BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ DIỄM KIỀU

HIỆN TƯỢNG SONG TRÙNG

TRONG “TRĂM NĂM CÔ ĐƠN” CỦA G. MÁRQUEZ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Thành phố Hồ Chí Minh-2011

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ DIỄM KIỀU

HIỆN TƯỢNG SONG TRÙNG

TRONG “TRĂM NĂM CÔ ĐƠN” CỦA G. MÁRQUEZ

Chuyên ngành: VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

Mã số: 60.22.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS ĐÀO NGỌC CHƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh-2011

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ chân thành,

nhiệt tình của thầy cô, gia đình và bạn bè.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.Ts Đào Ngọc Chương, thầy đã tận

tình giúp đỡ, chỉ bảo và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô khoa Ngữ văn trường Đại học Sư Phạm

Thành Phố Hồ Chí Minh đã dạy dỗ và tạo những điều kiện thuận lợi nhất trong suốt

thời gian tôi học tập và làm luận văn tại trường.

Xin biết ơn gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh tôi trong suốt quá trình tôi

thực hiện luận văn.

Tp. Hồ Chí Minh ngày 22, tháng 11, năm 2011

Người thực hiện đề tài

LÊ THỊ DIỄM KIỀU

LỜI CAM ĐOAN

Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của chúng tôi và

những kết quả đạt được trong công trình này chưa từng được công bố bất

cứ đâu.

Tác giả luận văn

Lê Thị Diễm Kiều

MỤC LỤC

DẪN NHẬP ............................................................................................................................. 7

1.Lí do chọn đề tài .................................................................................................................... 7

2. Lịch sử vấn đề ...................................................................................................................... 8

2.1 Nhân vật ............................................................................................................................. 9

2.2 Kết cấu ............................................................................................................................. 14

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 20

3.1 Đối tượng nghiên cứu ....................................................................................................... 20

3.2 Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................................... 20

4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................... 20

5. Đóng góp của đề tài ............................................................................................................ 21

6. Cấu trúc của luận văn ........................................................................................................ 22

Chương I Hiện tượng song trùng và Gabriel García Máquez ................................................ 24

1.1

Biểu tượng song trùng trong văn học .......................................................................... 24

1.1.1

Khái niệm song trùng .......................................................................................... 24

1.1.2

Biểu tượng song trùng trong một số tác phẩm văn học ........................................ 27

1.1.2.1 Các tác phẩm của F.Dostoevski ........................................................................... 28

1.1.2.2 Các tác phẩm khác .................................................................................................. 38

1.2 G.Máquez và “Trăm năm cô đơn” .................................................................................... 46

1.2.1 G.Máquez “đỉnh cao ngọn sóng văn chương” ............................................................. 46

1.2.2 G. Márquez và hiện tượng song trùng ....................................................................... 51

Chương II Song trùng và nghệ thuật xây dựng nhân vật ..................................................... 54

2.1 Nhân vật văn học .............................................................................................................. 54

2.2 Các thủ pháp nghệ thuật .................................................................................................. 55

2.2.1 Thủ pháp trùng tên........................................................................................................ 55

2.2.1.1 Thế hệ thứ nhất ....................................................................................................... 55

2.2.2 Thế hệ thứ hai ............................................................................................................ 57

2.2.1.3 Thế hệ thứ ba .......................................................................................................... 61

2.2.1.4 Thế hệ thứ tư ........................................................................................................... 63

2.2.1.5 Thế hệ thứ năm và sáu ............................................................................................ 68

2.2.2 Dùng biểu tượng ........................................................................................................ 73

2.2.3Nhân vật được soi chiếu dưới điểm nhìn đa chủ thể .................................................... 79

Chương III Song trùng và kết cấu tác phẩm ......................................................................... 85

3.1 Kết cấu tác phẩm.............................................................................................................. 85

3.2 Kết cấu song hành ........................................................................................................ 86

3.2.1 Văn bản thứ nhất- Melquíades người kể chuyện tiên tri ............................................ 86

3.2.2 Văn bản hai- người kể chuyện toàn năng .................................................................. 88

3.3 Kết cấu mê lộ ................................................................................................................ 91

3.3.1 Mê lộ- đầu cuối tương ứng ......................................................................................... 92

3.3.2 Mê lộ - những vòng tròn nhỏ đồng dạng .................................................................... 99

Tuyến nhân vật nam: ....................................................................................................... 102

KẾT LUẬN .......................................................................................................................... 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................... 111

A. Tài liệu tham khảo Tiếng Việt ...................................................................................... 111

DẪN NHẬP

1.Lí do chọn đề tài

Mĩ Latin bao gồm Trung và Nam Mĩ với 19 quốc gia vùng Caribbe và 26 quốc

gia Nam Mĩ. Tất cả đều sử dụng chung tiếng Tây Ban Nha, trừ Brazil nói tiếng Bồ

Đào Nha. Trước khi thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha xâm lược, các quốc gia

Mĩ Latin đã có một nền văn hóa bản địa hết sức đa dạng và độc đáo với những cuốn

kinh thánh chép tay rất tỉ mỉ, công phu được truyền khẩu từ đời này sang đời khác

của người Inca, Maya, Aztec. Văn hóa truyền khẩu thời này hầu hết nằm trong hai

lĩnh vực thần thoại và tín ngưỡng tôn giáo.

Từ nửa sau thế kỉ XX, văn học Mĩ Latin đã có những bước đột phá mạnh mẽ

làm cho cả thế giới phải hướng mắt về châu lục này với việc bùng nổ phong cách

sáng tác mới: Magical realism (Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo), hàng loạt những tác

giả tài năng xuất hiện đã đem đến cho văn chương nhân loại những tiếng nói mới mẻ

và độc đáo. Tính đến nay, văn học Mĩ Latin đã có 6 tác giả nhận giải Nobel văn học

danh giá: Gabriela Mistral (1945), Miguel Angel Asturias (1967), Pablo Neruda

(1971), Gabriel García Márquez (1982), Octavio Paz (1990), Mario Vargas Llos

(2010). Mỗi người một vẻ, họ đều là những tài năng xuất sắc của văn chương nhân

loại.

Alvaro Mutis, một trong hai nhà tiểu thuyết thành công nhất trong lịch sử văn

chương Colombia, vừa theo nghĩa được giới phê bình tán thưởng vừa theo nghĩa

giành được nhiều giải thưởng quan trọng, đồng thời là đôi bạn thân từ hơn nửa thế kỷ

nay với G.Márquez, trong lần trả lời phỏng vấn của Elena Poniatowska năm 1975 đã

đánh giá rất cao về tài năng vượt trội của G.Márquez: “Tôi tin rằng chỉ một mình

García Márquez đã thâu tóm, thành tựu và thực hiện được một cách hữu hiệu đến

tuyệt đối việc di chuyển thế giới Mĩ Latin vào văn chương. Chỉ mình ông đã đưa ra

được một cái nhìn thâu tóm và chính xác về thế giới đó”. (Về thế giới của A. Mutis và

G.G. Márquez, Evăn) Thế giới của nỗi cô đơn, sự tù đọng và ngừng trệ qua sự hòa

quyện tuyệt diệu hai yếu tố huyền ảo và hiện thực. Thật vậy, G.Márquez là một tác

gia lớn của văn học Mĩ Latin và thế giới, ông là một cây đại thụ văn học, là một trong

những tác gia tiêu biểu cho văn học hậu hiện đại, theo chủ nghĩa hiện thực huyền ảo

ngày nay. Nghiên cứu về tác giả này sẽ giúp chúng ta hiểu được nhiều điều về văn

hoá, lịch sử, con người Mĩ Latin.

Tác phẩm làm nên tên tuổi của ông chính là “Trăm năm cô đơn”, “cuốn tiểu

thuyết đã đưa dòng văn chương Mĩ Latin lên đỉnh cao nhất tính tới thời điểm này.

Cuốn tiểu thuyết đồng nhất với Mĩ Latin hơn hết, cuốn tiểu thuyết mà trong đó Mĩ

Latin học được cách nhìn nhận chính mình, cuốn tiểu thuyết mà có lẽ đối với văn

chương Mĩ Latin và những nhà du hành biển cả của nó cũng giống như Quixote đối

với văn chương Tây Ban Nha cùng những kẻ săn tìm giấc mơ bất khả.” (Về thế giới

của A. Mutis và G.G. Márquez, Evăn) Tác phẩm là một văn bản mở ra vô cùng những

hướng tiếp cận, cho nên dù đã có nhiều công trình nghiên cứu nhưng vẫn chưa khai

thác hết những giá trị độc đáo của nó. Một trong những giá trị đặc biệt đó chính là

hiện tượng song trùng.

Song trùng là một hiện tượng văn hóa xuất hiện từ rất sớm, đi vào đời sống văn

học từ xưa đến nay khá phong phú và đa dạng. Tuy nhiên mỗi tác phẩm luôn có

những nét riêng độc đáo, hấp dẫn. Trong công trình này, chúng tôi nhận thấy song

trùng chi phối nhiều đến việc tổ chức các thành tố nghệ thuật của tác phẩm như nhân

vật, kết cấu, trần thuật…Nó là cơ sở quan trọng xây dựng nên hệ thống thi pháp của

tác phẩm, đồng thời nó còn thể hiện mô hình quan điểm về thế giới của tác giả nhưng

lại chưa được các nhà nghiên cứu tìm hiểu và quan tâm đúng mức. Nghiên cứu đề tài

này, chúng tôi hy vọng sẽ góp thêm tiếng nói trong việc khám phá thế giới nghệ thuật

độc đáo của tác phẩm. Từ đó có thêm cơ sở để lí giải những chủ đề, tư tưởng quan

trọng của G. Márquez cũng như góp phần nâng cao hơn nữa giá trị độc đáo của

“Trăm năm cô đơn” trong dòng chảy của văn chương nhân loại.

2. Lịch sử vấn đề

“Trăm năm cô đơn” là sự kiện văn học lớn của nhân loại trong thế kỉ XX, là

kiệt tác thứ hai được viết bằng tiếng Tây Ban Nha kể từ khi Don Quixote ra đời

(Pablo Neruda). Nhanh chóng, nó được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới và thu hút

sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu. Nghiên cứu “Trăm năm cô đơn”, họ

thường tập trung vào những khía cạnh: chủ đề cô đơn, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo,

kết cấu, nhân vật…và có nhiều phát hiện thú vị. Đặc biệt ở hai phương diện nhân vật

và kết cấu. Tìm hiểu hai phương diện này, chúng tôi nhận thấy chúng bị chi phối

mạnh của hiện tượng song trùng, tạo ra những kiểu nhân vật và kết cấu mới mẻ. Để

làm rõ điều này, chúng tôi tiến hành tìm hiểu tình hình nghiên cứu hai phương diện

trên của các nhà nghiên cứu đi trước từ đó chỉ ra những nét riêng của chúng tôi khi

cùng nghiên cứu về vấn đề này.

2.1 Nhân vật

Qua các tư liệu, chúng tôi nhận thấy khi nghiên cứu nhân vật trong “Trăm năm

cô đơn” các nhà nghiên cứu đã chỉ ra hai loại nhân vật quan trọng: nhân vật cô đơn,

bị chi phối bởi nỗi hoài nhớ và nhân vật được lặp đi lặp lại.

Đánh giá nhân vật trong “Trăm năm cô đơn” bị chi phối bởi nỗi hoài nhớ và cô

đơn là một xu hướng khá phổ biến của các nhà nghiên cứu trên thế giới, một trong

những người quan tâm sâu sắc đến vấn đề này là Steven Boldy. Trong công trình

Gabriel García Márquez, Bloom’s modern critical views, Harold Bloom, Chelsea

House (2007), Harold Bloom đã cho rằng nhân vật trong “Trăm năm cô đơn” sống

khép kín, cô đơn cho đến chết. Điều này hướng đến làm rõ chủ đề cô đơn của tác

phẩm. Cô đơn là bản chất của con người, càng trốn chạy con người càng trở nên cô

đơn. Và cô đơn như là sự cảnh báo cho cái chết và hủy diệt mà con người sẽ đối mặt

nếu sống quá ích kỉ và cá nhân. Lòng nhớ quê cũ đã buộc nạn nhân vào quá khứ và

họ u sầu cho đến chết. “Hai nhân vật quan trọng quay trở lại cội nguồn và u sầu cho

đến chết bởi nỗi hoài nhớ: Amaranta Úrsula sôi nổi, hoạt bát và cực kì hiện đại đã

trở về làng Macondo khi nó ở trong tình trạng khánh kiệt, đổ nát chỉ để chảy máu cho

đến chết sau khi sinh ra một hài nhi có cái đuôi lợn, giống như đứa trẻ đầu tiên của

dòng họ, đã bị chết sau hơn một trăm năm trước đó, điểm khởi đầu của một vòng tròn

cho một chu kì nguyên vẹn. Cụ già bán sách ở Sabio Catalan thông thái trong nhóm

bạn của Aureliano Babilonia ông đã từng sống ở Bararanquilla trước đó. Cụ là

nhân vật cặp đôi với Melquíades, cũng có những bản viết tay. Sau nhiều năm sống ở

Macondo cụ cũng quay trở lại làng Mediterranean, nơi cụ sinh ra. Ở đó, cụ lại cảm

thấy nhớ về làng Macondo và điều đó làm cho cụ nhận ra nỗi hoài nhớ đối diện nhau

như những tấm gương soi vào nhau.” [59/100-101]

Cùng quan điểm với Steven Boldy, Senna trong bài viết Carl Cliffs Notes on

100 Years of cũng đã khẳng định: “Hầu như không có ngoại lệ, những con đực

Buendía được đánh dấu những dấu hiệu bi thảm của cô đơn. Và điều này có lẽ là tốt

nhất để có thể hiểu được các nhân vật”. Tiêu biểu là số phận của hai anh em sinh đôi

Segundo, mặc dù họ đã phát triển khác nhau và đã được định hình bởi những hoàn

cảnh sống khác nhau nhưng cuối cùng họ lại chết cùng lúc sau khi sống u sầu, đơn

độc trong một thời gian dài. Chúng ta thấy rằng ở đây một lần nữa cô đơn trở nên

thành "sức mạnh của thói quen" mỗi người. Rõ ràng, García Márquez xem cô đơn là

một phần không thể tránh khỏi trong xã hội.

Steven Boldy và Senna không phải là những người đầu tiên nhận thấy nhân vật

ở đây cô đơn. Trước ông đã có nhiều tác giả đề cập đến điều này, Michael Wood

(1990), Gabriel García Márquez One Hundred Years Of Solitude, Cup Archive và

Bell, Michael (1993), Gabriel Gacía Ma1rquez: Solitude and Solidary, Macmillan

cho rằng nhân vật trong “Trăm năm cô đơn” là nhân vật cô đơn. Khẳng định như vậy

các nhà nghiên cứu muốn hướng đến làm rõ chủ đề cô đơn của tác phẩm và khẳng

định cô đơn là phần cố hữu quan trọng trong cuộc sống của chúng ta.

Trong khi đó nhiều nhà nghiên cứu lại cho rằng nhân vật trong “Trăm năm cô

đơn” là kiểu nhân vật lặp đi lặp lại. Tiêu biểu cho xu hướng này là ý kiến của Gerald

Martin và Ian Johnston. Gerald Martin giáo sư khoa Ngôn ngữ và văn chương Tây

Ban Nha tại Đại học Pittsburgh, Mỹ là một nhà phê bình tiểu thuyết nổi tiếng của Mĩ

Latin khi nghiên cứu về kiệt tác trên của G.Márquez trong bài viết “On 'magical' and

social realism in Garcia Marquez” In McGuirk and Cardwell đã nhận xét: “Trong

Trăm năm cô đơn không bao giờ giống như mọi người mong đợi. Mọi thứ đều bất

ngờ với các nhân vật. Tất cả họ đều thất bại, và thất vọng. Hầu hết các hành động

của họ - từ cái nhìn đầu tiên như cấu trúc của cuốn tiểu thuyết - là những vòng

tròn…, họ không thể thoát ra khỏi vòng tròn luẩn quẩn của số phận. Cuộc sống của

họ được định bởi giá trị của một ai trước đó. Do đó cô đơn, trung tâm chủ đề (cùng

với nhiệm vụ) của lịch sử Mĩ Latin: đó là họ bị bỏ rơi trong một châu lục trống rỗng,

một văn hóa rộng lớn chân không” [64/106]. Sự lặp đi lặp lại này đặc biệt ở tuyến

nhân vật nam của dòng họ Buendía: “Mô hình lặp đi lặp lại trong tác phẩm, đặc biệt

là với những người đàn ông. Họ phấn đấu thực hiện hoạt động như những người đàn

ông trẻ, nhưng trở nên thất vọng và cuối cùng rút lui. Không có khả năng đối phó với

điều kiện thực tế có hiệu quả, cuối cùng họ lựa chọn cho một cô đơn thất vọng”.

[64/106] Nhân vật trong “Trăm năm cô đơn” lặp đi lặp lại như một vòng tròn định

mệnh vĩnh viễn bất chấp sự cố gắng vượt thoát của họ. Định mệnh này được gắn chặt

với cái tên mà họ đón nhận ngay từ lúc lọt lòng. Nhân vật nào có tên gọi giống nhau

thì số phận của họ sẽ giống nhau, đều thất bại, sống cô đơn và hoài nhớ. Nhân vật lặp

đi lặp lại tiếp tục tạo ra cấu trúc vòng tròn thú vị cho tác phẩm. Nhấn mạnh điều này,

Gerald Martin khẳng định nó vừa làm rõ chủ đề cô đơn của tác phẩm vừa hướng đến

thể hiện những giá trị hiện thực sâu sắc.

Với bài viết nổi tiếng “Trăm năm cô đơn của Márquez” (1995) tại đại học

Malaspina College nay là Đại học Vancouver Island, Ian Johnston đã chỉ ra nhân vật

ở đây được xây dựng lặp đi lặp lại một cách đầy ám ảnh qua nhiều thế hệ, không chỉ

lặp lại tên gọi mà tính cách, số phận cũng được lặp lại và họ ý thức được điều này

một cách rõ ràng nhưng không thể thay đổi được bởi số phận của kẻ hậu sinh đã được

định đoạt qua sự lặp lại tên gọi của những tiền nhân trước đó. “Đối với tất cả những

thay đổi rõ ràng trong các ngành nghề chính của họ, tính cách của họ liên tục lặp lại

các kinh nghiệm của các thế hệ trước đó. Nhân vật có một ý thức mạnh mẽ về số

phận lặp lại ám ảnh này. Khi một cái tên được chọn đặt cho nhân vật thì nó cũng đã

xác định luôn các hành động chủ yếu của cuộc sống sau này của họ. Và người đó sẽ

lặp lại các sự kiện cuộc sống của tổ tiên mình trước đây”. Có thể thấy những ý kiến

trên của Ian Johnston khá tương đồng với Gerald Martin trong việc đánh giá đặc điểm

nhân vật trong “ Trăm năm cô đơn”, nhân vật luôn được lặp lại tạo ra những số phận

giống nhau qua nhiều thế hệ.

Về phía các công trình trong nước, chúng tôi nhận thấy có những bài viết

đáng chú ý của Nguyễn Trung Đức, Lê Huy Bắc, Trần Thị Anh Phương… nhìn

chung các nhà nghiên cứu đều cho rằng nhân vật trong “Trăm năm cô đơn” là nhân

vật cô đơn và lặp lại. Điều này góp phần làm rõ chủ đề cô đơn và những giá trị hiện

thực sâu sắc của Mĩ Latin.

Nguyễn Trung Đức (2003), “Trăm năm cô đơn”, Nxb Văn học đã có những

nhận xét khá đầy đủ về nghệ thuật của tác phẩm, trong đó có phương diện nhân vật.

Thứ nhất nhân vật trong “Trăm năm cô đơn” là những nhân vật siêu mẫu, dị thường

được phóng đại đến mức quái dị, gây ấn tượng sâu đậm với người đọc. Thứ hai nhân

vật được xây dựng giống nhau, lặp lại phân làm hai tuyến: José Arcadio và

Aureliano. Trong đó những Aureliano luôn có trí thông minh tuyệt vời nhưng lại mắc

chứng trầm tư, ủ dột và lánh đời còn những José Arcadio bao giờ cũng khỏe mạnh,

táo gan và sống chan hòa nhưng cuối cùng đều thất bại và cô đơn. Cuộc đời của mỗi

nhân vật là một vòng tròn cô đơn, khép kín. “Chúng ta dễ dàng nhận ra những nhân

vật trong Trăm năm cô đơn là những nhân vật siêu mẫu, tức là những con người phi

thường, dị thường và quái dị. […]Những Aureliano có trí thông minh tuyệt vời nhưng

lại mắc chứng trầm tư, ủ dột và lánh đời. Trong khi đó những José Arcadio bao giờ

cũng khỏe mạnh, táo gan và sống chan hòa. Hai tuyến nhân vật này có lúc hoán đổi

tư chất của nhau[…] Tuy là những người khỏe mạnh, thông minh, có ý chí và nghị

lực phi thường, những José Arcadio và những Aureliano bao giờ cũng thất bại, cũng

phải sống trong cảnh cô đơn”. [11/14-16]

Lê Huy Bắc (2009), “Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel García

Márquez”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, cho rằng nhân vật của “Trăm năm cô đơn” mỗi

người một vẻ nhưng tất đều cả đều cô đơn và không toàn mĩ. G.Márquez đặt nhân vật

của mình đối diện với cái cô đơn và kiểm tra thái độ của họ với cái cô đơn đó. Từ đó

khẳng định cô đơn vừa là động lực vừa là xung lực tiêu diệt tất cả. Cùng với sự cô

đơn, nhân vật của G.Márquez luôn tồn tại song song cùng lúc hai mặt nhân phẩm:

ngợi ca và chê trách. Đó là những lí do khiến dòng họ Buendía bị tuyệt diệt. “Tất cả

các nhân vật trong Trăm năm cô đơn đều luôn tồn tại hai mặt: nhân phẩm, đáng ngợi

ca và lệch lạc, hư hỏng, đồi bại đáng chê trách”. […] Thế giới nhân vật trong Trăm

năm cô đơn đều phải luôn đối đầu với cái cô đơn. Chưa bao giờ trong lịch sử văn

học thế giới, chúng ta lại gặp nhiều con người, nhiều kiểu dạng cô đơn như ở

đây.[…] G.Márquez đặt nhân vật của mình đối diện với cái cô đơn và kiểm tra thái

độ của nhân vật mình với cái cô đơn đó”. [23/218-219]

Trần Thị Anh Phương với bài viết “Nhân vật trùng tên trong Âm thanh và

cuồng nộ và Trăm năm cô đơn”, TCVH, Số 9 đã tiến hành so sánh và chỉ ra những

điểm giống và khác nhau của Faulkner và G.Márquez khi xây dựng những nhân vật

trùng tên trong hai tác phẩm trên. Tác giả nhận thấy qua môtip nhân vật trùng tên

này, Faulkner và G.Márquez muốn nhấn mạnh hành trình tìm về bản ngã, sự hiện

sinh của con người trong thế giới. Đồng thời sử dụng kiểu nhân vật trùng tên để lồng

ghép lịch sử dòng họ với bức tranh rộng lớn của xã hội. Tuy nhiên sự so sánh này

cũng chỉ mới bước đầu và mức độ so sánh cũng chưa thực sự sâu sắc nhưng tác giả

bài viết bước đầu đã chỉ ra được những nét tương đồng và dị biệt thú vị của hai tác

giả này khi cùng tạo ra những nhân vật trùng tên. “Cả hai tiểu thuyết gia này đều sử

dụng mô típ trùng tên nhân vật theo chu kì khép kín đến vô vọng. Hiện tượng xoá mờ

tên tuổi, đường viền lịch sử gây ra một tín hiệu rõ rệt: sự tồn tại của con người như

những hồ sơ, những con số, những danh bạ. […] Môtip trùng tên nhân vật trong Âm

thanh và cuồng nộ và Trăm năm cô đơn mô tả sự cảnh tỉnh của con người trong thế

giới hiện đại với hành trình tìm về bản ngã, sự hiện sinh của con người trong thế giới

này.

Với nhân vật trùng tên, Márquez đã đẩy trạng thái cô đơn của con người lên

đỉnh điểm và nhân vật trở thành diện mạo vĩnh cửu trong văn học. Bằng việc sử dụng

nhân vật trùng tên, Márquez đã thể hiện nỗi cô đơn thống thiết như của con người, và

nỗi khổ đau này hiện lên trong tác phẩm như một bản án đồng thời lại là sự trừng

phạt. Cũng như Faulkner, Márquez sử dụng kiểu nhân vật trùng tên để dàn dựng lên

bức tranh dòng họ lồng trong bức tranh rộng lớn của xã hội tù đọng, lạc hậu rơi vào

khủng hoảng bế tắc của đất nước Colombia hay Mỹ Latin nói chung”. [50/140-142]

Như vậy, khi nghiên cứu nhân vật trong “Trăm năm cô đơn”, đa số các nhà

nghiên cứu nhận thấy nhân vật ở đây bị chi phối bởi nỗi hoài nhớ, cô đơn và lặp đi

lặp lại. Qua việc xây dựng những nhân vật như thế, G.Márquez khẳng định cô đơn

như một phần bản ngã của mỗi người. Đồng thời qua đó, tác phẩm còn phản ánh hiện

thực xã hội Colombia và Mĩ Latin một cách sâu sắc. Cùng nghiên cứu nhân vật trong

“Trăm năm cô đơn”, chúng tôi vẫn nhận thấy nhân vật ở đây được xây dựng lặp lại

như những nhà nghiên cứu đi trước. Tuy nhiên sự lặp lại này không chỉ lặp lại đơn

thuần từng cá nhân riêng biệt mà nhân vật được xây dựng lặp lại theo kiểu cặp đôi,

mỗi thế hệ đều tồn tại song đôi hai cá thể, hai cá thể này sẽ được tái xuất một phần

hoặc hoàn toàn qua những cặp đôi ở thế hệ tiếp theo và cứ như thế cho đến những kẻ

cuối cùng của dòng họ. Sự lặp lại liên tiếp này tiếp tục tạo ra sự phân tuyến nhân vật

rõ rệt cho tác phẩm.

2.2 Kết cấu

Quan tâm đến phương diên thứ hai, kết cấu tác phẩm, chúng tôi nhận thấy các

nhà nghiên cứu đề cập đến các kiểu kết cấu quan trọng sau: kết cấu vòng tròn, lặp lại

và kết cấu biên niên sử. Ở kiểu kết cấu thứ nhất, kết cấu vòng tròn lặp lại được khá

nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra. Trong đó đáng chú ý là hai bài viết của Carlos Fuentes

và Steven Boldy .

Carlos Fuentes trong lời giới thiệu tác phẩm, One hundred years of solitude

(1998) ,Gregory Rabassa dịch, London: Everyman’s library đã chỉ ra trong tác phẩm

có hai câu chuyện, có hai người kể chuyện và được kết cấu như một vòng tròn. Câu

chuyện thứ nhất kể lại lịch sử của Buendía từ lúc lập làng Macondo một cách liên tục

theo trình tự thời gian, vừa như một áng Thánh kinh, vừa mang tính chất châm biếm,

cường điệu như một vòng tròn bất tận với những cái tên, những mô hình kí ức lặp đi

lặp lại liên tục: con của José Arcadio tên là Aureliano, con của Aureliano lại có tên là

José Arcadio, rồi con của José Arcadio lại có tên là Aureliano …Câu chuyện thứ hai

bắt đầu khi câu chuyện thứ nhất kết thúc, khi Aureliano Babilona phát hiện ra câu

chuyện của dòng họ mình và số phận của làng Macondo đã được viết trước đó trong

những văn bản viết tay kì lạ của Melquíades, tạo ra một vòng tròn định mệnh cho tác

phẩm. “Trăm năm cô đơn có thể xem là có hai câu chuyện bởi vì có hai người kể

chuyện. Câu chuyện thứ nhất được thể hiện trên văn bản sách vở mà chúng ta coi là

không phức tạp: tác giả Gabriel García Márquez kể lại lịch sử của cái dòng họ đã

tạo lập nên làng Macondo một cách liên tục theo trình tự thời gian, vừa như một áng

Thánh kinh, vừa mang tính chất châm biếm, cường điệu: con của José Arcadio là

Aureliano, con của Aureliano lại có tên là José Arcadio, rồi con của José Arcadio

lại có tên là Aureliano …câu chuyện thứ hai bắt đầu khi câu chuyện thứ nhất kết

thúc: chúng ta nhận ra rằng biên niên sử của làng Macondo trước đó đã được viết

trong những văn bản viết tay kì lạ của một nhà thông thái, Melquíades. Đầu tiên, ông

ấy xuất hiện với tư cách là một nhân vật trong tác phẩm sau đó chúng ta mới phát

hiện ra ông ấy là một người kể chuyện. Lúc đó, có hai điều xảy ra: cuốn sách bắt đầu

lại, nhưng lần này những sự kiện lịch sử được diễn ra đồng thời như một huyền thoại.

[…]

Kí ức lặp lại mô hình, lặp lại sự bắt đầu, giống như ngài đại tá Buendía làm

những những con cá vàng rồi lại đem nấu chảy nó ra rồi lại làm lại từ đầu hết lần

này đến lần khác…tái sinh liên liên tục, để đảm bảo sự vĩnh cửu của vũ trụ bằng

những hoạt động chính xác, có tính chất nghi lễ, chân thành lặp lại và lặp lại việc

sản xuất những con cá vàng rồi lại đem nấu chảy nó ra rồi lại làm lại từ đầu, cứ như

thế tiếp tục tái sinh lại trong một sự bảo đảm chính xác tuyệt đối như những hoạt

động của vũ trụ.[57/8-11] Khẳng định kết cấu trong “Trăm năm cô đơn” là kết cấu

vòng tròn bởi tác giả nhận thấy những cái tên và những mô hình kí ức cứ lặp đi lặp lại

trong tác phẩm như thể thời gian cũng là một sự lặp lại những thời điểm đã xảy ra

trong quá khứ.

Không chỉ riêng Carlos Fuentes, Steven Boldy trong bài viết Gabriel García

Márquez, Bloom’s modern critical views, Harold Bloom, Chelsea House (2007),

cũng khẳng định kết cấu của “Trăm năm cô đơn” như những vòng tròn lặp lại khi

thời gian quá khứ và hiện tại đồng hiện một cách tinh tế trong tác phẩm. Những sự

kiện được kể ra khi bắt đầu một chương hoặc một đoạn sau đó sẽ được kể lại theo lối

vòng tròn với việc quay ngược lại quá khứ rồi phát triển tiếp câu chuyện ở hiện tại

tạo cho câu chuyện như một vòng tròn khép kín vĩnh viễn. “Kĩ thuật kể chuyện của

tác phẩm như vòng tròn lặp lại, sự đảo lộn và cùng tồn tại thì quá khứ và hiện tại

trong câu. Ở phần bắt đầu chương sáu phân tích kĩ thuật trần thuật của tác phẩm

như những vòng tròn lặp lại, để nhấn mạnh tính đồng thời của quá khứ-hiện tại trong

cùng câu. Lúc mở đầu chương sáu, ngài đại tá tham gia quân đội….khi chúng ta đọc

tới những phần giữa của những chương tiếp theo thì những điều này đã xảy ra trước

đó, được đoán trước đó và sau đó được ghi lại.[…] Kết thúc một chương trong sự

giống nhau của dòng họ Buendía hoặc thời gian chung bị phân chia như một cuốn

sách khải huyền”. [59/101].

Ở bài viết “On 'magical' and social realism in Garcia Marquez” In McGuirk

and Cardwell, Gerald Martin cũng nhận thấy “cấu trúc của cuốn tiểu thuyết - là

những vòng tròn”. Từ việc nhận xét thế giới nhân vật của tác phẩm, ông đã cho rằng

sự lặp lại những cái tên giống nhau qua nhiều thế hệ của dòng họ Buendía tạo cho câu

chuyện phát triển theo một chu kì khép kín đến vô vọng, như một vòng tròn quay mãi

quay mãi, tạo ra kết cấu vòng tròn.

Xu hướng nhìn nhận kết cấu của tác phẩm như những vòng tròn của các nhà

nghiên cứu trên đây vốn dĩ đã được chính García Márquez tiết lộ trong văn bản tác

phẩm khi ông để chính các nhân vật của mình tự nhận xét về quy luật vận động theo

vòng tròn, không hao mòn của thời gian trong tác phẩm. Tương ứng với dòng thời

gian “bị tai nạn” ấy, nhiều thế hệ của gia đình Buendía được lặp lại do di truyền.

Ursula Iguaran là người đầu tiên của Macondo đã nhận biết rằng thời gian thì không

hữu hạn, mà dần dần tiến về phía trước và sự đồng thời của các thời gian khiến cho

nhiều người mắc bệnh quên khi họ lẫn lộn quá khứ với tương lai và tương lai cũng dễ

nhớ như quá khứ bởi vì cùng theo một thứ chu kỳ.

Trong khi đó, Raymond L.Williams (2007), Gabriel García Márquez, Bloom’s

modern critical views, Harold Bloom, Chelsea House, lại nhấn mạnh cấu trúc biên

niên sử của tác phẩm qua những kĩ thuật độc đáo, tạo ra một “cấu trúc hỏi chứ không

phải là một câu trả lời”: “Yếu tố văn chương của biên niên sử là việc tác giả sử dụng

những kĩ thuật báo chí, những giấc mơ, những linh cảm và những biểu tượng để làm

mờ đi ranh giới giữa thực tế và hư cấu. Việc phân tích tiểu thuyết giống như những

quy ước bắt buộc của thể loại trinh thám. Isabel A’lvarez Borland Labels gọi nó là

một mô hình hoàn hảo của cái gọi là “hermeneu-tistale”, một cấu trúc hỏi chứ không

phải là một câu trả lời”. [59/108]

Cùng nhấn mạnh yếu tố biên niên sử của tác phẩm Ochoa Reyes trong Lose’

Luis, Auto-pisa de una muerrte anunciada Gabriel García Márquez Colombia đã

“xem xét vai trò của người kể chuyện trên cả quan điểm lịch sử và quan điểm kể

chuyện trong biên niên sử về một cái chết được báo trước trong đó tác giả là người

kể chuyện và là một nhân vật, thuật lại những sự kiện và tổ chức chúng thành một

biên niên sử”, Ngoài ra Ochoa Reyes còn tìm thấy điểm tương đồng giữa cuốn tiểu

thuyết và sách Phúc âm.

Nhấn mạnh cấu trúc biên niên sử của cuốn tiểu thuyết, Raymond L.Williams

và Ochoa Reyes chủ yếu dựa trên loại thời gian tuyến tính trong tác phẩm. Nhưng tác

phẩm này có đến hai văn bản, hai dòng thời gian tuyến tính và phi tuyến tính đồng

hiện với nhau cho nên nếu chỉ quan sát nó ở một phương diện tuyến tính mà kết luận

cấu trúc tác phẩm theo lối biên niên sử theo người viết là chưa thỏa đáng, chỉ có thể

là một phương diện kết cấu của tác phẩm.

Các nhà nghiên cứu trong nước khi tiếp cận tác phẩm này cũng đã có những

kiến giải rất thú vị xung quanh vấn đề kết cấu của tác phẩm. Nhìn chung sự đánh giá

ở đây thiên về hướng tác phẩm được kết cấu theo kiểu vòng tròn. Nguyễn Trung Đức

(2003), “Trăm năm cô đơn”, Nxb Văn học nhận thấy tác phẩm được kết cấu phức tạp

và chặt chẽ đến từng chi tiết theo phương thức đồng hiện thời gian. Cuốn sách có hai

văn bản, tương ứng có hai người kể chuyện. Người kể chuyện trong văn bản thứ hai

là một nhà thông thái sau khi nắm được câu chuyện thứ nhất do Melquíades viết trên

những tấm da thuộc rồi kể lại cho độc giả nghe. Tương ứng với hai người kể chuyện,

có hai loại thời gian: thời gian trong văn bản một là thời gian tâm lí gắn liền với quá

trình hồi tưởng, nhớ lại của nhân vật. Thời gian của văn bản thứ hai là thời gian biên

niên, trật tự. Trong đó thời gian trong văn bản hai đóng vai trò then chốt trong tác

phẩm. Hai loại thời gian này đan bện, gắn kết vào nhau một cách chặt chẽ. “Trăm

năm cô đơn là chuyện về dòng họ Buendía được viết tỉ mỉ đến từng chi tiết theo

phương thức thời gian đồng hiện với một kết cấu phức tạp và chặt chẽ.[…] Cuốn

sách có hai văn bản. Văn bản một là cái văn bản chúng ta đọc hết dòng này sang

dòng khác chạy suốt từ đầu đến cuối cuối sách. Văn bản hai là văn bản được

Melquíades viết trên những tấm da thuộc. Văn bản hai làm nền cho văn bản một.

Tương ứng với hai văn bản có hai người kể chuyện. Một là người kể chuyện ở văn

bản một, chúng tôi gọi là người kể chuyện thứ nhất, và người kia là Melquíades kể

chuyện ở văn bản thứ hai, chúng tôi gọi là văn bản thứ hai. Sau khi đã thuộc lòng

câu chuyện về dòng họ Buendía do người kể chuyện thứ hai ghi trên những tấm da

thuộc, người kể chuyện thứ nhất với tư cách là nhà thông thái, người hiểu biết tất cả,

theo sở thích của mình kể lại cho chúng ta nghe, người kể chuyện thứ nhất đã vận

dụng kết cấu sự kiện để làm nổi bật tính cách một nhân vật hoặc bản chất một sự kiện

bằng cách hội tụ các sự kiện, các tính tiết theo thứ tự biên niên sử.

Tương ứng với hai người kể chuyện, trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn có hai

thời gian sau đây: thời gian của người kể chuyện thứ nhất tương ứng với văn bản

một, bắt đầu với việc giới thiệu một nhân vật, rồi đến một lúc nào đó, thời gian này

lùi lại vài thập kỉ, thậm chí vài thế kỉ, sau đó lại tiếp nối cùng với việc kể tiếp về nhân

vật ấy. […]. Thời gian của người kể chuyện thứ nhất là thời gian tâm lí gắn với quá

trình nhớ lại, quá trình hồi tưởng. Thời gian của người kể chuyện thứ hai gắn với văn

bản hai. Thời gian này là thời gian dòng họ Buendía ra đời, thịnh đạt và tuyệt diệt.

Nhưng vì dòng họ này là một dòng họ đã được khẳng định, không phát triển tới một

tương lai nào nên thời gian của người kể chuyện thứ hai là thời gian cốt truyện mang

tính biên niên sử, nó là thời gian thực tại, tồn tại độc lập với ý thức của người kể

chuyện thứ nhất. Trong Trăm năm cô đơn chúng ta thấy hai loại thời gian này đan

bện lấy nhau, hoà quyện vào nhau, trong đó thời gian của người kể chuyện thứ hai,

thời gian thực tại giữ vai trò then chốt, tạo thành thời gian nghệ thuật của tác phẩm,

phản ánh được đặc trưng trì động, chậm phát triển của Mỹ Latin”. [11/8-11] Những

ý kiến trên của dịch giả Nguyễn Trung Đức khá cùng qua điểm với Carlos Fuentes

mà chúng tôi đã đề cập ở trên.

Lê Huy Bắc (2009), “Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel García

Márquez”, Nxb Giáo dục, Hà Nội cho rằng kết cấu của “Trăm năm cô đơn” là kết cấu

mê lộ. Tác giả xuất phát từ việc các thành tố của tác phẩm được lặp đi lặp lại một

cách đậm đặc, chủ yếu là phương diện nhân vật: lặp tên, lặp kí ức, tạo ra những tuyến

nhân vật song trùng, đồng dạng. Kết cấu mê lộ phù hợp cho việc thể hiện chủ đề cô

đơn của tác phẩm hay chính nỗi cô đơn không lối thoát của nhân vật tạo nên sự mê lộ

cho tác phẩm. “Kết cấu của Trăm năm cô đơn về bản chất là kết cấu mê lộ. Trước hết

là những cái tên được lặp đi lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trêm nữa, tác giả

còn cấu trúc cặp nhân vật sinh đôi (anh em Arcadio Segunvà Aureliano Segundo) với

mục đích là tạo nên sự huyền ảo về những sự kiện quay vòng thông qua sự nhầm lẫn,

đáng đố người đọc.

Ngay đến cả kí ức, người kể cũng để hai nhân vật có cùng kí ức. Đấy là chuyện

đại tá Aureliano Buendía đứng đầu họng súng của nhóm lính hành hình trong lúc

đang nhớ về quá khứ. Trước đó, cháu của đại tá Aureliano Buendía là Arcadio khi

đứng trước đội hành hình cũng nhớ về quá khứ. Hai chú cháu này có sự đồng dạng

về kí ức, kí ức về gia đình. Không chỉ riêng thế giới đàn ông mà thế giới đàn bà trong

tác phẩm cũng được cấu trúc theo kiểu mê lộ. Một Pilar Ternera vừa đẻ con với

Arcadio vừa đẻ con với Aureliano. Bà là mẹ, là bà, là cụ của nhiều hậu duệ nhà

Buendía, nhưng những hậu duệ ấy chẳng một ai biết được mối quan hệ của mình với

bà. Một Úrsula, một Remedios…được tái sinh qua nhiều thế hệ ở ngoại diện hoặc

tính cách. Tất cả tạo nên sự quay vòng của cái mê lộ bất tận của dòng họ, của nỗi cô

đơn của kiếp người ”. [23/231-232]. Thực chất kết cấu mê lộ mà tác giả đề cập ở đây

cũng là một dạng của kết cấu vòng tròn. Vì bản chất của mê lộ cũng là những vòng

tròn vĩnh viễn không có lối thoát, luôn là những lối đi trùng lặp lên nhau mà không có

điểm dừng. Do vậy ý kiến trên của Lê Huy Bắc theo chúng tôi nó khá cùng quan

điểm với một số nhà nghiên cứu mà chúng tôi đã đề cập ở trên.

Như vậy, khi nhận xét kết cấu và nhân vật trong “Trăm năm cô đơn” các nhà

nghiên cứu trong và ngoài nước nhận thấy đó là kiểu kết cấu vòng tròn, mê lộ. Nhân

vật bị chi phối bởi nỗi hoài nhớ, cô đơn và lặp đi lặp lại. Qua đó chúng tôi thấy rằng

mặc dù xuất hiện và chi phối khá quan trọng trong tác phẩm nhưng hiện tượng song

trùng trong “Trăm năm cô đơn” chưa được các nhà nghiên cứu đánh giá và quan tâm

đúng mức, cũng như được gọi tên một cách chính xác, rõ ràng. Tiếp thu thành quả

của những nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu và đi sâu

hơn trong việc làm rõ sự chi phối của hiện tượng song trùng trong “Trăm năm cô

đơn”, cụ thể trên hai phương diện nhân vật và kết cấu. Từ đó có thể đánh giá đầy đủ

hơn về vai trò của hiện tượng này trong tác phẩm.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tác phẩm “Trăm năm cô đơn” do nhóm dịch giả Nguyễn Trung Đức- Phạm

Đình Lợi- Nguyễn Quốc Dũng dịch và giới thiệu từ khá sớm ở Việt Nam. Tính đến

nay, tác phẩm đã qua nhiều lần tái bản. Ở đây, chúng tôi sử dụng văn bản dịch “Trăm

năm cô đơn” 2003, Nxb Văn học. Trong quá trình nghiên cứu khi cần đối chiếu với

nguyên bản thì chúng tôi sử dụng văn bản: One hundred years of solitude (1998),

Gregory Rabassa dịch sang tiếng Anh, London: Everyman’s library.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, trước hết chúng tôi tập trung làm rõ khái niệm song

trùng và song trùng trong một số tác phẩm văn học.

Thứ hai, chúng tôi tiến hành tìm hiểu hiện tượng song trùng trong “Trăm năm

cô đơn” trên các phương diện: Nghệ thuật xây dựng nhân vật và kết cấu. Từ đó chỉ ra

những hiệu quả nghệ thuật của nó trong tác phẩm.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng chủ yếu ba phưong pháp: văn hoá-lịch

sử, so sánh-đối chiếu và phân tích cấu trúc.

Phương pháp so sánh-đối chiếu được chúng tôi sử dụng nhiều trong chương I

nhằm chỉ ra sự tương đồng và dị biệt giữa các tác giả khác và G. Má rquez khi cùng

khai thác song trùng. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp này ở chương II

khi tiến hành so sánh hệ thống biểu tượng và nhân vật trong tác phẩm.

Phương pháp văn hoá-lịch sử là phương pháp quan trọng thứ hai được chúng

tôi sử dụng trong luận văn. Chúng tôi nhận thấy, văn hóa, lịch sử có vai trò khá quan

trọng trong sáng tác của một nhà văn.Văn hoá, lịch sử Colombia và Mĩ Latin đã để lại

dấu ấn khá đậm nét trong các tác phẩm của G.Márquez, đặc biệt trong “Trăm năm cô

đơn”. Vì thế, khi nghiên cứu tác phẩm này, chúng tôi đã dùng phương pháp trên để

nghiên cứu, lí giải những hình tượng nhân vật và hệ thống biểu tượng trong tác phẩm.

Qua đó làm rõ được những giá trị tư tưởng sâu sắc của tác phẩm, đặc biệt là việc thể

hiện các sự kiện lịch sử của đất nước. Phương pháp này chúng tôi vận dụng nhiều ở

chương II.

Như trên chúng tôi đã khẳng định trong “Trăm năm cô đơn” song trùng chi

phối mạnh mẽ đến việc xây dựng các thành tố của tác phẩm. Cho nên phương pháp

cấu trúc được chúng tôi sử dụng nhằm tìm ra mối liên kết đó giữa các thành tố của tác

phẩm và tư tưởng của nhà văn, tạo cơ sở đúng đắn để đánh giá những giá trị của tác

phẩm.

Trên đây là ba phuơng pháp quan trọng được chúng tôi sử dụng thường xuyên

trong quá trình nghiên cứu. Bên cạnh đó chúng tôi còn phối hợp với một số phương

pháp hỗ trợ khác như: Phương pháp tiểu sử, Phương pháp thống kê nhằm đạt hiệu

quả tốt nhất cho việc nghiên cứu.

5. Đóng góp của đề tài

Nghiên cứu song trùng trong “Trăm năm cô đơn”, chúng tôi nhận thấy:

-Song trùng trong tác phẩm này là một hiện tượng chứ không phải là một biểu

tượng như những sáng tác khác.

-Song trùng chi phối mạnh mẽ đến các thành tố của tác phẩm, trong đó có hai

phương diện quan trọng nhân vật và kết cấu.

Cùng là kiểu nhân vật song trùng nhưng ở Márquez có những biến tấu riêng so

với những nhà văn khác. Ông không chủ yếu khai thác nhân vật ở phương diện tâm lí,

thể hiện phần bản ngã con người mà chủ yếu hướng đến việc phản ánh và lí giải các

vấn đề của hiện thực. Tác phẩm được kết cấu như những mê lộ trùng lặp bởi nhiều

vòng tròn nhỏ đồng tâm trong vòng quay lớn của lịch sử dòng họ. Điều này hướng

đến chủ đề cô đơn của tác phẩm và các ý nghĩa lịch sử.

Từ đó chúng tôi thấy rằng hiện tượng song trùng trong “Trăm năm cô đơn” là

một cơ sở quan trọng thể hiện mô hình quan niệm về thế giới và con người của tác

giả. Đồng thời nó còn là cơ sở thi pháp của tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn”.

6. Cấu trúc của luận văn

Luận văn của chúng tôi ngoài phần dẫn nhập và kết luận còn có ba chương nội

dung.

Trước tiên, chúng tôi tiến hành làm rõ các vấn đề: lí do chọn đề tài, đối tượng, phạm

vi ngiên cứu, lịch sử vấn đề, phương pháp nghiên cứu, và cấu trúc của luận văn. Ở

phần lịch sử vấn đề, trên cơ sở tìm hiểu các tài liệu liên quan đến đề tài ở trong và

ngoài nước, chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá để chuẩn bị cho việc triển khai

những quan điểm của mình sau này trên cơ sở vận dụng ba phương pháp quan trọng:

phương pháp so sánh, phương pháp văn hoá-lịch sử và phương pháp phân tích cấu

trúc để làm sáng rõ vấn đề.

Chương I: Hiện tượng song trùng và G. Márquez

Trong chương này, chúng tôi xác định nội hàm khái niệm song trùng sau đó

tiến hành nghiên cứu một số tác phẩm khác liên quan đến nó. Từ đó chỉ ra sự vận

dụng và sáng tạo riêng của G.Márquez dựa trên mã biểu tượng truyền thống này.

Chương II: Song trùng và nghệ thuật xây dựng nhân vật

Chúng tôi nghiên cứu hiện tượng song trùng ở phương diện nghệ thuật xây

dựng nhân vật qua những thủ pháp trùng tên, hệ thống biểu tượng trùng lặp và nhân

vật được soi chiếu ở cái nhìn đa diện. Qua những thủ pháp này, hệ thống nhân vật

được xây dựng một cách sinh động và độc đáo.

Chương III: Song trùng và kết cấu tác phẩm

Người viết tập trung làm rõ sự chi phối hiện hiện tượng song trùng và kết cấu

tác phẩm qua các kiểu kết cấu: song hành, mê lộ.

Phần kết luận, chúng tôi tiến hành tổng kết lại những kết quả của luận văn,

đồng thời đưa ra những kiến nghị và đề xuất cho hướng nghiên cứu tiếp theo. Ngoài

ba phần chính nêu trên, luận văn còn có tài liệu tham khảo và phụ lục.

Chương I : Hiện tượng song trùng và Gabriel García Máquez

1.1 Biểu tượng song trùng trong văn học

1.1.1 Khái niệm song trùng

Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật. Đặc điểm cơ bản của

hình tượng nghệ thuật là sự tái hiện thế giới, làm cho con người và cuộc sống hiện lên

y như thật. Nhưng hình tượng nghệ thuật cũng là một hiện tượng đầy tính ước lệ.

Bằng hình tượng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng.

Theo nghĩa rộng biểu tượng “là đặc trưng phản ánh đời sống bằng hình tượng của

văn học nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa

của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn,

vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan

niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người, cuộc đời ”[20 /24]. Như vậy

biểu tượng nghệ thuật là những kí hiệu thẩm mĩ đa nghĩa, là kết quả của sự mã hóa

những xúc cảm, tư tưởng của nhà văn. Nó là những hình ảnh cụ thể, cảm tính nhưng

đầy sức gợi, mở ra một trường liên tưởng thú vị cho sự tiếp nhận của người đọc. Từ

đó những hình ảnh cặp đôi của các con vật trong những tác phẩm văn hoá, nghệ thuật

của nhân loại từ xa xưa với những ý nghĩa độc đáo được xem là biểu tượng của song

trùng.

Song trùng tồn tại trong hình ảnh “các con vật rắn, rồng, chim, sư tử,

gấu…thành từng đôi. Đấy không phải là mối quan tâm đơn giản về chuyên trang trí,

cũng không phải là một ảnh huởng nào đó của đạo Mani. Tất cả các con vật được thể

hiện đều có một tính đối cực kép, tốt lành và gây hại, được chỉ rõ trong các mục từ

tương ứng nói về chúng. Rất có thể đây là tính lưỡng diện của vật thể sống, được gợi

lên bằng khắc vẽ song trùng các hình ảnh. Chẳng hạn con sư tử, với sức mạnh của

nó, cùng lúc là biểu tượng của quyền lực tối cao và của thèm muốn ngấu nghiến, dù

đó là thèm muốn của công lí phục thù, hay của kẻ độc tài khát máu, của ý chí quyền

lực. Cũng như vậy, những dải băng hay những vòng bằng cây lá quấn quanh một

nhân vật, nếu là vòng khép chặt, là biểu tượng của sự tù hãm trong khó khăn và tai

hoạ ; còn nếu mở ra thì lại là biểu tượng sự giải thoát. Đôi khi sự song trùng chỉ

càng khiến cho ý nghĩa của một trong hai cực mạnh hơn, nhân đôi lên [17/826].

Như vậy song trùng (the double) trước hết là biểu tượng về các con vật, sự vật

tồn tại theo kiểu cặp đôi, thể hiện ý nghĩa đối cực kép, tốt lành và gây hại, lưỡng diện.

Không chỉ xuất hiện trong hình ảnh của các con vật, sự vật theo nguyên lí cặp đôi,

lưỡng diện, song trùng còn được thể hiện ở cả con người. “Các tôn giáo truyền thống

thường quan niệm linh hồn là bản trùng của chủ thể sống, có thể tách rời thể xác khi

chủ thể chết, hoặc trong giấc mộng hoặc do một thao tác ma thuật, và có thể thác

sinh vào chính thể xác đó hay vào một thể xác khác. Như vậy, hình ảnh con người tự

hình dung về mình là một hình ảnh nhân đôi. Mặt khác, khoa liệu pháp tâm lí có biết

đến những hiện tượng nhị hoá cuồng loạn hay phân lập nhân cách. Khoa liệu pháp

tâm lí coi những rối loạn của bản ngã như những biểu tượng. Chúng bộc lộ một sự

thụt lùi trở lại những giai đoạn trước và nguyên thuỷ, có thể coi như là cái nền bình

thường của tâm tính hiện tại của người bệnh, theo kiểu như các địa tầng. Các địa

tầng ấy có thể được phơi bày ra bằng những dấu hiệu thoái triển bệnh hoạn, bằng

các phương pháp thăm dò, bằng lối nhị hoá nhân cách của kịch chữa bệnh tâm thần

(psychodrame) chẳng hạn, bằng các hoạt động tâm lí hoặc hoat đông mệnh danh là

huyền bí được điều khiển một cách nguy hiểm. Một sự nhị hoá còn diễn ra trong nhận

thức và ý thức về cá nhân, giữa cái tôi nhận thức và hữu thức với cái bản ngã đươc

nhận thức và vô thức. Cái bản ngã trong chiều sâu, chứ không phải trong những tri

giác phù du, có thể xuất hiện như một mẫu gốc vĩnh cửu và theo những phân tích của

Henry Corbin xuất phát từ những văn bản của nhà Soufi Sohrawardi, như là Con

người ánh sáng, cái Bản ngã ánh sáng, người Dẫn đường của riêng ta, vị thiên thần

khởi xướng, nhân chứng nhà Trời, Tự nhiên hoàn mỹ, người song sinh tuyệt diệu: Kẻ

nào tự nhận thức được bản thân, sẽ nhận thức được Chúa Trời của mình. Ở đây

thuyết ngô đạo nhuộm màu thuyết thần hiệp Hồi giáo: đối với mỗi linh hồn, các

Thánh linh là những song trùng trên trời. Cái bản trùng ấy ra sức kích thích trong kẻ

thần hiệp hình ảnh của bản thân anh ta, hình ảnh của cá nhân anh ta. Đấy là điều mà

đạo Kitô, theo một cách nào đó, diễn dịch bằng hình ảnh Thiên Thần Hộ Mệnh” [17/

826].

Tôn giáo truyền thống hình dung con người là một hình ảnh tự nhân đôi gồm

hai mặt tồn tại, gắn kết không thể tách rời nhau: linh hồn và thể xác. Trong đó “linh

hồn là bản trùng của chủ thể sống, có thể tách rời thể xác khi chủ thể chết, hoặc

trong giấc mộng hoặc do một thao tác ma thuật, và có thể thác sinh vào chính thể xác

đó hay vào một thể xác khác” [17/826]. Ngoài ra song trùng còn được đề cập trong

trường hợp “hiện tượng nhị hoá cuồng loạn hay phân lập nhân cách”. Sự “nhị hoá”

này diễn ra “trong nhận thức và ý thức về cá nhân, giữa cái tôi nhận thức và hữu

thức với cái bản ngã được nhận thức và vô thức”. Có nghĩa trong cùng một con người

nhưng lại tồn tại hai kiểu tính cách mâu thuẫn, trái ngược nhau, hai mặt của sự mâu

thuẫn. Dường như có hai con người đang đấu tranh, nhưng lại cùng nhau tồn tại bên

trong một chủ thể. Sự mâu thuẫn này có thể được ý thức rõ ràng, cũng có thể là sự

mâu thuẫn giữa phần ý thức và vô thức.

Mặc dù xuất hiện từ rất xưa và khá phổ biến nhưng ý nghĩa của nó ở mỗi nền

văn hoá thường khác xa nhau, “ theo quan niệm của Chủ nghĩa lãng mạn Đức thì việc

gặp người song trùng của ta có thể là người bổ sung nhưng thông thường hơn là đối

thủ khiêu chiến với ta” [17/826]. Trong những truyền thuyết, câu chuyện xưa, họ

thường thể hiện việc gặp song trùng của mình là một biến cố tai hại, đôi khi là dấu

hiệu của cái chết. Truyện ngắn “Cái bóng” của Andersen là một minh hoạ sinh động

cho sự xuất hiện hung dữ của song trùng. Đối với người Do Thái gặp song trùng của

mình không phải là một biến cố tai hại, cái chết mà trái lại là một bằng chứng, chứng

tỏ rằng người nào được gặp nó là đã trở thành một bậc tiên tri. Gershom Scholem

(1897-1982), một học giả nổi tiếng, chuyên khảo cứu về sự huyền bí của tôn giáo

người Do Thái qua giai thoại truyền thống trong kinh Talmud kể chuyện một người

đàn ông trong lúc đi tìm Thượng đế đã gặp chính mình đã khẳng định như thế. Từ câu

chuyện này năm 1864, Dante Gabriel Rossetti đã vẽ bức tranh lạ lùng “How They

Met Themselves ?” (Họ gặp chính mình như thế nào ?). Bức tranh là hình ảnh hai

người tình trong rừng chiều, mỗi người gặp lại chính mình đầy huyền ảo mang đầy

màu sắc linh thiêng mà không hề cho thấy rằng đây sẽ là dấu hiệu của bất hạnh và

oan nghiệt.

Khá tương đồng với Jean Chevalier và Alain Gheerbrant, Borges Jorge Louis

cũng nhấn mạnh yếu tố giống nhau, tồn tại theo cặp đôi là cơ sở quan trọng “gợi

hứng” của song trùng. Nó thể hiện phần bản ngã của chúng ta. Song trùng “được gợi

ý hay gợi hứng bởi những tấm gương, bởi mặt nước phẳng lặng và những người sinh

đôi cái ý niệm về bản ngã song trùng rất phổ biến ở nhiều xứ. Rất có thể những câu

nói như câu: “Một người bạn là một bản ngã khác của tôi” của Pythagoras, và câu

“Hãy tự biết mình” của Plato, đã được gợi hứng từ ý niệm này. Ở Đức, nó được gọi

là Doppelgänger; ở Tô-cách-lan, gọi là fetch, vì nó đến để mang người ta về cõi

chết…. Đối với người Do-thái, trái lại, sự xuất hiện của bản ngã song trùng không

phải là điềm báo của sự chết, mà lại là một bằng chứng tỏ rằng người nào được gặp

nó là đã trở thành một bậc tiên tri” [3/30].

Như vậy song trùng là một biểu tượng xuất hiện từ khá sớm trong văn hóa và

văn học nhân loại. Nó được gợi hứng từ sự giống nhau, lặp lại của những cặp đôi sự

vật với những điểm tương đồng và dị biệt nhau. Biểu tượng song trùng không chỉ

xuất hiện trong hình ảnh các con vật mà còn ở cả con người qua sự phân đôi của hồn

và xác, bóng và hình…Đó là một cái tôi khác vừa giống ta, vừa không phải là ta đang

cùng tồn tại. Nó thể hiện phần đối nghịch, sự bổ sung cho chủ thể. Qua đó thể hiện

phần bản ngã của con người.

1.1.2 Biểu tượng song trùng trong một số tác phẩm văn học

Trước khi xuất hiện chữ viết, song trùng đã được người xưa sớm quan tâm,

những tác phẩm điêu khắc, những bức tranh tuyệt mĩ đã thể hiện tính lưỡng diện, đối

cực nhau của các con vật. Từ khi chữ viết xuất hiện, tiếp nối mạch chảy của văn hoá

nhân loại trước đó, các nhà văn đã học hỏi, vận dụng biểu tượng song trùng và sáng

tạo nên những tác phẩm vô cùng độc đáo. Đó là câu chuyện đậm màu sắc huyền

ảo“Cái bóng” của Andersen; các sáng tác của Dostoievski như “Kẻ song trùng”, “Tội

ác và hình phạt”, “Anh em nhà Karamazov”… và gần đây là “Pháo Đài Trắng” của

Orhan Pamuk. Tất cả đã góp phần quan trọng trong việc tìm hiểu, phát hiện thế giới

tinh thần phong phú của con người cho chúng ta thấy thế giới ấy không hề đơn giản

chút nào. Nó là một tiểu vũ trụ đầy phức tạp và thú vị, luôn đấu tranh và tự hỏi : “Ta

là ai?”. Họ đã vén lên những bức màn bí mật tận cùng trong những góc khuất bản

ngã sâu thẳm của mỗi người, đưa nó ra ánh sáng để mà quan sát, phân tích cặn kẽ,

chứng minh với chúng ta con người là một bộ mặt đa diện, đa chiều, xấu- tốt đan xen

nhau phức tạp, góp phần làm cho hình tượng con người trong văn chương thêm gần

gũi và sinh động.

Khi khai thác biểu tượng song trùng, đa số các nhà văn đều tập trung ở khía

cạnh con người. Thứ nhất con người được khai thác ở khía cạnh trong cùng chính bản

thân họ nhưng lại tồn tại những tính cách đối lập nhau một cách gay gắt, nó mang

tính chất hai mặt, lưỡng diện rõ rệt. Tốt và xấu, thiên thần và ác quỷ. Thứ hai hình

dung con người là một hình ảnh tự nhân đôi của hồn và xác, bóng và hình; hay phân

thân ra thành hai người giống hệt nhau. Những hình ảnh giống nhau này hầu hết đều

xuất hiện một cách đồng thời, trong cùng một không gian. Nhân vật được khai thác

chủ yếu ở phương diện tâm lí, như một dấu hiệu khác của bản ngã con người.

1.1.2.1 Các tác phẩm của F.Dostoevski

Fiodor Dostoevski (1821-1881), người khổng lồ phá các ranh giới, là một tiểu

thuyết gia, nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại. Với quần thể kiệt tác “Tội ác và Hình

phạt”, “Lũ người quỷ ám”, “Anh em nhà Karamazov”… ông “đã tạo hình cho tất cả

thế giới tinh thần của chúng ta” [48/27]. Trong các sáng tác của mình, Dostoevski đã

sử dụng song trùng chủ yếu để tạo nên những hình tượng nhân vật kì vĩ và mang lại

những hiệu quả nghệ thuật độc đáo. Với ông, song trùng như là một thủ pháp quan

trọng để khám phá tâm lí con người và phản ánh “hiện thực theo nghĩa cao nhất”.

Nhân vật của Dostoievski luôn được hình dung là những con người mang tính lưỡng

diện, hai mặt đối lập nhau gay gắt. Khi nghiên cứu kiểu nhân vật này, các nhà nghiên

cứu thường gọi tên nhân vật của ông là kiểu “nhân vật phân mảnh”.

Tìm hiểu thế giới nghệ thuật của Dostioevski là một việc không hề dễ dàng.

Bước vào đó là chúng ta như đang bước vào mê cung của những đam mê mãnh mẽ,

nơi chao đảo, ngả nghiêng những cảm xúc căng tràn, nơi những con người “quá khổ”

đang bị những khổ nạn cao cả, lớn lao của cuộc đời giằng xé để rồi trong tận sâu của

sự tăm tối, ánh sáng khải huyền rực rỡ sẽ xuất hiện làm thanh sạch, dẫn lối cho họ.

Thế giới nhân vật của Dostoevski không hề giản lược chút nào, lần đầu tiên trong văn

học Nga người ta ngạc nhiên khi nhìn thấy những nhân vật mới mẻ như thế. Chúng

tôi gọi đó là nhân vật song trùng.

Dựa trên sự biểu hiện, người viết tạm chia thế giới nhân vật song trùng của

Dostoevski thành hai nhóm. Thứ nhất trong nhân vật nhưng có “nhiều tiếng nói”

cùng vang lên thể hiện những tính cách mâu thuẫn, trái ngược nhau cùng đấu tranh

nhau gay gắt, mạnh mẽ, thể hiện hai thái cực tốt và xấu trong tính cách của nhân vật.

Kẻ song trùng ở đây thường là phần đối nghịch với chủ thể, là phần bóng tối, ác tính

được trỗi dậy đối lập với những thiên tính tốt đẹp ban đầu. Thứ hai nhân vật song

trùng được thể hiện qua nhóm những “nhân vật chung đôi”. Những “nhân vật chung

đôi” này có nhiều điểm tương đồng với nhân vật. Nhìn vào những kẻ chung đôi này,

chủ thể như đang nhìn thấy một cái tôi khác của mình hiện diện một phần hoặc hoàn

toàn trong họ, qua đó khám phá sâu sắc hơn về chính mình.

Nhóm thứ nhất tập trung rõ nét trong các tác phẩm: “Kẻ song trùng”, “Tội ác

và hình phạt”, “Người chồng muôn thuở”, “Anh em nhà Karamazov”. Nhân vật ở đây

mang tính lưỡng diện, phân mảnh tính cách mạnh mẽ, những tính cách trái ngược,

mâu thuẫn nhau cùng tồn tại trong một chủ thể tạo nên sự đa dạng, sống động kì lạ.

Kiểu nhân vật độc đáo này được Dostoevski gọi tên lần đầu tiên trong tác phẩm cùng

tên của mình “Kẻ song trùng” hay là “Kẻ phân đôi”.

“Kẻ song trùng” ở đây là Yakov Petrovich Golyadkin dưới áp lực tâm lí vì tình

trạng bất ổn của hoàn cảnh đã dẫn đến chứng phân liệt nhân cách, phân đôi mình ra

thành hai người: Yakov Petrovich Golyadkin trưởng và Yakov Petrovich Golyadkin

thứ. Họ khác xa nhau, Yakov Petrovich Golyadkin trưởng thì an phận, sợ sệt còn

Golyadkin thứ thì trơ trẽn, hãnh tiến. Vì sự đối lập mạnh mẽ này, Golyadkin không

chịu nổi và cuối cùng phát điên. Bằng việc xây dựng Goliadkin, kiểu nhân vật phân

liệt nhân cách, phức tạp, và “song trùng” như thế, “Kẻ song trùng” “quả thật đã phát

hoạ một hình tượng con người xã hội chưa từng có trong văn học Nga trước

Dostoevski. Nó khai mào cho hàng loạt phát kiến nhân học vĩ đại của Fiodor

Dostoevski sau này”[40/185]. “Kẻ song trùng” thật sự là một sáng tạo lớn lao của

Dostoevski cho văn chương nhân loại, giúp tác giả khám phá được chiều sâu bản thể

của con người một cách sâu sắc, sống động và hoàn hảo. Đây cũng là kiểu nhân vật

quen thuộc trong sáng tác của Dostoevski.

Với những kiệt tác “Tội ác và hình phạt”, “Chàng ngốc”, “Lũ người quỷ ám”,

“Đầu xanh tuổi trẻ”, “Anh em nhà Karamazov”, Dostoievski đã tạo nên một quần thể

kiệt tác vô tiền khoáng hậu, “Chúng chứa đựng những khám phá to lớn nhất của

Dostoevski về con người, những ý tưởng sâu sắc về lẽ sống và những đường hướng

hoàn thiện sự sống” [40/198], nó hết sức mới lạ đối với ý thức văn học cùng thời

[40/198]. Nhân vật chính của kiệt tác “Tội ác và hình phạt” là chàng sinh viên nghèo

Raskolnikov, thông minh, trong sáng, hào hiệp, và vô cùng nhân ái. Vì thế, chàng

cảm thấy bất bình, phẫn nộ trước những bất công ngang trái của cuộc đời. Người

nghèo bị chà đạp, tước đoạt mọi quyền sống, còn kẻ giàu sang, quyền quý thì lộng

hành, sa đoạ đến mất hết tính người. Mọi người thì âm thầm cam chịu sự bất công

phũ phàng ấy như một sự hiển nhiên. Chàng không chấp nhận. Chàng quyết tâm vùng

dậy đấu tranh chống lại cả thế giới phi nghĩa, bất công ấy. Đó là lí do vì sao

Raskolnikov muốn thay mặt Chúa thiết lập lại trật tự của xã hội, đem đến cho những

người nghèo bất hạnh sự công bằng.

Trước khi thực hiện tham vọng làm cứu tinh, ân nhân của loài người

Raskolnikov đã xây dựng cho mình hai lí thuyết: “người hùng Napoleon”,và “thuyết

số học”. Chàng phân chia con người ra thành hai loại: loại người “bình thường” và

“phi thường”. Loại người “bình thường” phải sống phục tùng, cam chịu và không có

quyền vượt ra ngoài pháp luật. Trong khi đó, người “phi thường” thì “có quyền phạm

tội ác, họ có thể vi phạm pháp luật đủ cách” [10/321]. Để thực hiện ý tưởng huỷ bỏ

hiện tại vì một cái gì tốt đẹp hơn “họ phải dẫm lên xác người, băng qua một con sông

máu”[10/323]. Vì muốn biết mình thuộc loại người nào, chàng đã không ngại ngần

bước qua ranh giới của đạo đức, lương tâm để làm một việc tàn nhẫn, bất nhân, dùng

rìu bổ xuống đầu người khác để cướp tiền. Điều này đi ngược lại hoàn toàn bản chất

của chàng, một con người luôn nhân ái, vô tư, hào hiệp và hướng về công lí để trở

thành một kẻ sát nhân.

Raskolnikov là một kẻ sát nhân nhưng lại vô cùng lương thiện. Giết người để

cướp của nhưng lại không hề ham mê tiền bạc, vô tư đến hào hiệp, hi sinh quên mình

vì người khác. Sống trong cảnh nghèo túng nhưng trong vòng nửa năm trời lại đi nuôi

bạn đau ốm, bạn chết lại đi phụng dưỡng cha bạn. Chàng còn dũng cảm xông vào

đám cháy để cứu hai em bé. Cảm thông với hoàn cảnh gia đình của Marmeladov, gởi

tặng họ tất cả những đồng tiền cuối cùng quý báu của mình một cách vô tư, hào hiệp

không chút bận lòng…Với những hành động cao cả ấy, chàng là hiện thân của tình

yêu thương và lòng nhân ái.

Nhưng mặt khác bản ngã thứ hai trong chàng lại vang lên một tiếng nói khác,

tiếng nói của quỷ dữ của kẻ sát nhân tàn nhẫn. Chàng khinh ghét con người, coi họ

như những “con rệp” và sẵn sàng bổ rìu không thương tiếc vào họ để đạt mục đích

của mình. Trong con người của Raskolnikov có hai tính cách trái ngược, luôn đấu

tranh, giằng xé lẫn nhau: tiếng nói của lòng vị tha và sự vị kỉ. Raskolnikov “luôn

nhảy từ thái cực này sang thái cực khác mà không lúc nào dừng lại ở trạng thái dung

hoà. Đó chính là tính cách tâm lí nhị nguyên phân của chàng. Như Razoukhine đã

nhận định đôi lúc không phải là anh ấy yếu thần kinh mà chỉ lạnh lùng dửng dưng

đến mức phi nhân tính, cứ thể như trong con người anh ta có hai tính cách đối lập cứ

lần lượt thay thế nhau” [10/265]. Con người ấy, với tham vọng làm cứu tinh, làm ân

nhân của loài người, trên thực tế chỉ có thể trở thành một kẻ sát nhân, sát hại những

người vô tội, gây bao khổ đau cho những người thân thuộc và hãm hại con người sâu

kín và chân chính ở trong nó. Raskolnikov là nhân vật “song trùng” bởi trong chàng

có sự phân liệt nhân cách ghê gớm. Hai con người, hai tiếng nói cùng vang lên, giằng

xé nhau, tiếng nói của tình yêu thương của một người lương thiện và tiếng nói tàn

độc của quỷ dữ.

Cuối đời, Dostoevski tạm thời gác mọi công việc ở “Nhật kí nhà văn” tập trung

viết kiệt tác “Anh em nhà Karamazov”. Tác phẩm là sự thăng hoa tài năng tuyệt đỉnh

mà Dostoevski đã hiến dâng cho đời bằng tất cả tâm hồn và sự đam mê sáng tạo

mãnh liệt. Trong một lá thư đề ngày 23-7-1879, ông viết: “Cuốn tiểu thuyết tôi đang

viết hiện thời nuốt hết mọi sức lực và thời gian của tôi… Tôi viết không hối hả, không

vội làm cho xong việc, sửa đi sửa lại, gọt tỉa, tôi muốn tận tâm hoàn tất tác phẩm, bởi

vì chưa hề có tác phẩm nào mà tôi nhìn nhận một cách nghiêm túc hơn tác phẩm

này”. Mặc dù được hoàn thành chỉ trong hai năm nhưng thực ra nó đã được tác giả

thai nghén, nghiền ngẫm, ấp ủ gần như cả cuộc đời sáng tác của mình. Nên “Anh em

nhà Karamazov” như là “một bản đại hợp xướng”, đã tổng kết tất cả những tư tưởng,

thế giới nghệ thuật sống động mà Dostoevski sáng tạo trước đó. Không ở đâu những

vấn đề nóng bỏng của thời đại và những trăn trở, suy tư của ông về tự do, giới hạn

của ý chí cá nhân, cái đẹp, tôn giáo… được thể hiện một cách tập trung, toàn vẹn và

hoàn mĩ như trong tác phẩm này. Tác phẩm không chỉ là kiệt tác của riêng

Dostoevski mà còn của cả nhân loại, làm cho tất cả chúng ta phải cuối đầu ngưỡng

vọng, khâm phục. Ở đó, Dostoevski xây dựng hai nhân vật “song trùng” kinh điển đó

là Dmit’ri Karamazov và Ivan Karamazov. Trong đó Dmit’ri Karamazov được xem

là “một trong những phát kiến nghệ thuật, khoa học, sáng giá nhất của Dostoevski ”

[40/219]

Cũng như những nhân vật khác trước đây mà Dostoievski xây dựng, Dmit’ri

Karamazov là kiểu nhân vật “song trùng”, “phân mảnh” quen thuộc. Nhân vật này là

một sự phức hợp đến kì lạ những tính cách trái ngược nhau mà biên độ dao động,

chuyển biến của chúng từ thái cực này sang thái cực khác là không hề ngưng nghỉ.

Phạm Vĩnh Cư từng nhận xét: “Hầu như tất cả các khả năng nhân tính đều tập trung

ở mức độ cao trong con người này :dâm loạn và thánh hạnh, tàn nhẫn và độ lượng,

hung ác và hiền từ, ti tiện và hào hiệp, bê tha và cao khiết”[40/219]. Hai con người,

hai tính cách mâu thuẫn nhau, Thiên thần và Ác quỷ cùng tồn tại trong chàng. Được

di truyền từ dòng máu ăn chơi, dâm loạn của cha mình, Dmit’ri là một kẻ đam mê xác

thịt dữ dội, “thượng đế ban dục tình cho sâu bọ”, anh ta nghĩ như vậy. Mặc dù mê

đắm trong sự tàn bạo, khoái lạc trong dục tình cuồng nhiệt nhưng Dmit’ri vẫn rộng

lòng đón nhận ánh sáng khải huyền của Cái Đẹp chân chính, lòng vẫn hướng về

Thượng Đế với lòng kính yêu vô hạn. Trong trái tim của Dmit’ri quỷ dữ và Chúa trời

giao tranh nhau một cách dữ dội, quyết liệt. Vì thế tâm hồn anh ta luôn quằn quại

trong những đam mê, nhưng bất thần lại xuất hiện những ý nghĩ và hành động cao cả.

Mặc dù căm thù bố tột cùng nhưng Dmit’ri không hề nhúng tay vào tội ác giết bố.

Chàng sa đoạ nhưng vẫn giữ được bộ mặt của con người nhờ lòng kính yêu Thượng

Đế: “Cho dù tôi đáng bị nguyền rủa, cho dù tôi hèn hạ và đê tiện, nhưng hãy cho tôi

hôn gấu bộ áo mà Chúa trời của tôi khoác trên người, cho dù tôi đi với quỷ, nhưng

tôi vẫn là con của Ngài, ôi Chúa trời, tôi yêu Ngài…”[9/136]. Chính tình yêu Chúa,

lòng hướng thiện đã kịp giữ tay chàng lại trước những ý nghĩ tội ác bạo tàn. Nhưng vì

đã mang tội trong ý nghĩ là hạ sát chính bố đẻ của mình cho nên Dmit’ri dù bị toà án

kết tội oan nhưng lòng chàng vẫn thấy điều ấy là đúng đắn. Chàng chấp nhận hình

phạt khổ sai của toà án để trái tim mình được gột rửa khỏi những vẩn đục của tội lỗi,

được bình yên và cứu rỗi. Chính điều đó đã làm nhân cách của chàng đẹp thêm bội

phần. Hành động cao cả ấy đã đưa chàng đến gần hơn với Thượng đế và xa cách quỷ

dữ.

Qua Dmit’ri, Dostoevski như triệt phá niềm tin ngây thơ nơi độc giả về bản

tính một chiều con người. Dostoievski cho chúng ta thấy bản chất con người vốn dĩ là

một sự mâu thuẫn lớn lao của những bản tính trái ngược nhau. Không ai tốt vẹn toàn

và cũng không ai là xấu tất cả. Trong mỗi chúng ta đều có cả Thiên thần và Ác quỷ.

Khi tiếp xúc với tác phẩm của Dostoevski, Stefan Zweig đã thấy: “Tác phẩm của ông

vừa trần thế vừa vĩnh cửu; nó là một con người bị các dây thần kinh chi phối, lưỡng

phân một cách có ý thức, xác thịt và trí óc đang lên men. Không bao giờ nó là chất

đồng thau thuần khiết có sức nóng chảy hoàn hảo. Nó là không dò được và không

tính toán được như tâm hồn dưới cái vỏ bọc vật chất. Không thể so sánh nó với các

hình thức nghệ thuật khác” [48/84]. Cái nhìn của Dostoevski thật thẳm sâu, ông đi

vào tận cùng những miền kí ức của bản ngã mỗi nguời, từ đó khám phá kiểu hiện

thực mới mẻ “theo nghĩa cao nhất của nó”, hiện thựccủa tâm hồn như có lần

Dostoevski đã khẳng định. Có lẽ vì thế mà hình tượng Dmit’ri là một phát kiến nghệ

thuật lớn lao của Dostoevski.

Nhóm thứ hai kẻ song trùng của chủ thể được phản chiếu qua một nhân vật

khác, nhân vật này có nhiều điểm tương đồng với chủ thể, như một là cái tôi khác

đang tồn tại. Qua hệ quy chiếu này, nhân vật hiểu rõ hơn về chính mình. Chúng tôi

nghiên cứu hai nhân vật thể hiện rõ nét cho điều này: Ivan Karamazov và

Raskolnikov. Sau vụ giết người, hình phạt ý thức phân mảnh của Raskolnikov phản

chiếu ra bên ngoài thành những cuộc “đối thoại tra tấn” giữa chàng và các nhân vật

“chung đôi bóng tối” và “chung đôi ánh sáng”, tương ứng với phần bóng tối và ánh

sáng, vị kỉ và vị tha của Raskolnikov. Những “nhân vật chung đôi” vừa có nét tương

đồng, vừa có nét tương phản với Raskolnikov. Họ đối thoại, soi chiếu với chàng, giúp

chàng thấu thị sâu sắc phần bản ngã của mình. Đặc biệt là nhóm nhân vật chung đôi

bóng tối. Đối thoại với nhóm nhân vật “chung đôi bóng tối”, Lugin và Xvidrigailov,

Raskolnikov thấy hình ảnh của mình đang hiện hữu trong họ với những tư tưởng ích

kỉ, nhẫn tâm và bạo tàn. Bản ngã thứ hai của chàng được tìm thấy trong họ đó là sự

chối bỏ những vòng dây đạo đức để bước sang biên giới của quỷ dữ. Điều này

Raskolnikov cũng đã từng làm, từng thử bước qua ranh giới mong manh ấy, nhưng

chàng đã không bước qua hoàn toàn. Lương tâm bị giày vò, đau khổ, tình thương đã

níu giữ chàng lại. Lugin và Xvidrigailov đã mở mắt cho chàng thấy phần hậu quả tội

lỗi, bất nhẫn trong những tư tưởng mà chàng theo đuổi. Hai nhân vật này là một sự

phản chiếu thành công phần “ bóng tối”, ích kỉ trong con người Raskolnikov, giúp

chàng nhận chân sâu sắc bản thân mình qua việc nhìn ngắm hình ảnh của mình trong

họ. Và nhóm “nhân vật chung đôi bóng tối” này là nhân vật song trùng khác mà

Dostoevski sáng tạo. Qua đó ta thấy rằng song trùng không chỉ là tồn tại bên trong

bản thân mỗi người mà đó còn là hình ảnh của chính ta, phần bản ngã của ta được

phản chiếu, tìm thấy trong người khác qua những hình ảnh tương đồng.

Nhân vật song trùng mà chúng tôi nghiên cứu là Ivan Karamazov, con người

của duy lí, trí tuệ. Ivan Karamazov rất yêu quý những lộc non mùa xuân đang phơi

mở, còn dính nhựa, yêu quý bầu trời xanh và yêu quý trẻ em. Như bao người Nga

chân chính, vấn đề đầu tiên và trước hết mà Ivan quan tâm là có Chúa Trời không, có

linh hồn bất diệt hay không? Đó là vấn đề cực kì quan trọng với triết gia trẻ tuổi này.

Thông qua những lời đối thoại của Ivan và Aliosa chúng ta thấy rằng chàng không tin

Chúa, không chấp nhận thế giới mà Ngài tạo ra bởi thế giới ấy thấm đẫm nước mắt từ

vỏ đến ruột, nước mắt của những trẻ thơ vô tội để mua lấy sự hài hòa. Một thế giới

hài hòa kiểu như thế Ivan không cần: “Tôi không muốn sự hài hòa, vì tình yêu nhân

loại mà tôi không muốn. Tôi muốn vẫn cứ để cho đau khổ không được trả thù còn

hơn. Chẳng thà đau khổ của tôi không được trả thù, sự phẫn nộ của tôi không được

giải tỏa còn hơn, cho dù tôi không có lí đi nữa. Vả lại người ta định giá sự hài hào

quá cao, giá vào cửa quá đắt so với túi tiền của chúng ta. Vì thế tôi vội trả vé vào

cửa. Nếu như tôi là người chính trực thì tôi phải trả lại càng sớm càng tốt. Tôi đang

làm đúng như thế. Tôi không chấp nhận Chúa Trời, Aliosa ạ, tôi chỉ hết sức kính cẩn

trả lại Ngài tấm vé” [9/310]. Không tin vào Chúa cũng có nghĩa là chối bỏ những

ràng buộc đạo đức, đạo đức sẽ bị sụp đổ và mọi việc đều được phép làm. Như vậy

chỉ cần phá hủy trong loài người ý niệm về Chúa Trời thì mọi việc sẽ được giải quyết.

Khi đó toàn bộ đạo đức sẽ bị sụp đổ, con người sẽ trở thành Chúa Trời và mọi việc sẽ

được phép làm. Con người sẽ chiến thắng thiên nhiên bằng ý chí và khoa học của

mình. Đấy là tư tưởng nổi loạn của Ivan xuất phát từ việc không chấp thuận thế giới

hài hòa của Chúa trong sự thấm đẫm đau khổ của nhân loại. Chàng là nhân vật thông

minh, trí tuệ, đấu tranh mạnh mẽ, có lực nhất trong tất cả các nhân vật mà Dostoevski

từng sáng tạo. Thông qua nhân vật này, Dostoevski thể hiện những tư tưởng thâm

thuý, vi diệu nhất của mình về các vấn đề thời đại mà ông ấp ủ, suy ngẫm.

Là con người của lí trí, lạnh lùng, Ivan xem tình cảm ruột thịt là một thành

kiến, chỉ có lí trí là cao hơn mọi mong muốn và khát vọng. Khi chứng kiến nhiều lần

bố và anh xung đột mâu thuẫn nhau gay gắt, Ivan không hề khuyên giải hay xót xa

mà ngược lại còn đem lòng khinh ghét, đến mức muốn cả hai biến khỏi mặt đất. Đầu

óc duy lí lạnh lùng kết hợp với chủ nghĩa ích kỉ hẹp hòi, Ivan đã quan niệm: “không

có sự bất diệt của linh hồn thì cũng không có đức hạnh, nghĩa là mọi việc đều được

phép làm” [9/103], một tư tưởng hấp dẫn cho những kẻ ti tiện. Smerdiakov nghe thấy

và đã biến thành hành động, giết người theo lí luận “mọi việc đếu được phép làm” của

Ivan, thực hiện những gì mà Ivan khởi xướng. Hắn giết cha, cướp của, tất cả tội lỗi đã

có Dmit’ri gánh chịu. Sau này trước khi treo cổ tự tử để không phải ra toà, hắn đã nói

thẳng vào mặt Ivan: “ cậu là kẻ sát nhân chính, duy nhất, còn tôi không phải là kẻ sát

nhân chính, tuy rằng chính tôi giết. Cậu mới là kẻ sát nhân đích thực” [9/789].

Smerdiakov chỉ là tay sai, là tên đầy tớ trung thành Lisarda của Ivan, thực hiện những

gì mà Ivan chỉ dẫn. Smerdiakov, “kẻ song trùng” của Ivan, song trùng phần quỷ dữ,

góc khuất ẩn tối và sự nổi loạn mà chàng đã thai nghén, song trùng phần hiện thực tội

ác ghê tởm của những lí thuyết mà Ivan khởi xướng. Nhìn vào tội ác của Smerdiakov,

Ivan thấy được phần bản ngã tội lỗi, thấp kém, kinh tởm của mình đang hiện hữu. Nó

vạch cho chàng thấy những điều khủng khiếp trong tư tưởng mà chàng khởi xướng.

Đối thoại với Smerdiakov, Ivan đấu tranh và chao đảo tư tưởng ghê gớm. Chính trong

lúc Ivan căng thẳng, nghi ngờ và những tư tưởng của chàng có nguy cơ bị sụp đổ thì

quỷ dữ xuất hiện như một cơn ác mộng khủng khiếp. Đối mặt với quỷ dữ Ivan khó

chịu không kém so với Smerdiakov. Quỷ dữ là kẻ song trùng thứ hai với Ivan bên

cạnh Smerdiakov.

Cái chết của Smerdiakov gây ra sự chấn động lớn lao đối với Ivan. Một lần nữa

chàng lại nghi ngờ, nghi ngờ những tư tưởng mà mình đã khởi xướng. Sự giao động,

lo ngại, sự đấu tranh giữa tin và không tin là khổ hình đối với một người có lương

tâm như Ivan. Quỷ dữ xuất hiện nhắc lại cho Ivan những tư tưởng cao siêu mà trước

đây chàng theo đuổi. Nó mỉa mai, chế giễu “tất cả những ý tưởng cao siêu, phức tạp

của Ivan, lược giản chúng đến mức thô thiển và quy về những động cơ thấp kém nhất,

ti tiện nhất; đồng thời nó chế nhạo, phỉ báng ở Ivan cái phần con người bình thường

còn lại, mà chàng phải diệt trừ cho bằng được, nếu muôn thực sự trở thành siêu

nhân” .[40/223] Quỷ dữ là “kẻ song trùng” khác của Ivan, bên cạnh Smerdiakov đê

tiện. Nó song trùng “những tư tưởng và tình cảm ghê tởm nhất và ngu độn nhất” của

Ivan [10/801]. Mặc dù khinh ghét phần người“ thấp kém” trong mình nhưng Ivan vẫn

không thể nào diệt trừ được nó. Cũng giống như Raskolnikov, Ivan muốn bước hẳn

sang bên kia của giới hạn của đạo đức nhưng chàng không thể làm được. Bởi “chất

người” trong chàng vẫn còn, nó cứu vớt tâm hồn chàng khỏi sự sa ngã hoàn toàn. Bi

kịch và đồng thời cũng là hạnh phúc của Ivan là ở đây. Không thể chịu nổi những đòn

giáng chí tử này, Ivan hóa điên.

Qua một số nhân vật tiêu biểu trên của Dostoevski, ta có thể thấy rằng ông đặc

biệt quan tâm đến kiểu nhân vật có tính cách hai mặt, “phân mảnh”, “lưỡng diện”,

kiểu bản tính “có vấn đề”, luôn ở trong tình trạng căng thẳng, đấu tranh giữa các mặt

đối lập, tuỳ ý chuyển chỗ các mốc giới hạn phẩm chất tốt và xấu. Nhân vật của

Dostoevski vừa là con chiên, là tôi tớ trung thành của Chúa, nhưng cũng mang trong

mình hình ảnh của kẻ nổi loạn, bộ mặt của quỷ dữ. Trong sự đấu tranh, giằng vặt ấy,

Dostoevski đã tìm đến được tận sâu trong bản ngã ẩn khuất của con người, phơi trần

nó ra ngoài ánh sáng để biết được những dục vọng, những khát khao đang bị kìm toả

sục sôi mạnh mẽ. Và như vậy nhân vật của Dostoevski, chúng ta không dễ dàng gì có

thể gói trọn trong một giới hạn, một tính cách giản lược nhất định mà đó là sự lan tràn

ra ngoài những vùng biên giới. “Họ là những người của sự bắt đầu lại. Bất chấp tinh

thần, lí trí, họ có những thèm muốn, những trái tim của trẻ thơ, họ muốn tất cả cái tốt

và cái xấu, cái bùng cháy và cái băng giá, cái ở xa và cái gần kề, họ không có mức

dộ, họ vượt các giới hạn” [48/51], vốn như cha đẻ của mình, họ là những con người

quá khổ, tột cùng. Trong một bức thư khác gởi cho anh mình, Dostoevski đã bộc bạch

“Con người là một bí ẩn lớn. Cần tìm ra bí ẩn ấy, và nếu có tìm suốt đời, thì cũng

đừng cho là mất thì giờ. Tôi vật vã với nó vì tôi muốn làm người”. Muốn được làm

người trong tất cả ý nghiã thiêng liêng cao cả lẫn những gì trần tục nhất. Cả cuộc đời

cầm bút của mình, Dostoevski đã miệt mài, phân tích, tìm kiếm, mổ xẻ để tìm hiểu

vào tận sâu bản thể của con người. Qua những nhân vật song trùng này, Dostoevski

đã thể hiện sự suy ngẫm, chiêm nghiệm bền bỉ của mình về bản chất và những khả

năng của con người, về nguồn gốc siêu lí của tội lỗi và cái ác, mối quan hệ giữa môi

trường và nhân cách, giữa tự do và trách nhiệm của con người và đường hướng cho

sự hài hòa nhân loại tuyệt đối.

Dostoevski không lí tưởng hoá con người, không làm ngơ trước sự bất toàn tội

lỗi của họ. Ông yêu tha thiết, tin tưởng vào họ trong sự thánh thiện lẫn sự bất toàn đó,

có như vậy con người mới thật sự tồn tại theo đúng bản chất của mình. Con người

trong sáng tác của Dostoevski hiện lên thật sống động, gần gũi như họ đang tồn tại

đâu đây trong cuộc sống này, như chính chúng ta đang được Dostoevski tìm đến

khám phá, mổ xẻ. Dostoevski như luôn đi đến con người tổng thể, với cái gì là phổ

biến trong mỗi cá nhân. Qua việc tìm kiếm, khám phá phần bản ngã, bản thể sâu bên

trong của thế giới tinh thần con người, Dostoevski đã thể hiện một hiện thực mới, rất

logic, chặt chẽ, “một chủ nghĩa hiện thực đi đến cái huyễn tưởng”, “hiện thực nhưng

theo nghĩa cao nhất, có nghĩa là tôi lột tả nó mọi bề sâu tâm hồn con người.”

[40/188]. Như vậy sáng tạo những nhân vật song trùng, Fiodor Dostoevsk muốn đi

tìm “con người trong con người”, để khám phá những chiều sâu bản ngã của họ một

cách sống động, chân thật nhất. Như thế song trùng là một phương thức quan trọng

thể hiện bản ngã, nội tâm của nhân vật. Qua đó góp phần phản ánh hiệu quả kiểu hiện

thực tâm hồn vi diệu mới mẻ, “hiện thực theo nghĩa cao nhất” mà Dostoevski muốn

hướng đến.

1.1.2.2 Các tác phẩm khác

“Cái bóng” (Andersen), “Hình nhân” (Sontag) và “Pháo Đài Trắng” của

Orhan Pamuk, song trùng được thể hiện ở phương diện con người tự hình dung mình

là một hình ảnh nhân đôi của “bóng” và “hình”, “xác” và “hồn” hay phân thân mình

ra thành hai con người cụ thể để đối thoại, xem xét, đánh giá. Tất cả là những hình

tượng hoá nghệ thuật sinh động cho phần bản ngã vô thức bên trong của chúng ta.

Cũng như vạn vật trên trái đất này, con người luôn phản chiếu hình ảnh của

mình thành những cái bóng. Cái bóng cho thấy sự hiện hữu của con người trên mặt

đất này như muôn vàn những sinh linh khác. Là con người thì ai cũng có một cái

bóng, người mà không có bóng thì bị xem như là quỷ dữ. Nhận thức về sự hiện hữu

này là một trong những kinh nghiệm sớm nhất của loài người, kinh nghiệm về bản

ngã của mỗi người, “bước ra từ hình, đó là bóng, nhưng khi bóng quay lại nhìn hình,

ngắm hình thì lập tức xuất hiện một thứ kinh nghiêm khác về cái bóng. Đó là kinh

nghiệm bản ngã. Ấy là lúc con người soi mình trên nước, nhìn thấy không chỉ bóng

mình như bóng núi mà cả khuôn mặt mình, nhưng là một khuôn mặt khác, đó là

khuôn mặt của cái bóng. Một màn sương tâm linh trùm lên sự hiện hữu của cái bóng

là vì thế. Con người phóng chiếu lên bóng những kinh nghiệm bản thân. Và chính

một- cái-ta-khác là cái bóng này giúp con người hoàn tất bản ngã, vừa báo hiệu sự

hiện hữu, vừa chia sẻ những trải nghiệm, vừa giúp hiện hình một phần những trải

nghiệm ở tầng sâu đời sống tâm linh. Kinh nghiệm cái bóng như thế là một kinh

nghiệm phổ quát, mang tính toàn nhân loại, có đời sống nơi vô thức tập thể. Cái

bóng là một cổ mẫu (archetype)”[7/146]. Từ rất lâu trong thần thoại của Hi

Lạp, cái bóng đã được nhắc đến trong câu chuyện đầy màu sắc huyền ảo của chàng

Narcisse như là một hình tượng nghệ thuật độc đáo cho cái tôi tự phụ đến mức ích kỉ

không còn thèm biết đến ai ngoài bản thân mình. Thế nhưng có những lúc cái bóng

lại trở thành một phản thân nổi loạn chống lại chính chủ nhân của nó, như trong

truyện cổ “Cái bóng” của Hans Christian Andersen (1805-1875), hay trong William Wilson của Edgar Allan Poe (1809-1849).

Trong câu chuyện “Cái bóng” của nhà văn Đức Andersen thì một ngày kia,

một nhà khoa học muốn khám phá ngôi nhà đối diện, ngôi nhà của nàng Thơ, nên sau

khi ngọn đèn hắt bóng mình lên bức tường ngôi nhà trước mặt, ông ta đứng dậy và

quay vào, buông rèm cửa xuống. Nhưng nếu có ai ở đấy cũng sẽ trông thấy cái bóng

cũng quay vào cửa bên kia và biến vào trong nhà. Nó đi vào ngôi nhà của nàng Thơ,

thực hiện ý nguyện của nhà khoa học. Thế nhưng cũng từ đó cái bóng tự tách mình ra

khỏi chủ nhân của mình, sống cuộc sống của riêng mình và không nhập trở lại phần

hình nữa. Cái bóng nổi loạn, phản chủ. Một thời gian sau gặp lại nhà khoa học đã

không còn nhận ra nó. Nó đã trở thành một con người thực sự, có cá tính rõ ràng và

những thủ đoạn gian xảo, nhưng bản thân nó lại không thể có bóng như một người

bình thường. Lúc này, ranh giới giữa người thật và cái bóng gần như đã bị xoá bỏ,

thực và ảo không còn được phân biệt. Sau những dè dặt ban đầu, chiếc bóng dần dần

tìm đủ mọi cách lấn át chủ nhân cũ của mình. Bóng coi nó mới là người, và ngược lại

người phải chịu kiếp bóng, phải là nô lệ cho bóng. Cuộc đấu tranh giữa hình và bóng

rất quyết liệt, bóng luôn có lắm chiêu mẹo và luôn luôn muốn giành thế chủ động.

Một ngày kia,cái bóng ra lệnh sát hại chính người chủ của mình để không ai biết

rằng, nó mới chính là cái bóng.

Để tạo thành một con người hoàn chỉnh bên cạnh phần ý thức được bộc lộ

thường xuyên, rõ rệt ra bên ngoài thì một phần khác quan trọng không kém đó chính

là phần vô thức. Đó là bản năng, ham muốn bị phần ý thức kiềm nén và kiểm soát.

Do vậy so với phần ý thức thì vô thức thường mờ nhạt và ít được quan tâm. Và hình

ảnh “Cái bóng” nổi loạn ở đây chính là một sự hình tượng hoá nghệ thuật cho phần

vô thức, những ham muốn, đòi hỏi bên trong bị ý thức của chúng ta chối từ. Bằng

việc hình tượng hoá cái bóng như là một sự phản thân thứ hai của con người và đã đạt

được mục đích của mình như vậy, Andersen đã gởi đến một thông điệp triết lý: ý thức

không phải lúc nào cũng ở vị trí chủ đạo, vô thức có lúc chiếm thế ưu thắng và điều

khiển hành vi con người một cách hết sức mạnh mẽ. Và cái bóng là một kẻ song

trùng của chúng ta. Qua kẻ song trùng này, chúng ta có cái nhìn đúng đắn, toàn diện

hơn về con người thật của chính mình. Khẳng định một điều quan trọng, trong mỗi

chúng ta đều tồn tại nhiều “tiếng nói” khác nhau, thậm chí đối lập nhau, của ý thức và

vô thức. Cùng motif “hình” và “bóng" này còn có các tác phẩm xuất sắc khác:

“Wiliam Wilson” của Edgar Allan Poe, “Ảnh” của Kage Akutagawa Ryunosuke,

“Bóng hình đánh mất”, E.T.A.Hoffman, “Người nuôi bóng mình” của Leonihard

Barlatta… Mặc dù cách thức thể hiện khác nhau nhưng nhìn chung đều là sự thể hiện

một cái tôi khác đối lập với hình, phần ý thức qua đó khám phá phần bản ngã của con

người.

Hình dung con người là một hình ảnh nhân đôi không chỉ là bóng và hình mà

trong nhiều tác phẩm khác các nhà văn còn để chính bản thân nhân vật phân thân ra

thành hai con người giống nhau để hiểu về chính mình. Thực chất đây cũng là một

dạng tồn tại khác của bóng và hình cho hai phần ý thức và vô thức của con người.

Trường hợp này chúng tôi khảo sát hai tác phẩm “Hình Nhân” của Susan Sontag và

“Pháo Đài Trắng” của Orhan Pamuk.

Susan Sontag sinh năm 1933 tại New York, là nhà văn, nhà lí luận văn học Mĩ

xuất sắc, đại diện cho trường phái Tiểu thuyết mới và sân khấu phi lí. Bà đã viết các

tiểu thuyết “Người làm việc thiện”, “Người tình của núi lử”…nhiều bài phê bình lí

luận như “Ghi chép”, “Tác phẩm mới”, “Chuyến đi Hà Nội”…Hình nhân là một trong

số những truyện ngắn của bà được viết vào những năm 70 được giới phê bình đánh

giá cao. Dưới áp lực của công việc và sự lặp lại nhàm chán của cuộc sống, theo “tôi”,

có hai cách để thoát khỏi điều này: biến đi hoặc bằng cách nhân đôi chính mình.

“Tôi” chọn cách thứ hai, tạo ra một hình nhân giống hệt mình, thực chất là một dạng

phân thân, tồn tại của hai phần bóng và hình. Trong đó tôi” là “hình” và hình nhân là

cái “bóng”. Bằng việc phân thân mình ra thành hai phần, nhân vật tôi đã chạy trốn

khỏi cuộc sống thực tại của mình để được sống tự do, làm tất cả những gì mà mình

thích, để được sống là chính mình. Còn gã hình nhân thì làm những việc chán ngắt

mà “tôi” từng đảm trách: những áp lực công việc ở công ti, trách nhiệm làm cha, làm

chồng…. Mặc dù phân thân nhưng “tôi” vẫn âm thầm theo dõi, quan sát tất cả các

động thái của hình nhân. Nhờ sự quan sát này, “tôi” thấy lại hình ảnh tội nghiệp, đáng

thương của chính mình trước đây: bận túi bụi ở công ti từ sáng tới chiều, về nhà chán

ngắt, cuộc sống buồn tẻ cứ lặp đi lặp lại…

Hình nhân thứ nhất sau một thời gian sống cuộc đời của “tôi”, hắn cũng bắt

đầu thấy chán và đòi hỏi quyền lợi cho mình. Hắn yêu một cô gái trẻ, muốn cuới

nàng làm vợ và từ bỏ tất cả công việc của tôi để sống một cuộc đời khác. Như vậy

đến lược hình nhân, bản ngã thứ hai của “tôi” cũng có có tiếng nói của riêng mình,

không chấp nhận sự áp đặt của “tôi”, phần ý thức. “Tôi” lại tiếp tục tạo ra một hình

nhân mới để thay thế hình nhân cũ và câu chuyện kết lửng ở đó. Qua cái kết này cho

thấy sự phân thân của tôi vẫn chưa đến hồi kết một khi cuộc sống vẫn còn đè nặng

lên con người thời hiện đại bao áp lực và mệt mỏi. Bằng việc sáng tạo ra hình nhân,

kẻ phân thân của “tôi”, Susan Sontag đã phản ánh được nhiều điều về cuộc sống và

những ước muốn của con người thời hiện đại cũng như góp thêm tiếng nói cho sự tìm

hiểu về bản ngã của mỗi người trong văn chương nhân loại.

Cùng đề tài này, Orhan Pamuk, Nobel văn chương 2006, “một trong những

tiếng nói mới mẻ và độc đáo nhất trong văn chương đương đại” với “vẻ đẹp u uẩn,

sầu muộn” (Independen on Sunday) đã viết tác phẩm xuất sắc “Pháo Đài Trắng”,

cuốn tiểu thuyết lịch sử lấy bối cảnh Istanbul thế kỷ XVII để đề cập đến bản ngã con

người, “qua lịch sử phát triển và hội nhập văn hóa trong thế giới hiện đại, là một

cuốn sách kỳ lạ và tài tình về sự đau đớn trong quá trình khám phá bản thân”. (New

Yorks Times) đã thực sự gây được sự chú ý lớn trên văn đàn quốc tế khi vừa ra đời.

“Pháo đài trắng” là một cuốn tiểu thuyết không dễ đọc chút nào. Nó đòi hỏi

đọc giả phải có một kiến thức, một trải nghiệm sống nhất định mới có đủ kiên nhẫn

bóc tách những suy nghĩ vô cùng tinh tế và khó cảm mà Orhan Pamuk gởi gắm. Suốt

tác phẩm hầu như vắng bóng những lời đối thoại mà chủ yếu là những hồi ức miên

man, mệt mỏi, chậm rãi của nhân vật “tôi” với những câu chuyện rất bình thường và

nhạt nhẽo.Thế nhưng với tài kể chuyện tuyệt vời của một nàng Sheherazade phương

Đông, Orhan Pamuk đã thành công khi từng bước dẫn dắt người đọc vào câu chuyện

để cùng băn khoăn, suy nghĩ và tìm câu trả lời cho câu hỏi mà nhân vật đặt ra: “Tại

sao ta là ta?” Một câu hỏi lớn lao, muôn đời của con người từ xưa đến nay khi tìm

kiếm phần bản ngã của chính mình, đây cũng là một trong những vấn đề rất cơ bản

của triết học phương Đông và phương Tây. Dưới con mắt của một nhà văn, Orhan

Pamuk đã giải quyết tất cả dưới góc nhìn của văn hoá, văn học một cách đầy màu sắc

và quyến rũ. Có lẽ vì thế mà tác phẩm đã được ví như một ngụ ngôn về nhân dạng,

một câu chuyện hậu hiện đại khám phá khía cạnh u ám và khuất lấp trong thuyết tự ý

thức của Descartes.

Suốt từ đầu tới cuối truyện, chỉ có hai nhân vật chính đối diện nhau, một nhà

khoa học trẻ người Italia bị bắt làm nô lệ và số phận đưa đẩy anh xích lại gần một

người đàn ông có bề ngoài giống mình một cách đáng kinh ngạc, Hoja, nghĩa là ngài.

Ngay từ phút đầu gặp gỡ, “tôi” đã kinh hãi khi nhận ra Hoja giống mình đến như vậy

“người vừa đi vào giống tôi đến kì lạ. Đích thị là tôi! Tôi đã thoáng nghĩ vậy vào giây

phút đầu tiên”[39/30]. Bản thân của Hoja cũng nhận thấy điều đó trong lần đầu gặp

“tôi”. Họ giống nhau như hai giọt nước, cứ như là hình ảnh người này trong cơ thể

của người kia và ngược lại, là cái tôi thứ hai của mỗi người đang hiện hữu trong bộ

dạng của một kẻ khác.

Hoja là một người kì lạ, say mê khoa học và ham hiểu biết. Trong suốt thời

gian dài sống chung với “tôi”, Hoja thường hay quan sát, ngắm nghía người nô lệ

giống mình hệt như bản sao ấy và yêu cầu “tôi” phải kể cho anh ta nghe tất cả mọi

việc trong quá khứ của “tôi” cũng như tất cả những hiểu biết khoa học mà “tôi” biết.

Sau đó Hoja lại đi vào cung và kể cho Padishah như chính mình là người đã trải qua

tất cả những việc ấy. Mối quan hệ có phần kỳ dị này được duy trì suốt hơn mười năm.

Ba năm đầu trôi qua chán ngắt, Hoja cố tình hạ nhục người nô lệ giỏi dang và nỗ lực

chứng tỏ sức mạnh của riêng mình một cách đầy kiêu hãnh, bằng chính kiến thức học

được từ người nô lệ. Hoja mong muốn có được sự thông thái của tên nô lệ. Còn “tôi”,

một mặt say mê sáng tạo, nghiên cứu để đưa những thành quả đó cho Hoja đem vào

cung dâng lên Padishah, để Hoja được thăng tiến mà không hề bận tâm. Mặt khác

“tôi” lại cảm thấy ghen tị, muốn hành hạ Hoja, muốn lấy sự đau đớn của Hoja làm

niềm vui sướng cho mình. Họ, hai con người khác nhau nhưng dường như sự tồn tại

của người này lại là cái tôi khác của người kia. Cái tôi ấy thể hiện những ham muốn,

khát khao vốn bị kìm nén từ lâu. Cứ như vậy họ sống chung với nhau trong cùng một

mái nhà, vừa xa cách, vừa ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau.

Nhưng đến một ngày nọ, trong đầu của Hoja thường xuyên vang lên câu hỏi

“Ta là ai?”, “Tại sao ta lại là ta?”, một cách mạnh mẽ mà không thể tìm ra câu trả

lời. Buộc lòng, Hoja phải trò chuyện với “cái tôi” thứ hai ấy của mình, người nô lệ,

để tìm lời giải đáp. Và câu trả lời nằm trong những gì mà họ trao đổi với nhau qua

những tờ giấy viết hàng đêm. Hoja buộc cả hai phải ngồi vào bàn và viết hết tất cả

những kí ức của mình trong quá khứ. Tất cả những bất hạnh lẫn hạnh phúc. Sau đó cả

hai đổi nhau để đọc. Thoạt đầu ta cảm nhận đây là một việc làm thật vô bổ và ngớ

ngẩn. Nhưng kì thực đọc kĩ ta mới vỡ lẽ là họ đang tìm hiểu và khám phá về nhau, để

hiểu chính mình, để biết vì sao “ta lại là ta?”, hay chính là họ đang tìm hiểu, khám

phá phần bản ngã bên trong của mình qua những trải nghiệm của kẻ đối diện. Cả hai

đang sống lại những kí ức xa xưa bị ngủ quên để cùng nhau hạnh phúc, dằn vặt, đớn

đau. Họ biết tất cả tội lỗi, sự bất toàn của mỗi người như đó chính là mình. Đây là

giai đoạn mà Hoja bộc lộ về bản thân một cách rõ rệt nhất, mà theo người nô lệ thì

hai tháng ấy đủ cho anh biết về Hoja hơn mười một năm cận kề bên nhau. Cao trào

của sự va đập giữa hai con người này là khi thành phố xảy ra nạn dịch hạch khủng

khiếp. Một chấm đỏ trên người Hoja xuất hiện khiến anh ta không thể giữ nổi bình

tĩnh. Hoja bắt người nô lệ phải cùng chịu đựng sự bất hạnh, nỗi lo âu và sự sợ hãi của

mình. Lần đầu tiên sau nhiều năm sống chung, họ cùng nhau đứng trước gương, nhìn

thẳng vào nhau cùng nhìn thấy hai con người giống nhau như hai giọt nước đang

song song tồn tại. Một lần nữa, cả Hoja và “tôi” đều kinh hãi khi nhận ra sự giống

nhau kì lạ này. Họ cảm thấy họ là anh em sinh đôi, là bản sao của nhau, người này

thấy mình là người kia và ngược lại. Cả hai như cùng phân thân ra để mỉa mai, giễu

cợt cho sự sợ hãi và nỗi cô đơn của chính mình.

Vì quá kinh hãi và hoảng sợ, người nô lệ đã bỏ trốn ra đảo. Được tự do, thoát

khỏi Hoja, điều mà bao năm “tôi” hằng ước mơ, khao khát. Thế nhưng khi đã được tự

do, thoát khỏi sự giam cầm của Hoja thì người nô lệ lại thấy lòng lúc nào cũng buồn

nhớ về Hoja một cách da diết mà không hiểu vì sao. Còn Hoja thì biết rằng tên nô lệ

của mình sẽ không thể bỏ đi nên cũng không vội vàng mà đi tìm hắn. Dường như có

một sợi dây vô hình nào đó đã ràng buộc lấy họ, làm họ không thể xa nhau. “Tôi” lại

về nhà, lại cùng lặng lẽ với Hoja trong những dự án khoa học mới, những cuốn sách,

nhất là ý tưởng chế tạo một loại vũ khí khổng lồ có ảnh hưởng quan trọng với cả hai

và đất nước. Trong thời gian này, họ lại có sự hoán đổi cho nhau. Nếu như trong giai

đoạn đầu Hoja là người đã vào gặp Padishah kể lại mọi kiến thức khoa học của nhân

vật tôi như Hoja đã trải qua còn nhân vật tôi thì ở nhà miệt mài lao động khoa học say

mê, lẳng lặng và cảm thấy đố kị thì giờ đây, nhân vật tôi lại là người đóng lại vai

tuồng của Hoja còn Hoja thì ngược lại. Dù sự hoán đổi ấy vô cùng hoàn hảo nhưng

Padishah vẫn biết được. Ngài phân biệt chính xác đâu là tiếng nói thật sự của Hoja

trong những bản tấu mà “tôi” gởi đến, đâu là lời của “tôi” thêm vào. Bề ngoài Hoja

và “tôi” giống nhau như hai giọt nước, nhưng dẫu giống nhau đến thế nhưng bên

trong họ vẫn khác biệt nhau “tôi” vẫn là “tôi” còn Hoja vẫn là Hoja. Hay đó chính là

sự khác biệt giữa tiếng nói của ý thức và sự lên tiếng của phần vô thức, bản ngã đang

bị đè nén, của hai kẻ song trùng với nhau?

Ở phần cuối cuốn sách, hai người đàn ông này đã tiến hành tráo hẳn vị trí cho

nhau, người này tiếp tục phần đời còn lại của người kia. Hoja lên đường đi Italia và

gắn nối lại cuộc sống trước kia của người nô lệ, thậm chí cưới cô gái ngày trước của

“người ấy”, làm tiếp những việc còn dở dang của “tôi”. Còn “tôi”, nhà khoa học trẻ

chấp nhận ở lại Thổ Nhĩ Kỳ, thừa hưởng gia sản của Hoja. Khi cả hai dường như đã

bẵng quên về con người thật của mình trước đó, sống cuộc đời của một kẻ khác

nhưng trong thâm tâm họ vẫn cảm thấy có mối liên lạc kỳ lạ nào đó làm cho họ luôn

hướng về nhau một cách khó giải thích. Họ yêu quý nhau như chính hình ảnh kỳ lạ,

đáng thương của chính mình vì họ chính là những kẻ song trùng của nhau.

“Pháo đài trắng” đã khai thác biểu tượng song trùng trong việc hình dung con

người là một hình ảnh nhân đôi của hai phần: ý thức và vô thức. Để cho cả hai cùng

lên tiếng, cùng tự khám phá, soi chiếu và tìm hiểu về nhau trong cùng một không

gian tồn tại. Qua đó tác phẩm đã thực sự xoáy sâu vào vấn đề bản ngã của mỗi người

trong lịch sử phát triển và hội nhập văn hóa của thế giới hiện đại. Đó là quá trình tự

khám phá bản thân đau đớn của hai người đàn ông - một người đến từ phương Đông,

người kia đến từ phương Tây trong khoảnh khắc gặp gỡ. Có lẽ vì vậy mà Guardian

đã nhận xét: “Pháo đài trắng tuyệt vời không phải bởi nó đã tái hiện một thời đại, mà

vì nó đã khám phá bí mật cá nhân con người và trên hết vì Pamuk đã gói gọn những

suy tư đó trong một câu chuyện đơn giản đến nhường ấy”. Còn tờ New Yorks Times

thì cho rằng đây là “một cuốn sách kỳ lạ và tài tình về sự đau đớn trong quá trình tự

khám phá bản thân. Và trong suốt thiên tiểu thuyết, người ta có thể chứng kiến sự

pha trộn siêu việt của những gì Orhan Pamuk thực sự thấy bằng con mắt của một kẻ

quá hướng về Tây phương trong khi bề ngoài lại quá thiên về phương Đông. Trong

khoảnh khắc Đông- Tây đã gặp gỡ”.

Như vậy, song trùng là một biểu tượng văn hoá khá thú vị của nhân loại. Cùng

khai thác biểu tượng này nhưng mỗi tác phẩm là một sáng tạo riêng biệt, độc đáo với

những biến thái vô cùng đa dạng và phong phú, chủ yếu ở phương diện nhân vật. Khi

vận dụng biểu tượng này, các tác giả thường sử dụng những hình ảnh giống nhau của

các nhân vật. Thứ nhất trong cùng một người nhưng lại tồn tại những tính cách đối

lập nhau một cách gay gắt, mang tính chất hai mặt, lưỡng diện rõ rệt. Tốt và xấu,

thiên thần và ác quỷ. Thứ hai nhân vật được hình dung là một hình ảnh nhân đôi của

hồn và xác, bóng và hình; hay phân thân ra thành hai người giống hệt nhau. Những

hình ảnh giống nhau này hầu hết đều xuất hiện một cách đồng thời, trong cùng một

không gian nhằm phản chiếu bản ngã của con người. Chính trong sự đồng thời này,

những ham muốn, ước mơ, dục vọng…của “kẻ song trùng” được bộc lộ mạnh mẽ,

độc lập cùng lúc với phần chủ thể, tạo ra sự phản chiếu, so sánh ngầm giữa chủ thể và

bản ngã của nó. Đó là một cái tôi khác vừa giống ta, vừa không phải là ta. Nó là kẻ bổ

sung, là phần đối nghịch với ta, là sự phản thân, phân mảnh của ta, là phần bản ngã

của ta đang tồn tại. Qua đó, chủ thể có cái nhìn sâu sắc, tron vẹn hơn khi tự khám phá

về mình. Như vậy, song trùng trong sáng tác của những tác giả trước và sau

G.Márquez chủ yếu khai thác ở phương diện nhân vật, chủ yếu ở khía cạnh tâm lí,

nhằm thể hiện phần bản ngã con người. Nó mang đến cái nhìn sâu sắc về thế giới tâm

lí phức tạp, bản ngã của mỗi người. Đó có thể là phần bóng tối, cái ác đang ngự trị,

cũng có thể đó là những tham vọng, những khao khát, những ước mơ tận sâu trong

tim được biểu lộ ra ngoài qua “ kẻ song trùng” với ta:

“Mình là ta đấy thôi, ta vẫn gửi cho mình.

Sâu thẳm mình ư? Lại là ta đấy!” (Chế Lan Viên, Ta gửi cho mình).

1.2 G.Máquez và “Trăm năm cô đơn”

1.2.1 G.Máquez “đỉnh cao ngọn sóng văn chương”

Giáo sư Gerald Martin phải mất mười sáu năm để hoàn thành cuốn tiểu sử về

Gabriel García Márquez, khi được được hỏi: “Theo ông, Gabriel García Márquez

giữ vị trí như thế nào trên văn đàn Mĩ Latin?”. Ông đáp: “ Rất khó để xác định một

cách rành rọt. Jorge Luis Borges là nhà văn có một không hai. Văn của ông là thứ

văn vô cùng mới và rực rỡ vô song. Nhưng Márquez cũng độc nhất theo một cách

riêng. Ông là cây đại thụ, một thương hiệu văn học mà người ta dễ dàng nhận ra

ngay từ dòng đầu tiên của bất cứ cuốn sách nào. Sư độc đáo của ông là ở chỗ, người

Mĩ Latin luôn tìm thấy bản thân mình trong các tiểu thuyết của ông. Ở điểm này

không một tác giả nào Mĩ Latin nào sánh được với Márquez. Nhưng đồng thời, độc

giả trên toàn thế giới cũng nhận thấy, văn của ông gần gũi và lôi cuốn mãnh liệt.

Márquez là đỉnh của ngọn sóng đã bùng lên trong nền văn học Mĩ Latin”. Thật vậy

Gabriel García Márquez là một tác gia lớn của văn học Mĩ Latin và thế giới. Ông là

một cây đại thụ văn học, là một trong những tác gia tiêu biểu cho văn học hậu hiện

đại, theo chủ nghĩa hiện thực huyền ảo ngày nay.

Gabriel García Márquez sinh ngày 6-4-1928 tại Aracataca trong một gia đình

trí thức nghèo. Aracataca là nơi các công ty hoa quả của Mĩ trồng những đồn điền

chuối với hàng ngàn công nhân làm việc. Vì sự hà khắt và chế độ lao động ngược đãi

nên trong nhiều năm liền hàng ngàn công nhân đã tham gia đình công đòi quyền lao

động hợp pháp. Vào thời điểm G.Márquez ra đời, cũng là năm cuối cùng diễn ra cuộc

đình công. Thế nhưng tất cả những cuộc đình công này đều bị thất bại và bị thảm sát

dã man. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, từ nhỏ G.Márquez đã được ông bà ngoại

đón về nuôi. Đây là khoảng thời gian hạnh phúc và rất quan trọng với tác giả. Được

sống với ông bà, trong vòng tay yêu thương, nhân hậu của họ, G.Márquez từng ngày

lớn lên và bộc lộ tư chất của một cậu bé thông minh, một nhà văn thiên tài. Ngay từ

nhỏ cậu đã được mọi người xem như một nhà văn, theo nhận xét của ông ngoại thì

G.Márquez đã biết sáng tác, thông qua những bức tranh liên hoàn, trước khi biết chữ.

Ông bà của G. Márquez là những người rất thú vị. Ông ngoại là một cựu đại tá

có cấp bậc và được dân làng tôn kính, bà ngoại là một người phụ nữ nhân hậu có tài

kể chuyện đặc biệt, bà có thể kể những câu chuyện lạ thường và mê tín nhất với một

thái độ hoàn toàn tự nhiên, thuyết phục. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tài năng kể

chuyện bậc thầy sau này của G.Márquez. Ngay từ nhỏ, G.Márquez đã được tắm trong

những câu chuyện hoang đuờng do ông bà kể. Đó những câu truyện cổ dân gian,

truyền thuyết đầy màu sắc huyền ảo, chuyện về những cuộc nội chiến đau thương,

chuyện về vụ đình công của công nhân chuối bị đàn áp, thảm sát một cách tàn nhẫn,

những câu chuyện tình lãng mạn của bố mẹ….tất cả theo thời gian, chúng in sâu vào

kí ức của ông một cách gần như là vô thức, đắp bồi trong ông tình yêu văn chương và

tài năng văn học lỗi lạc, tạo cho ông một vốn liếng văn học dồi dào. Sau này khi lớn

lên, G.Márquez đã sử dụng hiệu quả tất cả những trải nghiệm ấy vào tác phẩm của

mình một cách xuất sắc. Đọc tác phẩm của ông, người đọc luôn bị lôi cuốn, hấp dẫn

một cách lạ kì bởi sự hoà quyện độc đáo giữa hiện thực và các yếu tố huyền ảo, cùng

với chất trí tuệ uyên thâm trong đó.

Hiện thực đau thương của đất nước, quê hương được ông phối kết tuyệt vời

trong sự hoang đường, kì ảo đậm chất Mĩ Latin.Tất cả đã cùng thăng hoa trong tình

yêu văn học mạnh mẽ của G.Márquez làm nên những kiệt tác muôn đời. Gia đình,

đặc biệt là vai trò của ông bà ngoại là một trong những nhân tố quan trọng đầu tiên

ươm mầm, phát triển tài năng văn chương của G. Márquez. Sau này khi đã trở thành

một nhà năn nổi tiếng thế giới, G.Márquez đã bộc bạch: “Tôi cảm thấy rằng tất cả

mọi trang viết của tôi đều bắt nguồn từ khoảng thời gian tôi sống với ông bà”. Đó là

một sự tri ân sâu sắc mà G.Márquez dành cho ông bà của mình. Bên cạnh đó, hiện

thực đau thương của các cuộc nội chiến, sự đói nghèo, lạc hậu của dân tộc là một

mảnh đất hiện thực màu mỡ giúp cho G.Márquez khai thác, thể hiện một cách thành

công trong những sáng tác của mình.

Theo ước nguyện của ba mẹ, G. Márquez vào học ngành luật tại Đại học Quốc

gia Bogota. Trong thời gian này thay vì đọc các sách luật, G.Márquez lại say mê đọc

các tác phẩm văn học. Như một ngã rẽ cuộc đời, G. Márquez tình cờ đọc được tác

phẩm “Biến dạng” của Kafka. Ngay từ dòng đầu tiên, tác phẩm Đã lôi cuốn ông một

cách kì lạ.Tác phẩm đã gây ấn tượng sâu sắc với G.Márquez bởi cách viết rất mới lạ

và độc đáo: “Buổi sáng tỉnh giấc băn khoăn, Gregor Samsa nằm trên giường thấy

mình biến thành một con bọ khổng lồ…”, không cần nhiều lời, vừa mở đầu tác phẩm,

Kafka đã đặt nhân vật vào tình huống “có vấn đề”, tựa như một giấc mơ khủng khiếp,

bị biến dạng thành một con bọ gớm ghiếc. Kafka không hề lí giải tại sao, ông xem đó

như là một điều hết sức bình thường. Do vậy mà lối kể chuyện của tác giả thì cứ tỉnh

bơ, vì tin những gì mình viết là sự thật, dẫu biết rằng điều ấy là rất hoang đường và

phi lí (nó rất giống với cách kể chuyện của bà ngoại G.Márquez ). Có lẽ vì thế mà

ngay dòng đầu, G.Márquez lại bị ấn tượng mạnh như vậy. Càng tìm hiểu các tác

phẩm của Kafka, G.Márquez càng thấy rằng cách viết của Kafka có một sự mê hoặc

đặc biệt, rất phóng túng, tự do nhưng cũng vô cùng sâu sắc và trí tuệ. Không chỉ ảnh

hưởng ở cách viết đậm chất hoang đường, huyền ảo, Kafka còn ảnh hưởng mạnh đến

đến G. Márquez ở phương diện tư tưởng. Đó là nỗi ám ảnh về nạn bạo lực, độc tài, sự

cô đơn, cảm quan bi-hài trước thế sự…. Đặc biệt chủ đề cô đơn. G.Marquez từng

tuyên bố suốt đời mình sẽ chỉ viết về cái cô đơn. Thông qua cái cô đơn này ông nói

được nhiều điều về con người, về Colombia đau thương, châu Mĩ Latin đói nghèo,

lạc hậu. Như thế Kafka là người đã mở cánh cửa văn chương cho cuộc đời của

G.Márquez. Ông có vị trí mở đường, ảnh hưởng lớn lao đến tài năng và niềm đam mê

văn chương của G. Márquez. Sau này khi đã trở thành nhà văn nổi tiếng, G. Márquez

vẫn thừa nhận rằng dấu ấn của Kafka với mình là rất lớn lao.

Bên cạnh Kafka, William Faulkner và Ernest Hemingway cũng là những người

thầy văn chương lớn của G. Márquez, đặc biệt là William Faulkner. Khi nhận xét về

cách viết của William Faulkner, G. Márquez đã cho rằng: “Nó như một bầy dê thả

lỏng trong nhà máy thuỷ tinh”. Đây là một cách nói đầy hình tượng của G.Márquez

khi nhận xét lối viết độc đáo, đầy sáng tạo của Faukner. Đó là sự dung hợp tuyệt vời

những yếu tố siêu nhiên và tự nhiên, bình thường và bất thường bên nhau. Một trong

những tác phẩm gây ảnh hưởng lớn đến G. Márquez của William Faulkner là tiểu

thuyết “Âm thanh và cuồng nộ”. Trong tác phẩm này, William Faulkner đã xây dựng

câu chuyện của dòng họ Compson ở bang Mississipi, nước Mỹ, vào khoảng đầu thế

kỉ XX, từ lúc giàu sang cho đến khi khánh kiệt và sa đoạ trong không huyền thoại của

làng Yoknapatawpha. Những thế hệ của dòng họ Compson được đặt tên lặp lại nhau:

Maury cậu- Maury cháu, Quentin cậu- Quentin cháu, Jason bố-Jason con. Sự trùng

lặp tên gọi này gợi ra một chu kì khép kín đến vô vọng, như một điệp khúc bất tận

của nỗi cô đơn và sự tha hoá của con người. Qua câu chuyện lịch sử của dòng họ

Compson, William Faulkner muốn phản ánh những biến động lịch sử của miền nam

nước Mỹ thế kỉ XIX.

Môtip trùng tên và không gian huyền thoại của làng Yoknapatawpha được

G.Márquez vận dụng một cách đậm đặc hơn trong “Trăm năm cô đơn” với thị trấn

Macondo và lịch sử trùng lặp của dòng họ Buendía. Thị trấn Macondo làm ta nhớ tới

Yoknapatawpha lừng danh của Faulkner, nhưng là một thế giới đã đi vòng quanh thế

giới nhiều gấp bội so với thế giới của Faulkner, mặc dù Macondo chỉ xuất hiện ở hai

trong số chín tiểu thuyết của Márquez và ba trong số hơn năm mươi truyện ngắn của

ông. Macondo giờ đây đã trở thành một thứ tốc ký về mối họa chậm tiến truyền kiếp

của Mỹ Latin. Macondo là một không gian huyền thoại, được G.Márquez tạo ra nhằm

dung chứa mọi mặt lịch sử của các dân tộc ở Mĩ Latin. Do vậy, nó không thuộc về

một xứ sở cụ thể nào cả. Với Macondo, G.Márquez muốn tái hiện lại lịch sử đau

thương của Colombia và sự tù đọng, trì trệ của cả châu lục. Đồng thời nó còn là lịch

sử của nhân loại từ thuở hồng hoang cho đến thời hậu hiện đại. Chính điều đó đã tạo

nên tầm vóc lớn lao cho tác phẩm. Cuối truyện, nó bị chôn vùi trong một trận cuồng

phong, biểu tượng của sự huỷ diệt những điều phi nhân bản để tái sinh những điều tốt

đẹp, bền vững trong cuộc sống,“nơi mà không ai có thể có thể bị những kẻ khác định

đoạt cuộc đời cho đến cả cái chết, nơi tình yêu là cái có thật và hạnh phúc là cái có

thể có và nơi mà những dòng họ bị kết án trăm năm cô đơn thì cuối cùng và mãi mãi

sẽ có một vận hạnh lần thứ hai có mặt trên mặt đất này” [8/713]. Niềm tin ấy được

G.Marquez thừa nhận là đã kế thừa từ thầy Faulkner trong diễn văn được Faulker đọc

năm 1945: “Tôi từ chối chấp nhận sự tàn lụi của con người”. Như thế Faulkner đã có

sự ảnh hưởng lớn lao đến văn nghiệp của G.Márquez trong phương diện tư tưởng lẫn

lối viết đầy sáng tạo.

Còn Hemingway lại ảnh hưởng đến ông theo một kiểu khác, chủ yếu là cách

chiếm lĩnh và khả năng bao quát hiện thực. Như có lần ông bày tỏ, với cách sống

phóng khoáng, cách bao quát hiện thực, cách tâm hồn ngân lên giai điệu đồng cảm

với cuộc đời, Hemingway mãi ám ảnh ông khôn nguôi. Học tập điều này, G.Márquez

cũng là một bậc thầy trong nghệ thuật xây dựng và sáng tạo văn chương. Đọc tác

phẩm của G.Márquez, chúng ta không khỏi ngạc nhiên bởi sự phong phú và sống

động của những kiểu không gian mà ông sáng tạo ra. Nó huyền ảo nhưng cũng rất

đậm chất hiện thực, vừa rộng lớn bao la, nhưng cũng rất cụ thể, chi tiết. Vì thế mà

chúng có sức mê hoặc lạ kì. Qua đó cho thấy khả năng bao quát và sáng tạo của ông

so với thầy học của mình chẳng thua kém là bao. Và G.Márquez cũng tìm thấy sự

đồng điệu trong tâm hồn của mình và Hemingway khi nhận thấy rằng cả hai đều tin

tưởng vào con người, “con người ta sinh ra không phải để dành cho sự thất bại. con

người có thể bị huỷ diệt chứ không chịu khuất phục” ( Hemingway) và “ tình yêu là

cái có thật và hạnh phúc là cái có thể có và nơi mà những dòng họ bị kết án trăm

năm cô đơn thì cuối cùng và mãi mãi sẽ có một vận hạnh lần thứ hai có mặt trên mặt

đất này” (Nỗi cô đơn của Mĩ Latin, G.Márquez). Như vậy Kafka, Faulkner,

Hemingway, mỗi người một vẻ đã có ảnh hưởng lớn đến văn nghiệp của G.Márquez.

Nhưng với tài năng và sự đam mê học hỏi, G.Márquez đã tạo ra cho mình một

thương hiệu văn học riêng không thể nhầm lẫn với bất cứ ai.

Năm 1982, G.Márquez được trao giải Nobel văn học vì những đóng góp đặc

biệt của ông cho văn chương nhân loại. G.Márquez là người có sức sáng tạo khá

mạnh mẽ, nhiều tác phẩm của ông được xem là những kiệt tác nhân loại: “Ngài đại tá

chờ thư”, “Mùa thu của Trưởng lão”, “Tình yêu thời thổ tả”…Và gần đây cuốn tự

truyện đặc biệt và rất thật của ông, “Sống để kể lại” đã gây được tiếng vang lớn đối

với độc giả trên toàn thế giới. Nó khẳng định một lần nữa sự thiên tài cũng như sức

lao động văn chương miệt mài của tác giả. Đọc “Sống để kể lại”, chúng ta hiểu thêm

về Márquez, một con người huyền thoại, với những ký ức, trải nghiệm, nỗi đau và

khát vọng sống mạnh mẽ của ông từ lúc ấu thơ, trải qua bao thăng trầm để trở thành

một nhà văn tầm cỡ thế giới. Và chúng ta nhận ra rằng cuộc đời không chỉ là tồn tại –

mà là hãy sống – sống sao để sau này có thể kể lại.

Những tác phẩm của ông luôn được đọc giả khắp thế giới nồng nhiệt đón nhận

trong sự yêu thích. Tất cả đều gần như hoàn hảo và được sáng tác theo phong cách

của chủ nghĩa hiện thực mới. G.Márquez chứng tỏ được mình ở tầm cỡ một nhà kinh

điển của chủ nghĩa hậu hiện đại, cho thấy ông hoàn toàn có thể vươn tới những đỉnh

cao mới sau khi đoạt giải Nobel và sức sáng tạo của ông thật sung mãn, xứng đáng là

ngọn cờ tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mĩ Latin, là một trong những tác

gia tiêu biểu của văn học hậu hiện đại, theo chủ nghĩa hiện thực huyền ảo ngày nay,

Márquez được thế giới đánh giá là tác giả “vĩ đại nhất từ sau Ernest Hemingway”, là

“đỉnh cao của ngọn sóng văn chương” quả là không quá chút nào. Đó là sự ghi nhận

đúng đắn cho những nỗ lực học hỏi và sáng tạo không ngừng của ông.

1.2.2 G. Márquez và hiện tượng song trùng

Khi nghiên cứu một số tác phẩm khai thác song trùng, chúng tôi nhận thấy đa

số các tác giả dừng lại ở mức độ biểu tượng và chủ yếu tồn tại ở phương diện nhân

vật. Họ xây dựng những nhân vật giống nhau theo kiểu: hồn- xác, bóng-hình, hình

nhân… những nhân vật này cùng xuất hiện một cách đồng thời, trong cùng một

không gian với nhau. Ví dụ trong truyện ngắn “ Cái bóng”, bóng và hình cùng tồn tại

song song với nhau, Yakov Petrovich Golyadkin thứ hai và Yakov Petrovich

Golyadkin thứ nhất, Raskolnikov và nhóm nhân vật “chung đôi bóng tối”, “chung đôi

ánh sáng”, Hoija và nhà khoa học trẻ… Trong sự tồn tại đồng thời, cùng lúc này hồn,

bóng, hình nhân… thường có kiểu tâm lí trái ngược nhau. Nó bộc lộ những ham

muốn, dục vọng, khát khao, toan tính mãnh liệt nhưng không thể thực hiện được vì bị

phần ý thức kiểm soát và đè nén. Chính điều này đã tạo ra sự va đập, so sánh thú vị

giữa chủ thể và kẻ song trùng với mình. Nhân vật phải trải qua một quá trình đau

đớn, đối diện, kiểm nghiệm lại chính mình qua sự phản chiếu hình ảnh của mình và

phần bản ngã. Những kẻ song trùng khám phá, tìm hiểu về đối phương của nhau,

cũng có nghĩa là họ đang tự tìm hiểu về chính mình, và họ luôn chợt nhận ra kẻ thứ

hai kia cũng là mình đang tồn tại, là một cái tôi khác, vừa giống vừa không giống họ.

Qua sự xuất hiện cặp đôi của những phân thân giống nhau này, nhân vật bộc lộ

tâm lí của mình sâu sắc hơn, mang đến cái nhìn đa diện hơn về thế giới tâm lí phức

tạp, về bản ngã của mỗi người. Đó có thể là phần bóng tối, cái ác đang ngự trị, cũng

có thể đó là những tham vọng, những khao khát, những ước mơ tận sâu trong tim

được biểu lộ ra ngoài qua “kẻ song trùng” với ta. Nhân vật vỡ oà được nhiều điều và

nhận chân sâu sắc hơn về con người thật của mình. Sự nhận chân này góp phần thanh

lọc tâm hồn họ cũng như làm cho họ trưởng thành hơn, giúp họ biết được đâu là con

người thật của mình, để hướng đến những điều tốt đẹp hơn trong cuộc sống. Như thế

khai thác biểu tượng song trùng các tác giả trước và sau G.Márquez chủ yếu tập trung

ở phương diện nhân vật, tập trung khai thác ở khía cạnh tâm lí, nhân vật song trùng

giống nhau, xuất hiện một cách đồng thời, cùng lúc phản ánh bản ngã của con người.

Cùng sử dụng những hình ảnh cặp đôi giống nhau của song trùng nhưng trong

“Trăm năm cô đơn” G.Márquez không chủ yếu khai thác song trùng ở phương diện

biểu tượng mà chủ yếu xem nó như một hiện tượng. Triết học và tâm lí quan niệm,

biểu tượng là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm

giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật

vào giác quan ta đã chấm dứt. Biểu tượng là những hình ảnh cụ thể, rõ ràng và cố

định. Còn motif dùng để “chỉ những thành tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được

hình thành ổn định bền vững và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ

thuật, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian”[20/197]. Như thế, motif cũng sử

dụng những hình ảnh nên trong nó cũng chứa đựng những biểu tượng. Nhưng những

hình ảnh này được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong những trường hợp khác

nhau, trong những bối cảnh, ngữ cảnh khác nhau, tạo ra những biến điệu, biến thái rất

đa dạng và phong phú chứ không phải là chỉ là sự lặp lại một cách hoàn toàn, trùng

lặp so với mẫu gốc, chính điều này đã tạo ra hiện tượng lặp lại thú vị cho. Trong

“Trăm năm cô đơn”, sự lặp lại này xảy ra rất đậm đặc: nhân vật, kết cấu, giọng

điệu… Nhân vật được xây dựng lặp lại qua bảy thế hệ, không chỉ lặp lại tên gọi mà

còn cả tính cách, hành động, kí ức, số phận. Nhưng mỗi nhân vật vẫn có những nét

riêng độc đáo của riêng mình trên cơ sở những đặc điểm chung của dòng họ. Kết cấu

tác phẩm cũng được kiến tạo theo kiểu những vòng tròn lặp lại như thế. Xuất phát từ

hiện tượng lặp đi lặp lại một cách thường xuyên như vậy, chúng tôi cho rằng song

trùng trong “Trăm năm cô đơn” là một hiện tượng chứ không chỉ dừng lại là một biểu

tượng như những tác phẩm khác.

Hiện tượng song trùng này đã chi phối mạnh mẽ đến việc xây dựng các thành

tố của tác phẩm: nhân vật, tình tiết, chi tiết...tất cả đều lặp đi lặp lại đầy ám ảnh. Nhân

vật của ông không xuất hiện đồng thời, không là sự phản chiếu, hay là cái bóng của

nhân vật khác mà nhân vật trong “ Trăm năm cô đơn” tồn tại theo kiểu cặp đôi, cặp

đôi thế hệ này sẽ được lặp lại một phần hoặc gần hết ở thế hệ kế tiếp, cứ như vậy cho

đến thế hệ cuối cùng, tạo ra một hệ thống nhân vật trùng lặp hết sức độc đáo. Lịch sử

của dòng họ Buendía gắn kết rất chặt chẽ với số phận làng Macondo từ những buổi

đầu thành lập cho đến khi phát triển trù phú rồi bị khánh kiệt và xóa sổ. Những biến

động lịch sử trong tác phẩm mang dáng dấp hình bóng lịch sử của Colombia và Mĩ

Latin. Đó là sự bất ổn về chính trị, cuộc nội chiến ngàn ngày, các công ty hoa quả của

Mĩ, cuộc sống tù đọng, trì trệ, nghèo nàn của người dân …Như thế xây dựng những

nhân vật song trùng, G. Márquez không chủ yếu khám phá ở nhân vật của mình ở

phương diện tâm lí, bản ngã như những tác giả khác mà lấy đó làm cơ sở để phản ánh

những mất mát đau thương, khủng hoảng chính trị và sự trì trệ, tù đọng của xã hội

Colombia và châu Mĩ Latin. Những chi tiết, tình tiết cũng được xây dựng theo cách

thức như vậy. Từ đó chúng tôi thấy rằng song trùng của G.Márquez là cơ sở quan

niệm về thế giới của ông, là cơ sở thi pháp tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn” trong đó

có hai phương diện quan trọng: nghệ thuật xây dựng nhân vật và kết cấu.

Chương II Song trùng và nghệ thuật xây dựng nhân vật

2.1 Nhân vật văn học

Nhân vật trong tác phẩm văn học hay còn gọi là nhân vật văn học là một thành

tố quan trọng của tác phẩm, là hình thức cơ bản để văn học miêu tả thế giới một cách

hình tượng. Nhân vật văn học là “con người được thể hiện bằng phương tiện văn học.

Nội dung của nhân vật nằm trong sự thể hiện đó.” [42/279]. Chúng tôi căn cứ vào

khái niệm này để nghiên cứu nhân vật trong tác phẩm “Trăm năm cô đơn”.

Lại Nguyên Ân cho rằng: nhân vật văn học là “một đơn vị nghệ thuật, nó mang

tính ước lệ, không thể đồng nhất với con người thật, ngay khi tác giả xây dựng nhân

vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật. Nhân vật văn học là sự thể hiện

quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người; nó có thể được xây dựng trên cơ sở

quan niệm ấy. Ý nghĩa của nhân vật văn học chỉ có được trong hệ thống một tác

phẩm cụ thể. Vai trò và đặc trưng của nhân vật văn học bộc lộ rõ nhất trong phạm vi

vấn đề nhân vật và tác giả.” [19/242]

Từ điển thuật ngữ văn học, nhân vật văn học “là một đơn vị nghệ thuật đầy tính

ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống. Chức năng cơ

bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người. Do tính cách là một

hiện tượng xã hội, lịch sử, nên chức năng khái quát tính cách của nhân vật văn học

cũng mang tính lịch sử” và “thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của

nhà văn về con người. Vì thế, nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm.” [20/

235-236]

Từ những góc độ khác nhau có thể chia nhân vật văn học thành nhiều kiểu loại

khác nhau.

“-Dựa vào vị trí đối với nội dung cụ thể, với cốt truyện của tác phẩm, nhân vật

văn học được chia thành nhân vật chính và nhân vật phụ.

-Dựa vào đặc điểm của tính cách, việc truyền đạt lí tưởng của nhà văn, nhân

vật văn học được chia thành nhân vật chính diện và nhân vật phản diện.

-Dựa vào thể loại văn học, ta có nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình, nhân vật

kịch.

-Dựa vào cấu trúc hình tượng, nhân vật được chia thành nhân vật chức năng,

nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng”. [20/236]

Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu, chúng ta có thể nhận thấy quan

niệm về nhân vật văn học được hiểu khá thống nhất. Nhân vật văn học là những con

người, loài vật, đồ vật…được tác giả sáng tạo và như thể có đời sống riêng thể hiện

một cách nghệ thuật trong tác phẩm. Nhân vật văn học đầy tính ước lệ và không thể

đồng nhất nó với hiên thực bên ngoài. Nó có vai trò quan trọng trong tác phẩm, thể

hiện mô hình quan niệm thế giới, con người của tác giả. Đó là một thành tố nghệ

thuật mang tính chủ quan và dấu ấn cá nhân đậm nét của nhà văn.

Khi nghiên cứu nhân vật trong “Trăm năm cô đơn”, chúng tôi thấy rằng hầu

như tác phẩm không có nhân vật trung tâm mà chỉ có nhân vật chính. Có khoảng sáu

mươi nhân vật, nhiều nhân vật trong số đó tên gọi được lặp lại. Nhưng tất cả đều

được khu biệt với nhau một cách rõ ràng, đem đến cho người đọc những ấn tượng đặc

biệt. Bởi nhân vật trong “Trăm năm cô đơn” là những con người đặc biệt, phi thường,

dị thường và quái dị. Mỗi người một vẻ đã được tác giả khắc họa thành công qua

những thủ pháp lạ hóa ấn tượng: trùng tên, dùng biểu tượng trùng lặp và nhân vật

được soi chiếu dưới cái nhìn đa diện tạo ra những cặp nhân vật song trùng độc đáo.

2.2 Các thủ pháp nghệ thuật

2.2.1 Thủ pháp trùng tên

2.2.1.1 Thế hệ thứ nhất

Để chạy trốn sự dằn vặt lương tâm vì tội giết chết Prudencio Aguilar, José

Arcadio Buendía đã dẫn một nhóm người đi tìm một vùng đất mới, với những khát

vọng mới mẻ. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa cho hành trình của hành trình này là sự

ám thị về tội loạn luân của hai vợ chồng José Arcadio Buendía và Úrsula Iguarán.

Như vậy, hành trình khám phá ra thế giới mới là một hành trình trốn chạy tội loạn

luân. Gần hai năm đi bộ, đoàn người đã vượt qua những quãng đường dài, họ hầu

như không còn đủ sức để đi tiếp nhưng vẫn chưa tìm được chốn dừng chân để lập

làng. Trong giấc mơ, Macodon, thành phố của những tấm kính vọng vào tâm trí của

José Arcadio Buendía và ông quyết định dừng chân để lập làng, “đêm ấy José

Arcadio Buendía nằm mộng thấy ở ngay nơi đó một thành phố đông vui với những

ngôi nhà có tường kính đã mọc lên. Ông hỏi đó là thành phố gì và ông được trả lời

bằng một cái tên chưa bao giờ nghe thấy, một cái tên chẳng có ý nghĩa gì nhưng nó

cứ vang vọng trong giấc mơ: Macondo.” [11/49] Như vậy vùng đất Macondo trong

sáng tác của G.Márquez không mang cảm hứng từ một loài cây nhiệt đới, một tộc

người du mục, hoặc một đồn điền chuối có thật ở Aracataca, mà là địa danh nên thơ

của một giấc mơ.

Bằng lòng quả cảm José Arcadio Buendía đã dẫn đoàn người vượt qua đầm lầy

để đến Macondo. Không chỉ là người có sức khỏe phi thường, José Arcadio Buendía

còn là một người đàn ông có nhiều khát khao, tài năng và trí tưởng tượng phong phú,

nhiều khi còn vượt xa cả bản thể của tự nhiên. Chỉ bằng những quan sát thực nghiệm,

José Arcadio Buendía đã phát hiện ra nhiều điều thú vị, là người đầu tiên trong làng

phát hiện “trái đất tròn như thể trái cam!”, và thử nghiệm thành công thuật làm giả

kim, những điều đã quá xưa cũ với mọi người, trừ cư dân của làng Macondo. Nhưng

tất cả những nỗ lực của cụ cuối cùng cũng chẳng đi đến đâu, nếu không muốn nói là

thất bại. Sự đam mê khoa học của José Arcadio Buendía cùng cư dân ở Macondo đã

phản ánh những khát khao hiểu biết nhưng cũng đồng thời vạch ra sự lạc hậu của họ

so với phần còn lại của thế giới. Càng ngày cụ càng trầm lặng, ít nói và giam mình

trong nỗi cô đơn sâu thẳm. Ban đầu, cụ bị ám ảnh bởi những kỷ niệm (đặc biệt là cái

chết của Prudencio Aguilar) đến khi phát hiện ra “thời gian bị tai nạn”, cụ đã dùng

hết sức đập vỡ phòng thí nghiệm của mình và từ đó hoàn toàn xa lạ với tất cả. Cụ

dừng lại ở một điểm thời gian của riêng mình và sống tĩnh lặng mãi mãi triền miên

trong bể thẳm vô thức cho đến cuối đời.

Những phẩm chất trên của của cụ tổ sẽ di truyền cho đám con cháu sau này,

chủ yếu ở tuyến nhân vật nam theo hai nhánh: Accadio và Aureliano, di truyền cho

họ cả sức mạnh phi thường, sự táo gan, sôi nổi và cả thói trái tính trái nết, nỗi hoài

nhớ và niềm cô đơn vô tận. Để rồi tất cả họ cuối cùng không chống nổi sức mạnh của

nỗi hoài nhớ ấy, điều mà chưa bao giờ họ thực sự hiểu rõ ràng, tự lưu đày vào cõi cô

đơn vĩnh viễn. Mô hình này được lặp đi lặp lại trong tác phẩm, đặc biệt là với những

người đàn ông.

2.2.2 Thế hệ thứ hai

Như một định mệnh đã được in dấu từ trước, “bất kì nhân vật nào của dòng họ

Buendía, khi mang cái tên Arcadio (ngoại trừ Arcadio Segundo), đều là hiện thân

của đời sống sôi nổi, đầy bản năng nhục dục”. [23/191]: José Arcadio, Arcadio,

Arcadio Segundo, José Arcadio. Ngược lại bất kì nhân vật nào của dòng họ Buendía

khi mang cái tên Aureliano (trừ Aureliano Segundo, Aureliano, người cuối cùng của

dòng họ bị kiến tha) thì “luôn có trí thông minh tuyệt vời nhưng lại mắc chứng trầm

tư, ủ dột và lánh đời”. [11/16]: Aureliano Buendía, Aureliano José, Aureliano

Segundo, Aureliano Babilonia, Aureliano. Những cái tên ở đây được lặp lại một phần

hoặc hoàn toàn qua bảy thế hệ. Điều đặc biệt là trong mỗi thế hệ như vậy gần như

luôn có một cặp đôi Buendía: Arcadio, Aureliano ra đời và tồn tại song song nhưng

bản tính lại khác nhau, tạo ra những cặp nhân vật song trùng độc đáo.

José Arcadio, thế hệ thứ hai thừa hưởng sức mạnh cơ bắp của cha, vừa đến tuổi

trưởng thành đã sớm biết đến mùi đàn bà. Quan hệ tình dục với Pilar Ternera rồi bỏ

đi theo những người Digan. José Arcadio đi vòng quanh thế giới sáu mươi lăm lần và

trở về nhà trong sự ngỡ ngàng của mọi người với “tấm lưng vuông vức của anh ta

dường như không lọt qua cửa. Trên cổ anh ta đeo một sợi dây chuyền có treo hình

Thánh bà Đồng trinh Rêmêđiôt. Ngực và hai cánh tay anh ta săm kín hình ảnh các

nghĩa trang. Trên cổ tay anh ta đeo bức tượng đồng Chúa Giêsu bị đóng đinh câu

rút. Anh ta có nước da đen sạm bởi phong sương dãi nắng, mái tóc ngắn và bờm xờm

như bờm lừa, hàm răng bạnh ra cứng kều, đôi mắt âu sầu….Và sự có mặt của anh ta

đem đến cho tất cả mọi người cái cảm giác rùng mình trước trận động đất.” [11/123]

Không chỉ sở hữu một thân hình lực lưỡng mà José Arcadio còn được miêu tả đậm

chất phồn thực: hơi thở có thể làm héo cả hoa lá, âm thanh và cường độ làm tình “một

đêm tới tám lần, một buổi trưa tới ba lần” [11/123] đã làm kinh động cả người chết

ngoài nghĩa địa. Mặc cho sự cấm cản của mọi người ông đã cưới em gái nuôi của

mình, Rebecc a bất chấp mọi quy luật của đạo lí, để rồi “ngồi xổm lên cái lẽ của tạo

hóa”[11/128] mà phạm tội loạn luân. Nhưng khác với José Arcadio Buendía, José

Arcadio không hề thấy tội lỗi hay dằn vặt lương tâm. Có thể nói José Arcadio là một

dạng nhân vật hiện sinh, hiện thân cho cuộc sống đầy bản năng và tình dục mạnh mẽ

của dòng họ Buendía. Khước từ sự ảnh hưởng mọi người xung quanh, vợ chồng José

Arcadio gần như là những người duy nhất trong làng đứng ngoài guồng quay của

chiến tranh. Nhưng cuối cùng ông lại bị giết hại bằng một phát súng đầy bí ẩn. Chiến

tranh xảy ra thì không ai có thể hạnh phúc dù anh có tham chiến hay không.

José Arcadio và Aureliano Buendía thuộc thế hệ thứ hai của dòng họ Buendía.

Aureliano Buendía là người đầu tiên được sinh ra ở làng Macondon. Ngay từ thơ bé,

Aureliano đã là một người lặng lẽ và cô đơn, “cậu đã khóc trong bụng mẹ và lọt lòng

với đôi mắt mở thao láo”. Chỉ có Úrsula là người duy nhất nhận ra nhận ra tiếng khóc

ấy không phải là dấu hiệu của người nói giọng bụng hay có tài tiên tri mà tiếng gầm

sâu lắng ấy là dấu hiệu đầu tiên của cái đuôi lợn khủng khiếp, là dấu hiệu không thể

nhầm lẫn của sự bất lực trước tình yêu. Cũng như bao đứa trẻ khác của dòng họ, lúc

còn bé thơ cả hai đều là những đứa trẻ ngoan ngoãn. Nhưng điều ấy không được lâu,

lớn lên một chút họ đã sớm để mất trí tuởng tưởng và thu mình vào cõi cô đơn. Nếu

như José Arcadio được tác giả nhấn mạnh ở khía cạnh bản năng, tình dục với một cơ

thể cường tráng và vâm váp được thừa hưởng từ cha thì Aureliano Buendía ngược lại,

chàng có một vóc dáng mảnh khảnh, đặc biệt là đôi mắt âu sầu và rất thông minh.

Mặc dù đã trở thành một nguời đàn ông thực sự nhưng Aureliano Buendía vẫn

chưa biết đến mùi đàn bà. Cậu “vẫn chưa có được thân hình vâm váp của cha và anh

mình. Tuổi thanh niên đã lấy mất đi của Aureliano Buendía giọng nói ngọt ngào và

đã khiến cho cậu rở nên lầm lì ít nói và cô đơn, nhưng trái lại nó cũng trả cho cậu

sức biểu cảm mãnh liệt vốn có từ thuở lọt lòng mẹ trong đôi mắt” [11/66] Suốt ngày

Aureliano Buendía miệt mài trong xưởng kim hoàn. Bằng sự thông minh vốn có từ bé

và sự kiên trì miệt mài nên chẳng bao lâu chàng nổi tiếng khắp vùng đầm lầy về tay

nghề kim hoàn tinh xảo. Trong đợt mất ngủ dài ngày của làng có hai bà cháu đến để

mua vui cho cánh mày râu của làng. Vì tò mò và thương hại Aureliano Buendía tìm

đến cô gái để làm tình. Lần đầu đứng trước một người phụ nữ, chàng đau đớn nhận ra

sự bất lực của mình, mặc cho cô gái ra sức khêu gợi, Aureliano Buendía vẫn cảm

thấy đơn độc, đơn độc đến khủng khiếp. Mặc cảm về sự thất bại này khiến cậu càng

trốn sâu vào công việc hòng xoá nhoà đi kí ức không mấy tốt đẹp này. Aureliano

Buendía yêu Remedios Moscote, một bé gái mới chín tuổi. Sự cô đơn vô hạn khi tình

yêu chưa được đáp lại, Aureliano tìm đến Pilar Ternera, người mà trước đây đã từng

quan hệ với anh trai của mình để được quan hệ với thị. Aureliano quan hệ với Pilar

Ternera, không vì ham muốn và thỏa mãn như José Arcadio, chàng càng cảm thấy cô

đơn, trống trải hơn bao giờ hết khi tìm đến thị. Cũng như sau này khi đã trở thành

một vị tổng tư lệnh quyền uy, Aureliano ngủ với mười bảy cô gái, có mười bảy đứa

con nhưng không vì thế mà thay đổi sự bất lực trong tình yêu của chàng. Trong sự

cảm thông và thấu hiểu của Pilar Ternera, gần như là của một người mẹ, Aureliano đã

ấm ức, tức tưởi khóc, tiếng khóc của nỗi cô đơn bật tung, vỡ òa. Sau lần quan hệ này,

Pilar Ternera sinh cho Aureliano Buendía mộ đứa con trai như trước đây cũng đã

từng sinh cho José Arcadio một đứa con. Như vậy cả hai anh em cùng quan hệ chung

chạ với một người phụ nữ. Pilar Ternera như một phép thử quan trọng mà tác giả đặt

vào đây để làm bật lên sự khác biệt trong tính cách của hai anh em. José Arcadio

thiên về đời sống bản năng, xác thịt quan hệ với thị vì ham muốn và thỏa mãn.

Aureliano tìm đến thị như tìm đến một sự đồng cảm, sẻ chia để tạm quên đi thực tại

trong chốc lát. Tình dục chỉ là một nơi trú ẩn tạm thời cho nỗi cô đơn của Aureliano.

Con đường chạy trốn cô đơn của Aureliano bằng cuộc sống gia đình nhanh

chóng tan vỡ khi người vợ trẻ Remedios bị trúng độc chết bất ngờ. Điều này thực sự

là một nỗi đớn đau vô cùng với Aureliano. Mất phương hướng chàng đến với chiến

tranh bằng những niềm tin ngây thơ và mơ hồ về nó. Bằng tài tiên tri của mình,

Aureliano đã sớm biết rằng chàng sinh ra là cho cuộc chiến này. Bước vào cuộc chiến

đẫm máu, Aureliano xác định rõ ràng hành động của mình sẽ không vì riêng một

quốc gia nào, mà mang tính cách mạng liên quốc gia, của cả khu vực Caribbe, nhằm

“thống nhất các lực lượng liên bang vùng Trung Mĩ để quét sạch các chế độ Bảo

hoàng từ Alasca đến Patagonia”[11/216]. Chàng đã phát động ba mươi hai cuộc

chiến nhưng đều bị thất bại hoàn toàn, cuối cùng phải đầu hàng nhục nhã. Càng dấn

sâu vào cuộc chiến, chàng càng cay đắng nhận ra tính chất bỉ ổi, vô nghĩa của nó.

Chiến tranh không mang lại lợi ích cho dân chúng mà đó là điều kiện để cho những

kẻ nắm quyền trục lợi. Chúng sẵn sàng bắt tay nhau để bảo vệ lợi ích của mình, chỉ

có Aureliano Buendía là ngây thơ xông pha trận mạc chiến đấu. Như thế những gì gọi

là tự do, dân chủ rốt cuộc chỉ là trò mị dân, bịp bợm của giới cầm quyền. Là người

đứng đầu cuộc chiến, đứng ở đỉnh cao của quyền lực nhưng chàng lại cảm thấy thật

trơ trọi và cô độc. Cuộc chiến không chỉ lấy đi tuổi trẻ, hạnh phúc của Aureliano

Buendía mà còn biến chàng thành một kẻ độc tài khát máu. Có lúc chàng có thể bắn

tất cả mọi người, kể cả mẹ mình, chàng “đang mục ruỗng lúc còn đang sống”. Nếu

như ngài đại tá ban đầu mở rộng một cuộc chiến để xoá bỏ bọn Bảo hoàng và mong

muốn thiết lập một nền chính trị mới nhưng càng về sau thì mục đích ấy càng xa rời

và chàng biết, chàng chiến đấu vì chính sự kiêu ngạo của trái tim mình, để chạy trốn

sự cô đơn. Như vậy chiến tranh là con đường chạy trốn cô đơn thứ hai của Aureliano

Buendía nhưng bất thành.

Qua câu chuyện ba mươi hai cuộc chiến mà Aureliano Buendía phát động,

G.Márquez đã phản ánh thời kì đen tối có thật trong lịch sử Colombia từ những năm

1840 đến năm 1880 khi hai đảng Tự do và Bảo thủ luân phiên nhau cầm quyền trong

sự mâu thuẫn, xung đột nội bộ sâu sắc. Cả hai đã dấy lên cuộc chiến ngàn ngày làm

hao tốn sức người sức của, đẩy đất nước đến tình trạng bất ổn về chính trị và kinh tế.

Sau hai mươi năm binh nghiệp xông pha, Aureliano càng cô đơn và cảm thấy

hư vô, trống rỗng hơn bao giờ hết. Chàng trở về nhà lặng lẽ và đơn độc. Vị đại tá

huyền thoại một thời lại sản xuất những con cá vàng như lúc trẻ và không hề bận tâm

đến những sự kiện chính trị đang điễn ra. Cuộc đời của đại tá Aureliano là một chuỗi

những bi hài của số phận, ngay cả với cái chết. Ngài chết khi đang đứng đái và một

đoàn xiếc đi ngang với những chú hề tung hứng. Và “người ta lại nhìn thấy trên

gương mặt của ngài nỗi cô đơn đáng thương của ngài khi đoàn xiếc đã đi qua và trên

đường cái chỉ còn lại khoảng không rực sáng”, [11/372] cái còn lại là sự cô đơn vĩnh

viễn của một kiếp người.

Aureliano Buendía được tác giả nhấn mạnh ở tư chất thông minh, âu sầu và cô

đơn. Còn José Arcadio thì nhấn mạnh bản năng nhục dục mạnh mẽ, yêu đương sôi

nổi nhưng cuối cùng cũng bất hạnh và chết một cách bí ẩn. Có thể thấy nếu bổ sung

hai cuộc đời của hai nhân vật này cùng với một trái tim yêu đương, chắc chắn họ sẽ

có một cuộc sống hạnh phúc hơn.

2.2.1.3 Thế hệ thứ ba

Thế hệ thứ ba, G.Márquez xây dựng cặp nhân vật song trùng thứ hai José

Accadio (Accadio )và Aureliano José. Tên gọi của cặp nhân vật này được lặp lại một

phần tên của cặp nhân vật trước đó. Accadio, đứa trẻ được hoài thai bằng sự đam mê

tình dục cuồng nhiệt của José Arcadio và Pilar Ternera. Accadio ra đời trong sự chối

bỏ của mọi người. Mẹ bỏ rơi ngay khi anh còn đỏ hỏn, Úrsula Iguarán không thừa

nhận nên gọi trống không là Accadio. Ngay từ bé, Accadio đã mặc cảm thân phận và

sống cô độc trong khi Úrsula mải mê làm giàu, José Arcadio Buendía điên rồ,

Aureliano Buendía lầm lì ít nói, Amaranta và Rebecca thù hằn nhau. Mọi người mải

mê như quên đi sự tồn tại của cậu. Chỉ có Melquíades là người duy nhất quan tâm

đến cậu. Ngâm cho cậu nghe những bài nhã ca khó hiểu. Chính vì không biết gốc gác

của mình nên Accadio đã nổi máu dê với Pilar Ternera, mẹ của mình trong phòng

chụp ảnh “một sự thèm khát không thể cưỡng lại nổi đối với cậu ta cũng như ban đầu

đối với José Arcadio và sau đó đối với Aureliano”. [11/148] Accadio tìm kiếm thị,

tìm mùi khói khen khét phả ra từ thân xác thị, mùi tình dục, như cha của chàng, José

Arcadio trong lần đầu cũng đê mê tìm đến thị như thế.

Được Aureliano Buendía giao cho nhiệm vụ cai quản làng với những mệnh

lệnh dứt khoát và bộ quân phục đã giải thoát Accadio khỏi những đau khổ trước đó.

Có thể nói khác với cha mình, chiến tranh là con đường chạy trốn cô đơn của

Accadio nhưng cuối cùng cũng bất thành. Nắm binh quyền trong tay, Accadio đã lộ

rõ bộ mặt của một kẻ độc tài, hống hách và khát máu. Accadio kìm kẹp mọi người

trong làng bằng những điều luật ngớ ngẩn, “hàng ngày cậu ta đọc lệnh cho tới bốn

giờ chiều để ra lệnh và sắp đặt mọi việc theo ý muốn của mình. Cậu ta thi hành lệnh

cưỡng bức quân sự với người từ mười tám tuổi trở lên… bắt buộc những người đàn

ông lớn tuổi phải đeo băng đỏ ở cánh tay”[11/139]. Ban đầu mọi người trong làng

xem đó chỉ là một trò đùa của bọn trẻ nhưng đến một ngày nọ, Accadio đã ngang

nhiên bắn chết người vô tội, đòi xử bắn cả Apolina Moscote thì lúc ấy sự việc không

như người ta nghĩ. Những tháng ngày Accadio cai quản thị trấn, Macondo vừa oi bức,

vừa như một trò hề trong không khí quân sự căng thẳng. Cho nên “chiến tranh cho

đến lúc ấy vẫn chỉ là một từ để chỉ một hoàn cảnh trống trải và trì đọng, đã được cụ

thể hóa cho một thực tại bi thương” [11/152], là một cái gì đó chợt đến khuấy đảo sự

tù đọng, buồn chán của ngôi làng đang ngày càng chìm dần vào cõi cô đơn.

Khi quân đội Bảo hoàng đến đóng chiếm lại Macondo, Accadio trong tay có

không quá năm mươi lính vũ trang kém cỏi và một vị đại tá trong bộ dạng bà già đã

phản công lại. Trận chiến được miêu tả vừa giễu cợt vừa hài hước. Quân đội của

Accadio nhanh chóng bị thất thủ. Accadio bị bắt và xử tử hình. Trước họng súng của

kẻ thù, nỗi sợ chết từng dằn vặt cậu thời thơ ấu đã không còn nữa mà thay vào đó là

cảm giác nhớ nhung. Và cậu bắt đầu hiểu rằng trên thực tế cậu yêu biết nhường nào

những người cậu từng căm ghét. Trong giờ khắc mỏng manh đối mặt giữa sự sống và

cái chết, Accadio nhớ lại tất cả những kí ức êm đẹp của cuộc đời mình bằng một tình

cảm dịu dàng, trìu mến. Accadio chết bởi những phát sung oan nghiệt như cha mình.

Nhân vật cặp đôi với Accadio trong giai đoạn này là Aureliano José, con trai

của Aureliano Buendía với Pilar Ternera, tương ứng với thế hệ ba của dòng họ, cả

hai đã tạo ra một cặp nhân vật song trùng thú vị. Đúng như Úrsula nhận xét: “Con cái

nhà này đến lạ, tất cả đều giống nhau như hệt…Lúc đầu, được nuôi dưỡng rất chu

đáo, do đó tất cả đều ngoan ngoãn, nết na, hiền lành, dường như đến con ruồi cũng

không thể giết. Ấy mà râu vừa lún phún đã lại hư thân mất nết rồi”.[11/193] Vừa

trưởng thành, Aureliano José đã bì bõm nhục dục với chính cô ruột của mình trong

những cơn đam mê xác thịt bệnh hoạn vừa nguy hiểm vừa không có lối thoát. Với

Amaranta, Aureliano José là nơi bám víu tạm thời cho nỗi cô đơn của mình, còn

Aureliano José thì đó là người đàn bà đầu tiên trong đời đã đánh thức dậy những dục

vọng, bản năng của một người đàn ông. Hệt như lí lẽ như ông nội của mình, chàng

van nài Amaranta “dù có đẻ ra những con tê tê đi nữa cũng cam lòng” [11/190]. Một

lần nữa cả hai lại phạm phải vết xe đổ của dòng họ, phạm tội loạn luân, dù lòng nơm

nớp lo sợ đẻ ra đứa trẻ có cái đuôi lợn. Bị cự tuyệt, Aureliano José vào quân ngũ,

mong xóa nhòa hình ảnh của Amaranta. Nhưng chính ở đây, hình ảnh của Amaranta

lại càng hiện lên da diết. Aureliano José đến với chiến tranh cũng giống như ngài đại

tá, thất bại trong tình yêu, chạy trốn cô đơn nhưng càng trốn tránh, hình ảnh của sự

thất bại ấy lại càng hiện hữu một cách rõ ràng. Không thể chạy trốn, niềm ham muốn

ngày càng mạnh mẽ, Aureliano đào ngũ về nhà với khát khao cháy bỏng được quan

hệ thân xác với Amaranta.

Aureliano José bắt đầu sống thờ ơ, phóng đãng, chơi gái và lười biếng như

người bác José Arcadio. Lúc này ở Macondo không khí chính trị lại trở nên căng

thẳng. Hai phe Bảo hoàng và Tự do xung đột nhau quyết liệt. Những cuộc đấu súng

nổ ra thường xuyên tại làng. Trái với Arcadio, người không bao giờ biết gốc gác của

mình, Aureliano José biết mình là con của Pilar Ternera nhưng trong nỗi cô đơn, cả

hai đã tư thông, loạn luân với nhau. Aureliano José quan hệ Pilar Ternera, mẹ ruột

của mình nhưng không phải vì sự ham muốn, khát khao mà vì sự cô đơn, trống trải,

mất phương hướng trong cuộc đời, giống như tâm trạng của cha chàng, đại tá

Aureliano Buendía khi đến với thị.

Aureliano José và Arcadio là cặp song trùng thứ hai, gắn với thế hệ thứ ba của

dòng họ. Dù không hoàn toàn, nhưng ở họ vẫn có nhiều điểm lặp lại từ cặp nhân vật

song trùng truớc đó: Arcadio vẫn được nhấn mạnh ở ham muốn xác thịt bản năng

nhưng không đậm chất như José Arcadio, Arcadio cũng phạm tội loạn luân, quan hệ

với chính mẹ đẻ của mình. Trong khi đó, Aureliano José không hề có vóc dáng mảnh

khảnh như ngài đại tá cũng như vẻ âu sầu, cô đơn và sự thông minh của nhánh

Aureliano. Ngược lại Aureliano José rất giống người bác của mình, José Arcadio ở

lối sống phóng đãng, tài táng gái và sự chung chạ với những cô gái điếm. Cả Arcadio

và Aureliano José cùng quan hệ với một người đàn bà giống như hai anh em José

Arcadio và Aureliano Buendía trước đó. Cuộc đời của cả hai cặp song trùng trên đều

được tác giả gắn liền với hiện thực của Macondo, trong không khí căng thẳng của

chiến tranh và sự khủng bố của giới cầm quyền.

2.2.1.4 Thế hệ thứ tư

Việc đặt tên trùng nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác của dòng họ đã cho

phép Úrsula rút ra những kết luận hầu như đã được khẳng định: “trong khi những

người mang tên Aureliano là những người âu sầu lại rất thông minh thì những người

mang tên José Arcadio là những người nông nổi và táo bạo; nhưng tất cả đều bị số

phận bi thảm in dấu”. [11/226] Nhưng với trường hợp của hai anh em song sinh

Aureliano Segundo và José Arcadio Segundo thì dường như không giống như vậy.

Lúc còn ấu thơ cả hai đều giống nhau đến cả Santa Sofía de la Piedad cũng

không phân biệt được. Mọi người nhận diện họ qua trang phục bề ngoài. Thế nhưng

trong một lần nghịch ngợm cả hai đã hoán đổi tên cho nhau, “thầy giáo Menchô

Escalona, do đã quen nhận mặt Hôsê Accađiô Sêgunđô nhờ chiếc áo sơ mi xanh,

bỗng nhầm lẫn khi phát hiện ra cậu này mang tượng thánh mang tên Aurêlianô

Sêgunđô nhưng lại mặc áo sơ mi trắng và đeo tượng thánh khắc tên Hôsê Accađiô

Sêgunđô. Bắt đầu từ đấy không còn biết đích xác ai là ai”. [11/227] Lớn lên cậu bé

Aureliano Segundo có thân hình vạm vỡ, rắn rỏi của ông nội còn José Arcadio

Segundo lại có thân hình mảnh khảnh của ngài đại tá. Nhưng cả hai đều có chung vẻ

cô đơn của dòng họ, cùng chung đụng xác thịt một người đàn bà, chia sẻ những đêm

hoan lạc với thị giống như hai cặp song trùng trước đó.

Sự khác biệt lớn nhất của hai nhân vật này là trong thời kì chiến tranh ác liệt

nhất, José Arcadio Segundo hứng khởi và mãn nguyện khi xem các vụ hành hình,

còn Aurêlianô Sêgunđô lại cảm thấy bủn rủn khi nghĩ tới điều đó. Nhưng bù lại,

Aureliano Segundo rất say mê những cuốn sách trong phòng cụ Melquíades và những

tấm da thuộc với vẻ mặt trầm tư y hệt ngài đại tá thời trẻ. Rõ ràng José Arcadio

Segundo ban đầu được đặt tên là Aurêlianô Sêgunđô còn Aurêlianô Sêgunđô thì có

tên là José Arcadio Segundo.

Lớn lên họ khác xa nhau nhiều, Aurêlianô Sêgunđô dâm bôn, hưởng lạc và

không quan tâm mấy đến các vấn đề chính trị. Ngược lại José Arcadio Segundo âu

sầu, cô đơn, thông minh và là một trong những người lãnh đạo cuộc đình công quy

mô của công nhân đồn điền chuối. Nhưng đến khi cái chết đến với cả hai thì người ta

nhận thấy họ lại giống nhau như đúc, như lúc lọt lòng cho đến khi thanh niên. Và

trong lúc chôn người ta lại vô tình nhầm lẫn chôn quan tài người nọ vào huyệt người

kia, trả họ trở về đúng vị trí của mình. Như vậy mặc dù đã được đổi tên nhưng họ vẫn

không thể thay đổi được số mệnh của mình vốn dĩ đã được in dấu từ trước.

Aurêlianô Sêgunđô càng ngày càng lộ rõ những phẩm chất của các Arcadio. Từ

ngày công khai gắn bó với Petra Cotes, người đàn bà có trái tim yêu cuồng nhiệt và

tài nghệ chài mồi ái tình rất tuyệt vời thì “cuộc đời của anh ta gắn liền với hai động

thái: làm giàu và hưởng lạc” [23/209]. Aurêlianô Sêgunđô và Petra Cotes càng làm

tình thì đàn gia súc của họ càng mắn đẻ. Ông không chỉ nổi tiếng khắp vùng đầm lầy

vì giàu có mà còn là một kẻ nhậu nhẹt bê tha, phàm ăn và phung phí tiền bạc vào

hàng bậc nhất. Trong lần thi ăn với người đàn bà có biệt danh là Voi Cái, Aurêlianô

Sêgunđô đã “uống bốn mươi quả cam vắt, tám lít cà phê và ba mươi sáu quả rứng

sống”. Có thể nói đây là nhân vật hiện thân đầy đủ nhất cho cuộc sống bản năng và

vật chất, của những kẻ ăn chơi trác táng. Do vậy mà câu nói cửa miệng và tâm đắc

của Aurêlianô Sêgunđô: “ hỡi những con bò cái hãy dạng háng ra kẻo cuộc đời thật

là ngắn ngủi!”. Đó chính là lối sống hưởng thụ, vật chất của một kẻ trác tang, dâm

bôn. Cuộc đời của Aurêlianô Sêgunđô gắn với giai đoạn thịnh vượng bậc nhất của

làng khi những công ti chuối đến lập đồn điền, những người ngoại quốc kéo đến ở,

phố xá sầm uất… Macondo ngôi làng yên bình, phút chốc trở thành một trung tâm

kinh tế sầm uất, mở ngõ đón luồng gió văn hóa tứ phương. Thế nhưng sau khi công ti

chuối rút đi, nó cũng bắt đầu rơi vào sự tàn phá nhiệm màu của những trận mưa lịch

sử thì gia sản của ông cũng không cánh mà bay. Aurêlianô Sêgunđô và nhân tình phải

đi bán từng tấm vé số để có tiền cho Amaranta Úrsula sang Bỉ học. Lúc này ông gầy

ốm và càng ngày càng giống với người anh em song sinh của mình.

Mặc dù mang tên José Arcadio Segundo (ông tráo tên từ nhỏ với người em

song sinh của mình) nhưng ông không hề giống các Arcadio của dòng họ, ông dong

dỏng cao, trịnh trọng, vẻ trầm tư, buồn buồn và trên gương mặt xanh xao để lộ một

tia sáng thê thảm. Như những Buendía khác ông sống lang bạc kì hồ, không mảy may

xúc cảm, không mảy may ham muốn, càng ngày càng thu mình vào thế giới riêng tư

của nỗi cô đơn và sự sợ hãi không thể phá vỡ. Trong khi Aurêlianô Sêgunđô cuồng

nhiệt dục tình với Petra Cotes, thì José Arcadio Segundo bị cuốn vào vòng xoáy của

chính trị. Một lần nữa không khí chính trị căng thẳng lại xảy ra ở Macondo đến mức

“Úrsula ngồi trong bong tối cũng cảm nhận được nó và cụ có cảm giác mình đang

sống lại những ngày tháng bất hạnh trong đó con trai cụ đại tá Aurêliano Buênđya

luôn luôn mang trong túi áo những viên thuốc vi lượng đồng căn của một tổ chức nổi

loạn…Nó (José Arcadio Segundo) y hệt cái thằng Aurêliano Buênđya- cụ thốt lên-cứ

như thể thời gian đang vòng quay ấy”.[11/350] Lịch sử như những vòng quay thời

gian lặp lại bất tận. Những gì từng xảy ra trước đó khi đại tá Aureliano Buendía phát

động ba hai cuộc chiến khắp vùng Caribbe, Arcadio tiếp quản làng Macodo trong sự

kìm kẹp của các quy định và Aureliano José bị bắn chết bởi những kẻ Bảo hoàng giờ

đây sắp tái diễn một lần nữa, hàng ngàn công nhân của công ti chuối ngài Brao đã

đình công, đòi quyền lợi chính đáng của mình. Họ lên tiếng tố cáo công ti với các chế

độ bóc lột thậm tệ với người lao động nhà ở không đảm bảo sức khỏe cho công nhân,

ngành phục vụ y tế thì giả nhân giả nghĩa, điều kiện lao động thì rất bất công, công

nhân sông chui rúc trong những căn lán tồi tàn… José Arcadio Segundo từ bỏ việc

làm quản đốc cho công ti đứng về phía của những người lao động mà tố giác giới

lãnh đạo. Ông cũng là người đầu tiên phát hiện sự bỉ ổi của công ti khi trả lương cho

công nhân bằng bông mà không trả bằng tiền. Đây là một thủ đoạn kinh tế mới nhằm

tận dụng lợi nhuận tối đa trong việc nuôi những con tàu chở hoa quả. Nếu không trả

tiền bằng bông cho công nhân thì những con tàu này phải chạy không từ cảng đến nơi

nhận chuối. Điều này sẽ làm giảm đi phần lợi nhuận trong việc chuyên chở của công

ti.

Trước làn sóng biểu tình mạnh mẽ của công nhân, chính quyền nhanh chóng

đổi trắng thay đen bằng những lời giải thích ngớ ngẩn nhất: họ chứng minh công ti

chuối chưa từng tồn tại, ngài Brao đã bị xe cán chết…Trong khi đó, ngài Brao thật thì

vội vàng biến mất khỏi Macondo. Giọng văn Marquez vừa điềm tĩnh, nhẹ nhàng mà

châm biếm sâu cay. Điều này chẳng khác mấy với những không khí chính trị bi hài

từng xảy ra trước đó. Một lần nữa lịch sử lại tái diễn bộ mặt thô bạo của mình.

Quá ngán ngẩm vì những lời giải thích quàng xiên của giới luật sư, tòa án, tổng

bãi công bùng nổ. Công nhân nghỉ việc tràn lan, việc trồng chuối bị bỏ dở, họ kéo

nhau ra tập trung ở thị trấn. Hơn ba ngàn người, bên cạnh những người lao động còn

có có trẻ em và phụ nữ, tham gia cuộc biểu tình này. Họ đốt cháy các dãy nhà kho,

các cửa hàng ủy thác của công ti, phá các đuờng ray, chặt đứt tung các dây điện tín và

điện thoại…José Arcadio Segundo trong vai trò là những người lãnh đạo, dù không

có tài tiên tri như ngài đại tá nhưng ông cũng mơ hồ cảm nhận được lưỡi hái thần

chết đang cận kề. Đáp trả lại, quân đội nhanh chóng được triển khai khắp Macondo

báo hiệu một cuộc chiến tranh đẫm máu và không cân sức sắp diễn ra. Quân đội gọi

những người đình công là một ổ cướp và mười bốn ổ súng máy xả đạn không thương

xót vào đám người biểu tình. Hàng loạt người ngã xuống dưới làn đạn liên thanh.

Hơn ba ngàn người bị thảm sát trong ngày hôm đó. Những cái xác bị xúc lên đoàn tàu

dài hơn hai trăm toa chở đi để đổ xác xuống biển như đổ những buồng chuối thối.

Chính quyền đã ém nhẹm vụ việc trên bằng những trò lừa bịp, chúng gián thông cáo

rộng rãi đến mọi người rằng: “những người công nhân đã tuân lệnh giải tán khỏi nhà

ga và họ đã lập thành từng đoàn người hiền lành rồi đi về nhà mình” [11/363]. Đồng

thời công ti cũng đã chấp nhận không điều kiện các yêu sách của nhân dân để giải

quyết ổn thỏa và đoàn người biểu tình vui vẻ về nhà. Bởi thế mọi người đều không

hay biết gì về vụ thảm sát và bộ mặt thật của giới chính trị lúc bấy giờ.

José Arcadio Segundo là người duy nhất sống sót sau vụ thảm sát. Bị ám ảnh

bởi những cái chết bi thương, ông càng sống thu mình, khép kín và sợ bị chôn sống

hơn bao giờ hết trong căn phòng của cụ Melquíades. Trong căn phòng này, ông chăm

chú đọc và cố giải mã những tấm da thuộc, chỉ ngước mắt lên khi cánh cửa mở thì

“ánh mắt ấy cũng đã đủ để người anh em sinh đôi của ông nhìn thấy số phận cố hữu

của cụ cố nội đã được lặp lại trong nó” [11/368]. Đó là một thế giới đơn độc và khó

phá vỡ cho đến lúc chết, nó còn mù mịt hơn cả thế giới điên loạn của cụ tổ.

Kể từ cặp song trùng thứ nhất đại tá Aureliano Buendía và José Arcadio cho

đến cặp song trùng thứ ba này, không khí chính trị căng thẳng luôn lặp lại ở làng

Macondo. Cuộc chiến tranh dài ngày của hai phái Tự do và Bảo thủ, sự xuất hiện của

công ti chuối đã đem đến bất hạnh, tang tóc cho dòng họ Buendía và dân làng

Macondo. Các sự kiện chính trị trong tác phẩm từng là những sự kiện có thật của đất

nước được G.Márquez được thể hiện dưới góc độ đậm màu sắc huyền ảo và bi hài.

Qua cuộc biểu tình thất bại của hơn ba ngàn công nhân này, Márquez đã ngầm tái

hiện lại những cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản với giai cấp tư sản từng xảy ra ở

Colombia trong khoảng thời gian những công ty hoa quả của Mĩ tồn tại. Miêu tả cuộc

thảm sát này, ông đã phơi bày thành công những sự kiện đau lòng một thời của đất

nước vốn bị các sử gia ém nhẹm và che giấu.

G.Marquez đã kết nối cuộc đời các thế hệ của dòng họ Buendía với lịch sử đau

thương Colombia và châu lục. Qua sự phản chiếu này của tác phẩm, lịch sử Colombia

hiện lên rõ ràng từ những năm 1500 khi từ Alfonso de Ojeda, người Tây Ban Nha đầu

tiên đặt chân lên đất nước này bằng vũ lực đã thảm sát, tiêu diệt những bộ lạc da đỏ

bản địa và thiết lập chế độ cai trị của mình cho đến tháng 5 năm 1810 khi Napoleon

đưa quân lật đổ vương triều Tây Ban Nha thì Colombia mới có điều kiện lật đổ chính

quyền Tây Ban Nha và tuyên bố độc lập. Thế nhưng nền độc lập ấy không tồn tại

được lâu, sáu năm sau Tây Ban Nha lại tái chiếm lãnh thổ. Colombia lại rơi vào tình

rạng bi thương của một đất nước nô lệ. Đến năm 1819, Bolivar lãnh đạo nhân dân

đứng lên đấu tranh, giành được chính quyền và trở thành tổng thống đầu tiên của

Colombia. Do những mâu thuẫn nội bộ, đến năm 1849, hai đảng chính trị đã được

thiết lập: đảng Bảo thủ và đảng Tự do. Đảng Bảo thủ ủng hộ chính quyền trung ương

và gắn bó chặt chẽ với Giáo hội Công giáo, đảng Tự do ủng hộ một nhà nước liên

bang, tách rời Giáo hội với chính phủ. Từ năm 1840 đến năm 1880 hai đảng này luân

phiên nhau cầm quyền xen lẫn với nhiều xung đột nội bộ. Cả hai đảng đều đều có xu

hướng đàn áp, tham nhũng và mâu thuẫn nhau gay gắt. Nhiều cuộc chiến tranh đẫm

máu giữa hai đảng đã nổ ra trong nhiều năm liền, trong đó điển hình nhất là Cuộc nội

chiến ngàn ngày nổ ra năm 1899 làm hơn một trăm ngàn người chết và đất nước đứng

bên bờ vực của sự sụp đổ kinh tế. Mãi đến cuối năm 1902, sau thất bại của phe Tự

do, thì chiến tranh mới kết thúc. Nhưng Colombia lại rơi vào sự bất ổn định mới do

Công ty liên hợp trái cây của Boston Hoa Kì gây ra vào những năm 1900-1928 với

các vấn đề liên quan đến quyền lợi chính đáng của người lao động. Đỉnh điểm vào 07

Tháng Mười 1928, chính phủ đã gửi quân đội đến đàn áp những người công nhân

biểu tình ở đồn điền chuối làm thiệt mạng gần ba mươi hai ngàn công nhân. Vụ thảm

sát diễn ra tại Cienaga vào ngày 05 tháng 12 năm 1928. Toàn bộ sự kiện đau lòng này

lại bị chính quyền phớt lờ, ém nhẹm không đưa vào sử sách. Lịch sử Colombia là một

sự lặp lại đau buồn của chiến tranh và bất ổn. Mặc dù ngày nay, Colombia đã được

độc lập nhưng vẫn phụ thuộc nhiều vào nước ngoài, là một quốc gia chậm phát triển,

trì trệ và tù đọng của Mĩ Latin.

2.2.1.5 Thế hệ thứ năm và sáu

Dù José Arcadio và thế hệ thứ sáu không cùng một thế hệ cả hai cùng sống, tồn

tại theo kiểu cặp đôi song hành nhau nên chúng tôi cho rằng José Arcadio và

Aureliano Babilonia là cặp song trùng thứ tư mà G. Márquez tạo ra. José Arcadio lặp

lại hoàn toàn tên của José Arcadio thế hệ hai và ba, còn Aureliano Babilonia lấy lại

một phần tên gọi của các Aureliano trước đó. Sau gần một thế kỉ, Úrsula đã chua xót

và sợ hãi nhận ra số phận của đám con cháu của mình đã được ấn định qua tên gọi.

Số phận của José Arcadio rồi cũng sẽ bất hạnh và cô đơn như thế. Có lẽ vì vậy mà cụ

quyết định dạy José Arcadio trở thành một Giáo hoàng để cậu tránh xa những cạm

bẫy chết người: gà chọi, chiến tranh, gái điếm… là nguyên nhân bất hạnh dòng họ

Buendía.

Ngay từ nhỏ, José Arcadio đã sống trong sợ hãi, khép kín và cô đơn. Cậu sợ

hãi tất cả những gì ở xung quanh mình và đã được chuẩn bị sẵn sàng để giật mình

kinh sợ trước bất cứ cái gì sẽ gặp trong cuộc đời: “những người đàn bà ngoài xã hội

nếu không nghe lời cha mẹ sẽ bị băng huyết; những người đàn bà trong gia đình này

nếu không cẩn thận sẽ đẻ ra những đứa con có đuôi lợn, những con gà chọi đem đến

cái chết cho những người đàn ông và sự giày vò lương tâm cho những người khác;

những khẩu súng mà chỉ sờ vào thôi cũng bị người ta kết án ra trận hai mươi năm”.

[11/430] José Arcadio lớn lên trong ước vọng của Úrsula là sẽ thành Giáo hoàng, trở

thành một người đàn ông khoẻ mạnh và có tâm hồn trong sáng đủ sức chiến thắng

những cám dỗ của cuộc đời và xa lánh những thói tật của gia đình. Cụ hi vọng thằng

chắt của mình sẽ thay đổi những vòng quay nghiệt ngã số phận của dòng họ. Thế

nhưng điều ấy là không thể. Vì ngay từ nhỏ José Arcadio đã sớm biết đến cô đơn và

sợ hãi. Cô đơn đã trở thành một phần huyết thống của dòng họ. Tất cả thành viên của

Buendía đều sống trái tính trái nết và cô đơn tận cùng. Nên chẳng bao lâu sau khi

sang Italia, José Arcadio liền thôi học và bắt đầu hoài nhớ Amaranta và mơ ước về

quyền thừa kế khối tài sản khổng lồ của dòng họ mà qua thư từ Fernanda del Carpio

đã vẽ ra cho con mình.

Trở về làng, điều mà José Arcadio nhận được là một ngôi nhà hoang tàn, đổ

nát và cô đơn ngập đầy sau gần một thế kỉ tồn tại. Trong lúc thất vọng, hụt hẫng, José

Arcadio tìm thấy ba túi vàng lớn mà Úrsula đã khôn khéo cất giữ. Có nhiều tiền, José

Arcadio tổ chức nhiều cuộc ăn chơi thác loạn với đám trẻ du thủ du thực nhưng vẫn

không xoá được sự hoài nhớ Amaranta và nỗi cô đơn trong cảnh trống rỗng và buồn

tẻ này. Hình ảnh Amaranta một lần nữa lại day dứt không nguôi trái tim của José

Arcadio như trước đây Aureliano José cũng từng thèm khát như thế. Loạn luân lại

được lặp lại một lần nữa. Đối diện với cái chết nhưng lòng José Arcadio vẫn nghĩ đến

Amaranta. Cái chết đến với anh thật tàn bạo chẳng khác gì những thành viên khác của

dòng họ, bị đám trẻ chơi cùng giết hại vì vàng. Vàng vừa là dấu hiệu của sự giàu có

vừa là mầm mống của cái chết và sự huỷ diệt.

Giống như Aureliano Segundo, mặc dù vật chất có thừa nhưng José Arcadio

sống trong sự thiếu vắng tình yêu, sự sẻ chia chân thành của những người xung quanh

thì vật chất lại là cạm bẫy, là tai hoạ mang đến cái chết thảm khốc. Là nhân vật thuộc

nhánh Arcadio nhưng José Arcadio không hề vạm vỡ, cường tráng mà thay vào đó là

sự “xanh xao, suy nhược, ánh mắt mệt mỏi và khoé miệng yếu đuối…” [11/424], rất

cô đơn và âu sầu, những đặc điểm nổi bật của nhánh Aureliano. Như thế rất biện

chứng, tác giả không định hình nhân vật vào một khuôn mẫu có sẵn mà theo quy luật

của di truyền tự nhiên những thế hệ của dòng họ Buendía có sự giao hoán nhất định

những đặc điểm cho nhau giữa hai nhánh nhân vật Aureliano và Arcadio.

Aureliano Babilonia là một đứa con hoang, vô thừa nhận của dòng họ Buendía,

một lần nữa những cái tên Aureliano và Arcadio lại được tái xuất qua các thế hệ của

dòng họ. Cuộc đời của những người đã khuất được sống lại một phần hoặc toàn bộ

qua sự hiện hữu của kẻ hậu sinh. Aureliano Babilonia giống đại tá một cách lạ kì

“nhất là đôi gò má cao và đường nét cương nghị có chút vẻ tàn nhẫn của khoé

miệng” mang dấu ấn cô đơn vĩnh viễn từ thuở khai thiên lập địa nhưng lại rất thông

minh và ưu sầu. Bằng sự tự học, Aureliano Babilonia thông thạo được tiếng Anh,

tiếng Pháp, tiếng Hi Lạp, tiếng Latinh và tiến bộ rất nhanh trong việc học tiếng Phạn.

Anh có thể đọc cuốn bách khoa toàn thư như đọc tiểu thuyết, và biết nhiều thứ không

có trong bách khoa thư. Aureliano Babilonia cũng là người duy nhất bằng sự thông

tuệ và định mệnh hiện hữu của mình đã giải mã thành công những tấm da thuộc

huyền bí khi nó tròn một trăm tuổi. Quá đam mê công việc này Aureliano Babilonia

suốt ngày chúi đầu trong phòng, dửng dưng với thế giới bên ngoài. Anh âu sầu, cô

đơn và khép kín, như một lớp mây mù bí ẩn mỗi ngày một dày đặc thêm, như cụ tổ

âm thầm, lặng lẽ đếm mưa rơi trong căn nhà cọ, như ngài đại tá âu sầu, bình lặng làm

đi làm lại những con cá vàng trong những vòng tròn lặp lại bất tận…và như biết bao

số phận của những thành viên khác của dòng họ cũng được tìm thấy trong hình ảnh

của Aureliano Babilonia. Có thể nói, Aureliano Babilonia là người giống đại tá nhất

trong tất cả đám con cháu bao đời của ngài, không chỉ ở vẻ bề ngoài mà còn nhận

được nhiều nhất sự thông minh và nỗi cô đơn, ưu sầu từ ngài.

Lần thứ hai trong đời ra đường, Aureliano Babilonia chú ý đến vẻ điêu tàn,

nghèo nàn của xóm làng. Sau khi công ti chuối bỏ đi, Macondo bị nhận chìm trong

những trận mưa lụt kéo dài liên tục trong bốn năm mười một tháng hai ngày và bị

thiêu đốt bởi cái nắng oi bức kéo dài mười một năm đã tàn phá ngôi làng một cách

màu nhiệm. Macondo trở lại thanh bình nhưng nghèo nàn và khánh kiệt. Tất cả chìm

ngập vào một sự lãng quên khủng khiếp. Aureliano Babilonia đến lầu xanh, “ở đó

xưa kia người ta đốt hàng nắm tiền để mua vui cho các cuộc sống nhảy nhót, bây giờ

đó là khu vực của những đường phố tang thương nhất, với một vài ngọn đèn đỏ còn

đang thắp, những phòng nhảy vắng tanh được trang trí bằng những chiếc miện bỏ đi,

ở đó những người vợ goá chẳng của ai cả, xanh rớt và béo ị, những bà lão người

Pháp và những chủ chứa người babilon vẫn tiếp tục đợi chờ bên cạnh những chiếc

máy hát quay tay. Aureliano Babilonia thấy không ai nhớ gì đến gia đình anh, ngay

cả đến đại tá Aureliano Buendía cũng không được nhớ tới nữa” [11/445]. Lúc này,

Aureliano Babilonia và José Arcadio đã nhích lại gần nhau giữa hai con người cô

đơn, nó cho phép họ cùng chịu đựng nỗi cô đơn sâu lắng, nỗi cô đơn ấy vừa làm cho

họ xa nhau, vừa làm cho họ gần nhau. Đây là hai con người duy nhất của dòng họ có

sự “xích lại” gần nhau trong tâm hồn dù chỉ để chung chịu nỗi cô đơn.

Thế nhưng khi Amaranta Úrsula từ Bỉ về đã xoá tan đi tất cả lớp mây mù ấy,

kéo cậu về với cuộc sống thường ngày với tình yêu, lòng hờn ghen, và sự ham muốn

bản năng của một người đàn ông. Amaranta Úrsula trở về mang một luồng sinh khí

trẻ trung, sôi nổi cho căn nhà u sầu trăm năm. Nàng hoạt bát, mảnh mai, bướng bỉnh

như Úrsula và khêu gợi như Remedios- Người đẹp dấy lên trong lòng Aureliano

Babilonia một tình yêu đắm say, đầy sắc dục và tội lỗi. Có thể nói cả hai là sự kết tinh

tuyệt mĩ cho những gì là tinh hoa, ưu trội của dòng họ. Thế nhưng trong sự mù tịt về

máu huyết và cuồng nhiệt, họ đã hoài thai ra một hài nhi, đứa trẻ duy nhất trong vòng

một trăm năm của dòng họ được sinh ra bằng tình yêu. “Nó là một Buendía vĩ đại,

khoẻ mạnh và kiên quyết như José Arcadio, với đôi mắt mở to thao láo và rực sáng

như mắt của những người có tên Aureliano, và sẵn sàng làm lại nì giống mình từ

đầu, sẵn sàng thanh lọc những thói xấu nguy kịch và thiên hướng thích cô đơn của

dòng họ mình” [11/477], cũng như sẽ chiến thắng cả ba mươi hai cuộc chiến tranh,

thay đổi những số phận định mệnh của dòng họ. Nhưng tình yêu ấy lại được dựng

xây trên tội lỗi của những kẻ cùng huyết thống nên hình phạt chiếc đuôi lợn của đứa

trẻ, một dạng người-vật là một bản án chí tử cho sự loạn luân mà cả hai đã phạm

phải. Nó là sự hiện hữu rõ ràng nhất cho những thói trái tính trái nết, sự ích kỉ mà

dòng họ Buendía đã sống qua hàng dài thế kỉ. Liền ngay sau đó, người vợ chết vì mất

máu, đứa trẻ bị kiến tha và Aureliano Babilonia cũng đọc thấy số phận nghiệt ngã của

mình trong những lời tiên tri định mệnh trên những tấm da thuộc. Một cơn lốc vần vũ

trong ngày tận thế được nói đến trong Kinh thánh đã nổi lên và chôn vùi tất cả.

Mặc dù có thừa những nguồn năng lượng cơ bắp tuyệt vời, trí thông minh và

các tham vọng mạnh mẽ thế nhưng tất cả Buendía đều bất hạnh và thất bại vì cuộc

đời của kẻ hậu sinh đã được định hình từ số phận của kẻ trước đó. Thời gian là những

vòng quay tai nạn, thế hệ sau luôn lặp lại hình ảnh của thế hệ trước qua việc đặt

những cái tên lặp lại nhau như một dấu hiệu định mệnh của số phận.Việc lặp lại tên

gọi cũng đồng nhất với việc tạo ra sự trùng lặp về số phận của dòng họ Buendía. Sự

trùng lặp theo kiểu cặp đôi nhân vật này đã góp phần tạo ra hiện tượng song trùng

độc đáo cho tác phẩm. Quan sát các cặp song trùng trong “Trăm năm cô đơn”, chúng

tôi nhận thấy tất cả họ đều sống trái tính trái nết, ích kỉ và cô đơn. Họ chưa từng yêu

ai ngoài chính bản thân mình, sống thu mình, khép kín với thế giới xung quanh. Điều

này đã đẩy họ lưu đày vào cõi cô đơn vĩnh viễn. Trong cõi cô đơn ấy, những

Buendía đã phạm tội loạn luân trong cả vô thức lẫn ý thức để chạy trốn nỗi cô đơn và

niềm hoài nhớ nhưng càng trốn chạy họ càng bị kìm chặt và lưu đày vĩnh viễn. Đến

cuối đời tất cả đều nhận ra cô đơn là một phần quan trọng trong cuộc sống và chấp

nhận nó. Điều này lặp đi lặp lại qua bảy thế hệ Buendía theo kiểu cặp đôi từng đã tạo

ra hiện tượng song trùng độc đáo. Qua hiện tượng song trùng này, tác phẩm muốn

khẳng định hành trình khám phá bản ngã của con người là hành trình khám phá và

chấp nhận sự cô đơn trong cuộc sống.

Những thành viên của dòng họ Buendía là những người viết nên lịch sử của

Macondo từ lúc sơ khai cho đến khi bị xóa sổ. Xuyên suốt tác phẩm, nhiều thế hệ

Buendía, luôn chứng kiến những bi kịch lịch sử lặp lại và không hề thay đổi của

Macondo. Đó là những biến động, bất ổn về chính trị trong những cuộc chiến tranh

đẫm máu của hai phe Tự do và Bảo hoàng và sự phá hoại kinh tế của những công ty

Hoa quả của Mĩ, tất cả đã làm biến đổi ngôi làng Macondo yên bình thuở nào thành

một thành phố ngập đầy bụi bẩn, rác rưởi và cuối cùng bị xóa sổ vĩnh viễn. Lịch sử

lặp lại của làng Macondo là một sự ẩn dụ đầy giá trị cho bức tranh hiện thực ảm đạm

của Colombia và Mĩ Latin mà G.Márquez muốn hướng đến. Như thế xây dựng nhân

vật song trùng, G.Márquez không chỉ dừng lại ở việc khám phá bản ngã của mỗi

người mà quan trọng hơn nó còn hướng đến việc phản ánh lịch sử của Colombia và

Mĩ Latin qua việc đan cài thần tình lịch sử của dòng họ Buendía với lịch sử của làng

Macondo.

2.2.2 Dùng biểu tượng

Biểu tượng trước hết là khái niệm chỉ một giai đoạn, một hình thức nhận thức

cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác

động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt. Biểu tượng như là thuật ngữ của mĩ học,

lí luận văn học và ngôn ngữ học còn được gọi là tượng trưng. “Trong nghĩa rộng,

biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng của văn học nghệ

thuật. Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc

một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát

được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư

tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời.” [20/ 24]

Như vậy, biểu tượng nghệ thuật là những kí hiệu thẩm mĩ đa nghĩa, kết quả của

sự mã hoá những xúc cảm, tư tưởng của nhà văn. Nó là những hình ảnh cụ thể, cảm

tính nhưng đầy sức gợi, mở ra một trường liên tưởng phóng khoáng cho sự tiếp nhận

của người đọc.

Trong “Trăm năm cô đơn”, biểu tượng xuất hiện rất nhiều, nhiều biểu tượng

được lặp đi lặp lại và dung chứa những ý nghĩa sâu sắc, góp phần quan trọng trong

việc xây dựng những cặp nhân vật song trùng. Khi xây dựng nhân vật, Márquez rất

chú ý những biểu tượng gắn liền lúc nhân vật sinh ra và khi qua đời. Qua đó, người

đọc sẽ định đoán được phần nào số phận tương lai của nhân vật. Những Arcadio thiên

về sức mạnh cơ bắp, đời sống vật chất, xác thịt và hưởng thụ thì G.Márquez thường

sử dụng lặp lại các biểu tượng: dương vật, bộ mông, làm tình…để nhấn mạnh sự sôi

nổi, táo gan và cuộc sống đầy bản năng của họ. Còn những Aureliano thì đôi mắt là

biểu tượng bên ngoài được tác giả sử dụng nhiều nhất như một tín hiệu nghệ thuật

quan trọng để thể hiện vẻ âu sầu, sự cô đơn nhưng rất mực thông minh, thiên về

những giá trị tinh thần. Trong số những biểu tượng G.Márquez sử dụng, biểu tuợng

cái đuôi lợn được sử dụng lặp đi lặp lại đầy tính ẩn dụ mạnh mẽ. Có lẽ vì lợn “là một

biểu tượng rất phổ quát cho các xu hướng đen tối dưới mọi hình thức: ngu dốt, thờ

phụng cái dạ dày, dâm dật và ích kỉ”. [17/528]. Nó ứng với những nhân phẩm thấp

kém, lệch lạc của dòng họ Buendía, là nguyên nhân chính dẫn đến sự tuyệt diệt của

dòng họ này.

Khi José Arcadio bước vào tuổi trưởng thành, trong một lần tình cờ nhìn thấy

cậu cởi hết quần áo để đi ngủ với “cái cơ thể” quá cỡ, một biểu tượng của “sức mạnh

sinh sản, một bản nguyên chủ động” [17/265]. Úrsula nghĩ rằng cái cơ thể quá cỡ của

con trai mình là một sự không bình thường như cái đuôi lợn của người chú họ, nó là

điểm mở đầu cho những hạnh phúc cũng như những bất hạnh của José Arcadio. “Cái

cơ thể ngoại cỡ ấy” đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của Pilar Ternera, người đàn bà

toả ra mùi khét, mùi của hạt giống yêu đương và tiếng cười giòn từng làm kinh động

những con bồ câu, đã rất mãn nguyện khi dạy cho cậu nghệ thuật làm tình. Họ làm

tình với nhau nhiều lần trong sự vụng trộm và thoả mãn. Hạnh phúc ngất ngây trong

bể thẳm của dục tình, José Arcadio đã đi theo tiếng gọi của những ham muốn, đi theo

những người digan và vòng quanh thế giới 65 lần, chấp nhận cuộc sống phong lưu,

đầy nhục dục và cô đơn của một kẻ du thủ du thực. Tư chất đàn ông mạnh bạo và

cuộc sống đậm sắc dục của José Arcadio còn được tác giả nhấn mạnh trong những

lần quan hệ với cô gái digan, với Rebecca và nhiều người đàn bà khác trong suốt

hành trình 65 lần vòng quanh thế giới với những ngày tháng phong trần, trác táng.

Mặc dù đời sống tình dục của nhân vật này rất mạnh mẽ nhưng đó không phải là tình

yêu và chưa từng là tình yêu với tất cả những người phụ nữ mà José Arcadio quan hệ,

ngay cả với Rebecca, người đã gắn bó với ông đến cuối đời. Như vậy “cơ thể quá cỡ”

là biểu tượng ẩn dụ cho “cái đuôi lợn” ám ảnh tiền kiếp của dòng họ. Cái đuôi lợn

của sự phàm ăn, dâm dật và loạn luân. Để rồi sự sôi nổi, táo gan ấy cũng không thể

thay đổi được số phận bất hạnh đã an bày từ trước của José Arcadio.

Cũng như cha mình, José Arcadio ở thế hệ thứ ba, José Arcadio được tác giả

khắc họa ấn tượng với bộ mông đàn bà, dấu hiệu cho cuộc sống thiên về những ham

muốn xác thịt và cuộc sống tình dục sôi nổi của nhân vật. Aureliano Segundo, người

bị đánh tráo tên, được tác giả nhấn mạnh qua khả năng ăn uống, làm tình với Petra

Cotes và sự mắn đẻ của đàn gia súc.

Nếu như những nhân vật nhánh thuộc Arcadio được G.Marquez gắn liền với

những biểu tượng thiên về xác thịt, tình dục thì những nhân vật mang tên Aureliano

lại được ông khu biệt bởi “đôi mắt”, “biểu tượng của tri giác, trí tuệ”, [17/568] thiên

về những giá trị tinh thần. Bằng tự học, những Aureliano đã có những tri thức uyên

thâm về thế giới, biết nhiều ngoại ngữ và giải được những lời tiên tri của miếng da

thuộc khi tròn trăm tuổi. Nhưng đôi mắt ấy lại rất âu sầu, sợ hãi và cô đơn cực độ, nó

“ mở to thao láo và rực sáng” trong cái nhìn đầu tiên như để quan sát mọi người dưới

sức nặng huyền bí khủng khiếp. Chính điều ấy đã khuôn định họ vĩnh viễn vào thế

giới của nỗi cô đơn và hoài nhớ. Đôi mắt ở đây cũng khủng khiếp như cái đuôi lợn

ám ảnh của dòng họ. Ngài đại tá sinh ra với đôi mắt mở to thao láo, có thể làm cái

ghế xoay tít và trần nhà có thể sụp đổ dưới ánh nhìn ấy. Di truyền từ ngài, mười bảy

anh em Aureliano từ những phương trời khác nhau nhưng ngay ở cái nhìn đầu tiên

người ta cũng biết ngay đích thị đó là một Aureliano bởi những đôi mắt cô đơn, ưu

sầu. Họ đều “chào đời với đôi mắt mở thao láo nhìn những người xung quanh với

dáng vẻ dò xét của một người lớn.” [11/191] José Arcadio Segundo, người từ đầu

được mang tên là Aureliano Segundo, đã mở to đôi mắt thao láo và u buồn ấy trong

những tháng ngày tự giam mình trong nỗi sợ hãi, ám ảnh bởi cái chết tàn khốc của

hơn ba ngàn công nhân. Nhìn vào mắt ông người ta nhận thấy số phận cố hữu của

những thế hệ trước được lặp lại một lần nữa, đầy cô cơn, trầm tư và khó hiểu.

Nhóm nhân vật Aureliano này gắn chặt số phận của mình với những tấm da

thuộc và căn phòng kì bí của Melquíades và cố giải mã nó khi chưa tới hạn một trăm

năm. Họ không nổi trội ở sức mạnh cơ bắp và đời sống tình dục. Ngài đại tá mặc dù

có cả thảy mười tám người con nhưng không vì thế thay đổi được “sự bất lực trong

tình yêu” của ngài vốn đã định đoạt qua tiếng gầm sâu lắng từ trong bụng mẹ khi

được hoài thai. Ngài chung đụng với mười bảy cô gái trong suốt cuộc chiến tranh

đẫm máu chỉ để xoa dịu đi nỗi cô đơn, trống trải và hư vô mà cuộc chiến đem lại.

Ngài chưa từng yêu ai, kể cả Remedios, ngài chỉ yêu chính bản thân mình, ngài phát

động ba mươi cuộc chiến đẫm máu cũng vì thói kiêu ngạo cá nhân đầy tội lỗi. Qua sự

minh mẫn và thấu suốt của cụ già trăm tuổi, Úrsula đã rút ra kết luận: “ngài chưa

từng yêu mến ai, ngay cả Remedios- người vợ của ngài, hoặc vô khối các cô gái từng

mọt đêm chăn gối với ngài, lại càng không thể nói ngài yêu các con ngài…cụ đi đến

kết luận rằng đứa con mà mình đẻ ra kia là một chàng trai bất lực trước tình yêu”

[11/298]. Không chỉ với ngài đại tá, tất cả thành viên của dòng họ Buendía đều bất

lực trước tình yêu. Họ chưa từng yêu ai, họ chỉ yêu chính bản thân mình. Trong sự

ích kỉ ấy, họ càng dấn sâu hơn vào cõi cô đơn. Cho nên tình yêu là điều duy nhất cần

thiết để họ thoát khỏi án lưu đày trăm năm.

Khi xây dựng nhân vật, G.Márquez thường gắn nhân vật với các con số được

phóng đại một cách cụ thể: José Arcadio đi vòng quanh thế giới 65 lần, ngài đại tá có

cả thảy 18 đứa con…Những con số cụ thể trong các sáng tác của Marquez là một thủ

pháp huyền ảo hóa hiện thực của tác giả. Chính những con số khổng lồ và có vẻ

chính xác đã biến niềm tin vào sự huyền ảo trở nên minh tường và xác tín, đây là điều

nhà văn từng thổ lộ về bút pháp của chính mình.

Trước cái chết của các nhân vật bao giờ cũng có những điềm báo: lời tiên tri,

những biểu tượng liên quan đến cái chết: mưa, giấc mơ, đường chỉ tay bị đánh dấu,

dấu thánh… Những biểu tượng này được lặp đi lặp lại. Đầu tiên là cái chết của José

Arcadio Buendía, được báo trước qua linh tính của đại tá Buendía, người hầu da đỏ từ

xa đột ngột trở về để “dự đám tang của hoàng đế”, những giấc mơ và cơn mưa hoa

vàng. José Arcadio Buendía lúc này đang sống ở căn nhà cọ nơi gốc cây dẻ, trong làn

ranh giữa âm và dương, thực và mơ. Úrsula chăm sóc cụ, cho cụ ăn và kể cho cụ

nghe những tin tức về đại tá Aureliano nhưng cụ lại ngỡ người đang chăm sóc kể

chuyện cho mình là Prudenxio Aghila, người mà cụ đã giết chết thời trai trẻ. Hai

người nói chuyện về gà chọi, về dự định xây dựng một chuồng gà chọi ở âm phủ để

giải buồn trong những ngày chủ nhật. Và trong nhưng câu chuyện của Prudenxio

Aghila, cụ được nghe thắng lợi hiển hách của một người hoàn toàn xa lạ được gọi là

Aureliano. Thời gian thực tại và quá khứ như hoà quyện vào nhau một cách diệu kì.

Ở đó những kỉ niệm của quá khứ được sống lại trong nỗi dằn vặt và hoài nhớ của

hiện tại. Thực và ảo xoá nhoà trong tâm trí của cụ. Có những lúc hai thời khắc này

gặp nhau, đó là những hình ảnh lẫn lộn giữa thực và mơ trong những cánh cửa của

căn buồng vô tận trong giấc mơ của cụ. Cụ thấy mình đứng dậy đi ra khỏi giường,

mở cửa đi sang phòng bên, và phòng bên cũng giống hệt như vậy, cũng có một cái

cửa, cụ lại mở, đi sang phòng bên, cứ như thế những căn phòng nối tiếp nhau thành

một hành lang dài. Chỉ đến khi Prudenxio Aghila vỗ vai cụ thì cụ mới trở về lần lượt

qua các phòng, trong lúc quay lại mà tỉnh giấc dần cho đến khi cụ gặp Prudenxio

Aghila ở chính căn phòng của đời thực. Rồi có một đêm, Prudenxio Aghila vỗ vai cụ

ở căn phòng trung gian giữa cõi thực và cõi mộng và cụ mãi mãi dừng ở đấy mà

tưởng rằng đó là căn phòng của đời thực. Hôm cụ qua đời, trời bỗng đổ xuống một

cơn mưa hoa li ti màu vàng tuyệt đẹp như lời giã từ, tiếc thương của mọi người với cụ

tổ, người đã có công sang lập làng Macondo.

Những biểu tượng báo tử tiếp tục xuất hiện với các thế hệ sau đó, José Arcadio

bị một phát súng bí ẩn giết chết vào một buổi chiều tháng chín, trước trận cuồng

phong đổ xuống. Arcadio chết khi bàn tay mình, với đường đời bị thần chết chém

ngang trên gò ngón tay cái, sâm sấp ướt mồ hôi, cậu bị hành hình khi tháng ba trời đổ

những cơn mưa sớm. José Arcadio chết sau khi tìm thấy ba bao tải vàng phát sáng

dưới chân giường của Úrsula, vàng là biểu tượng giàu có về kinh tế đồng thời còn là

cái chết, sự thay đổi, và hủy diệt.

Cái chết của ngài đại tá Aureliano Buendía cũng được tiên cảm qua giấc mơ về

căn nhà trống rỗng lặp đi lặp lại như cha mình trước khi chết, trận mưa kéo dài ba

ngày, chiếc đĩa cam vàng và ánh mắt buồn rầu của José Arcadio Buendía nhìn từ túp

lều cọ. Aureliano José chết với lời tiên đoán của Pilar Ternera, khi số phận đã bị đánh

dấu bởi những quân bài. Mười bảy Aureliano bị đánh dấu bởi mười bảy dấu thập tro

định mệnh. Aureliano Babilonia biết được số phận của mình cũng là khi đất trời nổi

lên cơn giông tố vần vũ được nói tới trong Kinh thánh xuất hiện. Aureliano cuối cùng

thì số phận đã được in dấu với hình hài đuôi lợn và những bầy kiến. Đa số những

người đàn ông của dòng họ đều có số phận bất hạnh và yểu mệnh. Họ chết bất đắc kì

tử, đột ngột bởi vũ lực và sự bạo tàn của những phát súng oan nghiệt. Trong số những

biểu tượng tiên cảm cái chết mà G.Márquez xây dựng chúng tôi nhận thấy biểu tượng

mưa, con lợn và dấu thập tro là ba biểu tượng được tác giả sử dụng nhiều lần nhất.

Xây dựng nhân vật G.Márquez rất chú ý gắn số phận nhân vật với những biểu tượng.

Nó góp phần hé lộ tính cách và định đoán số phận của nhân vật đồng thời tạo ra màu

sắc huyễn hoặc kì thú cho tác phẩm, câu chuyện về dòng họ Buendía là câu chuyện

đã được biết trước, câu chuyện định mệnh của những số phận cô đơn và bất hạnh.

Trong số những cái chết bất đắc kì tử kể trên thì có đến hai mươi mốt thành viên của

dòng họ chết vì liên quan, dính líu đến chính trị, chiến tranh và bị sát hại bởi những

phát súng oan nghiệt. José Arcadio bị một phát súng bí ẩn giết chết sau khi dũng cảm

cứu em trai của mình khỏi án tử của phe Bảo hoàng. Arcadio chết vì chống lại phe

Bảo hoàng và bị án tử hình. Aureliano José bị bắn chết sau khi đào ngũ. Mười bảy

anh em Aureliano, con của ngài đại tá bị kẻ thù giết chết hầu hết trong vòng một đêm

sau khi ngài đại tá tuyên bố sẽ trang bị vũ khí cho con mình chiến đấu chống lại chính

phủ. José Arcadio Segundo sống trong nỗi ám ảnh và sợ hãi cho đến chết …. Như

vậy hầu hết các Arcadio Jose và Aureliano đều là nạn nhân của những vụ giết người

liên quan đến chiến tranh. Và tất cả đều không chống nổi sự lưu đày trong nỗi cô đơn

qua nhiều thập kỷ.

Xuất phát từ việc hiểu biểu tượng nghệ thuật là những kí hiểu thẩm mĩ đa

nghĩa, kết quả của sự mã hoá những xúc cảm, tư tưởng của nhà văn. Nó là những

hình ảnh cụ thể, cảm tính nhưng đầy sức gợi, mở ra những trường liên tưởng phóng

khoáng cho sự tiếp nhận của người đọc, chúng tôi nhận thấy rằng, những biểu tượng

mà Márquez chọn lựa và đưa vào tác phẩm không chỉ để khắc hoạ nhân vật cho thêm

phần sinh động và hấp dẫn mà nó còn dung chứa những ý nghĩa sâu sắc khác. Ngoài

việc nhấn mạnh nếu chúng ta sống khép kín, cô đơn thì kết cục tất yếu sẽ là bất hạnh,

ý nghĩa này gắn với chủ đề cô đơn của truyện. Qua thuyết định mệnh số phận của

Macondo và của dòng họ Buendía đều bị tuyệt diệt như là một phép ẩn dụ đầy sức ám

gợi.

2.2.3Nhân vật được soi chiếu dưới điểm nhìn đa chủ thể

Điểm nhìn nghệ thuật là “vị trí từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả sư vật

trong tác phẩm. Không thể có nghệ thuật nếu không có điểm nhìn, bởi nó thể hiện sự

chú ý, quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật. Giá

trị của sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do đem lại cho người thưởng thức

một cái nhìn mới đối với cuộc sống. Sự thay đổi của nghệ thuật bắt đầu từ thay đổi

điểm nhìn”. Điểm nhìn nghệ thuật có thể hiểu “là điểm rơi của cái nhìn vào khách

thể. Trong trường hợp này hệ thống các chi tiết, sự phân bố và kết nối thưa, dày sự

thay thế loại chi tiết này bằng loại chi tiết khác lại là biểu hiện của điểm nhìn nghệ

thuật” [20/113]

Để làm rõ tính cách nhân vật trong “Trăm năm cô đơn”, chúng tôi nhận thấy

tác phẩm được trần thuật dưới cái nhìn đa chủ thể. Những điểm nhìn này không cố

định, có sự thay đổi theo thời gian, theo sự phát triển tính cách của nhân vật và sự trải

nghiệm của người đánh giá. Điều này tạo ra sự khách quan, hấp dẫn khi đánh giá về

nhân vật. Điểm nhìn của truyện thường rơi vào nhân vật nữ. họ là những người phụ

nữ thấu hiểu sâu sắc trái tim của những người thuộc dòng họ Buendía, đặc biệt là

Úrsula, cụ là điểm kết nối, điểm tựa cho những người đàn ông trong gia đình tuy

mạnh mẽ nhưng cũng thật mong manh trong cuộc đời. Bằng trái tim nhân hậu và vị

tha của một người vợ, người mẹ, người bà, Úrsula thấu hiểu tất cả đám con cháu của

mình. Cụ là người duy nhất phát hiện sự ra bí mật trò chơi tráo đổi tên của hai anh em

song sinh José Arcadio Segundo và Aureliano Segundo, “cụ lập túc kiểm tra lại

những kí ức xa xưa của mình rồi càng khẳng định hơn nữa niểm tin cho rằng vào một

thời điểm nào đó của tuổi thơ ông đã đổi tên mình cho người anh em sinh đôi, bởi vì

ông chứ không phải là người kia đã là người được gọi Aureliano”.[11/311] Cụ cũng

là người biết được ý nguyện thật sự của Arcadio sau khi ông qua đời, trái với nguyện

vọng cuối cùng của người bị tử hình, cụ đã đặt cho đứa con gái đầu lòng của anh cái

tên Remedios, “ta tin rằng đó là điều Arcadio muốn nói. Chúng ta sẽ không gọi nó là

Úrsula bởi vì với cái tên này nó sẽ khổ cả một đời.” [11/169], điều mà khi không còn

kịp trăn trối, Arcadio đã nghĩ tới.

Aureliano Buendía là một nhân vật phức tạp và khó hiểu. Ngài được soi chiếu

qua nhiều điểm nhìn của các nhân vật trong tác phẩm, với mỗi điểm nhìn chân dung

ngài đại tá hiện lên một khác nhau, cung cấp cho người đọc cái nhìn đa diện, vẹn toàn

về nhân vật. Với Úrsula thì đại tá Aureliano Buendía là đứa con ích kỉ, và tiếng khóc

của ngài ngay từ lúc hoài thai trong bụng mẹ không phải là dấu hiệu của người có tài

nói giọng bụng hay có tài tiên tri mà chỉ đơn thuần là dấu hiệu không thể nhầm lẫn

được sự bất lực trước tình yêu. Nó là dấu hiệu của cái cô đơn. Và hành động tham

chiến của ngài cũng đuợc mọi người đánh giá không giống nhau. Trong mắt mọi

người, trừ những thành viên của dòng họ Buendía, thì ngài là một nhân vật huyền

thoại, được xưng tôn như một vị thánh, là biểu tượng cho lòng can đảm, sự tự do.

Nhưng trong mắt của Rebecca, ngài là chỉ một thằng đê hèn khi tham gia cuộc chiến

này: “lúc nào chị cũng nghĩ, và giờ đây chị càng khẳng định ý nghĩ của mình, rằng

chú là một thằng đê hèn”[11/199]. Tướng Moncada nhận xét ngài cũng chẳng khác

gì bọn Bảo hoàng, là một kẻ thấp hèn, một tên độc tài khát máu: “Trong cuộc đời

không có mẫu người nào đại diện cho sự thấp hèn của con người như anh. Anh không

chỉ là một tên độc tài khát máu điển hình nhất của lịch sử nước ta, mà rồi anh còn sẽ

bắn cả cụ Úrsula để lương tâm mình được lương tâm mình được yên ổn”. [11/201]

José Arcadio Segundo, người từng chạm trán với tử thần chiến tranh thì “đại tá

Aureliano Buendía chỉ là một thằng hề hoặc một thằng hèn không hơn không kém”,

bởi ngài đã không hiểu rằng ngài đã phải dùng quá nhiều lời lẽ để diễn tả cái ngài

cảm nhận được trong chiến tranh mà không biết rằng chỉ cần một từ thôi đã đủ để

diễn đạt nó rồi. Đó là nỗi sợ hãi. Kì thực Aureliano tham gia chiến tranh là để chạy

trốn nỗi sợ hãi của cô đơn. Chính những lời nhận xét này đã làm cho nhân vật hiện

lên thật sinh động và sâu sắc. Đặt nhân vật vào nhiều mối quan hệ, để tính cách của

nhân vật được bộc lộ một cách đầy đủ và trọn ven hơn.

Trở về nhà sau hai mươi năm tham chiến, Aureliano lại sản xuất những con cá

vàng. Với thiên hạ, ngài đang kinh doanh và sắp giàu to từ những con cá này nhưng

chỉ có Úrsula là người duy nhất thấu hiểu rằng ông lao động chỉ để để thoả mãn cái

vòng lẩn quẩn vô vọng của một tuổi già cô đơn, của một con người mà cuộc đời đã có

nhiều đỗi vinh quang lẫn cay đắng.

Tính cách những nhân vật khác trong truyện cũng được đánh giá qua nhiều

điểm nhìn khác nhau như vậy.Theo cách nhìn của đại tá Aureliano Buendía thì

Remedios - Người đẹp không phải là người chậm phát triển trí tuệ như người ta vẫn

tưởng, mà hoàn toàn ngược lại “nó cứ như người trở về sau hai mươi năm lăn lộn

trong chiến tranh” [11/244]. Chỉ có ngài, với những trải nghiệm sâu sắc sau hai mươi

năm xông pha trận mạc mới thấu hiểu và nhận thấy ở nàng một vẻ đẹp cực kì trong

trắng, một tâm hồn cực kì đơn giản và một trí tuệ thông minh sáng suốt khi không

bận tâm nhiều đến những ham muốn, hệ luỵ của cuộc đời. Điều mà không phải ai

trong đời cũng nhận ra được khi họ quá mải mê chạy theo vật chất, hư danh và toan

tính. Trong khi đó, mọi người ở gia đình thì cho rằng nàng là một người ngốc nghếch,

đần độn, dị thường và không biết phải làm cách nào để chỉ dạy nàng trưởng thành

như bao người phụ nữ bình thường khác. Họ không hiểu được rằng, Remedios -

Người đẹp sinh ra không phải làm những việc ấy, nàng là biểu tượng của Cái Đẹp, cái

đẹp trong trắng giản đơn để cứu rỗi linh hồn con người, là hiện thân cho những gì tốt

đẹp mà Thượng đế đã ban tặng cho loài người. Một khi Cái Đẹp không còn nữa thì

thế giới cũng mất đi ý nghĩa tồn tại. Tư tưởng triết mĩ ấy đã được G.Márquez lồng

vào nhân vật và qua sự đánh giá sai lệch của những người trong dòng họ Buendía, ta

thấy rằng không phải bao giờ con người cũng cũng nhìn thấy và trân trọng Cái Đẹp

đúng mức.

Sau gần một thế kỉ, với ánh sáng trí tuệ của cụ già trăm tuổi, Úrsula đã nhiều

lần đánh giá trọn vẹn hết những thế hệ con cháu của mình cũng như rút ra những quy

luật số phận bất biến của dòng họ: “Con cái nhà này đến lạ, tất cả đều giống nhau

như hệt. Úrsula thở than: “lúc đầu, được nuôi dưỡng rất chu đáo, do đó tất cả đều

ngoan ngoãn, nết na, hiền lành dường như đến con ruồi cũng không đủ can đảm để

giết. Ấy thế mà râu vừa lún phún đã lại hư thân mất nết rồi”. [11/193] Cụ đã tóm

lược cuộc sống của gia đình từ ngày thành lập làng và đã hoàn toàn thay đổi ý kiến về

đám con cháu của mình. Cụ nhận thấy không phải như mình tưởng vì cuộc chiến mà

đại tá Aureliano Buendía đã đánh mất tình cảm gia đình, mà thực ra ngài chưa từng

yêu ai, kể cả vợ ngài cũng như vô khối các cô gái cùng một đêm chăn gối hay với các

con ngài. Cụ nhận thấy rằng ngài đã tham chiến không phải vì sự say mê lí tưởng

như mọi người từng nghĩ mà đích thị là vì thói kiêu ngạo đầy tội lỗi của mình. Còn

Amaranta, mà sự cứng rắn trong tình cảm của bà làm cụ cảm thấy kinh hãi, mà sự

chua ngoa được dồn tụ lại trong tình cảm của bà làm cụ cảm thấy chua xót, qua sự

thử thách cuối cùng đã làm cho cụ thấy rõ bà là một phụ nữ hiền dịu chưa từng thấy

và sự bất hạnh trong tình cảm của bà với Pietro Crespi, đại tá Herinendo Márquez là

do nỗi sợ hãi vô lí trong trái tim đã chiến thắng. Duy chỉ có Rebecca, người con gái

không bú dòng sữa của cụ, người có trái tim xao động thực sự và chân thành, có cái

dạ dày to, người duy nhất có lòng can đảm khôn cùng là người mà Úrsula từng mong

mỏi cho dòng dõi của nhà mình. Chỉ có tình yêu mới có thể cứu thoát dòng họ

Buendía khỏi nỗi cô đơn truyền kiếp và cái án loạn luân. Cụ cũng là người duy nhất

nhận thấy việc gọi tên trùng nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác là một dấu hiệu lặp

lại của thời gian, của số phận, những kết luận hầu như đã được khẳng định. Tất cả họ

ngày nào cũng giống như ngày nào, đều lặp đi lặp lại chính mình những lối đi ấy,

chính những công việc ấy, thậm chí còn lặp lại những câu nói giống nhau vào cùng

một giờ nhất định mà không hay biết gì.

Với Fernanda, những người của dòng họ Buendía là những kẻ phá hoại, vô tích

sự cuộn mình trong những vòng tròn lặp lại muôn thuở, bà thường tự hỏi: “phải

chăng ông chồng mình cũng đang mắc cái bệnh làm để rồi phá như đại tá Aureliano

Buendía làm những con cá vàng, như Amaranta đơm cúc và may những tấm vải liệm,

như José Arcadio Segundo đọc những chữ ghi trên tấm da thuộc và như Úrsula nhớ

lại những kí ức đời mình”. [11/370] Trong khi đó, Pilar Ternera thì nhận thấy những

đặc điểm thiên về đời sống tình dục của những thế hệ Buendía vì họ chính là những

hạt giống yêu đương được gieo rắc từ bà, nên bà lão chẳng cần những quân bài mới

xem được tương lai của một người thuộc dòng họ Buendía, “không có điều bí mật

nào trong trái tim của người trong dòng họ Buendía mà bà lão không hiểu được, bởi

vì một thế kỉ ảo mộng và kinh nghiệm đã dạy cho bà biết lịch sử của gia đình giống

như một chuỗi dài những điều lặp đi lặp lại không tránh khỏi, như một chiếc đĩa quay

có thể cứ quay mãi, quay mãi đến vô tận, nếu không có sự hao mòn dần dà vô

phương cứu chữa của chiếc trục”[11/458].

Nhân vật song trùng mà chúng tôi quan sát trong “Trăm năm cô đơn”, thì tính

chất đối cực thiện- ác, tốt-xấu để phân tuyến nhân vật không được tác giả quan tâm,

họ không hề là đại diện cho cái ác và cái thiện, tốt và xấu bởi họ luôn tồn tại song đôi

nhưng những mặt tích cực và hạn chế của nhân phẩm: đáng ngợi ca và hư hỏng, đồi

bại, tốt và xấu cùng tồn tại. Tất cả các thế hệ của Buendía đều phải đối đầu với cái cô

đơn, cô đơn trở thành một phần huyết thống vĩnh viễn của dòng họ. G.Márquez đặt

nhân vật của mình đối diện với chiến tranh và tình dục để kiểm tra thái độ của họ qua

đó sẽ nhấn mạnh nét tính cách chủ đạo nào đó của nhân vật.Thế nhưng dù thiên

hướng là gì đi nữa thì họ vẫn luôn là những kẻ cô đơn. Qua đó vừa thấy được điểm

chung và nét riêng của mỗi người. Cho nên thế giới nhân vật của “Trăm năm cô đơn”

là những con người không toàn thiện, toàn mĩ. Nếu kết hợp tính cách của hai tuyến

nhân vật và trái tim yêu đương chân thành, mãnh liệt, sôi nổi trong sáng thì họ sẽ có

hạnh phúc, có cơ may quay trở lại mặt đất một lần nữa.

Như thế xây dựng những cặp song trùng này, G.Márquez vẫn tuân thủ theo

nguyên tắc của kiểu nhân vật song trùng truyền thống là xây dựng những tính trái

ngược nhau để bổ sung, hoàn chỉnh cho nhau nhưng ông không nhấn mạnh tính chất

đối cực, lưỡng phân triệt để như nhiều tác phẩm trước đó. Cho nên những cặp nhân

vật song trùng này được tạo ra không nhằm chủ yếu là phân tích, khám phá bản ngã

của con người. Ngược lại nhấn mạnh tính chất lặp đi lặp lại theo kiểu cặp đôi của các

nhân vật và hoàn cảnh tồn tại của họ, G.Márquez muốn hướng đến lịch sử của dân tộc

và châu lục qua hàng loạt các yếu tố lịch sử lặp đi lặp lại một cách tưởng như đầy

ngẫu nhiên của tác phẩm. G.Márquez đã đan cài thần tình lịch sử bảy thế hệ của dòng

họ Buendía với lịch sử hình thành, phát triển và diệt vong của Macondo với những

biến cố chính trị được lấy từ những sử liệu có thật trong lịch sử với tham vọng cháy

bỏng là phản ánh lịch sử của đất nước và cả châu Mĩ Latin. Có lẽ đó là một trong

những nguyên nhân quan trọng tạo ra sự thành công vượt trội của tác phẩm. “Trăm

năm cô đơn” xứng đáng là cuốn tiểu thuyết “đã đưa dòng văn chương Mỹ Latinh này

lên đỉnh cao nhất tính tới thời điểm này, cuốn tiểu thuyết đồng nhất với Mỹ Latinh

hơn hết, cuốn tiểu thuyết mà trong đó Mỹ Latinh học được cách nhìn nhận chính

mình, cuốn tiểu thuyết mà có lẽ đối với văn chương Mỹ Latinh và những nhà du hành

biển cả của nó cũng giống như Quixote đối với văn chương Tây Ban Nha cùng những

kẻ săn tìm giấc mơ bất khả” (Về thế giới của A. Mutis và G.G. Márquez, Evăn ) và

“chỉ một mình García Márquez đã thâu tóm, tựu thành và thực hiện được một cách

hữu hiệu đến tuyệt đối việc chuyển di thế giới Mỹ Latinh vào văn chương. Chỉ mình

ông đã đưa ra được một cái nhìn thâu tóm và chính xác về thế giới đó”, thế giới Mĩ

Latin tù đọng, trì trệ và bất ổn. (Álvaro Mutis trong bài trả lời phỏng vấn của Elena

Poniatowska năm 1975) trở thành kiệt tác vĩ đại của nhân loại.

Chương III Song trùng và kết cấu tác phẩm

3.1 Kết cấu tác phẩm

Trước khi bắt đầu sáng tác, bao giờ nhà văn cũng quan tâm đến việc làm thế

nào để tác phẩm được mạch lạc, hấp dẫn và ấn tượng với người đọc, đồng thời còn

phải chuyển tải được tối đa những ý đồ nghệ thuật của mình. Để làm được điều này,

bên cạnh việc chọn đề tài, thể loại, nhân vật,… nhà văn còn phải lựa chọn một hình

thức kết cấu phù hợp. Chính vị trí đặc biệt ấy mà từ lâu kết cấu được xem là một

trong những khái niệm trung tâm, cơ bản của hoạt động nghiên cứu văn học.

Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân cho rằng kết cấu “ là sự sắp xếp,

phân bố các thành phần hình thức nghệ thuật; tức là sự cấu tạo tác phẩm, tuỳ theo

nội dung và thể tài. Kết cấu gắn kết các yếu tố của hình thức và phối thuộc chúng với

tư tưởng” [19/167]. Các thành phần hình thức nghệ thuật bao gồm “việc phân bố các

nhân vật (tức là hệ thống các hình tượng), các sự kiện và hành động (kết cấu, cốt

truyện), các phương thức trần thuật ( kết cấu chi tiết), các thủ pháp văn phong (kết

cấu ngôn từ), các truyện kể xen kẽ hoặc các đoạn ngoại đề trữ tình ( kết cấu các yếu

tố ngoài cốt truyện)” [19/167-168].

Lí luận văn học, Phương Lựu (chủ biên) 2006, kết cấu “là một phương tiện cơ

bản của sáng tác nghệ thuật. Trên một mức độ lớn, có thể nói sáng tác tức là kết

cấu….là toàn bộ tổ chức tác phẩm phục tùng đặc trưng nghệ thuật và nhiệm vụ nghệ

thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình. Kết cấu tác phẩm không bao giờ tách rời

nội dung cuộc sống và tư tưởng trong tác phẩm”[42/295].

Kết cấu tác phẩm không chỉ liên kết các hiện tượng, con người trong tác phẩm

mà còn phải gây được ấn tượng mạnh mẽ với người đọc. Cho nên tạo được một kết

cấu phù hợp là cả một quá trình tư duy đầy sáng tạo của nhà văn nhằm biểu đạt cao

nhất những ý đồ nghệ thuật. Nhờ có kết cấu mà tác phẩm trở nên mạch lạc, có “vẻ

duyên dáng của sự trật tự” ( Horatius)[19/167].

Nghiên cứu kết cấu trong “Trăm năm cô đơn”, chúng tôi nhân thấy nó bị chi

phối bởi hiện tượng song trùng và tạo ra các kiểu kết cấu độc đáo: Kết cấu song hành

qua câu chuyện kép, cặp đôi hai tuyến truyện, hai người kể chuyện trong tác phẩm và

kết cấu mê lộ được bao chứa bởi nhiều vòng tròn nhỏ đồng tâm quay xung quanh

chiếc trục lớn của tác phẩm. Những kiểu kết cấu trên đây đã tạo cho tác phẩm sự thú

vị độc đáo và góp phần thể hiện rõ chủ đề cô đơn cũng như giá trị hiện thực sâu sắc

của tác phẩm.

3.2 Kết cấu song hành

“Trăm năm cô đơn” là câu chuyện về dòng họ Buendía được viết tỉ mỉ , chi tiết

theo phương thức thời gian đồng hiện trong một kết cấu phức tạp và chặt chẽ. Cuốn

sách này có hai văn bản. Văn bản một là văn bản được Melquíades viết trên những

tấm da thuộc, Melquíades là người kể chuyện thứ nhất. Văn bản hai là văn bản chúng

ta đọc hết dòng này sang dòng khác chạy suốt từ đầu đến cuối sách, G.Márquez là

người kể chuyện thứ hai ở ngôi trần thuật thứ ba, một người kể chuyện toàn năng đã

biết trước câu chuyện trăm năm cô đơn trong tấm da thuộc và kể lại nó theo cách thức

riêng của mình. Như thế “Trăm năm cô đơn” có cấu trúc người kể chuyện kép, người

kể chuyện cặp đôi. Hai văn bản này song song đồng hiện với nhau trong suốt tác

phẩm, tuy nhiên cũng có những lúc chúng giao nhau, đan quyện, xoắn bện vào nhau

bởi những đoạn hồi cố hay những đoạn phục bút của người kể chuyện thứ hai.

3.2.1 Văn bản thứ nhất- Melquíades người kể chuyện tiên tri

Văn bản thứ nhất là văn bản được Melquíades viết trên những tấm da thuộc, nó

chỉ được giải mã khi được trăm tuổi, ứng với thời hạn trăm năm của dòng họ

Buendía. Melquíades là cụ già digan thông thái, cụ có ý nghĩa cực kì quan trọng với

sự tồn tại và phát triển của làng Macondo. Cụ là một trong những người đầu tiên tìm

đến Macondo khi nó còn là một ngôi làng yên bình của những buổi đầu sang lập, lúc

cư dân ở đây còn hết sức ngây thơ và xa lạ với thế giới bên ngoài. Theo tiếng chim

hót, Melquíades đến làng và đem theo những “phát minh” to lớn, làm ngỡ ngàng mọi

người “cứ vào tháng ba hàng năm, một gia đình người digan rách rưới dựng một túp

lều bạt ngay cạnh làng, rồi với tiếng kèn trông om sòm quảng cáo những phát minh

mới. Đầu tiên họ mang tới đá nam châm. Một người digan lực lưỡng, hàm râu lởm

chởm, bàn tay lông lá, tự giới thiệu tên mình là Melquíades”[11/23]. Không chỉ có

vai trò khai sáng, kết nối làng Macondo với phần còn lại của thế giới mà Melquíades

còn là đấng cứu thế đã chữa hết bệnh mất ngủ cho cả làng, khi mọi người ngày càng

chìm sâu vào sự lãng quên trong một thực tại trơn nhùi nhụi.

Theo lời của những người digan thì Melquíades đã chết vì bệnh sốt rét ở cồn

cát Singapore và cụ đã đạt tới trình độ bất diệt nhưng vì không thể chịu nổi nỗi cô

đơn, Melquíades đã chạy đến làng Macondo, một xó xỉnh của thế giới, nơi mà thần

chết chưa phát hiện ra để chạy trốn nỗi cô đơn của một người chết.Từ đó cụ hiến thân

cho nghề chụp ảnh Daguerretypie và viết những thứ chữ cổ quái, kì bí trên những tấm

da thuộc mà không ai đọc được. Nếu như Melquíades là người viết văn bản tiên tri về

dòng họ Buendía thì Aureliano Buendía là người giải mã ra chúng khi nó tròn trăm

năm. “Đó là chuyện về gia đình được cụ Melquíades viết tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ

nhặt nhất trước đây một trăm năm. Cụ đã viết nó bằng tiếng Phạn, vốn là ngôn ngữ

mẹ đẻ của mình, cụ đã mã hoá những bài thơ không vần bằng mật mã của quân đội

Hi Lạp. Ẩn ý cuối cùng của cụ mà Aureliano bắt đầu nhận ra khi anh thôi không

không để cho tình yêu của Amaranta Úrsula làm cho lú lẫn, nằm ở ngay chỗ

Melquíades không sắp đặt các sự kiện theo thứ tự thời gian mà tập trung cả một thế

kỷ những chuyện hàng ngày lại, làm cho chúng cùng tồn tại trong một lúc” [11/481].

Vì cụ đã mã hóa tài tình tất cả những sự kiện, biến cố của dòng họ Buendía và làng

Macondo trong những bài nhã ca khó hiểu cho đến khi nó tròn một trăm năm ứng với

lời tiên tri: “người đầu tiên của dòng họ bị trói vào một gốc cây và kiến đang ăn

người cuối cùng của dòng họ”[11/480]. Chính điều này tạo ra sự kì thú và bí ẩn cho

văn bản của Melquíades đồng thời nó còn gợi ra ra ý nghĩa câu chuyện của trăm năm

cô đơn là câu chuyện đã được biết trước nhưng không thể tránh khỏi và thời gian của

câu chuyện là dạng thời gian vòng tròn, khép kín như chu kì tiên tri của văn bản.

Nhiều lần trong tác phẩm, Melquíades đã nhắc đến kiểu thời gian này khi hé lộ những

điều tiên tri trước khi cụ qua đời nhưng chẳng ai trong gia đình hiểu được cụ muốn

nói điều gì. “Điều duy nhất anh (Aureliano Buendía) có thể phân biệt được trong

ngôn từ khó hiểu của cụ là sự lắp đi lắp lại không cùng của từ Ekinoxio và tên

Alexander Von Humbpoldt”[11/102], Ekinoxio chỉ thời điểm ngày và đêm bằng nhau

và một năm chỉ có hai lần đó là ngày xuân phân và thu phân; Alexander Von

Humbpoldt (1769- 1859), nhà địa lí người Đức, tác giả cuốn sách nổi tiếng: “Cuộc du

lịch đến những miền ngày và đêm như nhau của Châu lục Mới”. Cả hai đều ẩn dụ cho

một chu kì thời gian khép kín vô vọng và câu chuyện về dòng họ Buendía cũng như

làng Macondo là câu chuyện ảo ảnh trong một mê cung loạn luân của những kẻ bị kết

án cô đơn mãi mãi không thoát ra được.

Quan niệm thời gian tuần hoàn và huyền thoại này được một số nhà văn nổi

tiếng Mỹ La tinh hiện nay đưa vào sáng tác của mình, nhà thơ Mexico Octavio Paz

(Nobel 1990) có một bài thơ nhan đề “Đá mặt trời”. Chủ đề của nó là thời gian, đúng

hơn, là sự cầm tù của thời gian. Cái nhìn lịch sử loài người của Paz tương tự cái nhìn

của Hesiod, đó là một chuỗi vô tận những cuộc chiến tranh, tai hoạ, bất công. Cấu

trúc của bài thơ đã tái hiện quan niệm bi quan đó về thời gian: dòng cuối bắt với dòng

đầu. Theo Paz, lối thoát duy nhất ra khỏi thời gian là tình yêu, và có lẽ là chính thi ca.

Cảnh chính trong bài thơ là cuộc làm tình của một cậu bé và một cô bé trần trụi giữa

thành Madrid đổ nát trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha (1937) để tự bảo vệ mình.

Văn bản của Melquíades trên những tấm da thuộc chưa phải là một văn bản

nghệ thuật nhưng nó có vai trò cực kì quan trọng trong tác phẩm. Nó tồn tại song

song và bí ẩn suốt từ đầu truyện cho đến cuối truyện với văn bản thứ hai, văn bản mà

người đọc hết dòng này sang dòng khác. Văn bản của Melquíades tiên tri, tóm lược

khái quát những sự kiện chính về dòng họ Buendía theo phương thức thời gian đồng

hiện trong những bài thơ. Trong khi đó văn bản thứ hai như là một sự cụ thể hóa, chi

tiết cho những điều đã được tiên tri từ trước trong văn bản của Melquíades, tạo nên

sự say mê, ám ảnh kỳ thú với người đọc.

3.2.2 Văn bản hai- người kể chuyện toàn năng

Người kể chuyện thứ hai là người kể chuyện toàn năng, “biết tuốt” những sự

việc sẽ xảy ra của dòng họ Buendía trong những tấm da thuộc tiên tri của

Melquíades. Trên cơ sở đó, người kể chuyện thứ hai hư cấu, cụ thể, chi tiết hoá

những sự việc ấy và tạo ra văn bản thứ hai, văn bản nghệ thuật hoàn mĩ, hấp dẫn.

Ở văn bản thứ hai, chúng tôi nhận thấy bên cạnh câu chuyện về của dòng họ

Buendía gắn rất chặt với số phận làng Macondo đóng vai trò nòng cốt tự sự làm nên

khung sườn chính cho tác phẩm thì nó còn có những nhánh truyện phụ, phụ thuộc,

gắn kết chặt chẽ vào câu chuyện trung tâm tạo ra kết cấu truyện trong truyện độc đáo.

Mỗi cá nhân trong dòng họ Buendía đều được người kể chuyện thứ hai kể lại một

cách tường tận, chi tiết, hấp dẫn các sự kiện, biến cố của nhân vật từ lúc sinh ra cho

đến khi qua đời như một câu chuyện hoàn chỉnh. Cả bảy thế hệ nhà Buendía đều

được kể lại một cách tỉ mỉ như thế. Cho nên cuộc đời mỗi nhân vật ở đây đóng vai trò

như là một nhánh truyện phụ sinh động nằm trong truyện chính của tác phẩm làm cho

biên độ tự sự của tác phẩm được mở rộng tối đa và đạt được những hiệu quả mĩ học

khác thường.

Thông thường trong kiểu truyện khung những nhánh truyện phụ thường có mối

quan hệ khá lỏng lẻo với truyện chủ. Những nhánh truyện phụ có thể tự tách ra tồn tại

độc lập một mình mà không làm mất mát gì lớn cho câu truyện trung tâm. Ở đây

chúng ta có thể thấy kết cấu quen thuộc này trong một số tác phẩm như sử thi

“Mahabharata”, “Nghìn lẻ một đêm”… Như vậy kết cấu truyện khung không phải là

một thủ pháp mới lạ trong văn học.

Cùng có kiểu kết cấu này nhưng trong “Trăm năm cô đơn” chúng tôi nhận thấy

những nhánh truyện phụ này khó có thể tách riêng ra thành một truyện mới độc lập vì

như thế nòng cốt tự sự của tác phẩm sẽ bị phá vỡ, tính liền mạch, hoàn chỉnh của văn

bản cũng không còn tồn tại. Câu chuyện trăm năm cô đơn của dòng họ Buendía và

làng Macondo không thể phát triển tới điểm cuối của nó. Bên cạnh đó, những truyện

phụ này tiếp tục lại có nhiều điểm lặp lại và giống nhau trong cách mở đầu và kết

thúc làm cho tác phẩm giống như một mê lộ trùng phức thực sự, đạt hiệu quả nghệ

thuật sâu sắc. Các nhánh truyện phụ tương đồng này góp phần làm sáng nghĩa, hoàn

chỉnh cho câu chuyện chính, đồng thời nó mở rộng biên độ tự sự và tính hấp dẫn cho

tác phẩm, khiến cho người đọc có cái nhìn đa trị về tác phẩm. Giống như truyện trung

tâm, những nhánh truyện phụ trong tác phẩm đều được người kể chuyện thứ hai kể lại

theo phương thức thời gian đồng hiện độc đáo. Cuộc đời của nhiều nhân vật được kể

cùng lúc tựa như những cảnh phim mà tác giả là nhà đạo diễn thiên tài đã sắp xếp, lựa

chọn để nhiều nhân vật cùng xuất hiện trong cùng một thời gian. Để làm được điều

này, người kể chuyện thứ hai thường xuyên sử dụng những đoạn hồi cố hay những

đoạn phục bút rồi từ đó qua hồi ức của nhân vật này, cuộc đời của nhân vật khác

được hiện lên rõ nét, tạo sự uyển chuyển, tự nhiên, thoải mái trong khi trần thuật. Mở

đầu cho câu chuyện trăm năm của dòng họ Buendía là những hồi ức của đại tá khi

đứng trước đội hành hình "rất nhiều năm sau này, trước đội hành hình, đại tá

Aureliano Buendia đã nhớ lại buổi chiều xa xưa ấy, cái buổi chiều cha chàng dẫn

chàng đi xem nước đá. Thời ấy, Macondo là một làng gồm vài chục nóc nhà tranh

vách đất dựng bên bờ con song nước trong như pha lê, ào ào chảy qua những tảng

đá nhẵn thín....” [11/23], đoạn này xuất hiện ngay từ đầu chương một, trong khi việc

Aureliano Buendía đứng trước đội hành hình, đối diện với cái chết thì lại xảy ra ở tận

chương bảy. Với cách mở đầu như thế, tác phẩm đã bước đầu chuẩn bị tâm lí cho

người đọc khi tiếp xúc và thâm nhập vào văn bản, văn bản của những quá trình nhớ

lại, những dòng hồi ức của quá khứ đan xen thực tại. Qua dòng hồi ức của nhân vật

này, hình ảnh làng Macondo, cuộc đời của José Arcadio Buendía, Úrsula Iguarán,

José Arcadio …được kể lại thật tự nhiên, đầy đủ, chi tiết và sinh động. Tương tự cuộc

đời của các nhân vật khác cũng được thể hiện như thế, rất thường xuyên trong tác

phẩm, gần như mở đầu mỗi chương sách đều là những đoạn nhớ lại những điều đã

qua của nhân vật, điều này gợi ra ý nghĩa câu chuyện trăm năm là câu chuyện đã xảy

ra, được tiên tri trong những tấm da thuộc và cuộc đời của các nhân vật là những số

phận cũng đã được định đoạt, luôn sống trong sự cô đơn và niềm hoài nhớ.

Mở đầu chương mười, là việc Aureliano Segundo đang hấp hối trên giường

bệnh, một thời điểm xảy ra trong hiện tại của nhân vật, “Những năm sau này, hấp hối

trên giường bệnh, Aureliano Segundo đã nhớ lại buổi chiều mưa tháng sáu, cái buổi

chiều anh bước vào phòng ngủ để nhận mặt đứa con trai đầu lòng của mình. Mặc dù

đứa trẻ yếu ớt và hay khóc, không hề giống một người nào trong nhà Buendía, anh

chẳng phải suy nghĩ lao lung mới đặt tên cho nó là José Arcadio …” [11/226], chính

cách đặt tên này đã làm cho Úrsula Iguarán không giấu được cảm giác đau đớn bâng

khuâng về lịch sử những điều trùng lặp của dòng họ mình. Duy có hai trường hợp của

anh em song sinh này là khác nhau. Sau đó, người kể mới ngược lại quá khứ bắt đầu

kể lại câu chuyện cuộc đời của hai anh em song sinh từ nhỏ đến lớn. Mạch tự sự của

tác phẩm lại tiếp tục len lỏi kể lại các sự kiện của nhân vật đã từng xảy ra trong quá

khứ một cách thật tự nhiên cho đến khi trùng lặp lại thời điểm mà tác giả đã chọn để

giới thiệu sự xuất hiện của nhân vật rồi tiếp tục phát triển câu chuyện cho đến phần

hoàn kết, kết thúc câu chuyện của nhân vật đó. Không chỉ riêng cách mở đầu trên với

số phận của hai anh em Segundo mà hầu như tất cả các nhân vật trong truyện đều

được kể theo mẫu thời gian như thế. Điều này tạo cho người đọc cảm giác thời gian

của các nhân vật là thời gian vòng tròn, khép kín, đã được biết trước. Nó tạo ra mạch

kết cấu vòng tròn cho tác phẩm. Như thế, thời gian tự sự của văn bản thứ hai gắn với

thời gian tâm lí, gắn liền với tâm lí qua những đoạn hồi ức, nhớ lại của nhân vật. Thời

gian là sự quay ngược lại trở lại các thời điểm trong quá khứ và hiện tại trong quá

trình trần thuật của người kể chuyện.

Như vậy mặc dù “Trăm năm cô đơn” là tác phẩm trăm năm của bảy thế hệ, hơn

sáu chục nhân vật, gắn với một không gian tồn tại rộng lớn, nhiều sự kiện diễn ra

nhưng bằng tài nghệ khéo léo của mình, người kể chuyện đã giải quyết được tất cả,

tác phẩm vẫn là một chỉnh thể nghệ thuật mạch lạc, hấp dẫn “duyên dáng”. Có

được điều này bởi G. Márquez đã kiến tạo một kết cấu song hành, trùng phức thú vị

giữa hai văn bản trong tác phẩm. Chúng vừa tồn tại độc lập, song hành vừa có những

đoạn giao thoa, đan bện, chạm vào nhau qua những hồi ức của nhân vật. Chính

những đoạn hồi ức này, tác giả đã xen kẽ vào đó những đoạn kể lại quá trình khắc

chữ bí ẩn của Melquíades trên văn bản một làm cho mạch tự sự trong tác phẩm luôn

được chặt chẽ, thu hút không tách bạch mà luôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Và cả hai

văn bản đều chuyển động theo hướng vòng tròn gắn với chu kì thời gian khép kín vì

câu chuyện trăm năm của dòng họ Buendía là câu chuyện không phát triển đến một

tương lai nào.

3.3 Kết cấu mê lộ

Mê cung, mê lộ (labyrinthe) là “dạng bố trí các lối đi giao nhau nhiều ngả,

nhiều đoạn rẽ, có những đoạn không đi tiếp được nữa và do đó, thành ra các ngõ cụt

không lối thoát; đặt chân vào cung này phải tìm cho được lối đi vào tâm điểm của

tấm mạng nhện kì quái đó”. Có thể coi nó là “tổ hợp của hai môtíp là đường xoắn ốc

và hình bện đuôi sam và biểu hiện một ý muốn tất rõ nhằm thể hiện cái vô tận, dưới

khía cạnh mà con người tưởng tượng ra tức là cái vô tận của vòng luân hồi thể hiện

bằng hình bện đuôi sam. Hành trình càng khó khăn, càng nhiều trở ngại và càng gay

go thì người môn đồ sẽ chuyển biến nhiều hơn và trong cuộc thụ pháp trên đường đi

này, sẽ thu nhận được một cái “mình” mới”[17/539]. Như vậy mê lộ là biểu tượng

cho sự vô tận, hỗn loạn và vĩnh cửu bởi những lối đi giống hệt nhau, lặp lại không lối

thoát, gây hoang mang, hi vọng lẫn vô vọng cho người đi. Đồng thời thông qua hành

trình tìm đường khó khăn này, chúng ta sẽ trưởng thành hơn một bực, nhận chân sâu

sắc về chính mình. Sự đa diện này của mê lộ, “rất phù hợp với văn chương huyền ảo,

mặt khác rất thích ứng với cảm quan đa trị của chủ nghĩa hậu hiện đại”[23/230-231].

“Trăm năm cô đơn” được xây dựng như một mê lộ với sự mở đầu và kết thúc

câu chuyện tương ứng nhau, tạo ra một vòng tròn khép kín bất tận, không lối thoát.

Thứ đến cuộc đời bảy thế hệ dòng họ Buendía tựa như những vòng tròn nhỏ đồng

tâm trong bánh xe lớn về dòng họ Buendía vì số phận của họ luôn giống nhau, lặp đi

lặp lại thông qua tên gọi, qua cách mở đầu và kết thúc số phận cũng như các biến cố

trong cuộc đời của họ, tạo ra muôn vàn vòng quay số phận lặp lại và giống nhau.

Chính những điều này đã tạo cho tác phẩm một kiểu kết cấu đặc biệt, kết cấu vòng

tròn trùng lặp, kết cấu mê lộ.

3.3.1 Mê lộ- đầu cuối tương ứng

G.Márquez cho rằng: “Trên thực tế, mỗi người chỉ viết một cuốn sách. Chỗ khó

là làm sao biết được cuốn sách nào đang được một người viết ra. Trong trường hợp

của tôi, điều người ta nhắc đến thường xuyên nhiều hơn cả là cuốn sách về làng

Macondo…”, cuốn sách về nỗi cô đơn trăm năm. Điều bất hạnh này được khởi sự bởi

việc tấn công của tên cướp biển vào làng Rioacha khiến các cụ tổ của Úrsula Iguarán

phải chuyển đi và đến lập nghiệp tại một ngôi làng hẻo lánh, xa xôi. Tại đây họ gặp

các cụ tổ của José Arcadio Buendía. Qua ba thế kỉ, hai dòng họ này đã có mối quan

hệ thâm giao, cháu chắt họ lấy nhau và đẻ ra một đứa con có cái đuôi lợn. Chính cái

gương tày liếp này đã khiến cha mẹ của Úrsula Iguarán và José Arcadio Buendía

ngăn cản không cho họ lấy nhau. Thế nhưng họ vẫn lấy nhau trong sự nơm nớp lo sợ

đẻ ra đứa con có cái đuôi lợn. Đó là lí do vì sao mặc dù đã có chồng nhưng Úrsula

Iguarán vẫn mặc cái quần trinh tiết trong nhiều tháng liền. Sự việc kéo dài hơn một

năm khiến dân làng ngạc nhiên và đồn rằng anh chồng là kẻ bất lực. Trong một lần

không thể tự chủ bản thân, José Arcadio Buendía đã giết chết người bạn chọi gà của

mình và bất chấp mọi lời can ngăn của mọi người quyết định hưởng những đêm hoan

lạc với Úrsula với lí lẽ: “nếu mình đẻ ra kỳ đà thì chúng mình sẽ nuôi kì đà”[11/46].

Thế nhưng lương tâm của kẻ giết người cũng không được thanh thản mà luôn bị dằn

vặt, ám ảnh khôn nguôi. José Arcadio Buendía và vợ quyết định vượt rừng, bỏ làng,

tha hương đi tìm miền đất khác để mong quên đi quá khứ, chôn vùi mãi mãi những kí

ức đau thương để bắt đầu một cuộc sống mới, nơi mà đám con cháu của họ trong

tương lai sẽ không phạm phải sai lầm này một lần nữa. Nhưng họ đã không nhận ra

rằng, bằng hành động chạy trốn, tự tách mình ra khỏi cộng đồng này, họ sẽ di truyền

lại cho đám con cháu ngày sau nỗi hoài nhớ và cô đơn, rồi trong nỗi cô đơn, trống trải

ấy, những hậu duệ Buendía đã phạm tội loạn luân trong cả ý thức lẫn vô thức.

Vì vậy, giống như Oedipus trong bi kịch “Oedipus làm vua” của Sophocles,

hành động li hương của vợ chồng Úrsula nhằm ngăn chặn một điều kinh hoàng trong

tương lai nhưng cuối cùng vẫn không tránh khỏi. Bởi cô đơn như là một phần cố hữu

trong mỗi người, một khi ta sống đơn lẻ, tự tách mình ra khỏi cộng đồng, sống trái

tính trái nết, ich kỉ và dâm dật thì sẽ không bao giờ xoá nhoà được những bóng ma

của nỗi cô đơn. Nguyên nhân sâu xa của cuộc ly hương đến Macondo, có nguồn gốc

từ tội lỗi gần như liên quan đến sự thưởng thức “trái cấm” bị nguyền rủa. Trong đó,

“Adam” là José A.Buendía và “Eva”, Úrsula Iguarán đã bất chấp lời răn dạy của

“Thượng đế” tổ tông, sự cấm kỵ của dòng họ, cái chết của đồng loại, nhằm kiếm tìm

ý nghĩa và thụ hưởng hạnh phúc của tình yêu (và tình dục) một cách quyết liệt nhất,

không khoan nhượng và vượt qua mọi rào cản của những thiết chế, “câu chuyện về

tội lỗi của José A.Buendía và Úrsula Iguarán như vậy là một câu chuyện được lấy

cảm hứng từ Kinh thánh, nhưng được viết theo tinh thần hậu hiện đại, nơi chính con

người trừng phạt con người, chứ không phải là thượng đế. Và ngay khi đến với nhau

trong hoan lạc, José Arcadio Buendía hoàn toàn ý thức được hành vi cũng như hậu

quả của việc mình làm, chứ không đơn thuần hành động ngây thơ dưới sự xui khiến

của con rắn độc như Adam và Eva. Con người hậu hiện đại đã chấp nhận sống với

hậu quả, trong một “thời đại mà sự ngây thơ đã bị đánh mất” (U.Eco). Như vậy mở

đầu “Trăm năm cô đơn” là một cuộc tình loạn luân của hai kẻ cùng huyết thống, và

nỗi cô đơn day dứt khôn nguôi của kẻ giết đồng loại, tự tách mình ra khỏi cộng đồng

sống đơn lẻ, lưu đày vào cõi cô đơn vĩnh viễn. G. Márquez xây dựng cái cô đơn như

là sự cảnh báo về cái chết và sự huỷ diệt.

Tại làng Macondo, vợ chồng Úrsula đã hạnh phúc khi sinh hạ những đứa trẻ

hoàn toàn bình thường, nhưng không vì thế mà nỗi ám ảnh về đứa con đuôi lợn được

bôi xoá trong kí ức của bà. Sống hơn trăm tuổi, Úrsula luôn cố gắng duy giữ đạo đức

cho đám con cháu của mình, để họ luôn “mở to mắt” nhìn nhau để không chung đụng

xác thịt với những người cùng máu huyết, giữ cho dòng họ Buendía được trường tồn

và phát triển, xua tan đi bóng ma của nỗi hoà nhớ và sự cô đơn. Thế nhưng cụ đã

không thể sống đến cuối đời mà ngăn cản Amaranta Úrsula và Aureliano Babilonia

trong sự mịt mù về huyết thống, trong mê cung loạn luân của dòng họ, cả hai đã yêu

nhau mãnh liệt và hoài thai một hài nhi. Đứa trẻ được hoài thai bằng tình yêu và

những ước vọng của ba mẹ về một tương lai tươi sáng nhưng oái ăm thay nó lại là sự

hiện tồn, ứng nghiệm cho lời nguyền tổ tông qua hình hài đứa trẻ có cái đuôi lợn. Đó

là sự hiện hình đầy đủ nhất những thói trái tính trái nết, dâm dật, loạn luân, ích

kỉ…của tất cả bảy thế hệ dòng họ Buendía. Amaranta Úrsula và Aureliano Babilonia

hầu như là một sự lặp lại hình ảnh của José Arcadio Buendía và Úrsula Iguarán, hai

kẻ cô đơn đầu tiên của dòng họ đã loạn luân để khởi đầu cho một tương lai mới,

nhưng ngay chính trong sự mở đấu ấy đã báo hiệu cho điểm kết thúc. Cái chết của hai

vợ chồng Aureliano Babilonia và đứa trẻ đã kết thúc, khép lại thiên truyện như một

vòng tròn khép kín, trùng lặp, bế tắc của những kẻ cô đơn. Mở đầu truyện là câu

chuyện loạn luân với nỗi ám ảnh về tội lỗi, kết thúc truyện cũng là một câu chuyện

loạn luân của những kẻ cùng huyết thống. Tạo cho tác phẩm kết cấu như một vòng

tròn, đầu cuối tương ứng: chạy trốn tội loạn luân- đi lập làng mới- phạm tội loạn luân

và bị tuyệt diệt. Điều này phù hợp với ý nghĩa của câu chuyện “Trăm năm cô đơn”,

trăm năm gợi lên một đời người, một vòng quay bất tận vô cùng, không lối thoát của

những mê lộ. Trong đó cô đơn tạo nên mê lộ hay chính trong sự loay hoay tìm lối

thoát của những mạng nhện mê lộ con người lại càng trở nên cô đơn và khép kín? Có

lẽ là cả hai, cô đơn tạo ra mê lộ và nhờ kết cấu mê lộ mà cô đơn càng trở nên khắc

khoải, không lối thoát.

Sự tồn tại và tuyệt diệt của dòng họ Buendía gắn rất chặt với số phận của làng

Macondo. Macondo, được gợi hứng trong một lần G.Márquez cùng mẹ đi tàu hỏa

quay về Aracataca để bán ngôi nhà cũ của ông ngoại, địa danh Macondo xuất hiện bất

ngờ trước mắt tác giả khi nhìn thấy tên của một đồn điền chuối. Tuy nhiên đó không

phải là cái tên bắt nguồn từ tên gọi Makondos của một bộ tộc du mục ở Tanganyika,

hay lả tên của một loài cây vùng nhiệt đới khá giống với cây gạo mà Macondo là địa

danh nên thơ của một giấc mơ. Lựa chọn hình tượng có tính chất phiếm chỉ đó,

G.Márquez đã dụng ý để cho Macondo “luôn luôn tồn tại một không gian huyền

thoại”(Phan Tuấn Anh, Hình tượng Macondo trong “Trăm năm cô đơn”- từ góc nhìn

văn hóa Mĩ Latinh,Tạp chí Sông Hương). Tính chất huyền thoại của Macondo không

chỉ tạo ra một không gian nghệ thuật đặc biệt , giọng điệu trữ tình nên thơ trong tác

phẩm, mà quan trọng hơn, đó là dụng ý xây dựng một hình tượng “mẫu gốc” cho mọi

địa danh, mọi xứ sở ở Mỹ Latin, thể hiện tham vọng phản ánh mọi mặt cuộc sống của

các dân tộc Mĩ Latin cũng như biểu trưng cho sự phát triển và tuyệt diệt của loài

người, đặt trong tiến trình lịch sử trải qua bốn chặng chính là khai lập - phát triển -

thịnh vượng và suy tàn, từ “lịch sử hồng hoang của con người cho đến thời hậu hiện

đại”, “Macondo giờ đây đã trở thành một thứ tốc ký về mối họa chậm tiến truyền kiếp

của Mỹ Latinh hay đồng thời cho những cái lập dị nên thơ mệnh danh là “Thế giới

thứ ba” của nó [13]. Macondo chính vì thế là hình tượng mang tính chất cảnh tỉnh

nhân loại, cùng nền văn minh hiên đại với lối sống cô đơn, cá nhân, ích kỉ.

Macondo trong giấc mơ của José Arcadio Buendía là hình ảnh của một thành

phố đông vui với những ngôi nhà có tường kính mọc lên. Làng Macondo thời ấy “là

một làng gồm vài chục nóc nhà tranh vách đất dựng bên bờ một con sông nước trong

như pha lê, ào ào chảy qua những tảng đá nhẵn thín, trắng bong, to như quả trứng

thời tiền sử. Thế giới lúc ấy còn ở buổi hồng hoang, chưa có tên gọi các đồ vật và để

gọi chúng cần phải dùng ngón tay chỉ đích vào từng cái một”[11/23], là một ngôi

làng yên bình, hạnh phúc nhất thế gian, nơi chưa một ai ngoài ba mươi tuổi, và chưa

hề có người chết. Họ sống chan hoà, biết làm vui cuộc sống của mình bằng thanh âm

réo rắt, líu lo của chim tổ treo, chim hoàng yến, chim cổ đỏ, chim axuleho, họ không

phạm tội nên không cần quan cai trị và cha cố. José Arcadio Buendía, người khai phá

và điều hành vùng đất này trong sự công bằng của một thị tộc công xã nguyên thủy,

trong đó ông hệt như một tù trưởng thông thái và anh minh. Macondo do đó được tạo

dựng nên với tư cách là một “tân thế giới” thu nhỏ, hoang sơ, yên bình. Với

Macondo, Márquez như muốn tái hiện lại cả lịch sử của nhân loại từ buổi hồng

hoang, sơ khởi.

Theo tiếng chim hót, những người digan tìm đến Macondo, đem theo những

“phát minh vĩ đại”: đá nam châm, hàm răng giả, máy chụp ảnh, nước đá, kính viễn

vọng… những điều vốn dĩ đã quá xưa cũ với thế giới nhưng lại được cư dân

Macondo hào hứng đón nhận trong tâm trạng vừa sợ hãi và kính phục. Từ đó cứ

tháng ba hàng năm, những người digan lại đến làng Macondo để quảng cáo cho

những phát minh kì diệu của mình. Trong giai đoạn này, người có sức ảnh hường lớn

lao đến làng Macondo là vị tộc trưởng José Arcadio Buendía và vợ mình, Úrsula

Iguarán. Chính bà trong chuyến đi tìm José Arcadio thất bại đã phát hiện ra con

đường giao thông với thế giới bên ngoài mà trước đó, José Arcadio Buendía không

tìm thấy.

Từ đây lịch sử Macondo mở sang trang mới, kinh tế phát triển, mọi người hào

hứng, mê say làm giàu. Hàng hoá các nơi trên thế giới bắt đầu xuất hiện ở Macondo,

xuất hiện của những công ty nhập khẩu và các sản phẩm đa quốc gia: giường tủ sản

xuất tại Viên, gương kính sản xuất ở xứ Bohemia, bát đĩa do công ty Tây Ấn sản

xuất, khăn phủ bàn Hà Lan…. Tiêu biểu cho những điều kiện phát triển của tư bản

quốc tế lúc này là sự xuất hiện của nhân vật Pietro Crespi - chuyên gia người Italia

trong việc lắp ráp, chỉnh sửa và dạy đàn Piano. Đây là giai đoạn thanh bình nhất của

Macondo, cho dù sự phát triển về mặt kinh tế là chỉ mới khơi mào. Những thiết chế

nhà nước đầu tiên cũng bắt đầu xuất hiện (quan thanh tra Moscote) để cai trị về mặt

luật pháp, nhà thờ (cha xứ Nicano) cai quản về phần hồn…Macondo không còn biệt

lập với thế giới bên ngoài mà đã bắt đầu kết nối vào hệ thống kinh tế thế giới, trở

thành vùng đất trù phú. Chủ thể của giai đoạn này đó là Aureliano Buendía, vị đại tá

đã phát động ba mươi hai cuộc chiến tranh bị thất bại hoàn toàn. Từ sự kiện này,

Macondo bắt đầu bước vào những giai đoạn thăng trầm, thấm đẫm máu và nước mắt

với những cuộc nội chiến, bãi công và sự tàn phá màu nhiệm của thiên nhiên. Chủ thể

của những giai đoạn này là hai anh em song sinh José Arcadio Segundo, Aureliano

Segundo và Aureliano Babilonia.

Trong suốt thời gian này những người digan không hề xuất hiện. Thế nhưng

trước khi Macondo bị trận cuồng phong xoá xổ thì những người digan lại xuất hiện

sau gần một trăm năm như báo hiệu cho sự huỷ diệt sắp đến. Macondo lúc này trở lại

là ngôi làng yên bình như ngày xưa, những kẻ ngoại quốc đã bỏ đi, để lại sau lưng

Macondo nghèo nàn, xơ xác, khánh kiệt và lãng quên. Dân làng hầu như biệt lập với

thế giới bên ngoài, như những ngày đầu tiên dưới sự thành lập của José Arcadio

Buendía. Những người digan “lại vào từng nhà và kéo theo những thỏi sắt đã nhiễm

từ, cứ như thể những thỏi sắt ấy thật sự là phát hiện mới nhất của các nhà thông thái

xứ Babilon, họ lại dùng thấu kính hội tụ khổng lồ để tập trung ánh sáng mặt trời; và

chẳng phải là không có người há hốc mồm nhìn những chiếc xoong bị đổ và những

chiếc chảo lăn long lóc, chũng chẳng thiếu kẻ bỏ ra năm mươi xu để kinh ngạc trước

việc một cô gái digan tháo hàm răng giả ra rồi lắp lại lắp vào”[11/403]. Họ lại

quảng cáo những thứ xưa cũ như cách đây hàng trăm năm đã từng làm cho cả làng

phải hào hứng và sợ hãi. Tất cả dường như đánh mất ý niệm về sự chảy trôi của thời

gian, tựa hồ thời gian là một vòng tròn sau gần một trăm năm chuyển động đã đi đến

điểm trùng lặp ban đầu của nó để lại bắt đầu một chu kì khép kín mới. Thế nhưng

điều này mãi mãi không thể xảy ra vì sau một cơn mưa kéo dài bốn năm, mười một

tháng và hai ngày, và tiếp đó là suốt mười năm hạn hán không có lấy một giọt nước,

Macondo đã bị nhấn chìm và xóa sạch trong một cơn cuồng phong bão táp của số

phận và những dòng họ bị kết án trăm năm cô đơn không có dịp may lần thứ hai để

trở lại làm người trên mặt đất này. Macondo, thành phố với những ngôi nhà tường

kính xuất hiện vào đầu tác phẩm trong giấc mơ nghe rất nên thơ của José Arcadio

Buendía, thực chất là “thành phố của những tấm gương ( hay đúng hơn thành phố

của những ảo ảnh)”, phi thực [11/483] đã mở đầu và kết thúc thiên truyện cùng với

sự xoá sổ của dòng họ Buendía bị kết án trăm năm cô đơn, như một kí ức thời gian bị

tai nạn, đã chệch khỏi vòng quay của tự nhiên, tồn tại, dừng lại một điểm duy nhất tại

làng Macondo. Sau trận cuồng phong, Macondo chỉ còn là một cùng đất trơ trọi như

điểm xuất phát ban đầu, thành phố của những ảo ảnh. Điều này đã tạo cho tác phẩm

kiểu kết cấu vòng tròn đặc biệt với điểm mở đầu và kết thúc tương ứng nhau, lặp lại

một cách khép kín bất tận.

Kết cấu bao giờ cũng gắn liền với nội dung cuộc sống, tư tưởng, ý đồ nghệ

thuật của tác giả. Bằng việc kết cấu tác phẩm là vòng tròn khép kín không lối thoát

như thế, nó đã góp phần biểu lộ sâu sắc chủ đề cô đơn của tác phẩm. Cô đơn có khác

gì một vòng tròn khép kín, khi ta sống tách rời mọi người, thu mình vào vỏ bọc vô

hình mà quẩn quanh, đối diện với chính mình. Vòng tròn cô đơn ấy chính là mê lộ

của sự vô tận, hỗn loạn và vĩnh cửu bởi những lối đi giống hệt nhau, lặp lại không lối

thoát. Qua nỗi cô đơn trong tác phẩm, “García Márquez đã khám phá những sự cô

đơn của cá nhân và của nhân loại ...” (Pelayo, Love in the Time of Cholera) trong thế

giới hậu hiện đại, đặc biệt là nỗi cô đơn của Mĩ Latin, một châu lục nghèo nàn, lạc

hậu và tù đọng phải đối mặt và giải quyết với hang loạt những thách thức trong thời

đại ngày nay. Sở dĩ tác phẩm được kết cấu như một vòng tròn vì thời gian của người

kể chuyện thứ hai trong “Trăm năm cô đơn” là thời gian “bị vấp váp và tai nạn”. Nó

không chuyển động tuyến tính mà chuyển động theo một vòng tròn với chu kì khép

kín như một chiếc đĩa quay, quay mãi, quay mãi vô tận, ứng với lời tiên tri: “người

đầu tiên của dòng họ bị trói vào một gốc cây và kiến đang ăn người cuối cùng của

dòng họ”. Người đầu tiên phát hiện ra điều này là cụ tổ José Arcadio Buendía, một

người điên minh triết, cụ đã mơ hồ cảm nhận được sự tai nạn của thời gian, nó mãi

mãi luôn là thứ hai và tháng ba. Chính vì thế mà cụ tổ đã dùng hết sức bình sinh để

hòng phá hỏng cỗ máy thời gian, trả nó về với quy luật tự nhiên nhưng bất thành. Từ

đó cụ chấp nhận sống bình lặng trong thế giới của riêng mình, thế giới cô đơn trong

những khoảnh khắc hiện tại và quá khứ được hòa quyện vào nhau một cách diệu kỳ

cho đến lúc chết. Cho mãi đến tận sau này những hậu duệ của cụ mới nhận ra điều

này. “Trong căn phòng nhỏ hẹp, nơi không bao giờ có gió khô, bụi đỏ và sự nóng

nực, Aureliano và José Arcadio Segundo nhớ lại hình ảnh cha truyền con nối về một

ông già đội chiếc mũ cánh quạ đang nói về thề giới ở đằng sau cánh cửa rất nhiều

năm trước khi họ ra đời. Cả hai cùng nhận ra rằng ở đó luôn là tháng ba và luôn

luôn là thứ hai, cũng khi đó, họ hiểu rằng cụ cố José Arcadio Buendía không phải

điên dại như những người trong gia đình kể lại, mà là nguời duy nhất trong gia đình,

với trí tuệ khá minh mẫn , đã mơ hồ một chân lí là thời gian cũng bị vấp váp và bị tai

nạn, bởi vậy nó có thể tự tan vỡ ra, và để lại trong phòng một mảnh đã được vĩnh cửu

hoá”[11/407]. Chính vì thời gian chuyển động vòng tròn và bị nạn tai như thế cho

nên lịch sử của dòng họ Buendía là một chuỗi dài những điều lặp đi lặp lại, như một

chiếc đĩa quay có thể quay mãi, quay mãi đến vô tận, nếu không có sụ hao mòn dần

dà vô phương cứu chữa của chiếc trục. Và lịch sử của làng Macondo cũng như thế,

luôn lặp đi lặp lại sự bất ổn về chính trị và nghèo nàn về kinh tế cho đến khi bị khánh

kiệt hoàn toàn. Điều này tạo ra những vòng quay trùng lặp bất tận, không lối thoát,

như một định mệnh nghiệt ngã.

3.3.2 Mê lộ - những vòng tròn nhỏ đồng dạng

Câu chuyện về dòng họ Buendía và làng Macondo là một vòng tròn lớn.

Những câu chuyện về số phận của mỗi nhân vật, mỗi thế hệ trong họ Buendía là

những vòng tròn nhỏ đồng dạng, những mảnh vụn thời gian đã được vĩnh cửu hóa

quay xung quanh trục chính của vòng tròn lớn. Chúng tiếp tục tạo ra một kiểu mê lộ

mới theo kiểu mê lộ của vua Salamon: “hình mê lộ ở trong các nhà thờ lớn là một

loạt các vòng tròn nhỏ đổng tâm, có một số chỗ đứt đoạn tạo thành một đường đi kì

dị khó tìm ra hướng phải đi theo, được gọi là mê lộ của vua Salamon”[17/592]. Và

trong “Trăm năm cô đơn”, “những thế hệ nối tiếp nhau theo quy luật vòng tròn với

những điểm khởi đầu và kết thúc na ná nhau, khởi đầu bằng loạn luân, kết thúc cũng

bằng loạn luân. Nó tựa như một bộ phim không có chuyển cảnh, chỉ có phóng to, thu

nhỏ một đối tượng nào đó, có thế thôi. Nói một cách hình tượng hơn, “Trăm năm cô

đơn”có cấu trúc của một fractal picture trên máy tính. Marquez dùng giọng kể của

mình cũng như người sử dụng máy tính bằng cách click vào mỗi điểm, mà ở đây có

thể hiểu là mỗi nhân vật, mỗi sự kiện để từ đó một không gian mới hiện ra và thoạt

nhìn không gian mới kia lại giống hệt không gian mẹ” [41]. Có được điều này là do

tác giả đã khéo léo sử dụng kĩ thuật đồng hiện thời gian tinh tế và những đoạn hồi ức

và phục bút tài tình. Cứ như thế cuộc đời của các nhân vật hiện ra một cách gần như

đồng thời với nhau theo một quy luật vòng tròn lặp lại.

Tiêu biểu cho những vòng tròn ấy là cuộc đời của đại tá Aureliano Buendía.

Mở đầu câu chuyện trăm năm của dòng họ Buendía là những hồi ức của đại tá khi

đứng trước đội hành hình "rất nhiều năm sau này, trước đội hành hình, đại tá

Aureliano Buendia đã nhớ lại buổi chiều xa xưa ấy, cái buổi chiều cha chàng dẫn

chàng đi xem nước đá....", rồi như những thước phim quay chậm, ngược dòng thời

gian, tác giả kể lại toàn bộ cuộc đời của nhân vật từ lúc sinh ra cho đến khi qua đời.

Thời thơ ấu và niên thiếu của Aureliano Buendía trôi qua lặng lẽ và bình yên ở làng

Macondo, trong xưởng kim hoàn của cha để sản xuất những con cá vàng, chẳng mảy

may quan tâm với thế giới bên ngoài. Nhưng vì bất bình với những hành động gian

lận của phái Bảo hoàng trong cuộc bầu cử, Aureliano Buendía đã phát động ba mươi

hai cuộc chiến đẫm máu trong cô đơn để chống lại nhưng cuối cùng thất bại hoàn

toàn. Lúc Aureliano ở đỉnh cao của quyền lực, tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang

vùng duyên hải, chàng tự tách mình ra khỏi cộng đồng bằng vòng tròn bất khả xâm

phạm với mọi người xung quanh, “người mặc chiếc áo khoác làm bằng da hổ vẫn giữ

nguyên vuốt sắc khiến người lớn phải kính nể và trẻ con phải sợ hãi. Đó là lúc chàng

quyết định không một ai kể cả Úrsula, được đến gần chàng ba mét. Với những mệnh

lệnh ngắn gọn và kiên quyết, chàng quyết định vận mệnh thế giới ngay từ trung tâm

cái vòng tròn do những kẻ tuỳ tùng lấy phấn trắng vẽ ở bất kì nơi nào chàng đến và

chỉ một mình chàng bước vào” [11/207]. Quyền lực và cái tôi đầy kiêu ngạo đã vẽ

nên vòng tròn khép kín chôn vùi, lưu đày vĩnh viễn trái tim sôi nổi của Aureliano vào

cõi hỗn mang của nỗi cô đơn, khiến chàng thực sự đang mục ruỗng ngay trong lúc

còn sống.

Sau hai mươi năm binh nghiệp xông pha về già Aureliano lại sản xuất những

con cá vàng như thời trai trẻ. Việc tập trung sức lực tỉ mỉ để khảm, dát những con cá

vàng đã trả lại cho ngài một tinh thần thanh thản, không mảy may ham muốn, xúc

cảm với mọi người xung quanh và chấp nhận cô đơn như một phần tất yếu của cuộc

sống. Việc sản xuất này cũng rất đặc biệt “ngài đại tá hết đổi những con cá vàng lấy

những đồng tiền vàng, để rồi sau đó lại biến những đồng tiền vàng thành những con

cá vàng và cứ như thế luân hồi mãi theo cách thức: càng phải lao động nhiều hơn khi

bán được nhiều hơn để thỏa mãn cái vòng lẩn quẩn vô vọng” [11/278]: sản xuất- tiêu

thụ - sản xuất. Với ngài việc làm những con cá vàng không phải để kinh doanh mà để

tìm lại sự bình yên, thanh thản trong tâm hồn, để quên mọi việc trên đời, quên đi nỗi

buồn thất bại của chiến tranh trong khi thời gian bình lặng trôi qua trong những quay

vòng bất tận. Từ khi biết được rằng thiên hạ mua những con cá vàng của ngài như

một di vật vô giá của một bậc vĩ nhân thì đại tá thôi không bán những con cá vàng

nữa. Mỗi ngày chỉ làm hai con, và khi nào đủ số hai mươi nhăm con ngài lại đem

nung chảy ra để làm lại từ đầu như một vòng tròn lẩn quẩn bất tận và khép kín, nói

theo cách của Fernanda del Carpio thì đó là để “thoả mãn cái tật làm rồi phá của

dòng họ Buendía”. Như thế cuộc đời đại tá Aureliano là một vòng tròn: khi trẻ sản

xuất những con cá vàng-tham gia chiến tranh-về già lại sản xuất những con cá vàng.

Với vòng tròn của đại tá Aureliano thì nó còn là “một thông điệp về sự khao khát

kiếm tìm tâm hồn trẻ thơ trong thế giới đầy ác độc, một nỗi khao khát được quy hồi

về tình trạng nguyên sơ. Vòng tròn của những con cá vàng dường như hàm chứa ẩn ý

về sự vô nghĩa của cuộc sống, một sự phi lý mang dáng dấp huyền thoại Sisyphe”

[41].

Số phận những nhân vật khác của dòng họ Buendía tiếp tục tạo ra những vòng

tròn đồng dạng với những cái tên trùng lặp: Arcadio, Aureliano, Amaranta. Những

cái tên trùng lặp này tiếp tục tạo ra những tuyến nhân vật song trùng. Những

Aureliano thì âu sầu, cô đơn nhưng rất đỗi thông minh, là người thiên về những giá

trị tinh thần hơn đời sống vật chất. Những Arcadio thì táo gan, sôi nổi, mạnh mẽ,

thiên về cuộc sống bản năng và ham muốn. Những Amaranta có một trái tim yêu

đương sôi nổi nhưng vì đều không thắng được nỗi sợ hãi của số phận. Dù mỗi người

một vẻ khác nhau nhưng tất cả nhân vật đều là những kẻ cô đơn, đang chạy trốn côn

đơn trong vô thức và ý thức. Họ đã lang thang qua những mê cung của tưởng tượng,

trong nỗ lực thoát khỏi nỗi cô đơn nhưng đều bất thành. Cuộc đời các nhân vật với

điểm khởi đầu và kết thúc na ná giống nhau đã tạo cho tác phẩm một sự huyễn hoặc

kì lạ, một sự mịt mù lẫn lộn trong một mê cung rối rắm. Để làm rõ điều này, chúng

tôi tiến hành tóm tắt cuộc đời các nhân vật từ lúc sinh ra đến khi trưởng thành và qua

đời vào bảng sau:

Tuyến nhân vật nam:

Tên nhân vật Lúc nhỏ Trưởng thành Cuối đời

Bị trói vào gốc José Arcadio Có quan hệ huyết -Cưới Úrsula Iguarán,

cây dẻ, sống cô Buendía (thế thống với Úrsula người cùng huyết thống,

phạm tội loạn luân. đơn cho đến hệ thứ nhất) Iguarán.

khi chết -Bỏ làng đi tìm vùng đất

mới, lập làng Macondo.

-Say mê nghiên cứu

khoa học.

-Sống trái tính trái nết, di

truyền nỗi cô đơn và

niềm hoài nhớ cho đám

con cháu sau này

Chết đột ngột José Arcadio Sinh ra với cái “cơ -Quan hệ tình dục với

bởi một phát (thế hệ thứ thể” quá cỡ- hiện Pilar Ternera và có với

súng bí ẩn. thị một đứa con trai. hai) thân cho đời sống

bản năng, tình dục, -Bỏ nhà đi theo người ám ảnh Úrsula như digan, vòng quanh thế cái đuôi lợn. giới 65 lần.

- Về nhà cuới em gái

nuôi của mình, phạm tội

loạn luân.

- Sản xuất những con cá -Trở lại Sản Đại tá - Hoài thai với tiếng

vàng. xuất những con Aureliano gầm sâu lắng từ

cá vàng. Buendía (thế trong bụng mẹ- dấu -Quan hệ tình dục với hệ thứ hai) hiệu của sự bất lực Pilar Ternera và nhiều cô -Chấp nhận cô tình yêu, là một dạng gái khác, có với họ 18 đơn trong tuổi đuôi lợn. người con trai. già hiu quạnh.

-Sinh ra với đôi mắt -Phát động ba mươi hai âu sầu, cô đơn và có cuộc chiến chống lại phe tài tiên tri. Bảo hoàng nhưng đều

thất bại.

Arcadio (thế -Con vô thừa nhận -Nổi máu dê với Pilar Bị phe Bảo

Ternera, mẹ của mình. hệ thứ ba) của José Arcadio và hoàng tử hình,

Pilar Ternera. Bị bỏ khi vừa được -Quản lí làng Macondo, làm cha rơi, cô đơn từ lúc độc tài, chuyên quyền. nhỏ

-Sinh ra với bộ mông

đàn bà.

Aureliano - Con của đại tá và -Tư thông với mẹ và cô Bị phe Bảo

Pilar Ternera. José (thế hệ ruột: hoàng bắn PilarTernera,

thứ ba) chết. Amaranta, phạm tội loạn -Sinh ra với đôi mắt luân. âu sầu, cô đơn.

-Tham gia chiến tranh,

đào ngũ về nhà vì

Amaranta.

17 Aureliano -Con của ngài đại tá - Chỉ có hai trong số Đều bị phe

(thế hệ thứ và những người phụ mười bảy anh em ở lại Bảo hoàng giết

ba) nữ xa lạ trong thời làng Macondo lập chết gần như

trong một đêm. nghiệp. gian ông tham gia

chiến tranh.

-Sinh ra đều cô đơn

và đôi mắt âu sầu.

José Arcadio -Là anh em song - Kéo chuông nhà thờ -Giải mã

Segundo (thế sinh với Aureliano những tấm da -Quan hệ tình dục với thuộc. hệ thứ tư) Segundo, giống nhau Petra Cotes. như hai cỗ máy. - Sống cô đơn, - Chơi gà chọi, dẫn gái -Tráo đổi tên từ nhỏ. sợ hãi và ám làng chơi về làng ảnh cái chết

trong phòng cụ -Lãnh đạo công nhân

Melquíades. biểu tình.

- Là người duy nhất sống

sót, bị ám ảnh bởi cái

chết của hơn ba ngàn

công nhân.

Về già, giống Aureliano -Là anh em song - Quan hệ tình dục với

Petra Cotes. người anh em sinh với José Segundo (thế

sinh đôi của Segundo, họ giống hệ thứ tư) - Sống dâm bôn, trác tác, mình như nhau như hai cỗ vật chất. máy. trước: cô đơn,

hoài nhớ. -Tráo đổi tên từ nhỏ

José Arcadio -Từ nhỏ đã sống - Sang Ý học làm Giáo -Bị những đứa

hoàng nhưng bất thành. (thứ năm) trong nỗi cô đơn, sợ trẻ du thủ du

hãi. thực giết chết -Bỏ học về nhà, hoài để cướp vàng, nhớ Amaranta lúc chết bụng

trương phìh -Tìm thấy ba bao tải

nhưng lòng vẫn vàng, sống ăn chơi, thác

mơ tưởng về loạn nhưng cô đơn.

Amaranta.

Aureliano -Hoài thai trên sự nổi -Trước khi gặp Bị trận cuồng

Amaranta Úrsula, Babilonia(thế loạn của Renata phong chôn vùi

Aureliano Babilonia hệ thứ sáu) Remedios, là đứa cùng với làng

con hoang, vô thừa sống cô đơn khép kín với Macondo

nhận,nỗi tủi nhục mọi người xung quanh.

của dòng họ. Suốt ngày ở trong phòng

cụ Melquíades giải mã -Lớn lên trong sự thờ những tấm da thuộc. ơ, ghẻ lạnh của bà

ngoại và sự mịt mù -Yêu Amaranta Úrsula,

về huyết thông của dì ruột của mình, loạn

mình. luân, sinh ra đứa con

đuôi lợn. -Cô đơn,ưa âu sầu và

rất thông minh. -Là người giải được điều

tiên tri bí ẩn trên tấm da

thuộc của Melquíades.

Aureliano(thế -Là đứa trẻ duy nhất Bị kiến ăn thịt,

hệ thứ bảy) sau gần một trăm ứng với lời

năm được hoài thai nguyền dòng

bằng tình yêu nhưng họ

lại mịt mù về huyết

thống, loạn luân của

cha mẹ

-Sinh ra với cái đuôi

lợn- con vật huyền

thoại, xoá sổ sự tồn

tại của dòng họ.

Tuyến nhân vật nữ:

Tên nhân vật Lúc nhỏ Trưởng thành Qua đời

- Tự quyết định Úrsula Có quan hệ huyết -Lấy chồng cùng huyết

ngày giờ để Iguarán (thế thống với José thống, phạm tội loạn

luân. chết. Chết vì hệ thứ nhất) Arcadio Buendía

tuổi già, không - Bỏ làng đi tìm vùng đất bệnh tật. mới, sang lập làng

Macondo.

-Là trụi cột của gia đình,

là người duy giữ đạo đức

của dòng họ qua nhiều

thế hệ.

-Sống cô đơn với người

chồng và đám con cháu

trái tính trái nết.

Rebecca (thế Không có quan hệ -Cưới anh nuôi, phạm tội Chết trong tuổi

loạn luân. hệ thứ ba) huyết thống với già cô đơn

dòng họ Buendía, là -Sau khi chồng mất, con nuôi của Úrsula. sống cô đơn, tách biệt

với thế giới bên ngoài.

Amaranta Là một cô bé có -Được thần chết -Tị hiềm với hạnh phúc

(thế hệ thứ nhan sắc bình cho phép được của Rebecca, đầu độc

thường ba) quyết định cái Rebecca nhưng vô tình

chết của mình. giết chết Remedios.

-Trước khi chết, -Quan hệ thân xác với

cháu trai, loạn luân. Amaranta mở

lòng mình với -Sống cô đơn, ích kỉ cho những người đến cuối đời. xung quanh.

Remedios- Là người sở hữu sắc Sống tự nhiên như đất Bay về trời

Người đẹp đẹp tự nhiên thần trời, cây cỏ, chỉ cần một

(thế hệ thứ tư) thánh, vô cùng ngây tình yêu chân thành là có

thơ. thể chiếm được trọn vẹn

trái tim nàng.

Renata -Sống trong sự khắc - Yêu và hiến thân cho - Sống im lặng,

nghiệt của mẹ. Mauricio Babilonia. Remedios cô đơn cho đến

(Meme) (thế chết ở một tu -Là người vui tươi, - Có con, bị mẹ cho vào hệ thứ năm) viện xa xôi, hẻo hoạt bát. tu viện. lánh.

Amaranta -Xinh đẹp như - Sang Bỉ học, trở về nhà Chết sau khi

Úrsula (thế hệ Remedios- Người khi gia đình và xóm làng sinh con.

bị khánh kiệt. thứ sáu) đẹp và duyên dáng

như Úrsula. - Có quan hệ thân xác

với Aureliano Babilonia,

cháu ruột cua mình, loạn

luân.

-Đẻ ra đứa con đuôi lợn.

Qua bảng tóm tắt cuộc đời các nhân vật trên đây, chúng ta có thể thấy cuộc đời

các nhân vật từ lúc sinh ra cho tới khi mất đều là những vòng tròn na ná giống nhau:

sinh ra cô đơn- trưởng thành sống trái tính trái nết: ích kỉ, dâm dật, vật chất, loạn luân

nhưng vẫn không thoát được nỗi cô đơn; những thói trái tính trái nết này cũng ghê sợ

như những cái đuôi lợn, tất cả thành viên của dòng họ Buendía đều tồn tại một cái

đuôi lợn - qua đời trong cô đơn và hoài nhớ. Điều này tạo ra những vòng tròn lặp lại,

khép kín như số phận đã được định đoạt của những kẻ cô đơn. Tất cả họ đều có đầy

đủ trí tuệ và sức khoẻ cần thiết, nhưng thiếu trái tim yêu đương sôi nổi. Tình yêu

chân chính mới là cái cần thiết để giúp họ thoát khỏi cảnh cô đơn trăm năm. Cô đơn

được hiểu như là mặt trái của sự yêu thương và sẻ chia trong cuộc sống. Nếu chúng ta

sống ích kỉ, khép kín, đánh mất bản chất người thì cuộc đời chúng ta có gì khác với

những thành viên của dòng họ Buendía. Truyện có thông điệp kêu gọi mọi người hãy

sống đúng bản chất của mình, vượt qua mọi định kiến, thành kiến cá nhân để hòa

đồng với gia đình, với xã hội để “...sáng tạo ra một thiên huyền thoại khác hẳn. Một

huyền thoại mới, nơi không ai bị kẻ khác định đoạt số phận của mình, ngay cả cái

cách thức chết, nơi tình yêu có lối thoát và hạnh phúc là cái có khả năng thực sự và

nơi những dòng họ bị kết án trăm năm cô đơn cuối cùng và mãi mãi sẽ có vận may

lần thứ hai để tái sinh trên mặt đất này...” [8/713].

KẾT LUẬN

1. Song trùng là một biểu tượng xuất hiện khá sớm trong văn hóa và văn học

nhân loại. Đó là sự giống nhau, lặp lại của những cặp đôi sự vật. Song trùng không

chỉ xuất hiện trong hình ảnh các sự vật mà còn ở cả con người qua sự hình tượng hóa

việc phân đôi của hồn và xác, bóng và hình…nhằm thể hiện một cái tôi khác vừa

giống ta, vừa không phải là ta đang cùng tồn tại. Nó thể hiện phần đối nghịch, sự bổ

sung của chủ thể. Đi vào thế giới văn chương, song trùng được các nhà văn sử dụng

như những biểu tượng độc đáo, tạo ra những tác phẩm thú vị nhằm thể hiện thế giới

bản ngã phức tạp của con người.

Trong kiệt tác “Trăm năm cô đơn”, G. Márquez cũng sử dụng song trùng và

tạo ra những hiệu quả nghệ thuật mới mẻ. Nghiên cứu song trùng trong “Trăm năm

cô đơn” chúng tôi nhận thấy song trùng của G. Márquez không chủ yếu ở phương

diện biểu tượng mà là một hiện tượng. Những hình ảnh, chi tiết, sự việc trong tác

phẩm được tác giả sử dụng lặp đi lặp lại, nhưng sự lặp lại này không phải hoàn toàn

so với mẫu gốc mà chúng được lặp lại ở những trường hợp, bối cảnh, ngữ cảnh khác

nhau, tạo ra những biến điệu, biến thái rất đa dạng và phong phú. Chính điều này đã

tạo ra hiện tượng song trùng thú vị cho tác phẩm.

2. Tiếp cận hiện tượng song trùng trong “Trăm năm cô đơn” chúng tôi nhận

thấy trước hết song trùng là một cảm quan về thế giới của tác giả, cảm quan về lịch

sử Colombia và Mĩ Latin với việc lặp đi lặp lại những điều đau buồn và bất ổn. Chính

cảm quan hiện thực này đã chi phối mạnh mẽ đến hệ thống nhân vât và kết cấu của

tác phẩm.

Nhân vật tồn tại từng cặp đôi song song nhau qua bảy thế hệ. Nhân vật thế hệ

trước được lặp lại một phần hoặc hoàn toàn ở thế hệ sau bởi tên gọi, kí ức và những

biến cố cuộc đời. Nhưng họ vẫn có những nét riêng độc đáo trong những đặc điểm

chung của dòng họ. Sự lặp lại này tạo ra hai tuyến nhân vật nam quan trọng của tác

phẩm: Arcadio và Aureliano, hai tuyến nhân vật này vừa giống vừa khác nhau. Qua

sự trùng lặp vô cùng này, G. Márquez không chỉ thể hiện sự ám ảnh và nỗ lực vượt

thoát cô đơn của các nhân vật để khẳng định cô đơn là một phần tất yếu của cuộc

sống mà quan trọng hơn, ông muốn hướng đến phản ánh và giải thích những biến

động, bi kịch xã hội, lịch sử Colombia và châu Mĩ Latin là một chuỗi dài những điều

đau buồn lặp lại. Như thế nhân vật song trùng trong tác phẩm của G. Márquez có

những biến tấu riêng so với những nhà văn khác, ông không chủ trọng vấn đề tâm lí,

bản ngã của nhân vật mà chủ yếu thông qua họ hướng đến những vấn đề hiện thực

cuộc sống.

Không những chi phối nhân vật, song trùng còn chi phối đến hệ thống kết cấu

của tác phẩm.

Thứ nhất, tác phẩm được kết cấu theo kiểu cặp đôi gồm hai tuyến truyện của

văn bản một và văn bản hai vừa tồn tại song hành, vừa có những đoạn đan xen, xoắn

quặn, đan bện vào nhau tạo ra mối liên kết chặt chẽ không thể tách vỡ.

Thứ hai, tác phẩm được kết cấu theo kiểu vòng tròn, những vòng tròn nhỏ đồng

tâm giống nhau quay vĩnh viễn trong một vòng tròn lớn, câu chuyện của dòng họ

Buendía và ngôi làng Macodotạo đã ra những mê lộ trùng lặp phức tạp hướng đến

chủ đề cô đơn, con người và lịch sử xã hội Mĩ Latin.

Từ những kiến giải về nghệ thuật xây dựng nhân vật và kết cấu của tác phẩm

chúng tôi cho rằng hiện tương song trùng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong

tác phẩm. Nó thể hiện quan niệm về con người và lịch sử của G. Márquez và cơ sở

chi phối thi pháp tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn”.

3. G. Márquez là một tác gia lớn của văn chương nhân loại với nhiều kiệt tác

bất hủ. Nghiên cứu các tác phẩm của ông là một thú vị lớn lao. Việc tìm hiểu hiện

tượng song trùng trong “Trăm năm cô đơn” có thể xem là bước đầu cho những

nghiên cứu sâu, có hệ thống hơn về hiện tượng này trong toàn bộ tác phẩm của nhà

văn. Vì vậy, nếu có cơ hội phát triển đề tài này, chúng tôi dự định sẽ mở rộng phạm

vi nghiên cứu sang những tác phẩm khác của ông trong sự so sánh và đối chiếu chặt

chẽ để thấy được nét tương quan và dị biệt của chúng. Từ đó có cái nhìn đầy dủ, trọn

vẹn hơn về tầm ảnh hưởng của song trùng trong tác phẩm của G. Márquez.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. Tài liệu tham khảo Tiếng Việt

Bùi Phụng (2000), Từ điển Việt –Anh, Nxb VHTT. 1.

Borges Jorge Louis (2001), Tuyển tập, Nguyễn Trung Đức dich, Nxb Đà 2.

Nẵng.

Borges Jorge Louis (2009), Bản ngã song trùng, Hoàng Ngọc Tuấn dịch. 3.

Đặng Anh Đào ( 2001), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện 4.

đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

Đào Ngọc Chương (2003), Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của Ernest 5.

Hemingway, Nxb Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh.

Đào Ngọc Chương (2008) Phê bình huyền thoại, Nxb Đại học Quốc gia 6.

Tp Hồ Chí Minh.

Đào Ngọc Chương (2010), Truyện ngắn dưới ánh sáng so sánh, Nxb 7.

Văn hoá thông tin, Tp.Hồ Chí Minh.

Đoàn Tử Huyến chủ biên (2006), Các nhà văn giải Nobel, Nxb Giáo 8.

Dục.

Dostoevski (2011), Anh em nhà Karamazov, Phạm Mạnh Hùng dịch, 9.

Nxb Văn học.

10. Dostoevski (2010), Tội ác và hình phạt, Cao Xuân Hạo-Cao Xuân Phố

dịch, Nxb Văn học.

11. Gabriel García Márquez (2003), Trăm năm cô đơn, Nguyễn Trung Đức

dịch, Nxb Văn học, Hà Nội.

12. Gabriel García Márquez (2007), Sống để kể lại, Lê Xuân Quỳnh dịch,

Nxb Tổng Hợp Tp.Hồ Chí Minh.

13. Gerald Martin (2003), Trần Đăng Cao (dịch), Về thế giới của A. Mutis

và G.G. Márquez, Evăn. Com.vn (Cập nhật: 12-08-2010)

14. G.N.Poxpelôp (1998), Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nhiều người dịch,

Nxb Giáo dục, Hà Nội.

15. Hans Christian Andersen ( 2006), Truyện cổ Andersen, Mạnh Chương

dịch, Nxb Phụ nữ.

16. Hoàng Cẩm Giang (2010), Vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam

đầu thế kỉ XXI, Tạp chí Văn học, số 4.

Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), Từ điển biểu tượng văn hóa 17.

thế giới, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội.

Jean- Francois Lyotard ( 2007), Hoàn cảnh hậu hiện đại, Ngân Xuyên 18.

dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

19. Lại Nguyên Ân ( 1991) 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội.

20. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ

văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

21. Lê Huy Bắc (1999), Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hemingway, Tạp

chí Văn học, số 8.

22. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn lí luận tác gia và tác phẩm, 2 tập, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

23. Lê Huy Bắc (2009), Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel García

Márquez, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

24. Lê Huy Bắc (2009), Đặc trưng truyện ngắn Anh Mỹ, Nxb ĐHSP, Hà

Nội.

25. Lê Nguyên Long (2009), Motif cái song trùng trong truyện ngắn Edgar

Allan Poe, Evăn.com.vn

26. Lê Tiến Dũng ( 2003), Lí luận văn học, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ

Chí Minh.

27. Lộc Phương Thủy chủ biên (2007), Lí luận-phê bình văn học thế giới thế

kỉ XX, 2 tập, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

28. Lưu Đức Trung chủ biên (2001), Chân dung các nhà văn thế giới, Nxb

Giáo dục, Hà Nội.

29. M.Bakhtin (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư tuyển

dịch và giới thiệu, Nxb Bộ Văn hoá Thông tin và Thể thao, Trường Viết văn Nguyễn

Du, Hà Nội.

30. M.Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp của Đôxtôiepxki, Trần Đình

Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

31. Nhiều tác giả ( 2003), Văn học hậu hiện đại tác giả, những vấn đề lí

thuyết, Nxb Hội nhà văn trung tâm văn hoá ngôn ngữ đông tây.

32. Nhiều tác giả (2004), Từ điển văn học, Nxb Thế giới, NxbTp.Hồ Chí

Minh.

33. Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Tp.Hồ Chí Minh.

34. Nguyễn Thái Hoà ( 2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo

Dục, Hà Nội.

35. Nguyễn Trung Đức (1995), Hiệu quả nghệ thuật của không- thời gian

trong tiểu thuyết trăm năm cô đơn của G.G Márquez,Tạp chí Văn học, số 1.

36. Nguyễn Trường Lịch, (1997), Huyền thoại và sức sống của huyền thoại

trong văn chương xưa và nay,Tạp chí Văn học, số 5.

37. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương Pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb

Khoa học Xã hội, Hà Nội.

38. Ngô Tự Lập (2003), Những đường bay của mê lộ, Nxb Hội nhà văn.

39. Orhan Pamuk (2008), Pháo đài trắng, Nguyễn Thị Kim Hiền dịch, Nxb

Trẻ.

40. Phạm Vĩnh Cư (2007), Sáng tạo và giao lưu, Nxb Giáo Dục.

41. Phan Tuấn Anh, Hình tượng Macondo trong “Trăm năm cô đơn”-từ góc

nhìn văn hóa Mĩ Latinh, Tạp chí Sông Hương. (Cập nhật: 11-12-2010)

42. Phương Lựu chủ biên (2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Hà Nội.

43. Phương Lựu (2001) Tìm hiểu lí luận phương Tây hiện đại, Nxb Văn học.

44. Phương Lựu ( 2010) Bước đầu tìm hiểu thi pháp hậu hiện đại, Tạp chí

Nhà văn, Số5.

45. René wellek- Austin Waren (1995), Huyền thoại là gì?,Tạp chí Văn học,

số9.

46. Sontag (1997), Hình nhân, Vũ Đình Bình dịch, Tạp chí Văn Học, số1.

47. Sudipta Datta, García Márquez là đỉnh cao của ngọn sóng, Hà Linh

dịch. (Nguồn: financialexpress), Evăn.com.vn.

48. Stefan Zweig (1996), Ba bậc thầy Đôxtôievxki, Balzăc, Đivkenx, Nguyễn

Dương Khư dịch, Nxb Giáo Dục.

49. Trần Đình Sử chủ biên (2008), Tự sự học-một số vấn đề lí luận và lịch

sử, 2 tập, Nxb ĐHSP.

50. Trần Thị Anh Phương (2006), Nhân vật trùng tên trong Âm thanh và

cuồng nộ và Trăm năm cô đơn, Tạp chí Văn Học, số 9.

51. Trịnh Huy Hóa biên dịch ( 2002), Đối thoại với các nền văn hóa:

Colombia, Nxb Trẻ.

52. Tzvetan Todorov (2008) Thi pháp văn xuôi, Đặng Anh Đào-Lê Hồng

Sâm dịch, Nxb Đại học Sư phạm tp. Hồ Chí Minh.

53. Viện thông tin Khoa học Xã hội (1999), Văn học Mỹ Latin, Viện thông

tin Khoa học Xã hội, Hà Nội.

54. William Faulkner (2008), Âm thanh và cuồng nộ, Phan Đan- Phan Linh

Lan dịch, Nxb Văn học.

B. Tài liệu tham khảo Tiếng Anh

55. Bell, Michael (1993) Gabriel García Márquez: Solitude and Solidarity,

Macmillan.

56. Bell-Virlada, Gene H., (1990),García Márquez: the Man and His Work,

University of North Carolina Press.

57. Gabriel García Márquez (1998), One hundred years of solitude, Gregory

Rabassa dịch –London: Everyman’s library.

58. Gabriel García Márquez: Abioglaphy, Ruben Pelayo,(2009), Green

Wood Press.

59. Harold Bloom (2007),Gabriel García Márquez, Bloom’s modern critical

views, Chelsea House.

Ian Johnston (1995), On Máquez’s One hundred years of solitude. 60.

Nguồn: http://records.viu.ca/~johnstoi/introser/marquez.htm (Truy cập:10-05-2011)

61. Michael Wood (1990), Gabriel García Márquez One Hundred Years Of

Solitude, Cup Archive.

62. Nelly S.González (2003), Bibliographic guide to Gabriel García

Márquez, 1992-2002, Green wood Publishing Group.

63. Gabriel García Márquez (2002), One hundred Years of Solitude, Spark

Notes Editors.

64. Gerald Martin (2009), Gabriel García Márquez:New reading, Cambrige

University Press.

65. George Plimpton (1984),Writer at work: sixth edotion,The Viking Press,

New York.

66. Senna (2010), CliffsNotes on 100 Years of Solitude.

Nguồn:. (Truy cập

ngày 18-07-2011)