BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Kim Ngân
TUYỂN TẬP TRINH TIẾT VÀ ĐẶC TRƯNG TRUYỆN NGẮN AKUTAGAWA RYUNOSUKE
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Kim Ngân
TUYỂN TẬP TRINH TIẾT VÀ ĐẶC TRƯNG TRUYỆN NGẮN AKUTAGAWA RYUNOSUKE
Chuyên ngành : Văn học nước ngoài
Mã số : 60 22 02 45
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH THÚY
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công
bố trong bất kì công trình nào khác.
Người viết luận văn
Lê Thị Kim Ngân
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn:
- Cô hướng dẫn, TS. Nguyễn Thị Bích Thúy
- Các thầy cô tổ Văn học Nước ngoài, phòng Sau đại học trường Đại học
Sư Phạm TPHCM
- Ban giám hiệu trường THPT Chuyên Bình Long, thị xã Bình Long,
Bình Phước
- Gia đình và bạn bè
đã tạo điều kiện thuận lợi, tận tình góp ý, giúp đỡ, động viên cho tôi trong
suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này.
TP.HCM, Ngày tháng 02 năm 2014
Người viết luận văn
Lê Thị Kim Ngân
Lớp Cao học VHNN khóa 22
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
DẪN NHẬP ...................................................................................................... 1
Chương 1. TRUYỆN NGẮN NHẬT BẢN ĐẦU THẾ KỈ XX VÀ “BẬC
THẦY TRUYỆN NGẮN” AKUTAGAWA RYUNOSUKE ..... 8
1.1. Đặc điểm truyện ngắn Nhật Bản đầu thế kỉ XX .................................... 8
1.1.1. Tình hình xã hội Nhật Bản đầu thế kỉ XX ...................................... 8
1.1.2. Đời sống văn học Nhật Bản đầu thế kỉ XX................................... 10
1.1.3. Tiến trình truyện ngắn Nhật Bản đầu thế kỉ XX ........................... 16
1.2. “Bậc thầy truyện ngắn” Akutagawa Ryunosuke .................................. 30
1.2.1. Cuộc đời bất hạnh ......................................................................... 30
1.2.2. Tầm vóc một nhà văn lớn .............................................................. 33
1.3. Tuyển tập truyện ngắn Trinh tiết.......................................................... 38
Chương 2. TUYỂN TẬP TRINH TIẾT VÀ NỖI BUỒN VỀ “SỰ THẤT
BẠI CỦA LÍ TRÍ” ...................................................................... 43
2.1. Sự bất tương đồng giữa lí trí và hiện thực ........................................... 43
2.1.1. Lí trí không phản ánh đúng hiện thực .......................................... 43
2.1.2. Lí trí không thể lí giải bí ẩn đời sống ............................................ 50
2.2. Sự khuất phục của lí trí trước hoàn cảnh và dục vọng ......................... 53
2.2.1. Hoàn cảnh quyết định lí trí ............................................................ 53
2.2.2. Dục vọng điều khiển lí trí ............................................................. 58
2.3. Hành trình sáng tạo nghệ thuật ............................................................ 71
2.4. Hành trình tìm kiếm giá trị nhân bản ................................................... 74
Chương 3. TUYỂN TẬP TRINH TIẾT VÀ NHỮNG CÁCH TÂN
NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN ............................................. 82
3.1.“Truyện cổ tích của thời hiện đại” ........................................................ 82
3.1.1. Phong vị cổ tích ............................................................................. 82
3.1.2. Sắc màu hiện đại ........................................................................... 85
3.2. Sự thể nghiệm kết cấu và sự ứng dụng kĩ thuật viết ............................ 88
3.2.1. Các dạng thức kết cấu ................................................................... 88
3.2.2. Kĩ thuật viết hiện đại ..................................................................... 94
3.3. Giọng điệu đa thanh ........................................................................... 100
3.3.1. Giọng điệu hài hước, châm biếm ................................................ 101
3.3.2. Giọng điệu hoài niệm, ám ảnh .................................................... 106
3.3.3. Giọng điệu triết lí, u buồn ........................................................... 109
KẾT LUẬN .................................................................................................. 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 117
1
DẪN NHẬP
1. Lí do chọn đề tài
Văn học xứ Phù Tang nổi tiếng thế giới với thơ haiku đẫm ý vị Thiền
và những tiểu thuyết tâm lí đặc sắc. Đồng thời, thể loại truyện ngắn góp phần
hoàn chỉnh diện mạo nền văn học Nhật Bản hiện đại. Trong số các nhà văn
tiên phong của thời kì này, Akutagawa Ryunosuke (1892-1927) là một phong
cách văn chương độc đáo: “Akutagawa Ryunosuke vụt qua trên nền trời văn
học Nhật Bản như một ngôi sao băng, thật sáng nhưng cũng thật ngắn ngủi.
Người ta trầm trồ ca ngợi tài năng ông và người ta tiếc thương cho số phận
ông” [2, tr.9].
Tuy hiện diện chỉ hơn mười năm nhưng Akutagawa đã cống hiến cho
sự nghiệp văn học dân tộc nhiều thành tựu. Giải thưởng văn chương mang tên
ông đến nay vẫn là một danh dự cao quý đối với những nhà văn Nhật Bản.
Cùng với Natsume Soseki và Mori Ogai, Akutagawa được đánh giá là một
trong những nhân tố cơ bản của nền văn học Nhật Bản hiện đại. Sáng tác của
ông rất đa dạng với các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, tự truyện, tiểu luận
phê bình. Trong đó, truyện ngắn chiếm vị trí quan trọng và gặt hái được nhiều
thành công hơn cả. Các tác phẩm thuộc thể loại này không chỉ khẳng định sự
nghiệp sáng tác của nhà văn mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát
triển văn học Nhật Bản.
Để tìm hiểu về Akutagawa và diện mạo của nền văn học Nhật Bản hiện
đại, đề tài của luận văn hướng đến mục tiêu nghiên cứu một cách có hệ thống
những đặc trưng thể loại truyện ngắn trong tuyển tập Trinh tiết. Sở dĩ chúng
tôi lựa chọn như vậy vì tuyển tập này đáp ứng những điều kiện cần thiết để
triển khai đề tài. Từ đó luận văn tìm ra những đặc trưng truyện ngắn
Akutagawa để thấy được đóng góp của nhà văn trong tiến trình hiện đại hóa
văn học Nhật Bản.
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những công trình nghiên cứu về Akutagawa có tính chất giới thiệu về
cuộc đời, sự nghiệp sáng tác cũng như các tác phẩm nổi bật nhất của nhà văn.
Về thể loại truyện ngắn, các tác giả đã khái quát những nét cơ bản.
Các nhà nghiên cứu đều đánh giá chung về toàn bộ sự nghiệp sáng tác
của Akutagawa. Trong bài viết “Các khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa
trong văn học Nhật Bản nửa đầu thế kỉ XX”, Khương Việt Hà nhận định
Akutagawa là thủ lĩnh của trường phái Tân hiện thực đồng thời là cây bút kiệt
xuất với trên 140 truyện ngắn. Bài viết “Một đôi nét về Akutagawa và truyện
ngắn của ông” của tác giả Phong Vũ cũng khẳng định Akutagawa là một
trong những hiện tượng văn học phức tạp, mâu thuẫn, song lại hết sức hấp dẫn
trong văn học Nhật đầu thế kỉ XX. Nhà văn Nhật Bản hiện đại này được công
nhận là bậc thầy ưu tú ở thể loại truyện ngắn.
Ở công trình Tổng quan văn học Nhật Bản của Nguyễn Nam Trân,
Akutagawa và Shiga được đánh giá là hai đỉnh cao về thể loại truyện ngắn.
Hữu Ngọc trong tác phẩm Dạo chơi vườn văn Nhật Bản cũng thống nhất quan
điểm với các tác giả trên khi khẳng định Akutagawa là nhà văn Nhật hiện đại
đầu tiên nổi tiếng nhất ở phương Tây.
Trong số những công trình nghiên cứu về văn học Nhật Bản hiện đại,
Những cây bút kiệt xuất trong văn học Nhật Bản hiện đại của Nguyễn Tuấn
Khanh là tác phẩm nghiên cứu có hệ thống về 9 nhà văn hiện đại được đánh
giá cao tại Nhật. Trong đó, Akutagawa được xem là nhân vật văn học nổi bật
nhất trong mười lăm năm của thời đại Taisho. Các truyện ngắn của nhà văn
cho đến nay vẫn được xếp vào hàng kinh điển.
Về phương diện đề tài, quan điểm của các tác giả Khương Việt Hà,
Nguyễn Tuấn Khanh, Nguyễn Nam Trân, Hữu Ngọc, Phong Vũ… đều thống
nhất khi nhận định truyện ngắn của Akutagawa mở rộng đề tài trên nhiều
3
phương diện. Đặc biệt, hầu hết các truyện ngắn nổi tiếng sáng tác trong thời
kì đầu đều đề cập tới quá khứ. Theo Nguyễn Tuấn Khanh, giai đoạn lịch sử ưa
thích nhất của Akutagawa là thế kỉ XII, khi Kyoto bị các thảm họa ụp xuống
phá hủy; kế đến là thế kỉ XVI, khi ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo đã đạt đến
đỉnh cao ở Nagazaki và buổi đầu kỉ nguyên Minh Trị. Sở dĩ nhà văn bị những
thời gian và địa điểm cách xa thu hút vì “chúng có khả năng xử lí những vấn
đề bất thường, siêu nhiên, hoặc kì diệu” [36, tr.198]. Vào những năm tháng
cuối đời, Akutagawa đã chuyển hướng sáng tác “từ phê phán sự không hoàn
thiện cá nhân tới sự không hoàn thiện của xã hội” [1, tr.11].
Về cốt truyện và nhân vật, tác giả Nguyễn Tuấn Khanh cho rằng những
sáng tác của Akutagawa gây được hiệu quả sinh động nhờ những tình tiết phát
hiện ra từ truyện cổ. Nhà văn luôn day dứt trong việc tạo ra ấn tượng sống
động bằng cách bổ sung những tình tiết- thường là khắc nghiệt hoặc độc ác-
lấy trực tiếp từ các tác phẩm như Konjaku Monogatari. Các cốt truyện đều có
đặc điểm chung là “dựa trên lịch sử xa xưa của Nhật Bản nhưng lại được
trình bày dưới một hình thức hiện đại” [36, tr.191]. Nhà văn thường đầu tư
xây dựng bố cục rất chặt chẽ. Nguyễn Nam Trân cũng chỉ ra rằng khi xây
dựng truyện dã sử, Akutagawa đã “chuẩn bị chu đáo như Gogol từ cấu trúc
đến các tình tiết tính toán kĩ lưỡng để có hiệu năng tối đa” [58, tr.394].
Ở phương diện xây dựng nhân vật, Phong Vũ nhận định rằng tuy
Akutagawa hầu như không thay đổi gì cốt truyện vay mượn nhưng nhà văn
đặt nhân vật vào những hoàn cảnh khác thường và tạo nên một màu sắc hoang
đường nào đó để nghiên cứu tính cách con người. Mục đích của ông là vạch
rõ những vận động tâm hồn của mỗi nhân vật, từ đó khám phá ra bản chất của
họ. Thông qua tác phẩm, Akutagawa đã “đặt ra những vấn đề đức đạo đức,
thẩm mĩ hiện đại” [1, tr.11]. Ngoài ra, tác giả Nguyễn Nam Trân cũng cho
rằng Akutagawa có sự học hỏi từ các nhà văn tiền bối. Như Mori Ogai với
4
thái độ khô khan, lạnh lùng khi trực diện với nhân vật, sự tình hoặc chủ đề
“sự ích kỉ của người đời” được gợi ý từ các sáng tác của Natsume Soseki.
Bên cạnh đó, Akutagawa cũng là một trong những tác giả tiên phong tiếp
nhận kĩ thuật viết văn phương Tây. Theo Nguyễn Tuấn Khanh: “Akutagawa
chịu ảnh hưởng nhiều qua việc đọc các tác phẩm văn học châu Âu trong việc
phân tích tâm lí nhân vật” [36, tr.192].
Các nhà nghiên cứu đều đề cao kĩ thuật viết của Akutagawa. Theo
Khương Việt Hà, đó là “sự phản ánh thực tại trong dòng lãng mạn buông thả
nhằm tái tạo một hiện thực mới” còn văn phong thì “mỉa mai gợi tả sâu sắc
theo khuynh hướng Tân hiện thực” [25, tr.127]. Truyện ngắn của Akutagawa
đã phản ánh sự nhạy cảm nội tâm cũng như chiều sâu tri thức của nhà văn-
một người am hiểu văn chương phương Đông lẫn phương Tây. Theo Nguyễn
Tuấn Khanh, nét nổi bật của bút pháp Akutagawa là “lập dị và hài hước, đôi
lúc sa vào chủ nghĩa duy cảm” [36, tr.127]. Hữu Ngọc nhận định văn chương
Akutagawa “pha trộn giữa hiện thực và huyền ảo, hoa mỹ nhưng súc tích, bố
cục chặt chẽ” [47, tr.26].
Lối hành văn của Akutagawa được Nguyễn Nam Trân đánh giá là sự
“liên kết trí thông minh và chất thơ” tạo nên những tác phẩm “chứa đầy tình
huống cực đoan, nhuốm màu hài hước lẫn chua cay”. Và “văn chương ông
hàm chứa một sự mơ hồ để ai muốn hiểu sao thì hiểu như khi ông nói “núi Lư
Sơn có thể nhìn từ nhiều góc cạnh khác nhau” [58, tr.394].
Về triết lí văn chương của Akutagawa, Nguyễn Nam Trân nhấn mạnh:
“nhà văn đã thể hiện trong sáng tác của mình một nhân sinh quan yếm thế,
luôn day dứt vì không lựa chọn được: nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật
vị nhân sinh” [58, tr.395].
Bài viết “Những cách tân nghệ thuật theo hướng hiện đại hóa trong
truyện ngắn của Akutagawa” của tác giả Hoàng Thị Xuân Vinh đưa ra những
5
nhận định khá mới mẻ về truyện ngắn của nhà văn tài hoa. Tác giả nhận định
truyện ngắn của Akutagawa đã xóa nhòa lằn ranh thể loại, sử dụng các kiểu
kết cấu như mảnh vỡ, mờ hóa, ảo hóa; hòa lẫn giữa các ngôn ngữ như giễu
nhại, nghịch dị, chất hài hước đen và yếu tố kì ảo. Bài viết đi đến kết luận lối
viết của Akutagawa nếu xóa tên tác giả, đất nước và thời đại có thể sẽ khiến
độc giả nghĩ rằng đó là cách viết hậu hiện đại. Đây là cách nhìn khá mới mẻ
cần xem xét thấu đáo hơn.
* Nhận xét chung
Qua việc khảo sát lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi rút ra một số
nhận xét như sau:
Thứ nhất, các nhà nghiên cứu đều thống nhất khi khẳng định tài năng ở
lĩnh vực truyện ngắn và khuynh hướng sáng tác của Akutagawa. Tuy nhiên,
các tác giả chưa đặt truyện ngắn Akutagawa vào bối cảnh văn học Nhật Bản
đương thời để thấy rõ hướng đi riêng của nhà văn. Do đó những nhận định
còn mang tính khái quát và chưa thật sự thuyết phục.
Thứ hai, về đặc trưng truyện ngắn của Akutagawa, các nhà nghiên cứu
đã khái quát từng tác phẩm thuộc nhiều thể loại (truyện ngắn, tiểu thuyết, tự
thuật) nhưng chưa nghiên cứu đặc trưng truyện ngắn trong một hệ thống. Do
đó, vấn đề này vẫn chưa được nhìn nhận đầy đủ.
Với đề tài nghiên cứu, luận văn bước đầu tìm hiểu theo hệ thống đặc
trưng của truyện ngắn Akutagawa Ryunosuke trong tuyển tập Trinh tiết và
một số truyện ngắn khác của ông. Từ đó, luận văn đi đến khẳng định đặc
trưng truyện ngắn và vị trí của Akutagawa trong nền văn học Nhật Bản hiện
đại.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng mà đề tài nghiên cứu là Tuyển tập Trinh tiết và đặc trưng
truyện ngắn Akutagawa Ryunosuke. Phạm vi nghiên cứu của luận văn là 30
6
truyện ngắn được in trong tuyển tập Trinh tiết do Đinh Văn Phước tuyển
chọn, được Nxb Văn học phát hành năm 2006.
Ngoài ra, luận văn còn khảo sát tuyển tập Trong rừng trúc do Phong Vũ
dịch và các tuyển tập truyện ngắn Nhật Bản hiện đại khác.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Cấu trúc và hệ thống là phương pháp được sử dụng để xác lập nguyên
tắc tư duy nghệ thuật của nhà văn.
- Phương pháp loại hình nhằm xác lập đặc trưng loại hình tư duy nghệ
thuật truyện ngắn.
- Phương pháp so sánh đối chiếu để làm nổi rõ đặc trưng nghệ thuật
truyện ngắn của Akutagawa trong mối tương quan với các nhà văn khác.
Ba phương pháp này sẽ được chúng tôi sử dụng ở chương hai và ba để
chỉ ra những đặc trưng truyện ngắn của Akutagawa.
- Phương pháp phê bình tiểu sử giúp chúng tôi có những nhận định đầy
đủ và khách quan hơn về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả sẽ được sử dụng ở
chương một của luận văn.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn hướng đến mục tiêu:
- Qua tuyển tập Trinh tiết và các truyện ngắn của Akutagawa để bước
đầu tìm hiểu đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn Akutagawa, phân tích những
biểu hiện cụ thể và giá trị các đặc trưng ấy nhằm chỉ ra sự thống nhất chặt chẽ
giữa tư tưởng và bút pháp nghệ thuật của nhà văn này.
- Xác lập vị thế Akutagawa trong tiến trình phát triển của văn học Nhật
Bản hiện đại ở thể loại truyện ngắn.
- Tạo dựng cơ sở ban đầu để nghiên cứu về phong cách truyện ngắn
Akutagawa.
7
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được
trình bày theo ba chương chính:
Chương 1: Truyện ngắn Nhật Bản đầu thế kỉ XX và “bậc thầy
truyện ngắn” Akutagawa Ryunosuke
Chương 2: Tuyển tập Trinh tiết và nỗi buồn về “sự thất bại của
lí trí”
Chương 3: Tuyển tập Trinh tiết và những cách tân nghệ thuật
truyện ngắn
8
Chương 1. TRUYỆN NGẮN NHẬT BẢN ĐẦU THẾ KỈ XX
VÀ “BẬC THẦY TRUYỆN NGẮN”
AKUTAGAWA RYUNOSUKE
1.1. Đặc điểm truyện ngắn Nhật Bản đầu thế kỉ XX
1.1.1. Tình hình xã hội Nhật Bản đầu thế kỉ XX
Đầu thế kỉ XX, Nhật Bản diễn ra nhiều sự kiện quan trọng. Cuộc cách
mạng Minh Trị (1868) làm thay đổi diện mạo đất nước một cách toàn diện.
Trước đó, Nhật Bản kém phát triển do chính sách bế quan tỏa cảng của
chính quyền Mạc phủ. Sợ hãi trước sự bành trướng của Thiên Chúa giáo và
tham vọng xâm lược của chủ nghĩa thực dân, chính phủ Nhật Bản ngăn cấm
giao lưu thương mại trong nước và bên ngoài. Chính sách này đã làm cho
Nhật Bản vốn dĩ cách biệt với thế giới lại càng trở nên biệt lập.
Tuy nhiên, tình trạng này không kéo dài. Xu thế phát triển chung buộc
Nhật Bản không thể đi chệch qui luật. Dưới áp lực quân sự của Mĩ, Nhật Bản
đã lần lượt kí kết các hiệp ước, mở đầu là Kanagawa (1854), đánh dấu sự sụp
đổ của Mạc phủ và bắt đầu thời kì hiện đại hóa. Sau gần ba thế kỉ, quyền cai
trị đất nước được trao lại cho Thiên hoàng. Năm 1868, cuộc cách mạng dưới
sự lãnh đạo của Minh Trị Thiên hoàng đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ Mạc phủ.
Từ đây, Nhật Bản mở cửa và giao lưu với bên ngoài sau thời kì bế quan tỏa
cảng. Đây cũng là con đường chung của các nước trong khu vực giai đoạn
giữa thế kỉ XIX. Ví dụ như cuộc chiến tranh nha phiến năm 1842 chính thức
báo hiệu cuộc xâm lăng của phương Tây vào Trung Hoa, năm 1858 chiến
hạm Pháp và Tây Ban Nha tấn công vào bán đảo Sơn Trà của Việt Nam…
Sau khi nắm quyền, Thiên hoàng tiến hành nhiều cải cách quan trọng
như xóa bỏ chế độ đẳng cấp khắt khe, sự phân biệt giới tính, địa vị; Âu hóa
đời sống xã hội về nhiều mặt… Cụ thể là bốn tầng lớp trong xã hội gồm võ sĩ,
nông dân, thợ thủ công, thương nhân được xem như bình đẳng. Do tầng lớp
9
võ sĩ bất bình nên chính phủ dùng tiền để xoa dịu, dẫn đến việc hình thành
giai cấp võ sĩ quí tộc tư sản. Chủ trương xây dựng đất nước theo con đường
quân sự của họ là nguyên nhân khiến Nhật trở thành đế quốc phong kiến quân
phiệt sau này.
Bên cạnh đó, việc tuyển chọn cán bộ cũng có thay đổi. Nguồn gốc không
còn là ưu tiên hàng đầu mà năng lực cá nhân mới được xem trọng. Thời kì
này, nhiều phái đoàn Nhật được cử sang phương Tây để học hỏi về hành
chính và kĩ thuật. Giáo trình đại học qui định nội dung giảng dạy phải đề cập
đến các thành tựu mới về khoa học kĩ thuật. Quân đội được huấn luyện, tổ
chức theo mô hình phương Tây như lục quân Đức, hải quân Anh… Ngoài ra,
giảng viên nước ngoài được hưởng chế độ ưu đãi đặc biệt để ra sức cống hiến.
Mức lương họ nhận cao gấp mười lần so với công chức Nhật đương thời.
Những chính sách trên tạo nên cuộc cách mạng toàn diện trong xã hội
Nhật. Sự tiến bộ vượt bậc của Nhật là một kì tích khiến thế giới kinh ngạc.
Đất nước Nhật Bản do đó tiến nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa, rút
ngắn thời gian công nghiệp hóa và chuyển sang giai đoạn đế quốc quân phiệt.
Khi Thiên hoàng qua đời thì triều đại Minh Trị kết thúc. Nhật Bản bước
vào thời kì lịch sử mới với hai triều đại Taisho (1912-1926) và Showa (1926-
1989). Thời kì Taisho, các trào lưu dân chủ phát triển, tạo điều kiện thuận lợi
cho những hoạt động của giới trí thức. Lượng sách báo xuất bản tăng vọt.
“Vào giữa thập niên 1920, đã có ba tờ báo Nhật phát hành từ một triệu đến
một triệu rưỡi số mỗi ngày” [36, tr.13]. Đây là một tín hiệu cho thấy sự phát
triển đời sống tinh thần của toàn xã hội.
Giai đoạn đầu thế kỉ XX được đánh dấu bởi nhiều cuộc chiến tranh như
Trung- Nhật (1894-1895), Nga- Nhật (1904-1905), chiến tranh thế giới II.
Đây là chặng đường phát triển không bình thường nhất của nước Nhật hiện
đại.
10
Một cố vấn quân sự Nhật từng nhận định rằng Triều Tiên như một mũi
dao chỉ thẳng vào trái tim nước Nhật. Sự hiện diện của bất kì cường quốc
quân sự nào tại Triều Tiên là mối đe dọa phải loại bỏ. Do đó, Nhật Bản kiên
quyết chấm dứt ảnh hưởng của Trung Quốc lên bán đảo này. Khi chiến tranh
Trung Nhật (1894-1895) nổ ra, nước Nhật thắng trận. Kết quả này càng khẳng
định thành công của công cuộc Duy Tân.
Chiến tranh Nga- Nhật (1904-1905) là cuộc đại chiến đầu tiên của thế kỉ
XX. Xung đột xảy ra giữa hai nước nhằm giành quyền kiểm soát Mãn Châu
và Triều Tiên. Kết quả là Nhật Bản lại chiến thắng. Tham vọng bành trướng
chủ nghĩa quân phiệt của Nhật do đó tiếp tục được nuôi dưỡng.
Thắng lợi liên tiếp khiến Nhật Bản nảy sinh ý đồ chiếm Trung Quốc và
các nước lân cận. Nguồn tài nguyên dồi dào ở các nước này luôn khiến đất
nước ít được thiên nhiên ưu đãi như Nhật thèm khát. Khi thế chiến thứ hai nổ
ra, Nhật Bản nhanh chóng bị cuốn vào chiến tranh. Tuy nhiên, do không đủ
thế và lực để đương đầu với lực lượng của Mỹ cũng như Đồng Minh, Nhật
Bản thảm bại nặng nề. Hơn hai triệu người chết, buộc phải kí kết các hiệp ước
bất bình đẳng, đất nước bị tàn phá… là bài học xương máu mà Nhật không
thể quên.
Bối cảnh lịch sử trên đây đã có tác động to lớn đến đời sống xã hội nói
chung tình hình sáng tác văn học của Nhật Bản nói riêng.
1.1.2. Đời sống văn học Nhật Bản đầu thế kỉ XX
Đối với các nước nằm trong khu vực văn hóa chữ Hán, mặc dù nhu cầu
đổi mới văn học đã có từ giai đoạn hậu kì trung đại, nhưng nếu không bị
phương Tây xâm lăng thì thời đại mới trong văn học chưa thể bắt đầu. Do đó
việc đổi mới văn học của Nhật Bản nói riêng và các nước trong khu vực nói
chung không phải là quá trình tiệm tiến, hình thành từ những yếu tố nội sinh
mà là sự chuyển biến đứt gẫy sang mô hình văn học hiện đại.
11
Có thể nhận thấy rằng, đầu thế kỉ XX là giai đoạn hình thành nền văn
học Nhật Bản hiện đại. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều thống nhất
rằng nền văn học này bắt đầu từ sau cách mạng Minh Trị (1868), đúng hơn là
khoảng hai thập kỉ sau đó- từ những năm 1888. Khi ấy, những cải cách đã dần
đi vào đời sống. Sự tiếp thu ảnh hưởng phương Tây cũng như tìm tòi giá trị
truyền thống đã bắt đầu mang lại kết quả.
Theo các nhà nghiên cứu, có nhiều cách phân chia các thời kì văn học
Nhật Bản hiện đại. Cách thứ nhất cho rằng có ba giai đoạn gồm thời Duy Tân
Minh Trị (1868-1912), Taisho (1912-1926) và Showa (1926-1989). Cách thứ
hai thì xem kỉ nguyên Showa có giai đoạn trước chiến tranh (1926-1941) và
giai đoạn sau chiến tranh (1941-1989) [36, tr.16]. Cách thứ ba cho rằng thời
tiền cận kim, cận kim của văn học Nhật Bản lồng vào hai triều đại là Minh Trị
(1868-1912), Taisho (1912-1926) [58, tr.306]. Cách thứ tư xem văn học hiện
đại Nhật Bản bắt đầu từ thời Minh Trị, còn văn học đương đại thì từ năm
1945 [47, tr.21]…
Như vậy, sự phân chia các giai đoạn văn học Nhật Bản hiện đại có khác
biệt vì dựa trên những tiêu chí khác nhau. Nếu xem xét những truyện ngắn
của Akutagawa- được xem là một trong những nhà văn khởi đầu văn học
Nhật Bản hiện đại- thì chúng ta sẽ khảo sát trong giai đoạn nào? Việc lựa
chọn mốc thời gian này có ý nghĩa quan trọng để thấy được vị trí và những
đóng góp của Akutagawa.
Akutagawa Ryunosuke (1892-1927) chính thức xuất hiện với truyện
ngắn đầu tay Tuổi già (1914). Ông liên tục sáng tác đến năm 35 tuổi và được
đánh giá là nhân vật nổi bật nhất trong mười lăm năm của thời đại Taisho
(1912-1926). Do đó, nếu xem xét truyện ngắn Akutagawa trong văn học Nhật
Bản đầu thế kỉ XX, giai đoạn từ sau cải cách Minh Trị 1868 cho đến trước
năm 1945 thì đối tượng khảo sát để so sánh là những truyện ngắn của các tác
12
giả trong cùng thời kì.
Các nhà văn gồm Mori Ogai (1862-1922), Natsume Soseki (1867-1916),
Arishima Takeo (1878-1923), Shiga Naoya (1883-1971), Tanizaki Junichiro
(1886-1965), Yokomitsu Riichi (1898-1947), Kawabata Yasunnari (1899-
1972), Dazai Osamu (1909-1948). Xuất phát từ những đặc điểm nổi bật của
thể loại truyện ngắn trong giai đoạn này, chúng ta sẽ có căn cứ để đánh giá
được vị thế và tầm vóc của Akutagawa.
Luận văn chọn khoảng thời gian từ 1868-1945 vì đây là thời kì đầu của
văn học Nhật Bản hiện đại, tính chất mở đường, thể nghiệm thể hiện rõ trong
các sáng tác. Từ sau thảm bại chiến tranh thế giới lần hai, xã hội Nhật Bản
đau thương và kiệt quệ. Theo đó, văn học đã có sự chuyển hướng, mang màu
sắc và âm hưởng khác biệt giai đoạn trước. Có hai khuynh hướng chính hầu
như đối lập là kế tiếp và đoạn tuyệt với quá khứ. Kế tiếp để gìn giữ một
truyền thống đã có từ nhiều thế kỉ, đoạn tuyệt để xóa sạch tàn tích của thời
quân phiệt và xây dựng một nền văn học thích nghi với xã hội mới. Do đó,
khoảng thời gian nói trên là tương đối để nhìn nhận đặc trưng thể loại truyện
ngắn của Akutagawa.
Khảo sát giai đoạn từ 1868-1945, chúng tôi nhận thấy những đặc điểm
nổi trội của văn học Nhật Bản như sau:
Dưới sức ép từ bên ngoài, Nhật Bản đã hiện đại hóa, phương Tây hóa về
mọi phương diện. Đội ngũ nhà văn vừa am hiểu văn học truyền thống vừa là
những trí thức Tây học thời đại “khai sáng”. Họ tiếp cận các tác gia lớn, các
luồng tư tưởng, sự cách tân kĩ thuật viết từ những tác phẩm văn học hiện đại
của phương Tây như Đức, Anh, Pháp… Những tác phẩm đầu tiên được dịch ở
Nhật Bản là Robinson Crusoe (Daniel Defoe), Tám mươi ngày vòng quanh
thế giới (Jules Verne), Bá tước Monte Cristo (A.Dumas), Nhật kí người đi săn
(Turgeniev), Tội ác và hình phạt (Dostoievski), Nỗi đau của chàng Werther
13
(Goethe)… Có thể thấy “Văn học dịch đã đem đến một mô hình mới, thị hiếu
thưởng thức mới, đồng thời đáp ứng được nhu cầu thể hiện tình cảm mới- tự
do, phóng khoáng, ít bị câu thúc hơn” [20, tr.19]. Qua công việc dịch thuật và
sáng tác, các nhà văn trở thành những người “dịch văn hóa” ý thức sâu sắc về
sứ mệnh thúc đẩy nền văn học Nhật đang tụt hậu nhanh chóng hội nhập với
phương Tây. Họ là lực lượng nòng cốt góp phần hình thành nên các tư trào
lớn trong văn học Nhật thời kì này.
Bên cạnh đó, việc dịch các tác phẩm mới cũng nhận được sự ủng hộ
mạnh mẽ, hình thành văn hóa đọc nổi tiếng của Nhật Bản. Như trường hợp
quyển sách Bàn về Tự do (On Liberty) của John Stuart Mill. Sách được xuất
bản ở Anh năm 1859, cùng năm với Thuyết tiến hoá của Charles Darwin. Bàn
về Tự do là một quyển sách rất có ảnh hưởng ở phương Tây và ngày nay vẫn
còn tiếp tục được đọc. Khi dịch sang tiếng Nhật, sách bán được trên một triệu
bản. Đây là con số “khủng” nếu ta biết rằng thời kì này dân số Nhật Bản chỉ
khoảng trên 30 triệu! Tất cả xuất phát từ ý thức dân tộc mạnh mẽ- không thể
yêu nước trong sự vô minh. Người Nhật lên cơn sốt đọc với khao khát nhanh
chóng nắm được bí quyết của phương Tây nhằm thực thi câu khẩu hiệu thời
kì này: “Hãy làm giàu cho đất nước, hãy làm cho quân đội hùng mạnh” [52,
tr.356].
Bên cạnh sự hiện đại hóa, phương Tây hóa, âm hưởng chiến tranh của
giai đoạn này tác động mạnh mẽ đến văn học. Sau chiến tranh Nga- Nhật
(1904-1905), Nhật Bản phải trả giá đắt. Chiến thắng mang đến nhiều lo âu và
sự vỡ mộng cho giới văn nhân trí thức. Giai đoạn cuối thời kì Minh Trị và
những năm đầu thời Taisho được gọi tên là “thời vỡ mộng” hay “thời tự thú”
của văn học Nhật. Trong bối cảnh đó, một tư trào văn học lớn nổi lên. Đó là
chủ nghĩa tự nhiên với khuynh hướng phát huy “cái tôi” đậm màu sắc lãng
mạn; chọn lối miêu tả khách quan, lí trí và bộc lộ suy nghĩ của mình. Đây là
14
dòng “văn học hiện thực quan chiếu”- “nhìn ngắm sự vật kề bên theo cách
nó thể hiện ra”, xem “nghệ thuật là thực tế” [58, tr.333]. Tuy các nhà văn thế
hệ sau tỏ ra lãnh đạm và chống đối chủ nghĩa tự nhiên nhưng họ không thể
phủ nhận ảnh hưởng to lớn của nó trong văn học Nhật.
Chuyển sang những năm đầu thời Taisho, các khuynh hướng phản tự
nhiên chủ nghĩa nổi lên. Chúng tạo nên bức tranh văn học hiện đại vô cùng
sống động. Đây cũng là một thời kì tương đối phức tạp trong lịch sử phát triển
văn học. Có một số khuynh hướng chính sau:
Cao sang (yoyuha) sử dụng lối văn chan chứa tình cảm, để lại cảm xúc
sâu lắng trong lòng người, đặt trọng tâm vào việc làm giàu kiến thức. Khuynh
hướng này chống lại tính chất nội quan không màu sắc cũng như tư tưởng bi
quan của chủ nghĩa tự nhiên. Các nhà văn chủ trương trở về với xúc cảm và
cái đẹp- ngọn nguồn của sáng tác văn học. Đại diện là Mori Ogai, Natsume
Soseki, Masaoka Shiki… Tác phẩm nổi bật của Natsume Soseki là Tôi là con
mèo với hình tượng một con mèo nằm lắng nghe các nhà khoa học tranh cãi,
Cỏ ngu mĩ nhân thể hiện phong cách đẹp và chân dung hoàn hảo nhất về lớp
trẻ thời đại. Mori Ogai góp mặt với các tiểu thuyết phê phán chính sách của
chính phủ như Pháo đài tĩnh lặng hoặc tiểu thuyết với đề tài những trải
nghiệm tình yêu- Vũ nữ…
Chủ nghĩa Duy mĩ chống lại lối hành văn khô khan không màu sắc của
chủ nghĩa tự nhiên, đề cao giá trị thẩm mĩ và nhục cảm. Tiêu biểu là Tanizaki
Junichiro, Nagai Kafu… Tác phẩm nổi bật của Nagai Kafu là tiểu thuyết Đua
tranh kể về ba nàng geisha tranh giành khách, Okamezasa châm biếm chua
cay những kẻ có thế lực thường lui tới với gái giang hồ… Tanizaki gây ấn
tượng mạnh với truyện ngắn Bàn chân Fumiko kể về ông già có khuynh
hướng bái vật giáo- say mê đôi chân cô gái trẻ, tiểu thuyết Chìa khóa kể về
đời sống tình dục khác thường của vị giáo sư già. Tác giả đã làm nổi bật sự
15
đối lập giữa một bên là cái chết như một tiến trình đi tới sự cứu rỗi ở miền
cực lạc và một bên là thú vui xác thịt để tìm sự thỏa mãn nơi trần thế.
Trường phái Shirakaba nhìn thấy mâu thuẫn giữa cuộc sống sung túc
của giai cấp mình và những bất công xã hội xung quanh nên đã sáng tác và
thực hiện những công trình xã hội có tính chất không tưởng. Các tác giả bao
gồm Arishima Takeo, Shiga Naoya… Tác phẩm Một người đàn bà (Arishima
Takeo) xây dựng hình tượng người phụ nữ đẹp thuộc tầng lớp trung lưu đấu
tranh quyết liệt để bảo vệ tình yêu nhằm chống lại thói đạo đức giả trong xã
hội. Tiểu thuyết khác của nhà văn này- Tình yêu thả sức giành giật- khẳng
định tình yêu lãng mạn vướn đến đỉnh điểm là cái chết trong sự hòa hợp.
Hành trình là tác phẩm sáng giá nhất của Shiga Naoya, xây dựng hình tượng
một con người hoàn toàn độc lập và không bị quấy nhiễu bởi kiến trúc thượng
tầng của xã hội.
Chủ nghĩa Tân hiện thực dùng khả năng lí trí để phán đoán một cách
lạnh lùng, khách quan những dữ kiện xã hội dù thuộc về hiện tại hay đã lui
vào quá khứ. Nó dung hòa được tinh hoa lí trí của chủ nghĩa tự nhiên và sắc
màu lãng mạn phóng túng của chủ nghĩa duy mĩ. Nhà văn nổi bật nhất được
nhiều nhà nghiên cứu công nhận chính là Akutagawa Ryunosuke- thủ lĩnh của
văn phái. Các tác phẩm của ông sẽ được giới thiệu chi tiết trong những phần
sau của luận văn.
Vào những năm cuối thời Taisho, một cao trào văn học nổi lên và lấn át
tất cả. Đó chính là văn học vô sản. Biến cố lớn lao này tác động mạnh mẽ đến
các nhà văn hiện đại nói chung và Akutagawa nói riêng. Bị dao động trước
cao trào, ông không thể tiếp tục sáng tác theo con đường cũ. Vì không dung
hòa được mâu thuẫn cộng với những lí do riêng tư khác, Akutagawa tự sát
năm 35 tuổi.
Như vậy, Akutagawa sáng tác trong một thời kì đầy biến động của văn
16
học Nhật Bản khi sự xung đột giữa cái cũ và cái mới, phương Đông và
phương Tây trở nên gay gắt. Giữa bối cảnh đó, để định hình phong cách và
xác định hướng đi riêng góp phần phát triển nền văn học Nhật Bản chậm tiến
là một sứ mệnh cao cả.
Với những góc nhìn mang tính tổng quát trên đây, chúng ta có hình dung
ban đầu về sự phong phú và phức tạp của văn học Nhật Bản đầu thế kỉ XX.
Có thể thấy những khuynh hướng trên đã chi phối quá trình sáng tác của nhà
văn ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Nghiên cứu truyện ngắn
Nhật Bản đầu thế kỉ XX giúp nhận ra diện mạo truyện ngắn Akutagawa trong
bức tranh chung của văn học.
1.1.3. Tiến trình truyện ngắn Nhật Bản đầu thế kỉ XX
Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “truyện”, “truyện ngắn” và
khởi nguồn của nó trong văn học Nhật Bản. Khái niệm “monogatari” là tên
gọi mà từ xưa người Nhật dùng cho mọi loại văn tự sự- từ cổ tích đến truyện
lịch sử, xã hội, truyện ngắn, truyện dài, kể cả truyền kì và tiểu thuyết… Tác
phẩm đầu tiên thuộc thể loại này được xác định vào khoảng thế kỉ X, có tên
Truyện người đẵn tre (Trúc thủ vật ngữ) hay Tiểu thư Ánh Trăng.
Truyện kể về hai ông bà lão đốn tre nhặt được cô gái tí hon trong thân
tre. Vô cùng mừng rỡ, họ đem cô bé về nuôi và đặt tên “Kaguya hime”-
“công chúa Ánh Trăng”. Càng lớn cô càng xinh đẹp, duyên dáng. Các chàng
trai tranh nhau cầu hôn. Vì không thể từ chối, cô ra điều kiện là họ phải mang
đến những lễ vật quí giá và khó tìm. Tuy nhiên, do bất tài nên các chàng trai
chỉ mang đến đồ giả hòng lừa gạt khiến cô gái tràn ngập thất vọng. Khi đêm
xuống cô ngồi ngắm trăng với đôi mắt u sầu, khao khát. Cô thổ lộ ước muốn
trở về cung trăng nơi mình sinh ra. Ông bà lão rất đau buồn, hết lời ngăn cản.
Đêm rằm tháng tám, ông lão nhờ một nghìn samurai lực lưỡng canh gác
quanh nhà. Bất chấp những mũi tên đầy uy lực của võ sĩ, ánh trăng huyền ảo
17
xuyên thấu và khiến mọi vật bất động. Cỗ xe ngựa có cánh hiện ra từ quầng
sáng mang công chúa Ánh Trăng về trời. Màu sắc kì ảo của câu chuyện cùng
với cốt lõi hiện thực vừa bi vừa hài khiến cho Tiểu thư Ánh Trăng được độc
giả say mê ca ngợi.
Thể loại truyện ngắn xuất hiện ở Nhật vào thế kỉ XI, được tập hợp trong
cuốn Tsutsumi chunagon monogatari (Đê trung nạp ngôn vật ngữ). Tuyển tập
gồm mười truyện với đề tài hiện thực và giọng điệu trào lộng mang màu sắc
hiện đại. Hầu hết các truyện đều gợi lên những khoảnh khắc của đời thường
như Phấn đen, Người hái hoa đào, Cô gái yêu sâu bọ, Cuộc thi vỏ sò, Những
điều vô nghĩa… Truyện ngắn Cô gái yêu sâu bọ kể về một tiểu thư vì chán
ghét thói đời giả dối nên không muốn làm đẹp. Cô không yêu những con
bướm sặc sỡ mà lại thích những con sâu xấu xí. Theo cô, cái đẹp mà con
bướm có được bắt nguồn tự xấu xí khi còn là một con sâu. Nếu con sâu càng
xấu xí bao nhiêu thì khi là bướm nó sẽ càng đẹp đẽ bấy nhiêu. Do đó, cái đẹp
hiện tại của bướm là hình thức chứ không phải bản chất. Cuối cùng, có một
chàng trai đã thổ lộ sự cảm mến đối với cô. Truyện Cô gái yêu sâu bọ đã gợi
nên suy ngẫm về mối quan hệ giữa hình thức và bản chất và “xứng đáng được
gọi là tập truyện ngắn đầu tiên của thế giới. Bởi vào thế kỉ XI, XII, trên thế
giới không có tập sách nào tương tự mà nhiều thế kỉ sau cũng khó tìm thấy”
[11, tr.77].
Sang thời Edo (1600-1868), các truyện ngắn (monogatari) trở nên phổ
biến trong giới thị dân. Các tác giả lừng danh như Ihara Saikaku (1641-1693)
với Người đàn ông đa tình, Năm người đàn bà đa tình…, Chuyện kể từ tỉnh lẻ
của Ueda Akinari (1734-1809)… Văn chương thời Edo thể hiện nhân sinh
quan gói gọn trong hai chữ “phù thế” (ukiyo)- nghĩa gốc là thế giới vô
thường, phù du. Sang thời Edo, khái niệm này chỉ sự đam mê, tận hưởng từng
giây phút quí giá trong cuộc đời ngắn ngủi. Ihara Saikaku là người mang lại ý
18
nghĩa đầy đủ nhất cho khái niệm “ukiyo”- không còn là cảm thức bi quan mà
là niềm vui sống hết mình trong cuộc đời đẹp đẽ lẫn đắng cay. Truyện của
ông xoay quanh hai đề tài tình và tiền, nhân vật có khi đa tình đến mức cực
đoan. Tác phẩm của Saikaku là những bức tranh muôn màu về đời sống xã
hội thị dân Nhật Bản thời kì này: “Có thể ông thiếu chiều sâu tâm lí mà tác
phẩm của Murasaki đã cho ta thấy, nhưng ông đã nói lên tiếng nói đầu tiên
chân thật và tài tình về những con người bình thường. Ông cũng là tấm
gương của thời đại mình, một tấm gương không đẹp nhưng có thực” [11,
tr.155].
Vào cuối thế kỉ XIX, văn chương Nhật nói chung và đặc biệt là thể loại
tự sự hầu như lâm vào bế tắc vì cạn kiệt đề tài cũng như cảm hứng sáng tác.
Những tác phẩm có giá trị rất ít còn sách báo nhảm nhí, mua vui thì tràn lan.
Vì vậy văn học phương Tây khi vào đến Nhật đã được đón nhận một cách
mạnh mẽ. Có thể thấy, những năm đầu thế kỉ XX là khoảng thời gian quan
trọng trong sự phát triển của văn học Nhật Bản nói chung và truyện ngắn nói
riêng. Văn học tìm được nguồn cảm hứng mới để sáng tác và có những cách
tân ở nhiều phương diện. Thể loại truyện ngắn phát triển mạnh khi văn học
bước vào thời kì hiện đại. Khởi đầu của tiến trình này không tránh khỏi việc
mô phỏng, lấy ý tưởng từ các sáng tác của nước ngoài. Ví dụ truyện Xé rào
(Shimazaki Toson) có nhân vật người thầy giáo che giấu thân phận thấp hèn.
Cho đến một ngày, vì cương quyết chống lại thành kiến bất công trong xã hội,
thầy đã để lộ thân phận. Cốt truyện này ảnh hưởng từ Xưng tội (Confessions)
của Jean-Jacques Rousseau và Tội ác và hình phạt (Dostoievski). Hoặc nhân
vật người phụ nữ trong Một người đàn bà (Arishima Takeo) là hình ảnh Anna
Karenina trong tiểu thuyết cùng tên của Lep Tolstoi.
Dần dần, sau những bước đi chập chững, truyện ngắn Nhật đã khởi sắc
với những đặc trưng mang đậm dấu ấn riêng của tác giả.
19
Ngoài Akutagawa, một số tác gia lớn của văn học Nhật Bản hiện đại có
những sáng tác truyện ngắn trong giai đoạn 1868-1945 là Mori Ogai (1862-
1922), Natsume Soseki (1867-1916), Arishima Takeo (1878-1923), Shiga
Naoya (1883-1971), Tanizaki Junichiro (1886-1965), Yokomitsu Riichi
(1898-1947), Kawabata Yasunnari (1899-1972), Dazai Osamu (1909-1948)…
Trong số những nhà văn trên, Shiga Naoya cùng với Akutagawa
Ryunosuke được đánh giá là “hai đỉnh cao về truyện ngắn” [58, tr.397]. Tuy
nhiên, xét về tầm vóc thì Akutagawa vẫn nổi trội hơn hẳn. Số lượng tác phẩm
lớn, đề tài phong phú, kĩ thuật viết độc đáo cũng như những thể nghiệm mới
lạ là những yếu tố quyết định sự vượt trội đó. Ngoài hai tác giả trên, truyện
ngắn không phải là ưu tiên hàng đầu trong sự nghiệp sáng tác của các nhà
văn. Đó chỉ là khởi điểm khi họ bước chân vào con đường văn chương. Tác
phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp của các nhà văn hầu hết là tiểu thuyết. Ví dụ
Mori Ogai chuyên viết tiểu thuyết lịch sử, Natsume Soseki thành công với
tiểu thuyết tâm lí, Tanizaki quan tâm tiểu thuyết lịch sử phong tục, Dazai
Osamu gắn bó với tiểu thuyết tự thuật… Nhìn chung, truyện ngắn chiếm số
lượng ít trong sự nghiệp của họ.
Có thể nhận thấy một số đề tài nổi bật của truyện ngắn thời kì này. Thu
hút được nhiều sự quan tâm là đề tài hiện thực đời sống với những xung đột
văn hóa khi văn minh phương Tây xâm nhập Nhật Bản. Chủ trương của văn
học thời kì này là: “Văn học phải gắn bó với hiện thực- hiện thực ngoài xã
hội và hiện thực trong lòng người, văn học chủ yếu viết về cái hiện tại, về con
người bình thường, cái đời thường với một nhãn quan khoa học” [20, tr.17].
Các truyện tiêu biểu gồm Seibei và quả bầu (1912), Cái chết của vợ người
phóng dao (1913), Vị thần của thằng nhỏ giúp việc (1920)- Shiga Naoya;
Truyện trong lòng bàn tay- Kawabata (1916-1945); Hanako (1910), Đang
trùng tu (1910)- Mori Ogai; Một chùm nho (1920)- Arishima Takeo; Con ruồi
20
(1923)- Yokomitsu Riichi…
Với đề tài là những chuyện thường ngày, các truyện tuy có dung lượng
ngắn nhưng để lại nhiều dư vị. Seibei và quả bầu kể về cậu bé mê sưu tập quả
bầu nhưng bị cha và thầy giáo cấm đoán. Họ không biết rằng những quả bầu
ấy được nhà sưu tập đồ cổ trả giá rất cao. Cậu bé chuyển sang vẽ nhưng tiếp
tục bị ngăn cản. Từ đó, nhà văn đã gửi đến người đọc một thông điệp có ý
nghĩa muôn thuở: những người tầm thường không thể đánh giá đúng tác phẩm
nghệ thuật. Hoặc chuyện về cái chết của một đoàn người trên xe ngựa. Chiếc
xe đã lao xuống vực trong khi bác đánh xe ngủ gật. Tai nạn thảm khốc được
quan sát dưới cái nhìn của một con ruồi nói lên sự dửng dưng tàn ác của số
mệnh (Con ruồi). Một chùm nho là kỉ niệm đẹp thuở học trò về cô giáo dịu
hiền, bao dung. Ở các truyện ngắn trong lòng bàn tay của nhà văn “suốt đời đi
tìm vẻ đẹp Nhật Bản”- Kawabata- đề tài về đời sống thể hiện khá đa dạng như
tình yêu nam nữ, tình cảm gia đình, sự sống, cái chết… Ví dụ truyện Miền
ánh sáng (1924) là kỉ niệm của đứa cháu về người ông quá cố mù lòa, Người
đàn bà hóa thân vào lửa (1924) kể về câu chuyện tình yêu với sự lựa chọn
nghiệt ngã…
Trong bối cảnh giao lưu Đông Tây, xung đột văn hóa là tất yếu. Mori
Ogai phản ánh sinh động thực tế này qua truyện ngắn Hanako. Truyện kể về
một cô vũ công đến thăm xưởng điêu khắc của nghệ nhân Rodin. Đi cùng cô
là anh sinh viên y khoa Nhật làm phiên dịch. Nghệ nhân mời cô làm người
mẫu khỏa thân. Chàng trai phiên dịch ngạc nhiên vì nghĩ vẻ ngoài Hanako
không có gì hấp dẫn. Anh ta mong muốn giới thiệu với họa sĩ một điều gì đó
thật đặc biệt về đất nước mình. Nhưng Rodin hết lời ca ngợi vẻ đẹp hình thể
Hanako. Điều này khiến anh sinh viên sững sờ. Rõ ràng, tiêu chuẩn về cái
đẹp, quan niệm thẩm mĩ của người Nhật nói riêng và phương Đông nói chung
có nhiều khác biệt so với phương Tây.
21
Sự lệch pha này cũng được thể hiện qua tác phẩm Đang trùng tu của
Mori Ogai. Người đàn ông Nhật tên là Wantanabe (W.) tình cờ gặp lại cô gái
Đức. Trước đây khi W. đi du học, họ là tình nhân của nhau. W. hẹn gặp cô gái
trong một quán ăn Nhật. Vì đang được sửa chữa nên quán khá bề bộn. Nhiều
bức tranh tường được sắp đặt thiếu nghệ thuật. W. ngượng ngùng nói với tình
nhân cũ: “Nhật Bản quả là một đất nước chẳng có đầu óc nghệ thuật gì!”.
Khi hai người ôn lại kỉ niệm xưa, cô gái ngỏ ý muốn hôn nhưng W. né tránh
và tỏ ra hờ hững. Trong lúc họ đang nói chuyện thì bồi bàn đột nhiên bước
vào mà không gõ cửa. Cả hai lần W. đều nói với cô gái: “Đây là nước Nhật
mà!” như một sự giải thích. Nghe cô gái chia sẻ ý định tìm việc làm, W. liền
khuyên cô sang nước khác vì Nhật Bản đang trùng tu ở khắp nơi, còn chậm
tiến so với bên ngoài. Trái ngược với sự vui mừng lúc gặp nhau ban đầu, cả
hai chia tay một cách lạnh nhạt. Rõ ràng nước Nhật đang trong thời kì “trùng
tu” để hội nhập cũng giống như mối tình giữa hai người thật khó hòa hợp.
Đề tài thứ hai là tính nữ vĩnh cửu, thể hiện qua các tác phẩm của
Tanizaki Junichiro, Kawabata… Tính nữ vĩnh cửu là vẻ đẹp tràn đầy nữ tính
mà con người muôn đời tìm kiếm và tôn thờ. Cụm từ ấy gắn với hình tượng
người phụ nữ vừa có nét quyến rũ của người tình vừa mang dáng dấp của
người mẹ. Ở họ, sức hấp dẫn nhục cảm và sự bao dung vị tha đan cài tạo nên
vẻ đẹp trọn vẹn.
Tanizaki là nhà văn theo khuynh hướng duy mĩ và tôn thờ chủ nghĩa
khoái lạc. Ông tìm cảm hứng sáng tác ở hình tượng người phụ nữ Nhật Bản.
Nhà văn cùng thời- Nagai Kafu- đã chỉ ra ba đặc điểm trong phong cách nghệ
thuật của Tanizaki: “một chiều sâu huyền bí nảy sinh từ nỗi ham muốn nhục
dục, một xúc cảm mạnh mẽ được miêu tả dưới phản ứng đau đớn về thể xác
và sự hoàn mỹ trong phong cách viết” [36, tr.146]. Các truyện ngắn tiêu biểu
của Tanizaki gồm Xăm mình (1902), Kì lân (1910), Bàn chân Fumiko (1919),
22
Niềm khát khao có mẹ (1919)… Niềm khát khao có mẹ kể lại dưới hình thức
giấc mơ về một cậu bé đi tìm người mẹ đã mất. Đặc biệt, Bàn chân Fumiko
thể hiện rất rõ phong cách của nhà văn. Nhân vật chính là ông già hơn 60 tuổi
tên Tsukakoshi, từ lúc trẻ đã nổi tiếng trăng hoa. Vì say mê các cô gái trẻ đẹp
mà ông kết hôn và li dị đến ba lần. Có lẽ vì thế nên Tsukakoshi bị họ hàng
ruồng bỏ. Lúc già yếu ông còn mê mệt Fumiko, một cô geisha tuyệt đẹp mới
16 tuổi có đôi chân xinh xắn. Ông yêu cầu Uno- chàng sinh viên mà ông bảo
trợ- vẽ Fumiko theo phong cách hội họa truyền thống. Bức tranh mẫu ông đưa
Uno diễn tả tư thế có thể lột tả cận cảnh vẻ đẹp đôi chân. Suốt thời gian chàng
sinh viên vẽ tranh, ông thường xuyên giả làm con chó để nô đùa với đôi chân
Fumiko. Khi bệnh nặng, Tsukakoshi không muốn ăn uống gì. Nhưng khi
Fumiko lấy sữa tươi và súp thấm vào miếng vải, kẹp giữa hai chân thì ông
mút lấy mút để một cách ngon lành. Từ đó, Fumiko chỉ được phép cho ông ăn
bằng chân. Lúc sắp chết, Tsukakoshi có tâm nguyện để Fumiko giẫm chân lên
mặt mình. Và ông chết trong niềm hoan lạc vô biên. Với truyện ngắn Bàn
chân Fumiko, nỗi ham muốn nhục dục dị thường theo khuynh hướng bái vật
giáo- tôn thờ bàn chân phụ nữ- được Tanizaki diễn tả vô cùng sinh động và
lôi cuốn.
Nếu Tanizaki gắn vẻ đẹp nữ tính với chủ nghĩa khoái lạc thì Kawabata
lại đi tìm vẻ đẹp này trong sự thống nhất tuyệt diệu giữa thể xác và tâm hồn.
Đích đến của nhà văn là cái đẹp hư ảo khó nắm bắt. Tên tuổi Kawabata gắn
liền với trường phái Tân cảm giác- gồm mười bốn nhà văn trẻ xuất hiện trên
văn đàn Nhật Bản năm 1924. Cảm xúc mới, cách thức biểu hiện mới và nội
dung mới là ba tiêu chí quan trọng để xác lập sáng tác mang dấu hiệu của Tân
cảm giác. Bên cạnh đó, trường phái Tân cảm giác đề cao vai trò của trực giác
trong việc cảm thụ cái đẹp. Đó là sự cảm nhận trực tiếp, là những rung động
tình cảm cùng tần số với cái đẹp mà không thể dùng lí trí để mổ xẻ.
23
Truyện ngắn mang tính thể nghiệm của Kawabata là Vũ nữ Izu (1925).
Chàng sinh viên mười chín tuổi đi du lịch ở đảo Izu. Trên đường đi, chàng
kiếm cớ nhập vào một đoàn hát rong. Trong đoàn có cô vũ nữ xinh đẹp tên
Kaoru. Dáng vẻ của cô khiến chàng sinh viên vô cùng quyến luyến nhưng
đồng thời nỗi lo sợ cũng dấy lên. Trong đêm cô gái cùng đoàn hát rong đi
biểu diễn, chàng trai ở nhà trọ lo lắng không ngủ được: “Tôi chằm chằm nhìn
vào bóng tối, cố tìm hiểu xem sự im lặng ấy có ý nghĩa gì. Nàng đang làm gì,
có ai đó làm nàng vấy bẩn trong suốt khoảng thời gian còn lại của đêm?”[63,
tr.16]. Chàng trai lo sợ vẻ trẻ trung, tinh khiết của cô gái sẽ bị hủy hoại. Sáng
hôm sau, chứng kiến cô gái ngây thơ trần truồng nhảy xuống nước để tắm,
dường như “có một suối nước tinh khiết rửa sạch tim tôi”, mọi suy nghĩ đêm
trước của chàng trai “như thể lớp bụi bẩn được rửa sạch khỏi đầu”. Cô gái
với đôi chân non trẻ, thân hình trắng như tạc vô tư đùa giỡn là hiện thân của
vẻ đẹp trẻ trung, tinh khiết, hài hòa tuyệt diệu giữa thể xác và tâm hồn. Khi
hai người giã biệt, nỗi buồn ngập tràn trong chàng trai: “Trong bóng tối, được
sưởi ấm bởi cậu bé nằm bên cạnh, tôi thỏa thê khóc. Như thể đầu tôi đã hòa
thành dòng nước tinh khiết. Nó đang thanh thản rời đi, từng giọt một” [63,
tr.31]. Đó là nỗi đau khổ của một người yêu cái đẹp, luôn đi tìm và đã bắt gặp
nhưng lại phải rời xa cái đẹp.
Dạng đề tài thứ ba được khai thác là cuộc sống cá nhân mỗi nhà văn như
Đàn gà (1909), Nửa ngày (1909), Người độc thân (1910)- Mori Ogai; Mười
đêm mộng (1908)- Natsume Soseki; Mùa xuân đi xe thổ mộ (1925)-
Yokomitsu Riichi; Xe lửa (1933), Phong cảnh hoàng kim (1939)- Dazai
Osamu... Đây là những truyện ngắn lấy cảm hứng từ cuộc sống riêng tư của
các tác giả. Mori Ogai sau cuộc hôn nhân đổ vỡ với người vợ đã viết Đàn gà.
Nội dung truyện cho thấy tác giả đã thận trọng như thế nào trong việc chọn
lựa người phụ nữ chăm lo cho gia đình. Hoặc với Người độc thân, Ogai đề
24
cập đến chủ đề: Tai họa của những cuộc hôn nhân bắt đầu từ mối quan hệ bất
chính giữa ông chủ và đầy tớ gái.
Natsume Soseki thành công với tiểu thuyết tâm lí. Nhiều nhà nghiên cứu
xem Mười đêm mộng của ông là tiểu thuyết. Tác phẩm này gồm 10 giấc mộng
khác nhau tương ứng với 10 truyện ngắn nối tiếp. Đó là những giấc mơ vô
cùng kì bí với chủ đề lí giải nguồn gốc con người. Các học giả cho rằng chúng
được khai thác từ những giấc mơ của chính nhà văn. Ví dụ như trong giấc mơ
đêm thứ ba, nhân vật tôi cõng một đứa bé mù trên vai và đi đến một nơi theo
chỉ dẫn của nó. Đứa bé đó gọi tôi là “cha” và tự xưng “con”. Điều kì lạ là tuy
bị mù nhưng nó biết tất cả những gì đang xảy ra và nói những câu có tính ám
chỉ. Cuối cùng, khi đến một phiến đá, đứa bé nói rành rọt: “Đây là nơi mà
mày đã giết tao”. Tôi choáng váng nhớ lại 100 năm trước đã giết một người
mù. Cùng lúc, đứa bé đang cõng sau lưng bỗng nặng như đá. Tác giả muốn
nói điều gì từ những hình ảnh ẩn dụ trên? Phải chăng, đứa bé nặng như đá
tảng trên lưng là quả của những gì người đàn ông gây ra trong kiếp trước?
Tác phẩm Mùa xuân đi xe thổ mộ (1925) của Yokomitsu Riichi viết về
cuộc sống cá nhân của chính nhà văn. Hai vợ chồng trẻ sống trong không khí
nặng nề. Người vợ bị lao phổi nặng, thường kiếm cớ tranh cãi với chồng.
Trong khi đó người chồng vừa chăm sóc vợ vừa phải lo làm việc để kiếm tiền.
Anh chịu đựng tất cả sự gắt gỏng ấy mà không hề trách móc. Cuối cùng người
vợ không qua khỏi. Khi nàng sắp qua đời, cả hai tha thứ và yêu thương nhau
hơn. Vào đầu mùa xuân, người chồng được tặng bó hoa đậu sặc sỡ- đem lại
chút ánh sáng cho căn phòng lạnh lẽo của hai người. Người vợ đưa hai cánh
tay khẳng khiu ôm lấy bó hoa và với khuôn mặt mãn nguyện, nàng trút hơi
thở cuối cùng.
Ngoài đời thực, vợ của nhà văn bị bệnh nặng, ông phải chăm sóc nàng
rất vất vả. Thế nhưng không thể thay đổi được số phận, vợ ông đã qua đời khi
25
mới 25 tuổi. Nhà văn đã chiêm nghiệm những kí ức đau thương đó qua những
trang văn chân thực và xúc động đến tận đáy lòng.
Trong số những nhà văn viết về đề tài này, Dazai Osamu là tác giả xuất
sắc nhất. Hầu hết các tác phẩm của ông đều gợi cho người đọc hình dung về
một xã hội Nhật Bản mất mát, tuyệt vọng sau thế chiến. Osamu xứng đáng là
cây bút tiêu biểu của thời hậu chiến. Những sáng tác thời kì đầu của ông cũng
thể hiện tính tự thuật đậm nét. Ví dụ Xe lửa (1933) kể về người bạn cùng lớp
đại học nhờ tôi tiễn cô bạn gái ra ga. Trước đây, tôi đã nghe kể về mối tình
của người bạn với cô gái đó. Anh ta là trí thức xuất thân khá giả, còn cô gái
vừa nghèo khổ vừa thất học. Vì nhất quyết muốn cưới cô, anh bất hòa với cha,
uất đến nỗi máu mũi trào ra. Sau đó anh lên thành phố học, cô bạn gái cũng
bỏ trốn lên gặp anh. Nhưng rồi chỉ sau một thời gian ngắn, anh cảm thấy chán
và quyết định chia tay. Tôi dẫn vợ cùng đi để tiễn cô gái vì nghĩ họ có cùng
xuất thân sẽ dễ thông cảm. Vậy mà cả hai người phụ nữ đều cư xử lạnh lùng
khiến tôi chán nản. Sau đó, chiếc xe lửa lao đi trong màn mưa lạnh buốt còn
tôi ra về với tâm trạng nặng nề, buồn bã.
Những câu chuyện về gia đình và thời thơ ấu là đề tài thường xuất hiện
trong truyện ngắn của Dazai Osamu. Tôi (Phong cảnh hoàng kim) lúc nhỏ
thường hành hạ người giúp việc Okei vì chị vụng về, chậm chạp. Sau khi bị
cha đuổi khỏi nhà, tôi lao động cực nhọc và thuê một căn hộ nhỏ để sáng tác.
Tôi phải chật vật xoay sở mới sống được qua ngày. Vô tình tôi gặp lại vợ
chồng Okei. Tôi xấu hổ lẩn tránh vì không muốn họ biết hoàn cảnh hiện tại
của mình. Nhưng cả hai vợ chồng vẫn tỏ ra biết ơn gia đình tôi và luôn miệng
khen tôi là người thông thái, tử tế. Tôi rất xúc động và cảm thấy dấy lên trong
lòng niềm tin mạnh mẽ về một ngày mai tươi sáng hơn.
Trên đây là những đề tài mà các nhà văn thời kì này thường lựa chọn.
Những trăn trở và suy nghĩ của các nhà văn đã thể hiện một hình ảnh nước
26
Nhật thời kì mở cửa rất khó khăn để nhanh chóng hội nhập với bên ngoài.
Đồng thời các nhà văn cũng quay về với những yếu tính trong truyền thống
văn học Nhật kết hợp với sự chọn lọc tinh hoa văn hóa từ bên ngoài. Tuy
nhiên với số lượng khiêm tốn, truyện ngắn thời kì này chỉ tập trung vào một
vài đề tài chứ chưa mở rộng phạm vi phản ánh. Truyện ngắn cũng chỉ là khởi
đầu chứ không phải đỉnh cao trong sự nghiệp của các nhà văn. Mori Ogai
khẳng định tên tuổi ở thể loại tiểu thuyết lịch sử. Tác phẩm nổi tiếng của ông
là Bản năng sống (1909), Tái thiết (1910), Thị tộc Abe (1913)… Natsume
Soseki được ca ngợi với các bộ tiểu thuyết tâm lí chứa đựng tư tưởng sâu sắc
như Tôi là con mèo (1904), Cậu chủ (1906)… Tên tuổi Dazai Osamu trở nên
lừng lẫy với tiểu thuyết tự thuật Tà dương (1947) phản ánh một thế hệ Nhật
Bản mất mát sau chiến tranh…
Về nghệ thuật, truyện ngắn thời kì này có một số đặc trưng sau:
Thứ nhất, về nghệ thuật xây dựng nhân vật, đa phần các tác giả ít miêu tả
ngoại hình, tính cách mà chú trọng khám phá, lí giải nội tâm nhân vật. Cách
thể hiện khá đa dạng. Một số tác giả chọn lối miêu tả khách quan như Mori
Ogai, Yokomitsu Riichi… Người kể chuyện ở ngôi thứ ba quan sát và kể lại
chuyện một cách chân thực, không bình luận. Nhân vật không phải là người
phát ngôn của tác giả. Với Đang trùng tu, từ ngôi thứ ba, người quan sát kể
lại cuộc gặp gỡ giữa một “ông Wantanabe” và một “người phụ nữ Đức” cùng
với những diễn biến tâm trạng của Wantanabe trong suốt cuộc gặp. Ngoại
hình của người đàn ông và người phụ nữ không gây chú ý, người đọc không
hề có ý niệm về nhân thân, tính cách của hai nhân vật này.
Một số tác giả chọn lối miêu tả chủ quan, người kể chuyện ở ngôi thứ
nhất. Đó là các nhà văn Tanizaki Junichiro, Shiga Naoya, Kawabata
Yasunari… Phương thức này khám phá những diễn biến tâm lí phức tạp và
bộc lộ bản chất của nhân vật. Tuy nhiên, qua sự đấu tranh tâm lí đó, bản chất
27
nhân vật không khác đi mà bộc lộ rõ rệt và sâu đậm hơn. Truyện Bàn chân
Fumiko (Tanizaki Junichiro) là những diễn biến tâm trạng của Uno. Ban đầu
là sự choáng váng của cậu khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Fumiko. Kế đến là
sự ngỡ ngàng khi cậu phát hiện ra sở thích giống nhau giữa cậu với ông già-
cùng say mê bàn chân cô gái. Cậu đã lợi dụng và khơi gợi sự ham thích ấy ở
ông già, cũng là để thỏa mãn ham muốn của chính mình. Cuối cùng là thái độ
thông cảm đối với cái chết “hoan lạc” của ông già trong cảnh dị thường.
Cái chết của vợ người phóng dao (Shiga Naoya) đi sâu vào những diễn
biến tâm lí của người chồng diễn viên xiếc đã phóng dao đâm chết vợ trong
lúc biểu diễn. Hôn nhân bất hòa vì người vợ không chung thủy là nguyên
nhân khiến người đàn ông nảy sinh ý định giết vợ. Song đây chỉ là ý muốn
trong tiềm thức còn bản thân anh ta là người ngoan đạo. Tuy dày vò, đau khổ
nhưng anh vẫn không nhẫn tâm giết người. Song căng thẳng đã vượt quá tầm
kiểm soát. Người chồng vẫn biểu diễn trong trạng thái suy sụp và gây ra tội ác
nói trên. Khi dao phóng trúng vợ, bản thân anh cũng không biết là chủ ý hay
vô tình. Nhưng trong khoảnh khắc người vợ gục xuống, anh cảm thấy như
được giải thoát và sau đó bình tĩnh kể lại mọi giằng xé trong lòng. Cuối cùng
viên quan điều tra tuyên bố người chồng vô tội. Như vậy, bản chất người
chồng là bất biến mặc dù anh ta giết người. Sau cuộc đấu tranh tâm lí dữ dội,
anh ta vẫn là con người ngoan đạo, lương thiện.
Thứ hai, về nghệ thuật xây dựng tình huống và chọn lựa chi tiết truyện,
các tác giả truyện ngắn đều rất chú trọng. Ví dụ như cuộc gặp gỡ giữa người
đàn ông và cô gái Đức trong quán ăn đang sửa chữa (Đang trùng tu) hay cuộc
gặp gỡ bất ngờ và lời khen tặng của nghệ sĩ phương Tây lừng danh dành cho
cô gái Nhật có vẻ ngoài bình thường (Hanako). Thông qua những tình huống
này, sự xung đột và không thể hòa hợp của hai nền văn hóa được thể hiện rõ
nét. Tình huống đoàn người ấp ủ tâm tư, mơ ước khác nhau cùng bước lên
28
chiếc xe định mệnh và đi đến cái chết thảm khốc (Con ruồi); thằng bé giúp
việc được vị khách bí ẩn đãi một bữa sushi no bụng luôn thầm nghĩ đó là vị
thần (Vị thần của thằng nhỏ giúp việc)… cho thấy sự sắp đặt ngẫu nhiên của
số phận. Tình huống cô gái trẻ bị bệnh sắp chết còn giả là một chàng trai viết
những bức thư yêu đương gửi cho chính mình (Tiếng sáo mùa anh đào trổ lá-
Dazai Osamu) bày tỏ khao khát hạnh phúc mãnh liệt của con người trong
nghịch cảnh. Như vậy, qua các tình huống nghệ thuật, chủ đề tư tưởng tác
phẩm được bộc lộ rõ nét.
Bên cạnh tình huống truyện, các nhà văn cũng chú trọng chi tiết truyện.
Nhưng chúng không đưa đến sự thay đổi đột ngột nào trong tâm lí nhân vật
mà là sự dẫn dắt, kết nối câu chuyện. Trong Vị thần của thằng nhỏ giúp việc,
cảnh cậu bé giúp việc xấu hổ- vì không đủ tiền ăn sushi- đứng tần ngần trước
quầy hàng khiến người khách sang trọng cảm động. Anh muốn đãi cậu bé một
bữa no bụng nhưng còn do dự. Thân phận nghị sĩ khiến anh băn khoăn rằng
hành động của mình phải chăng xuất phát từ sự thương hại. Về sau, anh vô
tình gặp lại cậu bé. Chi tiết này đưa đẩy mạch truyện khiến cho người khách
gia tăng quyết tâm thực hiện ý định tốt đẹp. Như vậy, việc người khách biết
những ước muốn, nơi làm việc của cậu bé không có gì thần bí mà chỉ là sự
tình cờ. Tuy nhiên, đối với cậu bé, tất cả đều là bí ẩn mà trí óc non nớt của
cậu không đủ khả năng lí giải. Cậu luôn nghĩ rằng đó là thần Inari đã hiện ra
giúp mình.
Ngoài những đặc điểm trên, sự tiếp xúc với văn học phương Tây cũng
đưa đến nhiều cách tân khác trong lối viết truyện của nhà văn Nhật, đặc biệt
là về kĩ thuật viết. Đa số truyện đều có lối diễn đạt ngắn gọn, trong sáng, hấp
dẫn. Những kĩ thuật mới như huyền ảo được vận dụng trong Mười đêm mộng,
Niềm khát khao có mẹ, các truyện ngắn trong lòng bàn tay của Kawabata như
Cốt (1924), Bình dễ vỡ (1924), Yuriko (1927)…
29
Những kĩ thuật viết khác bắt đầu xuất hiện mà một trong số đó là dòng ý
thức. Truyện ngắn Thủy nguyệt (sáng tác trước năm 1945) của Kawabata có
vận dụng kĩ thuật này. Nhân vật Kyoko luôn tự vấn lương tâm về những kỉ
niệm bên người chồng quá cố. Cuộc sống của nàng với chồng mới khá êm
đềm nhưng Kyoko vẫn nhớ về chồng cũ với tình cảm thương yêu. Nàng khắc
ghi trong tâm trí hình ảnh người chồng đau yếu trong những ngày cuối cùng
bị bệnh lao giày vò. Kyoko nhiều lúc tự hỏi mình: “Sao mình lại tránh gần
gũi vì lo cho sức khoẻ anh ấy, nếu như mình thừa biết sớm muộn gì rồi anh
ấy cũng sẽ qua đời?” [63, tr.54]. Và ngay cả khi Kyoko mang bầu với người
chồng mới nàng vẫn nghĩ về chồng cũ: “Ta làm gì hả anh, nếu đứa trẻ mang
trong bụng giống anh?” [63, tr.64]. Điều này chứng tỏ trong bất kì phút giây
nào bên người chồng mới, Kyoko vẫn không ngừng hoài niệm về quá khứ.
Kĩ thuật dòng ý thức về sau xuất hiện nhiều trong tiểu thuyết của
Kawabata. Còn truyện ngắn của các tác giả khác trong giai đoạn 1868-1945
chủ yếu sử dụng độc thoại nội tâm chứ chưa vận dụng kĩ thuật này.
Như vậy, đầu thế kỉ XX là thời điểm nền văn học Nhật Bản bắt đầu hiện
đại hóa. Đây là giai đoạn Nhật không ngừng học tập và nỗ lực vươn lên để hội
nhập với thế giới. Những thành tựu được ghi nhận ở nhiều thể loại văn học đã
khẳng định được điều đó. Nhật Bản vinh dự có hai giải Nobel văn học của hai
nhà văn xuất sắc Kawabata Yasunari (1968) và Kenzaburo Oe (1995). Không
ít nhà văn đương đại có số lượng lớn độc giả hâm mộ trên khắp thế giới như
Haruki Murakami, Banana, Masatsugu Ono, Murakami Ryu...
Tuy chưa thể sánh ngang với tiểu thuyết nhưng truyện ngắn đã bắt đầu
có vị thế trong nền văn học Nhật Bản. Đây là những sáng tác thể nghiệm của
bất kì nhà văn thành danh nào trên văn đàn Nhật đương thời. Những cách tân
về nội dung, nghệ thuật trong các truyện ngắn của họ làm nền tảng hình thành
những bộ tiểu thuyết có giá trị sau này. Do đó, sự phát triển mạnh mẽ của thể
30
loại truyện ngắn là khởi điểm phát triển văn học Nhật Bản hiện đại.
Tóm lại, truyện ngắn giai đoạn 1868-1945 tiếp thu thời kì trước ở nội
dung phản ánh những vấn đề đời sống hàng ngày, chú trọng những diễn biến
tâm lí và đời sống tâm hồn của con người. Bên cạnh đó, yếu tố kì ảo được vận
dụng để tạo nên hiệu quả thẩm mĩ trong tác phẩm.
Những cách tân về nội dung như đề tài xung đột văn hóa Đông- Tây, vẻ
đẹp tính nữ vĩnh cửu, cuộc sống cá nhân con người trong một giai đoạn đầy
biến động… tạo nên bộ mặt mới của văn học. Xét về mặt nghệ thuật, nhà văn
thời kì này ngoài việc tiếp thu truyền thống đã vận dụng những kĩ thuật viết
mới của phương Tây như huyền ảo, dòng ý thức… Tuy nhiên, cách tiếp nhận
kĩ thuật viết văn phương Tây của các nhà văn theo kiểu Nhật Bản. Tinh hoa
Thiền tông, văn chương nữ tính thời Heian, các cảm thức thẩm mĩ truyền
thống Nhật Bản (aware, sabi, wabi, yugen, karumi)… luôn ẩn hiện trong các
sáng tác. Nhiều nhà văn như Mori Ogai, Tanizaki Junichiro, Mishima
Yukio… chuyên tâm sáng tác tiểu thuyết lịch sử và tiểu sử lịch sử để lại cho
nền văn học Nhật những kiệt tác. Điều đó minh chứng cho sự liên hệ chặt chẽ
giữa cái cũ và mới, truyền thống và hiện đại trong quá trình sáng tạo của các
nhà văn Nhật Bản. Quả thật, “không thể nào phủ nhận sự tồn tại song song
của những yếu tố truyền thống bên cạnh sự đổi mới. Một nhà văn, dù muốn đi
tìm cái mới đến đâu, cũng không thể cắt đứt hoàn toàn với truyền thống. Nó
có sẵn trong anh ta” [17, tr.8].
1.2. “Bậc thầy truyện ngắn” Akutagawa Ryunosuke
1.2.1. Cuộc đời bất hạnh
Đối với các nhà văn, cuộc đời riêng ảnh hưởng nhiều đến sáng tác. Vươn
lên từ số phận đầy “cay đắng”, Macxim Gorki lấy đó làm bút danh cũng như
nguồn cảm hứng văn chương. Chekhov suốt đời miệt mài sáng tác để gột sạch
“dòng máu nô lệ” của bản thân… Cậu bé Akutagawa Ryunosuke sinh tại
31
Tokyo trong một gia đình khá giả. Vì sinh vào giờ, ngày, tháng, năm đều là
thìn nên cậu được đặt tên Ryu (Long- con rồng). Gia đình cậu sống trong khu
nhà cao cấp- vốn là khu vực nhượng quyền dành cho người nước ngoài.
Nhiều thế hệ trong dòng họ vẫn giữ được nếp sống văn nhân tao nhã. Họ hàng
Akutagawa nhiều đời giữ chức hầu lễ trà đạo trong phủ chúa. Đặc biệt, gia
đình người cậu đã nuôi Akutagawa có truyền thống yêu văn học. Do đó, từ
nhỏ Akutagawa đã có cơ hội tiếp xúc với văn chương. Đây là xuất phát điểm
của một Akutagawa nhà văn.
Akutagawa dường như có số phận may mắn với gia thế khá giả. Tuy
nhiên đó chỉ vẻ bề ngoài bởi vì những bất ổn trong gia đình khiến nhà văn có
một cuộc đời bất hạnh. Ngay từ khi còn nhỏ, Akutagawa đã hứng chịu đòn roi
số phận. Khi cậu vừa bảy tháng tuổi, người mẹ bị bệnh mất trí. Bệnh tật kéo
dài đến khi bà qua đời. Vì thế Ryu được gửi nuôi ở nhà người cậu và lớn lên
trong sự thiếu thốn tình mẫu tử. Chân dung mẹ được nhà văn miêu tả trong
truyện Sổ điểm danh những người đã khuất (1926) thật đáng sợ với khuôn
mặt “màu xám xịt, không một chút sinh khí” [2, tr.454]. Khi đọc sách đến
những chữ “thổ khẩu khí nê xú vị” (hơi miệng đất, thối mùi bùn) thì nhà văn
nghĩ ngay đến mẹ. Do thần trí không tỉnh táo, bà chưa bao giờ có một cử chỉ
thương yêu dành cho con. Bóng đen người mẹ điên bao trùm toàn bộ cuộc đời
nhà văn. Akutagawa lớn lên trong nỗi mặc cảm và lo sợ bị điên giống mẹ. Các
nhà nghiên cứu cũng khẳng định những ảnh hưởng di truyền mẹ là một trong
những nguyên nhân khiến nhà văn tự sát.
Cha Akutagawa làm nghề bán sữa. Việc kinh doanh của ông lúc đầu phát
đạt nhưng về sau thua lỗ nặng. Do mải mê công việc, ông ít quan tâm đến
con. Bản tính nóng nảy, hiếu thắng của ông khiến Akutagawa sợ hãi và xa
lánh. Có lần, người cha muốn đánh nhau chỉ vì thua con trong lúc cùng chơi
đấu vật… Ông mất vì bệnh tật, lúc sắp qua đời thần trí trở nên điên loạn.
32
Akutagawa dành nhiều tình cảm cho chị gái. Đó là người thông minh, khôn
ngoan nhất trong các chị em nhưng lại chết yểu khi cậu chưa chào đời.
Những người thân đều qua đời trước Akutagawa. Tất cả được an táng
trong cùng một ngôi mộ. Dường như cái chết khiến con người suy nghĩ nhiều
hơn về cuộc sống. Trước ngôi mộ chung của những người ruột thịt,
Akutagawa băn khoăn rằng ai trong số họ đã từng hạnh phúc. Ông chiêm
nghiệm lẽ phù du của cuộc đời qua câu thơ của Joso: “Phù du ơi, chỉ sống
ngoài mộ địa”…
Con đường tình duyên của Akutagawa cũng không tươi sáng hơn đường
đời. Ông yêu con một người quen của gia đình nhưng bị ngăn cản. Akutagawa
thất vọng và nhen nhóm suy nghĩ về sự nhỏ nhen, ích kỉ của người đời. Đây là
một trong những đề tài trở đi trở lại trong các sáng tác của nhà văn sau này.
Những bất hạnh cá nhân hình thành ở Akutagawa cái nhìn khách quan,
lạnh lùng. Cái nhìn đó không nghiêng về tình cảm mà lí trí sắc sảo, muốn lặn
sâu vào bên trong để truy tìm bản chất của sự vật. Khởi nguồn không mấy
tươi sáng tạo nên ở Akutagawa một giọng văn u buồn trầm tư, dường như
nhuốm màu sắc bi quan; còn nếu hài hước thì luôn đi kèm châm biếm, mỉa
mai. Cách thức, giọng điệu này dù qua nhiều chặng đường sáng tác vẫn không
thay đổi, như một thứ kim loại đã tinh ròng.
Vào những năm cuối đời, Akutagawa gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng về
sức khỏe. Trong bức thư gửi bạn thân năm 1922, Akutagawa phàn nàn rằng
ông đang chịu đựng nhiều chứng bệnh như suy nhược thần kinh, co cứng cơ
dạ dày, viêm ruột, ngộ độc thuốc và tim đập nhanh. Nhưng sự bất lực trong
việc tìm cảm hứng sáng tác cộng với ảnh hưởng bệnh tật từ người mẹ là tác
động lớn nhất.
Nhiều tai họa cũng liên tiếp ập đến với Akutagawa như người thân bệnh
tật, anh vợ tự tử. Tuy thần kinh suy sụp nhưng nhà văn vẫn phải lo hậu sự và
33
gánh trách nhiệm chu cấp cho gia đình anh. Akutagawa luôn cảm thấy một
bức màn đen tối bao phủ đời mình, vượt quá sức chịu đựng: “Đó là một kinh
nghiệm mà cả đời tôi chưa hề biết. Tôi hết sức cầm bút để viết tiếp nữa rồi.
Tôi không thể sống mà chịu đau khổ thế này mãi. Có ai đó chịu đợi tôi ngủ
mà bóp cổ giùm cho tôi chết đi không?” [58, tr.392]. Tất cả thúc đẩy nhà văn
đi đến một lựa chọn duy nhất: tự tử. Quyết định nghiệt ngã ấy tiếp nối “truyền
thống” khá tàn nhẫn ở một đất nước dường như không có triết lí sống mà chỉ
có triết lí chết. Bao con người ưu tú như Arishima Takeo, Mishima Yukio,
Dazai Osamu, Kawabata Yasunari… cũng chung kết cục bi thảm ấy.
Vào đêm 23 tháng 7 năm 1927, Akutagawa uống một lượng lớn thuốc
ngủ dù người thân canh phòng kĩ lưỡng. Cái chết của ông không gây bất ngờ
với gia đình và bạn bè vì trong những lúc tâm sự với mọi người, nhà văn luôn
đề cập đến ý định tự tử. Mặc dù vậy, trong giới văn học, Akutagawa ra đi để
lại niềm tiếc thương vô hạn. Rất nhiều nhà văn sau này (tiêu biểu như Dazai
Osamu) đã bị ám ảnh sâu sắc bởi cái chết của bậc tiền bối tài hoa.
1.2.2. Tầm vóc một nhà văn lớn
Ngay từ nhỏ, Akutagawa đã bộc lộ tư chất thông minh hơn người. Mới 7
tuổi cậu đã làm thơ haiku. Khi chưa đầy 9 tuổi, cậu đọc được tác phẩm của
các nhà văn nổi tiếng nhất lúc bấy giờ như Tokutomi Roka, Bakin... Cậu cùng
bạn bè lập tạp chí văn chương ở trường khi mới 11 tuổi. Sở thích văn chương
của cậu bé rất phong phú. Về sau, không chỉ các tác phẩm của những nhà văn
hiện đại Nhật Bản cùng thời như Izumi Koyka, Natsume Soseki, Mori Ogai…
mà ngay cả tác gia thời Edo, những truyện cổ Trung Quốc… Akutagawa đều
say mê tìm đọc.
Năm 20 tuổi, Akutagawa học trường dự bị đại học. Chàng sinh viên ấy
bắt đầu làm quen với các tác phẩm văn học nước ngoài của những tác giả tên
tuổi như Anatole France, Baudelaire, Strindberg, Chekhov, Turgeniev,
34
Neitzsche, Tolstoi… Không ít người trong số họ có ảnh hưởng lớn đến đời
văn của ông.
Akutagawa thể hiện năng lực vượt trội khi tốt nghiệp hạng hai trên tổng
số mười bảy người và tiếp tục vào khoa Anh Đại học Hoàng gia Tokyo nuôi
mộng trở thành nhà văn. Đây cũng là con đường của đa số nhà văn Nhật Bản
hiện đại. Họ được đào tạo ở những trường đại học danh tiếng nhất nước, tiếp
xúc khá sớm với những tác phẩm văn học phương Tây. Một số tác giả còn đi
du học như Mori Ogai sang Đức, Natsume Soseki đến Anh… Vì thế, họ có
vốn kiến thức phương Đông lẫn phương Tây sâu rộng.
Sau khi tốt nghiệp năm 1916, Akutagawa dạy ở Đại học Hàng hải trong
thời gian 3 năm rồi về làm việc cho báo Osaka Maniti. Từ thời điểm này,
Akutagawa thực sự dành trọn cuộc đời cho đam mê văn chương.
Thực ra, Akutagawa đã bước chân vào làng văn năm 20 tuổi với truyện
ngắn đầu tay Nước dòng sông Cái. Sáng tác này bộc lộ tài năng đặc biệt, được
xem là “ngưng đọng tất cả cái tinh anh và tươi tắn nhất của tâm hồn ông” [2,
tr.19]. Tác phẩm thể hiện lối viết tài hoa uyên bác và đầy dự cảm của chàng
thanh niên trẻ tuổi. Akutagawa đã miêu tả con sông Cái thân thương của quê
nhà với những tình cảm tha thiết. Đó là con sông của hoài niệm, khơi gợi cảm
hứng văn chương ở nhà văn trẻ tuổi. Những liên tưởng thú vị trong truyện này
thể hiện sự am hiểu về văn hóa Nhật Bản và phương Tây của nhà văn trẻ tuổi.
Sông Cái của Akutagawa dễ khiến người đọc liên tưởng đến sông Hương của
Hoàng Phủ Ngọc Tường (Ai đã đặt tên cho dòng sông?) và sông Đà của
Nguyễn Tuân (Người lái đò sông Đà). Ra đi từ những con sông quê hương,
các nhà văn tài hoa tìm đến với dòng sông bao la hùng vĩ hơn- dòng sông văn
học.
Đến hai tác phẩm tiếp theo, Cổng Rashomon (1915) và Cái mũi (1916),
tên tuổi Akutagawa đã thực sự vang vọng trên văn đàn. Văn hào Natsume
35
Soseki đọc Cái mũi đã viết ngay một bức thư tán thưởng: “Truyện ông viết
thực hay. Điền đạm, không đùa cợt, cứ kể một cách tự nhiên mà làm người ta
thấy buồn cười một cách nhẹ nhàng. Hơn nữa chất liệu dùng trong truyện lại
rất mới mẻ. Văn từ gọn gàng, trình bày đầy đủ những điều cần thiết. Tôi phục
lắm. Cứ tiếp tục viết thêm độ hai ba mươi tác phẩm như vậy thì ông sẽ trở
thành một nhân tài hiếm có của văn đàn cho xem” [58, tr.390]. Lời khen của
cây bút tầm cỡ khiến Akutagawa phấn chấn và tự tin xác lập hướng đi riêng.
Trong thời kì đầu (khoảng từ 1912-1918), Akutagawa lấy đề tài từ các
truyện cổ như Konjaku Monogatari (Truyện giờ đã xưa), Uji Shuui
Monogatari (Truyện do ông phán quan ở Uji chép nhặt lại). Đây là những tác
phẩm lưu truyền từ rất sớm trong văn học Nhật Bản.
Giai đoạn tiếp theo (khoảng từ 1918-1920), ngoài những đề tài nói trên,
nhà văn mở rộng thêm phạm vi, không gian sáng tác của mình sang thời Edo,
thời ngoại quốc đến truyền giáo…
Từ năm 1920, Akutagawa đột ngột chuyển hướng sáng tác. Ông bước
vào lĩnh vực tiểu thuyết tự thuật. Giai đoạn đầu nhân vật chính là Yasukichi-
chính là tác giả- xuất hiện ở ngôi thứ ba. Sau đó mới đến kiểu nhân vật xưng
tôi.
Vậy khái niệm “bậc thầy truyện ngắn” được hiểu như thế nào?
Trong toàn bộ sự nghiệp văn học, Akutagawa để lại khoảng 140 truyện
ngắn và một số sáng tác thuộc thể loại khác. Ngoài ra, ông còn là nhà biên
tập, nhà phê bình và lí luận văn học tài năng. Tuy nhiên có thể nói truyện
ngắn là thể loại thành công bậc nhất. Đặc biệt, những sáng tác trong thời kì
đầu được các nhà nghiên cứu đánh giá rất cao.
Nếu như trong giai đoạn này, đề tài truyện ngắn của các nhà văn khác là
bối cảnh xã hội đương thời, xung đột văn hóa Đông- Tây, tính nữ vĩnh cửu…
thì Akutagawa tự khai mở một lối đi riêng. Ông sử dụng cốt truyện cổ để sáng
36
tạo. Do đó, cốt truyện có thể quen thuộc nhưng cách dẫn dắt và lí giải của tác
giả soi sáng nội dung truyện ở khía cạnh khác. Đó là một kiểu tư duy, cảm
nhận không theo lối mòn. Điều nhà văn quan tâm nhất là những xung đột nội
tâm của con người- được xem như đối tượng nhận thức chính. Vì vậy, tuy đề
tài cũ nhưng những truyện ngắn của Akutagawa vẫn luôn hiện đại và lôi cuốn.
Akutagawa còn thể hiện trình độ bậc thầy về kĩ thuật viết. Nghệ thuật
phân tích tâm lí nhân vật cùng với lối dẫn truyện khéo léo của tác giả đã đưa
người đọc vào hành trình khám phá tâm hồn con người- một lĩnh vực bí ẩn
nhưng hấp dẫn. Tiếp nối kĩ thuật viết truyền thống song Akutagawa đã có một
sự cách tân vượt bậc về nhiều phương diện. Akutagawa kế thừa lối quan sát,
kể chuyện khách quan của tiền bối tài hoa Mori Ogai, ảnh hưởng thuyết vị kỉ
của Natsume Soseki. Tuy nhiên với sự tiếp nhận đậm chất Akutagawa, truyện
ngắn của nhà văn vẫn có sức hấp dẫn đặc biệt.
Tác giả chú trọng đến ngoại hình lẫn đời sống nội tâm của nhân vật, từ
đó phác họa nên những bức chân dung sống động. Các tình huống, chi tiết
truyện được sắp xếp để nhân vật dần dần tự bộc lộ. Người đọc sẽ cảm thấy
như được nhìn qua một ống kính vạn hoa những sắc thái tâm lí vô cùng phức
tạp và thú vị của con người. Theo đó, mỗi hoàn cảnh, mỗi tình tiết đều phản
ánh sâu sắc xung đột sâu xa bên trong tâm hồn con người, réo gọi họ đi đến
những hành động, quyết định mà ngay cả bản thân cũng không thể lí giải
nguyên nhân. Akutagawa cũng là một trong những nhà văn tiên phong khi áp
dụng những kĩ thuật viết mới mẻ từ phương Tây như huyền ảo, mờ hóa, cách
tân về mặt cấu trúc truyện, xóa nhòa lằn ranh các thể loại… Khó có thể tìm
thấy ở một tác giả nào trong giai đoạn này lại có số lượng cũng như sự biến
hóa của truyện ngắn đáng kinh ngạc như vậy.
Chính vì những lí do đó nên ông được công nhận là bậc thầy truyện
ngắn.
37
Những giai đoạn sau, tuy chuyển hướng liên tục về đề tài nhưng đối
tượng nhận thức chính trong sáng tác của tác giả không hề thay đổi. Chúng
được quan sát dưới nhiều góc độ, khía cạnh hơn. Chính vì vậy, ông vẫn luôn
là một ngòi bút được nhiều độc giả hâm mộ. Toàn tập tác phẩm của
Akutagawa đã được xuất bản tới ba lần vào những năm 40, 50 bên cạnh nhiều
công trình biên khảo và nghiên cứu về ông. Ngoài ra, truyện của ông còn
được dịch ra các thứ tiếng Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Italia…
Khi Akutagawa qua đời, người bạn của ông là Kikuchi Kan- biên tập
viên một tờ báo lớn- đã lập ra giải thưởng văn học mang tên Akutagawa nhằm
tôn vinh sự nghiệp của nhà văn. Đây là giải thưởng danh giá hàng năm ở Nhật
Bản dùng để trao tặng cho những cây bút trẻ xuất sắc. Nhiều người đã trở
thành nhà văn nổi tiếng của Nhật Bản như Abe Kobo, Tomoko Yoshida, Ryu
Murakami, Yoko Ogawa, Hikaru Okuizumi… Gần đây nhất là Kashimada
Maki (2012).
Khi nhắc đến văn học Nhật, độc giả phương Tây nhớ nhiều đến những
cái tên như Kawabata Yasunnari, Mishima Yukio, Haruki Murakami… Tuy
nhiên nhà văn Nhật Bản đầu tiên được nước ngoài biết đến cũng chính là
Akutagawa Ryunosuke. Bởi vì hai tác phẩm Cổng Rashomon và Bốn bề bờ
bụi của ông được đạo diễn Akira Kurosava chuyển thể thành phim Rashomon
năm 1951. Bấy giờ, điện ảnh Nhật Bản không đủ khả năng cạnh tranh với bên
ngoài. Tuy nhiên, bộ phim trên đã mang về giải thưởng Sư Tử Vàng danh giá
tại Liên hoan Phim Venice. Lần đầu tiên điện ảnh Nhật Bản nói riêng và châu
Á nói chung vinh dự nhận được giải thưởng này. Từ đó về sau, Akutagawa rất
nổi tiếng. Tác phẩm của ông mang ánh sáng tân kì đến với độc giả khắp thế
giới.
Như vậy, Akutagawa để lại di sản văn học đồ sộ. Cuộc đời ông là sự trăn
trở và sáng tạo không ngừng. Khi biết tiểu thuyết không phải là sở trường,
38
ông kiên trì theo đuổi thể loại truyện ngắn. Trong quá trình sáng tác truyện,
ông liên tục có sự chuyển hướng đề tài, phạm vi phản ánh chứ không chung
thủy với một dạng đề tài hiện thực hoặc tự thuật như phần lớn tác giả đương
thời. Con đường này lắm chông gai song thành công mà ông đạt được rất
đáng kể. Lối viết của ông từ đó đến nay không ai bắt chước được. Toàn bộ
cuộc đời, văn nghiệp của Akutagawa gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ về số
phận của một con người tuy bất hạnh nhưng vô cùng tài hoa, nỗ lực không
ngừng để sáng tạo nghệ thuật.
1.3. Tuyển tập truyện ngắn Trinh tiết
Như đã nói ở phần Dẫn nhập, sáng tác của Akutagawa được dịch và giới
thiệu ở Việt Nam từ rất sớm. Tuyển tập truyện ngắn Trinh tiết được Nhà xuất
bản Văn học phát hành năm 2006. Đề tài luận văn chọn tuyển tập Trinh tiết để
khám phá thế giới nghệ thuật của Akutagawa ở thể loại truyện ngắn vì nhiều
lí do.
Trước hết, tuyển tập này được dịch trực tiếp từ nguyên tác tiếng Nhật
chứ không thông qua ngôn ngữ trung gian (những bản dịch trước đây đều
được chuyển ngữ từ văn bản tiếng Anh, Pháp…), văn phong hoa mĩ của nhà
văn do đó vẫn giữ lại được. Ví dụ truyện ngắn Bốn bề bờ bụi (Đinh Văn
Phước dịch) so với bản dịch của Phong Vũ (được dịch thành Trong rừng trúc)
thì từ ngữ, cách diễn đạt trau chuốt và uyển chuyển hơn. Do đó, Trinh tiết
không chỉ bảo đảm yêu cầu về nội dung mà còn đạt được tính nghệ thuật, tính
thẩm mĩ, thỏa mãn nhu cầu thưởng thức văn chương của độc giả. Nhiều bản
dịch thành công như Nước dòng sông Cái, Cái mũi, Bốn bề bờ bụi, Thân thể
đàn bà… cuốn hút độc giả ngay từ những dòng đầu tiên.
Đội ngũ dịch giả của tuyển tập là những cựu sinh viên du học tại Nhật
trong thập niên 60 (hiện một số đang sinh sống tại Nhật), không chỉ thông
thạo ngôn ngữ mà còn am hiểu sâu sắc văn hóa Nhật Bản. Họ là những học
39
giả uy tín như Nguyễn Nam Trân, Văn Lang Tôn Thất Phương, Việt Châu,
Cung Điền, Đinh Văn Phước, Nguyễn Ngọc Duyên, Phạm Vũ Thịnh… Đối
với các dịch giả, việc dịch Trinh tiết nhằm thỏa mãn niềm say mê, yêu mến
đối với “bậc thầy truyện ngắn” Akutagawa. Đây là một trong số nhiều công
trình biên dịch, nghiên cứu về văn học Nhật Bản của họ. Ví dụ như công trình
đồ sộ nhất là Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản của tác giả Nguyễn Nam
Trân.
Hầu hết các truyện ngắn trong Trinh tiết đều được đánh giá cao, được
xem là tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác của Akutagawa như Cổng Rashomon,
Bốn bề bề bụi, Địa ngục trước mắt, Sợi tơ nhện... Đây là cũng là những truyện
được nhắc đến nhiều nhất trong tất cả những bài nghiên cứu mà chúng tôi tìm
hiểu về nhà văn này.
Số lượng tác phẩm được dịch trong tuyển tập Trinh tiết nhiều hơn hẳn so
với các tập truyện trước. Tuyển tập Trong rừng trúc của Phong Vũ chỉ giới
thiệu 9 truyện. Bên cạnh đó, các truyện ngắn còn trải dài suốt văn nghiệp của
Akutagawa chứ không tập trung vào một vài giai đoạn như các tuyển tập in
trước đó. Ngoài ra, Trinh tiết còn giới thiệu đến người đọc những tác phẩm
chưa từng được dịch của Akutagawa gồm Nước dòng sông Cái, Mùa thu,
Trích sổ tay Yasukichi, Cục đất, Sổ điểm danh những người đã khuất, Mộng
mị, Ảo ảnh cuộc đời.
Tuyển tập Trinh tiết gồm 30 tác phẩm được sắp xếp theo trình tự thời
gian, tương ứng với các giai đoạn sáng tác của nhà văn. Mở đầu là Nước dòng
sông Cái (1912), tiếp theo là những tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệp
Akutagawa như Cổng Rashomon (1915), Cái mũi (1916), Cháo khoai (1916),
Bọn đạo tặc (1917), Thân thể đàn bà (1916), Lòng đã trót yêu (1918), Địa
ngục trước mắt (1918), Sợi tơ nhện (1918). Tất cả đều có điểm chung là lấy
đề tài từ những truyện cổ của Nhật Bản hoặc Trung Quốc, thuộc giai đoạn đầu
40
trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Akutagawa bị quá khứ thu hút vì chúng
có khả năng xử lí các vấn đề bất thường, siêu nhiên hoặc kì diệu. Quá khứ trở
thành một khởi điểm để sáng tạo. Từ những gợi ý của truyện cổ, nhà văn chú
trọng khắc họa chi tiết ngoại hình nhân vật, xây dựng các tình huống khác
thường để khai thác diễn biến nội tâm. Sức hấp dẫn lớn nhất của các tác phẩm
này là khả năng khai thác, lí giải rất sâu sắc của tác giả về những biến đổi tâm
lí kì lạ trong con người. Do đó, tuy lấy đề tài truyện cổ nhưng các truyện ngắn
mang đậm màu sắc hiện đại.
Ứng với giai đoạn tiếp theo là các truyện Cánh đồng khô (1918), Thầy
Mori (1919), Niềm tin (1919), Mấy trái quýt (1919), Ảo thuật (1919), Tiệc
khiêu vũ (1920), Tay đạo chính hào hiệp (1920). Tuy lấy đề tài cũ như giai
đoạn trước nhưng phạm vi phản ánh được tác giả mở rộng. Ví dụ Cánh đồng
khô miêu tả những ngày cuối đời của Basho- thi nhân lừng danh thời Edo,
Tiệc khiêu vũ phỏng theo một tác phẩm nước ngoài kể về sự kiện diễn ra vào
năm Minh Trị thứ mười chín. Khả năng phân tích tâm lí nhân vật của nhà văn
được phát huy. Ngoài thói vị kỉ, cuộc đấu tranh thiện ác… thì giai đoạn này
xuất hiện chủ đề giá trị nhân bản. Đó là tính thiện, phẩm chất tốt đẹp của con
người bị vùi lấp dưới hình thức bề ngoài xấu xí, đáng thương như Mấy trái
quýt, Thầy Mori…
Từ năm 1920, khuynh hướng tự thuật xuất hiện trong sáng tác của
Akutagawa. Các truyện ngắn gồm Đàn bà (1920), Mùa thu (1920), Đứa con
rơi (1920), Bức họa núi thu (1920), Bốn bề bờ bụi (1922), Chiếc xe goòng
(1922), Trinh tiết (1922), Tu tiên (1922), Trích sổ tay Yasukichi (1923), Cục
đất (1924), Sổ điểm danh những người đã khuất (1926), Mộng mị (1926), Ảo
ảnh cuộc đời (1927). Với nhân vật chính là Yasukichi, các truyện ngắn thuộc
dạng tự thuật nhưng người kể ở ngôi thứ ba là sáng tạo độc đáo của nhà văn.
Vào những năm cuối đời, Akutagawa chuyển sang kiểu nhân vật xưng tôi.
41
Nhà văn tiếp tục phát huy sở trường khai thác tâm lí nhân vật nhưng gắn với
những đề tài cuộc sống hằng ngày. Đối với Akutagawa, việc lấy đời tư cá
nhân làm đề tài sáng tác là một hình thức tự diệt- như con rắn tự nuốt cái
đuôi. Bên cạnh đó, áp lực từ cao trào văn học vô sản cũng như bất hạnh cá
nhân đè nặng tâm hồn ông. Vì vậy, âm hưởng chính trong sáng tác thời kì này
là nỗi u buồn, bế tắc và ám ảnh về cái chết. Các truyện ngắn như Sổ điểm
danh những người đã khuất, Mộng mị, Ảo ảnh cuộc đời thể hiện sâu sắc nội
dung này.
Nói tóm lại, việc lựa chọn tuyển tập Trinh tiết làm nòng cốt triển khai đề
tài căn cứ vào nhiều lí do như đội ngũ dịch giả, chất lượng bản dịch, số lượng
tác phẩm, sự triển khai đầy đủ các giai đoạn sáng tác. Theo đó, tuyển tập này
đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản nhất. Tuy nhiên, con số 30 trên tổng
số khoảng 140 truyện ngắn của nhà văn vẫn là quá khiêm tốn. Trong điều kiện
tuyển tập của nhà văn chưa được dịch toàn bộ thì khả năng bao quát là hạn
chế lớn nhất của luận văn. Để khắc phục nhược điểm này, người viết tiến
hành sưu tầm các truyện ngắn khác của Akutagawa từ nguồn internet, các
tuyển tập khác… song song với quá trình thực hiện luận văn; tham khảo tóm
tắt của các nhà nghiên cứu về những truyện chưa được dịch. Có 11 truyện
ngắn đã được sưu tầm gồm Vụ án mạng thế kỉ ánh sáng (1918), Người chồng
có văn hóa (1919), Cái bóng (1920), Đức Chúa ở Nam Kinh (1920), Bóng
người mũ đỏ (1920), À…a…a…ba! (1923), Đất nước của các thủy dân (1927)
và một số truyện chưa rõ năm sáng tác gồm Con Bạch, Hâychu- kẻ bợm tình,
Con rồng, Tuẫn đạo.
Tiểu kết chương 1:
Như vậy, trong bối cảnh văn học Nhật Bản đang bước vào thời kì hiện
đại, nhu cầu nội tại của việc đổi mới khiến cho những sáng tác thời kì này nói
chung và truyện ngắn nói riêng có những cách tân về nhiều mặt. Tuy nhiên,
42
truyện ngắn của Akutagawa là sự cách tân vượt bậc so với các tác gia cùng
thời kì. Đặc biệt, các sáng tác thời kì đầu của ông cho đến nay vẫn là mẫu
mực kinh điển.
Bên cạnh đó, từ trước đến nay nếu xét về thể loại truyện ngắn, các công
trình lí luận văn học chủ yếu nhắc đến các tác giả gạo cội như Chekhov, M.
Gorki, Lỗ Tấn… Văn học Nhật Bản được nước ngoài biết đến nhiều nhất hiện
nay chủ yếu vẫn là thơ haiku, tiểu thuyết Truyện Genji, các tác phẩm đạt giải
Nobel của Kawabatata, tiểu thuyết ăn khách của Haruki Murakami… Truyện
ngắn là một thể loại chưa nhận được nhiều sự quan tâm. Do đó, tìm hiểu
truyện ngắn Akutagawa là việc làm cần thiết để có thêm cái nhìn bao quát về
vị thế của thể loại này trong nền văn học hiện đại Nhật Bản.
43
Chương 2. TUYỂN TẬP TRINH TIẾT VÀ NỖI BUỒN
VỀ “SỰ THẤT BẠI CỦA LÍ TRÍ”
Lí trí là năng lực suy luận và phán đoán, là nhận thức bằng khái niệm
dựa trên cơ sở xử lí chất liệu do tri giác cảm tính mang lại. Do đó, lí trí không
vượt ra ngoài phạm vi của kinh nghiệm. Khái niệm lí trí đối lập với tình cảm.
“Sự thất bại của lí trí” là cụm từ chỉ sự hạn chế của lí trí con người trong
quá trình khám phá hiện thực đời sống. Từ khi xuất hiện đến nay, con người
luôn tự hào là sinh vật thông minh nhất. Gắn liền với sự tự hào là niềm tin
tuyệt đối vào bản thân, đặc biệt là năng lực trí tuệ. Tuy nhiên, trí tuệ của con
người có khả năng vô hạn khi khám phá thế giới hay không? Akutagawa trả
lời câu hỏi này qua các sáng tác của mình. Tác phẩm của ông thể hiện thái độ
hoài nghi, bi quan sâu sắc về niềm tin tuyệt đối này. Do đó, “người đời yêu
văn tài của ông đã đành nhưng cũng thương cảm cho nỗi buồn về “sự thất
bại lí trí” toát ra từ tác phẩm cũng như cuộc đời ba mươi sáu năm ngắn ngủi
và đầy bi kịch của ông” [2, tr.499]. “Sự thất bại của lí trí” thể hiện ở nhiều
phương diện mà trước hết là sự bất tương đồng giữa lí trí và hiện thực.
2.1. Sự bất tương đồng giữa lí trí và hiện thực
2.1.1. Lí trí không phản ánh đúng hiện thực
Con người tồn tại trong mối quan hệ với xã hội. Những gì chúng ta
quan sát và ghi nhận là hiện thực đời sống. Nhưng con người có nhìn nhận
đúng bản chất của hiện thực hay không? Băn khoăn này được Akutagawa thể
hiện qua Tay đạo chích hào hiệp, Tiệc khiêu vũ, Đức Chúa ở Nam Kinh, Bốn
bề bờ bụi, Con rồng… Với những truyện ngắn này, nhà văn đã khéo léo dẫn
dắt người đọc vào cuộc hành trình khám phá cách thức nhìn nhận đời sống
của con người.
Trước hết, có một sự lệch pha giữa cách nhìn của con người và hiện thực
đời sống. Điều mà con người quan sát không phải là bản chất của hiện thực.
44
Đó chỉ là sự khúc xạ những ảo tưởng của con người về cuộc đời và chính bản
thân.
Tay đạo chích hào hiệp là truyện kể về Jirokichi (tên khác là Nezumi
Kozo)- một con người huyền thoại. Trong suy nghĩ của mọi người, đây là
tướng cướp ghê gớm, dám làm những việc táo tợn như cướp của, giết người,
đốt nhà… Đặc biệt, anh ta còn cả gan trêu chọc những vị quan lại giàu có-
những kẻ bóc lột, ức hiếp dân chúng. Những lời đồn đại về chiến tích càng
khiến tên tuổi Nezumi vang dội.
Trong truyện của Akutagawa, Nezumi được miêu tả là khách giang hồ,
vì gặp rắc rối nên phải rời bỏ Edo. Trên đường đi, Nezumi che giấu thân
phận, vô tình kết thân với một tên trộm vặt mà không hề hay biết. Đêm
xuống, khi móc tiền của Nezumi, tên trộm liền bị “tướng cướp” khóa tay. Sau
đó, hắn bị người trong lữ quán đánh đập không thương tiếc. Thật nực cười là
hắn tự xưng Nezumi trước mặt “tướng cướp chính hiệu”! Vì đi nhiều nơi, hắn
biết vô số lời đồn đại về Nezumi. Nhưng điều kì lạ là sau khi nghe hắn khoác
loác, người trong quán trọ lại kính nể, sợ hãi. Nezumi “chính hiệu” vừa bực
vừa buồn cười. Anh đe dọa tên trộm vặt: nếu là tướng cướp thật sự, chẳng ai
dại gì khoe ra tội lỗi vì phạm trọng tội nếu không tử hình cũng tù mọt gông.
Tên trộm vặt tái mặt nhận mình giả danh. Thế là cả quán trọ hùa lại đánh hắn
tiếp!
Như vậy, lí trí chủ quan của mọi người và thực tế khách quan về Nezumi
thật khác biệt. Nezumi của đời thực không có tài xuất quỷ nhập thần. Anh ta
chỉ là người hết sức bình thường với bao niềm vui nỗi buồn, sự cô đơn, cả
tin… Lời đe dọa tên trộm vặt phản ánh nỗi lo sợ bại lộ thân phận của anh ta.
Nezumi “chính hiệu” chỉ muốn sống cuộc đời bình thường, không bị ai chú ý.
Vì thế, huyền thoại Nezumi chỉ là sự khúc xạ những ảo tưởng của con người
về cuộc đời. Những người dân nghèo khổ, bị áp bức luôn mong ước có một
45
người đại diện đứng lên phản kháng. Nezumi là hiện thân của mong ước ấy.
Tuy nhiên con người thực và con người huyền thoại cách nhau khá xa.
Trong số những truyện ngắn của Akutagawa, Bốn bề bờ bụi là một tác
phẩm phản ánh những ảo tưởng của con người về bản thân mình, thể hiện sự
hoài nghi sâu sắc bản chất hiện thực. Bốn bề bờ bụi được kể dưới dạng lời
khai. Việc giết người diễn ra trong rừng sâu, có ba người chứng kiến gồm
người chồng, người vợ, tên cướp. Chỉ có một kết quả duy nhất là người chồng
chết, người vợ mất tích, tên cướp bị bắt. Thế nhưng mỗi người thuật lại một
sự việc hoàn toàn khác nhau.
Tên cướp khai với quan rằng người vợ sau khi bị hắn cưỡng hiếp đã đòi
giết chồng mình. Hắn đấu kiếm và đường hoàng chiến thắng người chồng.
Anh chồng là do hắn đâm còn cô vợ đã bỏ trốn. Người chồng đã chết được bà
đồng gọi hồn lên để thuật lại sự việc. Anh khẳng định cô vợ nhất quyết đòi
giết mình. Tên cướp thấy thế khinh bỉ và đuổi theo giết cô ta. Vì cô đơn và
đau khổ tột cùng nên anh ta tự đâm dao vào tim.
Câu chuyện của người vợ trong lời sám hối ở chùa lại hoàn toàn khác.
Cô uất ức kể lại việc mình bị làm nhục. Nhưng người chồng đã thể hiện thái
độ khinh miệt đối với cô. Cô đau đớn muốn cả chồng và mình cùng chết song
anh ta vẫn tỏ ra thản nhiên. Sau đó, cô tự tay giết chồng và tự tử nhưng không
chết và cuối cùng lưu lạc đến chùa.
Thông thường, khi kể lại chuyện người khác, chúng ta có thể sai lệch vì
không phải người trong cuộc. Tuy nhiên, cả ba người cùng kể lại một sự việc
mà họ chứng kiến và chỉ có một kết cục duy nhất. Nhưng các lời kể lại khác
xa nhau. Điều gì đã chi phối họ? Có phải “bốn bề bờ bụi” đã che giấu sự thật?
Ở đây, nhà văn tạo ra sự không tương đồng trong các lời khai để phơi bày
những tâm tư bị phong kín. Tên cướp vì hiếu sắc nên nảy sinh ý muốn cưỡng
đoạt, thực tâm hắn không muốn giết anh chồng. Hắn đổ lỗi việc giết người là
46
do bị xúi giục, cô vợ mới là kẻ có tội. Lời kể của tên cướp thể hiện sự ngạo
mạn khi khoe khoang đã đánh bại người chồng. Tuy luôn tự tin là con người
nghĩa khí có hành vi mã thượng song thực chất tên cướp là kẻ táo tợn, háo
thắng.
Người chồng vì tham lam nên bị lừa vào rừng sâu. Nếu anh ta sáng suốt
thì con quỷ dâm dục trong tên cướp không có cơ hội trỗi dậy. Sau đó, anh
nhục nhã và bất lực chứng kiến cảnh vợ bị hãm hiếp. Đối với một võ sĩ
samurai, nỗi nhục chỉ có thể rửa sạch bằng hành vi tự sát. Vì danh dự của bản
thân nên cho đến lúc chết, người chồng vẫn không thừa nhận lỗi lầm. Trong
lời kể, anh ta nhấn mạnh sự tráo trở của vợ, khẳng định không ai giết anh mà
là anh tự giết mình. Cho đến lúc chết, danh dự của anh ta vẫn nguyên vẹn.
Nhưng lí lẽ của người vợ thế nào? Danh dự người vợ bị xúc phạm khi cô
phơi bày thân xác trước mặt hai người đàn ông. Tuy người chồng không nói
gì nhưng cô nghĩ mình đã đọc được sự khinh miệt trong mắt chồng. Trong
tâm trí người vợ, chính cô- con người nhục nhã vì bị cưỡng hiếp, đau khổ vì
bị chối bỏ- mới là người cầm dao đâm chết chồng.
Như vậy, lời kể của cả ba có vẻ rất hợp lí. Nhưng tất cả chỉ là một phần
sự thật. Ngay cả những hình thức kể như lời hồn ma qua miệng bà đồng, lời
sám hối ở chùa, lời khai trước công đường có vẻ rất khách quan song không
hề đáng tin.Vì sao họ không nói đúng? Vì cái tôi cá nhân đã chi phối tất cả.
Cái tôi khiến họ không thừa nhận bản thân yếu đuối, tham lam hay độc ác mà
đều ảo tưởng mình cao thượng, tốt đẹp. Vậy đâu mới là sự thật? Câu trả lời
bật lên từ nội dung câu chuyện. Trên đời này không có sự thật phổ quát nào
cả. Cái mà chúng ta gọi là hiện thực không phải là bản chất cuộc sống. Đó chỉ
là những gì có cùng tần số với suy nghĩ của mỗi cá nhân. Hay nói cách khác
không có chuyện Thiện hay Ác và những mối quan hệ nhân quả minh bạch
trong cuộc đời u u minh minh này. Chỉ có những bản ngã mịt mù, khuất lấp,
47
không thể phân giải cũng như phán xét một cách cụ thể, rõ ràng mà thôi.
Khi chuyển thể Bốn bề bờ bụi thành phim, đạo diễn Kurosawa đã thêm
vào nhân vật người đốn củi. Tuy nhiên, lời khai của anh ta cũng không đáng
tin. Người đốn củi đã nói dối việc mình lấy trộm thanh kiếm của người chồng.
Như vậy sáng tạo của đạo diễn đẩy nội dung của truyện lên cao. Thông điệp
đạo diễn muốn gửi có lẽ cũng là điều mà Akutagawa cũng trăn trở: “Con
người là sinh vật duy nhất trên trái đất này biết cách che đậy và thoái thác
trách nhiệm về những lỗi lầm, sai phạm do mình gây ra. Hiếm có ai đủ can
đảm để sống thực với chính mình. Họ luôn tìm cách để thể hiện mặt tốt của
mình, ngay cả người chết cũng nói dối… cuộc đời không chỉ có một chân lí
tuyệt đối duy nhất mà vốn chứa đựng những chân lí tương đối xung khắc cùng
tồn tại” [57, tr.145].
Bên cạnh sự khúc xạ của ảo tưởng thì những ấn tượng mạnh mẽ của cảm
xúc cũng khiến cho lí trí con người bị tác động. Khi đi cùng xe với anh thanh
niên, phu nhân Akiko (Tiệc khiêu vũ) nhìn thấy anh mang theo bó hoa cúc rất
đẹp. Chúng gợi cho bà kỉ niệm thời trẻ. Phu nhân chậm rãi kể cho anh thanh
niên nghe về buổi tiệc diễn ra mấy chục năm trước trong khung cảnh xa hoa
lộng lẫy, hoa cúc ba màu được trang hoàng khắp nơi. Akiko mới 17 tuổi,
được cha đưa đi dự tiệc lần đầu. Vẻ yêu kiều của cô gái thu hút mọi ánh mắt
quan khách. Có một viên sĩ quan đẹp trai người Pháp tên Julien Viaud mời
Akiko khiêu vũ.
Nghe kể xong, anh thanh niên gật gù khẳng định viên sĩ quan đó là nhà
văn Pierre Loti. Phu nhân Akiko lúc ấy “nhìn mặt chàng trai với vẻ lạ lùng,
vừa lẩm bẩm trong miệng không biết bao nhiêu lần: “Đâu, không phải là
người có tên là Loti đâu. Ông ấy có tên là Julien Viaud kia mà” [2, tr.301].
Sự thực thì hai tên gọi cùng chỉ một người. Nhưng phu nhân không quan tâm
đến điều đó. Dấu ấn sâu đậm trong tâm trí bà là sự trầm trồ của mọi người
48
trước nhan sắc Akiko tuổi 17, khung cảnh xa hoa của buổi tiệc cũng như vẻ
đẹp trai của viên sĩ quan người Pháp. Tất cả những điều này ngự trị từ lâu
trong tâm tư Akiko. Vì vậy, phu nhân không thừa nhận sự thực hiển nhiên.
Cái tên “nhà văn Loti” đối với bà hoàn toàn xa lạ.
Như vậy, khi tâm trí của con người bị tác động mạnh mẽ bởi một yếu tố
nào đó, cái nhìn về hiện thực sẽ không còn sáng suốt nữa. Hay nói cách khác,
con người chỉ nhìn thấy cái bóng của sự thật. Cái bóng này được tạo nên bởi
những tâm tư, suy nghĩ, mơ ước về một hình mẫu không tồn tại. Dần dần, cái
bóng được nuôi dưỡng sẽ lớn dần và thay thế hiện thực.
Thứ ba, bên cạnh sự chi phối của ước mơ, tưởng tượng, Akutagawa còn
nhấn mạnh tác động của đức tin và yếu tố ngẫu nhiên.
Thanh Hoa (Đức Chúa ở Nam Kinh) là một cô gái mộ đạo. Để phụng
dưỡng cha già, cô chấp nhận làm nghề bán thân nhơ nhuốc. Sau một thời
gian, Thanh Hoa mắc bệnh giang mai. Bạn trong nghề chỉ cách ăn nằm với
khách để đổ bệnh lên họ nhưng cô nhất quyết không nghe theo. Hằng ngày cô
nguyện cầu Chúa cứu giúp mình.
Đêm nọ, một người khách đột ngột bước vào phòng cô. Khi cánh cửa
bật tung, luồng gió từ bên ngoài thổi vào làm ngọn đèn bàn rực sáng. Toàn
thân vị khách được bao phủ quầng sáng màu đỏ kì lạ. Khuôn mặt anh ta pha
trộn nét Âu lẫn Á khiến Thanh Hoa cảm thấy rất quen thuộc nhưng không nhớ
ra là ai. Vị khách say sưa ngắm cô gái rồi ngã giá bằng cử chỉ ngón tay. Cô
gái khổ sở từ chối vì sợ đổ bệnh cho anh ta. Sau đó, hai người bắt đầu giằng
co nhau. Ngay lúc ấy, bức tượng Chúa treo trên tường rơi xuống khiến Thanh
Hoa kinh ngạc tột độ: Khuôn mặt của vị khách chính là khuôn mặt Chúa!
Thanh Hoa yêu người khách ngoại quốc ngay lập tức với tình cảm tôn thờ.
Sau khi họ qua đêm với nhau, người khách đột nhiên biến mất, bệnh giang
mai của cô gái cũng không còn. Niềm tin Chúa cứu vớt càng được củng cố
49
trong tâm trí Thanh Hoa.
Nhưng sự thật phũ phàng được tiết lộ sau đó. Người mà Thanh Hoa
tưởng Chúa thực chất là một tên ngoại quốc ăn chơi trác táng, vì là người Mỹ
lai Nhật nên khuôn mặt hắn pha trộn hai nét Âu, Á. Hắn khoe khoang khắp
nơi là đã ngủ qua đêm rồi quỵt tiền một cô gái điếm ngoan đạo (chính là
Thanh Hoa). Sau đó, tên này tự dưng mắc bệnh giang mai rồi trở nên mất trí.
Đây không hề là vị Chúa mà Thanh Hoa đã tôn thờ. Sự thật này được tiết lộ
qua suy nghĩ của một người khách khác (vì không nỡ làm Thanh Hoa thất
vọng nên anh cố tình giấu cô).
Như vậy, toàn bộ câu chuyện chỉ là một sự trùng hợp đáng kinh ngạc:
gió thổi ngọn đèn làm người khách bị bao phủ bởi ánh sáng kì ảo, khuôn mặt
giống Chúa, bức tượng rơi xuống ngay khi hai người giằng co, căn bệnh giang
mai đột nhiên biến mất. Những yếu tố ngẫu nhiên cộng với lòng mộ đạo khiến
Thanh Hoa nhìn sai lạc sự thật. Tất cả chỉ là một cú lừa ngoạn mục. Nhưng
Thanh Hoa không thể nhận ra sự lừa dối ấy. Thậm chí đó còn có thể là kí ức
đẹp nhất đi theo cô suốt đời.
Câu chuyện về cô gái ngây thơ mộ đạo khiến chúng ta sửng sốt. Mỗi
người hoàn toàn có thể như Thanh Hoa, đang sống trong ảo tưởng do chính
mình tạo ra. Những gì chúng ta ấp ủ, nâng niu đôi khi là ảo tưởng đáng
thương. Trong thế giới hỗn loạn luôn đảo chiều của ảo tưởng, những gì cao
thượng, đẹp đẽ nhất có thể trở thành bỉ ổi, xấu xa nhất. Phát hiện đáng kinh
ngạc của nhà văn khiến độc giả cảm thấy lo âu về những xác tín của chính
mình.
Thứ tư, việc cá nhân không nhìn nhận đúng bản chất sự thật còn do sự
tác động của tâm lí đám đông. Sư Hanazo (Con rồng) cắm một tấm bảng ở bờ
hồ báo trước sự xuất hiện của một con hắc long để chơi khăm những người
từng giễu cợt mình. Chuyện rồng xuất hiện dĩ nhiên là trò đùa vô thưởng vô
50
phạt. Tuy nhiên, mọi người đều tin là thật và thông tin trên nhanh chóng được
lan truyền.
Vào đúng ngày được ấn định trên tấm bảng, đám đông tề tựu quanh hồ.
Sư Hanazo kinh hoảng ra sức phân trần nhưng không ai nghe. Thế rồi, chính
sư cũng ao ước việc rồng bay lên là thực khi chứng kiến sự chờ đợi đầy háo
hức của mọi người. Đột nhiên bầu trời đang trong sáng bỗng nổi mây đen và
một con hắc long từ dưới hồ bay vút lên không trung. Tất cả diễn ra đúng như
những gì sư đã ghi trên tấm bảng kia! Sư Hanazo kinh ngạc không nói nên
lời. Có thể giải thích như thế nào về hiện tượng này?
Hiển nhiên việc rồng bay lên trời là không thực. Đó chỉ là sáng tạo của
tác giả để đưa ra tình huống tâm lí đám đông có ảnh hưởng đến tâm lí cá
nhân. Sự việc không đúng, không có thực nhưng nếu đám đông khẳng định đó
là chân lí, sự thật thì cá nhân cũng tin theo. Bản thân sư Hanazo là người tạo
ra trò đùa. Thế nhưng khi ai nấy đều tin thì chính sư cũng hoang mang. Cuối
cùng sư bị thuyết phục bởi sự dối trá do mình tạo ra.
Qua những truyện ngắn trên đây, chúng ta nhận thấy tâm lí của con
người hết sức phức tạp. Chúng được tạo nên từ những hoài niệm quá khứ,
khát khao hiện tại và mong ước trong tương lai. Những yếu tố này chi phối
cách con người quan sát, ghi nhận và đánh giá hiện thực đời sống. Con người
không chỉ phán đoán sai bề ngoài mà còn nhầm lẫn bản chất của sự vật. Trí
tuệ của chúng ta không đủ sáng suốt để nhìn nhận sự vật khách quan và chân
thực như nó vốn có. Phát hiện này của nhà văn chính là một sự cảnh tỉnh.
2.1.2. Lí trí không thể lí giải bí ẩn đời sống
Ở khía cạnh thứ nhất, tác phẩm của Akutagawa cho chúng ta thấy sự chi
phối của tâm lí khiến con người không nhìn nhận đúng bản chất của các hiện
tượng đời sống. Tuy nhiên, có những sự việc, hiện tượng của đời sống được
con người nhìn nhận nhưng không thể lí giải. Các truyện Bóng người mũ đỏ,
51
Ảo ảnh cuộc đời… thể hiện nội dung này.
Thứ nhất, đời sống có những điều siêu nhiên, thần bí mà con người
không thể giải thích được. Điều này được Akutagawa nhấn mạnh qua tác
phẩm Bóng người mũ đỏ. Đây là truyện ngắn mang màu sắc kinh dị, thể hiện
văn phong mới mẻ của Akutagawa. Tác phẩm ra đời vào giai đoạn sáng tác
thứ hai của nhà văn, thể hiện sự tìm tòi, đổi mới về đề tài và phương thức
sáng tác.
Truyện kể về thiếu phụ Chieko có chồng đi lính xa nhà. Ba lần ra ga định
đi thăm người bạn, Chieko đều gặp một người phu đội mũ đỏ. Anh ta hỏi
thăm Chieko rất tự nhiên và còn báo tin chồng cô bị thương. Nhưng sau đó,
người phu biến mất một cách kì lạ ngay trước mắt cô. Chieko không tài nào
nhớ rõ mặt anh ta. Vì quá sợ hãi nên cô từ bỏ ý định và quay về nhà. Khi
chồng Chieko trở về, điều đáng ngạc nhiên là anh quả thực bị thương trong
thời gian ấy. Sau đó, hai vợ chồng có việc phải ra ga, họ cùng nhìn thấy
khuôn mặt người phu mũ đỏ hiện ra bên cửa sổ khi tàu chạy. Chồng Chieko
kể với vợ rằng lúc chiến đấu ở Marseille, anh từng nói chuyện với người phu
ấy nhưng cũng không tài nào nhớ mặt. Về sau người phu cũng biến mất rất bí
ẩn.
Rốt cuộc, người phu là ai, thực hay ảo? Cuối truyện hé lộ chi tiết bất
ngờ: người bạn mà thiếu phụ quyết đi gặp trong ba lần ra ga là nhân tình hụt
của cô. Vậy phải chăng mặc cảm phản bội chồng khiến người phụ nữ lo sợ
nên nhìn thấy ảo giác? Và người phu mũ đỏ là sự tưởng tượng nảy sinh từ
lương tâm bị cắn rứt của Chieko? Nhưng tại sao cả chồng cô cũng nhìn thấy
người phu? Đây là điều rất khó giải thích. Ngay cả việc viện dẫn yếu tố tình
cờ, ngẫu nhiên cũng không thể. Do đó, câu chuyện bị bao phủ bởi bức màn bí
ẩn. Bóng người mũ đỏ mở ra trước mắt người đọc một khía cạnh mới của
cuộc sống: chứa đựng những điều kì lạ, trí tuệ con người không đủ khả năng
52
để lí giải thấu đáo. Điều này khiến nỗi bất an mơ hồ dấy lên trong lòng độc
giả.
Thứ hai, bí ẩn của đời sống còn là sự xóa nhòa lằn ranh giữa hai thế giới
thực- ảo. Con người sống trong cuộc đời thực mà cứ ngỡ như mình đang chìm
trong một giấc mơ không bao giờ thoát ra được. Trong những sáng tác cuối
đời của Akutagawa, cảm giác này được đẩy lên tận độ. Ý thức trở thành con
ngựa bất kham không thể kiểm soát. Do đó, tuy đang ở đời thực mà nhân vật
như chìm trong giấc mộng vĩnh viễn.
Giờ nghỉ trưa- một cơn mộng huyễn (Trích từ chùm truyện Trích sổ tay
Yasukichi) là một thế giới huyền hoặc như vậy. Nhân vật Yasukichi đi dạo sau
khi ăn trưa. Trên đường đi, anh nghe hai con sâu đối thoại với nhau về chuyện
người hóa bướm...Về đến phòng học, anh thấy thầy Tomsend vui tính đang
khiêu vũ một mình. Yasukichi soi gương, đột nhiên thấy thầy Tomsend biến
thành cậu trai trẻ đẹp còn mình hóa thành ông già râu tóc bạc trắng.
Như vậy, ảnh ảo mà Yasukichi thấy trong gương nảy sinh do liên tưởng
bất chợt. Từ việc chứng kiến thầy Tomsend khiêu vũ, Yasukichi nhận ra sự
trẻ trung, yêu đời ở thầy cũng như sự già nua trong tâm hồn mình. Do đó,
thông qua những liên tưởng bất chợt và đứt đoạn, nhân vật Yasukichi trong
truyện tự hình thành một thế giới huyễn hoặc quanh mình. Thế giới đó vừa
thực lại vừa ảo, không có lằn ranh rõ ràng với hiện thực.
Trong truyện Mộng mị, nhân vật tôi làm nghề họa sĩ, thường mất ngủ và
có những giấc mơ đầy màu sắc. Tôi mướn người mẫu để vẽ tranh. Thái độ cô
ta lạnh lùng, vô cảm khiến tôi nghĩ thầm: “Đứa con gái này không phải là
giống người, nó không khác gì một con vật” [2, tr.466]. Lúc đầu, tôi phấn
chấn muốn vẽ một bức tranh để đời nhưng khi đối diện giá vẽ thì lại mệt mỏi.
Tôi muốn lột tả con người thực của cô gái qua tranh song đành bất lực.
Khi đêm xuống, tôi đi loanh quanh trong phòng không ra ngoài được
53
trong khi cửa vẫn mở. Tôi thấy mình dùng tay bóp cổ cô người mẫu nhưng
không biết đó là thực hay mơ. Lo sợ việc giết cô ta là thực, tôi đến nơi cô trọ
để tìm nhưng không thấy, khi trở về mới nhận ra khung cảnh xung quanh
quen thuộc- như mình đã từng gặp trong giấc mộng trước đây. Cuối cùng tất
cả kí ức mộng mị biến mất.
Thế giới của Mộng mị bị bủa vây trong giấc mộng- đúng hơn là cơn ác
mộng nặng nề. Nhân vật họa sĩ vùng quẫy trong giấc mộng của chính mình,
không thể thoát ra ngoài. Thực- ảo trong truyện đan xen, lẫn lộn, trùng lắp lên
nhau. Người họa sĩ bất lực trong sáng tạo nghệ thuật, mệt mỏi khi đối diện
cuộc đời, quay quắt trong mê cung không thể tìm được lối thoát. Cảm giác
này tương tự như nhân vật K. trong tiểu thuyết Vụ án của Kafka. Để chạy tội
cho một tội lỗi mà mình không hề phạm phải, K. đã đi khắp nơi tìm tòa án.
Đâu đâu cũng có sự hiện diện của tòa nhưng anh ta lại không bao giờ được
diện kiến pháp luật. Thế giới trong Vụ án thật sự là một mê cung đáng sợ.
Như vậy, cùng giống nhau ở tính chất không lối thoát nhưng mê cung trong
Vụ án là do xã hội tạo nên còn trong Mộng mị là những bi kịch cuộc sống và
sự bế tắc trong sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Mộng mị là tiếng thở
dài buồn bã trong những năm cuối đời của nhà văn tài hoa.
2.2. Sự khuất phục của lí trí trước hoàn cảnh và dục vọng
2.2.1. Hoàn cảnh quyết định lí trí
Tính cách là tổng hòa các đặc điểm tâm lí vững bền ở một con người.
Theo lí thuyết ngành tâm lí học, tính cách con người bị qui định bởi nhiều yếu
tố như di truyền, giáo dục, hoàn cảnh, tự rèn luyện… Sự tác động qua giữa
các yếu tố trên là nền tảng hình thành nhân cách. Tuy nhiên, trong các truyện
ngắn của Akutagawa, tâm lí, tính cách nhân vật hoàn toàn bị qui định bởi
hoàn cảnh. Mọi sự chuyển đổi trong suy nghĩ và hành động đều do hoàn cảnh
gây nên. Hay nói cách khác, lí trí con người bị qui định bởi hoàn cảnh.
54
Nhà văn đã đặt sáng tác của mình vào “những hoàn cảnh khác thường
và tạo nên một màu sắc hoang đường nào đó để nghiên cứu tính cách con
người, để đặt ra những vấn đề đạo đức, thẩm mỹ của hiện đại” [1, tr.7]. Cổng
Rashmon, Trinh tiết, Bốn bề bờ bụi, Bọn đạo tặc, Sợi tơ nhện… là những
truyện tiêu biểu. “Hoàn cảnh khác thường” trong các truyện ngắn này rất
hiếm gặp trong đời thực và đều mang tính sinh tử. Con người trong các hoàn
cảnh đó buộc phải đối mặt với cái chết để giải quyết xung đột. Bản chất, tính
cách được bộc lộ bất ngờ khiến bản thân họ cũng ngạc nhiên.
Truyện ngắn đầu tay đánh dấu tên tuổi của ông- Cổng Rashomon- đã đưa
nhân vật vào dạng thứ nhất của hoàn cảnh khác thường là xung đột thiện- ác.
Truyện kể về một gã nô bộc bị nhà chủ cho thôi việc trú mưa ở cổng thành
Rashomon- biểu tượng của kinh đô huy hoàng nay đổ nát, chất đầy xác người
chết dịch. Gã nô bộc mất việc, nhịn đói đã nhiều ngày. Ngồi ngắm cảnh chiều
mưa tầm tã, gã phân vân xem có nên trở thành kẻ cướp để duy trì mạng sống
hay không. Vô tình, gã phát hiện một bà già đang nhổ trộm tóc xác chết. Vì
căm ghét cái ác nên gã bắt bà để tra hỏi. Bà ta cãi rằng làm thế không có gì ác
cả, chẳng qua vì hoàn cảnh đưa đẩy mà thôi. Còn xác chết bị nhổ tóc khi còn
sống là một người đàn bà dối trá, có bị như vậy cũng thích đáng. Gã nô bộc
như bổ sung được “lí luận” làm nền tảng cho lựa chọn của mình. Gã không do
dự mà quyết định trở thành tên cướp. “Phi vụ” đầu tiên của gã chính là cướp
chiếc áo kimono bà lão đang mặc trên người!
Như vậy, nội dung truyện ngắn không đơn thuần là sự tranh cãi giữa bà
già- tên cướp mà là cuộc đối đầu giữa thiện và ác. Cảnh ngộ bi đát của gã nô
bộc chứng tỏ cái thiện đang phải chịu thử thách. Trước cám dỗ trở thành kẻ
cướp, gã nô bộc phân vân, lưỡng lự. Lúc này, cuộc đối đầu giữa thiện và ác
bắt đầu. Việc gã nô bộc căm ghét hành động trái đạo lí của bà lão chứng tỏ
bản chất gã lương thiện, sinh ra không phải để làm kẻ cướp. Lòng căm ghét
55
đối với việc làm của bà già khởi phát một cách tự nhiên hoàn toàn phù hợp
với thái độ do dự trước đó. Tuy nhiên lí luận của bà già- lí luận của cái ác-
thật ghê gớm: làm việc ác chẳng qua bất đắc dĩ, lấy cái ác đối xử với cái ác.
Như vậy, cái ác nảy sinh là do hoàn cảnh còn con người là nạn nhân của hoàn
cảnh đó. Việc làm ác không bị xét đoán nếu nạn nhân từng là kẻ có tội. Kết
thúc truyện ngắn Cổng Rashomon là sự chiến thắng của cái ác. Mầm lương
thiện còn sót lại trong gã nô bộc đã bị triệt tiêu hoàn toàn. Tóm lại, nguyên
nhân khiến gã nô bộc tự biến mình thành tội phạm trước hết là do hoàn cảnh.
Hoàn cảnh khốn cùng thì mọi luân lí cao thượng đều trở nên vô nghĩa.
Thông qua nhân vật gã nô bộc, Akutagawa đã trưng bày trước mắt người
đọc một bức chân dung thật sinh động về con người. Con người mang những
phẩm chất tốt đẹp và luôn hướng thiện. Tuy nhiên, khi rơi vào hoàn cảnh
khốn cùng thì bản tính của họ sẽ thay đổi hay nói cách khác là bị tha hóa, biến
chất. Hoàn cảnh là cơ hội để cái ác len lỏi, vươn những tua bạch tuộc siết chặt
lấy lương tri. Gã nô bộc không nghĩ việc ác gã làm là một mắt xích trong
chuỗi tội ác. Và nếu cuộc sống được xây dựng từ những chuỗi mắt xích ấy thì
mọi giá trị tốt đẹp sẽ bị băng hoại. Do đó, nội dung câu chuyện khiến người
đọc cảm thấy day dứt.
Dạng thứ hai, hoàn cảnh thử thách bản chất, tình cảm thật sự trong con
người mà lí trí đã che giấu. Các truyện tiêu biểu gồm Sợi tơ nhện, Bốn bề bờ
bụi, Bọn đạo tặc...
Sợi tơ nhện là truyện ngắn súc tích, mang ý nghĩa triết lí sâu sắc. Thử
thách sinh tử đã bộc lộ bản tính ích kỉ bên trong con người. Truyện kể về tên
Katanda cả đời cướp của giết người, khi chết bị đày xuống địa ngục. Đức Phật
thương tình hắn có lần tha chết cho con nhện nên thả xuống trước mặt
Katanda một sợi tơ. Hắn mừng rỡ leo lên. Cùng lúc ấy, nhiều tội nhân ở bên
dưới cũng bắt chước. Katanda sợ sợi tơ đứt nên quát mắng không ai cho leo
56
theo. Ngay lúc ấy, sợi tơ đứt phựt, hắn lộn nhào xuống địa ngục.
Lòng ích khiến tên Katanda ngu ngốc không nhận ra thử thách của Đức
Phật. Như vậy, chỉ có thể nhìn thấy khuôn mặt thật của con người khi thử
thách lớn lao đặt vào số phận họ. Lúc ấy, cái thiện lẫn cái ác, lòng vị tha lẫn
vị kỉ mới bộc lộ sức mạnh đặc biệt của nó. Thử hỏi còn gì khủng khiếp hơn
địa ngục? Cái gì mỏng manh hơn một sợi tơ nhện mà tên cướp bám vào để
thoát cảnh đọa đày? Trầm luân sẽ chấm dứt nếu con người có sẵn lòng vị tha,
bao dung. Nhưng chỉ cần một chút vị kỉ động chạm đến, lập tức sợi tơ đứt
ngay!
Trở lại với truyện ngắn Bốn bề bờ bụi, chúng ta càng cảm nhận được sự
tác động đáng sợ của hoàn cảnh đối với tính cách. Sự thật đã vĩnh viễn bị
chôn giấu. Không ai biết được những gì đã diễn ra dưới rừng trúc. Hoàn cảnh
đã làm thay đổi tính cách cũng như số phận của ba con người. Sắc đẹp của
người phụ nữ khiến tên cướp không muốn cướp của- như hắn vẫn thường
làm- mà là giết chồng để đoạt vợ. Người đàn ông lộ bản tính tham lam, thói sĩ
diện hão ích kỉ. Còn người vợ bản tính vốn cương nghị bỗng yếu đuối và
khiếp nhược trước nỗi nhục quá lớn. Ba con người ấy trong “hoàn cảnh khác
thường” đã bộc lộ trọn vẹn những tính cách khác biệt mà bản thân của họ
cũng không thể ngờ. Hay phải chăng đó mới tính cách thật sự của họ lâu nay
bị lí trí che giấu?
Bọn đạo tặc là một tác phẩm được xây dựng khá công phu, thể hiện ở
dung lượng, cấu trúc và hệ thống nhân vật. Truyện ngắn xoay quanh mối tình
tay ba của hai anh em Jiro, Taro và cô gái xinh đẹp nhưng tàn độc- Shakin. Vì
bị sắc đẹp của Shakin mê hoặc, cả Jiro lẫn Taro đều muốn tiêu diệt nhau.
Trong đêm tấn công nhà quan phủ, người anh cướp được con ngựa quý và
chạy thoát. Người em bị bao vây bởi đàn chó hoang hung tợn, cầm chắc cái
chết. Người anh định để mặc em ở lại. Thế nhưng giây phút nhìn thấy đàn chó
57
hoang hơn chục con lao vào cắn xé em trai, lương tâm không cho phép anh bỏ
đi. Người anh liều mình lao vào và cứu thoát em.
Như vậy, nếu không có trận đánh cướp đêm ấy, có lẽ hai anh em sẽ mãi
là kẻ thù của nhau. Trận đánh sinh tử khiến hai người nhìn ra được sự thật.
Hóa ra bấy lâu nay họ bị sắc dục quyến rũ. Hoàn cảnh đối mặt với cái chết
khiến họ xóa sạch hận thù, trân quí tình cảm ruột thịt.
Dạng thứ ba là những hoàn cảnh điều khiển hành động, ý thức con
người. Bản thân nhân vật không thể lí giải nguyên nhân hành động. Nếu
không khí trong Cổng Rashomon, Bọn đạo tặc có phần nặng nề thì Trinh tiết
là một trong những truyện ngắn hiếm hoi của Akutagawa có kết cục tươi
sáng. Nhân vật chính của truyện là cô đầy tớ trẻ vô cùng trung thành tên
Otomi. Gia đình nhà chủ di tản bỏ quên con mèo cưng nên Otomi quay lại
kiếm mặc dù nguy hiểm rình rập. Về đến nhà, cô gặp một người hành khất tên
Shinko trú mưa. Hắn rút súng đe dọa cưỡng hiếp cô nhưng Otomi không sợ.
Shinko liền chĩa mũi súng về phía con mèo! Otomi thấy thế đã trút bỏ y phục,
chấp nhận hiến thân cho gã hành khất. Thấy thế, Shinko tự dưng hoảng hốt và
xin lỗi cô gái. Sau đó, Shinko hỏi lí do, Otomi giải thích một cách đơn giản
rằng: “…tôi sẽ không thể tha thứ cho chính mình nếu không hành động như
đã làm…” [2, tr.405]. Vì đâu cả hai hành động như vậy? Sĩ diện, tình thương
hay đạo đức? Từ giây phút đó, họ trở nên không tầm thường trong mắt nhau,
dù thân phận chỉ là đầy tớ và hành khất. Cuối truyện cho biết về sau cả hai
đều có vị thế cao trong xã hội, tương xứng với những phẩm chất hiếm có ở
họ.
Qua những truyện ngắn trên, chúng ta nhận thấy tâm lí con người là một
phạm trù vô cùng phức tạp. Bản chất một người không thể quy kết vào những
thuộc tính đơn giản như tốt, xấu, cao thượng, thấp hèn… mà là sự tổng hòa tất
cả các yếu tố trên. Có thể dưới lớp áo thiên thần là tên ác quỷ hoặc ngược lại.
58
Những thuộc tính này chỉ được bộc lộ khi con người rơi vào hoàn cảnh cụ thể.
Do đó, không thể tự tin rằng ta hiểu rõ chính mình. Bên cạnh đó, mỗi người
trong đời có nhiều lần phải lựa chọn. Sự chọn lựa ấy có thể đúng hoặc sai
nhưng ta chỉ sáng suốt khi phán xét một sự việc đã qua. Còn ngay tại thời
điểm đó thì hoàn cảnh có quyền năng tối thượng.
2.2.2. Dục vọng điều khiển lí trí
2.2.2.1. Sự đa dạng của dục vọng
Dục vọng là những ham muốn không chính đáng của con người. Nếu
“hoàn cảnh khác thường” là điều kiện để tính cách được bộc lộ thì dục vọng
có thể sai khiến hành động của con người. Quyền năng của dục vọng điều
khiển con người về mặt lí trí. Autagawa đề cập đến các dạng dục vọng của
con người rất đa dạng gồm sự ích kỉ, lòng tham, ghen tuông, đam mê nhục
dục.
Trong số đó, “sự ích kỉ của người đời” là đề tài nổi bật. Đây là chủ đề mà
Akutagawa ảnh hưởng từ những sáng tác của Natsume Soseki: “Các nhà phê
bình đã phát hiện ra những điều giống nhau giữa các tác phẩm cuối đời của
Soseki và những truyện ngắn của Akutagawa với những vấn đề của thuyết vị
kỉ” [36, tr.196], “Người ta thấy ảnh hưởng của Soseki với chủ đề “sự ích kỉ
của người đời” qua Cánh đồng khô” [58, tr.393].
Tuy nhiên, nguồn gốc của thuyết vị kỉ khởi đầu từ nhà văn La
Rochefoucauld- quý tộc Pháp sống vào thế kỉ XVII. Ông xem tính ích kỉ là
một định đề để lí giải mọi điểm yếu của con người. La Rochefoucauld đúc kết
những chiêm nghiệm nhân sinh qua những câu danh ngôn bất hủ: “Những
đức hạnh của chúng ta thường là những tật xấu được trang phục khéo léo”,
“Không có nịnh thần nào nịnh khéo bằng sự tự yêu mình”, “Dù có phát hiện
ra bao nhiêu vùng đất tự yêu mình thì vẫn còn vô số những lãnh thổ chưa
được khai phá” [78]... Như vậy, mọi hành động của con người đều có thể
59
xuất phát từ động cơ ích kỉ. Con người đang tự ru ngủ mình trong những ảo
vọng về bản thân.
Ảnh hưởng của thuyết vị kỉ biểu hiện khá đa dạng trong các truyện ngắn
Cái mũi, Cánh đồng khô, Sợi tơ nhện, Cục đất, Mùa thu, Vụ án mạng thế kỉ
ánh sáng… Sự ích kỉ ở đây có thể chia thành hai dạng: sự ích kỉ của người
đời đối với cá nhân và sự ích kỉ tồn tại trong mỗi con người.
Cái mũi, Cánh đồng khô châm biếm về sự ích kỉ của người đời. Sư Thiền
Trí (Cái mũi) có cái mũi dài bị mọi người giễu cợt. Người đời ác miệng bàn
tán với nhau rằng đó là lí do sư không lấy được vợ và bỏ đi tu. Khi sư làm cho
mũi ngắn lại, mọi người xì xầm trước phát hiện “thú vị” rằng sư Thiền Trí-
một nhà tu hành- thật ra không phớt lờ hình thức bên ngoài.
Thái độ này phản ánh thói ích kỉ thường thấy của con người. Khi gặp kẻ
bất hạnh con người thường có khuynh hướng thương hại, lúc gặp người may
mắn thì ganh ghét, đố kị. Chỉ có sư Thiền Trí đáng thương là không thể yên
ổn với cái mũi dù đã ngắn như ý nguyện.
Cánh đồng khô châm biếm thói ích kỉ của người đời nhưng không còn
hài hước mà bắt đầu chứa đựng ý vị chua chát. Mối quan hệ được đề cập đến
là tình thầy trò giữa Basho và các đồ đệ mà ông hết mực yêu thương, nâng đỡ.
Họ tập hợp quanh Basho thành một nhóm lấy tên “Tiêu môn thập triết”. Tất
cả đều cung kính và ngưỡng mộ vị ân sư danh quán cổ kim. Thế nhưng khi
ông bệnh tật rồi qua đời, bọn đệ tử không ai thật sự thương xót thầy. Đằng sau
những khuôn mặt buồn rầu là bao toan tính vụ lợi. Có người nghĩ đến lợi
nhuận từ việc xuất bản thơ của Basho, có người lại mừng vì từ đây thoát khỏi
cái bóng vĩ đại của thầy, kẻ khác nhẹ nhõm khi “người chết không phải
mình”… Thậm chí người tận tình nhất trong việc chăm sóc Basho cũng chỉ để
chứng tỏ bản thân trung thành. Hành động của cả đám học trò không xuất
phát từ tình cảm chân thành mà đều là sự ích kỉ. Những giọt nước mắt giã biệt
60
người chết cũng rơi xuống một cách vụng về, giả dối.
Phải chăng, đó chính là sự “hiện thực hóa” đầy đau xót những dự cảm
trong bài thơ từ giã cuộc đời của Basho:
Đau ốm giữa cuộc hành trình
Hồn tôi phiêu lãng
Trên những cánh đồng hoang
Nhà thơ thiên tài đã thấy trước cái chết của mình… Akutagawa để Basho
trút hơi thở cuối cùng trong căn phòng tươm tất bên các đồ đệ. Thế nhưng, sự
ích kỉ khiến con tim của họ khô cằn, lạnh giá khác gì những cánh đồng hoang.
Độc giả cảm thấy thương xót cho nhà thơ. Cho đến lúc qua đời, ông vẫn là
một thiên tài cô đơn.
Như vậy, không chọn thời điểm Basho còn sống, Akutagawa canh “điểm
rơi” đúng lúc nhà thơ tài hoa qua đời. Khi ấy, mọi suy nghĩ của học trò Basho
bộc lộ trọn vẹn. Tất cả những việc làm tưởng như hướng về người chết thực
ra chỉ vì người sống. Tâm lí của mười đệ tử là một bức tranh toàn vẹn về sự
ích kỉ khủng khiếp của con người. Nó chứng tỏ ngay cả những hành động cao
thượng cũng xuất phát từ động cơ cá nhân, những mối quan hệ tốt đẹp luôn
chứa đầy vị kỉ.
Bên cạnh thói ích kỉ của người đời, Akutagawa còn đề cập đến thói ích
kỉ cá nhân trong truyện Sợi tơ nhện, Cục đất, Mùa thu, Vụ án mạng thế kỉ ánh
sáng… Điểm chung của các truyện ngắn này là đều chỉ ra những toan tính vị
kỉ bị che lấp bởi vẻ ngoài hào nhoáng, tốt đẹp. Nhân vật thường trải qua quá
trình vật lộn, giằng xé để nhìn thấy bản chất hành động của mình.
Vụ án mạng thế kỉ ánh sáng là một “vụ án tình yêu” khủng khiếp nảy
sinh từ sự ích kỉ. Bác sĩ Kitabatake yêu em họ Akiko nhưng không dám thổ
lộ. Anh bị cha ép đi du học, khi về nước thì Akiko đã lấy chồng- một kẻ ăn
chơi trác táng. Bác sĩ tình cờ gặp bá tước Honda- người từng đính hôn với
61
Akiko- nhưng hôn sự không thành vì người chồng hiện tại của cô phá rối. Bác
sĩ quyết tâm giết chồng Akiko với mục đích để Akiko và bá tước Honda tái
hợp. Kế hoạch sát hại được thực hiện một cách hoàn hảo.
Kitabatake cảm thấy hạnh phúc nhưng chỉ được vài tháng ngắn ngủi vì
“một nỗi buồn thương khó tả siết chặt lấy ngực tôi”. Honda và Akiko sau đó
cưới nhau. Kitabatake đau khổ với cảm giác “y như thể một lần nữa tôi mất
Akiko” [1, tr.109]. Kitabatake ám ảnh bởi ý nghĩ phải giết chết Honda! Nhưng
như vậy sẽ mâu thuẫn với mục đích cao thượng trước đó. Để đạo đức và danh
dự bản thân không sụp đổ, bác sĩ đã tự sát.
Truy xét đến tận cùng, động cơ giết người không phải vì mục đích tốt
đẹp như bác sĩ tự lừa dối. Nguyên nhân cốt yếu là vì tình yêu vị kỉ, khao khát
chiếm hữu Akiko vẫn còn mãnh liệt. Bác sĩ đau khổ truy vấn lương tâm của
mình: “Tôi đã giết Mixumura vì ai vậy?! Vì bá tước Honda ư? Vì Akiko ư?
Thế có thể là vì chính bản thân tôi không? Tôi có thể trả lời điều đó như thế
nào đây?” [1, tr.110]. Do đó, mục đích cao thượng mà bác sĩ nêu ra hoàn toàn
là sự ngụy tạo để thỏa mãn cái tôi cá nhân đầy toan tính.
Tính ích kỉ còn khiến con người vuột mất những cơ hội quí giá trong đời.
Katanda (Sợi tơ nhện) chỉ gieo một mầm thiện nhỏ đã tự tạo cho mình cơ may
thoát khỏi địa ngục. Nhưng chỉ vì nảy sinh lòng ích kỉ, hình phạt mà hắn phải
gánh lấy cũng thật nặng nề. Từ số phận tên cướp, nhà văn đã đặt ra một vấn
đề khiến chúng ta phải suy ngẫm: Cũng như tên cướp Katanda với thói ích kỉ
đeo đẳng, làm sao con người có thể cứu thoát mình khỏi những trầm luân của
cuộc đời này?
Trong những giai đoạn sau, Akutagawa quan sát biểu hiện của thói ích kỉ
trong cuộc sống đời thường. Sắc thái châm biếm không còn nhiều mà thay
vào đó là nỗi u buồn ngày càng đậm nét. Đó là các truyện ngắn như Mùa thu,
Cục đất…
62
Nobuko (Mùa thu) và anh họ có mối tình thanh mai trúc mã. Thế nhưng
Nobuko đột ngột lấy chồng sau khi tốt nghiệp. Mọi người và em gái đều nghĩ
rằng cô chị hi sinh vì em gái (cô em cũng cảm mến anh họ từ lâu). Nhưng
Nobuko hạnh phúc với lựa chọn của mình. Cô sống êm đềm, nhàn hạ bên
chồng. Đôi khi giữa họ xảy ra mâu thuẫn nhưng sau đó lại nhanh chóng làm
hòa. Nobuko mãn nguyện với ý nghĩ mọi người biết ơn cô, đặc biệt là em gái-
người luôn tự dày vò sau đám cưới chị.
Thế rồi sau lần về thăm em, mọi suy nghĩ của Nobuko bị đảo lộn. Cô em
bấy giờ đã lấy anh họ. Lời nói, hành động của hai người chứng tỏ cuộc sống
của đôi vợ chồng trẻ rất hạnh phúc. Nobuko chạnh lòng nghĩ “sự hi sinh” của
cô đã không được mọi người khắc ghi như cô vẫn tưởng. Hơn nữa, cuộc sống
đầm ấm của em khiến cô ghen tị. Còn cô em từ chỗ biết ơn đã ghen tuông dữ
dội khi thấy người chị có vẻ thân mật với chồng mình. Gặp nhau vui vẻ, hạnh
phúc nhưng hai chị em chia tay nhau trong không khí nặng nề. Nobuko đau
đớn cảm giác “mãi mãi về sau cô đã trở thành một người xa lạ đối với em
cô” [2, tr.346]. Cô cảm nhận nỗi buồn tê tái dâng lên trong lòng mình và thầm
nghĩ: “Mùa thu rồi!”. Đó là thu của đất trời cũng là thu của lòng người, báo
hiệu mùa đông khắc nghiệt sắp tràn về. Khi ấy băng giá lạnh lẽo sẽ đông cứng
ngọn lửa yêu thương giữa những người ruột thịt…
Như vậy, nguyên nhân nỗi buồn của Nobuko xuất phát từ sự ảo tưởng về
những hi sinh cao thượng của bản thân. Bản chất hành động của cô vẫn là ích
kỉ, muốn người khác biết ơn mình. Còn thái độ ghen tuông dữ dội cũng chứng
tỏ cô em ích kỉ không kém chị. Để chăm chút cho hạnh phúc hiện tại, cô quên
hết sự biết ơn chân thành của mình trước đây. Do đó, những tình cảm cao
thượng chỉ tồn tại nhất thời. Tính ích kỉ thường trực đã đảo lộn tất cả những
giá trị tốt đẹp nhất trong mỗi con người.
Cục đất thể hiện sự chuyển hướng sáng tác của Akutagawa. Những sinh
63
hoạt nông thôn được nhà văn miêu tả sinh động. Bà Osumi phải nuôi người
con trai bị bệnh tám năm ròng. Khi con mất bà sống cùng con dâu và cháu
nội. Con dâu không đi lấy chồng mà chăm chỉ làm việc ngoài đồng để tạo
dựng gia tài cho con. Mọi việc trong nhà, bà Osumi phải đảm đương hết. Bà
thấy khổ sở vì tuổi đã cao mà vẫn phải nai lưng làm lụng. Nỗi khổ giống như
hai con ngựa một già yếu, một khỏe mạnh cùng đeo chung cái ách. Mỗi lần
khuyên con dâu lấy chồng, bà đều bị người con dâu ương ngạnh chế giễu lười
nhác. Nhiều trận tranh cãi dữ dội đã diễn ra giữa họ. Bất ngờ cô con dâu lâm
trọng bệnh và qua đời sau một thời gian ngắn.
Lần lượt chứng kiến cái chết của hai người con, ban đầu bà Osumi cảm
thấy được giải thoát. Không chỉ vậy, cái chết bất ngờ của con dâu còn khiến
bà chìm ngập trong niềm hạnh phúc mang tên “tự do”. Thế nhưng, trong đêm
chôn cất cô, bà Osumi tự dưng trằn trọc không ngủ được. Bà nghĩ về cái chết
của hai người con và bất ngờ giác ngộ: chúng thật đáng thương vì có một
người mẹ ích kỉ như bà! Cuộc sống với những mâu thuẫn nhỏ nhặt đã bào
mòn tình thương yêu và sự bao dung ở bà Osumi. Bà chỉ biết căm ghét sự
ngang ngạnh chứ không nhận ra đức hi sinh của cô con dâu. Trong suốt
những năm tháng đã qua, họ đã sống thật bất hạnh!
Mỗi con người đều khao khát vươn đến những giá trị sống tốt đẹp. Tuy
nhiên, toan tính vụn vặt trong cuộc sống đã kéo chúng ta xuống vũng bùn của
thói ích kỉ. Nếu không đủ bao dung, nếu để những điều vặt vãnh che lấp thì cả
những người ruột thịt cũng chỉ nhìn thấy cái xấu xa, ích kỉ mà thù oán nhau.
Khi chúng ta nhận ra được điều đó thì có lẽ đã muộn. Cục đất quả là bài học
đáng suy ngẫm về những lầm lỗi và ngộ nhận của con người.
Bên cạnh thói ích kỉ, lòng tham cũng là một dạng dục vọng đáng sợ. Khi
bị lòng tham làm mờ mắt, con người có thể bất chấp tất cả, thậm chí là tính
mạng. Ảo thuật là truyện ngắn tiêu biểu cho chủ đề này. Mật độ sử dụng các
64
yếu tố kì ảo dày đặc làm cho Ảo thuật mang màu sắc huyền bí giống truyện
Nghìn lẻ một đêm xưa.
Nhân vật tôi tìm đến ảo thuật gia Misura để học phép thuật. Ảo thuật gia
ra điều kiện phải diệt trừ lòng tham thì mới chỉ dạy. Khoảng một tháng sau,
tôi trình diễn phép thuật cho các bạn xem. Tôi làm phép biến than hồng trong
lò thành tiền vàng. Những người bạn tiếc rẻ số tiền nên khích tôi đem đặt
cược để đánh bài. Số tiền cược tăng dần lên. Vận may liên tiếp ập đến khiến
tôi nghĩ đến việc lén sử dụng phép thuật trong ván bài cuối cùng. Ngay lúc ấy,
tấm hình trên lá bài biến thành anh Misura trước mặt. Thì ra, mọi việc chỉ xảy
ra trong chốc lát. Nhà ảo thuật đã tạo ra ảo giác đó để thử thách bản lĩnh của
tôi.
Ảo thuật đã châm biếm lòng tham của con người. Thử thách lòng tham
của ảo thuật gia Misura hoàn toàn có thể xảy ra dưới nhiều dạng khác trong
cuộc sống. Ban đầu tôi biết kìm lòng. Tuy nhiên khi số tiền tăng dần, tôi
không thể làm chủ bản thân được nữa. Hành động lén sử dụng phép thuật vào
phút cuối đã xóa sạch niềm tin về bản thân- tôi không tư cách học phép thuật.
Do đó, lòng tham là dạng dục vọng thường trực trong con người. Khi hội tụ
đầy đủ các điều kiện thì lòng tham sẽ xuất hiện mà con người khó có thể
khống chế được.
Cùng trong mạch truyện, Tu tiên mang tính hài hước, giễu cợt về lòng
tham của con người. Thấy Gonsuke thật thà muốn học phép thuật để thành
tiên, hai vợ chồng thầy thuốc nghĩ kế lừa gạt. Bà vợ yêu cầu Gonsuke làm
người giúp việc không công cho mình suốt hai mươi năm. Hết thời hạn, bà
dạy phép thuật bằng cách bắt Gonsuke trèo lên cây cao, lần lượt thả hai tay.
Trong khi ông chồng sợ tái mặt thì bà vô cùng thản nhiên. Lòng tham đã
khiến bà vợ “thầy thuốc” mất hết nhân tính. Ở đây, thông tin về nghề nghiệp
nhân vật đã thể hiện dụng ý mỉa mai của Akutagawa.
65
Trong Bốn bề bờ bụi, nguyên nhân dẫn đến bi kịch đau lòng còn vì lòng
tham của người chồng. Tên cướp dụ dỗ rằng hắn muốn chia chác những món
đồ cổ đào được với giá rẻ. Lòng tham khiến người chồng không cảnh giác.
Khi khai báo với quan, tên cướp đã trình bày nguyên nhân ấy: “Người đàn
ông nghe tui nói dần dần cũng động lòng ham. Thấy chưa, lòng ham muốn là
thứ đáng sợ thế nào” [2, tr.377]. Câu chuyện khởi phát từ lòng tham và kết
thúc bằng thảm kịch. Nếu sự háo sắc đưa tên cướp đến án tử hình thì lòng
tham đã đẩy người chồng đến cái chết. Nhưng trong giây phút định mệnh ấy,
người chồng đã không còn là mình nữa.
Sự ghen tuông là một biểu hiện của dục vọng không được thỏa mãn ở
con người. Akutagawa miêu tả dạng dục vọng này qua truyện ngắn đặc sắc
Cái bóng. Ta có thể nhận thấy rằng, mô-tip “cái bóng” xuất hiện khá nhiều
trong văn học Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Thơ cổ của Việt Nam
có hai câu nổi tiếng: “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng- Xếp tàn y lại để dành
hương”, chuyện về Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương
(Truyền kì mạn lục- Nguyễn Dữ)… Cổ tích Nhật Bản có truyện Giấc mơ kể
về một người vợ vì ghen tuông nên hồn của cô xuất khỏi thân xác, đến một
nơi rất xa để siết cổ người chồng phản bội [23]. Trong tiểu thuyết Truyện
Genji, một trong những tình nhân của Genji là nàng Yugao. Genji bí mật đưa
nàng đi nương náu ở một nơi tĩnh mịch để tiện cho việc hẹn hò cũng như tận
hưởng tình yêu. Nhưng “bất ngờ vào đêm đầu tiên, người tình của chàng rơi
vào cuộc công kích bởi bóng ma ghen tuông của một người bạn gái khác của
Genji- nàng phi Rokujo- người mà chàng đã bỏ rơi để chạy theo Yugao” [47,
tr.191].
Cái bóng là truyện ngắn có màu sắc kinh dị của Akutagawa. Tuy lấy bối
cảnh hiện đại nhưng truyện lại mang hơi hướng cổ tích của Nhật Bản. Nghi
ngờ vợ không chung thủy, Chen Cai thuê thám tử theo dõi. Tuy nhiên họ
66
không phát hiện ra điều gì. Trong khi đó, cô vợ rất hoảng loạn vì luôn cảm
thấy có một đôi mắt đang dò xét mình. Chen Cai giả vờ đi xa, sau đó bí mật
về nhà trong đêm. Anh nghe thấy tiếng động lạ, chứng tỏ có một người đàn
ông đang ở trong phòng vợ. Chen Cai nhìn thấy một người đang giận dữ siết
cổ vợ. Khi hắn ngước lên, lạ thay, khuôn mặt đó chính là của Chen Cai!
“Chen Cai thứ hai” giận dữ nói: “Mày! Quỉ sứ trong mày ác độc làm sao!”.
Như vậy, cái bóng là chi tiết sáng tạo đầy dụng ý của nhà văn. Không thể
có một người thứ hai mang gương mặt Chen Cai giết chết người vợ. Do đó,
cái bóng là sự hình tượng hóa cơn ghen tuông của nhân vật. Đó chính là phân
thân của Chen Cai. Chính sự ghen tuông của anh ta đã giết chết người vợ.
Bên cạnh sự ghen tuông, đam mê nhục dục là một trong những dục vọng
thuộc về bản năng. Nó chi phối con người một cách mạnh mẽ, khiến họ trở
thành nô lệ cho ham muốn. Tên cướp (Bốn bề bờ bụi) sở dĩ gây nên tội ác bởi
vì hắn nhìn thấy nhan sắc người vợ. Cơn gió vô tình thổi tấm mạng che mặt
làm lộ ra khuôn mặt người phụ nữ. Trong mắt tên cướp, đó là gương mặt
thánh thiện của Quan Thế Âm Bồ Tát. Giây phút ấy, hắn quyết định phải
chiếm đoạt được cô vợ dù có phải giết người. Rõ ràng đam mê nhục dục đã
khiến tên cướp nảy sinh ý định tàn độc ngay trong phút chốc.
Trong các truyện ngắn của Akutagawa, Lòng đã trót yêu đề cập trực tiếp
đến đam mê nhục dục của con người. Nhà văn đã mượn các chi tiết từ truyện
cổ Nhật Bản để xây dựng truyện ngắn này. Tuy nhiên, Akutagawa đã có cách
lí giải riêng về hành động của nhân vật.
Khi còn trẻ, Morito yêu Kesa nhưng chưa chiếm hữu được thân xác nàng
nên vô cùng khao khát. Tình cờ gặp lại nhau, Morito đã sắp xếp để hai người
lén lút chung đụng… Tuy đạt được mục đích và ý thức được mối quan hệ này
là tội lỗi, Morito vẫn không thể dứt bỏ vì đam mê nhục dục quá lớn. Morito
thú nhận: “Ta chỉ tìm nhục dục, không hẳn là nàng mà ta chỉ cần một thân
67
thể đàn bà để thỏa mãn, để dâm dục. Chắc những người cần đến gái buôn
hương bán phấn cũng không ai quá thèm nhục dục như ta” [2, tr.173]. Như
vậy, chỉ vì sống theo bản ngã, bị dục vọng sai khiến mà Morito đã dan díu với
Kesa trong một thời gian lâu dài. Kesa cũng vậy: “Lần đó, khi mọi sự đã xong
xuôi, nàng nằm khóc rấm rứt và khi ta ôm nàng lên, thấy nàng còn khát khao
thèm muốn hơn cả chính ta (…) về cả hai mặt tâm hồn và thể xác, hẳn không
thể có người phụ nữ nào xấu xí và đọa lạc hơn” [2, tr.173]. Ham muốn nhục
dục cuốn hai con người vào vòng xoáy ái tình, bất chấp những ràng buộc đạo
lí. Từ ham muốn này nảy sinh sự ích kỉ khiến Kesa muốn Morito giết chồng
mình để chứng tỏ tình yêu. Còn Morito chấp nhận để khẳng định mình là
người được yêu. Vì đam mê nhục dục, hai nhân vật đã có những toan tính ích
kỉ, bất chấp mạng sống của người khác. Họ như con thiêu thân bị ngọn lửa
tình cuốn vào và thiêu cháy. Do đó, đam mê nhục dục là dạng dục vọng có uy
lực đáng sợ, khống chế lí trí của con người.
Như vậy, dục vọng bên trong con người có rất nhiều loại. Dục vọng đa
phần thuộc về bản năng nên khó khống chế, trừ khi đạo đức và lí trí đủ mạnh.
Thực tế trong các truyện ngắn của Akutagawa, các nhân vật không có đủ khả
năng và bản lĩnh đó. Họ bị dục vọng cuốn vào vòng xoáy không lối thoát. Sự
ích kỉ, lòng tham, ghen tuông, đam mê nhục dục khiến nhân vật bị tha hóa.
Trong cuộc tranh đấu dữ dội này, dường như phần “con” lấn át phần “người”,
khiến con người nhu nhược đến đáng thương.
2.2.2.2. Nỗi buồn khi dục vọng chỉ là ảo vọng
Con người thường cảm thấy hạnh phúc khi thỏa mãn dục vọng, đạt đươc
mơ ước. Tuy nhiên, điều này lại rất hiếm hoi trong các truyện ngắn của
Akutagawa. Khi ước mơ được thực hiện, nhân vật không hề hạnh phúc mà
thường thất vọng và hụt hẫng.
Cháo khoai, Cái mũi là những truyện ngắn đầu tay có đề cập đến khía
68
cạnh này. Ngũ vị (Cháo khoai) luôn ấp ủ ước mơ được ăn đã đời cháo khoai-
món ngon chỉ có trong dịp Tết. Đây là niềm hi vọng để Ngũ vị sống qua ngày.
Vì chỉ là tôi tớ, chưa bao giờ anh ta được thưởng thức thỏa thích. Khi nghe
cậu chủ hứa giúp thực hiện ý nguyện, tâm trạng Ngũ vị luôn mâu thuẫn: nửa
mong thời gian trôi qua thật nhanh, nửa lại muốn trì hoãn. Đến khi chứng kiến
hàng nghìn thanh khoai mập mạp lần lượt chui vào năm sáu chõ cháo khổng
lồ trên sân, Ngũ vị chưa ăn mà đã thấy no, cố hết sức cũng chỉ húp được một
ít cháo.
Sư Thiền Trí (Cái mũi) được đệ tử giúp làm cho mũi ngắn lại theo cách
đơn giản, không ngờ kết quả thật mĩ mãn. Ban đầu, sư mãn nguyện ngắm
nghía khuôn mặt hạnh phúc trong gương. Thế nhưng khi tất cả mọi người
xung quanh ra mặt chế giễu, sư Thiền Trí không còn vui được nữa mà luôn
day dứt, nuối tiếc cái mũi dài thân thuộc xưa kia.
Mục đích sát hại chồng cũ Akiko (Vụ án mạng thế kỉ ánh sáng) đã đạt
được nhưng bác sĩ Kitabatake đau khổ. Cảm giác đánh mất Akiko lần nữa
luôn hiện diện. Bà Osumi (Cục đất) ban đầu cảm thấy như được giải thoát sau
cái chết của cô con dâu. Bà mường tượng đến những bữa ăn ngon, đến số tiền
được hưởng. Nhưng giác ngộ nhanh chóng đã lấy mất niềm vui ngắn ngủi. Bà
Osumi thất vọng và tự chê trách bản thân. Bà chỉ thấy rằng: “… người duy
nhất sống xấu hổ và bị dòm ngó chính là bà, người đáng tội nghiệp nhất” [2,
tr.452].
Vì sao khi mơ ước đạt được, nhân vật lại không thấy hạnh phúc?
Thứ nhất vì mơ ước đã đạt được, còn người không còn hi vọng để sống
tiếp. Ngũ vị sống bao nhiêu năm chỉ ấp ủ mong ước ăn bữa cháo khoai đã đời.
Nhưng khi ước vọng được thực hiện, tràn ngập trong anh ta nỗi tiếc nhớ. Ngũ
vị cảm thấy “thương nhớ bản thân mình ngày trước… Cái thằng tôi thất tha
thất thểu như con chó vô chủ trên đại lộ Suzaku trong chiếc áo khoác vải thô
69
và trong chiếc quần đã ngả màu, cô độc đến thương tâm. Tuy nhiên cái thằng
tôi đó còn có được một mục đích ở đời là đợi cái ngày đạt được niềm hạnh
phúc: ăn một bữa cháo khoai thỏa thuê…” [2, tr.71]. Như vậy, sau khi mơ
ước đạt được con người sẽ và phải tiếp tục cuộc đời thầm lặng của mình. Họ
đối diện với những năm tháng vô vị trước mắt. Khi không còn hi vọng làm
điểm tựa, cuộc sống chỉ là sự kéo lê thân xác qua những chuỗi ngày nặng nề,
vô nghĩa
Thứ hai, con người không hạnh phúc vì sự ích kỉ của người xung quanh
hoặc chính bản thân họ. Sư Thiền Trí đau khổ trước hết vì sự ích kỉ của người
xóm Đuôi Ao. Họ vô tâm đến vô tình khi đem nỗi đau của sư ra chế giễu.
Trong Cục đất và Vụ án mạng thế kỉ ánh sáng, nỗi buồn của nhân vật chính
xuất hiện khi họ nhận ra bản chất ích kỉ của chính mình. Bà Osumi đau khổ
nhận ra mình đã quá vô tâm trước sự hi sinh của con dâu. Còn bác sĩ
Kitabatake nhận thấy động cơ việc giết người xuất phát từ tình yêu vị kỉ. Do
đó, đi liền sau xúc cảm vui mừng ban đầu là cuộc vật lộn ý chí của nhân vật
khi tự nhận ra bản chất. Ngoài hai lí do trên, cũng có những nguyên nhân
khác làm cho hạnh phúc của con người nhanh chóng tan vỡ.
Nguyên nhân thứ ba có thể vì tham vọng của con người quá lớn. Truyện
ngắn Hâychu- kẻ bợm tình kể về chàng trai đào hoa suốt đời tìm kiếm một
người tình lí tưởng. Hễ chinh phục được ai, Hâychu lập tức chán ngay. Khi
tán tỉnh một nàng hầu xinh đẹp nọ, Hâychu rất phấn khích và quyết tâm đeo
đuổi. Tuy đẹp trai, kiên trì là thế nhưng cuối cùng anh ta lại bị bỏ rơi, thất tình
đến nỗi rơi vào hôn mê. Có thể thấy, nỗi đau khổ của Hâychu xuất phát từ
tham vọng không thể thực hiện: Luôn đi tìm người tình lí tưởng nhưng vẻ đẹp
lí tưởng thì không thể đạt đến.
Hoặc Ryohei (Chiếc xe goòng) mới 8 tuổi, vì ham chơi nên đã đi rất xa
nhà. Lúc đầu, cậu say sưa với khung cảnh mới mẻ hiện ra trước mắt. Đến khi
70
trời tối cậu mới ra sức chạy về. Đến nhà, Ryohei òa khóc dữ dội. Rõ ràng, khi
xúc cảm ban đầu qua đi, Ryohei bắt đầu một cuộc hành trình không như mong
đợi. Cảm giác thất vọng, sợ hãi, gần giống như bị lừa dối khiến cậu suốt đời
không quên được. Do đó, không thể biết được điều gì đang chờ đợi chúng ta.
Đạt được ước muốn có thể là một trải nghiệm không hề thú vị.
Vậy nếu hạnh phúc trong đời không đạt được, con người biết trông đợi
vào điều gì? Truyện ngắn Niềm tin là câu trả lời của Akutagawa. Trong truyện
cổ, Vĩ Sinh đợi một cô gái dưới chân cầu nhưng cô không đến. Vì giữ lời hứa,
chàng không rời khỏi chỗ hẹn. Nửa đêm thủy triều dâng, Vĩ Sinh chết đuối.
Bình truyện này Khổng Tử khen: “Phải giữ cho được chữ tín như thế”, Trang
Tử mắng “Chết vì chữ tín kiểu đó là ngu” [2, tr.267].
Akutagawa khắc họa nhân vật Vĩ Sinh kiên trì chờ đợi với niềm tin tuyệt
đối. Nửa đêm thân xác Vĩ Sinh trôi ra biển. Hồn chàng phiêu bạt qua nhiều
đời kiếp, nhập vào thân xác tôi- tác giả. Vì thế, tôi tuy sống giữa thời hiện đại
mà không làm được việc gì ý nghĩa, đêm ngày chờ đợi điều kì diệu sẽ xảy ra.
Nhà văn không nói về chữ tín, không bình luận khôn hay dại mà bàn về niềm
tin của con người trong cuộc đời. Akutagawa đồng cảm với Vĩ Sinh. Niềm hi
vọng ông gửi gắm vào cuộc đời cũng vô vọng như Vĩ Sinh. Với ông, ý nghĩa
của cuộc đời gần như là hư vô vì con người biết chắc không bao giờ nắm trọn.
Suy nghĩ này cũng từng được nhà văn thổ lộ qua lời nhân vật Ngũ vị (Cháo
khoai): “Con người ta có khi hiến cả đời mình cho ước mơ nhưng ngay cả nội
dung của ước mơ đó mình cũng không bao giờ nắm trọn” [2, tr.55].
Vì thế trong cuộc sống, điều mà mỗi người luôn tâm niệm và đeo đuổi
đôi khi chỉ là ảo vọng. Akutagawa thấy mình như Vĩ Sinh kia song lại không
thoát khỏi bi kịch. Ý thức về sự vô vọng khi đạt được ước mơ khiến cái nhìn
về cuộc sống của nhà văn mang màu sắc u uẩn. Niềm tin chính là triết lí u
buồn của nhà văn về cuộc đời.
71
2.3. Hành trình sáng tạo nghệ thuật
Trong tuyển tập Trinh tiết, có một số truyện ngắn của nhà văn viết về đề
tài nghệ thuật như Thân thể đàn bà, Đàn bà, Bức họa núi thu, Địa ngục trước
mắt. Qua những truyện này, Akutagawa hướng đến khám phá bản chất của
nghệ thuật. Người làm nghệ thuật phải có đôi mắt quan sát như thế nào?
Trong nghệ thuật, điều mà nghệ sĩ cần quan tâm là gì?
Dương mỗ (Thân thể đàn bà) một đêm tỉnh giấc thấy mình biến thành
con rận. Trên đường đang bò, con rận khám phá được một ngọn núi tuyệt đẹp:
“Dáng núi hình tròn, treo như một nhũ thạch từ chỗ cao vượt khỏi tầm mắt
gã… Một khoảng núi lớn tắm trong một thứ ánh sáng màu hổ phách dịu làm
thành một hình cung với một vẻ đẹp tuyệt diệu vươn lên về phía chân trời,
trong khi bóng quả núi lấp lánh như tuyết đượm màu xanh nhạt dưới ánh
trăng” [2, tr.167]. Thì ra ngọn núi đó chính là cái vú của người vợ. Nhà văn
kết luận: “Không phải chỉ giới hạn vào trường hợp vẻ đẹp của thân thể đàn
bà, người làm nghệ thuật phải có khả năng nhìn như con rận” [2, tr.168].
Như vậy, chỉ khi biến thành con rận, Dương mỗ mới khám phá hết vẻ đẹp của
bầu vú vợ. Do đó, thấu hiểu bản chất nghệ thuật là công việc khó khăn, đòi
hỏi sự quan sát tinh tế cũng như cách tiếp cận mới mẻ. Nhà văn không chấp
nhận đi theo những lối mòn đơn điệu mà luôn luôn phải có sự sáng tạo trong
tác phẩm của mình. Đàn bà miêu tả một con nhện cái ăn tươi nuốt sống con
ong mật vô cùng tàn bạo theo đúng qui luật sinh tồn. Đồng thời, nó vất vả
giăng tơ, ấp trứng và cho ra đời vô số con nhện con. Dù kiệt sức sau khi lũ
con chào nhưng nó mãn nguyện vì đã hoàn thành thiên chức người mẹ.
Qua sự miêu tả tinh tế, tài hoa và nghệ thuật đối lập độc đáo, Akutagawa
làm hiện lên trước mắt chúng ta một hình tượng nghệ thuật sinh động. Điều
này thể hiện sự quan sát tinh tế: phát hiện cái khác thường trong những điều
bình thường. Đây là một yêu cầu hết sức quan trọng bởi vì một tác phẩm văn
72
học hấp dẫn người đọc bởi cách nhìn, cách cảm nhận mới mẻ về những gì
người khác đều biết.
Tuy nhiên, nghệ thuật luôn chứa đựng những điều bí ẩn mà con người
không giải thích được. Điều này do tâm lí con người hay do tác phẩm nghệ
thuật thì vẫn chưa thể xác định. Trước đây, Yên Khách Ông (Bức họa núi thu)
được Nguyên Tể tiên sinh giới thiệu nên đã tìm đến nhà chủ nhân họ Trương
để xem bức họa Thu sơn đồ nổi tiếng. Đến nơi, Ông thấy cơ dinh rất rộng
nhưng hoang phế. Gương mặt chủ nhân xanh xao như mang bệnh song vẫn
toát lên phong thái của con nhà dòng dõi. Yên Khách Ông xem tranh và thán
phục bức họa thần phẩm. Sau đó, Ông ba lần mang tiền đến nhưng họ Trương
nhất quyết không bán tranh.
Hơn 50 năm sau, con cháu nhà họ Trương nhượng lại bức tranh cho họ
Vương- một gia tộc phú quí. Yên Khách Ông nghe tin mừng rỡ tìm đến. Thế
nhưng khi xem lại thần phẩm năm xưa, khuôn mặt Ông như vương một lớp
mây mờ. Vẫn là cảnh núi non như cũ nhưng so với bức họa xưa thì dường
như kém xa. Yên Khách Ông chỉ còn biết cách lắc đầu: “Tóm lại mọi sự ở đời
chỉ là thoáng chiêm bao. Xem sự thể xảy ra mới biết đâu chủ nhân họ Trương
kia lại chẳng là một thứ tiên chồn!” [2, tr.370].
Như vậy, chỉ một bức tranh mà hai lần xem lại có hai cách cảm nhận
khác nhau. Phải chăng Thu sơn đồ không có thực? Hay bức tranh thần phẩm
khi treo trong nhà tài tử họ Trương trở nên tầm thường khi trưng trên tường
của một hào phú thiếu nghệ sĩ tính? Câu chuyện về bức họa núi thu mãi mãi
là bí ẩn. Hành trình khám phá bản chất nghệ thuật là một quả là một thách
thức đối với người nghệ sĩ.
Bên cạnh việc đề cao khả năng quan sát, ghi nhận của người nghệ sĩ
cũng như phản ánh bản chất bí ẩn của nghệ thuật, nhà văn còn cảnh báo về
mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Đó vấn đề cốt tử mà người nghệ sĩ
73
không thể xem nhẹ.
Lần đầu tiên một truyện ngắn hoàn thành sau ba tháng ròng rã của
Akutagawa viết về đề tài nghệ sĩ- nghệ thuật- cuộc sống. Đó chính là tác
phẩm Địa ngục trước mắt. Yoshihide- vốn là họa sĩ phục vụ Đức Ông- được
giao nhiệm vụ vẽ bức tranh tả cảnh địa ngục. Để có được tác phẩm xuất thần,
Yoshihide bất chấp tính mạng đệ tử. Nhưng bức bình phong còn thiếu một
cảnh cuối cùng: một công nương xinh đẹp bị đốt chết trong cỗ xe ngự. Vì
chưa nhìn tận mắt nên họa sĩ không vẽ được. Yoshihide vô cùng buồn bã
“ngước mắt nhìn lên khung trời sắp vào xuân mà đôi mắt như mờ lệ”, nhiều
khi “ra chỗ khuất ngồi khóc một mình” [2, tr.206]. Đức Ông hứa giúp họa sĩ
hoàn thành ước nguyện và mỉm cười bí ẩn. Ngài sai người đem con gái của
Yoshihide cột chặt vào cỗ xe ngự rồi phóng hỏa. Ban đầu, Yoshihide như hóa
điên lao về phía cỗ xe. Nhưng đột nhiên họa sĩ dừng lại, nhìn chằm chằm vào
cảnh tượng như bị thôi miên. Một tháng sau, kiệt tác hoàn thành. Cả những
người trước đây chê bai Yoshihide kịch liệt cũng công nhận bức tranh thần
diệu. Nhưng cũng trong đêm ấy, khi bức họa thần phẩm được công bố, họa sĩ
tự treo cổ.
Như vậy, truyện ngắn này có chi tiết cần chú trọng là cảnh cỗ xe ngựa
bốc cháy cùng cô gái xinh đẹp- linh hồn của bức tranh. Oái ăm thay, nhân vật
chính lại là con gái họa sĩ. Yoshihide phải vẽ cảnh khủng khiếp nhất đời là
đứa con độc nhất mà mình thương yêu quằn quại trong lửa. Để vẽ được bức
tranh thì cô gái bị thiêu chết. Còn nếu giữ tính mạng của cô thì kiệt tác nghệ
thuật không thể hoàn thành. Yoshihide đã lựa chọn nghệ thuật. Vậy phải
chăng Akutagawa là nhà văn nghệ thuật vị nghệ thuật? Ông từng nói: “Để
sáng tạo một tác phẩm không phải tầm thường, nhà họa sĩ không dừng lại
ngay trước cả việc hiến tâm hồn mình cho quỷ. Tất nhiên tôi cũng sẽ không
dừng lại trước điều đó” [1, tr.9]. Câu nói này của nhà văn cho thấy sức ám
74
ảnh của nghệ thuật. Nếu xét trong mối quan hệ giữa nghệ thuật và con gái họa
sĩ (nạn nhân của nghệ thuật) thì khi xảy ra xung đột, cuộc sống bị hủy hoại.
Tuy nhiên, ở mối quan hệ giữa nghệ sĩ và nghệ thuật, khi hiến mạng sống của
con gái cho nghệ thuật cũng là lúc họa sĩ tự giết mình. Họa sĩ mượn mục đích
(vẽ bức tranh kiệt tác) để biện hộ cho phương tiện (hi sinh mạng sống con
gái). Vì phương tiện sai lầm nên ông phải chết. Kết cục bi thảm của
Yoshihide chứng tỏ rằng ngay cả khi Akutagawa phát biểu như trên, ông cũng
không ủng hộ cho việc vì nghệ thuật mà hi sinh đời sống. Truyện ngắn Địa
ngục trước mắt là sự cảnh báo. Không thể đưa cuộc sống của bản thân lên bàn
thờ nghệ thuật. Người nghệ sĩ sẽ tự hủy hoại mình nếu đối lập nghệ thuật và
đời sống.
Như vậy, bản chất nghệ thuật vẫn còn nhiều bí ẩn. Do đó hành trình
khám phá nghệ thuật đầy khó khăn, thách thức. Là một người nghệ sĩ,
Akutagawa hiểu rõ những trở ngại đó nên tác phẩm của ông chứa đựng nhiều
băn khoăn, trăn trở.
2.4. Hành trình tìm kiếm giá trị nhân bản
Giá trị nhân bản là những phẩm chất đạo đức tốt đẹp làm nền tảng cho
cuộc sống. Cùng với những lo âu khi con người không nhận thức đúng bản
chất hiện thực, không thể lí giải bản chất của đời sống và bị dục vọng nhấn
chìm, nhà văn đau đáu về những giá trị nhân bản thật sự. Theo Nam Trân,
việc tìm kiếm những giá trị nhân bản này chính là một trong những “triết lí
văn chương” của Akutagawa [58, tr.396].
Những sáng tác đề cập đến giá trị nhân bản có thể phân thành hai nhóm.
Nhóm thứ nhất là những truyện đề cập đến những phẩm chất tốt đẹp của con
người nhưng bị khuất lấp dưới vẻ bề ngoài xấu xí đáng thương hại như Thầy
Mori, Mấy trái quýt… Nhân vật chính trong các truyện này thường để lại ấn
tượng tươi sáng, nhẹ nhàng.
75
Truyện Thầy Mori kể về nhân vật thầy giáo cùng tên. Đó là giáo viên
dạy môn Anh văn cấp hai có lối ăn mặc kì dị quê mùa. Thầy dạy không hay,
lại thường xuyên than thở về những khó khăn trong cuộc sống. Vẻ bề ngoài
và cách giảng dạy của thầy khiến học sinh ra mặt chống đối. Ngay cả tôi cũng
xem thường và cho rằng thầy đi dạy chỉ để kiếm sống. Khi đã là sinh viên đại
học, tôi vô tình gặp thầy Mori trong quán cà phê. Thầy đang say sưa giảng
tiếng Anh cho những người bồi bàn. Thì ra ngày nào thầy giảng bài như thế
dù chẳng ai trả công. Khi ấy tôi mới hối hận: “Nếu ai đó sinh ra để trở thành
nhà giáo thì đúng người đó là thầy Mori…” [2, tr.265].
Cùng trong mạch truyện, Mấy trái quýt tựa như bức tranh với những gam
màu tươi sáng về những giá trị tốt đẹp trong con người. Tôi là người hành
khách đi trên chuyến tàu với tâm trạng chán chường. Đột nhiên một bé gái
khoảng 13, 14 tuổi ập vào nhầm toa. Khuôn mặt nó xấu xí thảm hại: “hai gò
má đỏ gay đầy những lằn nứt nẻ ngang dọc, thấy dễ sợ. Nó đúng là một đứa
con gái nhà quê, nó quàng một chiếc khăn len màu lá vàng nhạt cáu bẩn, thả
xuống tận đùi, trên đấy đặt một tay nải lớn” [2, tr.272]. Sự hiện diện của đứa
bé gái làm tăng nỗi u uất trong tôi. Khi tàu qua khỏi hầm, tôi thấy bé gái ném
quýt xuống cho lũ trẻ bên đường ray. Thì ra nó lên phố ở mướn còn lũ em đi
tiễn chị. Phát hiện nay khiến tôi “quên đi được dù chỉ một thoáng cái mệt rã
rời của cuộc đời thấp hèn, tẻ nhạt, vô nghĩa này” [2, tr.277].
Như vậy, cả hai truyện xây dựng hình ảnh đối lập giữa vẻ bề ngoài với
phẩm chất bên trong của người thầy và bé gái. Việc giảng dạy không cần
lương của thầy Mori chứng tỏ đạo đức trong sạch cũng như nhiệt huyết của
một giáo viên chân chính. Hành động ném quýt bộc lộ phẩm chất bên trong
đứa bé gái. Đó là tình thương em và sự dũng cảm đương đầu với khó khăn để
kiếm sống. Tuy nhiên, những điều tốt đẹp bị ẩn giấu. Nếu không có cuộc gặp
gỡ tình cờ, quan niệm của tôi về thầy so với 7, 8 năm trước chắc không có gì
76
thay đổi. Thầy Mori với vẻ ngoài quê kệch, đôi mắt van lơn sẽ vẫn để lại
trong tôi cảm giác thương hại nhiều hơn kính trọng. Nếu tôi không đủ kiên
nhẫn để quan sát cảnh đứa bé ném quýt, không đủ vị tha để đoán ra nguyên
nhân từ biệt em của nó, liệu suy nghĩ của tôi có thay đổi hay không? Đâu đây
trong cuộc sống, sự hời hợt, vô tư đến vô tâm của con người vẫn đang xảy ra.
Do đó, giá trị nhân bản luôn khuất lấp, nếu ta thờ ơ, dửng dưng thì sẽ không
nhìn thấy được.
Nhóm thứ hai là những truyện ngắn thể hiện những băn khoăn, tìm kiếm
và kêu gọi trở về với những giá trị nhân bản đích thực. Các truyện tiêu biểu
như Chiếc mùi soa, Tuẫn đạo, Đứa con rơi, Tu tiên, Con Bạch,… Các phẩm
chất được đề cập gồm sự giản dị, nhân cách cao thượng, tình mẫu tử.
Tinh thần võ sĩ đạo là một sản phẩm văn hóa tinh thần của đất nước mặt
trời mọc: “Võ sĩ đạo thấm đượm những giá trị của Nho giáo kết hợp với Thần
đạo và những yếu tố Thiền của Phật giáo như: đề cao trung hiếu, sùng võ
nghệ, trọng tín nghĩa…” [55, tr.56]. Một trong 8 đức tính cơ bản mà võ sĩ đạo
đề cao là biết kiểm soát: “Những ai không tự chủ được mình để cho những
điều lo lắng bên trong dễ dàng bộc lộ ra nét mặt thì không thể xem là hạng
người có dũng khí. Không hề tỏ ra một dấu hiệu vui mừng hay giận dỗi, đó là
câu nói cửa miệng để nhắc nhở thực hiện đức tính này” [8, tr.52].
Về mặt chính trị và quân sự, tinh thần võ sĩ đạo tạo nên sức mạnh tiềm
tàng, là một trong những yếu tố giúp Nhật Bản vươn lên thần kì. Tuy nhiên
tinh thần võ sĩ đạo cũng có sự hạn chế khi ngăn cản con người vươn đến giá
trị nhân bản thật sự.
Giáo sư Hasegawa (Chiếc mùi soa) tìm đọc những cuốn sách về kịch
nghệ để gia tăng hiểu biết cũng như nắm bắt tâm tư của sinh viên. Ông đang
đọc dở thì mẹ một sinh viên tìm gặp và thông báo cái chết của con trai. Giáo
sư rất ngạc nhiên vì suốt cuộc nói chuyện, người mẹ không hề nhỏ một giọt
77
nước mắt. Khi cúi xuống nhặt cái quạt bị đánh rơi, ông vô tình thấy người phụ
nữ vò chặt chiếc khăn mùi soa trên tay “thiếu điều làm cho nó muốn rách
ra”. Thì ra, người mẹ “ngoài mặt như thể tươi cười nhưng từ khi nãy đến giờ,
chính ra toàn thân bà đang nức nở” [2, tr.84]. Giáo sư xúc động muốn viết
bài báo ca ngợi người thiếu phụ có tinh thần võ sĩ đạo, biết kiềm chế cảm xúc
đến cùng ấy. Sau đó, ông đọc tiếp cuốn sách dang dở. Trong đó viết rằng lối
diễn xuất hai tầng theo kiểu mặt vẫn tươi cười trong khi tay xé rách chiếc
khăn mùi soa là kiểu cọ, giả dối! Mặc dù hai sự việc khác nhau nhưng giáo sư
liên hệ chúng lại và cảm thấy rất thất vọng. Ông nhìn ra hiên, nơi đó treo một
chiếc đèn lồng Gifu với họa tiết những cọng cỏ thu giản dị.
Như vậy, trong khi người phương Tây thể hiện rõ ràng những xung động
tình cảm thì người phương Đông lại khép kín. Sự che giấu quá mức đôi khi
khiến mọi thứ trở nên giả tạo, làm mất đi những cảm xúc tự nhiên chân thành
như tình mẫu tử trong câu chuyện trên chẳng hạn. Làm thế nào để cởi bỏ hình
thức, trung thực với cảm xúc là điều đáng suy ngẫm. Chiếc đèn Gifu cuối
truyện là biểu tượng giàu ý nghĩa, kêu gọi sự trở về với một nền văn hóa Nhật
Bản giản dị, thuần khiết.
Truyện ngắn Tuẫn đạo ra đời khi đạo Thiên Chúa thâm nhập Nhật Bản.
Truyện có dáng dấp Quan Âm Thị Kính của Việt Nam, hướng đến ca ngợi
nhân cách cao thượng ở con người. Nhân vật chính là nhà sư trẻ tuổi đức
hạnh, tuy nhiều cô gái gạ gẫm nhưng vẫn không màng đến. Có cô tức giận vì
bị từ chối nên rêu rao đứa bé trong bụng mình là con sư. Nhiều năm sau, một
trận hỏa hoạn lớn xảy ra trong làng, sư liều mình cứu sống đứa trẻ con cô gái
ấy. Ngọn lửa cũng đã làm sư ngừng thở. Lúc ấy, mọi người mới bất ngờ phát
hiện ra sư là phụ nữ. Với nhân cách cao thượng, sư đã chọn cách im lặng
trước bao nhiêu lời bình phẩm cay nghiệt của người đời. Phẩm chất của sư
thật hiếm có trên đời.
78
Đứa con rơi là câu chuyện xúc động về tình mẫu tử. Nhân vật chính là
đứa bé trai bị bỏ rơi ở chùa. Sư cụ nuôi nấng và mong muốn tìm mẹ ruột cho
cậu. Có người phụ nữ trung niên ăn vận lịch sự đến xin nhận con. Bà kể rằng
vì sinh đứa trẻ trong lúc khó khăn nên bà đành bỏ lại. Sau đó gia đình khấm
khá dần thì chẳng may người chồng và con thứ hai chết hết. Bà đau khổ muốn
tìm lại đứa con đầu. Thấy người đàn bà thật thà, đáng thương nên sư cụ cảm
động và đồng ý. Sau đó, hơn 20 năm ròng bà yêu thương, chăm sóc cậu bé.
Khi trưởng thành, trong một chuyến làm ăn, người thanh niên phát hiện ra
mình không phải là con ruột của bà. Nhưng anh vẫn che giấu và yêu thương
bà nhiều hơn vì “bà cao cả hơn những người mẹ bình thường khác” [2,
tr.355].
Các truyện ngắn mang màu sắc kì ảo như Tu tiên, Con Bạch… thể hiện
sự ca ngợi và kêu gọi sự trở về với những giá trị nhân bản thật sự. Chàng
Gonsuke thật thà sau hai mươi năm chăm chỉ làm việc đã được biến thành
tiên, bất chấp sự độc ác của vợ chồng thầy thuốc (Tu tiên). Con chó Bạch
(Con Bạch) vì hèn nhát, ích kỉ nên đã không cảnh báo nguy hiểm cho bạn của
mình. Kết quả chú chó kia bị bắt để giết thịt. Bạch cảm thấy rất áy náy. Sau
đó, màu lông trắng của nó đột nhiên chuyển sang đen một cách lạ lùng. Vì
không ai còn nhận ra Bạch nên nó bỏ nhà đi với nỗi ân hận dày vò. Bạch ra
sức làm việc thiện như dẫn đoàn người đi lạc ra khỏi rừng, cứu người thoát
chết… để mong chuộc lại lỗi lầm. Khi đã kiệt sức, nó trở về với ý định giã
biệt. Đột nhiên, bộ lông trên mình Bạch trắng toát trở lại. Bạch được đón nhận
nồng nhiệt trong vòng yêu thương của chủ cũ.
Quá trình mà bộ lông Bạch chuyển từ trắng sang đen hoàn toàn là
tưởng tượng mang màu sắc kì ảo. Mục đích của nhà văn nhằm diễn tả chuyển
đổi bên trong tâm hồn. Màu đen là hiện thân của tâm hồn tội lỗi, ích kỉ, hèn
nhát, cần giũ bỏ. Màu trắng phản ánh tâm hồn cao thượng, trong sáng. Bạch
79
trải qua quá trình gian khổ để tự gột sạch bản thân, trở về với tính thiện và
được mọi người đón nhận. Điều này cũng giống như quá trình con người
chiến đấu chống cái ác, cái xấu để trở về với nhân cách cao đẹp.
Dường như những giá trị nhân bản tốt đẹp trong cuộc sống có một ý
nghĩa lớn lao đối với Akutagawa. Đó là liều thuốc tinh thần tiếp thêm động
lực sống cho nhà văn. Tuy nhiên đây vẫn là cuộc hành trình mà nhà văn tìm
kiếm. Giá trị nhân bản khuất lấp đâu đó bên trong con người. Nếu không có
tấm lòng bao dung, nhân hậu thì chúng ta không thể nhìn thấy. Những phẩm
chất tốt đẹp ấy cũng dễ bị mài mòn bởi nhiều nguyên nhân. Trong đó, tính ích
kỉ, tàn nhẫn, những dục vọng cá nhân… là những thứ a-xit đáng sợ.
Trong giai đoạn cuối đời, Akutagawa chuyển hướng sáng tác sang đề
tài cuộc sống hiện đại. Truyện vừa Đất nước của các thủy dân là tác phẩm
mang tính giễu nhại xã hội Nhật Bản. Tuy nhiên, chủ đề chính trong sáng tác
của Akutagawa vẫn là sự bất toàn của con người. Nội dung này thể hiện
xuyên suốt trong các giai đoạn sáng tác của nhà văn. Mặc dầu ông luôn chú
trọng mở rộng phạm vi sáng tác, đổi mới về giọng điệu… song đây vẫn là sở
trường chưa ai vượt qua.
Phải chăng Akutagawa thể hiện tư tưởng bi quan, yếm thế khi nói về sự
bất toàn của con người? Vấn đề này phải được xem xét từ nhiều phương diện.
Ở góc độ đời sống cá nhân, những bi kịch gia đình có ảnh hưởng lớn đến
Akutagawa. Tư tưởng bi quan hoàn toàn có thể nảy sinh từ những bất hạnh
khủng khiếp ấy. Thậm chí, đến cuối đời, nhà văn không che giấu cảm giác
cay đắng: “Nhưng tôi thấy rằng sau hết tôi là con một người điên. Hiện nay
tôi cảm thấy ghê tởm cả thế giới này, nhất là bản thân tôi” [36, tr.233].
Về phương diện nghệ thuật, Akutagawa là nhà văn tài hoa, luôn sáng tạo
và học hỏi để cho ra đời những tác phẩm mang màu sắc tân kì. Tuy nhiên,
thần kinh nhạy cảm khiến ông dễ bị dao động trước dư luận và thời cuộc. Sự
80
chuyển hướng liên tục trong sáng tác thể hiện ý thức đổi mới nhưng phần nào
bộc lộ sự đuối sức trong việc tìm kiếm ý tưởng của nhà văn. Người họa sĩ
trong Mộng mị bất lực khi muốn lột tả con người thật của cô người mẫu trong
tranh là hình bóng của Akutagawa. Càng về cuối đời nhà văn càng nhận rõ sự
bế tắc của mình.
Tuy nhiên, trong suốt chặng đường sáng tác, Akutagawa vẫn lưu tâm tìm
kiếm những vẻ đẹp của cuộc sống, đặc biệt là về phương diện nghệ thuật và ở
các giá trị nhân bản. Dù miêu tả một sự vật bình thường (bầu vú người vợ-
Đàn bà, con nhện- Thân thể đàn bà) thì trước hết sự miêu tả ấy phải có tính
nghệ thuật, tính thẩm mĩ. Tác phẩm phải đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ
thuật của người đọc. Ngay cả các sáng tác lấy từ đề tài truyện cổ thì ông vẫn
chú ý đến “sự chân thật trong thơ hơn là sự chính xác lịch sử” [36, tr.209].
Bên cạnh giá trị nghệ thuật, giá trị nhân bản là điều Akutagawa luôn hướng
tới. Ở một phía đối lập với sự bất toàn, con người vẫn có những phẩm chất tốt
đẹp như tận tâm với nghề (Thầy Mori), biết hi sinh, giàu tình thương (Mấy
trái quýt, Đứa con rơi), chăm chỉ, thật thà (Tu tiên)… Đặc biệt, con người
luôn muốn vươn đến những chuẩn mực Chân, Thiện, Mĩ và khao khát gột
sạch những xấu xa, tội lỗi của bản thân (Con Bạch).
Do đó, tuy sáng tác về đề tài sự bất toàn của con người nhưng nhà văn
không thể hiện tư tưởng bi quan, yếm thế. Ông chỉ băn khoăn, hoài nghi sức
mạnh lí trí cũng như thể hiện nỗi buồn về sự yếu đuối của con người khi họ
thất bại trong cuộc đấu tranh Thiện- Ác, để dục vọng điều khiển… Nhà văn
muốn thức tỉnh con người về những lầm lạc và ngộ nhận. Khi thức tỉnh cũng
là lúc con người bắt đầu cuộc hành trình hướng về những giá trị sống tốt đẹp.
Tiểu kết chương 2:
Như vậy, “sự thất bại của lí trí” là chủ đề bao trùm sáng tác của
Akutagawa. Con người không nhìn nhận đúng bản chất cũng như không lí
81
giải được bí ẩn của đời sống, nghệ thuật. Do đó, lí trí và hiện thực đời sống
không tương đồng. Bên cạnh đó, lí trí chưa đủ mạnh mẽ để ngăn con người
khỏi sự sai khiến của hoàn cảnh và dục vọng. Còn những giá trị nhân bản
thường ít ỏi và bị che khuất. Viết về chủ đề này, nhà văn thể hiện sự hoài
nghi, u buồn nhưng điều hướng đến là sự thức tỉnh con người và trân quí
những giá trị nhân bản.
82
Chương 3. TUYỂN TẬP TRINH TIẾT
VÀ NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN
3.1.“Truyện cổ tích của thời hiện đại”
3.1.1. Phong vị cổ tích
Phong vị là “vị đặc sắc, riêng có, gây cảm hứng đặc biệt” [62, tr.1339].
Truyện ngắn vay mượn đề tài truyện cổ của Akutagawa thể hiện đặc sắc riêng
tạo nên phong vị cổ tích. Có 14 truyện gồm Cổng Rashomon, Cái mũi, Cháo
khoai, Bọn đạo tặc, Lòng đã trót yêu, Địa ngục trước mắt, Sợi tơ nhện, Niềm
tin, Bốn bề bờ bụi, Trinh tiết, Tu tiên, Ảo thuật, Con rồng, Thân thể đàn bà
(tổng cộng 14 trên tổng số 41 truyện mà luận văn khảo sát. Con số này sẽ
nhiều hơn nếu tính toàn bộ hơn 140 truyện).
Trước hết, phong vị cổ tích được tạo nên do sự vay mượn cốt truyện gồm
nhân vật, tình tiết, tình huống… từ tuyển tập truyện cổ như Konjaku
Monogatari (Truyện giờ đã xưa), Uji Shuui Monogatari (Truyện do ông phán
quan ở Uji chép nhặt lại). Ví dụ Cổng Rashomon dựa trên các chi tiết trong
hai đoạn của truyện Konjaku Monogatari. Đó là đoạn thứ mười tám về người
ăn trộm trông thấy xác chết trên gác cổng Rashomon và đoạn thứ hai mươi
mốt về bà già bán cá trong trận Tatewaki. Đây là những dữ kiện cơ bản mà
nhà văn sử dụng để sáng tạo. Nhân vật bà già vẫn giữ nguyên. Chỉ có tên trộm
thay đổi thành tên nô bộc bị đuổi việc đang trú mưa dưới cổng Rashomon.
Nhà văn muốn đặt nhân vật lương thiện vào hoàn cảnh khác thường để thử
thách họ. Truyện Lòng đã trót yêu mượn nhân vật, tình tiết trong truyện cổ
Giữ tròn trinh tiết của Nhật Bản.
Không chỉ giới hạn trong nước, nhiều truyện còn được nhà văn vay
mượn từ cốt truyện nước ngoài, kể cả cổ tích lẫn hiện đại. Bài viết
“Akutagawa dựa vào đâu để viết Sợi tơ nhện?” [2, tr.484] cho thấy xuất xứ kì
lạ của tác phẩm này. Đây là câu chuyện mang màu sắc Phật giáo nhưng gốc
83
gác lại dựa trên hai truyện phương Tây (Truyện dân gian Nga Cây hành tây
và truyện Mạng nhện của Paul Carus). Hoặc Bốn bề bờ bụi kế thừa nghệ thuật
tự sự của nhà thơ Anh Robert Browning trong truyện thơ The Ring and the
Book (Nhẫn và sách), chịu ảnh hưởng của truyện The Moolit Road (Con
đường trăng soi) của nhà văn Mỹ Ambrose Bierce… Danh sách các nguồn
dài đến mức khiến nhiều người sửng sốt khi thấy rằng bất cứ tác phẩm nào
của Akutagawa cũng có thể liên kết với quá nhiều yếu tố khác nhau.
Vì sao Akutagawa phải vay mượn? Phải chăng nhà văn có sự đam mê
đặc biệt với quá khứ? Akutagawa từng giải thích cho lối sáng tạo này của
mình: “Giả thử tôi vừa nghĩ ra một đề tài đặc biệt nào đó và quyết định viết
một truyện ngắn về nó. Nếu như muốn trình bày đề tài này một cách khéo léo
và hấp dẫn, tôi buộc phải đưa vào đấy những sự kiện khác thường. Càng có
nhiều sự kiện khác thường thì càng có nhiều khó khăn trong việc miêu tả
chúng một cách thuyết phục như là các sự kiện đang diễn ra trong nước Nhật
ngày nay” [36, tr.193]. Như vậy, nhà văn viết về quá khứ nhưng điều ông
hướng tới không phải là quá khứ: “Tôi cảm thấy không hề có ao ước lớn lao
nào đối với quá khứ, ngay cả khi tôi viết về những giai đoạn xa xưa. Tôi là
một kẻ may mắn vì thà được sinh ra trong nước Nhật hiện thời còn hơn là ở
thời Heian hay Edo” [36, tr.193]. Vì vậy, từ những đề tài thuộc về quá khứ,
Akutagawa đặt ra những vấn đề có liên quan mật thiết đến cuộc sống hiện đại.
Bên cạnh đó, nhà văn còn sử dụng các motif quen thuộc của truyện cổ
tích. Ở dạng motif thứ nhất, nhân vật chính thường là những người nghèo
khổ, bất hạnh nhưng có phẩm chất tốt đẹp và gặp may mắn bất ngờ. Sư Thiền
Trí (Cái mũi) là người thật thà, hiền lành, không may có cái mũi dài quá khổ.
Bất ngờ sư được đệ tử chỉ cách làm mũi ngắn vô cùng đơn giản nhưng hiệu
nghiệm. Hoặc Cháo khoai là ước mơ ăn cháo khoai đã đời của Ngũ vị. Câu
nói bâng quơ “Bao giờ được ăn bữa cháo khoai cho đã đời hả ta!” của anh
84
chàng vô tình lọt vào tai cậu chủ. Ngũ vị sau đó được chủ thết đãi một bữa
cháo khoai vượt xa trí tưởng tượng. Trong Tu tiên, chàng Gonsuke thật thà
chấp nhận làm đầy tớ 20 năm ròng. Thực ra khi dạy Gonsuke phép tiên, vợ
thầy thuốc chỉ muốn lừa anh ta vào chỗ chết. Thế nhưng, Gonsuke chẳng
những không chết mà còn cưỡi mây bay về trời ngay trước mắt bao nhiêu
người.
Ngoài ra truyện còn sử dụng motif nhập hồn của cổ tích. Trong truyện
Cháo khoai, con chồn nhập hồn vào bà chủ để truyền đạt mệnh lệnh của chủ.
Còn ở truyện Thân thể đàn bà, Dương mỗ nhập hồn vào thân con rận và bất
ngờ khám phá vẻ đẹp cơ thể vợ. Nhân vật Vĩ Sinh trong truyện Niềm tin sau
khi chết đuối, hồn anh ta trải qua nhiều đời kiếp và nhập vào thân xác tôi ở
thời hiện đại…
Bên cạnh motif, các truyện ngắn trên còn sử dụng rất nhiều yếu tố kì ảo.
Đây là đặc trưng của truyện cổ tích. Sư Thiền Trí (Cái mũi) sau một đêm ngủ
dậy, cái mũi tự dưng dài ra như cũ. Khung cảnh buổi tiệc trong Cháo khoai
được miêu tả thật ấn tượng với những yếu tố thần kì. Khoai rừng dùng để nấu
cháo nhiều đến hai ba nghìn thanh“chất lên gần đụng mái nhà”. Còn cảnh
nấu cháo thật hoành tráng: “Trên khoảng sân rộng, người ta đã đặt liên tiếp
năm sáu cái nồi chõ cực lớn kê lên những bệ gỗ có lẽ là thân cây vừa mới
đẵn… Tiếng động và màu sắc hỗn tạp ồn ào giống như lúc bọn hỏa đầu quân
nấu cho đoàn lính ăn ngoài chiến trường” [2, tr.68]. Trước khung cảnh ấy,
Ngũ vị chỉ biết “nhìn đến no mắt mấy cột khói dày đặc tinh mùi khoai rừng
và mùi mật sắn tỏa lên từ dãy nồi cháo và múa lượn giữa tầng không của buổi
sáng đẹp trời” [2, tr.69].
Trong truyện Địa ngục trước mắt có chi tiết kì ảo rùng rợn: khi
Yoshihide vẽ, có bóng một đàn chồn tụ tập xung quanh. Họa sĩ đã thề ước với
hồ ly tiên để đánh đổi phúc lộc trong nghề nghiệp. Truyện Sợi tơ nhện có
85
cảnh địa ngục đáng sợ với núi đầy kim nhọn hoắt, ao máu ngập ngụa. Hoặc
phép thuật làm cho sách biết bay, đèn tự quay, than biến thành tiền vàng (Ảo
thuật), con hắc long từ giữa hồ nước bay vụt lên bầu trời (Con rồng)…
Như vậy, những yếu tố như cốt truyện cổ, motif cổ tích, chi tiết tưởng
tượng kì ảo khiến cho truyện ngắn của Akutagawa đậm phong vị cổ tích.
3.1.2. Sắc màu hiện đại
Tuy nhiên, các truyện nói trên hoàn toàn không phải cổ tích mà là những
truyện ngắn hiện đại. Nhà văn ghép các yếu tố vay mượn từ các truyện riêng
lẻ để sáng tạo thành một truyện mới. Việc làm này giống như cách sắp xếp
các bộ phận để tạo thành cơ thể người. Akutagawa đã thổi hồn vào thể xác ấy
để tạo nên con người hoàn chỉnh, sinh động. Do đó, bên cạnh phong vị cổ
tích, màu sắc hiện đại trong các truyện thể hiện rất rõ qua những khía cạnh
sau:
Thứ nhất, cách kết thúc của truyện ngắn khác hẳn với cổ tích. Trong cổ
tích, nhân vật chính bằng lòng với hạnh phúc tột đỉnh. Như hạnh phúc tột đỉnh
của Tấm trong cổ tích Tấm Cám là vào cung làm hoàng hậu. Đó là cách kết
thúc hết sức quen thuộc, thể hiện ước mơ và tâm hồn lạc quan của người lao
động. Còn trong truyện của Akutagawa, khi nhân vật đạt được hạnh phúc thì
câu chuyện mới chỉ bắt đầu. Trong Cái mũi, tuy mũi ngắn lại như mong muốn
nhưng sư Thiền Trí hạnh phúc không bao lâu vì bị người xung quanh trêu
chọc. Ước mơ được thực hiện nhưng đi liền sau đó là nỗi buồn chán, thất
vọng. Ngũ vị (Cháo khoai) ao ước trở lại như ngày xưa, tuy bị chà đạp nhưng
thật hạnh phúc vì cuộc sống còn có ý nghĩa.
Thứ hai là nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo của nhà văn.
Akutagawa rất chú trọng khắc họa ngoại hình nhân vật. Trong truyện cổ tích
lẫn truyện ngắn của các nhà văn cùng thời, điều này ít được quan tâm. Nghệ
thuật miêu tả của Akutagawa thường tạo cho người đọc hai ấn tượng. Đó là
86
nhân vật đẹp ít xuất hiện và vẻ đẹp được khai thác ở khía cạnh dị thường, bị
hủy hoại. Trong truyện Bọn đạo tặc, gương mặt Shakin là “tập hợp của vẻ
man dại dị thường và một sắc đẹp lạ lùng. Vầng trán thấp, đôi má bầu, hàm
răng tươi tắn, đôi môi khêu gợi, cặp mắt sắc và đôi lông mày kiêu kì”, “mái
tóc nàng xõa trên đôi vai, ánh sáng chiếu trên tóc màu xanh và màu đen lẫn
lộn… chẳng khác nào lông chim quạ” [2, tr.116]. Đó là vẻ đẹp gắn với sự tàn
độc. Vì cô ta mà cha dượng, hai anh em Jiro, Taro xung đột một mất một còn.
Còn cô con gái họa sĩ để lại cho người đọc ấn tượng về sự thảm khốc của cái
đẹp bị hủy hoại: “Khuôn mặt trắng trẻo ngửa lên vì ngạt khói, mái tóc dài
phất tung như muốn dập tắt ngọn lửa, cả manh áo lụa thêu hoa anh đào thướt
tha mĩ lệ trong một khoảnh khắc đều biến thành lửa” [2, tr.220].
Ở chương hai, luận văn đã phân tích sự đối lập giữa ngoại hình xấu xí và
phẩm chất tốt đẹp của các nhân vật. Do đó, phần này chỉ nói riêng các truyện
vay mượn đề tài truyện cổ. Nhà văn vẫn chú trọng khắc họa những bức chân
dung thảm hại, dị hợm về nhân vật. Trong Cháo khoai, anh chàng Ngũ vị
“người đã lùn tịt còn thêm cánh mũi đỏ và hai đuôi mắt xệ. Râu mép dĩ nhiên
lưa thưa ba sợi, cặp má lại hóp khiến cho cái cằm choắt đi một cách khác
thường” [2, tr.50]. Trong Bọn đạo tặc, bà già Inokuma được miêu tả ấn
tượng: “khoảng sáu mươi, mái tóc ngả màu vàng xõa trên chiếc kimono bẩn
bằng vải gai màu đỏ thông. Mụ lê đôi dép rơm vẹt gót, khom mình chống trên
một chiếc gậy dáng đùi ếch; đôi mắt lồi với cái miệng rộng ngoác khiến mặt
mụ thô kệch giống một con cóc hơn là mặt một mụ đàn bà” [2, tr.91]. Với Địa
ngục trước mắt, họa sĩ Yoshihide “đã là một lão già ngoại năm mươi, dáng
dấp khẳng khiu chỉ có da bọc xương, khổ người thấp bé, tính nết khó ưa…
mặc bộ quần áo nhuộm màu nâu nhạt, và đội chiếc mũ đen mềm, trông thật ti
tiện”, “hắn giống như tô môi đỏ chót do thói quen mút dầu cọ vẽ lâu năm
sinh ra” [2, tr.185]. Việc miêu tả tỉ mỉ của nhà văn tạo nên bức chân dung
87
chân thực, gần gũi về nhân vật. Tuy lấy hình mẫu từ truyện cổ nhưng các
nhân vật vô cùng sống động, tạo ấn tượng trong tâm trí người đọc.
Tuy nhiên, thành công lớn nhất của nhà văn ngoài việc thay đổi kết cấu
và nghệ thuật xây dựng nhân vật chính là nghệ thuật miêu tả tâm lí. Ở dạng
truyện cổ, tâm lí con người thường mờ nhạt hoặc nhất phiến. Đó là những con
người hoàn toàn tốt hoặc hoàn toàn xấu. Ví dụ như trong Giữ tròn trinh tiết
(truyện cổ Nhật Bản), Morito là một võ sĩ trẻ tuổi ham mê sắc dục. Còn Kesa
là người thiếu phụ trung trinh, quyết dùng mạng sống để bảo vệ sự trong sạch.
Trong huyền thoại dân gian, Nezumi là tướng cướp uy danh lừng lẫy, có tài
xuất quỷ nhập thần, ai nấy kiêng sợ. Riêng trong truyện ngắn của Akutagawa,
tâm lí các nhân vật rất phức tạp. Nhân vật Morito, Kesa luôn giằng xé giữa
đam mê nhục dục và tính ích kỉ; trong Nezumi là con người đời thường với
nỗi cô đơn và nhiều âu lo.
Truyện ngắn của các tác giả cùng thời với Akutagawa đặt nhân vật vào
những hoàn cảnh, tình huống đặc biệt để khai thác tâm lí. Tuy nhiên, sau quá
trình đó, tâm lí nhân vật có xung đột dữ dội nhưng không bị biến đổi. Riêng
trong truyện ngắn của Akutagawa, tâm lí con người không phải kết quả mà là
một quá trình. Trong suốt quá trình ấy, nhân vật vật lộn với nhiều tâm tư, suy
nghĩ. Dạng độc thoại nội tâm được vận dụng khá nhiều ở các truyện như
Cổng Rashomon, Cháo khoai, Bọn đạo tặc… và đặc biệt là Lòng đã trót yêu.
Điểm nhìn cũng luôn luôn di chuyển từ bên ngoài vào bên trong ở hầu hết các
truyện ngắn của nhà văn. Do đó, tâm tư con người được chiếu sáng dưới
nhiều góc độ. Ví dụ trong truyện Cổng Rashomon, nhân vật được miêu tả từ
điểm nhìn bên ngoài: “Gã nô bộc ngồi ở bậc trên cùng của bậc đá có bảy
bậc, đặt mông lên vạt sau của chiếc áo xanh lam đã giặt đến bạc màu, vừa
mân mê mụn trứng cá to tướng trên má phải vừa lơ đãng nhìn mưa rơi” đến
điểm nhìn bên trong: “Thế nhưng khi nghe bà lão nói như thế, lòng gã dần
88
dần trở nên can đảm hơn. Đó là sự can đảm mà lúc nãy khi ở dưới cổng gã
còn thiếu” [2, tr.97]. Kết thúc quá trình là sự biến đổi bất ngờ mà nhân vật
cũng không lường trước. Cuối truyện Rashomon, gã nô bộc bằng lòng làm
chuyện ác, cái ác chiến thắng cái thiện. Còn trong Bốn bề bờ bụi, tên cướp trở
thành kẻ giết người, người chồng lộ bản chất sĩ diện, người vợ thể hiện bản
tính yếu đuối. Ở truyện ngắn Trinh tiết, cô gái chấp nhận hiến thân dù trước
đó kháng cự kịch liệt, còn tên cướp thì xấu hổ quay đi tuy hành động đe dọa,
buộc cô gái hiến thân đã thành công.
Không dừng lại ở việc miêu tả quá trình biến đổi tâm lí, nhà văn còn truy
tìm nguyên nhân gây ra sự biến đổi ấy. Nguyên nhân sâu xa là do những xung
đột giữa nhân cách cao thượng và dục vọng thấp hèn như sự ích kỉ, lòng tham,
sự ghen tuông, đam mê nhục dục. Những dục vọng này mang tính phổ quát.
Dưới góc nhìn của nhà văn, chúng trở nên đa sắc thái đến kì lạ. Vì vậy, truyện
ngắn của Akutagawa vừa hết sức gần gũi vừa thể hiện những triết lí về cuộc
đời, toát lên ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.
3.2. Sự thể nghiệm kết cấu và sự ứng dụng kĩ thuật viết
Akutagawa thể hiện sự tìm tòi và sáng tạo không ngừng qua việc thử sức
ở những dạng kết cấu và kĩ thuật viết mới lạ. Do tính chất thể nghiệm nên
lượng tác phẩm ở mỗi dạng không nhiều. Tuy nhiên, chúng đều đạt đến trình
độ điêu luyện và thể hiện nét độc đáo riêng.
3.2.1. Các dạng thức kết cấu
Có ý kiến cho rằng, tác phẩm của Akutagawa có “sự xóa nhòa lằn ranh
thể loại” [61, tr.1]. Điều này có phần đúng. Ví dụ như Nước dòng sông Cái
“vốn thuộc thể loại tùy bút hoặc trường ca nhiều hơn là truyện ngắn” [2,
tr.18]. Tác giả bài viết trên cho rằng tác phẩm Vụ án mạng thế kỉ ánh sáng là
sự xóa nhòa ranh giới truyện ngắn- thư từ- nhật kí, Đất nước của các thủy dân
xóa nhòa lằn ranh truyện ngắn- tiểu thuyết… Tuy nhiên có một vài điểm
89
chúng tôi còn băn khoăn. Trước hết, sự xóa nhòa lằn ranh giữa truyện ngắn-
thư từ không phải là độc quyền của Akutagawa. Truyện ngắn Bàn chân
Fumiko của Tanizaki Junichiro cũng được viết dưới hình thức thư. Vòng
ngoài đó là một bức thư đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về hình thức. Tuy
nhiên bên trong lại là một truyện ngắn hoàn chỉnh. Tác phẩm Đất nước của
các thủy dân cũng chưa thể khẳng định là tiểu thuyết. Nhà nghiên cứu Phong
Vũ cho rằng đó là truyện vừa [1, tr.13]. Hơn nữa, Akutagawa ngay từ lúc bắt
đầu quá trình sáng tác đã tự nhận thấy ông không có sở trường về thể loại này.
Do đó, chúng tôi không đặt trọng tâm ở vấn đề thể loại mà chú ý nhiều đến
mặt kết cấu. Theo chúng tôi, kết cấu truyện thể hiện sáng tạo độc đáo của nhà
văn.
3.2.1.1. Kết cấu màn kịch
Lòng đã trót yêu là truyện ngắn có kết cấu màn kịch. Toàn bộ truyện có
hai màn. Phần đầu màn 1 có lời người dẫn truyện miêu tả cảnh vật và giới
thiệu nhân vật: “Đêm yên lặng, con trăng chênh chếch. Morito rảo bước bên
gò đất thấp, tiếng lá khô nghe xào xạc dưới chân” [2, tr.170]. Phần còn lại là
lời độc thoại của Morito. Chàng hồi tưởng quá trình gặp gỡ và dan díu với
Kesa. Cuối màn 1, Morito thú nhận về tình yêu dành cho người đẹp. Phần đầu
màn 2 là lời người dẫn truyện miêu tả khung cảnh mà Kesa xuất hiện: “Trời
đêm tĩnh mịch. Bên chiếc giường thấp, Kesa đứng quay lưng lại với ngọn đèn,
miệng cắn vào tay áo rộng, đắm mình theo bao ý nghĩ bồn chồn” [2, tr.175].
Phần còn lại là lời bộc bạch của Kesa thể hiện sự dằn vặt về mối tình tội lỗi.
Như vậy, tác giả có sự xếp đặt rất rõ ràng (màn 1, màn 2), có giới thiệu bối
cảnh để nhân vật chính xuất hiện. Do đó, xét về hình thức ban đầu, Lòng đã
trót yêu rất giống với một vở kịch công diễn trên sân khấu. Tuy nhiên, khi đi
sâu vào nội dung thì đây hoàn toàn là một truyện ngắn đầy sáng tạo. Bởi vì
nếu là một vở kịch thì Lòng đã trót yêu không mang đến cho người đọc hình
90
dung cụ thể nào về ngoại hình, trang phục, cử chỉ, hành động của nhân vật mà
chỉ là sự dẫn dắt sơ khởi ban đầu. Thậm chí, toàn bộ vở kịch chỉ có hai nhân
vật, diễn ra trong hai màn mà cả hai không tiếp xúc, cũng không đối thoại một
lần nào. Chỉ có nội tâm của họ là đang “nói” với nhau một cách dữ dội, giằng
xé, đầy hoan lạc lẫn đau đớn. Thông qua độc thoại nội tâm, tác giả đã miêu tả
song song tâm lí hai nhân vật theo sự vận động của thời gian tuyến tính. Tất
cả chỉ là những dòng hồi tưởng từ lúc hai người tái ngộ, hẹn gặp cho đến khi
cùng chung chăn gối và nảy sinh ý định giết chồng Kesa. Tâm lí hai nhân vật
trở thành thực thể sống động luôn biến đổi.
Cách miêu tả này đã tạo hiệu quả bất ngờ. Đó là trong cùng một thời
điểm, trước cùng một sự việc, tâm lí của nhân vật này là điểm tựa để soi sáng
tâm lí của nhân vật kia. Ví dụ khi gặp lại Kesa, Morito thất vọng vì nhan sắc
nàng đã phai nhạt. Điều này được nhân vật thổ lộ ở màn 1: “da nàng đã hết
láng, dưới mắt đã có quầng thâm, chung quanh gò má và dưới cằm, cái trẻ
trung mơn mởn cũng đã biến đi đâu mất” khiến cho “những đam mê sôi nổi
của ta bỗng biến thành hụt hẫng” [2, tr.172]. Như vậy. Morito thất vọng
nhưng tìm cách che giấu thái độ đó trước mặt Kesa. Vậy lúc ấy Kesa nghĩ gì?
Sự nhạy cảm của người phụ nữ khiến Kesa đoán ra ngay: “…chỉ nhìn thoáng
qua ánh mắt, tôi hiểu ngay mình hết còn được xem là một người đẹp”. Nàng
chỉ cảm thấy một nỗi buồn bã, tiếc nuối dâng lên trong lòng. Tình cảm này
của Kesa được bộc lộ ở màn 2 của truyện. Từ đó người đọc có sự so sánh thú
vị về tâm tư, suy nghĩ của hai nhân vật.
Như vậy, thông qua cách miêu tả song song, tâm lí hai nhân vật được
nhìn nhận rõ ràng hơn. Tâm lí nhân vật này là điểm tựa để soi sáng nhân vật
kia. Diễn biến tâm lí của hai nhân vật mang đến cho người đọc hình dung trọn
vẹn hơn về tâm hồn con người. Đó là sự ích kỉ, nỗi dằn vặt vì những đam mê
nhục dục thống khổ.
91
3.2.1.2. Kết cấu vòng tròn
Đây cũng là một sự sáng tạo của Akutagawa. Kết cấu vòng tròn có nghĩa
là đầu và cuối tác phẩm tương ứng nhau. Các truyện ngắn có dạng kết cấu này
gồm Cái mũi, Cháo khoai, Ảo thuật, Sợi tơ nhện…
Cái mũi bắt đầu với những chi tiết về cái mũi khác người của sư Thiền
Trí: “Nó dài hơn một tấc rưỡi, nằm lòng thòng từ trên môi cho đến dưới cằm,
đầu đuôi đều to như nhau, chẳng khác gì một khúc xúc xích treo lủng lẳng
trên mặt” [2, tr.39]. Cuối tác phẩm, hình ảnh đọng lại là sự mãn nguyện của
sư với cái mũi quen thuộc: “Như thế này chắc không còn ai cười nữa. Sư tự
nhủ thầm trong lòng, vừa để cái mũi dài đong đưa theo gió thu ban mai” [2,
tr.47]. Như vậy, mọi thứ vẫn trở về như cũ. Giống như truyện Mèo vẫn hoàn
mèo xưa, sư Thiền Trí dẫu thay đổi được bề ngoài nhưng nỗi bất an bên trong
thì không xóa đi được. Chiếc mũi ngắn vừa qua chỉ là một cuộc phiêu lưu
mạo hiểm. Do đó, khi cái mũi trở về hình dạng ban đầu sư mới thật sự yên
tâm. Về phía những người xóm Đuôi Ao, tính ích kỉ vô tâm khiến họ giễu cợt
việc sư Thiền Trí gặp may mắn bất ngờ. Chỉ khi cái mũi dài ra thì sư mới
được cộng đồng chấp nhận trở lại. Như vậy kết cấu vòng tròn hàm chứa sự
châm biếm của nhà văn trước sự ích kỉ của người đời.
Cùng với Cái mũi, Cháo khoai là truyện ngắn có dạng kết cấu vòng tròn
khá độc đáo. Chàng Ngũ vị hiện lên vô cùng đáng thương, tầm thường đến
mức “không đáng cho người ta phải nhớ tên” [2, tr.49] với ước mơ ăn được
bữa cháo khoai đã đời. Cuối truyện là cảnh Ngũ vị ngồi đối mặt với liễn cháo
nghi ngút khói và “lật đật đưa tay lên chận mũi, nhìn về hướng liễn cháo và
hắt hơi một tiếng rõ to” [2, tr.71]. Vẫn là anh chàng Ngũ vị thảm hại xưa
song giờ càng thảm hại bởi ước mơ của anh đã thành hiện thực. Như vậy,
vòng tròn- sự tương ứng giữa đầu và cuối khiến cho cấu trúc truyện chặt chẽ
và nội dung được nhấn mạnh hơn. Trạng thái thất vọng của con người khi đạt
92
được ước mơ cũng trở nên cụ thể.
Ở giai đoạn sau, Akutagawa cũng sáng tác nhiều truyện ngắn có dạng kết
cấu này. Bối cảnh Ảo thuật là nhà của ảo thuật gia Hassan- xung quanh có
vườn trúc bao bọc- trong một đêm mưa tầm tã. Sau khi biết ý định đến học
phép thuật của tôi, ảo thuật gia ra lệnh cho người giúp việc: “Vú già ơi vú già,
tối nay quý khách ở lại đây, vú dọn giường sẵn cho nhé” [2, tr.283]. Tiếp đó,
bối cảnh chuyển sang căn phòng khách trong thành phố ở thời điểm một tháng
sau. Nhân vật tôi vì lòng tham nên đã nảy sinh ý định lén sử dụng phép thuật
để gian lận. Liền lúc ấy, tất cả biến mất. Giọng nói kia lại văng vẳng bên tai:
“Vú già, vú già ơi, ông khách về bây giờ, vú không phải dọn giường ngủ cho
khách nữa đâu nhé!”. Và tôi trong phút chốc “không hiểu sao tiếng mưa rơi
ngoài cửa sổ bỗng lại bắt đầu nghe như tiếng mưa rì rào buồn bã trong bụi
trúc ở Ômôri” [2, tr.289]. Thì ra tất cả sự việc mới chỉ xảy ra trong chốc lát
mà tưởng như đã một tháng trôi qua. Tình huống mà nhân vật trải qua làm
người đọc nhớ đến những truyện cổ Trung Quốc như Giấc mộng Nam Kha
hay Giấc mộng kê vàng… Kết cấu vòng tròn do đó tạo cho câu chuyện màu
sắc cổ tích lung linh.
Trong các truyện ngắn có kết cấu vòng tròn của Akutagawa, Sợi tơ nhện
vẫn được đánh giá cao hơn cả. Mở đầu truyện là cảnh Phật Thích Ca đi dạo
bên hồ sen buổi sáng. Khung cảnh thật an lạc: “Những đóa hoa sen trong hồ
nở trắng toát, đẹp như ngọc. Từ giữa nhụy vàng một hương thơm ngào ngạt
khó tả, ngan ngát tỏa ra khắp miền” [2, tr.225]. Giữa truyện tả cảnh Katanda
giành giật sợi tơ nhện với các phạm nhân khác giữa ao máu địa ngục. Kết thúc
truyện trở về khung cảnh vẫn êm đềm ban đầu: “Những đóa hoa sen trắng
như ngọc, đài hoa lay nhẹ bên chân Phật. Từ giữa nhụy vàng một hương thơm
ngào ngạt khó tả, ngan ngát tỏa ra khắp miền” [2, tr.230]. Khi ấy trên cực lạc
vừa đúng Ngọ.
93
Cảnh ở đây chuyển đổi từ cực lạc sang địa ngục rồi lại trở về cực lạc.
Nếu trên cõi Phật, thời gian chỉ trong một buổi sáng thì ở nơi địa ngục, thời
gian ấy tính bằng đời người. Nếu ở cực lạc không khí an nhiên, thanh tịnh thì
nơi địa ngục là ngập ngụa máu me, chết chóc. Sự tương ứng đầu cuối làm
tăng tính chất đối lập bên trong truyện.
Như vậy, kết cấu vòng tròn khiến cho sự liên kết trong truyện chặt chẽ
hơn. Nhân vật qua một vòng tròn trải nghiệm có những thay đổi về suy nghĩ,
nhận thức và đôi khi là cả số phận. Do đó, sự tương ứng đầu cuối không phải
lặp lại mà thực chất làm gia tăng nội dung của truyện.
3.2.1.3. Kết cấu lời cung khai
Thông thường, lời cung khai chỉ có trong những văn bản pháp luật. Lời
khai của các bị cáo hay nhân chứng phải chính xác, trung thực. Một yêu cầu
quan trọng nữa đó là các lời khai phải trùng khớp với nhau. Nếu khai gian, cơ
quan điều tra vẫn có cách đối chiếu giữa các lời khai để tìm ra người nói dối.
Trong truyện ngắn Bốn bề bờ bụi, Akutagawa đã xây dựng kết cấu lời
cung khai rất thành công. Truyện có các lời khai của các nhân vật sau: người
đốn củi, sai nha, nhà sư, mẹ của người vợ, tên cướp, người vợ, người chồng.
Ở mỗi lời khai đều có tên nhân vật và nội dung khai báo. Trong phần nội
dung, các nhân vật đều hướng cuộc đối thoại đến quan lớn- tức trình bày với
vị quan đang giấu mặt. Mỗi người đều khai báo những gì mình nhìn thấy, kèm
theo là những suy nghĩ của bản thân. Như vậy, về hình thức ban đầu, truyện
ngắn này rất giống với những lời khai trong văn bản luật. Tuy nhiên nội dung
bên trong được tác giả thể hiện như thế nào?
Lời khai của ba nhân vật phụ cung cấp cho người đọc bối cảnh của sự
việc gồm hiện trường xảy ra vụ án, nhân thân người bị giết hại và nghi vấn về
kẻ giết người. Tang chứng và vật chứng tập trung xung quanh tên tướng cướp
khét tiếng Tajomaru.
94
Trong lời khai của ba nhân vật chính, lời của người chồng và người vợ
được thể hiện thông qua một cách thức khá độc đáo. Lời người chồng là “lời
kể lể của người chết qua miệng người ngồi đồng” [2, tr.382]. Lời cô vợ là
“lời sám hối của người đàn bà đến chùa Kiyomizu” [2, tr.380]. Hai hình thức
kể này đều có vẻ đáng tin cậy nếu như xét theo quan niệm dân gian xưa nay.
Việc nhấn mạnh cách thức thể hiện lời khai thể hiện dụng ý của tác giả.
Dường như mỗi người đều cố gắng trình bày sự việc với độ xác tín cao nhất.
Thế nhưng, khi bước vào thế giới câu chuyện, người đọc bắt đầu hoang
mang lo lắng. Nếu lời khai là yếu tố làm cho nội dung sự việc rõ ràng hơn thì
ở đây mọi việc càng lúc càng rối rắm, khó hiểu. Những căn cứ để xác định ai
nói thật, ai gian dối không còn nữa. Ai cũng có lí lẽ của riêng mình và đều có
thể là thủ phạm. Tuy nhiên Bốn bề bờ bụi không phải là truyện ngắn trinh
thám. Tác phẩm không nhằm mục đích thử thách trí thông minh của người
điều để tìm ra hung thủ. Qua truyện ngắn, Akutagawa đặt ra những câu hỏi
nhức nhối về nhân tâm con người.
3.2.2. Kĩ thuật viết hiện đại
3.2.2.1. Mờ hóa
“Mờ hóa” là một thuật ngữ văn học lần đầu tiên được sử dụng ở Việt
Nam vào năm 1994 trong luận văn thạc sĩ của Lê Huy Bắc. Sau đó, những tìm
hiểu về “mờ hóa” được tác giả phát triển thành bài báo với nhan đề “Mờ
hóa” như một như sự cứu cánh của văn xuôi hiện đại (Văn nghệ quân đội, số
38, tháng 7- 1999). Năm 2004, thuật ngữ này được Lê Huy Bắc tiếp tục phát
triển trong công trình “Mờ hóa”- bản chất tự sự của văn xuôi hiện đại, hậu
hiện đại (Tham luận tại Hội thảo quốc gia về lí luận). Theo tác giả, “mờ hóa”
là hệ thống các thủ pháp được sử dụng nhiều, khẳng định bản chất của văn
xuôi hiện đại và hậu hiện đại. “Mờ hóa” được hiểu là “toàn bộ các thủ pháp
như dòng ý thức, khoảng trống, mảnh vỡ, huyền ảo, nhại… được sử dụng
95
trong nghệ thuật một cách có chủ định nhằm tạo ra một hiệu quả thẩm mĩ,
qua đó đối tượng được miêu tả hiện lên không rõ ràng, cụ thể như chúng ta
từng gặp trong các sáng tạo nghệ thuật” [7, tr.280]. Sử dụng kĩ thuật này, tác
giả cố tình xóa mờ các đường viền lịch sử, quan hệ, các đặc điểm cá biệt
nhằm tạo sự mơ hồ, tối nghĩa.
Kĩ thuật mờ hóa trong Trinh tiết được sử dụng rất nhiều. Đây là sự vận
dụng sáng tạo của nhà văn bởi vì các truyện cùng thời mới chỉ vận dụng yếu
tố kì ảo- huyền ảo (Kawabata, Natsume Soseki), dòng ý thức (Kawabata)…
Trước hết là sự mờ hóa các chi tiết truyện. Akutagawa là nhà văn không
xem nhẹ các chi tiết truyện. Ngay từ việc miêu tả bối cảnh xuất hiện, ngoại
hình nhân vật ông đã thể hiện sự chăm chút, tỉ mỉ. Thế nhưng đôi lúc ông chủ
động bỏ sót hay lấp lửng các chi tiết để tạo sự mơ hồ, hoài nghi trong lòng
người đọc. Địa ngục trước mắt mờ hóa chi tiết mối quan hệ giữa Đức Ông và
con gái họa sĩ. Trong lúc tôi đang đi dạo thì con khỉ của cô gái từ đâu nhảy
đến, níu vạt áo tôi cầu cứu. Tôi theo nó lao vào căn phòng trong đêm. Trong
đó phát ra tiếng động chứng tỏ có hai người đang giằng co nhau. Sau đó, cô
con gái họa sĩ xuất hiện trước mắt tôi với áo quần xộc xệch và tôi nghe có
tiếng bước chân ai đó chạy xa dần. Nhưng khi hỏi thì cô gái với những giọt lệ
cay đắng chỉ im lặng lắc đầu. Kết thúc truyện, bí mật cùng cô gái đã bị thiêu
rụi trong ngọn lửa tàn bạo.
Ai là người đã làm nhục con gái họa sĩ Hiroshide? Tại sao cô gái vốn
hiền lành, xinh đẹp lại bị Đức ông bắt phải chịu cái chết tàn khốc như vậy?
Những câu hỏi này chỉ có thể được giải đáp bằng suy đoán mơ hồ của người
đọc. Cũng có thể vì con gái họa sĩ xinh đẹp nên Đức Ông nảy sinh ý đồ cưỡng
đoạt. Bị cô gái cự tuyệt, Đức Ông đã trả thù tàn nhẫn. Tuy nhiên, lí do khác là
họa sĩ Hiroshide tính tình kiêu ngạo, tự phụ khiến Đức Ông căm ghét, muốn
dạy cho hắn một bài học. Việc giết con gái họa sĩ nhằm thỏa mãn thói độc ác,
96
xem mạng người như trò đùa của kẻ có thế lực… Như vậy, nhà văn không
tiết lộ điều gì và dành toàn quyền suy đoán cho độc giả. Nội dung truyện do
đó được mở rộng chứ không bị trói buộc ở một cách hiểu nào.
Chi tiết về cái chết của cô người mẫu (Mộng mị) bị tác giả làm mờ.
Người họa sĩ luôn băn khoăn về những giây phút sống ngoài ý thức của mình.
Có thể trong lúc không kiểm soát, anh ta đã giết chết cô người mẫu. Cô gái
sau đó đã không xuất hiện một cách đầy bí ẩn. Đến cuối truyện, sự mơ hồ
được đẩy lên tột độ, người đọc vẫn không biết được số phận cô ta ra sao.
Bốn bề bờ bụi là vụ án đã có kết cục ngay từ đầu. Nhưng thật ra kết thúc
cuối cùng vẫn mở vì tính chất mơ hồ, không rõ ràng của sự kiện. Cuối cùng,
người đọc không thể xác định hung thủ thật sự đã hạ sát người chồng vì bảy
lời kể là bảy mảnh vỡ khác nhau. Thậm chí cuối truyện còn có thêm chi tiết
một bàn tay ai đó nắm chặt cán dao và rút mạnh. Đó là bàn tay của ai trong số
họ? Hay có một người thứ tư nào đó đã chứng kiến từ đầu đến cuối câu
chuyện đau lòng? Tác giả cố tình che giấu tất cả. Hồ sơ vụ án khép lại với bí
mật không lời giải khiến người đọc bị nhấn chìm trong cảm giác day dứt, bất
an.
Như vậy, sự mờ hóa người kể chuyện, người nghe chuyện và cốt truyện
tạo nên nét hấp dẫn của truyện ngắn này. Toàn bộ câu chuyện Bốn bề bờ bụi
được kể lại qua lời bảy nhân vật, chia thành hai nhóm. Nhóm người kể
chuyện 1 là những nhân vật phụ gồm người đốn củi, nhà sư lữ hành, sai nha,
bà già; nhóm 2 là các nhân vật chính gồm người chồng, người vợ, tên cướp.
Tuy vai trò người kể chuyện khá mờ nhạt nhưng có thể phân thành một nhóm
riêng. Như vậy tổng cộng có đến ba nhóm người kể chuyện. Mỗi người có
một cách kể riêng, mặc dù đều là điểm nhìn bên trong nhưng sự thật vẫn hoàn
bị che lấp. Như vậy, càng nhiều người kể chuyện, càng nhiều điểm nhìn thì sự
việc chẳng những không rõ ràng mà càng phức tạp, rối rắm. Lời kể của mỗi
97
người tuy dưới hình thức có vẻ đáng tin, thành khẩn (sám hối trong chùa, lời
người chết qua miệng người cầu hồn…) nhưng lại không thể tin cậy được.
Bên cạnh đó, cả người nghe chuyện cũng bị mờ hóa. Ngoài lời khai của
người vợ và người chồng theo hình thức độc thoại, các lời khai khác đều là
đối thoại, hướng đến quan tòa. Tuy nhiên, nhân vật quan tòa không hề có bất
cứ phát ngôn nào. Mặc dù các nhân vật đều thưa, bẩm, dạ… hoặc lặp lại câu
hỏi của quan, ví dụ như: “Quan hỏi cái thằng mà tôi bắt được là ai ạ? Thưa
quan lớn, thằng này chính thật là tướng cướp khét tiếng Tajomaru”
[2, tr.374]. Bên cạnh đó, có thể phiên xử có nhiều người tham gia vì tên cướp
còn gọi người đối thoại là “các người” như: “Giết người kiểu nào kết tội
nặng, các người đáng tội nặng hay tôi đáng tội nặng, thật khó mà phán quyết
được” [2, tr.376]. Đoạn cuối, người nghe chuyện hoàn toàn không xuất hiện
nữa. Câu chuyện chỉ còn là lời độc thoại nội tâm của người chồng. Như vậy
người nghe chuyện ở đây hoàn toàn giấu mặt. Độc giả chỉ có thể đoán định sự
xuất hiện của họ qua lời nhân vật.
Ở một số truyện ngắn khác, người kể chuyện xưng tôi cũng thường
xuyên bị tác giả làm mờ đi. (Chúng ta không nói đến dạng truyện ngắn có yếu
tố tự thuật về sau này mà nhân vật tôi chính là tác giả). Vai trò của người kể
chuyện này khá mờ nhạt: Họ là ai? Họ có vai trò gì trong tác phẩm? Những
điều này đều bị tác giả cố tình làm mờ đi. Đó là các truyện như Địa ngục
trước mắt, Đứa con rơi, Tu tiên, Người chồng có văn hóa, Vụ án mạng thế kỉ
ánh sáng, Đất nước của các thủy dân… Mục đích của tác giả là làm cho câu
chuyện khách quan hơn. Tôi trong Vụ án mạng thế kỉ ánh sáng kể lại câu
chuyện của bác sĩ Kitbatake. Tôi này chỉ xuất hiện ở phần đầu truyện để dẫn
dắt người đọc đến với bức thư do bác sĩ quá cố để lại. Sau đó, tôi này biến
mất và nhường lời cho tôi thứ hai- bác sĩ quá cố tự xưng trong bức thư.
Trong một số truyện của nhà văn bắt đầu xuất hiện dạng nhân vật bị xóa
98
mờ. Đó là bệnh nhân tâm thần mang số hiệu 23 trong Đất nước của các thủy
dân. Hoặc Ngũ vị trong Cháo khoai, Dương Mỗ trong Thân thể đàn bà… Đó
chỉ là con số, chức vị chứ không phải là một cái tên. Kiểu nhân vật này gợi
cho chúng ta nhớ đến nhân vật K. trong Biến dạng của nhà văn Kafka hoặc
A.Q trong A.Q chính truyện của Lỗ Tấn…
3.2.2.2. Huyền ảo
Khái niệm huyền ảo bắt nguồn từ khái niệm kì ảo. Kì ảo được hiểu là là
yếu tố siêu nhiên, kì lạ “là sự lưỡng lự cảm nhận bởi một con người chỉ biết
có các quy luật tự nhiên, đối diện với một hiện tượng bên ngoài mang tính
siêu nhiên” [60, tr.34]. Cảm xúc và tâm lý chung của con người khi chuyển
dịch từ thế giới thực sang thế giới ảo là sợ hãi, nhân vật trong truyện cũng
cảm thấy bất an.
Sang thế kỉ XX, khái niệm cái kì ảo đổi mới. Phương Tây xuất hiện khái
niệm cái kì ảo tươi vui- tức cái huyền ảo. Cái huyền ảo khiến độc giả vừa sợ,
vừa không sợ, đôi khi mang tính chất giễu nhại. Cái huyền ảo gắn với văn học
hiện thực huyền ảo với các tác giả như Asturias, Borges, Carpentier,
C.Fuentes, G.Marquez… Sự phân biệt giữa kì ảo và huyền ảo thể hiện ở nhiều
mặt. Thứ nhất, về giọng điệu, cái huyền ảo xuất hiện một cách tự nhiên trong
tác phẩm, được diễn đạt bằng một ngôn ngữ trần thuật bình thản như khi
người kể chuyện nói về những hiện tượng bình thường khác. Cả người kể
chuyện, nhân vật đều không hề cảm thấy lo lắng hay do dự trước sự xuất hiện
của cái huyền ảo. Thứ hai, trong thế giới huyền ảo không có đứt gãy với hiện
thực mà cả hai tồn tại song trùng, không phân biệt được.
Văn học Nhật Bản ngay từ những khi xuất hiện đã có sử dụng yếu tố kì
ảo. Ở chương 1, luận văn đã có trình bày về vấn đề này. Với các truyện ngắn
như Cháo khoai, Ảo thuật, Tu tiên, Sợi tơ nhện, Con rồng, Địa ngục trước
mắt… phong vị cổ tích đậm đặc vì nhà văn vận dụng các yếu tố kì ảo.
99
Tuy nhiên, khi cái kì ảo xâm nhập vào đời thực, lằn ranh giữa thực và ảo
bị xóa nhòa thì huyền ảo xuất hiện. Có thể nói chất huyền ảo thấm đẫm trong
văn chương Akutagawa. Sự pha trộn giữa hiện thực và huyền ảo trong Cái
mũi, Mộng mị, Bóng người mũ đỏ, Thân thể đàn bà, Con Bạch, Cái bóng,
Niềm tin, Đất nước của các thủy dân… tạo nên sức cuốn hút cho các truyện
ngắn này. Từ lúc bước vào thế giới truyện cho đến khi khép lại trang truyện,
người đọc dường như cũng cảm thấy “nỗi bất an mơ hồ” vì không biết đâu là
thực, đâu là mộng. Người đọc bắt gặp kiểu “người hóa rận” (Thân thể đàn bà)
tương tự như Biến dạng của Kafka. Hoặc Cái bóng là cuộc chạm trán bất ngờ
giữa nhân vật và cái bóng- phản thân của anh ta. Trong Mộng mị, những giấc
mơ cứ thế tiếp nối: bức tranh đầy màu sắc, họa sĩ đi loanh quanh trong căn
phòng mở cửa mà không ra ngoài được, cảnh họa sĩ dùng tay bóp cổ cô người
mẫu đến chết… Giờ nghỉ trưa- một cơn mộng huyễn là những liên tưởng bất
ngờ tạo nên sự trộn lẫn giữa thế giới thực và phi thực. Lằn ranh giữa hiện thực
và siêu nhiên không còn nữa.
Tuy nhiên, Đất nước của các thủy dân được xem là truyện ngắn đậm
chất huyền ảo nhất của nhà văn. Từ một thế giới “phi nhân gian” nhà văn thể
hiện những suy nghĩ của về thế thái nhân tình, về xã hội hiện đại. Loài thủy
quái định ra một thiết chế xã hội với đầy đủ những qui tắc nhất định. Trong
thế giới ấy, con người tự quyết định số phận. Trong truyện có một chi tiết hài
hước đậm chất hiện sinh. Đó là cảnh khi đứa con sắp chào đời, Baggơ- kappa
bố- áp miệng vào bụng vợ để trò chuyện với con trai. “Con có muốn ra đời
không? Hãy nghĩ cho kĩ nhé!” [2, tr.165]. Có tiếng đứa trẻ ngượng nghịu đáp
lại: “Con không muốn sinh ra đâu. Thứ nhất vì tính di truyền của bố làm con
sợ dù rằng đó là bệnh thái nhân cách của bố thôi. Và ngoài ra con thấy rằng
loài kappa không nên sinh sôi nảy nở nhiều lên” [2, tr.165].
Con người khi chết đi có thể tự kết liễu để phục sinh trở lại cuộc sống cũ.
100
Hồn của thi sĩ Tốcc đã nói trong lúc được cầu hồn: “Nếu như chán cuộc đời
của bóng ma thì tôi sẽ cầm khẩu súng lục và kết liễu đời mình bằng tự phục
sinh” [2, tr.209]… Thế giới loài thủy quái gửi gắm những ước mơ, suy tư của
nhà văn. Chất mộng và thực dường như hòa quyện chất chứa nỗi buồn vô
vọng.
Mờ hóa, huyền ảo được xem là hai kĩ thuật viết gắn liền với văn chương
hậu hiện đại. Tuy nhiên, khái niệm “hậu hiện đại” vẫn chưa thống nhất. Bài
viết Chủ nghĩa hậu hiện đại hay là hiện tượng chồng chéo khái niệm” của
Nguyễn Văn Dân là một trong số những ý kiến phản đối khái niệm “hậu hiện
đại”. Tác giả cho rằng cho rằng “chỉ nên dùng khái niệm “hậu hiện đại” cho
kiến trúc và hội họa, còn trong lĩnh vực khác, đặc biệt là trong văn học, thì
không nên dùng nó mà chỉ nên dùng [chủ nghĩa] hiện đại hoặc cùng lắm thì
dùng [chủ nghĩa] tối [hoặc siêu] hiện đại” [4, tr.146]. Luận văn do đó không
đi đến kết luận Akutagawa là nhà văn của chủ nghĩa hậu hiện đại.
3.3. Giọng điệu đa thanh
Giọng điệu được hiểu là “thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo
đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn” [26,
tr.134]. Vai trò của giọng điệu rất quan trọng, nó “qui định cách xưng hô, gọi
tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay
suồng sã, ngợi ca hay châm biếm…” [26, tr.134] và nếu “thiếu một giọng
điệu nhất định, nhà văn chưa thể viết ra được tác phẩm, mặc dù đã có đủ tài
liệu và sắp xếp trong hệ thống nhân vật” [26, tr.134].
Bên cạnh đó, những yếu tố khác cũng bị chi phối bởi giọng điệu: “Đề
tài, tư tưởng, hình tượng chỉ được thể hiện trong một môi trường giọng điệu
nhất định, trong phạm vi của một thái độ cảm xúc nhất định đối với đối tượng
sáng tác, đối với những mặt khác nhau của nó. Hiệu suất cảm xúc của lối kể
chuyện, của hành động kịch, của lời lẽ trữ tình trước hết thể hiện ở giọng điệu
101
chủ yếu vốn là đặc trưng của tác phẩm văn học với tư cách là một thể thống
nhất hoàn chỉnh” [41, tr.167].
Do đó, có thể nói giọng điệu là một trong những yếu tố quan trọng tạo
nên phong cách riêng của nhà văn. Tất cả các nhà văn tầm cỡ thế giới đều coi
trọng giọng điệu riêng thể hiện trong tác phẩm:“Cái quan trọng trong tài
năng văn học là tiếng nói của chính mình, là cái giọng riêng của chính mình
mà không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kỳ một người nào khác” (Ivan
Turgenev), “Nếu tác giả không có lối đi riêng thì người đó không bao giờ là
nhà văn cả… Nếu anh không có giọng riêng, anh khó trở thành nhà văn thực
thụ” (Chekhov) hoặc “Không có tiếng nói riêng không mang lại những điều
mới mẻ cho văn chương mà chỉ biết dẫm theo đường mòn thì tác phẩm nghệ
thuật sẽ chết (Leonit Leonop)…
Như vậy, giọng điệu là phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn học. “Giọng
điệu thường đa dạng, có nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản chủ
đạo chứ không đơn điệu” [26, tr.135]. Một nhà văn thể hiện nhiều giọng điệu
của mình trong tác phẩm văn học chứ không nhất thiết cố định vài kiểu. Một
tác phẩm văn chương cũng có thể pha trộn nhiều giọng điệu chứ không phải
chỉ thể hiện một giọng duy nhất. Sự kết hợp ấy tạo thành “giọng điệu đa
thanh” tức là “có nhiều giọng điệu trong phát ngôn của nhà văn hoặc của
nhân vật” [80]. Việc phân chia các kiểu giọng điệu ở đây mang tính tương
đối, căn cứ vào tính chất chủ đạo, nổi trội của chúng trong tác phẩm.
Truyện ngắn của Akutagawa nổi bật lên ba giọng điệu gồm hài hước-
châm biếm, ám ảnh- hoài niệm và triết lí- u buồn. Trong đó, giọng điệu thứ ba
là chủ đạo, bao trùm lên toàn bộ sáng tác của nhà văn.
3.3.1. Giọng điệu hài hước, châm biếm
Trong những truyện ngắn đầu tay của Akutagawa, người đọc vẫn thấy
lấp lánh nụ cười tươi vui. Yếu tố hài hước thể hiện sự thông minh dí dỏm của
102
ông.
Khi miêu tả sư Thiền Trí (Cái mũi) loay hoay làm cho mũi ngắn, tác giả
khiến người đọc cảm thấy buồn cười một cách nhẹ nhàng: Sư tìm nhiều cách
khác làm mũi ngắn hơn thực tế như chống tay vào má, tì ngón tay vào cằm
khi soi gương để ngắm nghía. Thế nhưng chưa lần nào sư thỏa mãn. Những
lúc đó, sư “cất gương vào hộp, lặng lẽ thở dài rồi miễn cưỡng trở lại bàn
tụng kinh Quan Âm” [2, tr.41]. Sư còn tìm kiếm trong sách vở xưa cổ nhưng
cũng chẳng có hi vọng gì. Thậm chí, “Khi nghe chuyện Lưu Huyền Đức của
nhà Thục có tai dài, sư thầm nghĩ phải chi đó không phải là tai mà là mũi thì
đỡ khổ cho mình biết bao nhiêu” [2, tr.41]. Người đọc cảm thấy buồn cười về
sự lo lắng thái quá cũng như những cố gắng tội nghiệp của sư Thiền Trí.
Giọng điệu hài hước đó thường được nhà văn sử dụng khi miêu tả một
nét tính cách hoặc hành động của nhân vật. Mục đích của nhà văn là nhằm
làm cho bức tranh ấy trở nên chân thực, sống động hơn. Với Chiếc mùi soa,
cách miêu tả của tác giả tạo cảm giác thú vị về giáo sư Hasegawa: “Chiếc đèn
lồng Gifu treo lửng trên sàn hiên vẫn chưa ai thắp. Và trên chiếc ghế mây,
giáo sư Hasegawa Kinzo nhà ta vẫn đang xem dở cuốn Luận về kịch nghệ của
Strindberg. Người viết chỉ cần tả như vậy thiết tưởng cũng đủ giúp độc giả
hình dung một cách dễ dàng đó là một buổi xế chiều đầu hạ ngày còn dài lê
thê. Tuy nhiên khi nói thế, tác giả không có ý bảo giáo sư chán ngán gì đâu.
Nếu có vị nào giải thích kiểu đó là cố ý đem ý nghĩa của câu văn của tác giả
bóp méo để mỉa mai đấy” [2, tr.77]. Có thể nói, lối kể có xen vào giọng điệu
hài hước của người kể tạo cảm giác thú vị, khiến người đọc luôn hình dung
đôi mắt thông minh của ông đang chăm chú quan sát thái độ, nắm bắt rất rõ
diễn biến tâm lí độc giả.
Trong truyện Tu tiên, cách ăn mặc thái quá của Gonsuke khi đi học phép
tiên gây ấn tượng với người đọc: “Gonsuke cũng khôn, nghĩ được hôm nay là
103
ngày ra mắt nên gã đóng cả bộ áo khoác có in hoa văn dòng họ của gã.
Nhưng rốt cuộc trông gã cũng không khác gì hơn một tên nhà quê quèn. Ăn
mặc trịnh trọng như thế chỉ làm ông thầy thuốc cứ nhìn chòng chọc vào mặt
gã, như ngắm nghía một con hươu xạ từ bên xứ Thiên Trúc mới đem sang”
[2, tr.412]. Người đọc cảm thấy buồn cười một cách bất ngờ trước lối ví von
của nhà văn. Bức chân dung nhân vật Gonsuke hiện lên vừa đáng thương vừa
hài hước.
Tuy nhiên trong tác phẩm văn chương, sự hài hước sẽ thiếu chiều sâu
nếu không gắn liền với sự châm biếm. Bởi vì tác phẩm văn chương không
phải để mua vui, giải trí một cách tầm thường. Trong truyện ngắn Địa ngục
trước mắt, nhà văn thể hiện sự châm biếm đối với nhân vật Đức Ông từ tính
hạnh bất ổn: “kẻ bảo giống Tần Thủy Hoàng, người so với Tùy Dạng Đế” [2,
tr.183] (những vị vua độc ác, hiếu sắc của phong kiến Trung Quốc) đến hành
động tàn ác như để bò kéo xe húc phải cụ già nhưng cụ phải lạy tạ ngài như
vừa nhận được một vinh dự lớn hoặc đem cậu tiểu đồng hậu cận sủng ái nhất
làm chân cầu sống để tế thần…
Tuy người kể tỏ ra “bênh vực” Đức Ông khi phủ nhận “hạng bàn tán
kiểu đó thì như ngạn ngữ nói, khác chi lũ mù xem voi. Đức Ông không bao
giờ chuộng lộng lẫy hào nhoáng cho riêng mình mà lúc nào cũng chỉ nghĩ
đến kẻ dưới, nói cách khác, có cái lượng cả chỉ lo cho trăm họ yên vui” [2,
tr.183]. Tuy nhiên sự châm biếm đã thể hiện rất rõ ràng. Không thể có sự bất
tương xứng thái quá giữa hành động và phẩm chất như vậy.
Bên cạnh đó, chi tiết bị làm mờ đi trong truyện là mối quan hệ giữa con
gái họa sĩ và Đức Ông. Giọng điệu người kể tỏ ra khách quan nhưng thái độ
rào trước đón sau: “Phải nhớ cho là con gái Yoshihide có lọt vào mắt Đức
Ông là nhờ cái đức hiếu hạnh tỏ ra khi che chở thương yêu con khỉ làm ngài
cảm động chứ không phải ngài đắm đuối sắc đẹp như thiên hạ cứ hiểu lầm…
104
Đức Ông thèm gì tơ tưởng tới con gái anh thợ vẽ cho dù nàng ta có sắc nước
hương trời đến đâu chăng nữa” [2, tr.188].
Bên cạnh nhân vật, nhà văn còn mở rộng sự châm biếm sang những đối
tượng khác. Khi miêu tả nhân vật Ngũ vị trong Cháo khoai, Akutagawa đã thể
hiện sự giễu cợt của mình đối với trường phái văn học đương thời: “Đúng ra
không có quyền viết Mỗ không khống nhưng khổ nỗi, sách cổ chỉ để lại chừng
đó chi tiết… Hoặc giả một gã đàn ông quá tầm thường như Mỗ không đáng
cho người ta phải nhớ tên. Văn nhân thời xưa vốn chẳng thiết tha gì với đám
phàm phu tục tử và mấy chuyện vặt vãnh xoay quanh bọn chúng. Về điểm này
các nhà viết sách thời xưa khác xa các ông văn sĩ trường phái tả chân Nhật
Bản bây giờ. Các cụ ta xưa đâu phải là dân rảnh rỗi…” [2, tr.49].
Tuy nhiên, tác phẩm thể hiện rõ nhất ngòi bút châm biếm của
Akutagawa chính là Đất nước của các thủy dân (Kappa). Thông qua tác phẩm
này, nhà văn hướng sự đả kích vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội tư sản Nhật
Bản. Tác phẩm này được xem như Gulliver phiêu lưu ký (Jonathan
Swift), Erehwon (Samuel Butler) hay Đảo chim cánh cụt (Anatole France).
Tạp chí Times còn bình luận đây là: “Gulliver trong bộ kimono” [1, tr.13].
Tác phẩm là câu chuyện kể của nhân vật chính- bệnh nhân mang số hiệu
23- đang được chữa trị trong nhà thương điên. Mùa hè ba năm về trước, khi
du lịch ở suối nước nóng, anh ta vô tình bắt gặp một con kappa (Đây là một
loài thủy quái trong tưởng tượng của dân gian). Sau khi truy đuổi nó, anh ta
du nhập vào thế giới của sinh vật này. Anh khám phá ra một cuộc sống khác
biệt với thế giới của con người, hay nói cách khác, đó chính là mặt trái của xã
hội Nhật đương thời. Thông qua việc miêu tả chi tiết xã hội của loài thủy quái
về nhiều mặt như chính trị, xã hội, kinh tế, pháp luật, nghệ thuật, gia đình…
nhà văn hướng sự đả kích đến hiện trạng xã hội Nhật.
Trong xã hội kappa, hệ giá trị bị đảo lộn. Nhân vật chính là bệnh nhân số
105
23 đã gặp rất nhiều nhân vật tiêu biểu trong xã hội như bác sĩ Tsacc, thi sĩ
Tốcc, nhà soạn nhạc Krabắc, anh sinh viên Rapp, giám đốc hãng thủy tinh
Ghê-rơ, triết gia Maggơ, anh đánh cá Baggơ… Qua cuộc trò chuyện với các
nhân vật này, tác giả đã khéo léo thể hiện những tư tưởng mang tính phê phán
xã hội Nhật Bản đang trên đà tiến lên chủ nghĩa phát xít.
Một mặt thế giới kappa vận hành dựa trên những nền tảng tiến bộ riêng
như hôn nhân tự do, tự quyết định số phận. Loài người nói đến hạn chế sinh
đẻ nhưng loài Kappa cho rằng “chỉ quan tâm đến cha mẹ thì chẳng phải là
nực cười đó sao? Chẳng phải chuyện đó bộc lộ tính cá nhân và vị kỉ đó sao?”
[1, tr.164]. Một đứa trẻ được hỏi ý kiến trước khi chào đời- nếu muốn nó sẽ
không được sinh ra. Hôn nhân là để bảo vệ nòi giống, chống lại những đặc
tính di truyền xấu xa, con cái có quyền săn đuổi con đực…
Mặt khác, những gì diễn ra trong thế giới kappa là sự cường điệu, tô đậm
những hiện trạng trong xã hội Nhật nhằm mục đích phê phán. Về nghệ thuật,
cảnh sát cấm đoán, kiểm duyệt mọi hoạt động âm nhạc. Giữa buổi biểu diễn
của họa sĩ Krabắc, viên cảnh sát quát ầm như sấm: “Ta cấm cho hòa nhạc!”
[1, tr.173]. Về khoa học, sách được xuất bản ra hàng loạt bằng công nghệ đơn
giản: chỉ cần đưa giấy, mực và chất bột màu xám (óc lừa ba yên một tấn) vào
máy là hàng loạt những cuốn sách ra đời. Chính vì máy móc có thể làm được
tất cả nên những công nhân kappa trở nên thừa thãi. Tất cả họ bị mang đi giết
để lấy thịt làm món ăn! Về pháp luật thì tội lỗi một người không cần xét xử
mà “chỉ đơn giản tuyên bố trước kẻ phạm tội tên gọi của tội ác” [1, tr.195]. Ở
góc độ gia đình thì “cha mẹ, con cái, chồng vợ, anh chị em- tất cả chỉ nhìn
thấy một niềm vui độc nhất là hành hạ nhau thật ác liệt” [1, tr.167]. Về tôn
giáo, loài thủy quái đề ra “Đạo sống” và thờ các “vị thánh” như Tolstoi,
Strindberg, Nietzsche… Tuy nhiên tất cả những vị thánh này đều là những
người không muốn sống. Họ có tư tưởng bi quan hoặc tự tử vào cuối đời!
106
Như vậy, việc xây dựng một thế giới loài Kappa có sự đảo lộn mọi hệ
giá trị tạo nên bức tranh châm biếm sắc nét. Tác giả từng bước lột trần tính
chất phi lí, trái tự nhiên của cơ cấu và nếp sống trong xã hội Nhật Bản đương
thời. Do đó, Đất nước của các thủy dân xứng đáng là một trong những tác
phẩm châm biếm đặc sắc nhất của Akutagawa.
3.3.2. Giọng điệu hoài niệm, ám ảnh
Bên cạnh châm biếm và hài hước, giọng điệu hoài niệm, ám ảnh cũng
được thể hiện nhiều trong các truyện ngắn của Akutagawa. Giọng điệu hoài
niệm dễ nhận thấy trong những sáng tác về kỉ niệm tuổi thơ, đặc biệt là những
hồi ức liên quan đến gia đình của Akutagawa. Đó là những sáng tác gồm
Nước dòng sông Cái, Sổ điểm danh những người đã khuất, Đứa con rơi…
Trong số đó, Nước dòng sông Cái là sáng tác đầu tay thể hiện tâm hồn nhạy
cảm và tinh tế của Akutagawa.
Con sông Cái gắn liền với những ngày tháng tuổi thơ hoa mộng. Sông
không còn là sự vật vô tri mà đã biến thành thực thể có linh hồn. Trong tâm
tình của cậu bé, con sông thật sự gắn bó, sẻ chia nhiều điều và khiến cậu có
cảm giác vô cùng thân thiết. Tình cảm đó được bộc lộ một cách cụ thể, trực
tiếp: “Cớ sao tôi yêu con sông Cái này đến thế!… cứ mỗi lần nhìn dòng nước
là trong lòng tôi không khỏi dậy lên một nỗi trống vắng và một nguồn an ủi
đến ứa nước mắt” [2, tr.20]. Trải nghiệm của cậu bé bên con sông thân
thương thật khác biệt: “Tôi thấy mình như hoàn toàn tách khỏi thế giới đang
sống, tâm hồn bay vút vào cõi trời đất đầy nhớ nhung, luyến tiếc” [2, tr.21].
Nhà văn trầm tư và chậm rãi khi kể về những kỉ niệm gắn với con sông Cái
như những lần đến lớp học bơi, những đêm tựa mạn thuyền thả lưới đêm…
Hình tượng con sông Cái hiện ra rất sống động với màu sắc, đường nét cụ
thể... Đặc biệt con sông gợi cho tác giả nhiều suy tư về con người và cuộc đời.
Con sông đã nuôi dưỡng tình cảm cũng như mĩ cảm tinh tế của nhà văn: “Nhờ
107
có dòng sông, tôi mới biết yêu Tokyo và nhờ có Tokyo, tôi mới biết yêu đời”
[2, tr.27].
Những hoài niệm về tuổi thơ bên gia đình thể hiện rất rõ nét trong tác
phẩm Sổ điểm danh những người đã khuất. Trong tác phẩm này, nhà văn lần
lượt viết về những kỉ niệm có liên quan đến những người thân trong gia đình:
mẹ, cha, chị gái. Cách kể của tác giả chậm rãi và tỏ ra thản nhiên để che giấu
tình cảm thực: “Mẹ tôi là một người điên. Tôi chưa lần nào cảm thấy tình
cảm mẹ con ruột thịt ở mẹ tôi” [2, tr.453]. Tuy thiếu thốn tình cảm của mẹ,
nhưng khi bà qua đời, kí ức của cậu bé cũng tràn ngập đau khổ: “Nhất là khi
ai đó ở phía sau nói “lâm chung, lâm chung” là lúc tôi càng cảm thấy lòng
mình tràn đầy đau thương” [2, tr.453].
Những sáng tác về sau của nhà văn như Thầy Mori, Đứa con rơi… được
viết dưới dạng tự thuật qua lời kể của nhân vật tôi. Trong Thầy Mori giọng
điệu miêu tả người thầy toát lên sự thương hại: “ánh mắt áy náy cứ đi đi lại
lại không ngừng trong đôi mắt trong vắt như mắt gia súc của thầy” [2,
tr.250]. Những trò cười cợt đó khiến cho tôi về sau thấy hối hận vô cùng:
“Những tiếng cười như thế này của bọn tôi làm cho thầy Mori hiền lương khổ
sở biết bao… Giờ đây, ngay chính tôi, khi nhớ tới những tiếng cười bạc bẽo
này, tự dưng tôi cũng muốn bịt tai tôi lại” [2, tr.252]. Và nhân vật tôi không
giấu nỗi những cảm xúc đang dâng lên trong lòng: “…tôi đã lấp mặt vào áo
khoác và đi ra ngoài với mối cảm động không biết nên khóc hay nên cười” [2,
tr.266]. Kết thúc truyện, âm thanh giảng bài của người thầy giáo tận tụy với
nghề vẫn văng vẳng bên tai, để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng nhân vật.
Giọng điệu trong Đứa con rơi đầy hoài niệm. Qua lời kể chậm rãi, từ tốn
của nhân vật, người đọc xúc động và đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên
khác. Người mẹ đã chăm sóc tận tình đứa trẻ không phải con ruột của mình
suốt 20 năm trời khiến người con không khỏi xúc động: “Không biết mẹ tôi
108
đã suy nghĩ như thế nào mà đặt ra chuyện bỏ con để nuôi dưỡng tôi, một đứa
bé không phải ruột thịt của bà” [2, tr.354]. Vô tình biết sự thật, người con
vẫn giấu kín bí mật đó. Tình cảm của anh đối với bà vẫn không thay đổi: “Tôi
yêu thương mẹ tôi nhiều hơn trước. Từ khi biết được bí mật đó, là đứa con
rơi, tôi đã nghĩ bà cao cả hơn những người mẹ bình thường khác” [2, tr.355].
Nếu đối chiếu với cuộc đời nhà văn, những khao khát về tình thương người
mẹ vẫn luôn thường trực. Đứa con rơi phản ánh những ao ước thầm kín
nhưng mãnh liệt của Akutagawa.
Bên cạnh giọng hoài niệm, giọng điệu ám ảnh cũng thể hiện nhiều trong
tác phẩm của Akutagawa. Nỗi ám ảnh thường trực chính là bệnh tật và cái chết.
Trong Mộng mị, nhân vật tôi- tác giả- luôn có ám ảnh bệnh tật. Có lẽ đây
là căn bệnh thần kinh di truyền từ người mẹ. Nhân vật sợ hãi vì luôn có những
giây phút sống ngoài ý thức: “(…) tôi nhớ lại kí ức của mười hai, mười ba
năm về trước (…) tôi ngồi ngoài hiên, đốt mấy cây nhang pháo bông (…).
Trong đầu tôi chỉ nghĩ là tôi đang ngồi ngoài hiên nhưng khi mơ hồ lấy lại
được ý thức thì mới biết tôi đang ngồi ở ngoài cánh đồng trồng hành... Đốt
hết cây hành này đến cây hành khác…” [2, tr.470].
Nhưng ám ảnh về cái chết trong truyện ngắn của Akutagawa là nhiều
nhất. Ngay từ những sáng tác đầu tay của nhà văn, nỗi ám ảnh này đã xuất
hiện. Trong Nước dòng sông Cái, khó có thể ngờ rằng nhà văn- khi ấy còn là
đứa trẻ- lại có những hình dung về cái chết cụ thể, sống động đến thế: “Nhớ
nhất là lúc tựa mạn thuyền thả lưới đêm, trôi theo dòng, ngắm mặt nước đen
không mảy may tiếng động, để khi nghe tiếng thở phập phồng của Thần Chết
đang lềnh bềnh giữa khoảng đêm khuya và mặt nước, mới cảm thấy một nỗi
buồn bơ vơ xâm chiếm tâm hồn” [2, tr.21]. Về sau, ám ảnh cái chết càng lúc
càng dày đặc, nhất là trong các sáng tác cuối đời như Sổ điểm danh những
người đã khuất, Mộng mị, Ảo ảnh cuộc đời…
109
Trong Mộng mị, nhân vật họa sĩ tự nhủ với mình: “Vẽ xong bức tranh
này thì chết cũng được” [2, tr.464]. Ảo ảnh cuộc đời là những linh cảm của
một người đang tiến gần cái chết. Nhân vật tôi cùng những người bạn đi ngắm
ảo ảnh Shinkiro (hiện tượng khúc xạ ánh sáng trên mặt biển). Trong chuyến
đi, tôi liên tục có “cảm giác rờn rợn”. Một đôi trai gái vừa đi ngang qua bỗng
hiện lên trước mặt. Thì ra là hai người khác ăn mặc giống hệt. Một người
trong đoàn nhặt được miếng gỗ đính vào xác chết thủy táng của một người rất
trẻ. Tuổi đời của người chết chỉ khoảng hai mươi... Cứ mỗi lần như vậy, tôi
lại “thấy rờn rợn vì bên ngoài ý thức của mình có đủ các sự vật” [2, tr.480].
Mùa hè cuối cùng năm 1927- năm sáng tác Ảo ảnh cuộc đời- Akutagawa
tham dự một buổi quay phim tại Tabata quê ông, miền bắc Tokyo. Trong
phim có cảnh ông ngừng chơi đùa với các con để châm một điếu thuốc. Dưới
chiếc mũ rộng vành che nắng, ông bập bập điếu thuốc và nhìn chòng chọc vào
ống kính máy quay. Một nửa bị khuất trong bóng tối và khói thuốc- đó là
khuôn mặt của sự thất bại, khuôn mặt của cái chết.
Do đó, ám ảnh về cái chết không còn là nỗi sợ mơ hồ mà cuối cùng đã
biến thành sự thật trong cuộc đời Akutagawa.
3.3.3. Giọng điệu triết lí, u buồn
Trong số ba giọng điệu của truyện ngắn Akutagawa, triết lí u buồn là chủ
đạo. Giọng điệu này nổi bật và xuyên suốt trong hầu hết các tác phẩm của nhà
văn.
Triết lí được hiểu là những trải nghiệm của bản thân được đúc kết lại
một cách cô đọng nhất. Đó là những quan niệm về các giá trị cuộc sống, về
tính cách con người… Bằng trí tuệ sáng suốt và sự mẫn cảm thiên tài,
Akutagawa cho độc giả thấy được những diễn biến nội tâm phức tạp của con
người. Tất cả được thể hiện một giọng điệu đầy chất triết lí: luôn suy tư, lí
giải, cắt nghĩa… những trạng thái tâm lí phức tạp bên trong con người. Giọng
110
điệu này có khi bao trùm lên toàn bộ tác phẩm, có khi bộc lộ trực tiếp qua lời
của người kể chuyện- tác giả.
Tính triết lí thể hiện sự điềm tĩnh, khách quan, lạnh lùng của nhà văn
trong cách nhìn nhận sự vật. Tốt hay xấu, thiện hay ác… không phải là kết
quả mà là quá trình. Và nhà văn là người theo sát quá trình ấy để đánh giá,
bộc lộ quan điểm của mình. Tính triết lí này thể hiện ở hầu hết các tác phẩm
của nhà văn. Như trong Cánh đồng khô, Akutagawa khai thác sâu trạng thái
tâm lí của mười vị đệ tử. Sự ích kỉ của mỗi người có một sắc thái khác nhau.
Qua từng nhân vật, nhà văn thể hiện triết lí về thói ích kỉ nằm trong bản chất
con người. Hoặc trong Cổng Rashomon là triết lí về xung đột Thiện- Ác trong
đời. Con người trong sáng tác của ông hiện lên thật đáng thương, tự bản thân
họ đã chứa nhiều mâu thuẫn, xung đột. Do đó, nỗi u buồn dai dẳng tràn ngập
những trang văn của Akutgawa. Đó là nỗi buồn về sự bất lực của cá nhân, về
sự bất toàn xã hội… Không ít lần, giọng điệu triết lí- u buồn đó được nhà văn
thể hiện một cách công khai qua lời nhân vật hoặc lời của chính tác giả.
Bọn đạo tặc có rất nhiều phần thể hiện suy tư, chiêm nghiệm về sinh tử,
về lẽ vô thường của cuộc đời. Phần đầu truyện là những suy nghĩ của bà già
Inokuma: “Mọi sự vật đều thay đổi nhưng nếu nhìn cách khác thì mọi vật vẫn
như xưa… Theo nghĩa đó con người mọi thời đại đều lặp lại y chang chừng
đó chuyện. Như vậy, nếu nghĩ cùng một lối, thì kinh đô hiện nay vẫn là kinh
đô thời xa xưa, và ngay mụ, vẫn là mụ của thuở nào” [2, tr.96]. Khi ông lão
Inokuma qua đời, những người xung quanh có cái nhìn bao dung hơn kẻ khi
sống từng làm nhiều chuyện trái đạo này: “Sinh tử như phù vân. Mặt người
chết trông lành hơn mặt người sống” [2, tr.163]. Tiệc khiêu vũ là chiêm
nghiệm về sự ngắn ngủi của kiếp người. Viên sĩ quan người Pháp mời Akiko
nhảy đã bâng khuâng: “Tôi đang nghĩ đến chuyện pháo bông. Pháo bông
giống như cuộc đời của chúng ta” [2, tr.300]. Bốn bề bờ bụi thể hiện triết lí
111
của tên cướp về hành động giết người: “Thế nào cũng phải chiếm đoạt người
đàn bà thì phải giết người đàn ông đi thôi. Chỉ khác là tui giết người thì dùng
đao kiếm, còn các người thay vì đao kiếm, lại dùng quyền lực, tiền bạc, hay
có khi chỉ cần lời nói xảo quyệt là đủ để giết người ta rồi. Giết kiểu đó thì
máu chẳng đổ mà người đàn ông thấy như còn sống đàng hoàng” [2, tr.376].
Bên cạnh lời nhân vật, giọng điệu triết lí- u buồn thể hiện qua lời người
kể- tác giả. Người đọc luôn hình dung bóng dáng tác giả đang trầm ngâm, suy
tư phía sau những trang văn. Akutagawa nhiều lần cố gắng lí giải về góc
khuất bí ẩn của tâm hồn: “Tâm hồn con người ta luôn có hai thứ tình cảm
mâu thuẫn nhau. Dĩ nhiên không ai lại không cảm thông với nỗi bất hạnh của
người khác. Nhưng khi người đó thoát ra khỏi cảnh bất hạnh thì tự nhiên
trong lòng lại cảm thấy có cái gì đó không muốn như thế. Nói cường điệu hơn
là thậm chí còn muốn cho người đó lâm vào cảnh bất hạnh tương tự thêm một
lần nữa” (Cái mũi) [2, tr.45]. Trong khi đó Cháo khoai lại triết lí về ước mơ
của con người: “Con người ta có lúc hiến mất cuộc đời mình cho một ước mơ,
lúc đạt được lúc không, mà nội dung của ước mơ đó chính mình không nắm
trọn. Ai mà cười cái điều ngu này là kẻ rốt cuộc chỉ đứng bên lề cuộc đời” [2,
tr.55]. Còn Cánh đồng khô là triết lí về thói ích kỉ, gây ấn tượng cho người
đọc về “cánh đồng khô” trơ trọi không tình người: “Tất cả lũ đệ tử có ai khóc
thương cho thầy đâu, họ chỉ khóc cho họ từ đây không còn thầy bên cạnh nữa.
Họ không than thở cho người lãnh đạo tinh thần kiệt sức chết giữa cánh đồng
khô, họ chỉ thở than cho chính họ mất đi ông thầy giữa khi chiều xuống.
Nhưng đem đạo đức ra phê phán bọn họ nào có thay đổi được gì! Bạc bẽo
chẳng phải là bản chất con người đó sao?” [2, tr.243].
Cuộc sống biến chuyển không ngừng trong vòng quay bất tận. Khi nhìn
lại thì tất cả đang trôi đi nhưng dường như mọi thứ lặp lại. Khi đối diện với
vòng quay ấy, con người không khỏi cảm thấy mệt mỏi. Trong Chiếc xe
112
goòng, cảm xúc của nhân vật chính để lại nhiều suy tư trong lòng người đọc:
“Năm hai mươi sáu tuổi, Ryohei cùng vợ con lên Tokyo ở… Ryohei mệt mỏi,
rã rời, trước mặt hắn bây giờ thì ra, cũng giống như cái thuở ngày xưa ấy,
vẫn con đường mòn hẹp với những lùm cây, những con dốc tranh sáng tranh
tối cứ đứt đoạn, rồi lại cứ tiếp nối nhau chạy hoài” [2, tr.386].
Tóm lại, truyện ngắn của Akutagawa thể hiện ba giọng điệu cơ bản gồm
châm biếm- hài hước, ám ảnh- hoài niệm và triết lí u buồn. Ba giọng điệu này
hòa quyện vào nhau trong đó triết lí u buồn là giọng điệu chính. Giọng điệu
này tạo nên chất lí trí rất độc đáo, khác biệt của Akutagawa đặt trong nền văn
học Nhật Bản đậm chất nữ tính.
Tiểu kết chương 3
Sáng tác của Akutagawa là những cách tân nghệ thuật độc đáo. Ở mảng
truyện ngắn vay mượn đề tài cổ tích, nhà văn tạo nên trong truyện của mình
một phong vị cổ tích rõ nét qua việc sử dụng các cốt truyện, motif truyện
cổ… Tuy nhiên màu sắc hiện đại vẫn thể hiện rõ ở cách cấu trúc truyện, cách
xây dựng nhân vật… Đặc biệt, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật là thành
công lớn nhất của Akutagawa so với các tác giả sáng tác truyện ngắn cùng
thời.
Bên cạnh đó, việc thể nghiệm những dạng kết cấu và kĩ thuật viết hiện
đại thể hiện những cách tân vượt bậc về mặt nghệ thuật trong truyện ngắn của
ông. Đặc biệt, những kĩ thuật huyền ảo, mờ hóa đưa truyện ngắn của
Akutagawa lên đỉnh cao giữa bối cảnh văn học Nhật Bản đang chuyển mình
trước luồng gió mới từ phương Tây.
Ngoài ra, sự cách tân còn được thể hiện ở giọng điệu. Nhà văn đan cài
nhiều giọng điệu trong tác phẩm của mình: hài hước- châm biếm, ám ảnh-
hoài niệm, triết lí- u buồn thể hiện phong cách đầy tính sáng tạo, luôn tạo ra
sự phong phú, mới mẻ trong tác phẩm. Vì thế, giọng điệu là một đặc trưng
113
nghệ thuật quan trọng của truyện ngắn Akutagawa.
Tuy nhiên, phương thức sáng tác của Akutagawa vẫn có những hạn chế
riêng. Việc tích lũy nhiều tư liệu cũng như yêu thích những hiệu quả khác
thường đôi khi khiến cho tác phẩm của ông sa vào chủ nghĩa duy cảm, thiếu
thuyết phục và có không ít chi tiết gượng ép.
Ngoài ra, tư liệu truyện cổ cũng được Akutagawa sử dụng có giới hạn.
Trong giai đoạn sáng tác cuối đời, nhà văn buộc phải lấy những dữ kiện bình
thường nhất từ cuộc sống cá nhân. Mặc dù vậy, sở trường phân tích tâm lí
nhân vật, kĩ thuật viết của ông tiếp tục được đánh giá cao. Những tác phẩm tự
thuật thời kì này vẫn thể hiện tài năng văn học lạ thường của Akutagawa. Tuy
nhiên những sáng tác xuất sắc, độc đáo như thời kì đầu đã vắng bóng. Thiếu
nguồn tưởng tượng khiến nhà văn tuyệt vọng.Việc nhìn nhận những hạn chế
này giúp cho chúng ta có sự khách quan, toàn diện hơn trong việc đánh giá về
văn sự nghiệp của Akutagawa.
114
KẾT LUẬN
Văn học Nhật Bản hiện đại là sự chuyển tiếp không liên tục từ văn học
truyền thống do có sự thâm nhập của văn hóa phương Tây. Các nhà văn thời
mở cửa chủ trương trở về với những vấn đề hiện thực đời sống nhưng lại sáng
tác theo mô hình văn học phương Tây. Sự xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng,
nhiều tác gia văn học đã tạo nên diện mạo văn học hiện đại Nhật Bản đa dạng
và phức tạp. Trong đội ngũ nhà văn tên tuổi, Akutagawa Ryunosuke tạo cho
mình một vị thế riêng. Truyện ngắn của ông cho đến nay vẫn thu hút được sự
quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và sự hâm mộ của độc giả. Với đề tài:
Tuyển tập “Trinh tiết” và đặc trưng truyện ngắn Akutagawa Ryunosuke, luận
văn rút ra 4 kết luận sau:
1. Trong bối cảnh văn học Nhật Bản đầu thế kỉ XX, Akutagawa là một
tiếng nói độc đáo, khác biệt. Bởi vì ông đã tập trung khám phá thể loại truyện
ngắn- vốn bị xem nhẹ từ trong văn học truyền thống. Việc lựa chọn lối đi
riêng này thể hiện sự dũng cảm của một nhà văn chân chính. Số lượng tác
phẩm đồ sộ cùng sự cách tân nghệ thuật khiến cho tên tuổi của ông gắn liền
với thể loại truyện ngắn của văn học hiện đại Nhật Bản. Cùng với hai tiểu
thuyết gia Mori Ogai và Natsume Soseki, sự có mặt của Akutagawa ở thể loại
truyện ngắn góp phần làm cho diện mạo văn học Nhật Bản hiện đại hoàn
chỉnh hơn. Văn học Nhật Bản hiện đại đã xem Mori Ogai, Natsume Soseki và
Akutagawa Ryunosuke là ba trụ cột chính. Với thể loại truyện ngắn
Akutagawa là một “bậc thầy”.
2. Những thành công của Akutagawa là kết quả sự kế thừa truyền thống
kết hợp cá tính sáng tạo ở các phương diện đề tài, cốt truyện, motif truyện
cổ… hình thành dạng truyện “giả cổ tích” độc đáo. Nhà văn chú trọng miêu tả
ngoại hình, tâm lí nhân vật để tạo nên những kiểu chân dung nhân vật. Nhân
vật được đặt vào những hoàn cảnh khác thường để khai thác diễn biến tâm lí.
115
Akutagawa thay đổi các kết cấu truyện cổ để tạo nên những kiểu kết cấu lạ.
Ông chịu ảnh hưởng từ các nhà văn đàn anh như Mori Ogai với lối miêu tả
khách quan, Soseki với chủ đề vị kỉ trong sáng tác nhưng lại luôn tạo nên
những sự biến hóa đáng kinh ngạc như lối miêu tả khách quan với sự di
chuyển điểm nhìn hay chủ đề vị kỉ được khai thác ở nhiều phương diện như
sự ích kỉ của cá nhân, tha nhân…
3. Trong tiến trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản, đóng góp của
Akutagawa là rất lớn. Ông đã đưa thể loại truyện ngắn lên vị trí xứng tầm. Từ
chỗ bị xem nhẹ, truyện ngắn đã góp mặt cùng tiểu thuyết tạo nên sự đa dạng
của văn học Nhật Bản hiện đại. Akutagawa đã mang đến cho truyện ngắn
nghệ thuật khai thác tâm lí con người- vốn là sở trường của tiểu thuyết. Ông
là người tiên phong tiếp nhận và áp dụng thành công các kĩ thuật viết hiện đại
của phương Tây như mờ hóa, huyền ảo. Những sáng tạo này của Akutagawa
nói riêng và các nhà văn Nhật Bản nói chung đã làm cho văn học Nhật Bản
từng bước hiện đại hóa. Tuy vẫn còn những điểm hạn chế, song tài năng của
Akutagawa là không thể phủ nhận. Những nhà văn có vai trò khai đường mở
lối như Akutgawa Ryunosuke, Mori Ogai, Natsume Soseki… thật sự là những
tác gia lớn, những cột mốc của tiến trình văn học Nhật Bản.
4. Thông qua việc tiếp cận, nghiên cứu tuyển tập Trinh tiết và một số
truyện ngắn khác của nhà văn, luận văn rút ra những đặc trưng cơ bản của
truyện ngắn Akutagawa như sau:
Truyện ngắn của Akutagawa luôn thể hiện nỗi buồn sâu đậm về “sự thất
bại của lí trí” con người thể hiện ở nhiều mặt. Nỗi buồn toát lên từ tác phẩm
gắn với sự hoài nghi, trăn trở về ý nghĩa của nhân sinh và ám ảnh liên quan
đến cái chết thể hiện qua một giọng văn lí trí, sắc sảo. Nghệ thuật phân tích
nhân vật là ưu thế nổi bật của các truyện ngắn. Mỗi truyện là một phương
diện tâm lí. Thế giới truyện ngắn Akutagawa là một công trình nghiên cứu có
116
giá trị về tâm lí con người. Do đó, khả năng khái quát của các truyện là rất
lớn.
Các truyện ngắn của Akutagawa mang phong vị của truyện cổ tích, qua
việc sử dụng các cốt truyện, nhân vật, tình tiết, motif, yếu tố kì ảo… Do đó,
truyện ngắn của ông lung linh sắc màu cổ tích, gợi cho người đọc nhiều liên
tưởng với những khám phá thú vị. Akutagawa kết hợp nhuần nhuyễn ba giọng
điệu hài hước- châm biếm, ám ảnh- hoài niệm, triết lí- u buồn. Riêng giọng
điệu chủ đạo- triết lí u buồn- được xem là đặc trưng của ông. Giọng điệu này
vừa là sự kết tinh từ tài năng văn học vừa lắng đọng từ cuộc đời nhiều bất
hạnh của Akutagawa.
Hướng nghiên cứu tiếp theo, chúng tôi sẽ tiếp tục triển khai đề tài ở các
vấn đề trong truyện ngắn Akutagawa Ryunosuke như triết lí thiện- ác trong
các truyện “giả cổ tích”, chủ nghĩa hiện sinh hoặc phong cách truyện ngắn
Akutagawa… Triển vọng từ các hướng nghiên cứu này sẽ khẳng định vị thế
nhà văn trên văn đàn Nhật Bản.
Akutagawa được ví như ánh sao băng vụt qua bầu trời văn học Nhật Bản
hiện đại và để lại hào quang. Nhưng có lẽ pháo hoa, một hình ảnh nhà văn rất
thích và thường đưa vào truyện ngắn của mình, phù hợp hơn khi nhắc đến
Akutagawa. Sự nghiệp mười lăm năm sáng tác của Akutagawa là những cụm
pháo hoa lấp lánh, nở trong muôn màu để lại cho hậu thế một ấn tượng tuyệt
đẹp trước khi vụt tắt.
117
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
1. Akutagawa (1989), Trong rừng trúc, Phong Vũ dịch, Nxb Tác phẩm mới,
Hội Nhà văn, Hà Nội.
2. Akutagawa (2006), Trinh tiết, Đinh Văn Phước dịch, Nxb Văn học,
Hà Nội.
3. Lại Nguyên Ân (1998), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia,
Hà Nội.
4. Lại Nguyên Ân (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới- Những vấn đề lí
thuyết, Nxb Hội Nhà văn, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây,
Hà Nội.
5. Lê Huy Bắc (2006), Nghệ thuật Phran-đơ Káp-ka, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
6. Lê Huy Bắc (2008), “Cốt truyện trong tự sự”, Tạp chí nghiên cứu văn học
(7), Viện Văn học Viện KHXH & XHNV, Hà Nội.
7. Lê Huy Bắc (2008), Từ điển văn học trong nhà trường (văn học nước
ngoài), Nxb Giáo dục, Đà Nẵng.
8. Lê Huy Bắc (2012), Văn học hậu hiện đại- Lí thuyết và tiếp nhận, Nxb
ĐHSP, Hà Nội.
9. Đoàn Nhật Chấn (1996), Truyện cổ nước Nhật và bản sắc dân tộc Nhật
Bản, Nxb Văn học, TP.HCM.
10. Nhật Chiêu (1994), Basho và thơ haiku, Nxb Văn học, Hà Nội.
11. Nhật Chiêu (1995), Nhật Bản trong chiếc gương soi, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
12. Nhật Chiêu (1996), Tuyển tập truyện ngắn hiện đại Nhật Bản, Nxb Trẻ,
TP. HCM.
13. Nhật Chiêu (2009), Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, Nxb
Giáo dục.
118
14. Nguyễn Đình Chú (2009), “Từ công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam
nghĩ thêm đôi điều về sự tương đồng và tương dị giữa Việt Nam và
Nhật Bản chung quanh vấn đề hiện đại hoá văn học”, Hội thảo quá trình
hiện đại hóa văn học.
15. Nguyễn Văn Dân (2003), Lí luận văn học so sánh, Nxb ĐHQG Hà Nội.
16. Dương Ngọc Dũng (2008), Chuyên luận Nhật Bản học, Nxb Tổng Hợp,
TP.HCM.
17. Đặng Anh Đào (2001), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện
đại, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
18. Edwin O. Reischauer (1994), Nhật Bản quá khứ và hiện tại, Nxb KHXH,
Hà Nội.
19. Franz Kafka (2003), Tuyển tập tác phẩm, Nhiều người dịch, Nxb Hội nhà
văn, Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội.
20. Đoàn Lê Giang (2011), Văn học Cận đại Đông Á từ góc nhìn so sánh,
Nxb Tổng hợp, TP.HCM.
21. Đoàn Lê Giang (2012), “Nghiên cứu văn học Việt Nam và Nhật Bản
trong bối cảnh Đông Nam Á”, Tạp chí nghiên cứu văn học (2), Viện
Văn học Viện KHXH & XHNV, Hà Nội.
22. George Sansom (1994), Lịch sử Nhật Bản, Nxb KHXH, Hà Nội.
23. Nguyễn Bích Hà (1999), Tuyển tập truyện cổ tích Nhật Bản, Nxb ĐHQG,
Hà Nội.
24. Đỗ Thu Hà (2002), 100 nhà lí luận phê bình văn học thế kỉ XX, Nxb
KHXH& NV Quốc gia, Hà Nội.
25. Khương Việt Hà (2005), “Các khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa
trong văn học Nhật Bản nửa đầu thế kỉ XX”, Tạp chí nghiên cứu văn
học (8), Viện Văn học, Hà Nội.
26. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ
119
văn học, Nxb Giáo dục, TP.HCM.
27. Đào Thị Thu Hằng (2005), “Yasunari Kawabata giữa dòng chảy Đông
Tây”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (7), Hà Nội.
28. Đào Thị Thu Hằng (2007), Văn hóa Nhật Bản và Kawabata Yasunari,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
29. Cao Thị Hảo (2011), “Nét tương đồng và khác biệt giữa văn học Nhật
Bản và văn học Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa”, Tạp chí nghiên
cứu văn học (3), Viện Văn học Viện KHXH & XHNV, Hà Nội.
30. Đỗ Đức Hiểu (1978), Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa, Nxb Văn
học, Hà Nội.
31. Nguyễn Thái Hòa (1999), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
32. Nguyễn Quốc Hùng (2012), Lịch sử Nhật Bản, Nxb Thế giới, Hà Nội.
33. Ishi-Da Kazu-Yoshi (1973), Nguyễn Văn Tần dịch, Nhật Bản tư tưởng
sử, Phủ Quốc Vụ Khanh, Sài Gòn.
34. Jean Francois Lyotard (2007), Hoàn cảnh hậu hiện đại, Ngân Xuyên
dịch, Nxb Tri thức, TP.HCM.
35. Nguyễn Tuấn Khanh (2007), “Khái quát một trăm năm văn học Nhật bản
hiện đại qua những cây bút kiệt xuất”, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á
(9).
36. Nguyễn Tuấn Khanh (2011), Những cây bút kiệt xuất trong văn học Nhật
Bản hiện đại, Nxb KHXH, Hà Nội.
37. Nguyễn Thị Khánh (1998), Văn học Nhật Bản, Nxb Thông tin KHXH,
Hà Nội.
38. Mai Liên (2010), Hợp tuyển văn học Nhật Bản: từ khởi thủy đến giữa thế
kỉ XIX, Nxb Lao động, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây,
Hà Nội.
120
39. Nguyễn Tiến Lực (2007), “Về cách thức tiếp nhận văn minh bên ngoài
của Nhật Bản”, Hội thảo Văn hóa phương Đông: Truyền thống và
hội nhập.
40. Phương Lựu (2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
41. M.B.Khrapchenco (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển
của văn học, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.
42. Matsuo Basho (1998), Con đường thiên lí hẹp cuộc hành trình Haiku,
Hàn Thủy Giang dịch, Nxb Hà Nội.
43. Tôn Thảo Miên (1997), “Về khái niệm phong cách cá nhân nhà văn”, Tạp
chí văn học (1), Viện Văn học Viện KHXH & XHNV, Hà Nội.
44. Mitsuyoshi Numamo (2009), “Thế giới thơ và tiểu thuyết- từ “Truyện
Genji” đến Murakami Haruki”, Hội thảo văn học Nhật Bản.
45. Nguyễn Nam (2012), ““Sự thực” tuyệt đối trong tự sự: Tiếp nhận và cải
biên Rashomon ở Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu văn học (8), Viện
Văn học Viện KHXH & XHNV, Hà Nội.
46. Phùng Quí Nhâm, Lâm Vinh (1994), Lí luận phê bình và tiếp cận văn
học, Trường ĐHSP TP.HCM.
47. Hữu Ngọc (2006), Dạo chơi vườn văn Nhật Bản, Nxb Văn nghệ,
TP.HCM.
48. N.I.Konrat (1999), Văn học Nhật Bản từ cổ đến cận đại, NXB Đà Nẵng.
49. Lê Thị Kim Oanh (2011), Nhật Bản- một góc nhìn từ văn hóa lễ hội, Nxb
ĐHQG, TP. HCM.
50. Lê Ngọc Phương (2012), “Những biểu hiện của chủ nghĩa hiện thực
huyền ảo trong văn học Nhật Bản đương đại”, Tạp chí nghiên cứu văn
học (2), Viện Văn học Viện KHXH & XHNV, Hà Nội.
51. Nguyễn Thị Bích Phượng (2012), Đặc điểm nghệ thuật truyện trong lòng
bàn tay Kawabata Yasunari, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học
121
nước ngoài, trường ĐHSP TP.HCM.
52. R.H.P Mason& J.G.Caiger (2003), Lịch sử Nhật Bản, Nguyễn Văn Sỹ
dịch, Nxb Lao động, Hà Nội.
53. Trần Đình Sử (1993), Tuyển tập những công trình thi pháp học, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
54. Bùi Việt Thắng (1999), Truyện ngắn- Những vấn đề lí thuyết và thực tiễn
thể loại, Nxb ĐHQG, Hà Nội.
55. Phạm Hồng Thái (2012), “Nho giáo và võ sĩ đạo Nhật Bản”, Tạp chí
nghiên cứu Đông Bắc Á (6).
56. Phạm Thị Thu (2008), So sánh nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của
Nam Cao (Việt Nam) và Ruinôxkê Akutagawa (Nhật Bản), Luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam, ĐHSP Thái Nguyên.
57. Sâm Thương (2011), “Rashomon, sự thật phổ quát duy nhất là cuộc đời”,
Những bộ phim trong đời tôi, Nxb Thanh niên, TP.HCM.
58. Nguyễn Nam Trân (2011), Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản, Nxb
Giáo dục Việt Nam.
59. Phùng Văn Tửu (1996), “Một phương diện của truyện ngắn”, Tạp chí
nghiên cứu văn học (2), Viện Văn học Viện KHXH & XHNV, Hà Nội.
60. Tzevan Torodov (2008), Dẫn luận văn chương kì ảo, Nxb ĐHSP,
Hà Nội.
61. Hoàng Thị Xuân Vinh (2009), “Những cách tân nghệ thuật theo hướng
hiện đại hóa trong truyện ngắn của Akutagawa”, Hội thảo Quá trình
hiện đại hóa văn học Đông Á.
62. Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, Trung tâm ngôn ngữ và
văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, TP. HCM.
63. Yasunari Kawabata (2005), Tuyển tập tác phẩm, Nxb Thăng Long,
Hà Nội.
122
TIẾNG ANH
64. Arima T. (1969), “Akutagawa Ryunosuke: The Literature of Defeatism'”,
The Failure of Freedom.
65. Keene Donald (1956), Modern Japanese Literature.
66. Keene Donald (1998), Dawn to the West, Columbia University Press.
67. K. Tsuruta (1968), Akutagawa Ryunosuke: His Concepts of Lifre and Art.
68. Murray Giles (2003), Breaking into Japanese Literature, Kodansha.
69. O'Brien J. (1988), Akutagawa and Dazai: Instances of Literary
Adaptation.
, A book group 70. Orthofer M.A. (2007), Akutagawa's Mandarins
discussion
the 71. Rubin Jay (2007), Rashomon and Seventeen Other Stories,
Chronology Chapter.
72. Tsutomu Takahashi (1997), Parallelisms in the Literary Vision of Sin.
73. Ueda Makoto (1971), Modern Japanese Writers and the Nature of
Literature, Stanford University Press.
74. Yamanouchi H. (1978), The Search for Authenticity in Modern Japanese
Literature.
75. Yu Beongsheon (1972), Akutagawa: An Introduction.
TRANG WEB
76. Phan Tuấn Anh, “Cái kì ảo trong văn học tiền hiện đại và cái huyền ảo
trong văn học hậu hiện đại” (Ngày đăng: 01/07/2013).
http://vannghequandoi.com.vn/802/news-detail/652718/phe-binh-van-
nghe/cai-ky-ao-trong-van-hoc-tien-hien-dai-va-cai-huyen-ao-trong-van-
hoc-hau-hien-dai.html
77. David Peace, “Những lời trăng trối”, Mai Sơn (Ngày đăng: 22/01/2008).
http://daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=31565
123
78. Đinh Thế, “Nhà quí tộc bi quan nhưng anh minh” (Ngày đăng:
17/10/2009).
http://antgct.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=53245
79. Rogers Bruce Holland, “Thực ra chủ nghĩa hiện thực thần kì là gì?”,
Nguyễn Hoàng Văn dịch
80. Châu Minh Hùng, “Hình thức đa thanh mới qua truyện Nguyễn Huy
Thiệp” (Ngày đăng: 01/03/2009).
http://www.tienve.org/home/activities/viewTopics.do?action=viewArtwork&
artworkId=4751
81. http://www.erct.com/
82. http://chimviet.free.fr
83. http://www.inas.gov.vn
84. http://www.city.kamakura.kanagawa.jp/english
85. http://khoavanhoc.edu.vn

