thành, vị tha, biết tha
thứ khi cần phải tha thứ. Andersen đã rất thành công về điều đó khi ông chưa từng để
cho các nhân vật của mình có một kết thúc thảm hại, dù họ có độc ác rất nhiều lúc
đầu đi chăng nữa. Vị hoàng đế trong « Chim họa mi » đã cư xử rất tệ với chú chim
trung thành với mình, ông vì những lời xúc xiểm của bọn nịnh thần mà xua đuổi chú
chim đã dám từ bỏ cuộc sống tự do nơi rừng sâu để về hót cho ông nghe. Thế nhưng
cuối cùng chú chim họa mi ấy tha thứ cho ông, chú không để ông cô độc khi đám
nịnh thần vội bỏ mặc quay lưng vì tưởng ông đã chết. Điều tốt đẹp luôn luôn có sức
mạnh trước mọi giông bão. Điều đó đã đem đến cho biết bao con người niềm tin bất
diệt vào cuộc sống này, tin vào đồng loại xung quanh mình, rằng mỗi người ai ai cũng
có một nét tốt đẹp riêng, dù đôi khi nó bị chìm lấp, che khuất dưới bao thói hư, tật
xấu, nhưng chỉ cần có niềm tin tưởng lẫn nhau thì con người sẽ tìm thấy, sẽ khám phá
hết thảy.
2.4.2. Nhân vật truyện kể Andersen - Một thế giới hiện thực, đời thường của
nhân loại
Andersen đã như một con ong thợ cần mẫn, hút mật từ hoa trái cuộc đời để
đem lại cho nhân loại một loại mật rất thơm ngon. Sự trải nghiệm cuộc sống, những
chuyến đi, những được và mất trong mấy mươi năm cuộc đời đã giúp cho ông có một
nhãn quan sâu sắc để nhìn nhận và đánh giá thời cuộc. Không chỉ đơn giản là những
câu chuyện thần tiên dành cho thiếu nhi, tác phẩm của ông nói lên được tiếng nói của
muôn người, của mọi thời đại với bao khát vọng sâu xa, thầm kín về một cuộc sống
tốt đẹp hơn. Không quá nặng nề, không cần phải đao to búa lớn, ông cứ như một
người vừa kể chuyện vừa suy ngẫm, vậy mà không có điều gì vượt ra khỏi tầm mắt
quan sát của ông.
Trước hết, ông đã thể hiện thành công qua tác phẩm của mình một thực trạng
xã hội với tất cả những gam màu tối sáng. Xã hội mà Andersen đã từng sống và
chứng kiến đó là một xã hội đầy bất công ngang trái, phân biệt giàu nghèo, lạnh lùng
vô cảm. Câu chuyện « Cô bé bán diêm » làm thổn thức lòng người bao thế hệ đã nói
lên được điều đó. Một đêm mùa đông lạnh lẽo, một cô bé bán diêm không tiền,
không quần áo ấm, không thức ăn ngon…em ngồi đó giữa dòng người hối hả chuẩn
bị cho buổi tiệc Giáng sinh. Người ta chăn ấm nệm êm, người ta đời sống đủ đầy,
nhưng không ai san sẻ cho em một chút gì. Ngay khi em chết, họ cũng chỉ nhìn và
« phân tích » cái chết đó với một sự hiếu kì vừa đủ, không ai nhỏ cho linh hồn bé
bổng tội nghiệp đó một giọt nước mắt xót thương. Câu chuyện « Mọi thứ đều đặt
đúng chỗ » lại nhấn mạnh đến sự phân biệt đẳng cấp đến mức đáng sợ. Cô bé con nhà
nghèo bị đoàn xe ngựa của người giàu hất vào vũng nước tù đọng, bởi vì vị trí của cô
bé là ở đó. Câu chuyện « Cái bóng » với một xã hội mà ở đó ai cũng mải mê chạy
theo những cái bóng phù du hào nhoáng đến mức đánh mất đi giá trị thực sự của bản
thân mình. Xã hội mà nơi đó thực giả lẫn lộn, trắng đen không thể phân biệt đến mức
sự thật thì bị đưa ra hành hình, còn cái ác thì được lấy công chúa giàu sang quyền
lực. Hay « Bộ quần áo mới của hoàng đế » dành cho những ai chỉ biết chạy theo số
đông mà tự đánh lừa luôn cả bản thân mình, người ta không dám nói lên sự thật vì sợ
ảnh hưởng đến bản thân, đến quyền lợi của chính họ. Cho nên họ trốn cả vào vỏ bọc
và mặc nhiên chấp nhận những sự thật thô thiển, nực cười. Phải chăng đây là hiện
thực của xã hội Đan Mạch hay bất cứ một đất nước Châu Âu nào lúc bấy giờ ? Hiện
thực ấy được tác giả thể hiện một cách xót xa, đau đớn dù ông đã cố tình che giấu đi
qua vẻ hóm hỉnh, cười cợt bên ngoài. Đó là tấm lòng của một người có tâm huyết với
dân tộc, với nhân loại và mong muốn có một sự đổi thay nào đó.
Ngoài ra còn là những thói hư tật xấu cần phải được phê phán để triệt tiêu hẳn
đi. Thói ngồi lê đôi mách, thói bịa chuyện, sự kiêu căng…tất cả đều được đưa ra mà
châm biếm mỉa mai đến tận cùng. Xã hội luôn tồn tại những con người với bao nhiêu
tính xấu như vậy, và nó gây nên nhiều mâu thuẫn, hiểu lầm, thậm chí còn làm hại bao
nhiêu người. Dù xã hội có văn minh, có hiện đại đến đâu chăng nữa thì vẫn không thể
xóa bỏ hết. Và từ đó nó tạo nên những định kiến trong xã hội mà người ta không thể
xóa bỏ nỗi. Andersen đã quan sát và thể hiện những điều này vào tác phẩm của mình.
Ông khiến người đọc phải dừng lại ngẫm nghĩ khi tìm thấy một chút gì đó bóng dáng
của mình trong đó. Sự thật ai trong chúng ta lại không có một chút thói hư tật xấu
như trên ?
Không chỉ đem lại niềm tin tưởng vào cuộc đời cho lứa tuổi nhỏ, Andersen còn
làm được điều đó cho tất cả mọi độc giả của mình, những người trưởng thành, với
con tim và tình cảm chai sạn vì trải qua bao đắng cay của cuộc đời, thế nhưng họ lại
dễ dàng tìm lại được niềm tin trong trẻo ở cuộc sống khi đọc truyện Andersen.
Truyện của ông là tiếng nói đồng cảm sâu sắc đối với những kiếp người bé nhỏ, lạc
loài, bị rẻ rúng trong xã hội. Tinh thần nhân văn cao cả của văn học có thể dễ dàng
được tìm thấy qua các tác phẩm tưởng chừng như rất đỗi vô tư của ông.
Đó là sự đồng cảm với thân phận khổ cực bất hạnh của con người. Xuất phát từ
hoàn cảnh bản thân, ông hiểu được những nỗi đau đớn mà người ta phải trải qua khi
nghèo khó, không nơi nương tựa, không một mái nhà để che mưa nắng. Ông hiểu
được sự tủi hổ khi người ta bị chế giễu châm chọc trong sự đơn độc. Bởi ông cũng đã
từng trải qua những điều đáng sợ ấy trong cuộc đời mình. Thế nên ông đã dành
những trang viết cảm động của mình để viết về những người nghèo. Không như
truyện cổ tích, luôn có sự xuất hiện của vua chúa và những người giàu sang, trong khi
người nghèo có mặt để làm nền cho những phép màu, sự thần tiên xuất hiện để phù
trợ cho họ ; con người trong truyện của Andersen là những con người có cuộc sống
riêng, tâm tư tình cảm riêng, và hơn hết họ có nhân cách cao đẹp của họ dù họ không
giàu sang, không quyền lực. Câu chuyện về một bà lão nghèo, không ai để tựa nương,
không tiền để xây nhà…cuối cùng bà được người thợ xây tốt bụng làm giúp cho một
căn nhà nhỏ để che mưa, che nắng. Nhưng có một lần, bà nhìn thấy đám đông đang
say sưa vui chơi trên một dòng sông lớn đã bị đóng băng, và họ say sưa đến mức
không biết rằng băng đang tan ra. Chỉ có bà lão là nhìn thấy tất cả, bà không thể kêu
lên được vì sức yếu. Cuối cùng để cứu mọi người, bà đã đốt ngôi nhà của mình, và
chết cháy trong đó, nhưng nhờ trông thấy bà lão đang gặp nguy mà đám đông rời
khỏi nơi nguy hiểm, thoát chết trong gang tấc. Andersen cho chúng ta gặp lại bà lão
nơi thiên đường, vì đó chính là phần thưởng xứng đáng nhất dành cho sự hi sinh cao
thượng của bà. Hơn thế nữa, khi ở thiên đàng, bà còn xin cho người khác được vào
cùng với mình, đơn giản vì anh ta là em của người thợ đã xây cho bà căn nhà nọ.
Lòng thương người, sẵn sàng chấp nhận thiệt thòi về phía mình vì người khác, điều
đó không cần phải thể hiện qua những bài học đạo đức khô khan, và đi vào lòng
người như một mạch nước ngầm mát diệu. Ông đã ca ngợi nét nhân cách cao đẹp đó
với niềm hứng khởi say mê. Con người dù nghèo khổ nhưng lòng tốt, sự tự trọng của
họ vẫn sáng ngời. Con người bị vùi xuống đáy xã hội nhưng vẫn cố gắng vươn lên để
khẳng định mình.
Đó còn là những niềm tin, sự hi vọng mà Andersen gởi gắm vào con người,
sinh vật nhỏ bé nhưng cũng vĩ đại biết bao nhiêu. Hôm nay có thể yếu đuối, có thể bị
ức hiếp, có thể bất hạnh đến cùng cực, nhưng ngày mai nhất định sẽ thay đổi, mạnh
mẽ hơn, tươi sáng hơn, hạnh phúc hơn. Một cô bé Lidơ, một nàng Bạch Tuyết, một
cô công chúa chăn ngỗng…tất cả họ cuối cùng đều có hạnh phúc, cốt lõi không phải
do họ được giúp đỡ, mà chính bằng nghị lực sống phi thường của họ, họ đã dám đối
đầu với cái ác, cái bạo tàn. Họ là những nàng công chúa cổ tích, và họ cũng là con
người của cuộc sống mọi thời đại, biết sống, biết yêu thương, biết hận thù và tha thứ.
Hàng loạt các nhân vật nghèo khổ bất hạnh, bị chế giễu trong truyện của ông cuối
cùng đều có hạnh phúc. Andersen tin tưởng điều đó sẽ xảy ra bởi vì đó là sự tất yếu,
là kết quả cuối cùng cho những cố gắng phi thường của con người.
Sáng tác nên những tác phẩm làm say mê độc giả bao thế hệ, Andersen là
người thành công khi hiểu tâm lí của từng người, hiểu được người đọc của mình họ
muốn điều gì, họ có thể học hỏi, suy ngẫm được gì từ những điều mình chuyển tải
đến cho họ. Đối với trẻ em, ông vẽ lên một thế giới thần tiên diệu kì, và những bài
học nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, điều đó góp phần xây đắp tâm hồn các em trong những
năm tháng đầu tiên của cuộc đời. Đối với người lớn, ông đã là một người bạn chân
thành với họ, ông đồng cảm sẻ chia với họ bao điều. Cho nên đâu phải Andersen là
nhà kể chuyện của thiếu nhi, ông là bạn của tất cả, những ai yêu cái đẹp, yêu lẽ phải
và muốn hướng tới Chân, Thiện, Mĩ.
CHƯƠNG 3 : NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRUYỆN KỂ ANDERSEN
3.1. Thi pháp nhân vật cổ tích
Xuất phát từ nguyên nhân Andersen vốn được xem là người kể chuyện và sáng
tác cổ tích thiên tài, nên lẽ dĩ nhiên chúng tôi không thể bỏ qua vấn đề về thi pháp
nhân vật cổ tích trong đó tập trung nghiên cứu về thi pháp nhân vật cổ tích thần kì.
Bởi vì cổ tích thần kì là biến thể tiêu biểu hơn cả của thể loại truyện cổ tích, không
phải ngẫu nhiên mà nó được gọi là truyện cổ tích đích thực. Trên thực tế, phần lớn
những nhận xét đánh giá về biến thể này có thể dùng chung cho toàn bộ thể loại
truyện cổ tích. Qua đó, chúng ta cũng có thể tìm ra những nét tương đồng và khác
biệt trong thi pháp xây dựng nhân vật của Andersen.
Về nhân vật truyện cổ tích thần kì có thể chỉ ra một số kiểu nhân vật nhất định,
đó là : kiểu nhân vật người em út, người con riêng, người mồ côi, người mang lốt vật,
người đi ở, người dũng sĩ, người có tài lạ…Và cho dù đó là kiểu nhân vật nào đi
chăng nữa thì cũng là những nhân vật chức năng, nghĩa là nhân vật đồng nhất với vai
trò mà nó đóng trong tác phẩm, sự tồn tại và hoạt động của nó chỉ nhằm thực hiện
một số chức năng nhất định.
Như vậy, trái với nhân vật trong các truyện ngắn và tiểu thuyết hiện đại, nhân
vật cổ tích chưa bộc lộ tính cách rõ ràng, đó là những nhân vật chưa có nội tâm, thậm
chí chưa chú ý tới ngoại hình, tên tuổi, nhân vật cổ tích ít hành động theo suy nghĩ
của mình mà hành động theo những chức năng cốt truyện định sẵn. Nhân vật cổ tích
thường là những nét nhân cách của một tầng lớp xã hội chứ không phải của một
người.
Trong cuốn sách nổi tiếng « Hình thái học của truyện cổ tích », A.Prốp đã chỉ
ra rằng, trong cổ tích, những yếu tố bất biến chính là chức năng nhân vật. Khảo sát ở
một số truyện, chúng tôi nhận thấy tính chức năng của nhân vật cổ tích thể hiện ở ba
mức độ khác nhau, đó là nhân vật hành động theo mạch cốt truyện, nhân vật có hành
vi mang tính chức năng, và nhân vật giữ vai trò một chức năng nghệ thuật.
3.1.1. Nhân vật hành động theo mạch cốt truyện
Theo Prôp « Cổ tích được xây dựng dựa trên những mưu toan định sẵn, đặc
điểm này không ngẫu nhiên và cũng không hề thứ yếu. Trong chừng mực nhất định nó
xác lập toàn bộ thi pháp của cổ tích » .[13, 81]. Trong cổ tích, nhân vật không hề suy
tính cho những hành động của mình mà tùy thuộc vào một yếu tố ngẫu nhiên nào đó
anh ta bỗng gặp người sẽ giúp đỡ anh, đó thực chất là sự sắp đặt của cốt truyện.
Trong nhiều truyện cổ tích, nhiều cái ngẫu nhiên cũng có thể lí giải được bằng tính
chất này. Chẳng hạn như trong truyện cổ tích nổi tiếng « Tấm Cám » của Việt Nam,
tại sao khi hóa thành quả thị, thì quả thị lại rơi vào « bị » của bà lão hàng nước, và tại
sao hoàng tử lại vào một hàng nước nghèo nơi cô Tấm đang được bà lão cưu mang
mà không vào chỗ khác ? Hay chính Perrault trong câu chuyện « Cô bé quàng khăn
đỏ » của mình cũng đã đặt ra những yếu tố ngẫu nhiên như vậy, cô bé nhất định phải
dừng lại hái hoa, nhất định phải bị hãm hại thì cuối cùng bác thợ săn tốt bụng mới có
thể tiêu diệt được con sói già gian ác. Người viết không phải muốn nhấn mạnh sự
ngây ngô của nhân vật, mà cố tình sắp đặt như vậy để tạo diễn biến cho câu chuyện.
Grimm cũng đã từng có những mưu toan sắp đặt như vậy qua các câu chuyện của
mình. Cô bé Lọ Lem không xuất hiện để hoàng tử nhận ra liền, mà cô phải biến mất
giữa buổi tiệc, điều đó mới tạo ra cớ để hoàng tử đi tìm, để mụ dì ghẻ độc ác và hai
cô con gái âm mưu đóng thế vai và bị trừng trị. Điều tưởng chừng ngẫu nhiên đối với
nhân vật nhưng lại chính là ý đồ của cốt truyện, của tác giả.
Các nhân vật cổ tích thường có một số nét nhân cách nhất định và hành động
nhằm tập trung thể hiện nét nhân cách đó. Chính vì vậy mà tác giả dân gian không
chú trọng đến việc miêu tả cụ thể nhân vật đó như thế nào, có những diễn biến nội
tâm ra sao, mà chỉ tập trung miêu tả những hành động theo mạch cốt truyện định sẵn.
3.1.2. Nhân vật có hành vi mang tính chức năng
Những hành vi của các nhân vật trong truyện được diễn biến nhằm để thực
hiện một ý đồ nào đó của tác giả. Ví dụ tại sao Tấm lại ngờ nghệch tin lời mụ dì ghẻ
hết lần này đến lần khác ? Có người giải thích đó là do cô Tấm thật thà, nhưng thực tế
đó là ý đồ của người kể, phải lần lượt gặp những biến cố như vậy thì cuối cùng cô
Tấm mới được làm hoàng hậu và được hưởng hạnh phúc. Tại sao nàng Bạch Tuyết lại
hết lần này đến lần khác không nghe lời của bảy chú lùn, để phải chết vì mụ dì ghẻ, vì
phải như vậy thì nàng mới được gặp hoàng tử và mụ dì ghẻ mới trừng trị đích đáng.
Như vậy các nhân vật chính - chính diện trong truyện cổ tích không hề toan tính trong
những hành động loại này, đó là những hành động mà hành vi sau nó mang tính chức
năng, đó cũng là một biện pháp nghệ thuật quen thuộc của tác giả dân gian khi xây
dựng truyện cổ tích.
3.1.3. Nhân vật giữ vai trò một chức năng nghệ thuật
Trong truyện cổ tích, có khi nhân vật được xây dựng chỉ nhằm để thực hiện
một chức năng nào đó trong truyện, mà chúng ta không thể phân tích được tính cách
của nó. Ví dụ như nhân vật ông lão trong truyện cổ tích « Ông lão đánh cá và con cá
vàng » của Puskin, hết lần này tới lần khác ông lão đi ra biển để khẩn cầu cá vàng
những yêu cầu xuẩn ngốc của mụ vợ tham lam. Nhưng nếu nhận xét ông lão là người
hiền lành, nhu nhược nhưng không tham lam thì không chính xác, bởi nhân vật ông
lão được tác giả xây dựng lên chỉ nhằm thực hiện chức năng chỉ ra điều tất yếu là
người tham lam nhất định sẽ bị trừng trị vậy thôi, chứ ông lão không phải là một nhân
vật nhân cách, bởi tác giả không đề cập tới việc ông có được hạnh phúc sung sướng
hay không dù ông là người tốt. Như vậy, kiểu nhân vật này chỉ đóng vai trò là một
biện pháp nghệ thuật trong truyện, tác giả dân gian không hướng tới kiểu nhân vật
nhân cách nên không tìm một kết thúc có hậu cho nó.
Thông qua một số đặc trưng thi pháp nhân vật cổ tích, chúng ta có thể nhận
thấy Andersen đã có những sự kế thừa cơ bản ở truyện cổ tích khi xây dựng thế giới
nhân vật của mình, nhưng vượt hơn hẳn vẫn là sự sáng tạo nghệ thuật dồi dào của
ông trong lĩnh vực đặc sắc này.
3.2. Nét đặc sắc trong thi pháp xây dựng nhân vật của Andersen
3.2.1. Sự kế thừa từ truyện cổ tích
Hệ thống nhân vật trong kho tàng truyện cổ tích thế giới cũng như cổ tích Việt
Nam được biết đến thật phong phú và đa dạng với nhiều kiểu nhân vật khác nhau như
các nhóm nhân vật mồ côi, nghèo khổ, nhóm các nhân vật thần tiên, các nhân vật
hoàng cung, trong đó có người thiện, có kẻ ác, có nhóm hại người và nhóm phù trợ
cho con người. Như vậy, Andersen đã kế thừa được điều đó vào trong các truyện kể
của mình. Ông nắm bắt được rất rõ tâm lí của bạn đọc nhỏ tuổi, trong mơ ước của các
em về cuộc sống, luôn xuất hiện những phép thần tiên nhiệm màu, các em mong ước
người tốt sẽ gặp hạnh phúc, còn kẻ xấu sẽ bị trừng trị đích đáng. Trong những phút
nguy nan nhất, thì ngay lập tức sẽ có một lực lượng siêu nhiên đứng ra làm đảo lộn
tất cả tình thế. Cái ác ban đầu tưởng đâu mạnh mẽ, thắng thế nhưng cuối cùng sẽ thất
bại thảm hại. Niềm tin trong trẻo và hồn nhiên ấy luôn sống trong lòng mỗi em nhỏ
và tạo thành động lực, niềm tin, sức mạnh cho các em trong cuộc đời. Chúng ta có
thể tìm thấy điều ấy trong các tác phẩm của Andersen, chính vì vậy mà từ rất lâu rồi,
ông được gọi là người kể chuyện cổ tích thiên tài dành cho thiếu nhi, và người ta vẫn
hồn nhiên gọi truyện của ông là truyện cổ tích, bất kể những tính chất đa dạng của nó.
Điều đó cũng có thể gọi là một thành công của ông, giúp ông chiếm một vị trí vĩnh
cửu trong lòng bạn đọc, khắp thế giới và mọi thế hệ.
Đối với truyện cổ tích, có một sự phân định rõ ràng giữa hai tuyến nhân vật
chính và phụ, đó là nhân vật chính luôn là những con người bình thường, nghèo khổ,
bất hạnh, còn nhân vật thần tiên chỉ đóng vai trò là nhân vật phụ, họ xuất hiện để giải
quyết mọi khúc mắc cho nhân vật chính. Nhân vật anh Khoai trong « Cây tre trăm
đốt » là một anh nông dân bình thường, thậm chí ngu ngốc, cô Tấm cũng chỉ là một
đứa trẻ mồ côi, bị dì ghẻ hành hạ, ức hiếp, nếu không có nhân vật ông Bụt, bà tiên
xuất hiện thì họ mãi mãi vẫn chỉ là những người vô danh, chìm đắm trong nghèo khổ,
bất hạnh mà thôi. Nhân vật ông lão đánh cá trong truyện cổ tích « Ông lão đánh cá
và con cá vàng » của Puskin cũng thế, ông hiền lành, chỉ biết làm theo những lời của
vợ, ông cũng chẳng màng tới vinh hoa, phú quí, những ảo tưởng của người vợ tham
lam và ngu ngốc. Thế nhưng tất cả họ đều là nhân vật chính, truyện cổ tích dành để
phản ánh số phận và cuộc đời của họ, qua đó gởi gắm ước mơ về một cuộc sống tốt
đẹp hơn, công bằng hơn dành cho những người nông dân nghèo khổ trong xã hội lúc
bấy giờ. Andersen cũng đã thể hiện được điều ấy trong một số tác phẩm của mình,
nhân vật chính của ông là Ruydy và Babét, là hai con người bình thường trong « Nữ
chúa tuyết», họ xuất thân bình thường, họ biết yêu thương nhau và khát vọng hạnh
phúc, thế nhưng nhân vật phụ là nữ chúa tuyết đã chia lìa họ , đã cướp mất Ruyddy
ngay khi đôi trẻ đang hạnh phúc. Hay như trong «Ip và Crixtin »cũng vậy, có sự xuất
hiện của người đàn bà Bôhêmiêng trao cho hai đứa trẻ những quả lạc tây thần diệu,
chứa đựng những điều quí giá, đặc biệt có thể dự báo tương lai của chúng. Nhân vật
nữ chúa tuyết hay nhân vật người đàn bà BôhêMiêng đều thuộc nhóm nhân vật thần
tiên, họ xuất hiện để làm nổi bật thêm cho hệ thống các nhân vật chính trong tác
phẩm. Như vậy, cho dù là những truyện thần tiên, mang sắc màu huyền thoại thì
truyện cổ tích vẫn đề cập đến con người bình thường với những ước mơ và khát vọng
trong cuộc sống hiện thực. Và Andersen cũng đã tiếp nối được tinh thần ấy, ông đã
nói lên được tiếng nói đồng cảm với những con người nghèo khổ, bất hạnh mà ông đã
gặp trên mỗi bước du hành của cuộc sống.
Truyện cổ tích thường tạo ra những nhân vật kiểu « chàng ngốc gặp may »,
anh ta luôn là đứa con chịu nhiều thiệt thòi nhất trong gia đình, anh ta ngu ngốc, bị
anh em bạn bè chế giễu. Thế nhưng anh ta lại có tấm lòng nhân hậu, và sự hồn nhiên,
không tư lợi. Cho nên cuối cùng anh ta được giúp đỡ, được lấy công chúa, lên làm
vua trong khi các anh em mình thường thất bại thảm hại. Trong các tác phẩm của
Andersen cũng không thể không kể đến những nhân vật ngốc nghếch nhưng thực thà,
tốt bụng và cuối cùng gặp may. Như câu chuyện về anh chàng Jack đần độn đi tán
tỉnh công chúa. Hai người anh của Jack hết sức thông minh, tài giỏi nhưng cuối cùng
lại tỏ ra ngu ngốc, lố bịch trước những thử thách của công chúa. Còn Jack, những
hành động vô tình, những lời nói chân thật không ngờ lại động đến trái tim công
chúa, rồi chàng được lấy công chúa và lên ngôi vua. Hay câu chuyện « Ông già làm
gì cũng đúng » kể về một ông lão đem một con ngựa tốt, đi đổi lấy một con bò, rồi lại
đổi lấy cừu, ngỗng, gà mái, cuối cùng là những quả táo thối. Hành động của ông già
ngu ngốc đến nỗi những người chứng kiến câu chuyện chắc chắn rằng vợ của ông sẽ
nổi điên lên, và họ cá cược một số lượng vàng rất lớn nếu vợ của ông lão không tức
giận trước chuyện này. Và kết thúc truyện dĩ nhiên là ông lão có được thứ còn quí
hơn con ngựa lúc ban đầu, đó là túi vàng của những người cá cược. Truyện cổ Grimm
cũng có những tác phẩm tương tự như « Chàng ngốc gặp may », anh chàng này cũng
đổi từ một cục vàng to bằng đầu mình lấy một con ngựa, con bò cái, một con lợn,
một con ngỗng, cuối cùng là một tảng đá mài nặng trịch, anh ngốc cảm thấy rất đỗi
phiền hà với nó. Và khi anh đánh rơi nó xuống suối, ngốc cảm thấy nhẹ người, anh
hạnh phúc chạy về với mẹ. Bức thông điệp của câu chuyện phải chăng là mọi của cải
chỉ là vật ngoài thân, những ràng buộc khiến cho con người nhàm chán, vướng bận.
Con người chỉ tìm thấy được niềm vui khi giải phóng khỏi nó ? Môtíp này cũng đã
được nhà sưu tầm truyện cổ Nguyễn Đổng Chi nhắc đến trong câu chuyện « Chàng
ngốc gặp may ». Ngốc đi ở đợ cho nhà giàu có suốt mười lăm năm, nhưng khi trở về
quê lại được chủ nhà trả công cho ba nén vàng giả. Trên đường trở về, Ngốc bị lừa
đổi vàng giả để lấy bạc nhưng thực chất là chì, đổi chì lấy một nghìn tờ giấy, rồi
chong chóng, và cuối cùng Ngốc có được một con niềng niễng nhưng bị lừa đó là
viên ngọc quí. Ngốc đem ngọc dâng cho vua, như đến cổng vua, viên quan trong triều
sai Ngốc mở ra xem và con niềng niễng bay mất. Ngốc khóc lóc bắt đền, vua biết
chuyện, ban thưởng cho Ngốc nhiều vật quí giá vì đã có tấm lòng nghĩ tới đức vua.
Những nhân vật được nhắc đến tuy ngốc nghếch nhưng vốn thật thà, lương thiện, vì
vậy kết thúc của họ thường là hạnh phúc, vui vẻ, đây cũng chính là một bài học về
nhân cách sống dành cho mỗi con người.
Các nhân vật được kể ra ở trên cũng được tạo ra nhằm thực hiện một số chức
năng trong truyện, chứ thật ra nhân vật không có tính cách rõ rệt. Đây cũng là một
đặc điểm của cổ tích. Nhân vật trong các truyện này hành động có những « hằng số »
về chức năng và « biến số » về phương tiện thực hiện chức năng. Nhân vật trong
truyện cổ thường được nhấn mạnh về hành động, bao gồm cả động tác, đối thoại và
cả thế giới tâm lí. Câu chuyện của anh chàng Jack thuộc môtíp quen thuộc của cổ
tích : ai giải được câu đố sẽ được cưới công chúa. Có thể kể thêm một tác phẩm nữa
của Andersen để chứng minh cho điều này, đó là câu chuyện « Người bạn đồng
hành ». Cha của Giăng ốm nặng, trong giấc mơ, Giăng thấy một cô gái xinh đẹp đội
mũ miện, cha bảo « Vị hôn thê cha cưới cho con đẹp nhất trần gian như thế đấy ».
Tỉnh dậy thấy cha đã chết, Giăng đi chu du thiên hạ. Anh nhổ cỏ trên một ngôi mộ lạ
và tin là ở quê hương cũng có người nhổ cỏ trên mộ cha mình. Giăng cho ăn mày
tiền. Anh trả tiền để cứu một xác chết khỏi bị hành hạ…Anh tiếp tục đi chu du và có
được một người bạn đồng hành. Trên đường đi họ đã giúp đỡ cho nhiều người nhờ có
phép lạ của người bạn đồng hành. Đến kinh thành, nhờ sự giúp đỡ của người bạn,
Giăng đã cưới được công chúa. Sau đó anh mới biết người bạn chính là xác chết
mình đã cứu trước đó. Đây có lẽ là câu chuyện « cổ xưa nhất » vì có thêm những chi
tiết yêu thuật. Các nhân vật giống với cổ tích ở chỗ là đều phải trải qua thử thách (cái
bất biến), còn trải qua như thế nào là do mỗi sự trợ giúp khác nhau (cái khả biến).
Cuộc đời của các nhân vật diễn ra theo các thứ tự chức năng : gặp gỡ, chia tay, tới
đích, hôn nhân, giàu có, hạnh phúc hoặc không hạnh phúc. Bao giờ các nhân vật cũng
tiến đến đích trên trục nằm ngang của thời gian tuyến tính một mạch đúng theo trình
tự của cổ tích dân gian.
3.2.2. Sự sáng tạo của Andesen
3.2.2.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật
Truyện cổ tích thường chỉ cần một vài câu mở đầu là có thể giới thiệu được về
ngoại hình, tính cách của nhân vật, và thường miêu tả nhân vật chung chung, không
cụ thể, nếu đẹp là đẹp tuyệt trần, đẹp nhất, nếu xấu thì là rất xấu xí, kinh
tởm…Truyện cổ Grimm là một trường hợp tiêu biểu. Đây là cách giới thiệu các nhân
vật của Grimm : Một hoàng hậu già, chồng chết đã lâu, có một cô con gái rất đẹp
(Cô gái chăn ngỗng). « Có một cô gái tên là Jorinde, đẹp nhất trong những cô gái và
một chàng trai tuấn tú tên là Joringel đã hứa hôn với nhau, sống hạnh phúc bên
nhau » .(Jorinde và Joringel). « Tôi có một cô con gái đẹp trên đời không ai sánh
bằng », « Thấy cô rất đẹp, ông vua cảm động, yêu cô say đắm » (Sáu con thiên nga ).
Hay khi miêu tả vẫn chỉ bằng những hình ảnh ước lệ « ít lâu sau bà sinh được một
đứa con gái rất đẹp, da trắng như tuyết, tóc đen như mun, môi đỏ như máu ». « Một
ông vua có cô con gái đẹp hơn thiên nhiên nhưng tự hào và kiêu căng tới mức không
xác nhận người cầu hôn nào xứng đáng với nàng ».[9] (Mỏ chim họa mi). Truyện cổ
tích thường cũng ít gọi tên nhân vật một cách cụ thể, mà thường gọi theo giới tính (cô
gái, chàng trai, cậu bé), gọi theo nghề nghiệp (người đánh giày, người thợ săn…),
theo chức tước, vai vế (vua, hoàng hậu, công chúa). Những trường hợp này cũng
thường thấy trong truyện cổ tích Việt Nam : « Ngày xưa có một gia đình nọ có một
người con gái xinh xắn nết na…». (Trinh phụ hai chồng) ; « Ngày xưa ở làng Chèm
có một người họ Lý khỏe mạnh lạ thường ». (Lý ông Trọng hay sự tích thánh
Chèm)…[4]Chính vì nhân vật thường được giới thiệu một cách chung chung như vậy
nên khi muốn nhắc tới một nhân vật nào người ta thường phải kèm theo tên truyện
chẳng hạn như « nhân vật người em trong truyện « Hà rầm hà rạc », mụ dì ghẻ trong
truyện « Tấm Cám »…
Truyện của Andersen có một phong cách riêng, trước hết ông thường miêu tả
nhân vật một cách cụ thể, sinh động. Thử so sánh truyện « Sáu con thiên nga » của
Grimm và « Bầy chim thiên nga » của ông người đọc sẽ thấy có những sự khác biệt
rõ rệt. Grimm mở đầu câu chuyện bằng việc vua cha đi săn bị lạc trong khu rừng rậm,
và để tìm đường về nhà, vua phải thực hiện lời hứa cưới con gái mụ phù thủy. Sợ các
con mình bị dì ghẻ hắt hủi, vua đưa sáu con trai và đứa con gái út vào rừng sống. Sau
đó mụ dì ghẻ đã tìm đến được và biến các hoàng tử thành thiên nga. Grimm không hề
miêu tả hình ảnh các hoàng tử và nàng công chúa như thế nào ngoài cách giới thiệu
chung chung « nàng rất đẹp ». Còn trong câu chuyện của Andersen, ông lại giới thiệu
như sau : « Ở xa, xa đây lắm, nơi chim nhạn bay đến vào mùa thu, có một nhà vua có
mười một con trai và một con gái tên là Lidơ. Mười một chàng trai trẻ tuổi ấy đều
đeo thánh giá bên ngực và gươm bên mình. Ở trường, họ viết trên những tấm bảng
bằng vàng với những con dao nhọn bằng kim cương; họ đọc thông và rất thuộc bài.
Họ thật xứng đáng là những hoàng tử. Cô em út, nàng Lidơ, thường ngồi trên một
chiếc ghế bằng thuỷ tinh...Trên tay nàng cầm một cuốn sách có nhiều tranh vẽ, riêng
cuốn sách ấy cũng đáng giá bằng một nửa giang sơn của bất cứ một vị vua chúa
nào. »
Và Andersen cũng đã đành khá nhiều « đất » cho việc miêu tả nhân vật của
mình, để rồi thông qua việc miêu tả các nhân vật, ông còn gởi gắm vào đó tình cảm,
những lời bình luận, cả nụ cười hóm hỉnh của mình qua cách miêu tả. « Dưới cái
gương có để một cô gái chăn cừu bằng sứ nhỏ xíu rất đẹp. Đôi giày của cô bé được
mạ vàng và bộ xiêm y của cô bé có đính một bông hồng để trang điểm. Cô ta đội mũ,
tay cầm một cái gậy để chăn cừu, và cả hai thứ đều được mạ vàng, sáng đẹp hẳn
lên ».(Cô bé chăn cừu và người nạo ống khói).
« Vua Thủy Tề góa vợ từ lâu, công việc trong cung do Hoàng Thái hậu điều
khiển. Bà là người khôn ngoan, nhưng rất kiêu hãnh về dòng dõi quý tộc của bà. Bà
cài tới mười hai con ngọc trai ở đuôi, trong khi những bà khác trong hoàng tộc chỉ
đeo đến sáu con là cùng. Bà có nhiều đức tính tốt, nhưng tốt nhất là bà rất mực yêu
thương các cô cháu gái, các nàng công chúa nơi thủy cung. Các cô nàng đều xinh
đẹp, riêng nàng út đẹp hơn cả. Nàng có làn da nhỏ mịn như cánh hồng, có đôi mắt
xanh thẳm như nước biển. Nhưng nàng cũng giống các chị, không có chân, chỉ có
một cái đuôi như đuôi cá ». (Nàng tiên cá).
Cách miêu tả ngoại hình chi tiết, rõ ràng là nét đặc trưng của Văn học bác học,
là điểm khác biệt so với văn học dân gian. Bởi vì nhân vật trong các tác phẩm văn
học viết mang dấu ấn cá nhân riêng, không hề bị trùng lắp với bất cứ nhân vật nào
khác. Thậm chí có khi các nhân vật còn vượt qua khỏi giới hạn của trang sách mà hòa
vào trong đời sống của con người, tên của họ thành tên của những ai có nét tính cách
tương tự. Truyện kể của Andersen đã làm được điều đó, nên ông đã đưa các nhân vật
của mình thoát ra khỏi tính chức năng của truyện cổ, để có đời sống riêng, tiếng nói
riêng.
3.2.2.2. Nghệ thuật miêu tả tính cách tâm lí nhân vật
Như chúng ta đã biết, các nhân vật trong truyện cổ tích vốn không được xem là
những nhân vật tính cách mà chỉ là các nhân vật chức năng. Nhân vật truyện cổ tích
được chia làm hai tuyến rõ rệt, người tốt thì luôn tốt từ đầu đến cuối, còn kẻ ác thì
cũng ác đến tận xương tủy, không có sự nhập nhằng, trùng lắp giữa thiện và ác, tốt và
xấu. Đã là người tốt thì dù gặp bất cứ chuyện gì xảy ra, dù bị vùi dập đến mức nào thì
vẫn luôn « ngây thơ » giữ chức năng là một người tốt trong truyện, còn kẻ ác thì
không bao giời thay đổi, cấp độ xảo quyệt ngày càng tăng lên, chỉ đến khi bị trừng trị
đích đáng mới thôi. Ví như cô Tấm và mẹ con nhà Cám trong cổ tích « Tấm Cám »,
mẹ con nhà Lí Thông trong « Thạch Sanh Lí Thông », hay mẹ con mụ dì ghẻ trong
« Cô bé Lọ Lem »… Người đọc năm lần bảy lượt tức giận vì tại sao bọn người độc ác
cứ mãi tác oai tác quái trong cuộc sống, nhưng thực chất đó là một chức năng trong
truyện cổ, nhân vật phải hành động như vậy để cuối cùng nhận sự trừng phạt, bị sét
đánh chết, hay bị trụng trong nước sôi, bị chim mổ mù mắt…
Nhân vật trong truyện kể của Andersen được miêu tả với nhiều nét tính cách
đan xen, phức tạp, một nhân vật xấu song vẫn có le lói chút ánh sáng của lương tri,
nhân vật tốt nhưng cũng không hoàn toàn « vô trùng ». Trong họ là nét tính cách tâm
lí của con người hiện đại, họ có ước mơ, hoài bão, họ yêu thương, ghen tuông, đố
kị…những tình cảm hết sức con người, cho dù tác giả đã khoát lên cho họ lớp áo của
cổ tích (Chim họa mi, Nàng tiên cá). Một con quỉ trong truyện cổ luôn là hiện thân
của những điều ghê gớm, xấu xa nhất, thế nhưng đối với Andersen con quỉ đó vừa
ham ăn món pho mát trộn kem nên ở nhà người bán tạp hóa, nhưng hành động nhảy
vào lửa để cứu tập thơ cho chàng sinh viên và thở phào nhẹ nhõm « cái quí giá nhất
trong nhà vẫn còn » thì lại chứng minh được rằng con quỉ vẫn biết yêu quí cái đẹp,
sẵn sàng hi sinh vì cái đẹp. (Con quỉ và chủ tiệm tạp hóa). Hành động đó đâu phải dễ
dàng tìm thấy được ở tất cả mọi người ? Một trường hợp khác đó là thần chết, đối với
mọi truyện cổ, đó là nhân vật luôn đem đến nỗi buồn, sự đau khổ cho người khác.
Thần chết luôn xuất hiện với bộ mặt gớm ghiếc, chiếc áo choàng đen, nhưng ở đây,
thần chết lại chính là người được thượng đế giao cho trách nhiệm chăm sóc linh hồn
con người nơi thiên đường. (Một bà mẹ). Có như vậy để thấy rằng đối với Andersen,
việc sống chết trên đời rất nhẹ nhàng, bình thản, con người khi phải từ giã cõi đời
nghĩa là đã đến lúc phải đi đến một nơi sống mới, không gì phải buồn.
Truyện cổ tích không dùng việc miêu tả hành động để nhấn mạnh tính cách của
nhân vật, thường là tính cách của nhân vật được giới thiệu ngay từ đầu, và các hành
động chẳng qua là sự minh họa cho nét tính cách ấy mà thôi. Khác với truyện ngắn và
tiểu thuyết hiện đại, tính cách nhân vật chỉ có thể được toát ra qua chuỗi hành động
của họ, và người đọc không được tác giả báo trước mà phải tự nhận xét suy đoán. Từ
đó dẫn tới mỗi người đọc tùy theo lứa tuổi, trình độ mà có những cảm nhận khác
nhau về nhân vật. Nhân vật của Andersen mang dáng dấp như thế, phải trải qua một
chuỗi hành động, những thể hiện của họ người đọc mới có thể tự rút ra những nhận
xét cho mình. Câu chuyện « Mụ ấy hư hỏng » kể về người thợ giặt luôn bị ông thị
trưởng cho là « hư hỏng », « vô tích sự », vì bà suốt ngày uống rượu, làm việc gì thì
hỏng việc đó…Nhưng thực tế không phải vậy, đây là một con người tội nghiệp, đã
gặp phải rất nhiều những bất hạnh trong cuộc đời. Do làm việc vất vả, suốt ngày phải
ngâm mình trong nước lạnh nên bà thường phải uống rượu cho ấm. Chỉ có đứa con
trai và người bạn già nghèo là hiểu được điều đó. Đến lúc chết, mặc cho những lời
dèm pha của ông thị trưởng thì bà vẫn là một người mẹ tốt đẹp trong mắt đứa con
trai, vì những điều bà đã làm cho nó. Con chim họa mi hót hay được đưa vào cung để
hót phục vụ đức vua, nhưng rồi nó bị xua đuổi vì người ta chuộng con chim họa mi
giả hơn. Chim trở về rừng sâu, nhưng cuối cùng vì tình cảm với vị hoàng đế đang hấp
hối mà đã quay trở lại, tiếng hót của nó đã giúp ông hồi sinh, hơn thế nó giúp ông
nhận ra sự thật của « thế thái nhân tình ». Chim không hề nhớ tới những nỗi buồn mà
đức vua đã gây ra cho mình. Hành động của chim họa mi gợi lên hình ảnh của những
con người trung thành, tận tụy với đất nước, với vua. Không cần những lời nói sáo
rỗng, không cần những chúc tụng màu mè mĩ lệ, hành động của họa mi đã thể hiện
được bao tính cách tốt đẹp, mà chim họa mi giả với tiếng hót được lập trình sẵn
không thể có được. Nàng tiên cá là một biểu tượng sáng ngời cho sự hi sinh cao cả vì
tình yêu. Nàng cứu sống hoàng tử, nàng đổi tiếng hát mê hồn để lấy đôi chân, nàng
không giết hoàng tử dù đó là cách duy nhất giúp nàng trở lại với thủy cung. Cho đến
chết, nàng vẫn nghĩ cho người khác, vì người khác. Cho nên không cần tác giả đưa ra
bất cứ một lời nhận xét nào về nàng, chúng ta vẫn thấy toát lên từ nàng tấm lòng
nhân hậu, sự vị tha, độ lượng. Nàng tiên cá phải sống kiếp bọt biển ba trăm năm,
nhưng hễ nàng bay vào phòng của một đưa trẻ ngoan thì thời hạn đó sẽ được giảm
xuống một năm. Phải chăng Andersen muốn răn dạy trẻ thơ hãy ngoan ngoãn, vì
chúng rất yêu nàng tiên cá, và ông muốn người lớn hãy sống đẹp vì tình yêu, vì chính
điều đó làm nên nhân cách con người ?
Trở lại với « Sáu con thiên nga », Grimm cũng không miêu tả nhiều về tính
cách và tâm lí của nhân vật cô em út, nàng chỉ im lặng hoàn thành nhiệm vụ cứu anh
của mình mà thôi. Riêng Andersen lại để cho nhân vật của mình nhiều ưu ái. Khi
Lidơ ở với gia đình người nông dân trong rừng, đức hạnh của nàng được so sánh
« ngoan hơn cả sách », và nàng « đẹp hơn cả hoa hồng ». Nàng luôn có những suy
nghĩ, thể hiện qua độc thoại nội tâm để thể hiện nỗi lo lắng khi chưa cứu được các
anh trai mình. Rõ ràng dù là nhân vật cổ tích nhưng Lidơ hiện lên là một nhân vật đời
thường với nét đẹp riêng, suy nghĩ riêng, tâm lí riêng, người đọc có thể khám phá ra
rất nhiều những vẻ đẹp nơi tâm hồn của nàng. Hoặc câu chuyện ngắn gọn « Công
chúa hạt đậu », nàng công chúa bị đau lưng vì một hạt đậu dưới mười tấm nệm,
không cần phải giới thiệu đây là nàng công chúa xinh đẹp, quí phái như thế nào cả,
chỉ cần một chi tiết nhỏ vậy thôi thì tác giả đã để cho người đọc tự ngẫm ra những gì
mình muốn nói. Như vậy có thể thấy đây là điểm rất khác biệt giữa truyện kể
Andersen với các câu chuyện cổ tích khác.
Nét tính cách tâm lí nhân vật được thể hiện rõ qua các lời độc thoại nội tâm,
đây cũng là nét khác biệt so với truyện cổ. Độc thoại nội tâm là lời phát ngôn của
nhân vật nói với chính mình, thể hiện quá trình tâm lí nội tâm, mô phỏng hoạt động
cảm xúc, suy nghĩ của con người trong dòng chảy trực tiếp của nó. Ngôn ngữ vốn là
công cụ giao tiếp quan trọng của con người. Trong giao tiếp, con người giao tiếp với
nhau thì có giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều. Trong giao tiếp một chiều chỉ
có một bên nói còn bên kia tiếp nhận, không phát biểu, hình thức này thường gặp ở
những mệnh lệnh, lời khấn và ngày nay trong diễn văn và lời của phát ngôn viên
truyền thanh, truyền hình. Trong hoạt động giao tiếp thường diễn ra các hình thức hội
thoại như : song thoại, tam thoại, đa thoại…. còn có hình thức hội thoại đặc biệt mà
chúng tôi đề cập đến là vấn đề giao tiếp bằng hình thức độc thoại, mà là độc thoại nội
tâm. Nếu đối thoại là hình thức giao tiếp sử dụng hình thức nói năng giữa người này
với người khác thì độc thoại là dạng giao tiếp đặc biệt của ngôn ngữ nhân vật, là hình
thức nói với chính mình. Mà qua lời độc thoại đó người tiếp nhận ngôn bản ( người
đọc) có thể hiểu được tâm trạng nhân vật dù đó chỉ là kiểu ý nghĩ – tư duy bằng ngôn
ngữ thầm. Các nhân vật trong truyện cổ Andersen rất hay tự độc thoại, trong khi ở
truyện cổ thì nhân vật được tác giả giúp thể hiện tất cả mọi suy nghĩ, tâm tư.
Sau đây là bảng thống kê một số truyện kể có độc thoại nội tâm của nhân vật :
Tên truyện Độc thoại nội tâm
Nữ chúa tuyết Ruyđy tự nhủ « Nói cho cùng, chẳng ai
có thể vắt vẻo trên cao đến nỗi không thể
đụng tới được. Chỉ cần biết leo và cho dù có
phải leo dốc dựng đứng đến đâu cũng không
bao giờ ngã, miễn là đừng có tin rằng mình sẽ
ngã ».
Anh bất giác cựa quậy và tự nhủ :
« không bao giờ lùi bước, không bao giờ thất
vọng. Cứ liều vào cối xay. Chào ông chủ,
chào Babet. Nói như vậy có gay không
nhỉ ?Khi tin chắc không ngã thì chẳng thể ngã
được. ».
Bên gốc liễu Knút nghĩ thầm : « đến chủ nhật này
gặp nhau, mình sẽ nói với nàng rằng nàng đã
chiếm hết tâm hồn ta rồi và nàng sẽ phải trở
thành vợ ta. Ta chỉ là một thợ giày nghèo nàn,
nhưng ta nhất định sẽ trở thành ông chủ. Ta sẽ
làm việc chịu thương chịu khó đến mấy cũng
được. Phải, mình cứ nói thẳng. Mối tình câm
không đem lại kết quả gì. »
Chàng tự nhủ : « Ta yêu nàng biết
bao !Nàng cũng rất yêu ta, như thế đủ để san
bằng tất cả. »
Chiếc kim thêu Ả kim nói : « Thế là mình đã trở thành
trâm cài rồi. Mình biết lắm, biết là mình sẽ rất
danh giá mà. Khi con người ta vốn dĩ đã có
giá trị thế nào rồi cũng nổi danh. »
Cô ả lẩm bẩm : « Mình thật quá nhỏ
nhắn đối với cái thế gian này. »
Ả lẩm bẩm : « Hãy xem cái tụi kia bơi
với lội kìa. Thậm chí mình nằm ngay đây mà
chũng cũng chẳng ngờ rằng bên dưới chúng
có gì cả. »
Ả nằm dí ở đấy, ôm ấp những hoài bão
vĩ đại : « Mình rồi cũng phải đến tin rằng
mình là con của một tia nắng vì mình nhỏ
nhắn thế kia mà. »
Bông cúc trắng Nó nghĩ thầm : « Ta được nhìn, được
nghe, nắng sưởi ấm ta, gió ôm ấp ta, thế là
đủ. Ôi chao, nếu còn than phiền thì thật sai
lầm. »
Bù nhìn tuyết Bù nhìn tuyết tự nhủ : « Mình chẳng
hiểu gì cả, nhưng mình có linh tính rằng con
chó đã báo trước cho mình một điều chẳng
lành. Lại còn cái vật tròn tròn cứ nhìn mình
chòng chọc trước khi biến mất, mà con chó
gọi là mặt trời ấy, mình cũng cảm thấy rõ
ràng nó không phải bạn mình. »
Anh chàng ước : « Thèm quá, đến vỡ
tan xác mình ra mất thôi. Giá mình được vào
trong ấy nhỉ ? Ước mơ cũng ngây thơ, thực
hiện được cũng dễ thì mới phải. Vào, vào, đó
là mong ước tha thiết nhất của mình. Mình
phải được tựa vào cái bếp lò, dẫu có phải
nhảy qua cửa sổ cũng xin vâng. »
Bộ quần áo mới của Hoàng đế nghĩ thầm : « Quần áo ấy
hoàng đế mới quí. Ta chỉ cần mặc vào là biết được
trong quan lại ai là người tốt, ai là kẻ xấu.
Hơn nữa là phân biệt được người khôn hay kẻ
ngu, ta phải cho dệt thứ vải ấy mới được. »
Hoàng đế nghĩ thầm : « Hừ quái thật, ta
chẳng thấy gì cả. Gay thật, ta mà ngu ư ? Hay
ta không phải là một vị hoàng đế nhân đức.
Thế này thì không còn gì là nhục nhã cho
bằng. »
Cây thông Cây thông non thở dài: “- Ôi ! Giá ta
cũng to lớn bằng những cây khác nhỉ ! Lúc ấy
ta sẽ vươn nổi các nhánh rất xa ra xung quanh
và từ trên ngọn ta có thể ngắm nhìn khắp
đồng quê. Chim chóc sẽ đến làm tổ trên các
cành của ta và khi gió thổi ta cũng sẽ nghiêng
mình một cách đường bệ như các cây khác.”
Thông ta tự hỏi: “- Chúng đi đâu thế
nhỉ ? Chúng chẳng lớn gì hơn ta, có một cây
còn bé hơn ta nữa kia. Sao người ta lại giữ cả
cành và đem chúng đi đâu thế ?”
Thông lẩm bẩm: “- Số mình không
được hưởng cái tương lai sáng lạn ấy hay
sao? Còn thích hơn là đi biển nhiều. Ôi ! Giá
bây giờ lại là lễ Noel nhỉ? Nay mình đã lớn
chẳng kém gì những cây được người ta đem
đi năm ngoái. Ôi! Giá mình được lên xe,
được trồng trong căn phòng ấm áp, giữa
những vật huy hoàng ấy! Nhưng sau đó sẽ ra
sao? Hẳn là sẽ có gì nữa, nếu không thì người
ta trang điểm cho cây như thế để làm gì?
Phải, nhất định sẽ có cái gì tuyệt hơn. Không
gì khổ bằng chờ với đợi! Nóng ruột quá đi
mất.”
Thông ta tự nhủ: “- Ồ! Sao cho chóng
đến tối nhỉ? Đèn nến thắp lên thì phải biết!
Rồi còn gì nữa nhỉ? Giá các cây trong rừng
đến được đây mà ngắm ta! Có lẽ lũ chim
cũng sẽ đến ngắm ta qua cửa kính đấy. Liệu
đông qua, hạ tới, ta có được trồng ở đây mãi
với tất cả trang sức này không?”
Riêng cây thông vẫn đứng im và tự
hỏi:
“- Họ không đếm xỉa gì đến mình nữa
à? Không cần đến mình nữa chắc?”
Nó tự nhủ: “- Ngoài kia, đông đã đến nơi rồi.
Đất đã cứng ra và phủ đầy tuyết. Giờ thì
người ta không đem trồng mình được nữa rồi.
Tất nhiên là mình phải ở đây đến tận mùa
xuân. Tất cả đều tuyệt mỹ và loài người cũng
tốt thôi. Giá cái kho gớm ghiếc này đỡ tối
một chút thì hay quá! Chẳng có lấy một chú
thỏ nào! Trong rừng khi tuyết rơi và đàn thỏ
chạy ngang qua thật là vui… thế mà hồi đó
mình lại đâm cáu khi chúng nhảy qua ngọn
mình. Chốn này quả là hoang vu đáng sợ.”
Như vậy, với việc xây dựng các chi tiết nhân vật độc thoại nội tâm, Andersen
đã dần xa rời nét truyền thống của cổ tích, đưa tác phẩm của mình gần gũi với truyện
ngắn hiện đại. Các nhân vật của ông không xuất hiện một cách bình lặng, mờ nhạt
nhằm để phục vụ cho một vài mục đích giáo huấn của câu chuyện, mà họ có một thế
giới nội tâm phức tạp. Đứng trước mọi diễn biến cuộc sống họ đều băn khoăn, trăn
trở, tìm ra cách tốt nhất để giải quyết, và chính vì vậy, lời độc thoại nội tâm làm toát
lên được nét tính cách tâm lí của họ. Tất cả những âm mưu, toan tính, những nét tốt
xấu của tâm hồn đều được bộc lộ. Có thể nói, nhân vật tự mình thể hiện nhân cách
phẩm giá, chứ không cần đợi tác giả quyết định hộ. Chỉ cần qua những suy nghĩ của
cây kim thêu, chúng ta thấy được sự kiêu căng, hợm hĩnh, tưởng mình là « trung tâm
của vũ trụ » trong khi thực tế chỉ là một cây kim rất tầm thường. Đó phải chăng là
hình ảnh quen thuộc của cuộc sống ? Rất nhiều người vì tự cao tự đại mà cuối cùng
gặp phải kết quả đáng tiếc. Thêm vào đó còn trở thành trò cười cho người khác.
Những suy nghĩ của vị hoàng đế trong « Bộ quần áo mới của hoàng đế » cũng vậy,
ông ta đang cố gắng tự đánh lừa bản thân mình, ông không muốn công nhận sự thật là
mình rất ngu dốt, ông tự ru ngủ, huyễn hoặc mình bởi bộ quần áo không có thật. Ông
đâu có biết rằng mình ngày càng đánh mất đi sự khôn ngoan, vì những hư danh, ông
không có được bên mình một người hầu cận trung thành nào, ông bị hai gã thợ may
lừa bịp từ đầu đến cuối để cuối cùng không mặc quần áo ra đường. Chỉ có đứa trẻ con
là người chân thật nhất, nó reo lên : « Kìa, hoàng đế cởi truồng kìa ! ». Qua lời con
trẻ, mọi lớp vỏ hào nhoáng đã bị lột xuống, chỉ còn sự thật trần trụi được phô bày, đó
là sự ngu ngốc của hoàng đế, sự xu nịnh của tất cả quan quân, thần dân. Trong cuộc
sống, đôi khi người ta cố tình tránh né, che giấu đi những thói hư tật xấu của mình,
nhưng sự thật thì bao giờ cũng vẫn là sự thật. Và một khi nó bị vạch trần thì không có
lớp áo mũ nào che chắn nổi.
Trở lại với « Bầy chim thiên nga » của Andersen và « Sáu con thiên nga » của
Grimm cũng vậy. Dù cả hai đều kể về cuộc hành trình đi giải cứu các anh mình của
cô em gái út, dù Lidơ và cô gái nọ đều phải trải qua rất nhiều gian khổ, thử thách.
Thế nhưng đối với « Sáu con thiên nga », người đọc chỉ cảm nhận những gian khổ đó
qua lời kể « Đêm đến, cô trốn vào rừng. Cô đi suốt đêm hôm ấy, cả ngày hôm
sau… », thì ở « Bầy chim thiên nga », những gian khổ ấy lại được thể hiện qua độc
thoại nội tâm « Đại dương, nàng thầm nghĩ, đã đẩy mọi vật lên không ngừng và cuối
cùng trở nên trơn tru. Ta cũng muốn không bao giờ mệt mỏi. Làn sóng trong vắt ! Ta
hiểu sóng muốn dạy ta điều gì rồi ! Một ngày kia nhất định ta sẽ tìm thấy các anh
ta ». « Trời, nàng thầm nghĩ, nếu các anh ta không kịp bay đến nơi ! Chính là lỗi tại
ta rồi ». « Nàng biết rằng giống tầm ma chỉ mọc ở nghĩa địa mà thôi và phải đích
thân nàng đi hái mới được. Làm sao mà ra nghĩa địa được bây giờ ? Nàng nghĩ
thầm. Ôi ! Tay ta có đau đớn đến mấy chăng nữa cũng không thể so sánh với nỗi lo
lắng đang đè trĩu trái tim ta ». Qua những lần độc thoại nội tâm này, nhân vật có sức
sống nội tại và chiều sâu nội tâm hơn, rất gần với kiểu nhân vật của truyện ngắn hiện
đại. Ba lần độc thoại của Lidơ cho thấy những thách thức, khó khăn lúc nào cũng bủa
vây nàng. Nhưng điều quan trọng là nó khẳng định lòng dũng cảm, sự hi sinh đến tận
cùng của người em gái đối với các anh trai. Lidơ trở thành vẻ đẹp cho sự hi sinh và
lòng dũng cảm.
Như vậy, sự xuất hiện của độc thoại nội tâm với tần số cao chứng tỏ đây là
dụng ý nghệ thuật của nhà văn muốn đi sâu vào khám phá vẻ đẹp tâm hồn con người.
Thế giới nhân vật trong truyện kể Andersen hoàn toàn khác với các nhân vật cổ tích ở
điểm này. Mỗi nhân vật là một tính cách, chẳng nhân vật nào giống nhân vật nào mà
vẫn rất ấn tượng, bởi đơn giản chúng có chiều sâu nội tâm, người đọc nhận biết thông
qua độc thoại của nhân vật. Chính đặc điểm này khiến cho truyện của Andersen thật
sự là truyện ngắn.
3.2.2.3. Tính triết lí thông qua thế giới nhân vật truyện kể Andersen
Mỗi nhà văn khi cầm bút, bao giờ cũng có mục đích muốn nhắn nhủ hay
truyền lại cho độc giả những tư tưởng, thông điệp nào đó về cuộc đời, về con người.
Khi ý tưởng mang tính qui luật, vĩ mô và mang tầm nhân loại thì được xem là triết lí.
Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là nhà văn phải gởi gắm làm sao cho khéo léo, nếu
không muốn rơi vào những lí thuyết giáo điều, khiên cưỡng. Andersen đã làm được
điều đó, ông đã đem đến cho thế hệ người đọc của mình những triết lí nhẹ nhàng mà
thâm trầm, sâu sắc. Người đọc không cảm thấy mệt mỏi vì bị giáo huấn, nhưng vẫn
thấy hay, thấy lôi cuốn vì những kinh nghiệm quí báu có được từ thế giới nhân vật
của ông.
Các nhân vật của ông có khi phát biểu trực tiếp những câu nói có tính chất triết
lí của mình, chúng tôi có thể thống kê lại một số trường hợp như sau :
Tên truyện Câu triết lí
Nữ chúa tuyết Tất cả mọi vật trên đời này đều không
được sắp đặt hợp lí cho từng con chó
cũng như cho từng con người. Không
phải người nào trong chúng ta sinh ra
ở trên đời cũng để được uống sữa
ngon và được người ta bế lên mà
nâng niu.
Nói cho cùng, chẳng ai có thể
vắt vẻo trên cao đến nỗi không thể
đụng đến được. Chỉ cần biết leo, và
cho dù có phải leo dốc dựng đứng đến
đâu cũng không bao giờ ngã, miễn là
đừng có tin rằng mình sẽ ngã.
Chỉ cần người ta không sợ ngã
thì chẳng ngã được.
Một mảnh lá của trời Chẳng chê mà cũng chẳng
khen, đó là cách ứng xử khôn ngoan
nhất khi con người ta ngu đần.
Chuyện cây hoa gai Trên đời này, không mấy khi
người ta được đặt đúng chỗ của mình.
Đồng silinh bạc Trên đời này, người ta không
được đánh giá theo chân giá trị, mà
chỉ do ý kiến của mọi người về ta
thôi.
Kiên tâm chờ đợi thì cuối cùng
bao giờ cũng vẫn được người ta đánh
giá đúng với cái giá trị thực tế của
mình.
Con trai người gác cổng Người ta chẳng bao giờ nhìn xa
quá ngưỡng.
Khi người ta làm việc thì thời
gian trôi đi nhanh chóng. Ai cũng có
thời gian như nhau, nhưng không
phải ai cũng sử dụng thời gian tốt như
nhau, mà cũng chẳng ai lợi dụng thời
gian như nhau cả.
Cuộc đời lúc thì là bi kịch, lúc thì là
hài kịch. Trong tấn bi kịch thì xảy ra
chết chóc, trong tấn hài kịch thì người
ta lấy nhau.
Bên gốc liễu Vả chăng, con người ta cũng
thế thôi, nhìn vào mặt trái thì chẳng
có gì là tốt.
Trời cho chúng ta sức mạnh để
làm những việc khó trên đời, miễn là
chúng ta có nghị lực và lòng dũng
cảm.
Trên thế gian này, mỗi người
có một con đường.
Thiên tinh Trên đời này, cái gì tốt đẹp
thường chóng qua đi
Đôi giày hạnh phúc Trên đời này có nhiều điều phải
dè dặt trong lời nói
Trường hợp này cũng giống
như những trường hợp khác thường
gặp trên đời, chính những đầu óc chật
hẹp lại thường chiếm ưu thế.
Nàng tiên cá Không phải những gì lấp lánh
đều là vàng.
Mọi thứ đều đặt đúng chỗ Tính siêng năng và lòng chính
trực là những người giúp việc tốt.
Nơi nào đã có hạnh phúc, thì
những sự thay đổi chỉ mang thêm
hạnh phúc đến mà thôi.
Trong thành có ma trơi Chẳng thể có con đường mòn
nếu không có người qua lại.
Những câu văn mang đậm tính triết lí được đan xen, kết hợp với nhau, tác giả
khi đang kể chuyện đã làm như vô tình đưa thêm vào, và nhờ đó chúng ta có được
một tập hợp những câu danh ngôn như là những kinh nghiệm sống quí giá ở đời.
Bên cạnh đó, Andersen còn thông qua những nhân vật mà thể hiện những triết
lí ngầm ẩn của mình. Ông không phơi bày bằng cách cho nhân vật phát biểu trực tiếp
nữa, mà ông muốn người đọc phải tự suy ngẫm, và tùy từng lứa tuổi mà người đọc có
độ cảm nhận nông sâu khác nhau.
Thông qua những câu chuyện về đề tài tình yêu, qua các nhân vật của mình,
Andersen đã gởi gắm những triết lí sâu sắc về tình yêu đến cho người đọc. Câu
chuyện « Nàng tiên cá » nhấn mạnh yêu chính là sự hi sinh cao cả cho người mình
yêu. Truyện « Ip và Critxtin » lại là bức thông điệp bản chất của tình yêu chính là sự
san sẻ, bao dung, nhân hậu và cao thượng. « Bên gốc liễu » ngầm chứa một kinh
nghiệm quí báu cho tất cả những ai đang bước vào con đường yêu đó là :những mối
tình câm thì không bao giời có kết thúc tốt đẹp, yêu là dũng cảm thổ lộ tâm tình với
người mà mình thật sự yêu. « Nữ chúa tuyết » là một câu chuyện buồn, nhưng qua đó
người đọc có thể thấy rằng, khi người ta thực sự yêu nhau thì mọi sự ngăn cách đều
không có ý nghĩa gì cả, ngay đến cái chết cũng chỉ chia lìa được thân xác mà thôi,
còn tâm hồn thì đã hòa quyện, gắn bó không gì ngăn cách nổi.
Bên cạnh những triết lí về tình yêu, Andersen còn để cho các nhân vật của
mình tự suy ngẫm về hạnh phúc thực sự ở đời. Câu chuyện về cây thông là một ví dụ.
Cây thông non sống trong rừng sâu luôn muốn được lớn lên, được ra khỏi rừng, được
đi đây đó khắp nơi. Và cuối cùng nó cũng hoàn thành tâm nguyện khi được đem về
làm cây trang trí cho dịp Giáng sinh. Cây thông sung sướng hồi hộp biết bao khi
được trang trí thật đẹp mắt trước bao người chiêm ngưỡng. Nhưng ngày vui chóng
tàn, cuối cùng cây thông đã trải qua những ngày tháng buồn bã nhất của đời mình
trên gác xép trước khi bị đem ra làm củi đốt. Cây thông đã bỏ qua những ngày tháng
tươi đẹp nhất nơi rừng sâu mà không hề hay biết. Chúng ta cũng vậy thôi, mải mê với
những mộng ảo, có khi chúng ta không nhận ra hạnh phúc đích thực lại ở ngay bên
cạnh. Câu chuyện « Đôi giày hạnh phúc » lại đem đến một triết lí khác. Nàng tiên
trên trời đem xuống tặng cho người trần một đôi giày hạnh phúc của thần may rủi, ai
có được nó thì sẽ ước gì được nấy. Các nhân vật sau khi có được đôi giày đều đã thử
trải qua cuộc sống mà họ từng ao ước, thế nhưng cuối cùng họ đều nhận ra không gì
sung sướng bằng cuộc sống hiện tại của chính họ. Hạnh phúc không phải có được do
sự may rủi ở đời, mà hạnh phúc chỉ đến bằng sự cố gắng xây đắp và kiếm tìm nó. Tuy
nhiên không cần phải tìm ở đâu xa xôi, mà đôi khi nó hiện hữu ngay bên cạnh ta. Chỉ
cần ta biết chấp nhận và bằng lòng với hiện tại, thì đó chính là hạnh phúc. Triết lí này
được bổ sung rõ ràng hơn trong câu chuyện « Thiên đường ». Có một hoàng tử luôn
mơ tưởng đến thiên đường vì cho rằng đó là nơi sung sướng hạnh phúc nhất, và
chàng đã từ bỏ tất cả để đi tìm thiên đường. Nhưng kết quả là chàng đã tìm thấy thiên
đường ngay trên mặt đất này chứ không phải ở một cõi siêu hình nào khác. Tất cả
những triết lí này tưởng chừng như rất đơn giản nhưng không phải ai cũng có thể
nhận ra được. Truyện kể của Andersen chính vì vậy không còn đơn thuần là câu
chuyện phiếm cho độc giả nhỏ tuổi mà trở thành cuốn đắc nhân tâm cho bất kì người
lớn nào.
Là một nhà văn, Andersen cũng đã gởi gắm qua các nhân vật của mình những
triết lí về văn chương nghệ thuật sâu sắc. « Một nhà thơ lớn phải trải qua một cơn
đau răng khủng khiếp, một nhà thơ nhỏ chỉ trải qua một cơn đau răng thường ». Qua
câu nói trong truyện « Bà cô nhức răng », tác giả muốn nhấn mạnh đến quá trình lao
động và sáng tạo của một nghệ sĩ chân chính. Không ai có thể thành công khi không
có sự khổ luyện. Ngoài tài năng vốn có, sự khổ luyện, nhà văn còn phải có một vốn
hiểu biết sâu sắc về cuộc đời, khả năng tưởng tượng phong phú để tái hiện cuộc sống.
Andersen đã khuyên một độc giả nhỏ tuổi rằng « cháu tả nhà cháu, người ta tưởng
như trông thấy trước mắt vậy ».
Qua những triết lí về tình yêu, hạnh phúc, văn chương của Andersen, chúng ta
thấy rằng đây chính là một yếu tố quan trọng không thể thiếu khi nghiên cứu về thế
giới nhân vật của ông. Chính điều này đã làm cho truyện kể của ông thêm sâu sắc và
thấm sâu trong lòng mọi bạn đọc.
Từ sự kế thừa nghệ thuật xây dựng nhân vật của truyện cổ tích dân gian,
Andersen đã đem đến cho người đọc những hình tượng nhân vật với những hành
động, những ước mơ đậm chất cổ tích…Thế giới kì ảo mà tươi đẹp ấy đã và luôn
luôn sẽ là người bạn dồng hành với tất cả những ai yêu mến cái đẹp, cái thiện, những
ai biết vị tha, những ai nhân hậu trên cuộc đời này. Không những thế, ông còn có sự
sáng tạo của riêng mình khi xây dựng nên những nhân vật của cuộc sống hiện đại với
tâm lí tính cách phức tạp, đậm chất suy tư. Bởi lẽ đời vốn không chỉ có mộng mơ và
niềm vui, mà còn đó cả nỗi buồn, sự bất hạnh…Andersen đã có những đứa con tinh
thần hoàn toàn của riêng mình, dù tên gọi ấy, số phận ấy có thể gặp ở bất cứ một
truyện nào khác, nhưng ngoại hình, nội tâm, tính cách của nhân vật thì không thể trộn
lẫn. Đó là tài năng, cá tính sáng tạo của Andersen, để ông trở thành người kể chuyện
thiên tài, không chỉ của đất nước Đan Mạch, mà trên toàn thế giới.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu về Andersen, về những câu chuyện kể đầy chân thực, sinh động
của ông, điều đó đã là niềm say mê của biết bao người qua nhiều thế hệ. Không chỉ
mang chức năng giải trí đơn thuần, tác phẩm của Andersen đem đến cho người đọc
đúng những gì họ kì vọng : thưởng thức, khám phá, sáng tạo, và xem đó như là kim
chỉ nam cho cuộc sống. Có được điều đó chính là nhờ vào những câu chuyện với nội
dung phong phú, những triết lí sống sâu sắc, nghệ thuật thể hiện tài tình, điêu luyện.
Tất cả tạo nên tài năng của Andersen, khiến cho tên tuổi của ông trở thành vị trí duy
nhất, không ai có thể nhầm lẫn. Trên mảnh đất mà ông đã dành cả cuộc đời mình để
chăm bón, vun trồng, hoa thơm quả ngọt đã lần lượt trĩu cành, để dâng tặng cho tất cả
mọi người.
1.Văn đàn đã từng ghi nhận rất nhiều tên tuổi các nhà văn với những câu
chuyện thần tiên dành cho lứa tuổi thơ, đó không phải là những câu chuyện cổ tích
dân gian, mà là truyện thần tiên với tác giả cụ thể, mang đậm dấu ấn sáng tác riêng
của từng người. Chúng ta có thể kể đến Charles Perrault của Pháp, anh em nhà
Grimm của Đức, hay một số các tác giả dù nổi tiếng ở lĩnh vực thơ và tiểu thuyết
hiện đại nhưng vẫn dành tâm huyết cho lứa tuổi nhỏ như Tônxtôi, Puskin…Riêng ở
lãnh thổ Việt Nam, không thể không nhắc đến nhà sưu tầm Nguyễn Đổng Chi, bằng
sự tìm tòi và sáng tạo của mình, ông đã có bộ « Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam »
đồ sộ, là bộ bách khoa về kiến thức, kinh nghiệm sống, bài học đối nhân xử thế…cho
nhiều thế hệ người đọc. Ngoài ra còn có một số nhà văn như Tô Hoài, Phạm Hổ,
Nguyễn Huy Tưởng…những con người đã nói dùm cho trẻ thơ tiếng nói hồn nhiên,
ngây thơ, trong trẻo qua nhiều câu chuyện cổ. Điểm qua nhiều nhà văn với những câu
chuyện cổ tích như thế để chúng ta nhấn mạnh đến nét đặc sắc riêng không hề trộn
lẫn của Andersen. Ông được mọi người gọi là nhà kể chuyện cổ tích thiên tài vì
những câu chuyện đậm màu sắc lung linh huyền thoại, với mở đầu bằng « ngày xửa
ngày xưa » và những kết thúc có hậu, với những nhân vật vua chúa, hoàng tử, công
chúa, bà tiên, mụ phù thủy…, ông còn đem đến cho người đọc, nhất là lứa tuổi thơ
niềm tin bất diệt vào cái Thiện, vào sự chiến thắng của lòng tốt, của niềm tin. Thế
nhưng không chỉ dừng lại ở đó, ông còn nói lên được cả những điều rất đời thường,
ẩn sau lớp vỏ cổ tích, huyền thoại. Trẻ thơ say mê ông, người lớn thích thú khi tìm
thấy bản thân mình qua từng câu chuyện tưởng chừng như vô thưởng vô phạt, không
nhằm vào ai cả. Bởi lẽ cái triết lí sâu sắc lại được ông ngầm ẩn dưới những điều rất
bình thường. Ông ca ngợi con người, ông đồng cảm với ước mơ và khát vọng của họ,
ông trân trọng tin tưởng nơi họ, có khi ông thẳng tay phê phán, châm biếm, nhưng tất
cả đều vì tình yêu thương bất diệt của ông dành cho con người. Vì vậy mà ông đã
được là bạn đồng hành của tất cả cộng đồng người trên quả đất này. Và cũng chính vì
vậy mà người đọc gặp khó khăn trong việc xác định hình thái nghệ thuật truyện kể
cuả ông, từ nhiều cách gọi khác nhau thì khái niệm thích hợp hơn cả là « truyện kể
Andersen ». Để có được tài năng ấy, hẳn tâm hồn Andersen đã được hun đúc nên từ
rất nhiều yếu tố: đó là quê hương Đan Mạch với khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp thơ
mộng và cũng lắm thử thách nguy hiểm, là vùng quê nơi ông sinh ra và lớn lên với
nghề chạm trỗ những tác phẩm đồ gỗ nổi tiếng, những điều đó đã góp phần tạo nên
trí tưởng tượng phong phú dồi dào cho một cậu bé nhiều mơ mộng và là một nhà văn
vĩ đại của muôn đời. Bên cạnh đó hoàn cảnh gia đình và nguồn gốc xuất thân cũng
đem đến nhiều mặc cảm lớn cho nhà văn, dù bố mẹ và những người xung quanh đã
đem đến cho ông những nguồn thi liệu quí giá cho sự nghiệp sáng tác. Thế nhưng
không phải mặc cảm để buông xuôi và đầu hàng số phận, Andersen đã đem đến niềm
an ủi cho rất nhiều con người bất hạnh, nghèo khổ trên thế giới một niềm tin bất diệt
vào cuộc đời, rằng họ có thể vươn lên, vượt qua tăm tối, chỉ cần có sức mạnh và niềm
tin, bởi lẽ cuộc đời luôn công bằng với tất cả mỗi con người, dù họ là ai.
2. Andersen đã thông qua thế giới nhân vật của mình mà nêu lên những quan
niệm nghệ thuật về con người. Con người đối với ông không phải thuộc thế giới thần
tiên nào cả, mà là con người của xã hội với mọi sự đa dạng và phức tạp của nó. Con
người vốn là chủ thế sinh động của cuộc sống. Là một người sáng tạo nghệ thuật và
dành hết tâm huyết cuộc đời mình cho nghệ thuật, Andersen nhấn mạnh nghệ thuật
đích thực phải gắn liền với cuộc sống, không gì có thể gọi là nghệ thuật nếu nó nằm
ngoài cuộc sống, nếu nó không vì con người mà lên tiếng. Andersen đã hiểu được
những ước mơ, khát vọng cháy bỏng của con người, ông đã đưa họ vượt qua bao vất
vả, khó khăn của cuộc sống thường nhật để vươn đến một chân trời mới tốt đẹp hơn,
ông nhấn mạnh quà tặng tươi đẹp nhất, quí giá nhất của cuộc sống này chính là con
người. Và điều đặc biệt, đối với ông, con người dù nhỏ bé, yếu đuối trước thiên
nhiên, nhưng họ luôn luôn có đủ sức mạnh để chiến thắng, để vượt qua mọi thử thách
trước thiên nhiên. Thế nhưng điều ông mong mỏi không phải là những cuộc chiến, là
sự đấu tranh, mà đó là sự vị tha, nhân hậu trong cuộc sống với đồng loại, hòa hợp với
thiên nhiên, vì chỉ có như vậy con người mới trở nên cao đẹp và đạt đến ánh sáng của
chân lí. Ông còn đề cao phần Chân, Thiện, Mĩ trong mỗi con người. Ông ca ngợi cái
đẹp, ông ghét cái xấu, cái ác nhưng không tiêu diệt nó mà muốn cảm hóa, thay đổi
nó, và ông cố gắng tìm cái phần tốt đẹp ẩn chứa trong nó để mà nhân lên. Tìm hiểu về
thế giới nhân vật đa dạng, phong phú trong truyện kể của ông, chúng ta đã khám phá
được muôn mặt của cuộc sống, với bao lớp người, bao lứa tuổi, với nguyện vọng, sở
thích khác nhau, những ước mơ, hoài bão, cả những gian trá, lọc lừa xen vào cái giữa
ngây thơ, thánh thiện, hồn nhiên. Ông trẻ thơ, hồn nhiên, hóm hỉnh, và ông viết lên
những câu chuyện với các nhân vật thuần cổ tích, ông gần gũi với cuộc sống qua
những nhân vật là đồ vật, là con vật quen thuộc, ông viết về thiên nhiên vừa kì bí xa
lạ nhưng cũng thật gắn bó với con người. Andersen đã tạo nên được một thế giới
thần kì dành cho thiếu nhi, vừa làm say mê những độc giả trưởng thành vì một thế
giới hiện thực, đời thường của nhân loại. Chính vì lẽ đó, Andersen đã làm được cái
điều mà ông luôn mang mỏi trong suốt cuộc đời mình, ông đã tìm ra được con đường
dẫn tới mọi trái tim.
3. Tài năng của Andersen còn được khẳng định qua thi pháp xây dựng nhân vật
của ông. Ông đã kế thừa rất xuất sắc những thành tựu về xây dựng nhân vật của cổ
tích dân gian khi tạo nên những nhân vật thuần cổ tích, hành động theo một chức
năng nhất định. Và ông cũng đã bằng tài năng riêng của mình để sáng tạo nên thế giới
nhân vật rất riêng. Ông tập trung miêu tả nhân vật rất cụ thể rõ nét để nhân vật của
mình không thể bị nhầm lẫn với bất cứ một ai, ông luôn chú ý đến việc miêu tả và
phân tích tâm lí của nhân vật, đây là điểm rất gần với truyện ngắn và tiểu thuyết hiện
đại, đặc biệt khi ông tập trung khai thác lối độc thoại nội tâm của nhân vật. Và cuối
cùng, thông qua những nhân vật của mình, ông gởi gắm những triết lí về tình yêu,
hạnh phúc, về cuộc sống, nghề nghiệp…và cách thể hiện không hề khô khan, dạy
đời, mà nó đến với người đọc một cách êm đềm, nhờ tình cảm chân thành của người
thể hiện nó. Những điều này đến nay vẫn là thành tựu xuất sắc cho chuyên ngành lí
luận văn học về cách nghiên cứu và thể hiện con người như một trung tâm của cuộc
sống.
4. Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi không mong muốn gì hơn ngoài
việc tìm ra được những nét đặc sắc trong cách thể hiện thế giới nhân vật của
Andersen. Trên cơ sở tiếp thu những cách gợi mở từ những người đi trước, luận văn
chỉ ra được một số điểm : quan niệm nghệ thuật về con người của Andersen, sức hấp
dẫn của truyện kể của ông thông qua thế giới nhân vật không chỉ với trẻ thơ mà còn
đối với cả người trưởng thành. Từ đó tạo tiền đề cho việc tìm hiểu các đối tượng
nghiên cứu khác thuộc lĩnh vực lí luận văn học tiếp theo. Tuy nhiên, trong phạm vi
nghiên cứu, do tính chất của đề tài nên chúng tôi chỉ khai thác phần tính triết lí của
truyện kể Andersen một cách ngắn gọn, chủ yếu thông qua thế giới nhân vật. Chúng
tôi nhận thấy đây cũng là một vấn đề hết sức thú vị và nếu có cơ hội nghiên cứu tiếp,
chúng tôi sẽ tập trung khai thác vấn đề tính triết lí mà Andersen gởi gắm thông qua
các tác phẩm của mình.
Luận văn chắc chắn sẽ còn nhiều sai sót, rất mong nhận được sự đánh giá góp
ý của quí thầy cô và các bạn đồng nghiệp.
PHỤ LỤC
MỘT SỐ GIAI THOẠI VỀ ANDERSEN
NHÀ VĂN VỚI NGHỀ KIM CHỈ
Ngay từ nhỏ Andersen đã có tài may vá. Mẹ ông mong ước con mình sau này
sẽ trở thành một thợ may giỏi. Bà đã dạy cách cắt và khâu vá cho Andersen. Chú bé
đã khâu được những bộ quần áo sặc sỡ cho búp bê. Ngoài ra, chú còn học lối cắt
giấy nhiều hình phức tạp một cách khá điêu luyện.
Nhờ mẹ dạy khâu vá, sau này khi trở thành nhà văn, Andersen đã sửa bản thảo
chép tay nhằng nhịt của mình đến nỗi không còn đủ chỗ chữa thêm nữa, ông bèn
viết những đoạn chữa lên giấy rời và cẩn thận lấy... kim chỉ khâu vào bản thảo rất tài
tình.
TẶNG NHỮNG CHIẾC HÔN NỒNG NÀN ÂU YẾM
Theo Pautốpxky:
Một lần, Andersenđi xe ngựa trên đất Ý. Rôma đối với ông đã trở nên thân
thiết như tổ quốc thứ hai
Đó là một đêm xuân, bầu trời đầy sao chi chít. Mấy cô gái quê ngồi vào xe.
Trời tối, hành khách không thể nhìn rõ mặt nhau. Một câu chuyện vui vẻ đã bắt đầu
trong bọn họ. Phải, đêm tối trời đến nỗi Andersen chỉ nhận thấy hàm răng trắng và
những đôi môi ướt của các cô nàng bóng lên
.
Ông bắt đầu kể cho các cô gái nghe những câu chuyện về chính họ. Ông nói về họ
mà như nói về những nàng công chúa trong chuyện thần tiên. Ông kể say mê. Ông
ca ngợi những cặp mắt xanh màu lá cây huyền bí, những bím tóc thơm ngát, những
đôi môi hồng thắm, những hàng mi nặng cong dài râm mát. Mỗi cô gái đều đẹp theo
cách riêng của họ qua lời mô tả diệu kỳ của ngôn ngữ Andersen. Và mỗi cô Ý đều
thấy hạnh phúc theo cách riêng của mình.
Các cô cười bối rối. Mặc dù trời tối, Andersen vẫn nhận thấy những giọt lệ long lanh
trong khóe mắt vài cô. Đó là những giọt lệ biết ơn đối với người bạn đồng hành lạ
lùng và tốt bụng.
Một cô yêu cầu Andersen hãy tả ông cho họ biết
Andersen không đẹp trai. Ông biết điều đó. Nhưng lúc nầy đây, ông tả ông
như một chàng trai tuấn tú có thân hình cân đối, có duyên và nước da mai mái.
Chàng trai ấy có một trái tim đang run rẩy đợi chờ tình yêu đến.
Cuối cùng, chiếc xe dừng lại ở một thị trấn heo hút, nơi các cô đến. Đêm trở nên tối
hơn. Các cô gái bối rối chia tay cùng Andersen. Trước khi từ biệt, hơn thế nữa, mỗi
cô còn tặng người lạ mặt kỳ diệu đáng yêu một chiếc hôn nồng nàn, âu yếm.
CÁI MŨ VÀ CÁI ĐẦU
Nhà văn Andersen, người kể chuyện cổ tích hay nhất thế giới, là một người rất
say mê làm việc, thường xuyên không để ý đến việc ăn mặc. Ông có một chiếc mũ
cũ nát dùng đã nhiều năm. Một lần có một tay ăn mặc rất bảnh bao gặp Andersenđội
chiếc mũ nát đó ngoài phố. Hắn châm chọc hỏi:
- Thưa ông, cái vật tồi tàn ở trên đầu ông được gọi là cái mũ phải không?
Andersen nhẹ nhàng hỏi lại:
- Thế ông bạn gọi cái vật tồi tàn ở dưới cái mũ của ông là cái đầu phải không?
Đất nước Đan Mạch trên bản đồ thế giới
Thủ đô Copenhagen của Đan Mạch
Thủ đô Copenhagen của Đan Mạch
Tượng nàng tiên cá, một biểu tượng của đất nước Đan Mạch
Hans Christian Andersen (1805 -1875)
Trẻ thơ vui đùa bên tượng Andersen
Tượng Andersen ở Copenhagen
Hình ảnh minh họa truyện Nàng tiên cá
Bìa truyện Vịt con xấu xí
Nàng công chúa và hạt đậu
Cô bé tí hon
Đội vệ binh hoàng gia Đan Mạch gợi hình ảnh những chú lính chì
Bìa truyện Cô bé bán diêm Bìa truyện Chú lính chì dũng cảm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách
Bakhtin M(1992), Lí luận và phương pháp tiểu thuyết(Phạm Vĩnh 1.
Cư dịch), trường viết văn Nguyễn Du Hà Nội.
Lê Huy Bắc dịch (2001), Enest Hemingway –Ông già và biển cả, 2.
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Lê Nguyên Cẩn(2006), Tác giả tác phẩm văn học nước ngoài – 3.
Anh em nhà Grimm , Nxb Đại học Sư Phạm.
Nguyễn Đổng Chi (1993), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Viện 4.
Văn học xuất bản.
Phạm Phương Chi, Đỗ Văn Tâm dịch (2007), Truyện cổ Ấn Độ, 5.
Nxb Kim Đồng.
6. Mạnh Chương dịch (2007), Truyện cổ Andersen, Nxb Thanh niên,
TP Hồ Chí Minh.
Nguyễn Văn Dân(1998), Lí luận văn học so sánh, Nxb KHXH Hà 7.
Nội
Chu Xuân Diên (1990), Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa 8.
học, Trường Đại Học Tổng Hợp TP HCM.
Đoàn Doãn dịch (2007), Truyện cổ Grimm, Nxb Văn hóa thông 9.
tin.
10. Hà Đan (2008), Sức hấp dẫn truyện kể Andersen, Nxb Văn hóa
thông tin.
11. Cao Huy Đỉnh (1968), Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ
tích qua truyện cổ tích Tấm Cám, Nxb Văn học.
12. Hà Minh Đức (2008), Lí luận văn học, NXB Giáo dục
13. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân
gian, Nxb Khoa học xã hội.
14. Gamzatop R, Daghextan của tôi, Phan Hồng Giang dịch(1984),
Nxb Cầu Vồng.
15. Đỗ Đức Hiểu, Trần Hữu Tá, Phùng Văn Tửu, Nguyễn Huệ Chi
(2004), Từ điển văn học, bộ mới, Nxb Thế giới
16. Đinh Gia Khánh (2006), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo
dục
17. Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi pháp ca dao, Nxb Khoa học xã
hội.
18. Tăng Kim Ngân (1994), Cổ tích thần kì người Việt - Đặc điểm cấu
tạo cốt truyện, Nxb Khoa học xã hội
19. Nhiều tác giả (2002), Những đặc điểm thi pháp của các thể loại
văn học dân gian, Nxb Giáo dục
20. Trần Đình Sử (2008), Lí luận và phê bình văn học, NXB Giáo dục
21. Minh Thu dịch (2009), Truyện cổ Andersen, Công ti PHS Sài
Gòn.
22. Đỗ Bình Trị (1999), Những đặc điểm thi pháp của các thể loại
văn học dân gian, Nxb Giáo dục.
Tạp chí
23. Lê Huy Bắc (2007), Cổ tích hiện đại: Cô bé bán diêm của
Andersen, Tạp chí nghiên cứu văn học (7), tr17-23
24. Vũ Ngọc Bình (1992), Văn học thiếu nhi trong tiến trình đổi mới,
Tạp chí văn học (5), tr8-9.
25. Đỗ Đức Dục, Truyện Andersen, Trích dẫn từ sách « Sức hấp dẫn
của truyện kể Andersen –Hà Đan, Nxb Văn hóa thông tin.
26. Phan Cự Đệ (2005), Hans Christian Andersen – Con thiên nga
xinh đẹp của toàn thế giới, Trích dẫn từ sách « Sức hấp dẫn của truyện kể
Andersen –Hà Đan, Nxb Văn hóa thông tin.
27. Hà Minh Đức (1997), Truyện cổ của Hans Christian Andersen,
Tạp chí văn học (12), tr 77-79.
28. Đặng Thị Hạnh (1994), Nàng tiên cá, một số biến thái và phát
triển của đề tài, Tạp chí Văn học (7),tr 24-25.
29. Đào Duy Hiệp (2001), Đọc truyện Andersen, Tạp chí văn
học,(2),tr 144-160.
30. Tô Hoài (2001), Văn học cho thiếu nhi hôm nay, Tạp chí văn học
(5), tr 2-3.
31. Phạm Thành Hưng (1996), Truyện Andersen-Một hình thức tự sự
độc đáo, Tạp chí văn học (1), tr26-28.
32. Nguyễn Trường Lịch (1996), Nguồn gốc văn hóa xã hội và sức
mạnh tài năng của Andersen, Tạp chí văn học (1), tr18-23.
33. Tăng Kim Ngân (1994), Truyện cổ tích với trẻ em, Tạp chí văn
học (7), tr38-40
34. Hữu Ngọc (1997), Gặp gỡ văn học Đan Mạch, Tạp chí văn học
nước ngoài (12), tr77-80
35. Nguyên Ngọc (2001), Viết cho trẻ em hôm nay càng khó hơn, Tạp
chí văn học (5), tr4-5
36. Propp A (2000), Cấu trúc truyện cổ tích,Tạp chí văn học(1), tr
173-177
37. Pauxtôpxki K, Người kể chuyện cổ tích, Trích dẫn từ sách « Sức
hấp dẫn của truyện kể Andersen –Hà Đan, Nxb Văn hóa thông tin
Simonsen M(2000), Truyện cổ tích Cô bé quàng khăn đỏ và 38.
Người đẹp ngủ trong rừng của Charles Perrault, Tạp chí văn học (6), tr 59-68
39. Vân Thanh (1996), Andersen người kể chuyện thiên tài,Tạp chí
văn học (1), tr 29-30
40. Nguyễn Quang Thân (2001), Văn học, hành trang đường đời của
trẻ thơ, Tạp chí văn học (5), tr 6-7.
Một số tài liệu tham khảo từ Website
41. Đào Ngọc Chương, Cái bóng như một cổ mẫu hay là suy nghĩ từ
truyện « Cái bóng » của Hans Christian Andersen và một số tác phẩm khác,
Website :http://www.khoavanhoc-
ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=2034
:cai-bong-nh-mt-c-mu-hay-la-nhng-suy-ngh-t-truyn-cai-bong-ca-hans-
christian-andersen-va-mt-s-tac-phm-khac&catid=94:ly-lun-va-phe-binh-vn-
hc&Itemid=135
42. Nhật Chiêu (2005), Andersen - Thế giới của giọt nước và ánh lửa,
Bài phát biểu Hội thảo nhân kỉ niệm ngày sinh Andersen, Website :
http://www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?
option=com_content&view=article&id=1076:andersen-th-gii-ca-git-nc-va-anh-
la-&catid=64:vn-hc-nc-ngoai-va-vn-hc-so-sanh&Itemid=108
43. Phạm Mĩ Li, Nguyễn Huy Tưởng- Cuối đời trong trẻo viết cho
thiếu nhi, http://vnexpress.net/gl/van-hoa/2010/09/3ba20c8d/
44. Trần Thị Phương Phương (2005), Andersen, Đời và thơ, bài phát
biểu Hội thảo kỉ niệm ngày sinh Andersen. Website: http://www.khoavanhoc-
ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=2034
:cai-bong-nh-mt-c-mu-hay-la-nhng-suy-ngh-t-truyn-cai-bong-ca-hans-
christian-andersen-va-mt-s-tac-phm-khac&catid=94:ly-lun-va-phe-binh-vn-
hc&Itemid=135
45. Lê Thị Thanh Tâm (2005), Bi kịch hồn nhiên trong truyện kể
Andersen, bài phát biểu hội thảo kỉ niệm ngày sinh Andersen. Website:
http://www.khoavanhoc-
ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=150:
le-th-thanh-tam&catid=59:bienche&Itemid=126
46. Mai Thi, Nhà văn Tô Hoài “Chuyện ngày xưa:100 cổ tích”,
http://vssr.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=212:ban-
ve-truyen-co-tich-cua-nha-van&catid=59:ngon-ng-vn-hc-vn-hoa&Itemid=155
47. Trần Lê Hoa Tranh, Từ nàng tiên cá của Hans Christian Andersen
đến Nàng tiên cá của Walt Disney, Website: http://www.khoavanhoc-
ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=433:
t-nang-tien-ca-ca-hans-christian-andersen-n-nang-tien-ca-ca-walt-
disney&catid=64:vn-hc-nc-ngoai-va-vn-hc-so-sanh&Itemid=108
48. Võ Quang Trọng, Bàn về truyện cổ tích của nhà văn, Website
http://vssr.org.vn/index.php?option=com_content&view=article&i 49.
d=212:ban-ve-truyen-co-tich-cua-nha-van&catid=59:ngon-ng-vn-hc-vn-
hoa&Itemid=155
http://vn.360plus.yahoo.com/dinhhautran/article?mid=125&fid=-1 50.

