BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thành Trung
YẾU TỐ KỲ ẢO TRONG
TRUYỆN NGẮN
GABRIEL GARCIA MARQUEZ
Chuyên ngành
: Văn học nước ngoài
Mã số
: 60 22 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐÀO NGỌC CHƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Thầy hướng dẫn, Tiến sĩ Đào Ngọc Chương
Các thầy cô tổ Văn học Nước ngoài, các thầy cô khoa Ngữ Văn
Phòng Sau Đại học và Công nghệ trường Đại học Sư Phạm TP.HCM
Gia đình và bạn bè
đã tận tình góp ý, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này.
TPHCM, ngày 09 tháng 09 năm 2010
Người viết luận văn
Nguyễn Thành Trung
Lớp Cao học Văn học Nước ngoài khóa 18
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi.
Các số liệu khảo sát, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố ở các công
trình khác.
Người viết luận văn
Nguyễn Thành Trung
Lớp Cao học Văn học Nước ngoài khoá 18.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn học Mỹ Latin là nền văn học của các quốc gia, vùng lãnh thổ Trung, Nam châu Mỹ và
Caribbe chủ yếu viết bằng tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và ngôn ngữ bản địa, gồm ba giai đoạn: cổ
đại, cận đại và hiện đại. Nền văn học cổ đại bản địa hình thành từ hàng ngàn năm trước, đây chủ yếu là
những sáng tác dân gian truyền miệng. Nền văn học này bị vùi lấp bởi cuộc xâm lược phương Tây;
một thể chế chính trị cũng như văn chương ban đầu thuần túy châu Âu ra đời. Về sau nền văn chương
ấy giao thoa với khuynh hướng dân tộc bản địa làm nên đặc trưng của nền văn học cận đại. Văn học
hiện đại bắt đầu phát triển mạnh vào thế kỷ XX và đạt được sự bùng nổ mang tầm vóc thế giới bằng 05
giải Nobel cho các tác giả Gabriela Mistral (1945), Miguel Angel Asturias (1967), Gabriel Garcia
Marquez (1982), Pablo Neruda (1971) và Octavio Paz (1990). Giai đoạn này, văn học Mỹ Latin nổi
tiếng với Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (magical realism)- một trào lưu có nhiều đóng góp cho văn học
thế giới.
Văn học hiện đại Mỹ Latin chứng kiến những thành tựu to lớn, trong đó có sự phát triển vượt bậc của
thể loại truyện ngắn, đặc biệt là mảng truyện ngắn kỳ ảo. Dòng truyện ngắn này kết hợp với truyện
ngắn tâm lý tạo nên trào lưu biểu hiện trong văn học Mỹ Latin hiện đại. Các tác giả dường như lý giải
lịch sử và thế giới bằng những yếu tố phi thực. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo ra đời như một phản ứng,
một khám phá là vì thế. Truyện ngắn hiện thực huyền ảo được khơi nguồn từ Borges và phát triển với
tên tuổi của Gabriel Garcia Marquez.
Bản thân Marquez rất coi trọng truyện ngắn. Ông từng phát biểu [50,354]:
Tôi nghĩ rằng truyện ngắn và tiểu thuyết không chỉ là hai thể loại văn học khác nhau mà còn là
hai tổ chức có bản chất khác nhau nếu hiểu lẫn lộn sẽ đưa đến hậu quả tai hại. Ngày nay, tôi vẫn
tiếp tục tin như vậy và lại càng tin chắc hơn bao giờ hết rằng truyện ngắn có vị thế hơn hẳn tiểu
thuyết.
Vì lẽ đó, tìm hiểu mảng truyện ngắn của ông cũng quan trọng không kém gì, nếu không nói là hơn, tiểu
thuyết. Đồng thời trong mảng truyện ngắn của ông, chúng tôi đặc biệt lưu ý mảng truyện ngắn kỳ ảo vì
ba lẽ sau:
Thứ nhất, mảng truyện ngắn kỳ ảo chiếm đa số trong tổng thể truyện ngắn của Marquez. Theo khảo sát
của chúng tôi ở bảng 03, nhóm này có số lượng 23/41 chiếm 56%.
Thứ hai, trong các hợp tuyển, truyện ngắn kỳ ảo của Marquez cũng chiếm đa số so với truyện ngắn
nghiêm ngặt (Bảng 3) 15 truyện ngắn kỳ ảo /19 hợp tuyển chiếm 79%.
Thứ ba, do sở thích của bản thân người viết. Truyện ngắn kỳ ảo của Marquez đặc biệt thu hút chúng tôi
vào những thế giới nghệ thuật kỳ ảo như cổ tích nhưng lại hiện đại một cách rõ ràng và đầy ý nghĩa.
Thứ đến, đề tài này còn gắn với thực tế văn học Việt Nam đương đại. Có thể nhận thấy từ sau
năm 1986, yếu tố kỳ ảo bằng một con đường khác đã bắt đầu quay trở lại một cách đáng chú ý trong
nền văn học Việt Nam với một sức sống tươi mới, ham mê cái lạ và cả dũng khí lật lại các vấn đề
những tưởng đã ổn thỏa. Từ những Đêm bướm ma, Truyện không nên đọc lúc giao thừa… còn trích lại
nhiều tác phẩm thời trung đại, người đọc trong nước dần tiếp xúc với các tập truyện kỳ ảo đương đại
như Hồn hoa trở lại, Hồn hoa đêm tháp cổ, Truyện kỳ ảo thế giới (NXB Văn hóa, HN, 1999), Truyện
ngắn kinh dị (NXB Văn hóa, Hà Nội, 1997), Truyện dị thường (NXB VHTT, 2002),… Vì thế, nghiên
cứu mảng văn học kỳ ảo trở thành một nhu cầu tất yếu; đề cập đến yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn của
Marquez, chúng tôi hy vọng phần nào đáp ứng được mối quan tâm này.
Hơn nữa, hiện nay việc đưa Văn học Mỹ Latin và tác giả Marquez vào chương trình giáo dục Đại
học chỉ mới ở khâu chuẩn bị, đồng thời nền văn học nổi bật này vẫn chưa có được chỗ đứng xứng đáng
ở chương trình trung học phổ thông. Vì thế, tiến hành đề tài trong mối quan hệ với hoạt động giáo dục,
chúng tôi hướng đến việc nhấn mạnh khu vực văn học này cũng như bộ phận sáng tác được chính
Marquez ưu ái- truyện ngắn- trong việc xây dựng chương trình và giảng dạy văn học trong nhà trường
phổ thông cũng như đại học ngành Văn học.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Về ấn phẩm
Đối tượng chúng tôi xác định là truyện ngắn của Marquez. Theo phát biểu của Marquez trước đây
[50,604] thì ông có 38 truyện ngắn, tuy nhiên theo khảo sát của chúng tôi (bảng 1 và 2) thì ông có
không dưới 40 truyện ngắn. Sử dụng tiêu chí yếu tố kỳ ảo, chúng tôi lọc ra được 23 truyện ngắn phù
hợp. Như vậy, về đối tượng chúng tôi khảo sát 23 truyện ngắn kỳ ảo của Marquez.
Về văn bản, trong 23 truyện ngắn này thì 20 truyện ngắn đã có bản tiếng Việt, chủ yếu là do
Nguyễn Trung Đức dịch. Chúng tôi sử dụng bản Gabriel Garcia Marquez- Mười hai truyện ngắn
phiêu dạt [52] và Gabriel Garcia Marquez- truyện ngắn tuyển chọn [53] của Nguyễn Trung Đức tuy
nhiên khi cần có những tham khảo và đối chiếu với nguyên bản, chúng tôi sử dụng ba văn bản: Ojos de
perro azul [78], Todos los cuentos 1947-1972 [79] và Doce cuentos Peregrinos [80] đồng thời dựa vào
các văn bản này để dịch hai tác phẩm Nỗi cay đắng của ba người mộng du và Bên kia cái chết. Truyện
ngắn Chết ở Samarra là một ví dụ trích trong quyển tiểu luận Làm sao để viết truyện ngắn của
Marquez xuất bản năm 1955 ở Bogota.
2.2 Về phương diện nghiên cứu
Trước hết chúng tôi tập trung vào khái niệm yếu tố kỳ ảo và mối liên hệ của nó với chủ nghĩa
hiện thực huyền ảo, đặt vào bối cảnh sáng tác và mô hình quan niệm của Marquez.
Thứ đến, chúng tôi tiến hành tìm hiểu hệ thống các phương diện thể hiện yếu tố kỳ ảo trong
truyện ngắn của G.G.Marquez bao gồm loại hình nhân vật, không gian thời gian nghệ thuật, biểu tượng
và cấu trúc truyện ngắn.
Vì thế, chúng tôi thống nhất tên đề tài là “Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Gabriel Garcia
Marquez.”
3. Lịch sử vấn đề
Trong phần này, chúng tôi khảo sát một số công trình có liên quan đến đề tài theo hai mảng
chính: cái kỳ ảo và truyện ngắn Marquez.
3.1 Về cái kỳ ảo
Đây là thuật ngữ thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Chúng tôi sẽ làm rõ khái
niệm này ở chương 1, trong phần này chúng tôi chỉ đề cập một số ý kiến và quan điểm chính của các
nhà nghiên cứu.
Khái niệm cái kỳ ảo đã được thảo luận nhiều nhưng tập trung nhất là thông qua ý kiến của
Todorov từ những năm 1970 trong công trình Dẫn luận về văn chương kỳ ảo [70]. Theo ông, cái kỳ ảo
là “sự kiện không thể giải thích được bằng những quy luật của chính cái thế giới quen thuộc này”
[70,34]… Người cảm nhận sự kiện phải lựa chọn một trong hai giải pháp: hoặc đây chỉ là ảo ảnh của
giác quan, một sản phẩm của tưởng tượng và những quy luật của thế giới này vẫn vậy; hoặc quả thật
sự kiện đã diễn ra, nó là bộ phận của toàn bộ thực tế, nhưng bây giờ thực tế ấy lại được điều hành bởi
những quy luật mà chúng ta không biết… Cái kỳ ảo chiếm lĩnh thời gian của sự mơ hồ ấy: tới khi chọn
lấy một trong hai giải đáp, ta đã rời bỏ cái kỳ ảo để đi vào một thể loại cận kề, cái lạ hoặc cái thần
tiên. Cái kỳ ảo đó là sự lưỡng lự cảm nhận bởi một con người chỉ biết có các quy luật tự nhiên, đối
diện với một hiện tượng bên ngoài mang tính siêu nhiên.
Có thể khái quát ý kiến về cái kỳ ảo của Todorov như sau:
Thực- ảo Thực Ảo Lưỡng lự
Lạ Kỳ ảo Thần tiên
Todorov xác định sự lưỡng lự của độc giả là điều kiện thứ nhất của cái kỳ ảo, sau đó thứ hai là độc giả
hóa thân và đồng nhất với nhân vật lưỡng lự, cuối cùng là phải tồn tại một lối đọc không theo lối thơ
hoặc ngụ ngôn.
Như vậy, văn học kỳ ảo hay cái kỳ ảo muốn đạt chân giá trị của nó thì phải được duy trì để không thoái
hóa thành chuyện đời thường hay thần thoại, ngụ ngôn. Điều này có nghĩa là cái kỳ ảo nằm trong một
độ căng nhất định mà vị thế của nó không phải là không bấp bênh, nhưng Todorov chấp nhận điều đó.
Vì giải thích sẽ dẫn đến tiêu vong cái kỳ ảo, thế nên Todorov chủ yếu đưa ra các đề tài về tôi, về
mình… Về tôi, hệ đề tài này có nguyên lý ở thế khả năng biến đổi từ tinh thần sang vật chất (đó là biến
hóa, quyết định luận), xóa nhòa chủ thể và đối tượng, tạo nên cái nhìn thống hợp. Về mình, hệ thống
này hiện lên với đề tài tính dục và vì thế nó chủ yếu mang tính chất kỳ lạ xã hội chứ không còn siêu
nhiên nữa: loạn luân, tình yêu hơn một đôi, đồng giới, ân ái với xác chết,…
Có thể thấy ý kiến của Todorov đã hạn định yếu tố kỳ ảo khá hẹp, chủ yếu là trong văn học cận đại,
chính xác hơn là khi ý thức về cái kỳ ảo đã được định hình và người ta buộc phải chấp nhận yêu cầu
khá kiêu kỳ của cái kỳ ảo đặt ra cho sự tồn tại của mình. Bởi lẽ, cái kỳ ảo sẽ mất đi nếu được giải thích,
có nghĩa là trong khi bản thân đòi hỏi một quyết định luận tự thân thì nó lại từ chối một quyết định dù
là khiêm tốn nhất từ phía người đọc. Vì vậy, tuy có đề cập đến phương diện ngữ nghĩa của tác phẩm
nhưng Todorov phải đẩy việc giải thích ý nghĩa theo hướng khác đó là hướng chỉ ra hệ đề tài dù rằng
việc này không thể nào che giấu chúng ta rằng đó cũng là một dạng giải thích, tuy có khác biệt là thay
vì xác quyết một ý nghĩa cho từng trường hợp cụ thể ông quy tất cả thành một cái khung ta- mình để
bao quát hết các ý nghĩa nhân sinh liên quan đến cá nhân và cộng đồng. Thật ra, điều này cũng không
phải là trở ngại lớn trong việc phân tích truyện ngắn Marquez khi ít nhiều vẫn phải chỉ ra những lớp ý
nghĩa văn hóa xã hội, bởi lẽ, thứ nhất, người đọc đã không tách khỏi tính chất kỳ ảo mà vẫn ở trong đó,
nói chung vẫn duy trì nó. Thứ hai, có thể hiểu ý nghĩa đó như một bộ phận trong tổng thể- đó là tổng
thể đa nghĩa nhưng không phải theo kiểu nhiều nghĩa mà nghĩa nào cũng đúng nhưng phải hiểu là một
nghĩa duy nhất đúng nhưng không thể giải thích rốt ráo vì rào cản hạn chế ngôn ngữ cũng như tư duy,
tuy nhiên soi vào lăng kính thì sẽ tạo nên những nét nghĩa gần đúng. Nhờ đó, điều này có thể duy trì
cái kỳ ảo.
Trên tinh thần lý giải cái kỳ ảo theo hướng Todorov, John Gerlach trong bài viết The logic of Wings:
Garcia Marquez, Todorov, and the Endless resources of Fantasy [87, 81-90] thông quan phân tích tác
phẩm Cụ già với đôi cánh khổng lồ của Marquez đã chứng minh rằng: “Cái kỳ ảo không nhất thiết
phải gắn chặt với đề tài mà có thể được tạo ra ở bất kỳ thời kỳ nào, độc lập đối với đề tài.” Ông cho
rằng vì cái kỳ ảo được tạo ra từ sự lưỡng lự của người đọc và nhiệm vụ của người đọc là phản tư không
phải bản thân cái kỳ ảo mà là chu trình của nó, nhờ đó cái kỳ ảo không bao giờ kết thúc, nó đã, đang và
sẽ là một tiến trình nên sẽ không bị quy áp vào bất kỳ một khuôn mẫu nào.
Cùng một đề tài và đối tượng, Vera M. Kutzinsky trong bài viết The logic of the Wings: Gabriel
Garcia Marquez and Afro-American literature [87, 169-182] thông qua việc chứng minh mối liên hệ
của sáng tác Marquez với những yếu tố thuộc nền văn hóa châu Phi đã lý giải thái độ giải thiêng đối
với cái kỳ ảo hiện đại. Đó là quá trình thoái hóa của yếu tố thiêng mà người hiện đại thể hiện trong việc
tri nhận thế giới và tiếp nhận văn chương.
Ngoài ra các công trình khác như: Luận văn thạc sĩ Borderlands of Magical Realism: Defining
Magical Realism found in popular and children’s literature của Ashley Carol Wills tại đại học bang
Texas -San Marcos vào tháng 12 năm 2006; bài viết của Christopher Warnes: Naturalizing the
Supernatural: Faith, Irreverence and Magical Realism [108] hướng đến phân biệt vấn đề niềm tin và
sự bất kính trong quá trình hành chức của văn bản đã phần nào lý giải cái kỳ ảo như bộ phận trọng tâm
của khuynh hướng trộn lẫn những yếu tố kỳ ảo với đời thường trong sáng tác văn học; bài viết El
realismo mágico. Conceptos, rasgos, principios y métodos [77] của María Achitenei trình bày phương
pháp, nguyên tắc, đặc điểm và khái niệm chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, bài viết From Realism to
Magic Realism: the Meticulous modernist fictions of Garcia Marquez [87,227-242] của Morton P.
Levitt trình bày tính sáng tạo của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo trong sáng tác của Marquez; Prisms of
Consciousness: The “New Worlds” of Colombus and Garcia Marquez [87,243-256] của Micheal
Palencia- Roth bàn về lăng kính tri nhận về tân thế giới của Colombus và Marquez; chuyên luận Image
and symbols: Studies in Religious symbolism,… cũng đã bước đầu góp phần cung cấp một bức tranh
khái quát về cái kỳ ảo trong văn chương.
Về phía các công trình trong nước, Lê Nguyên Cẩn với Cái kỳ ảo trong tác phẩm của Balzac [13]
đã vạch ra những điểm khái quát nhất về cái kỳ ảo. Về bản chất, ông dùng thuật ngữ Le fantastique từ
tiếng Pháp để minh định thuật ngữ cái kỳ ảo: “Như vậy, cái kỳ ảo là một phạm trù tư duy nghệ thuật,
nó được tạo ra nhờ trí tưởng tượng và được biểu hiện bằng các yếu tố siêu nhiên, khác lạ, phi thường,
độc đáo… Nó có mặt trong văn học dân gian, văn học viết qua các thời đại. Nó tồn tại trên trục thực-
ảo, và tồn tại độc lập, không hòa tan vào các dạng thức khác của trí tưởng tượng” (tr.16). Ông xem
cái kỳ ảo như một yếu tố nghệ thuật xuất phát từ trí tưởng tượng. Nó như một vết đứt gãy, đảo lộn
trong trần thuật đưa người đọc sang một thế giới khác. Lê Nguyên Cẩn đã đưa ra 11 đề tài kỳ ảo của
Roger Caillois, sau đó là 23 đề tài kỳ ảo của M.Schneider, chủ yếu tập trung vào các motif và nhân vật;
đồng thời ba nhóm đề tài kỳ ảo của Dan Pavel Sergiu cũng được ông trình bày khá kỹ lưỡng.
Có thể nhận thấy, tác giả Lê Nguyên Cẩn chấp nhận cái kỳ ảo tồn tại từ xa xưa trong bất cứ nền văn
học dân tộc nào dưới những hình thức được phân theo cấp độ: thần linh, quái dị, ma quỷ, khác lạ, phi
thường, siêu nhiên. Những cấp độ này tùy thuộc vào ý đồ sáng tạo ra sự đa dạng về mặt hình thức đề
tài [Sđd,29]. Yếu tố niềm tin cũng được ông nhắc đến khi thẩm định cái kỳ ảo (điều này đã được
Todorov giải quyết khá rõ). Như vậy, căn cứ trên ý đồ tác giả, Lê Nguyên Cẩn đã không giải thích rõ
sự khác biệt về tính chất của cái kỳ ảo trong diễn trình của nó. Ví dụ như độ lệch của vết đứt gãy này
thuần túy là trí tưởng tượng hay có thể ghi nhận sự tham gia của yếu tố niềm tin, đặc biệt trong các nền
văn học cổ xưa; hay vết đứt gãy này là vi phạm với tư duy sáng tác hiện đại vì nó phá vỡ các quy luật
còn chặt chẽ và bất biến. Vậy vai trò của nó với tư duy cổ đại là phá vỡ hay chính là tác thành quy
luật?... Vì thế, tác giả có khuynh hướng khái quát hóa và đặt trọng tâm ở các đề tài. Rõ ràng, về lý
thuyết, Lê Nguyên Cẩn tạo một độ rộng cho khái niệm cái kỳ ảo và khẳng định nó như sự tưởng tượng
có ý thức sáng tạo nghệ thuật là khá táo bạo, đặc biệt khi chúng ta đem áp dụng cho các tác phẩm thần
thoại cổ xưa, hay Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh. Tuy nhiên, khi ứng dụng, tác giả chủ yếu vận
dụng khái niệm cái kỳ ảo như một thành tố nghệ thuật xuất hiện khi được ý thức đầy đủ, điều này hiển
nhiên do quy định của đề tài, đối tượng hướng đến là cái kỳ ảo của Balzac. Cái kỳ ảo này chủ yếu ở
phương diện hình thức, mục tiêu của nó không gì khác hơn là khái quát hiện thực, mà nhiều khi bản
thân cái kỳ ảo nếu bị tách rời thì cốt truyện vẫn không có gì thay đổi (những chuyện lạ xảy ra trong
Tấm da lừa đều có cơ sở thực tế của nó), bởi nó là hình ảnh tập trung thể hiện một đối tượng xuyên
suốt trong Tấn trò đời- đó là dục vọng, cái kỳ ảo là một lớp áo khác khái quát mọi dạng thức dục vọng
nhân sinh, cái kỳ ảo này có lẽ đi trên con đường của biểu tượng.
Lê Huy Bắc trong công trình Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel Garcia Marquez [8] đã
tổng kết và trình bày các vấn đề về cái kỳ ảo- đúng hơn là cái huyễn ảo. Lê Huy Bắc xác định văn học
kỳ ảo chỉ mới xuất hiện cùng thời hoặc phát triển xa hơn văn học lãng mạn và về bản chất thì những
truyện thần thoại mang tính chất kỳ ảo khác với cái được gọi là văn học kỳ ảo sau này. Theo đó, ông
dùng thuật ngữ văn học huyễn ảo để bao quát các dạng thức văn học thần ma, gô tích, kinh dị, ma quỷ,
phi thường, siêu nhiên, kỳ ảo và huyền thoại. Văn học huyễn ảo xuất hiện từ khi con người biết sáng
tác văn chương tuy nhiên nó là một trào lưu chứ không thể là một thể loại theo đúng cấu trúc sau
[8,15]:
Văn học
Văn học Văn học hư cấu không hư cấu
Loại hình Tự sự Kịch Trữ tình (kind)
Thể loại Tiểu thuyết Truyện ngắn (genre)
Sau đó, Lê Huy Bắc trình bày các giai đoạn của văn học huyễn ảo như sau:
Thái độ Quan niệm về TT Thời gian Đặc điểm Tên gọi Tác giả về cái cái huyễn ảo huyễn ảo
Cái
Cổ đại- huyễn Thần Ma quỷ, siêu
1 Khuyết danh Không sợ thế kỷ tưởng thoại, nhiên, thần
(the XIII cổ tích bí,… là ta
mythical)
Thế kỷ Cái kỳ ảo Văn Shakespeare, Ma quỷ, siêu Sợ hãi 2 XIV- (the học kỳ Hoffmann, nhiên, thần
XIX fantastic) ảo Poe, Balzac bí,… không
phải là ta
Ma quỷ, siêu Cái Văn Kafka, nhiên, thần Vừa sợ Thế kỷ huyền ảo học 3 Borges, bí,… vừa là ta vừa XX- nay (the huyền vừa không Marquez không sợ magical) ảo phải là ta
Có thể thấy hệ thống của nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc khá rõ ràng và mạch lạc, khái niệm huyễn ảo đã
bao quát được các dạng thức mà những nhà nghiên cứu trước đây ít nhiều đề cập đến ở nhiều chừng
mực, mức độ. Việc xác định khung thời gian, đặc điểm và quan niệm là một hướng đi hợp lý nhằm
minh định khái niệm trong lĩnh vực khá mơ hồ là nghiên cứu văn chương huyền ảo (hay huyễn ảo). Vì
những điều này, chúng tôi cơ bản thống nhất với ý kiến của nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc và khái niệm
chúng tôi triển khai về sau cũng dựa trên khung quy định đã được ông thể hiện. Tuy nhiên, chúng tôi
vẫn giữ lại thuật ngữ cái “kỳ ảo” thay vì cái “huyễn ảo” dù nội hàm và ngoại diên của chúng, trong
luận văn này, là tương đương.
Như vậy, thông qua các công trình này, chúng tôi nhận được những hệ thống luận điểm và hướng
dẫn quý giá về cái kỳ ảo; từ đó chúng tôi cố gắng vận dụng vào luận văn với ý thức hạn định lại cách
hiểu của mình trong những chiều hướng tương đồng cũng như có phần dị biệt với những khái niệm đã
được đề cập ở trên, cần thiết phải bàn luận kỹ hơn về khái niệm này và chúng tôi sẽ dành công việc đó
cho chương 1.
3.2 Về truyện ngắn của Gabriel Garcia Marquez
So sánh với tiểu thuyết, có thể thấy truyện ngắn của Marquez ít được chú ý hơn từ phía các nhà
nghiên cứu. Thông qua khảo sát, chúng tôi chia mối quan tâm đến truyện ngắn của Marquez từ các
công trình, bài viết thành hai mảng là nội dung và nghệ thuật với ý thức là sự phân chia này chỉ mang
tính phương tiện.
Thứ nhất, về mảng nội dung, chúng tôi lưu ý đến công trình của Frances M. Reece Nickeson.
Trong luận văn El budismo y el cuento hispanoamericano tại đại học trung tâm bang Connecticut New
Britain tháng Giêng năm 2007 [83], tác giả đã phân tích các tác phẩm nổi bật nhất của Marquez theo
Phật học, chỉ ra kỹ thuật mảnh vỡ, phát triển tuyến tính được ví với trạng thái Thiền, buông bỏ mọi
vướng mắc để hướng đến tự do. Ông khẳng định: “Có lý do chính đáng để dùng yếu tố kỳ ảo khi thể
hiện cuộc đời và kinh nghiệm về cuộc đời đó, nơi mà con người cảm nhận hai thái cực, cô đơn trong
tiến trình của Châu Âu, cô độc trong cuộc sống thuần túy, những vị thần cô đơn của điều thiện, của
khả thể và bất khả”. Sau khi trình bày Trăm năm cô đơn từ khía cạnh từ bi, san sẻ để vượt qua nỗi cô
đơn bởi lẽ con người chú trọng đến bản thân mình thì nỗi cô đơn và chịu đựng càng nặng nề nên phải
vượt qua cái tôi, cái ngã- hướng đến vô ngã, tác giả trình bày 05 truyện ngắn riêng lẻ và tập Mười hai
truyện ngắn phiêu dạt của Marquez với những luận điểm chính như sau: Buổi chiều kỳ diệu của
Balthazar ca ngợi thái độ buông xả, phi vật chất của con người; Bà quả phụ Montiel đề cập đến cái
chết của ông Montiel, người đã làm giàu trong thời kỳ biến loạn, người ta sợ ông nhưng khi chết thì
chẳng đem theo được gì và rút ra con người là cát bụi; Ông lão có đôi cánh khổng lồ đề cập đến cái
nhìn mang tính vật chất trần gian của con người. Hai vợ chồng này tích lũy cho đầy nhà tiền bạc và nhẹ
người khi ông lão bay đi- họ không nhận ra giá trị của ông lão- đó là người hướng dẫn tâm linh, ông
như hành giả, đến và ra đi trong cuộc đời; Chuyến đi cuối cùng của con tàu ma nói về người thanh niên
trong cuộc chinh phục con tàu ma. Đó là lòng nhân ái hướng đến tất cả chúng sinh. Hành động dẫn con
tàu về làng của anh như một nhà triết học, người khai sáng, như một Bồ Tát thắp lên ánh sáng xóa tan
Vô minh cho cả làng; Giấc ngủ trưa ngày thứ ba đề cập lòng từ bi đối với tha nhân; và Mười hai
truyện ngắn phiêu dạt thể hiện mối quan hệ cái thực và ảo trong thế bất nhị, đó là “Những câu chuyện
lướt đi giữa cuộc sống đời thường và kỳ ảo, những điều lạ lùng và những điều huyền ảo, nó như trục
đường đi giữa thực và ảo nhưng không ngã về bên này hay bên kia, đó chính là trạng thái thiền”. Có
thể nói công trình này tiếp cận truyện ngắn Marquez theo một hướng nhìn mới khá lý thú. Trong khi
thực tế cũng như lý luận đều quan tâm đến ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo đối với Mỹ Latin thì tác giả
lại dùng Phật học. Thông qua đó, chúng tôi nhận thấy một thông lộ mới và mạnh dạn mở rộng những
so sánh liên tưởng đến yếu tố kỳ ảo cũng như truyện ngắn của Marquez trong hoàn cảnh tiếp xúc đa
phương, đa diện của chủ nghĩa hậu hiện đại.
Bên cạnh đó, nhiều bài viết trong tập Modern critical views- Gabriel Garcia Marquez của Harold
Blom đã chạm đến những vấn đề sâu sắc của truyện ngắn Marquez. Các tác giả Lois Parkinson
Zamora, John Gerlach, Vera M.Kutzinsky, Isabel Alvarez-Borland, Carlos J.Alonso… đã thông qua
phân tích các truyện ngắn cụ thể như Cụ già với đôi cánh khổng lồ, Không ai viết thư cho ngài đại tá,
Đám tang của bà mẹ vĩ đại,… chỉ ra nhiều vấn đề về nhân sinh quan, về thực tế chính trị, về những dấu
ấn của William Faukner trong sáng tác của Marquez.
Ruben Pelayo trong Critical Companion to popular contemporary writers- Gabriel García Marquéz
[105] đã dành phần 5 nói về truyện ngắn Marquez. Ông khảo sát 05 truyện ngắn gồm: Ông lão có đôi
cánh khổng lồ, Đám tang của bà mẹ vĩ đại, Buổi chiều kỳ diệu của Balthazar, Giấc ngủ trưa ngày thứ
ba, Độc thoại của Isabel ngắm mưa ở Macondo. Tác giả đã chỉ ra Ông lão có đôi cánh khổng lồ sáng
tác năm 1968, sau Trăm năm cô đơn, đã có sự chuyển tiếp khác biệt, hướng vào vấn đề mới hơn so với
hai tập truyện in trước đó là Đôi mắt chó xanh và Đám tang của bà mẹ vĩ đại, tiếp cận với tập truyện
Chuyện buồn không thể tin được của Erendira và người bà bất lương. Đó là khuynh hướng về khai
thác và bóc lột cá nhân, đồng thời hình tượng biển bất tận bắt đầu xuất hiện.
Elodie Morin trong Alteridad y muerte en Ojos de perro azul đã bàn đến sự thay thế tiếp nối- tức các
giấc mơ và cái chết trong tập Đôi mắt chó xanh của Marquez. Tác giả nhấn mạnh sự cô đơn về thể chất
lẫn tinh thần của con người trong nỗ lực xác định bản thể và nỗi sợ hãi khi quá trình phản tư lại tách
bản thân làm hai nửa không thể nào thống hợp, đến được với nhau…
Về nghệ thuật truyện ngắn Marquez, chúng tôi lưu ý đến tác phẩm của Maythawee Holasut.
Trong bài viết The Suspension of Time in Short Stories of Gabriel Garcia Marquez [103] tác giả đã
trình bày kỹ thuật ngưng đọng thời gian, mối quan hệ của nó đối với chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và
phong cách Marquez. Nhờ thủ pháp này mà truyện ngắn Marquez đã cung cấp được một cái nhìn sâu
vào những thay đổi chính trị, lịch sử của khu vực Mỹ Latin thông qua sự kết hợp giữa biến cố hiện
thực và bối cảnh kỳ ảo, tạo ra một cảm quan kỳ ảo kết nối tâm hồn khu vực này với những niềm tin
vào các thế lực siêu nhiên. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo thông qua truyện ngắn Marquez đã thể hiện
sức mạnh của mình trong quá trình phản ánh các sự kiện hiện thực như thuộc địa hóa, độc tài quân sự
cũng như ảnh hưởng của chúng đến lịch sử các đất nước và khu vực. Nghệ thuật đình chỉ thời gian có
thể tạo ra một kiểu thời gian quy hồi,…
Có thể nhận thấy những vấn đề nghệ thuật truyện ngắn Marquez thường ít khi được tách riêng mà được
trình bày gắn kết vào các vấn đề nội dung trong các công trình nêu trên. Ví dụ như John Gerlach đã đề
cập đến thủ pháp so sánh, cách đặt tựa đề và cơ cấu đoạn kết trong truyện ngắn Cụ già với đôi cánh
khổng lồ nhằm làm rõ tính chất kỳ ảo của đôi cánh; hay Vera M.Kutzinski đã phân tích hình tượng ông
lão biết bay để chỉ ra sự nối kết về văn hóa trong truyện ngắn vừa nêu của Marquez,…
Tại Việt Nam, số lượng các công trình, bài viết về Marquez nói chung và truyện ngắn Marquez
nói riêng, trong giới hạn tập trung của chúng tôi, chưa thực sự phong phú. Điều này có lẽ là kết quả của
thực tế Marquez vẫn chưa phải là tác giả được giảng dạy trong chương trình đại học, cao đẳng lẫn phổ
thông.
Trong tình hình đó, chúng tôi chú ý đến những bài viết của dịch giả, nhà nghiên cứu Nguyễn Trung
Đức về các vấn đề liên quan đến nội dung truyện ngắn Marquez. Nguyễn Trung Đức là người có nhiều
đóng góp cho quá trình đưa Marquez đến với người đọc Việt Nam. Ngoài hệ thống tác phẩm của
Marquez, ông còn viết những bài phê bình và giới thiệu về tiểu sử tác giả, chủ nghĩa hiện thực huyền
ảo và về truyện ngắn Marquez. Về truyện ngắn, bài giới thiệu viết trong tập Ngài đại tá chờ thư do
NXB Văn học in năm 1983 có thể xem là viên đá góc tường dẫn dắt và định hướng cho nhiều công
trình nghiên cứu, trong đó có luận văn này. Ông đã nêu lên cảm quan về “ngày khải huyền của xã hội
tư bản phụ thuộc Mỹ Latin, một xã hội chậm phát triển và trì trệ, một xã hội đang sụp đổ và chính
trong quá trình sụp đổ này, xã hội mới và kiểu người thích hợp với nó đang ra đời” [49,5]. Đồng thời
ông cũng chia truyện ngắn Marquez làm hai nhóm: nhóm truyện ngắn hiện thực nghiêm ngặt và nhóm
truyện ngắn hiện thực huyền ảo với các đặc điểm như chứa các hiện tượng thuộc đời sống ý thức ở
trình độ trực quan, tiền logic; kết hợp cảm quan của người nghệ sĩ và sức tưởng tượng của người đọc,
kết hợp các loại không gian thời gian thực và tâm lý… Bài viết Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của
G.Máckét qua Chuyện buồn không thể tin được của Êrênhđira ngây thơ và người bà bất lương [22]
của ông đã vạch ra những nét khái quát nhất của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và vận dụng vào phân
tích truyện ngắn Chuyện buồn không thể tin được của Erendira ngây thơ và người bà bất lương, qua
đó làm rõ sự áp bức của dạng người thú đối với những con người công cụ như Erendira đáng
thương,…
Với các công trình trong nước bàn về nghệ thuật truyện ngắn Marquez, bài viết của Lê Huy Bắc
Tự sự nhiều điểm nhìn trong “Cụ già với đôi cánh khổng lồ” [8, 135-153] đã nêu lên được một điểm
quan trọng về xây dựng cấu trúc truyện ngắn- điểm nhìn. Thông qua đó tác giả đã chỉ ra hai lớp điểm
nhìn: điểm nhìn trực tiếp bao gồm các loại: tôn giáo, nhà buôn, nghệ sĩ, võ biền, bè bạn, khoa học và
điểm nhìn gián tiếp gồm dạng độc tài, quan liêu và bạo lực; từ đó khái quát ý nghĩa những góc nhìn
đến quá trình tri nhận tác phẩm và cuộc đời.
Bên cạnh đó, bài viết Quan niệm về nghệ thuật kể chuyện của Gabriel Garcia Marquez qua các truyện
ngắn của Võ Thành Thắng [67] cũng đã nêu lên được nhiều vấn đề thú vị trong truyện ngắn của
Marquez như cách kể chuyện bằng các tính từ và thủ pháp lạ hóa, cách nhìn trong sáng của một đứa trẻ
thể hiện qua những so sánh nhất, khẳng định phủ định tuyệt đối, phép so sánh nhân hóa,…
Tóm lại, vấn đề yếu tố kỳ ảo và truyện ngắn Marquez bước đầu đã được chú ý. Các công trình và
bài viết đã trình bày nhiều mảng khác nhau của vấn đề, có ở đó những khơi gợi nhưng cũng không ít
những mâu thuẫn, tồn tại song song những cơ hội và thách thức. Ý thức được điều đó, chúng tôi tiếp
thu những ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước với tất cả sự cầu thị để thực hiện đề tài này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng ba phương pháp văn hóa- lịch sử, phân tích cấu
trúc và so sánh- đối chiếu.
Ý thức được những tác nhân văn hóa và lịch sử đối với sáng tác của một nhà văn, đồng thời quá
trình tìm hiểu tác phẩm nếu khơi ngược lại đúng nguồn mạch này sẽ thu được một kết quả khả quan.
Vì thế, chúng tôi vận dụng phương pháp văn hóa- lịch sử và đây là phương pháp chính chúng tôi đặc
biệt quan tâm. Trường hợp Marquez, chúng tôi lưu ý đến lịch sử châu lục và Colombia từ đó vận dụng
chủ nghĩa lịch sử mới vào luận văn. Chủ nghĩa lịch sử mới giúp chúng tôi đẩy vấn đề theo hai hướng:
xem xét cái tôi chủ thể đồng thời gắn được những yếu tố văn hóa năng động vào nghiên cứu văn học.
Trong giới hạn luận văn, chúng tôi vận dụng lịch sử chính trị của Mỹ Latin vào việc xác lập không
gian nghệ thuật trong truyện ngắn kỳ ảo của Marquez, vận dụng triết học Mỹ Latin vào lý giải những
hình tượng nhân vật của tác giả và các mảng văn hóa là để lý giải hệ thống biểu tượng của nhà văn. Tất
nhiên những vận dụng này hòa quyện vào nhau nhằm khái quát những nét cơ bản nhất cũng như xuyên
suốt những vấn đề trọng tâm mà chúng tôi hướng đến.
Đồng thời, chúng tôi còn vận dụng phương pháp phân tích cấu trúc. Phương pháp này giúp tìm ra
hướng liên kết các thành phần của truyện ngắn trong mối quan hệ với yếu tố kỳ ảo. Đằng sau những
hình tượng, biểu tượng và cấu trúc, dường như có một mô hình chung từ phía tác giả chi phối, tạo nên
một đường dây ngầm trong truyện ngắn nói riêng và các sáng tác nói chung. Mô hình này chi phối mặt
hình thức văn bản nhưng bản thân nó phải mang tính tư tưởng. Điểm này sẽ được chúng tôi làm rõ ở
chương 2. Vấn đề ở đây là phương pháp cấu trúc có thể giúp chúng tôi khảo sát và thao tác, lý giải
bằng mô hình quan niệm về con người và thế giới.
Cũng bằng phương pháp cấu trúc, chúng tôi tiến hành tìm hiểu cấu trúc truyện ngắn của Marquez trong
mối quan hệ với yếu tố kỳ ảo ở chương 4. Trong phần này, chúng tôi phân rã truyện ngắn ra thành một
mệnh đề, một tình thế rồi từ đó phát triển lên thành các truyện ngắn có cấu trúc phức đa mệnh đề hoặc
xếp chồng, mở rộng nhiều tình thế. Song song đó, truyện ngắn Marquez được khảo sát ở khâu đầu tiên
và cuối cùng trong tương quan với cái kỳ ảo.
Sau hết, phương pháp so sánh - đối chiếu cũng được vận dụng trong luận văn. Theo đó, cái kỳ ảo
được chúng tôi so sánh qua ba giai đoạn nhằm làm rõ điểm tương đồng và khác biệt của dạng thứ ba-
cái kỳ ảo hiện đại- đối với các dạng khác. Theo chúng tôi, cái kỳ ảo hiện đại là khái niệm trong tâm sẽ
được dùng để triển khai toàn luận văn. Chúng tôi còn vận dụng phương pháp này để so sánh các loại
hình nhân vật, ba loại không gian để vừa chỉ ra đặc trưng khu biệt đồng thời cố gắng tìm ra hướng vận
động của các đối tượng này. Phương pháp so sánh sẽ được vận dụng cả trong việc đối chiếu các dạng
của biểu tượng trong chương 3 cũng như so sánh các nhóm tác phẩm để chỉ ra các dạng cấu trúc như
cấu trúc đơn và phức, cấu trúc tam đoạn luận,…
5. Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn
Triển khai luận văn này với đề tài “Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Gabriel Garcia Marquez”,
chúng tôi hướng đến các mục đích như sau:
Thứ nhất, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng lịch sử văn học Mỹ Latin bắt nguồn từ những sáng tác
truyền miệng, dân gian của người bản địa mà nổi bật nhất là của người Inca, Maya, Aztec. Bởi lẽ nhiều
công trình nghiên cứu đều khẳng định rằng lịch sử và văn học Mỹ Latin bắt đầu từ khi người châu Âu
xuất hiện vào thế kỷ XV: “The history of Latin America begins with its accidental discovery by
Columbus in 1492, and continues with the subsequent colonies, revolutions, and forming of nations of
the Twentieth Century. This history forms the foundation of the Latin American literary tradition, as
well as Garc’a Márquez’ works” [87]. Tại Việt Nam, công trình có tính nền tảng về văn học Mỹ Latin
của Viện thông tin Khoa học Xã hội tuy có ý thức: nó cũng bao gồm cả sự thể hiện văn học của các
nền văn minh người da đỏ đã phát triển cao bị chinh phục bởi người Tây Ban Nha [40,40] nhưng lại
bắt đầu lịch sử văn học Mỹ Latin bằng thời kỳ thuộc địa với những sáng tác của các nhà thám hiểm
phương Tây. Vì thế, trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi muốn nhắc đến những sáng tác của người
Inca, Maya khi liên hệ vào yếu tố kỳ ảo ở chương 1 cũng như dấu ấn anh hùng lưỡng tính ở rải rác các
chương 2 và 3 với hy vọng khôi phục một bộ phận bị lãng quên của văn học Mỹ Latin.
Thứ hai, hướng đến một cách hiểu về yếu tố kỳ ảo và vận dụng vào chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
cũng là mục tiêu của chúng tôi. Hiện nay thuật ngữ cái kỳ ảo được hiểu trên nhiều cấp độ rộng hẹp
khác nhau như chúng tôi đã trình bày trong phần lịch sử vấn đề. Đồng thời yêu cầu lý giải chủ nghĩa
hiện thực huyền ảo cũng được đặt ra cấp thiết. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo vốn là một thuật ngữ hội
họa được chuyển sang dùng cho văn học châu Âu, sau đó lại trở thành đặc trưng của văn học Mỹ Latin,
vậy bản chất của vấn đề này ra sao? Liệu chủ nghĩa hiện thực huyền ảo có thể vận dụng cho văn học
các nước châu Âu hay chỉ là của riêng Mỹ Latin. Thông qua lý giải yếu tố kỳ ảo, chúng tôi hy vọng
cũng có thể tìm ra một hướng nhìn thông suốt để lý giải vấn đề này ở chương 1 nhằm làm cơ sở lý luận
để tiến hành tìm hiểu yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Marquez.
Thứ ba, trên cơ sở khảo sát những thành phần như hình tượng nhân vật, không gian, thời gian và
biểu tượng gắn với yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn của Marquez, chúng tôi hy vọng có thể tìm ra đường
dây liên kết các bộ phận này đặt trong tổng thể một cấu trúc truyện ngắn tương quan với yếu tố kỳ ảo.
Bởi tương ứng với mô hình quan niệm về con người và thế giới thì tất yếu sẽ có một cấu trúc hình thức
tương ứng. Tuy nhiên, vấn đề này còn ở phía trước và sẽ được tiến hành ở chương 4.
Ba mục đích trên, nếu viên thành, có thể xem như đóng góp của luận văn.
6. Cấu trúc của luận văn
Luận văn này được chia làm ba phần: mở đầu, bốn chương nội dung chính và kết luận.
Trong phần Mở đầu, chúng tôi giới thiệu những vấn đề mang tính dẫn nhập như lý do chọn đề tài,
đối tượng và phạm vi nghiên cứu, lịch sử vấn đề, phương pháp nghiên cứu, mục đích nghiên cứu của
luận văn, và cuối cùng là cấu trúc của luận văn. Đối với chúng tôi, lịch sử vấn đề và phương pháp
nghiên cứu có tầm quan trọng đặc biệt. Vì thế, trong mục lịch sử vấn đề, chúng tôi đã cố gắng bao
quát, trong một chừng mực có thể, các tư liệu liên quan ở trong và ngoài nước; đồng thời, tổng thuật có
phân tích một số điểm quan trọng nhằm bước đầu khơi gợi và chuẩn bị cho việc triển khai ý kiến của
chúng tôi trong các chương nội dung chính. Đối với phương pháp nghiên cứu, chúng tôi đã lý giải lý
do vận dụng ba phương pháp nghiên cứu chính trong luận văn: phương pháp lịch sử-văn hóa, phương
pháp phân tích cấu trúc và phương pháp so sánh đối chiếu.
Phần nội dung chính gồm bốn chương: Yếu tố kỳ ảo – những vấn đề khái quát (chương một), Yếu
tố kỳ ảo và hệ thống hình tương trong truyện ngắn G. G. Marquez (chương hai), Yếu tố kỳ ảo và biểu
tượng trong truyện ngắn G. G. Marquez (chương ba), và Yếu tố kỳ ảo và vấn đề cấu trúc truyện ngắn
G. G. Marquez (chương bốn). Như vậy, trên cở sở những vấn đề chung của chương một, luận văn đã
triển khai những phương diện khác nhau của truyện ngắn của G. G. Marquez liên quan đến yếu tố kỳ
ảo.
Đối với những vấn đề khái quát, luận văn, thông qua việc xác định nội hàm và đặt yếu tố kỳ ảo vào
diễn trình văn học, đã luận giải hai khái niệm cốt yếu: yếu tố kỳ ảo và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.
Đồng thời, chúng tôi xác định yếu tố kỳ ảo như một phạm trù trung tâm trong chủ nghĩa hiện thực
huyền ảo; từ đó, xác định khái niệm, tính chất của trào lưu văn học này và lưu ý đến tác giả nổi bật là
Gabriel Garcia Marquez với yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn của ông.
Trong Chương 2, luận văn khảo sát hệ thống hình tượng trong truyện ngắn G. G. Marquez theo hướng
xác định các dạng nhân vật, không gian và thời gian. Đây là những thành phần nổi bật nhất, có vai trò
định hướng và luận giải hệ thống truyện ngắn của Marquez .
Về biểu tượng trong truyện ngắn G. G. Marquez (Chương 3), luận văn chú ý đến khái niệm, tính chất
của biểu tượng và con đường vận hành của yếu tố kỳ ảo trở thành một biểu tượng. Từ đó, chúng tôi
tiến hành khảo sát ba nhóm biểu tượng có mối liên hệ với yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Marquez
nhằm lý giải đặc điểm của bản thân hệ thống biểu tượng cũng như truyện ngắn hàm chứa các biểu
tượng này, nghĩa là, chúng tôi nhìn yếu tố kỳ ảo và truyện ngắn theo hướng liên tưởng của các biểu
tượng.
Chương 4 tập trung vào vấn đề cấu trúc truyện ngắn G.G.Marquez là chương cuối cùng. Luận văn cố
gắng xác định đặc điểm cấu trúc truyện ngắn kỳ ảo của Marquez trên diện cơ cấu với các khâu mở đầu,
kết thúc của nó cũng như sự liên kết theo hướng cấu trúc trên các cấp độ khác nhau. Như vậy, chương
này khảo sát truyện ngắn Marquez và yếu tố kỳ ảo trong tổng thể nhằm xác định những thành phần ổn
định tạo nghĩa trong văn bản cũng như thể hiện mô hình quan niệm của nhà văn trong sáng tạo văn
chương.
Phần Kết luận đề cập đến những kết quả của luận văn, kiến nghị cũng như đề xuất hướng nghiên
cứu.
Ngoài ra, luận văn còn những mục khác như: Tài liệu tham khảo và Phụ lục. Trong mục Phụ lục,
chúng tôi cung cấp thêm những dữ liệu liên quan đến đề tài, gồm bốn phần. Phần đầu giới thiệu những
tác phẩm của Marquez - những sáng tác của ông được chọn trong hợp tuyển cũng như những tác phẩm
đã dịch sang tiếng Việt; phần hai tóm tắt 23 truyện ngắn được khảo sát trong khuôn khổ luận văn, phần
ba là bản dịch ba truyện ngắn kỳ ảo của Marquez do chúng tôi dịch từ tiếng Tây Ban Nha được dùng
làm tài liệu khảo sát và phần bốn là một số bảng thống kê phục vụ quá trình tra cứu, luận chứng.
Chương 1-
YẾU TỐ KỲ ẢO- NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT
1.1 Văn học và yếu tố kỳ ảo
Yếu tố kỳ ảo là một bộ phận của nền văn học nhân loại. Từ ngàn xưa, khi con người gắn bó, hòa
mình vào tự nhiên và nhận thức bản thể, những mầm mống của yếu tố kỳ ảo đã ở đó và đón chờ họ
trong mối tương tác đầy trực giác. Chính trong cuộc hội ngộ này, văn học được thúc đẩy bởi những sức
mạnh vừa xa vừa gần, vừa rõ ràng vừa mơ hồ như thần khải, đã mải miết chảy và trở thành một trong
những dòng chủ lưu đánh dấu chặng đường phát triển của con người. Từ những sáng tác ban đầu thể
hiện niềm tin ngây thơ về bản chất thiêng liêng của vũ trụ, cái sợ hãi của con người trước các vị
thần,… qua những sùng tín trên con đường hành hương về miền đất thánh mà thượng đế hứa ban,
những ngại ngần của người dương gian trước yêu ma, hồ ly,... dần dần con người bắt đầu ý thức một
cách đầy đủ hơn về cái kỳ ảo trong văn học. Đến khi các Thượng đế chết đi trong những chiếc ghế
bành của ngài (chữ của Nietszche) thì con người phải đứng ra chịu trách nhiệm về bản thân mình và
cái kỳ ảo đã trở thành công cụ quyền năng mà con người thể hiện trong văn học. Cuộc sống và văn học
đồng hành, cùng chia sẻ những vấn đề và đặt ra các giới hạn cho con người. Giữa cái khả giải và bất
khả giải luôn tồn tại những giới hạn mà con người phải cố gắng bước qua, khi chưa thể làm điều đó thì
cái kỳ ảo trong văn học trở thành một giải pháp và điểm tựa cho con người, có khi như một niềm tin,
có lúc như một thủ pháp. Rõ ràng cái kỳ ảo là sản phẩm của trí tưởng tượng và nó đã gặp được bạn
đồng hành của mình là văn học- một hình thái ý thức xã hội bằng tư duy nghệ thuật, hạt giống lớn lên
từ mảnh đất phì nhiêu của trí tưởng tượng phong phú. Vì thế, yếu tố kỳ ảo đã, đang và sẽ tồn tại trong
văn học như một bộ phận không thể tách rời.
Vai trò của yếu tố kỳ ảo trong nền văn học ngày càng trở nên quan trọng. Theo thời gian yếu tố
kỳ ảo đã có những biến đổi nhất định để thích nghi với văn học. Nói đúng hơn, người nghệ sĩ đã vận
dụng yếu tố kỳ ảo theo những cách khác nhau nhằm đạt những mục đích của mình. Khi bơ vơ trước tự
nhiên, con người đã đồng nhất bản thể vào thiên nhiên và hình thức hóa các vị thần dưới sức mạnh của
cái kỳ ảo. Ngay cả đến khi con người đề cao tuyệt đối lý trí thì cái kỳ ảo không mất đi mà vẫn âm thầm
cảnh tỉnh, nhắc nhở nhân loại về những vấn đề hệ trọng của thế giới quan và nhân sinh quan; vẫn soi
sáng con đường qua hỏa ngục, luyện ngục và thiên đàng của Dante; vẫn như một hồn ma day dứt về tội
ác của Shakespeare,… Cái kỳ ảo càng trở nên quan trọng hơn trong văn học cận đại, hiện đại và hậu
hiện đại, khi những chuẩn mực giá trị đặt trên viên đá tảng lý trí dần lung lay, con người hoang mang
trước những tan vỡ thì càng khao khát bám lấy một bến bờ kỳ ảo đã quen thuộc tự xa xưa. Trên đồng
dollar của đất nước hiện đại nhất thế giới người ta trang trọng in dòng chữ In God we trust, con người
ngày nay đang dần sống lại những cổ tích, người ta dạy cho trẻ em tin vào những chuyện thần tiên,
người lớn cố gắng tìm ra ước mơ trong hình bóng Santa Claus, cả thế giới hồi hộp theo bước chân của
cậu phù thủy Harry Potter… Chính trong cuộc sống bộn bề của hiện tại, người ta càng cần đến yếu tố
huyền ảo trong văn học.
1.1.1 Yếu tố kỳ ảo
Chúng tôi dùng khái niệm cái kỳ ảo trong mối tương quan so sánh giữa các thuật ngữ: myth,
fantasy và magic.
Trước hết, “myth” được hiểu là thần thoại, chuyện hoang đường tưởng tượng. Đó là câu chuyện kể về
các vị thần trong cuộc sáng tạo thế giới và con người. Theo nhà nghiên cứu Đào Ngọc Chương trong
công trình Phê Bình Huyền thoại [17], thần thoại hay huyền thoại gắn liền với tư duy huyền thoại; đó
là cảm quan siêu tự nhiên khi người nguyên thủy và thế giới là một, chưa chia tách nhưng thể hiện ở
hai cấp độ vĩ mô và vi mô khác nhau. Thứ cảm quan này kết nối con người và tự nhiên từ trong bản
chất nhưng với mục đích phân biệt, con người bằng lời nói đã đặt tên và phân xuất cái ta ra khỏi cái
khác bằng cách phóng chiếu bản thân mình. Chính bản chất phổ quát tạo nên tính siêu tự nhiên là đặc
trưng của myth- huyền thoại chứ không phải ở cách hình thức hóa thành các vị thần.
Thuật ngữ cái kỳ ảo được dịch từ “phantasia” trong tiếng Latin mang nghĩa điều tưởng tượng, về sau
được hiểu như những hư huyễn, ma quỷ. Theo Lê Nguyên Long [44] thì:
Về mặt từ nguyên học, chữ fantastic (tiếng Pháp: fantastique, tiếng Latin: phantasticus), xuất
hiện trong tiếng Anh Trung cổ thế kỷ XIV, vốn có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp phantastikos, có
nghĩa là “tạo ra những hình ảnh thuộc về tinh thần”, chữ phantazein, nghĩa là “xuất hiện trong
tâm trí”…
Tiếp đó tác giả dẫn ý kiến của Allienne Backer trong bài giới thiệu tuyển tập nghiên cứu về cái kỳ ảo
trong hội nghị thường niên lần thứ 15 tổ chức tại Florida của Hiệp hội cái kỳ ảo nghệ thuật quốc tế thì
lý thuyết về cái kỳ ảo đến tận thế kỷ XIX mới hình thành do người Pháp dịch tác phẩm của nhà văn
Đức Hoffmann vào năm 1828. Trong khi Hoffmann cho rằng tác phẩm của mình là hoàn toàn hư ảo:
fantasy, thì do cách dịch của Contes: fantastique, đã định hình một thể loại văn học. Trước đó Joseph
Addison (1672-1719) trên tờ Spectactor năm 1712 đã cho đăng “Những khoái cảm của sự tưởng
tượng” đề cập đến “lối viết theo kiểu truyện cổ tích thần kỳ, tức là những sáng tác hiện đại viết theo
cách thức bắt chước những câu chuyện cổ tích và những khúc ballad có tính chất siêu nhiên cổ xưa”
đã giúp cho thuật ngữ fantastic “tạo ra một loại khoái cảm về nỗi sợ hãi trong tâm trí đọc giả và làm
thỏa mãn trí tưởng tượng của đọc giả bởi cái lạ lùng và tính chất khác thường của những con người
được miêu tả trong đó.” [tlđd]
Vấn đề là đã phát sinh từ cái kỳ ảo, như một yếu tố, một nhóm các tác phẩm văn học có đặc trưng
riêng. Trào lưu văn học kỳ ảo sẽ được chúng tôi đề cập đến ở phần sau. Ở đây chúng tôi tập trung giải
quyết cái kỳ ảo với tư cách là một yếu tố. Trước hết về lịch đại, nếu nói kỳ ảo là những sự việc không
thể xảy ra thì bản thân việc con người nhận thức những cái không thể xảy ra hoàn toàn không phải một
kết điểm mà là một quá trình bởi không có những giới hạn của vật chất, chỉ có những giới hạn của
nhận thức con người. Về mặt đồng đại, mở ra nhiều không gian khác nhau, cái kỳ ảo cũng khó có thể
được xác định là cái không có thực, không thể tin được, bởi lẽ sự khác biệt về văn hóa tạo nên những
khung giá trị và quan niệm khác nhau. Một người châu Âu duy lý kiểu “Tôi nghi ngờ là tôi tư duy, tôi
tư duy là tôi tồn tại” (Dercarte) chắc hẳn sẽ khó chấp nhận tư duy mang đậm tính tôn giáo của phương
Đông với sức thu hút kỳ lạ của những mê cung ngôn ngữ như “sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc
tức thị không, không tức thị sắc,…” (Bát Nhã tâm kinh), càng khó nhận thức được thứ hiện thực kỳ
diệu ở các quốc gia Mỹ Latin- đang được con người ở đó xác tín từng ngày từng giờ…
Vì thế, một cách tương đối, có thể xác định cái kỳ ảo trong nét nghĩa hẹp nhất, thường được hiểu là sự
thể hiện của ma quỷ, các thế lực siêu nhiên, thần bí và được ý thức trong văn học như yếu tố khác
thường tác động theo những cách thức đặc biệt gây nên phản ứng, cảm xúc tột độ của con người. Đó là
bóng ma của đức vua Đan Mạch- cha của Hamlet, là tiểu thuyết Gothic thế kỷ XVIII- XIX với bối
cảnh rùng rợn, đáng sợ, là Người tu sĩ vận đồ đen của Tchekhov, là Miếng da lừa của Balzac,…
Magic thường được dịch là huyền ảo, vốn là một tính từ tiếng Latin: magicus, về sau phát triển ở dạng
danh từ là magica; bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là magikē (tekhnē) nghĩa là (nghệ thuật của) thầy phù
thủy. Đó là một sức mạnh bí ẩn có khả năng làm những điều không thực thành có thực (thường gắn với
nét nghĩa tiêu cực- black magic- phép thuật ma quỷ). Tuy nhiên, từ huyền ảo được sử dụng rộng rãi
trong nền văn học hiện đại để chỉ những điều kỳ lạ, huyền diệu xảy ra trong cuộc đời thực. Đó là việc
con người biến thành bọ trong Hóa thân của Kafka; là mê cung cuộc đời mà Borges đề cập theo kiểu
xác suất trong Những công viên có lối đi rẽ hai ngã, là những con người ăn đất, mất ngủ vì tiếng các vì
sao chuyển động, là con người có cánh, người hóa nhện của Marquez,…
Chúng tôi hiểu cái kỳ ảo là sự tổng hòa tất cả các đối tượng vừa nêu. Nếu như không quá lệch lạc
thì cái kỳ ảo là một sản phẩm của trí tưởng tượng được biểu hiện theo một logic riêng, khác thường
trong văn học từ cổ chí kim. Điều này hẳn không tránh khỏi cảm nhận thuật ngữ này quá rộng, và nằm
vào hướng thứ nhất trong chỉ trích của Lê Nguyên Long khi phê phán Marshall B. Tymm, tác giả công
trình Fantasy literature: A core Collection and reference guide đã chia thể loại này thành fantasy cấp
cao và fantasy cấp thấp. Fantasy cấp thấp là sự cùng tồn tại của cái lý tính và phi lý tính; fantasy cấp
cao bao gồm kiểu huyền thoại và truyện thần tiên của Hóa thân (Kafka) và Kinh Thánh. Nhà nghiên
cứu cho rằng:
Thực ra những hình thức mà Marshall B. Tymm gọi là fantasy cao cấp đó chỉ có tư cách như là
cội nguồn và tiền đề cho một sự thay đổi về chất dẫn đến sự ra đời của cái kỳ ảo thực thụ trong
kỷ nguyên hiện đại khi có sự vươn lên thống trị của lý tính và các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho
phép con người thôi tin vào các phép màu huyền diệu, còn các nhà văn thì sáng tạo nên những
chuyện thần kỳ quái đản chỉ vì những mục tiêu thuần túy nghệ thuật của mình. [43,44]
Thật ra, quan niệm rộng vấn đề ở đây không phải mở toang phạm vi cho truyện ngắn kỳ ảo vốn chỉ
thực sự xuất hiện khi có ý thức rõ rệt về lý luận vào thế kỷ XIX mà là nhận thức yếu tố kỳ ảo theo một
nét nghĩa rộng nhất, bao gồm các đặc điểm về bản chất, cách biểu hiện và tính chỉnh thể của nó.
Cái kỳ ảo xuất phát từ trí tưởng tượng của con người. Nó giống như thật nhưng do bản chất của mình,
nó không có thật. Tính chất này có phần tương đồng với bản chất văn học; có lẽ vì thế mà cái kỳ ảo có
mối quan hệ mật thiết với văn học như. Cơ sở tâm lý của yếu tố kỳ ảo là trí tưởng tượng của con người.
“Giai đoạn đầu tiên và thứ nhất của tưởng tượng phải kể là tưởng tượng hoang đường”[57]. Như vậy,
cái kỳ ảo không phải là điều gì hư vô bên ngoài mà bắt nguồn từ chính thế giới tưởng tượng, tinh thần,
thế giới nội tâm bí ẩn của con người. Sự thể hiện cái kỳ ảo trong văn học mỗi thời kỳ, do những tiền đề
xã hội nhất định, lại không giống nhau. Yếu tố kỳ ảo gắn chặt với tâm lý lo sợ của con người về những
gì không lý giải được hoặc không được phép lý giải. Phần không lý giải được thể hiện thành những yếu
tố kỳ ảo thời cổ đại chỉ với tư cách là huyễn tưởng thế giới thực tại mà con người hiểu theo trí tưởng
tượng ngây thơ chất phác nguyên thủy. Phần không được phép lý giải thể hiện ở cái kỳ ảo được sử
dụng phản ánh thái độ của con người về những ẩn ức, những điều kiêng kị trong xã hội không được
phép nói đến. Một trong những mục đích sử dụng cái kỳ ảo là thoả mãn lý tưởng đạo đức đang mâu
thuẫn với một xã hội nhất định.
Cái kỳ ảo thường được hiểu là kỳ dị, quái lạ, siêu nhiên, bất thường, kinh dị, thần ma, huyền thoại,…
Tuy có nhiều dạng thức nhưng cái kỳ ảo luôn mang trong mình một logic nhất định. Logic này có thể
được lý giải hay thuộc dạng “bất khả tư nghì” nhưng nó vẫn có ở đó, trong từng hoàn cảnh lại bộc lộ
một khía cạnh của mình để luôn soi chiếu và làm rõ từng phần cuộc đời, văn học và chính cái nó đã là
và sẽ là.
Từ tư duy, cái kỳ ảo được đan cài và hiện thực hóa trong tác phẩm văn học dưới dạng thức yếu tố
kỳ ảo. Yếu tố là một bộ phận cấu thành sự vật, sự việc, hiện tượng. Yếu tố mang nghĩa nhân tố tức là
yếu tố cần thiết gây ra, tạo ra cái gì đó [63,1170]. Trong Anh ngữ, yếu tố có thể hiểu là “element”.
Element xuất phát từ khoảng thế kỷ XII đến XVI dùng để chỉ các thành tố cơ bản của thế giới hay các
đối tượng thiêng liêng từ bầu trời. Từ này phát xuất từ tiếng Pháp cổ xưa nhất được sử dụng cho đến
khoảng những năm 1400, có thể truy nguyên về tiếng Latin: elementum- mang nghĩa là nguyên tắc
(principle), nguyên lý cơ bản (rudiment), được dịch từ tiếng Hy Lạp là stoikheion- bước (một giai đoạn
trong tiến trình), bộ phận cấu thành.
Theo từ điển Oxford (Advanced Leaner) bản in lần thứ 7, element có 08 nhóm nghĩa chia thành 09 nét
nghĩa như sau: 1. Phần, lượng: Bộ phận điển hình, bộ phận cần thiết của sự vật; thành phần chất lượng
hay cảm xúc. 2. Nhóm người: nhóm người tạo thành một bộ phận của tập thể lớn hơn, của xã hội. 3.
Hóa học: một chất hóa học đơn giản chỉ mang một nguyên tử của một nguyên tố mà không thể bị phân
chia nhỏ hơn bởi các công cụ hóa học. 4. Đất, nước, lửa, không khí: một trong bốn thành tố được tin là
tạo ra vạn vật. 5. Thời tiết: thời tiết, chủ yếu là mang nét nghĩa tiêu cực. 6. Nguyên lý cơ bản: các
nguyên lý đại cương của một môn học. 7. Môi trường: môi trường tự nhiên, phù hợp với một loài động
vật nhất định. 8. Bộ phận điện: một phần của dụng cụ điện cung cấp nhiệt.
Thông qua khảo sát các nét nghĩa của từ “yếu tố” và “element”, chúng tôi nhận thấy hai phạm trù chính
được quan tâm là vị trí và vai trò. Thứ nhất, yếu tố phải nằm trong mối quan hệ với tổng thể, nói cách
khác nó là một bộ phận hữu cơ của một tổng thể. Vì vậy, khi xác định yếu tố, tức là đề cập đến quan hệ
của cái riêng đối với cái chung trong tiền giả định một mối liên hệ khắn khít, cái tạo thành và cái được
tạo thành; đây chính là vị trí của yếu tố. Thứ hai, vai trò của yếu tố khác với thành tố, khác với bộ phận
ở tính chất trọng yếu. Yếu tố là thành tố quan trọng đối với hệ thống. Như vậy yếu tố kỳ ảo là một bộ
phận quan trọng trong một tác phẩm nghệ thuật.
Từ đây trở lên chúng tôi đã trình bày cách hiểu về khái niệm yếu tố kỳ ảo. Thuật ngữ “kỳ ảo”
chúng tôi sử dụng chỉ giữ lại sợi dây xuyên suốt các dạng thức- đó là huyễn, là ảo- ấy không chỉ là cái
không thực mà còn là mờ ảo, không thể nhận thức rõ như cái thực. Đó là nét nghĩa chung nhất của kỳ
dị, siêu nhiên, thần thoại, huyền ảo,… Đây không phải là một sự cắt tỉa khái niệm quá tay mà là trừu
tượng hóa để giữ lại, hay nói đúng hơn với tiến trình của chúng tôi, là tìm ra cái nhân, cái mẫu số
chung của hệ thống. Giải đáp được cái nhân- bản chất này chính là chìa khóa mở ra cánh cửa bí ẩn vì
sao yếu tố kỳ ảo luôn có mặt trong văn học và vẫn chưa có biểu hiện gì về một cáo chung của nó, vì
sao yếu tố kỳ ảo lại mơ hồ, khó nhận biết được hơn so với cái thực.
Chúng tôi cho rằng, yếu tố kỳ ảo trong văn chương, là một tín hiệu nghệ thuật. Đó là một hệ
thống gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt tự hoàn chỉnh, biến đổi theo mục đích, tư duy người sử
dụng hướng đến nhóm người tiếp nhận nhất định.
Hệ thống này mang hai đặc tính là: Tính hiện thực (phi võ đoán) và tính quy ước.
Tính hiện thực của yếu tố kỳ ảo hiểu như một dạng tín hiệu chỉ ra nguồn gốc hiện thực của cái kỳ
ảo. Không như ký hiệu ngôn ngữ mang tính võ đoán, yếu tố kỳ ảo cũng như văn học gắn bó một cách
sâu sắc với hiện thực có nghĩa là yếu tố kỳ ảo thể hiện những hình thức siêu phàm, phi thực nhưng luôn
dựa trên những hình thức thừa kế từ hiện thực. Đó có thể là sự phản chiếu bản thân con người thành
hình ảnh các vị thần, thành Thượng Đế (theo nghĩa con người tạo ra Thượng Đế giống với hình ảnh
mình); có thể là phản chiếu kinh nghiệm bản thân thành chốn thiên đường, địa ngục, hay “quy mao thố
giác”. Những phản chiếu này dù phong phú đến đâu nhưng cũng nằm trong một mô hình nhất định, mô
hình về đời sống. Đó là bản chất, còn con đường của yếu tố kỳ ảo được quy định bởi tính chất quy ước
của yếu tố kỳ ảo.
Yếu tố kỳ ảo với tư cách là một ký hiệu nghệ thuật được quy ước về mặt hành chức. Từ hiện
thực, yếu tố kỳ ảo phải thâm nhập vào văn học bằng con đường riêng, bằng logic của mình, đó là mã
hóa. Con đường này như Freud nói về cái vô thức, nó không phải đại lộ nhưng là những tiểu lộ song
song có khi giao cắt, đó là nơi chuẩn bị những cảnh vật mà ta sẽ nhìn thấy trên đường lớn, nó còn
nguyên những bề bộn, sống động và phong phú. Cái kỳ ảo là kết quả một sự biến đổi, như cách nói của
Lê Nguyên Cẩn là một vết đứt gãy, là dạng quy chuyển về một mô hình khác so với mô hình cuộc sống
hiện thực được quy định bởi logic thông thường. Tính chất của quá trình mã hóa này nằm ở cái khác
biệt nhưng không phải ở tầm so sánh thông thường với hiện thực mà là một dạng khác biệt về chất
được nâng cao, một dạng sự thật cao hơn hiện thực. Nhờ tính thật này mà yếu tố kỳ ảo khi kết cấu
thành một thế giới nghệ thuật hay một hệ thống thì luôn có logic riêng mình, đó là lý do vì sao thần
Hermes nhờ đôi giày có cánh mà di chuyển nhanh, vì sao những đứa trẻ sinh ngay đêm 15 tháng 08
năm 1947 ở Ấn Độ lại có khả năng tiên tri như Salman Rushdie kể lại trong Midnight’s Children,…
Chính vì được quy ước nên yếu tố kỳ ảo không bị hòa tan vào các dạng thức tưởng tượng khác.
Đồng thời, cần tính đến vai trò của người tạo nên ký hiệu lẫn người nhận ký hiệu trong trường
hợp yếu tố kỳ ảo. Xuất phát từ khâu tiếp nhận để khẳng định cái kỳ ảo nằm ở quyết định của người đọc
xem đó là cái kỳ lạ hay cái huyễn hoặc là một mặt của vấn đề. Mặt khác, từ góc độ người tạo ký hiệu,
có thể thấy rằng vấn đề niềm tin trong việc định tính yếu tố kỳ ảo là một vấn đề giả. Người tạo ký hiệu
có thể tin hoàn toàn những điều anh ta mô phỏng bản thân và gán cho mô hình vũ trụ hay không tin mà
chỉ dùng nó như một thủ pháp, quan trọng là mục đích của anh ta. Người nguyên thủy dùng yếu tố kỳ
ảo để giải thích tự nhiên; các nhà văn cận đại dùng yếu tố kỳ ảo nhằm nhấn mạnh tính khác biệt. Họ
đẩy nó ra khỏi địa hạt lý trí bằng mọi cách, khẳng định nó không thực hay bất khả tri,… nhà văn hiện
đại, hậu hiện đại nửa tin nửa ngờ và dùng nó như một phương tiện giúp con người sang bờ bên kia, để
nhìn rõ hơn đời sống trong thể tổng hòa của nó. Do những mục đích tư duy và hiện thực khác nhau của
người tạo lập ký hiệu mà yếu tố kỳ ảo xuất hiện với những dạng thức khác nhau như myth, fantasy hay
magic. Hệ quả của việc quan sát từ góc độ người tạo lập ký hiệu càng khẳng định tính nghệ thuật của
yếu tố kỳ ảo, bởi đó chính là manh nha xuất hiện ý đồ nghệ thuật của người nghệ sĩ. Như vậy, các mặt
bản chất, con đường và khuynh hướng của yếu tố kỳ ảo đến đây đã thống nhất, soi chiếu làm rõ lẫn
nhau.
Dù nhằm vào mục đích gì, bản chất cái kỳ ảo luôn được vũ trang bằng lớp áo xác thực để hướng
đến thuyết phục người tiếp nhận về giá trị và mức độ đáng tin của nó, bất kể thuộc giai đoạn nào của
lịch sử, tư tưởng hay văn học. Muốn người tiếp nhận tin tưởng, thông tin đưa ra phải rõ ràng và hiện
hữu trực quan trước nhận thức của đối tượng. Con đường nối từ bản chất của sự vật đến cảm nhận của
người nhận có lẽ trực tiếp nhất là số lượng. Đó là phần thể hiện ra ngoài, phần có thể sờ nắm, đã khá
quen thuộc với kinh nghiệm- đây là sự cụ thể hóa để làm cho cái kỳ ảo mang tính chất hiện thực. Điển
hình trong kinh điển Phật giáo, Kinh Cực Lạc Trang Nghiêm (Sukhavativyuhah samksiptamatrka)-
Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói về một chốn Tịnh độ trang nghiêm không thuộc thế giới này:
Nhĩ thời, Phật cáo trưởng lão Xá Lợi Phất viết: Tùng thị Tây phương quá thập vạn ức phật độ,
hữu thế giới danh viết Cực Lạc, kỳ độ hữu Phật hiệu A di đà, kim hiện tại thuyết pháp. [30,29]
Như vậy, cần đi qua một con đường với khoảng cách X để đến cõi Phật A di đà, với X có đơn vị là tứ
thiên hạ được xác định như sau:
X= 10 x 10.000 x 100.000.000 (Phật quốc) x 3.000 (đại thiên thế giới) x 1.000 (trung thiên thế giới) x
1.000 (tiểu thiên thế giới) x 1000 (tứ thiên hạ).
Đứng trên phương diện văn bản, quốc độ Phật A di đà được xác định khá rõ nhờ phương vị và các con
số thế giới cụ thể, rõ ràng, không thể lầm lẫn mơ hồ về sự, về tướng nhờ đó mà Phật thuyết phục đồ đệ
về tính minh xác của khái niệm mình nói ra, và Phật dùng đó như một phương tiện. Hay trong Kinh
Thánh, với một phương pháp tương tự, phép lạ của Jesus được hiện thực hóa bằng những con số khá
thuyết phục. Đó là con số 5000 người ăn (thanh niên) không kể phụ nữ và trẻ em, 05 chiếc bánh và 02
con cá, số mẩu vụn thu được sau khi ăn là 12 giỏ đầy [41,1127]. Những con số cụ thể này thuyết phục
những người tiếp nhận văn bản về tính chất hiện thực của yếu tố kỳ ảo. Về sau, Gabriel Garcia
Marquez cũng ý thức về những con số trong việc làm cho người đọc tin những điều kỳ ảo mà ông
chuyển tải trong các tác phẩm khi trả lời câu hỏi phỏng vấn của Peter H. Stone:
Stone: Đây có vẻ như là kỹ thuật và giọng điệu của một nhà báo. Diễn tả những biến động có vẻ kỳ
quái, với từng chi tiết thật là chi ly, từ đó, nó có được cái vẻ thực. Đây là điều ông nhặt được, khi hành
nghề báo chí?
Marquez: Đúng là ngón nghề của mấy tay làm báo, nhưng bạn có thể áp dụng cho văn chương. Ví dụ,
nếu bạn nói, có những con voi bay trên trời, sẽ chẳng ai tin. Nhưng nếu bạn nói, có 425 con voi đang
bay trên trời, sẽ có người tin [107, 315].
Có thể thấy rằng bản chất của yếu tố kỳ ảo thống nhất trong diễn trình lịch sử và nhờ đó chúng tôi
có đủ cơ sở để dùng nó như một đối tượng hợp lý. Chúng tôi cho rằng cái kỳ ảo với tư cách là đối
tượng trong luận văn này có giá trị di động giữa khoảng thực và ảo, loại bỏ cực thực, khoảng còn lại
chính là tổng thể mang bản chất, mô hình và mục tiêu mà chúng tôi đã xác lập. Từ góc nhìn này, chúng
tôi hy vọng có cơ may tái hiện, mô tả được một hệ thống rộng hơn và nếu may mắn là đầy đủ hơn của
cái kỳ ảo nói chung, yếu tố kỳ ảo nói riêng.
1.1.2 Yếu tố kỳ ảo trong diễn trình văn học
Yếu tố kỳ ảo ra đời trong văn học dân gian gắn liền với cảm quan siêu nhiên cổ đại. Từ cảm quan
này, con người tự soi chiếu bản thân thành hai cấp độ đồng chất, điều này cũng tương tự như người Ấn
Độ bàn về đại ngã và tiểu ngã. Trong hệ thống này tồn tại những yếu tố bất biến và khả biến, tất cả
cùng thống nhất trong mô hình chung và được quy kết, truyền lưu tiếp nối qua nhiều thế hệ và giai
đoạn văn học. Gọi là mô hình vì đó là cái sườn chung sẵn sàng linh động dung hợp và cải tổ trong
những hoàn cảnh nhất định, phục vụ những mục tiêu nhất định. Và thực chất, yếu tố kỳ ảo trong văn
học có ít nhất ba dạng nổi bật.
Giai đoạn thứ nhất, thời cổ đại, trung đại (khoảng năm 2000 TCN đến thế kỷ XIII- trước thời
Phục Hưng) yếu tố kỳ ảo là một phương thức lý giải cuộc sống. Đứng giữa cái mênh mông của đất trời,
nhận thức được sự nhỏ bé, con người có nhu cầu giải thích tất cả để tránh nỗi lo sợ về điều mình không
biết. Logic vấn đề được rút ra từ mô hình đồng chất, từ đó người ta lý giải tất cả cùng một cách đó là
sự phản ánh bản thân. Bằng cách này con người tạo ra Thượng đế và các thần, sau đó họ đẩy mô hình
này thể nhập vào các sự việc hiện tượng để truy lý và chứng minh về tính chân lý của mô hình. Có thể
luận chứng điều này thông qua truyện ngắn Người chăn cừu và con gái thần mặt trời của người Incas
[95,408- 415].
Câu chuyện hướng đến việc khuyên bảo và ngăn cấm những xáo trộn trong xã hội Incas- một xã hội
không thể chấp nhận một chàng trai nghèo thuộc tộc Laris yêu một cô con gái của thần Mặt trời- chính
là hình ảnh của vua Incas- con thần Mặt trời. Mọi sự vi phạm cần phải bị trừng phạt đích đáng- biến
thành đá. Yếu tố kỳ ảo vừa mang hơi thở thời đại nhưng cũng đọng lại dấu vết mô hình đồng chất của
người cổ đại. Bên cạnh việc trừng phạt, đá có một tầm quan trọng trong nền văn hóa cổ Peru lẫn
Palestine, người ta cho rằng đá là khung vũ trụ, là vật liệu của xương. Những thần thoại châu Mỹ cổ
đại đều tin rằng con người xuất phát từ đất mẹ nên đá gắn liền với bản chất thần thánh. Ở Callca, thung
lũng Yucay, Titicaca người ta tìm thấy nhiều đất sa thạch đỏ và cho rằng nó là bản thể của mặt trời…
Sự trừng phạt này là đẩy sự vật trở về bản chất ban đầu, là truy nguyên về nguồn cội linh thánh khi con
người và vũ trụ là một, đây là sự phân tách về cấp độ để hạn chế, cầm giữ, bởi bản chất con người và
tự nhiên là một, không thể bị hủy diệt. Tượng đá đến nay còn được thấy ở một khu vực có tên cụ thể là
Calca và Huayllapampa không nằm ngoài mục đích khẳng định tính hiện thực của yếu tố kỳ ảo. Như
vậy, trong giai đoạn này, yếu tố kỳ ảo xuất hiện dưới ánh sáng tư duy nghệ thuật bằng không gian khi
con người chưa tách mình khỏi các quan hệ với giới tự nhiên.
Giai đoạn thứ hai, thời cận đại- hiện đại (từ thế kỷ XIV với phong trào Phục Hưng đến hết thế kỷ
XIX), yếu tố kỳ ảo trong văn học được soi dưới con mắt lý trí. Giai đoạn này là kết quả của thời kỳ
Phục Hưng, vai trò con người được nhấn mạnh, lý trí trở thành sức mạnh phân biệt và tôn vinh con
người. Nhân loại tin vào lý trí nên tiếp tục lý giải yếu tố kỳ ảo kiểu lý trí, những gì vượt ra ngoài giới
hạn đó thì được quy vào phần khả biến. Lúc này con người đã có sự tách biệt tối thiểu và độc lập với tự
nhiên; có một độ lùi và tự mình từng bước biến đổi tự nhiên theo ý mình một cách ngày càng hiệu quả.
Có thể nhận thấy đặc điểm này qua truyện ngắn kỳ ảo Miếng da lừa của Honore De Balzac. Tấm da
lừa có thể cầm, nắm, nén như một vật thể nhưng lại mang đặc tính thần kỳ. Tấm da lừa thể hiện cuộc
đấu tranh vật lộn của con người giữa dục vọng và nhân tính, giữa cái xấu xa và tốt đẹp, thấp hèn và cao
thượng; nó là cuộc đời mãi mãi sẽ không nhân nhượng bất kỳ ai. Hạt nhân hiện thực càng thể hiện rõ
ngay trong những hiệu quả kỳ ảo của miếng da lừa. Tất cả những ước muốn như giàu có, dự buổi tiệc
bá vương, được yêu Pauline đều xuất phát và có thể lý giải bằng hiện thực. Raphael giàu có nhờ của
thừa kế của người bà con ở Ấn Độ, anh ta được dự tiệc do ông chủ ngân hàng muốn ăn mừng,… còn
tình yêu của Pauline thì rõ ràng đã dành cho anh ta từ lâu. Nếu loại bỏ miếng da lừa thì có vẻ như
những sự kiện trên đều không sớm thì muộn sẽ xảy ra với Rafael, yếu tố kỳ ảo được giải thiêng và vận
dụng như một chất xúc tác thúc đẩy phản ứng cuộc đời. Rõ ràng, với chủ nghĩa hiện thực, Balzac luôn
ý thức và vận dụng công thức Nguyên lý- nguyên nhân- kết quả [Pierre Laubriet- chuyển dẫn theo Lê
Nguyên Cẩn- 13,41] một cách nghiêm ngặt- đó là mục tiêu của người “thư ký thời đại”. Câu chuyện
của ông về một xã hội Pari giành giật lấy sự sống, để phỉnh gạt, âu yếm rồi ăn tươi nuốt sống lẫn
nhau,… hiện ra với tất cả tính hiện thực của nó, người ta tin điều đó dù câu chuyện được tạo dựng bằng
các motif và yếu tố kỳ ảo.
Ở hai dạng này, cái kỳ ảo được thể hiện theo một logic nhất định và không khó để lý giải, dù dưới
những nhãn quan khác nhau. Quan hệ nhân quả được ứng dụng rộng khắp. Những thần linh, phép thuật
đều được lý giải dưới hai hình thức ma thuật vi lượng và ma thuật lây truyền mà Frazer đã trình bày
trong Cành Vàng, những chuyện lạ của Balzac đều xuất phát từ hiện thực. Cần lưu ý là trong giai đoạn
thứ hai logic này đã bắt đầu có biểu hiện rạn nứt, nói đúng hơn là đường dây logic gián đoạn và cái kỳ
ảo hiện lên dưới ánh sáng kiểu tư duy thời gian.
Giai đoạn thứ ba- thời hiện đại, yếu tố kỳ ảo khước từ bị giải thích theo một logic nhất định.
Người ta không thể chỉ ra logic mà phải nhìn nhận tính đa diện và thống hợp của sự vật hiện tượng.
Cảm quan hậu hiện đại vận dụng yếu tố kỳ ảo như một sự vượt ngưỡng, một nỗ lực tiếp cận, một khao
khát khải huyền trong tình trạng đối diện nhưng không thể giải thích. Sự tách biệt càng lớn đi đến cuối
cùng lại càng có vẻ gần gũi. Đó là quan niệm về không gian và thời gian, về bản chất của sự vật hiện
tượng; đó là sự nâng cao trên cùng một mô hình đồng chất và con người chợt nhận ra mình sai lầm khi
phân biệt. Truyện ngắn Công viên những lối đi rẽ hai ngã của Borges hể hiện rõ điều này [11].
Ở đây yếu tố kỳ ảo nằm trong bản chất của những phạm trù những tưởng đã định hình nhưng vẫn luôn
biến động: thực tế, lịch sử, thời gian, không gian,… tất cả như một mê cung xoay tròn luân phiên
những thay đổi và khả năng dẫn ra vô tận những hướng đi mà mỗi một nút không- thời gian là một
trung tâm của hệ thống phân tỏa. Việc sáng tạo một tác phẩm là sự định nghĩa một khả năng của thực
tế, đặt con người vào kinh nghiệm thời gian như một loạt các khoảnh khắc hiện tại, mỗi lúc một biến
đổi đến nỗi quá khứ cũng không thực tế hơn tương lai, cả hai đều là khả năng; khác biệt đọng lại trong
con người, quá khứ thuộc lĩnh vực của trí nhớ còn tương lai thuộc phạm vi của tưởng tượng. Khái niệm
trọng tâm mà truyện ngắn này hướng đến, đồng thời cũng tập trung thể hiện tính kỳ ảo là thời gian
không phải vòng chảy tuyến tính mà như mạng lưới các khả năng, mỗi khả năng này gắn với một hệ
thống sự kiện, không gian, nhân vật trong đường dây liên hệ rộng khắp. Tính chất kỳ ảo này có thể
được hỗ trợ bằng thuyết tương đối của Einstein khi ông cho rằng lưới thời gian và không gian phụ
thuộc vào người quan sát: “Theo thuyết tương đối nói chung, không tồn tại một khái niệm về không
gian không vật thể”. Tính chất của yếu tố kỳ ảo như một ký hiệu càng rõ hơn khi nhận ra sự tương
đồng trong kinh Upanishads: “Thế giới này xuất phát từ đâu? Chúng đến từ không gian. Tất cả xuất
hiện từ không gian, và trở thành không gian, nơi chúng xuất phát: không gian là nơi chúng thực sự bắt
đầu, và cuối cùng cũng là nơi chúng kết thúc”, trong lời của Phật Thích Ca: “Nếu có một vũ trụ trống
không, không mặt trời và những tinh tú khác, thì vũ trụ ấy không có giá trị” [69,106]. Đồng thời những
phần ghi chú càng thuyết phục người đọc rằng đây là một bản báo cáo khoa học; mở đầu tác phẩm đã
hiện lên phần viện dẫn minh chứng lịch sử về sự kiện trích từ trang 22, sách Liddell Hart's History of
World War I với con số cụ thể là 13 sư đoàn quân Anh, 1200 khẩu pháo yểm trợ diễn ra cuộc tấn công
vào 29 tháng 07 năm 1916… Tất cả đều nhằm hiện thực hóa yếu tố kỳ, tuy nhiên, bản chất và hiệu quả
yếu tố kỳ ảo nay đã thay đổi.
Trong giai đoạn này, yếu tố kỳ ảo mang lại cảm giác về cái không thật, nó không giữ được thế chủ
động mà chuyển thành bị động đối với hành động và nhận thức. Có thể xem đây là quá trình thoái hóa
tính thiêng của yếu tố kỳ ảo trong văn học, là sự hiện thực nét rạn nứt đã xuất hiện từ lâu. Kết quả là
yếu tố kỳ ảo chảy ngược về cấp mô hình, chỉ giữ lại khung quan niệm, đồng thời bị đẩy vào hiện thực
cuộc sống, gắn kết vào hệ tọa độ mới để làm nổi lên độ lệch không phải của yếu tố kỳ ảo mà là hiện
thực. Cái kỳ ảo ở giai đoạn này được thể hiện bằng tư duy nghệ thuật không- thời gian của nghệ sĩ (kỷ
nguyên Khronotov- [05,107]). Đến đây, bản thân hiện thực mang tính kỳ ảo, vì thế các tác giả giai
đoạn này không cần phải chứng minh tính chất thực của yếu tố kỳ ảo mà trái lại có phần giễu nhại, lật
ngược nó như một công cụ để soi vào hiện thực. Đây là cách mà yếu tố kỳ ảo được vận dụng trong chủ
nghĩa hiện thực huyền ảo.
Đến đây, yếu tố kỳ ảo hiện lên rõ ràng với tư cách là sự tổng hợp của cái được biểu hiện và cái
biểu hiện. Tuy nhiên loại ký hiệu mới này là hệ thống ký hiệu thứ hai (chữ của Barthes) được xác lập
từ hệ thống tín hiệu thứ nhất. Theo sơ đồ của Barthes [10,299]:
1.Cái biểu đạt 2. Cái được
Ngôn ngữ biểu đạt
3. Ký hiệu
I.CÁI BIỂU ĐẠT II. CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT
Huyền thoại III. KÝ HIỆU
thì yếu tố kỳ ảo trong văn học hiện đại và hậu hiện đại đã mở rộng, vượt khỏi bản thân mình, biến đổi
và kết hợp với cái được biểu đạt khác để tạo thành một hệ thống mới. Tổng thể này gọi là huyền thoại-
với tư cách một trong những kỹ thuật sáng tác của văn học hiện đại và hậu hiện đại. Hiện tượng tái sinh
của huyền thoại trong văn học hiện đại chính là kết quả sự mở rộng và tái tạo của yếu tố kỳ ảo theo
nghĩa rộng nhất. Sự mở rộng liên tục này kết hợp với quá trình tri nhận thế giới của con người sẽ dẫn
đến sự phân loại thành huyền thoại mang yếu tố kỳ ảo và không mang yếu tố kỳ ảo (do hoàn cảnh
huyền thoại đã mất hay đã xuất hiện thực tế của yếu tố mà trước đó được xem là kỳ ảo). Lúc này, vấn
đề niềm tin không còn là một thành phần bắt buộc mà trở thành sự lựa chọn của nhà văn. Chừng nào
nhà văn còn làm độc giả tin vào những điều anh ta viết thì anh ta vẫn còn sức mạnh trên trang viết,
muốn vậy, các nhà văn đã lựa chọn và Marquez đã kể bằng niềm tin của mình.
Như vậy, rõ ràng là yếu tố kỳ ảo có bản chất ký hiệu thuộc ký hiệu học. Nó không ngừng mở
rộng kết hợp theo kiểu giải cấu trúc; mở rộng trên trục biến thiên thực ảo kết hợp với các trường văn
hóa, lịch sử, tâm lý, mỹ học. Mỗi giai điểm phóng chiếu về ít nhất hai trục sẽ cho ra một góc nhìn; sự
bao quát tất cả các hướng hay mở rộng với cái biển hiện vô tận là khó có thể quan sát nhưng dựa vào
những điểm cơ bản nhất để khái quát ý nghĩa và quá trình của nó trong truyện ngắn kỳ ảo của
Marquez, lập thành khung và đẩy nó về mọi hướng là khả dĩ, nhờ đó có thể khám phá không phải một
cuộc sống đã an bài, mà là bản chất, một cuộc sống mới lạ khó chịu, đẩy người ta phải di chuyển,
chống lại mọi nỗ lực hoàn kết. Đó là cuộc sống mà chủ nghĩa hiện thực huyền ảo cố gắng diễn đạt chứ
không giải thích.
1.2 Yếu tố kỳ ảo và Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
Yếu tố kỳ ảo mà chúng tôi quan tâm trong luận văn này nằm vào giai đoạn thứ ba trong diễn
trình. Giai đoạn này từ thế kỷ XX đến hiện tại, yếu tố kỳ ảo được vận dụng chủ yếu bởi các tác giả của
chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại.
1.2.1 Vai trò của yếu tố kỳ ảo trong Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
Thứ nhất, yếu tố kỳ ảo có vai trò xác lập một khuynh hướng cho trào lưu chủ nghĩa hiện thực
huyền ảo. Cái kỳ ảo đóng vai trò là định ngữ cho hiện thực (magic realism) nên quy định cả tính chất
của hiện thực. Một hiện thực phát triển theo hướng kỳ ảo đến một cấp độ nào đó thì mới thành hiện
thực huyền ảo. Yếu tố kỳ ảo phải mang một nồng độ nhất định thì mới khu biệt được hiện thực huyền
ảo với những dạng hiện thực đời sống và văn học khác. Tuy ngoại diên của yếu tố kỳ ảo khá rộng
nhưng cũng có những truyện ngắn của Marquez chỉ dừng lại ở ý niệm lạ so với hiện thực, về bản chất,
nó vẫn là hiện thực- đó là trường hợp truyện ngắn Bà Maria dos Przeres.
Thứ hai, yếu tố kỳ ảo trong chủ nghĩa hiện thực huyền ảo đã góp phần đổi mới quan niệm về thế
giới quan, nhân sinh quan. Đây là sự kế thừa và phát triển từ mô hình quan niệm đã được hình thành từ
giai đoạn cổ đại theo kiểu giữ lại khung cơ cấu và đẩy yếu tố kỳ ảo lên một cấp độ mới về chất, nhờ đó
hiện thực hiện lên không còn như nó đã là mà đang là, sẽ là. Nói cách khác, đó là một thứ hiện thực
cao hơn hiện thực cuộc sống đang có, được soi chiếu bằng một hệ thống quan niệm mới. Văn học là
một hình thái ý thức xã hội, tư tưởng cũng không thể tách rời khỏi hiện thực. Thế kỷ XX và những năm
đầu thế kỷ XXI đã cung cấp một hiện thực ngoại cỡ tác động động sâu sắc đến tâm tư và nhận thức
nhân loại. Đến giai đoạn này tự hiện thực bộc lộ hết mọi khả năng kỳ ảo của nó, đó là những cuộc đại
chiến thế giới khủng khiếp hơn cả cuộc chiến giữa các vị thần, đó là những thảm họa không do Thượng
đế gửi đến mà do con người đang hằng ngày hủy diệt thế giới; đó là song đề tư duy về bản chất sóng
hay hạt của vật chất mà con người phải chấp nhận thế xác suất,… Những nhân tố này được hút vào mô
hình quan niệm có sẵn bằng một lực bất khả kháng như độ lún của lưới không- thời gian mà Einstein
đã nói. Hiện tượng chạy xung quanh mô hình, hòa nhập với mô hình cổ xưa; ngược lại, bản thân mô
hình lần lượt phản chiếu ánh sáng của mình lên từng mặt của hiện tượng, từng phút từng phút một mở
ra những khía cạnh của một thứ hiện thực mới. Thứ hiện thực này thể hiện một cách cực độ ở khu vực
Mỹ Latin.
Do những điều kiện lịch sử quy định, khu vực Mỹ Latin trở thành thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ
Đào Nha từ thế kỷ XV, sau nhiều biến động, nền tự do được trả về cho người bản xứ nhưng những bất
ổn về chính trị đã đưa khu vực vào những chuỗi biến động liên tục từ cộng hòa, sang chế độ độc tài,
nội chiến, bạo lực,… Chính hiện thực ngoại cỡ này đã tạo nên một nhãn quan mới các tác giả Mỹ Latin
và phong trào chủ nghĩa hiện thực huyền ảo ra đời dựa trên sự kết hợp của thực và ảo, của hiện thực sôi
động và yếu tố kỳ ảo trong văn học.
Như vậy, có thể thấy được, nằm trên một khung mô hình quan niệm chung từ cổ xưa, yếu tố kỳ
ảo vẫn luôn được bảo tồn và phát triển, đặc biệt đóng một vai trò quan trọng trong chủ nghĩa hiện thực
huyền ảo- một trào lưu của chủ nghĩa hậu hiện đại. Vì thế, việc làm rõ bản chất của chủ nghĩa hiện
thực huyền ảo chính là tiến thêm một bước tiếp cận với yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Marquez.
1.2.2 Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
1.2.2.1. Khái niệm, bản chất
Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo nảy sinh vào thời kỳ Mỹ Latin đang hiện đại hóa nhanh chóng.
Lòng tự tin mang tính dân tộc chủ nghĩa đã mang lại một tầm quan trọng mới cho truyền thống văn hóa
dân gian đã bị gạt ra bên lề suốt một thời gian dài. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo vốn là một thuật ngữ
trong ngành hội họa, được Franz Roh- một nhiếp ảnh gia, nhà phê bình nghệ thuật- đề xuất vào năm
1925 và sau đó được trình bày cụ thể trong tác phẩm Nach-Expressionismus: Magischer Realismus
(Post Expressionism: Magic Realism) rồi được dịch sang tiếng Tây Ban Nha, in trong tờ tạp chí
Revista Occidente của José Ortega y Gasset ở Madrid vào năm 1927 mang tên Realismo Mágico, Post
Expresionismo. Thuật ngữ này vốn dùng để chỉ một nhóm họa sĩ châu Âu (ví dụ như: các nghệ sĩ Đức
bao gồm George Grosz, Otto Dix, Christian Schad, Carl Grossberg, Alexander Kanoldt, Max
Beckmann, Georg Schrimpf, Franz Radziwill, Conrad Felixmuller, Giorgio de Chirico- nhà nghệ thuật
người Ý, họa sĩ người Pháp Henri Rousseau) sáng tác theo dạng hậu Biểu hiện vào khoảng sau thế
chiến thứ nhất. Nhóm này hướng đến một hiện thực mới lạ và khác thường. Để diễn đạt loại hiện thực
kỳ diệu này, Franz Roh ban đầu định danh là chủ nghĩa hậu biểu hiện, nhưng có vẻ tên gọi này không
mang tính độc lập nên ông chuyển thành chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Huyền ảo mà không phải là
thần bí vì “thần bí không có khả năng bao quát thể hiện thế giới mà nó chỉ nấp đằng sau trong mối liên
hệ với thế giới mà thôi”[8,243]. Mở rộng khái niệm từ hội họa, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo bắt đầu
thâm nhập vào châu Mỹ như là một thuật ngữ chỉ tính chất thôn quê lãng mạn kiểu mới của văn
chương châu Âu khi theo chân các nhà nghệ sĩ, lý luận… di cư trong Thế chiến lần thứ hai. Theo Franz
Roh, hiện thực huyền ảo thể hiện những hình ảnh có chiều hướng kỳ ảo ngay trong hiện thực được
miêu tả, tạo ra những cảnh hiện thực đời sống đã được nhấn mạnh triệt để nhằm làm cho chúng thật lôi
cuốn, sống động, tuyệt vời. Đây là đặc điểm quan trọng của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, nó phân
xuất cái mô hình ý thức, trong đó yếu tố kỳ ảo được trình bày như thật chứ không phải một thế giới
thật được trình bày dưới dạng mơ mộng như Thần thoại Hy Lạp, truyện cổ tích, truyền kỳ,… Hiện thực
Mỹ Latin thể hiện điều này có phần rõ hơn cả châu Âu; vì thế với những tiểu luận của Alejo Carpentier
(1949) và Angel Flores (1955), Realismo Mágico đã được xem là đặc trưng về thể loại và phong cách
của văn học Mỹ Latin. Khác với thế giới trong mơ của chủ nghĩa biểu hiện, người nghệ sĩ truy cầu một
thế giới thực được tái lập trước mắt học trong thứ ánh sáng ban ngày, nhìn được bằng mắt,…
Tựu trung, có thể khẳng định đặc trưng chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là một cách nhìn mới.
Trong khi những điều kỳ dị và những điểm nhấn của chuyện kinh dị, văn chương gothic không còn thu
hút được người đọc; cách nhìn của của chủ nghĩa hiện thực vẫn chưa thỏa mãn hết khao khát của người
đọc thì chủ nghĩa hiện thực huyền ảo đề xuất một cách nhìn mới, đó là cái nhìn tháo bỏ mọi ràng buộc
và sức ép để giành lấy địa vị trung tâm cho tiếp nhận. Cái nhìn tự làm mới sự vật bằng chính nó, bằng
cách trẻ em quan sát thế giới để nhận ra tất cả đề lạ lẫm, đều thu hút. Sức hút như vậy là sự cộng hưởng
từ sự vật và bản thân người quan sát. Đó chính là cách mà Marquez đã dùng để cho cậu bé Aureliano
Buendia trong Trăm năm cô đơn của Marquez nhìn ngắm một khối kỳ diệu, trong suốt, có thể thấy
được những mũi kim bên trong mà ánh sáng mặt trời vỡ ra thành ngàn ngôi sao. Cậu đã cho rằng đó là
viên kim cương lớn nhất thế giới, người Gypsy đã trả lời: Không, đó là nước đá. Như vậy, khi hiện
thực được miêu tả bằng một đôi mắt trong suốt, không quan ngại những kinh nghiệm quá khứ, không tì
vết những thiên kiến thì điều chúng ta nhận được thông qua đó như một sự kỳ ảo. Và ngược lại, những
điều kỳ ảo khi vượt thoát khỏi những nhận định, những khung giá trị được định trước thông qua kinh
nghiệm hay tiên nghiệm thì một sự thật mới sẽ được hé lộ.
Đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (để phân biệt với các trào lưu, trường phái khác) cần
đặt ở góc độ lịch sử, văn hóa- tư tưởng.
Về lịch sử, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo- dạng thứ ba của yếu tố kỳ ảo- là tập hợp con nằm trong chủ
nghĩa hậu hiện đại. Đây là sự tiếp nối chủ nghĩa hiện đại trên các phương diện tư tưởng, bút pháp. Từ
sau năm 1960, một trào lưu sáng tác mới ra đời dựa trên nhận thức rõ về sự cô đơn và hoài nghi của
đời sống hiện đại; áp lực tự nhiên và xã hội đẩy con người về một phía, bật ra khỏi các tường thành bảo
vệ đã cố kết tự lâu- một lần nữa người ta có cảm giác rơi vào thế giới bất khả tri và buộc phải chấp
nhận nhìn cuộc đời theo quy luật trò chơi quyết định bởi sự may rủi, có khi gián đoạn bởi cái chết.
Chính vì thế con người quay lại bám lấy những thứ trong tầm tay, đó không phải là những biến cố
trọng đại mà là những gì bình thường họ đã kinh qua, khuynh hướng tiểu tự sự vì thế trở nên phổ biến.
Tiểu tự sự cố gắng nắm bắt bản chất tồn tại thông qua cá thể nào đó và miêu tả như chính sự xuất hiện
của nó trong cuộc sống, những ý nghĩa đạo đức nhân sinh giáo dục vốn có của văn học được người đọc
tự rút ra trong mối quan hệ của cá thể người đó với văn bản. Vì lẽ đó vai trò của người đọc được nâng
cao theo dạng hoán dụ đồng sáng tạo trên ba nguyên tắc: trộn lẫn thực và ảo (chủ nghĩa hiện thực
huyền ảo), ghép mảnh (nhằm phá bỏ liên kết tuyến tính của ngôn ngữ và tư duy), cực hạn (chủ nghĩa
tối giản, thiểu tố).
Về văn hóa tư tưởng, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo với yếu tố kỳ ảo nằm ở trung tâm là kết quả tất yếu
của khu vực Mỹ Latin. Các nhà văn Mỹ Latin là người tiếp nối mô hình quan niệm kỳ ảo và phát huy
nó ở mức hiệu quả nhất. Theo Borges- văn hào Argentina, người đặt nền móng tư tưởng sâu sắc cho
chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của khu vực, thì văn học bắt đầu từ văn học ma quái chứ không phải từ
chủ nghĩa hiện thực. Những Sáng thế luận, những huyền thoại phù hợp với thời đại nguyên thủy cũng
thuộc về văn học ma quái. Borges đã chỉ ra đường dây liên tục của yếu tố kỳ ảo và khẳng định đây là
khuynh hướng văn chương của mình, đồng thời ông cũng bao hàm ý chính cuộc sống tự nó đã mang
yếu tố kỳ ảo như Marquez trong diễn từ Nobel từng nhắc đến hiện thực ngoại cỡ của khu vực này,
không cần thêm bất cứ điều huyền ảo gì nữa [Xem 11]. Có thể nói Borges là nhà văn tiên phong đại
diện tiêu biểu nhất của khu vực đã sản sinh ra chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, đặc biệt là ảnh hưởng đến
Marquez về cảm quan hiện thực huyền ảo, đó là mô hình về cái thực và cái ảo.
Phân biệt thực và ảo thoạt nhìn thì đơn giản nhưng bản chất thì không kém phần phức tạp, tựa
như nội dung và hình thức trong nghiên cứu văn học, tánh và tướng trong Phật học,… ảo và thực dung
thông lẫn nhau, không thể tách rời. Tựa như ánh sáng không sắc màu nhưng nhìn qua lăng kính thì tán
sắc thành lục, lam, chàm, tím… Lăng kính ấy là của riêng mỗi người nên nhận thức và phát biểu cũng
mỗi người một vẻ, vì thế Marquez từng than phiền về nỗi cô đơn của Mỹ Latin khi người phương Tây
dùng lăng kính của mình soi vào văn học, văn hóa Mỹ Latin để tách biệt, phân loại thực và ảo, trong
khi với người bản xứ, đấy là cuộc sống không có sự phân biệt giả tạo ấy. Với óc phân tích, màu thực và
ảo hiện lên, với người Mỹ Latin, nói chung và Marquez nói riêng, có một thước đo, một lăng kính
khác. Điều này càng sáng rõ hơn khi đề cập đến khái niệm chủ nghĩa huyền ảo gốc được dùng đầu tiên
bằng tiếng Tây Ban Nha của Carpentier: El realismo magical - đó là hiện thực diệu kỳ mà nhà văn cần
phải tin. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo thường được truy nguyên về lời nói đầu của Alejo Carpentier
trong “Vương quốc trần gian”- tác phẩm ông viết năm 1949. Trong phần đầu của bài viết, Carpentier
công kích hiện thực trống rỗng của Châu Âu; sau đó đề cập đến hiện thực kỳ diệu của Haiti trong phần
hai. Trong lời nói đầu này có những luận điểm quan trọng như:
…Cái kỳ ảo trở nên kỳ ảo rõ ràng (kỳ ảo theo đúng nghĩa của nó- NTT) khi nó được sinh ra từ một
hiện thực thay thế vượt ngoài sức mong đợi của hiện thực, đó là sự phát hiện đặc biệt về hiện thực,
một sự chiếu sáng rực rỡ khác thường những mặt phong phú của cuộc sống mà từ trước đến nay
chưa được khai phá, một sự khuếch trương các đại lượng và phạm trù của hiện thực, mà (điều
này) chỉ có thể nhận thức được thông qua một độ căng lớn do sự nâng cao tinh thần lên một tầng
bậc của khả năng giới hạn (như một dạng quá độ- NTT). Trước tiên, cái kỳ ảo bao hàm một niềm
tin. … Vì thế, những cái kỳ ảo sinh ra từ lòng bất tín như chủ nghĩa siêu thực vẫn làm nhiều năm
nay, đến giờ, chỉ không gì hơn là một mẹo vặt văn chương chán ngắt; một dạng văn học mơ mộng
“ngăn nắp”, một dạng tán dương cuồng nhiệt nhất định mà tất cả chúng ta đều đã quá quen thuộc
rồi… [88]
Như vậy, rõ ràng tồn tại một quan niệm về cuộc đời đặc trưng ở Mỹ Latin. Và yếu tố kỳ ảo đến chủ
nghĩa hiện thực huyền ảo đã mang thêm một đặc điểm là niềm tin, đó cũng chính là cách mà Marquez
đã dùng để kể lại những câu chuyện của mình. Như vậy niềm tin là thành phần mới của yếu tố kỳ ảo
khi tham gia hình thành mô hình quan niệm về con người và thế giới của G.G.Marquez, được thể hiện
bằng giọng kể đặc biệt của nhà văn đối với các tiểu thuyết cũng như truyện ngắn của ông.
1.2.2.2. G.Marquez- tác giả nổi bật của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
Trong phần này, chúng tôi sẽ điểm qua những nét khái quát về tác giả, đồng thời nêu lên những
điểm cơ bản về yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn của Marquez như là những nhận định sơ khởi có vai trò
là giải thuyết khoa học để chúng tôi triển khai và nhận định trong phần nội dung.
Gabriel Garcia Márquez là nhà văn Columbia sinh năm 1928, tại Aracataca. Tốt nghiệp ngành
báo chí Đại học Quốc gia Columbia ở Bogotá và đại học Cartagena, ông hành nghề ký giả, viết kịch
bản phim. Tác phẩm đầu tiên của ông là tập truyện ngắn “La Hojarasca” xuất bản năm 1955. Cả cuộc
đời ông luôn cố gắng đấu tranh cho các giá trị tiến bộ trên đất nước và khu vực. G.G. Marquez chống
lại các nhà độc tài bảo thủ thống trị xứ Colombia Laureana Gomez và người kế vị, tướng Gustavo
Rojas Pinilla nên sống lưu vong ở Mexico và Tây Ban Nha.
Đất nước Colombia để lại dấu ấn không thể phai mờ trong những truyện ngắn của Marquez về
những biến động chính trị xã hội. Năm 1810 nền dân chủ đầu tiên ra đời ở đất nước này, đến năm 1820
Simon Bolivar lãnh đạo nhân dân nổi dậy đánh đổ áp bức tàn bạo thành lập nền cộng hòa. Năm 1849
đất nước bị rơi vào tình cảnh hà khắc, thối nát và bạo lực đẫm máu giữa hai thế lực Đảng Bảo Thủ và
Đảng Tự Do; năm 1899 cuộc chiến Một ngàn ngày diễn ra đưa Colombia vào một giai đoạn lịch sử đen
tối, kết thúc chiến trận phe Tự Do tuyên bố đầu hàng vào năm 1902. Đất nước bước vào giai đoạn phát
triển kinh tế tạo điều kiện cho chủ nghĩa tư bản nước ngoài bước vào, sự mâu thuẫn quyền lợi đã tạo
nên sự kiện năm 1928- hàng ngàn công nhân công ty chuối đình công đòi quyền lợi bị tàn sát. Những
biến động này và cách người ta đối mặt với nó đã trở thành một trong những chuyện kỳ ảo lớn nhất mà
con người có thể tưởng tượng.
Gia đình có tác động không nhỏ đến việc hình thành bút pháp kỳ ảo của Marquez. Sống với ông
ngoại suốt tuổi ấu thơ, trong Marquez in sâu những câu chuyện chính trị của vị đại tá phe Tự Do và vô
số những truyền thuyết, huyền thoại và truyện kể, trong đó luôn chập chờn những bóng ma định mệnh,
những điềm báo số phận, những dấu vết tâm linh của bà ngoại đã bồi đắp một nền tảng cái kỳ ảo vững
chắc trong lòng ông ... Người bà kể những chuyện hoang đường thần bí bằng một vẻ tin tưởng tuyệt
đối và thuyết phục người nghe bằng lòng xác tín của mình rằng không có gì ngớ ngẩn hơn là không tin
những điều đó đều hiện tồn. Giọng điệu của bà ngoại chính là thứ Marquez tìm kiếm cả đời và vận
dụng trong quyển tiểu thuyết Trăm Năm Cô Đơn cũng như các truyện ngắn của ông.
Marquez đến với yếu tố kỳ ảo là một sự kế thừa và phát huy. Ngay từ khi còn là sinh viên ông đã
bị kích thích cực độ khi đọc Hóa thân của Kafka. Mang những yếu tố kỳ ảo của Kafka từ đời thường
Marquez đặt nó vào một hoàn cảnh xa lạ và cô lập; những thể chế quan liêu tha hóa con người được
Marquez thay bằng hiện thực châu Mỹ Latin không kém phần dữ dội. Marquez còn chịu ảnh hưởng từ
nhà văn đàn anh Argentina Borges. Borges được xem như nhà văn hậu hiện đại đầu tiên của Mỹ Latin
khi ông vận dụng các yếu tố tôn giáo và kỳ ảo trong một thể kết hợp các tư tưởng Khổng giáo, Thiên
Chúa giáo, Do Thái giáo và Hồi giáo, qua đó trừu tượng hóa các hình ảnh và mặc cho tác phẩm của
ông lớp áo ngụ ngôn, trinh thám… Marquez đã thừa hưởng những yếu tố này và mở rộng ra bằng sự
kết hợp hệ thống văn hóa bản xứ Mỹ Latin, văn hóa châu Âu (Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha) với văn
hóa châu Phi; lồng vào bối cảnh đặc biệt của châu Mỹ Latin để thể hiện những vấn đề cốt yếu của
không chỉ đất nước, khu vực mà là nhân loại.
Khả năng thể hiện yếu tố kỳ ảo một cách sáng tạo của Marquez thường được giới phê bình tập
trung nhất ở truyện ngắn Ông lão có đôi cánh khổng lồ bởi tác phẩm này thể hiện rõ nhất những đặc
trưng chung của chủ nghĩa hậu hiện đại lẫn nét riêng của tác giả.
Vì sao tác phẩm gọi nhân vật chính là Ông lão có đôi cánh khổng lồ chứ không phải là thiên thần?
Song đề thực và ảo, thiêng và phàm đã quy định điều đó. Về mặt thiêng, truyện ngắn này có thể được
xem như một câu chuyện cổ tích về một vị thiên thần đến cứu giúp một gia đình nghèo với đứa con gần
chết. Ông ra đi để lại cho họ sự giàu có sung túc và đứa con trai khỏe mạnh. Về mặt phàm, ông không
thể là thiên thần vì kiểu hạ phàm tệ hại, vì đôi cánh ẩm mốc và không có khả năng làm phép màu. Ông
chỉ là công cụ kiếm tiền của một cặp vợ chồng trần thế không hơn không kém. Ông được nuôi trong
chuồng gà, thả đi trong nhà như một con vật và thậm chí người ta bực tức với sự có mặt của một thứ vô
tích sự như vậy; chỉ khi ông đi, người ta mới có thể nhẹ lòng. Điều khác biệt trong tác phẩm này là tuy
Gogol hay Kafka cũng dùng yếu tố kỳ ảo nhưng Marquez huy động vào cả hệ thống yếu tố kỳ ảo (cua
bò vào nhà, ông lão có cánh, cô gái biến thành nhện,…) để mặc chúng ở đấy cho người đọc quan sát.
Tính phong phú, năng sản và hững hờ đối với những gì lẽ ra phải tập trung thể hiện cái nhìn mới, mô
hình mới và thế giới quan mới- đó là cái nhìn nghệ thuật, cách nhìn cuộc đời dung thông bất ngại của
nhà văn hậu hiện đại- Marquez. Tác phẩm này dễ dàng trở thành một câu chuyện ngụ ngôn hay một
kiểu bóng gió nào khác, tuy nhiên Marquez đã xóa sạch những khả năng đó bằng một kết thúc lấp
lửng, để lại nhiều câu hỏi về bản chất và mục đích chuyến đi của ông lão. Ông lão là động thái giữa
khái niệm thiêng và phàm, ông không thuần nhất nên những giải pháp thuần nhất không thể giải quyết
được trường hợp của ông; Marquez không hề thể hiện một cố gắng dù là nhỏ để đưa ra giải đáp. Bởi lẽ,
cảm hứng hậu hiện đại từ chối đưa ra bất kỳ lý giải thỏa mãn độc giả, những tiền giả định được xây
dựng vượt qua tiền giả định nhà hiện thực đồng ý và khai thác. Nhà văn hậu hiện đại vượt qua nó, đẩy
đến nhiều cánh cửa hơn và cuối cùng để người đọc ở đó quyết định mở cánh cửa nào dựa vào tiền giả
định đã được tạo ra một cách hữu tình hay cố ý gì thì cũng khá hững hờ và lạnh nhạt của tác giả. Lão
thiên thần đến, hay đi,… mang một ý nghĩa mà tôn giáo, tín ngưỡng hay nhân sinh đều có thể khai thác
ở ít nhiều góc độ, người đọc sẽ làm điều đó, tác giả hậu hiện đại đứng ngoài lặng lẽ, nhiều khi cố nói
thật nhỏ để không ai nghe: Có gì quan trọng đâu bằng việc ông ta đã đến và giờ, đã đi.
Theo đúng thủ pháp của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, Marquez đã trộn thực và ảo trong cùng
một thể mờ nhạt ranh giới. Khi ông lão có đôi cánh rơi xuống được phát hiện ra thì người ta không thể
xác định được liệu ông là thiên thần (như miêu tả trong Kinh Thánh) hay chỉ là một người ngoại quốc
tội nghiệp bị bão đánh dạt vào bờ. Ông không phản ứng với bất kỳ ai từ vị cha xứ đến để xác định
nguồn gốc thần thánh, những người cầu xin phép màu đến những người hiếu kỳ lấy cây châm vào
người và xem ông như một dạng sinh vật lạ. Cuối cùng việc ông bay đi không thể kết luận là thăng
thiêng trong hào quang như Thiên Chúa giáo từng miêu tả về tiên tri Elia hay đó là một hành động trốn
chạy cõi thế gian không phù hợp với ông… Sự việc biến đổi giữa thiêng và phàm, giữa thực và ảo.
Tóm lại, từ một vài nét đặc trưng nhất về nhân vật, không gian, hình tượng, kết cấu và ý nghĩa của
truyện ngắn này, có thể thấy Marquez đã vận dụng yếu tố kỳ ảo bằng cảm quan của chủ nghĩa hiện
thực huyền ảo đặt trong khuôn khổ của chủ nghĩa hậu hiện đại. Thông qua hệ thống các tác phẩm và
dẫn chứng một điển hình, có thể tạm thời khẳng định yếu tố kỳ ảo mà chúng tôi dùng mang nghĩa rộng
để dung chứa được thực và ảo. Nó là cái trung gian, không đơn thuần là thực cũng không đơn thuần là
ảo, nó không nằm trong hạn định thực ảo mà bao trùm vì không thể loại bỏ nó ra khỏi chỉnh thể do tính
chất bộ phận cấu thành, không thể đẩy xuống hàng thứ hai vì nó quan trọng, trên hết, nó kết nối thực
và ảo ở những đường dây liên hệ phi thực, phi ảo.
Yếu tố kỳ ảo của Marquez trong mối liên hệ với truyện ngắn có thể khái quát thông qua các luận
điểm như sau:
Thứ nhất, Marquez đi về giữa hai khái niệm là thực và ảo. Đây là sự xác quyết từ nền văn học Mỹ
Latin, con đường của tác giả trong quá trình sự kế thừa và tiếp nối thực - ảo của văn học thế giới cũng
như khu vực. Cái thực và ảo này cần nhìn ở tổng thể rộng, bởi lẽ nhiều chuyện của Marquez rất thực
nhưng vẫn mang đâu đó cái ảo tiên nghiệm, bất khả tư nghì. Chúng tôi hồ nghi cái phức thể này mang
một mô hình tổng thể tạo thành từ hai trục: thực và ảo mà sáng tác của Marquez là đồ thị hình sin luôn
chuyển động giữa hai giới hạn ấy; từ đây vấn đề là cách nhìn của người tiếp nhận.
Với trục ngang là thực, trục dọc là ảo; cái ảo luôn biến đổi theo thang độ còn thực thì trải dài theo cuộc
sống nhưng không bao giờ mất đi vị trí. Sơ đồ này vừa chỉ ra vị trí nguồn gốc hiện thực trong văn học
vừa lý giải được một cách trực giác y=sinx; cái biến ảo phải từ hiện thực mà ra. Nhưng cái làm người
ta quan tâm lại chính là cái ảo. Như vậy nhìn từ mặt phẳng vuông góc, tác phẩm của Marquez di
chuyển giữa hai cực theo một chu kỳ thẩm mỹ. Có thể nhìn tổng thể sáng tác của Marquez bao gồm cả
những mảng ngỡ như kẻ ngoại đạo của cái kỳ ảo, đó là những chuyện rất thật từ lịch sử, những câu
chuyện của gia đình tác giả, nhưng nguồn mạch liên kết và thúc đẩy những mảng ấy chính là cái ảo,
hay đúng hơn là yếu tố kỳ ảo. Có thể nhận ra điểm tương đồng (tất yếu) và dị biệt của Marquez với các
tác giả kỳ ảo khác. Với Kafka, cái thực và ảo gắn với nhau mang màu sắc phi lý như thể là mặt trái
cuộc sống, đó là đường chéo hình vuông tạo từ hai góc tọa độ và thành một mê lộ càng đi càng xa gốc
tọa độ (lối vào mê cung) x=y (đây là giá trị chứ không phải tương đương số học). Còn Hoan Rupho
như một đường xoắn ốc lấy trục là hiện thực phát triển mà không sao chạm đến quá khứ con người mãi
đi tìm, cuối cùng cái chạm đến được chỉ là quá khứ…
Thứ hai, yếu tố kỳ ảo mà chúng tôi đề cập gắn với mảng truyện ngắn của Marquez. Thời gian đã
tự nó phủ nhận những nhận định cực đoan rằng chủ nghĩa hiện thực huyền ảo chỉ tồn tại trong tiểu
thuyết và thực tế xác nhận sự tồn tại mảng truyện ngắn kỳ ảo của Marquez. Ý thức về mặt thể loại
trong quá trình hành chức của yếu tố kỳ ảo sẽ được làm rõ ở chương 2 và chương 3, vì thế, ở đây
chúng tôi chỉ trình bày hai luận điểm cơ bản nhất xuất phát từ bản chất thể loại truyện ngắn.
Là thể loại sơ khởi của văn chương nhân loại, truyện ngắn vẫn tồn tại đến ngày nay và dần khẳng định
vị trí của mình trong nền văn học hiện đại. Dưới áp lực cuộc sống, hình thức ngắn của thể loại này đã
tự vũ trang cho mình ưu thế đối với các thể loại khác. Mảng truyện ngắn kỳ ảo của Marquez cũng có
một vai trò như thế. Có nhiều trường hợp truyện ngắn cấu thành nên hoặc tách ra từ một tiểu thuyết, vì
thế hoàn toàn có cơ sở để giải quyết vấn đề yếu tố kỳ ảo trong dạng thức cơ sở và cô đọng của văn học-
tức truyện ngắn.
Nhìn từ bên trong, truyện ngắn thường được cấu trúc tinh giản, tập trung nhất vào một hay một vài vấn
đề được giới hạn. Trong hoàn cảnh này, yếu tố kỳ ảo sẽ được cơ cấu một cách điển hình nhất và có xác
suất mang giá trị nghệ thuật nhất.
Tìm hiểu mảng truyện ngắn kỳ ảo chính là vận dụng tính chất này của thể loại nhằm làm rõ được đặc
điểm yếu tố kỳ ảo của Marquez, từ đây mở rộng ứng dụng tìm hiểu hệ thống này trong các thể loại
khác có quy mô lớn hơn của tác giả cũng là một khả năng thuận lợi.
Quan điểm của Marquez về truyện ngắn gắn liền với hệ thống nhân sinh quan và thế giới quan của ông.
Nếu xem xét nhà văn Marquez dựa vào mô hình quan điểm về con người và thế giới của ông thì có thể
nói mô hình này được định dạng bằng hai trục thực ảo làm điểm tựa cho một thế giới song tồn của cái
thực và cái ảo, đi về giữa cõi sống và cõi chết. Và như vậy quan niệm này thể hiện rõ nhất khi ông viết
truyện ngắn:
Ngày hôm nay khi ôn lại đời mình tôi nhớ lại rằng quan niệm về truyện ngắn của tôi khá đơn
giản, sơ đẳng mặc dù lúc đó tôi vô cùng kinh ngạc khi đọc Nghìn lẻ một đêm. Tôi đã nghĩ rằng
những điều kỳ lạ mà nàng Shehrazat kể là có thật trong đời thường vào đời đó, và sau này không
còn xảy ra nữa vì người ta không tin và cũng vì sự hèn nhát của phái hiện thực chủ nghĩa của các
thế hệ tiếp theo. Cũng vì lẽ đó, tôi thấy rằng ngày nay khó có ai lại tin rằng mình có thể ngồi trên
các tấm thảm bay qua các thành phố núi rừng, hoặc là tin có những người nô lệ bị phạt nhốt
trong chai suốt hai trăm năm trừ phi tác giả của truyện ngắn đủ khả năng làm độc giả tin vào
điều mình viết là như vậy. [50, 290]
Vì lẽ đó, tìm hiểu mảng truyện ngắn của ông cũng quan trọng không kém gì, nếu không nói là hơn, tiểu
thuyết.
Như vậy, trong chương 1, chúng tôi có những nhận định như là các khái quát cơ bản có vai trò
nền tảng cho những vấn đề cụ thể sẽ được triển khai ở phần nội dung như sau:
Xác định yếu tố huyền ảo như một thành phần quan trọng trong nền văn học thế giới nói chung và
văn học Mỹ Latin; chúng tôi hướng đến việc trình bày yếu tố huyền ảo trong truyện ngắn Marquez với
những đặc điểm và hệ hình của nó. Việc phân loại các dạng yếu tố kỳ ảo như các tác giả đi trước đã
thực hiện dường như là một bước cần thiết. Tuy thế do đặc điểm vấn đề và đối tượng, chúng tôi thiết
nghĩ nỗ lực thiết lập một hệ thống các nhóm yếu tố huyền ảo thì cũng không kém phần “huyền ảo” hơn
tính chất yếu tố là mấy dù vẫn có thể xếp các dạng, nguồn gốc yếu tố huyền ảo xung quanh vài loại
hình nổi trội; đồng thời hiệu quả thu được từ quá trình đó bản thân chúng tôi cũng chưa thể tận dụng
được trọn vẹn. Bởi lẽ việc khớp nối các loại dạng chủ quan của chúng tôi với khung khách quan của
nền văn hoá Mỹ Latin và bộ phận chủ quan của tác giả dường như bất khả bởi các đối tượng này luôn
chồng chéo lên nhau, xoáy sâu và hoà tan, có khi lại mất hút, tựa như đánh mất đi tính liên tục được
trông đợi dù là với ít hy vọng nhất…
Xác định yếu tố kỳ ảo không nhằm chỉ ra đâu là yếu tố kỳ ảo, không chỉ phân biệt phần nào
thuộc phạm vi kỳ và phân xuất phần còn lại thuộc phạm vi ảo; cũng không phải chỉ khu biệt thực và ảo
một cách tuyệt đối cụ thể… mà chủ yếu là hướng đến khái quát và chỉ ra hướng vận động nghệ thuật
của tác giả. Vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày kỹ hơn ở phần nhân vật.
Thi pháp gồm mô hình quan niệm về thế giới- tận cùng của nó mang tính quan niệm, sự xuất
hiện các yếu tố kỳ ảo trong tác phẩm Marquez nếu khảo sát đơn thuần thì nó chưa là thi pháp, chỉ khi
xác định nó xuất hiện trong hệ thống nào, mang tính quan niệm gì nó mới là thi pháp, vượt trên tính kỹ
thuật, hình thức, thao tác, thủ pháp.
CHƯƠNG 2
YẾU TỐ KỲ ẢO VÀ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG
TRONG TRUYỆN NGẮN GABRIEL GARCIA MARQUEZ
2.1. Khái quát hình tượng nghệ thuật
Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày về vai trò, khái niệm và đặc điểm của hình tượng nghệ
thuật luận chứng bằng trường hợp truyện ngắn kỳ ảo của Marquez.
Hình tượng nghệ thuật là phạm trù quan trọng trong tác phẩm văn học. Văn học mang đặc trưng
tư duy hình tượng; tư duy hình tượng của văn học thống nhất giữa tình cảm, lý tưởng, thể nghiệm, hư
cấu, trực giác và ngoại hiện thành những hình tượng văn học tác động vào tư duy, cảm nghĩ, tình cảm
của người đọc. Nếu không có khả năng tư duy hình tượng thì không thể có sự xuất hiện của ông lão có
đôi cánh khổng lồ, của một đại dương tầng tầng lớp lớp nhà cửa, làng mạc và người chết,… như trong
truyện ngắn của Marquez. Hình tượng diễn hành với tư cách là một khái niệm mang tính giá trị. Có
nghĩa là trình độ nhà văn, tác giả cần đạt đến mình mức nhất định mới có thể phát sinh những hình
tượng văn học mang tính bản chất phổ quát nhưng vẫn không loại thải cái riêng, cái cá biệt. Nói cách
khác, tác giả phải có một mô hình quan niệm về con người và thế giới, từ đó cuộc sống văn học diễn ra
từ khâu hình thành, thể nghiệm và đánh giá đến tiếp nhận hình tượng, định giá hình tượng theo những
thước đo cảm thụ cá nhân người đọc. Nhờ vậy mà những hình ảnh tác giả đưa ra không trở thành một
thứ kỳ dị vô nghĩa mà vận hành trong mô hình quan niệm của nhà văn như bộ phận tìm thấy ý nghĩa
của mình trong tổng thể. Những hình tượng về nhân vật, không gian, thời gian trong tác phẩm của
Marquez được soi chiếu và gắn kết hợp lý hơn trong mô hình thế giới song tồn của ông.
Theo Từ điển Tiếng Việt [63,443] “Hình tượng là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát
bằng nghệ thuật dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức trực tiếp
bằng cảm tính.” Theo Từ điển thuật ngữ văn học [33,98] thì hình tượng nghệ thuật là: “sản phẩm của
phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và cải tạo hiện thực theo quy luật của nghệ thuật.” Có thể nhận thấy
hình tượng nghệ thuật là hình ảnh trực quan sinh động, độc lập được tạo ra theo quy luật của nghệ
thuật. Trong trường hợp yếu tố kỳ ảo của Marquez thì quy luật nghệ thuật đã chỉ đạo, tạo ra những
hình tượng nghệ thuật đặc biệt mang tính kỳ ảo như hồn ma, người có cánh, tàu ma, biển ánh sáng, cơn
gió giết người,... cụ thể và nổi bật trong tâm trí người đọc, gắn với một nội dung quan niệm nghệ thuật
và ý nghĩa xã hội sâu sắc của nhà văn- đó là những nấc thang đưa con người đến ước mơ, thoát khỏi
cuộc sống bị vây hãm bởi nỗi cô đơn.
Thông qua phần trình bày cấu trúc chỉnh thể hình tượng nghệ thuật của tập thể tác giả trong Lý
luận văn học [46], gồm 05 điểm từ trang 138-146, chúng tôi xác định hình tượng nghệ thuật gồm 03
đặc điểm sau:
Hình tượng nghệ thuật như một khách thể tinh thần đặc thù. Những hình tượng này không chỉ tồn tại tự
nó mà phải có khả năng bộc lộ cái bên trong của hình tượng; với nhân vật là những nỗi niềm thầm kín;
với không gian thời gian là quan niệm của con người, của tác giả... bằng chất liệu ngôn từ. bởi lẽ hình
tượng nghệ thuật là một khách thể mang tính tinh thần. Tính đặc thù thể hiện ở khả năng làm sống lại
khách thể đó từ phía tác giả lẫn độc giả. Từ những câu chuyện kể của những người làm trong nhà về
các bóng ma nhiều thế hệ đến việc xuất hiện dạng ma trong Bóng ma tháng tám hay Ai đó đã làm rối
những bông hồng là quá trình tái hiện một cách nghệ thuật của Marquez, hình tượng đã có “da thịt”,
mang những đặc điểm khu biệt- đó là cái thần, là tính nghệ thuật của hình tượng.
Hình tượng nghệ thuật mang tính tạo hình và tính biểu hiện. Tựa như việc thể hiện một cuộc sống bị đè
nén, xoay quanh những phạm vi hạn chế nhất của thể xác lẫn tâm hồn con người Mỹ Latin, Marquez đã
dựng lên hình tượng không gian ngôi làng trong nỗi ám ảnh mùi hương hoa hồng (Biển của thời đã
mất), hay ngôi làng của cõi chết mang tên Vườn hồng của phó vương: “một làng huyền ảo mà về đêm
là nơi để bọn buôn lậu giấu những con thuyền khổng lồ và về lúc giữa trưa là một doi đất cằn cỗi nhất
của hoang mạc. Làng nằm đối diện với một biển hoang vu, ở biệt lập đối với những làng khác...”
(trong Thần chết thường ẩn sau ái tình). Tạo hình gắn liền với biểu hiện, hình ảnh ngôi làng biệt lập
được dựng lên không phải chỉ là đơn thể mang tính không gian với những phạm vi vật lý và điều kiện
tự nhiên của nó mà nhằm vào biểu hiện những nỗi niềm, những cuộc đời ở nơi ấy- Đó là những con
người cũng cằn cỗi và luôn khao khát được thoát khỏi sự tra tấn giữa miền cô đơn ngoại cảnh và tâm
hồn. Như vậy, vấn đề là tác giả có khả năng tạo thành một chỉnh thể vừa mang tính tạo hình vừa mang
tính biểu hiện một cách nghệ thuật hay không? Bởi vì cơ sở của tạo hình là tương đồng còn cơ sở của
biểu hiện là khác biệt, kết hợp thành công tạo hình và biểu hiện sẽ tạo cho hình tượng một hình thức
nghệ thuật độc đáo, một thể thống nhất sinh động thực và ảo, cái bình thường và cái kỳ ảo, đời sống và
ước mơ,...
Hình tượng nghệ thuật là một quan hệ thẩm mỹ- xã hội. Bởi lẽ hình tượng nghệ thuật là kết tinh những
quan hệ xã hội của con người bao gồm quan hệ của tác giả và cuộc sống, tác giả với người đọc, quan
hệ tác phẩm với các ý nghĩa văn hóa, quan hệ các yếu tố của cuộc sống,... Hình tượng thời gian mang
tính chu kỳ mang trong mình nhiều mối quan hệ xã hội là như vậy- bởi lẽ những cuộc cách mạng của
Mỹ Latin thường diễn ra dưới dạng việc lật đổ chế độ chuyên chế Phong kiến bằng một hình thức quá
độ rồi dẫn đến các chế độ độc tài tương đồng, thậm chí nhiều khi còn nặng nề hơn, về tính chuyên chế.
Nỗ lực vùng vẫy của con người như những viên đá ném vào mặt nước biển Caribbe chưa kịp lan hết
vòng tròn nước đã bị những con sóng lớn (chính quyền) cuốn nhào, tan đi tựa như chưa hề tồn tại,...
Tất cả đều xoay vòng, tuyệt vọng,... kéo dài. Ấn tượng xoay vòng không lối thoát ám ảnh không nguôi
người đọc bởi nó mang sức truyền cảm và độc đáo của hình tượng. Thời gian xoay vòng chính là nhà
tù lớn nhất mà con người không thể nào vượt qua, chính lúc ấy nhà văn phải nhận rõ sứ mạng của mình
trong việc hướng dẫn người đọc tìm lối ra giữa mê cung ấy. Giải quyết ổn thỏa quan hệ xã hội thẩm mỹ
này thì hình tượng mới mang tính nghệ thuật theo nghĩa chân chính nhất của nó- nghệ thuật (quan hệ
thẫm mỹ) vị nhân sinh (quan hệ xã hội).
Như vậy, hình tượng nghệ thuật là lớp cơ bản nhất trong nghiên cứu tác phẩm văn học. Vì thế chúng
tôi hướng vào lớp hình tượng đặt trong mối quan hệ với yếu tố kỳ ảo nhằm làm rõ những điểm đặc sắc
của truyện ngắn Marquez.
Tuy nhiên, cần lưu ý thêm một điểm nữa là hệ thống hình tượng nghệ thuật mà chúng tôi sắp tiến
hành tìm hiểu được đặt trong khuôn khổ truyện ngắn kỳ ảo của Marquez, phạm vi này hứa hẹn sẽ tạo
điều kiện cho hình tượng nghệ thuật phát triển tập trung nhất vì 03 lẽ sau: Trong truyện ngắn có một sự
tập trung cao độ về hình tượng, thể hiện rõ nhất phẩm chất và vấn đề. Với sự tập trung này hình tượng
được thể hiện bằng những hình thức chiến lược nhất nhờ cái kỳ ảo; sự biểu hiện cũng được quy vào
những phạm vi gắn liền với sự phát triển trực tiếp của hình tượng nghệ thuật mà không chấp nhận bất
kỳ sự tản mác nào khác. Trong một truyện ngắn không thể xuất hiện cùng lúc quá nhiều hình tượng và
hướng đến quá nhiều vấn đề.
Sự lý giải của tác giả ẩn trong hình tượng, được bộc lộ như một tuyến chủ đạo để giải quyết và biện
giải tình thế. Điều này thỏa mãn hình tượng nghệ thuật như một quan hệ xã hội thẩm mỹ. Hình tượng
không gian biển chính là khát vọng vượt thoát khỏi những tù đọng bó buộc; đến khi biển trở thành sự
ngăn cách và cõi chết thì không gian phiêu dạt lại mở ra trong truyện ngắn Marquez như sự nối dài nỗ
lực của nhân vật và giải pháp của tác giả.
Hình tượng là sự hiện thực hóa cái kỳ ảo một cách cụ thể và trực tiếp nhất nhờ nó hành chức như là
một khách thể tinh thần đặc thù. Hình tượng nghệ thuật không bị đặt vào một cái khung của hiện thực
khô rỗng nên nó mang tính tổng hợp, tự mình có thể vươn đến những yếu tố trừu tượng. Yếu tố kỳ ảo
xuyên thấm vào lớp hình tượng và được khuếch đại tiếng nói của mình trong đó.
Nhận thức được đặc điểm và vai trò của hệ thống hình tượng nghệ thuật trong mối quan hệ với
truyện ngắn kỳ ảo của Marquez, chúng tôi tiến hành khảo sát ba nhóm hình tượng chủ yếu là hình
tượng nhân vật, hình tượng không gian và hình tượng thời gian.
2.2. Hình tượng nhân vật trong truyện ngắn kỳ ảo của Marquez
Hình tượng nhân vật là những đối tượng cụ thể được miêu tả trong tác phẩm nhằm khái quát tính
cách của con người nhưng vẫn tuân thủ những ước lệ nghệ thuật nhất định- có nghĩa là thống nhất
nhưng không đồng nhất với con người thật trong đời sống, dẫn dắt người đọc vào thế giới nghệ thuật
phong phú của tác giả. Nhân vật là trọng tâm cho các kết nối về tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm.
Với tư cách là hình tượng nổi bật nhất, nhân vật thể hiện suy nghĩ, tình cảm tác giả vì thế sẽ gắn chặt
với chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Tóm lại, hình tượng nhân vật là một chỉnh thể nghệ thuật vận động
trong bản thân và thúc đẩy toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhà văn.
Đứng trước một đối tượng phức tạp và liên tục vận động, tham vọng nắm lấy toàn bộ các mặt của hình
tượng nhân vật một cách đầy đủ và chính xác dường như là một điều bất khả. Vì thế chúng tôi tập
trung vào hai khía cạnh cơ bản nhất để nghiên cứu nhân vật của Marquez, đó là nhận thức về con
người và nhận thức về giá trị. Hai khía cạnh này xuyên thấm lẫn nhau và ít nhiều đều bao hàm nơi các
dạng nhân vật của Marquez, tuy nhiên, chúng tôi tạm thời trừu xuất các thể hiện tương đối mà tập
trung vào những nét tiêu biểu nhất. Thông qua hình tượng nhân vật người thú, người công cụ và người
già, chúng tôi hy vọng xác định được nhận thức của tác giả về con người; đó là mối quan tâm xem con
người là gì, con người có tồn tại, và nếu có thì tồn tại như thế nào. Đồng thời chúng tôi cũng hướng
đến tìm hiểu nhận thức về giá trị thông qua nhóm nhân vật người tiên- hồn ma, xác chết nhằm trả lời
vấn đề giá trị của đối tượng nằm ở đâu? Con người thích đối tượng vì đối tượng mang giá trị hay đối
tượng mang giá trị vì con người thích?... Những điều này sẽ làm sáng rõ nhân tố con người trong mô
hình quan niệm về con người và thế giới song tồn của Marquez đồng thời giúp việc nghiên cứu các tác
phẩm của ông được phần nào xác đáng.
2.2.1. Người thú, người công cụ
Ở đây, để tránh việc phán xét võ đoán như Marquez từng than phiền việc áp đặt quan điểm châu
Âu vào định giá Mỹ Latin, chúng tôi vận dụng những ý kiến của các nhà triết học hiện đại Mỹ Latin để
phân tích hai dạng nhân vật này.
Antonio Caso (1883-1946) từng khẳng định con người theo đúng nghĩa khác với vật và khác với cá thể
có thể bị phân chia, trong khi con người đòi hỏi sự duy nhất, xác định và mang mối liên hệ phi gián
đoạn với thực tế [94,33], ông đưa ra hai công thức:
Cuộc sống = thành quả tối đa với nỗ lực tối thiểu
Hy sinh = nỗ lực tối đa với thành quả tối thiểu
Đó là hai mẫu tư duy của cá thể và con người, độ chênh của chúng sẽ tạo nên mâu thuẫn về đạo đức.
Cái kỳ ảo tô đậm thêm tính chất của mâu thuẫn và vấn đề, nói cách khác, nó thúc đẩy mạnh hơn sự
phân cực về đạo đức.
Francisco Romero (1891-1962) khẳng định hai thành phần tác thành và phân biệt con người là ý thức
và tâm hồn. Trong khi các loài vật có ý thức sơ khai thì con người có ý thức đầy đủ, ngoài ra quan
trọng hơn anh ta còn có tâm hồn. Ông phân biệt rõ
Tuy nhiên, người hay bản thân ý thức chưa là con người đầy đủ. Anh ta chỉ là “người thuần túy”.
Nhân cách anh ta phải hoàn chỉnh với yếu tố thứ hai đó là tâm hồn. Về cấu trúc, không có gì khác
biệt giữa người ý thức và người tâm hồn. Họ đều được tạo thành như một thế giới tự mình. Điều
khác biệt là ở khuynh hướng. Cái thứ nhất là chủ quan, hướng về chủ thể. Cái thứ hai là khách
quan, hướng về đối tượng. Hành động thuần túy ý thức luôn quay về bản thân mình còn hành động
mang tính tâm hồn luôn hướng về tha nhân… Người ý thức là một phần của tự nhiên và hành động
đúng theo quy luật của nó. Trong khi đó người tâm hồn không thuần tự nhiên. Hướng về người
khác chứng minh một điều anh ta đã phá vỡ tính thuần túy tự nhiên, điều này mang đến cho anh ta
sự tự do và được hình thành như một thể giá trị. [94,36]
Chính động thái hướng về đối tượng đã mang lại tính siêu nghiệm cho tâm hồn. Và như vậy ông khái
quát các chặng phát triển tuần tự: Vô cơ- Hữu cơ- Ý thức- Tâm hồn. Có thể nhận ra dạng biểu hiện này
ở các nhân vật như: Blacaman và đặc biệt nhất là người bà của Erendira trong tác phẩm viết năm 1978
mang tên La increíble y triste historia de la cándida Eréndira y de su abuela desalmada, Marquez đã
đối lập hai bà cháu để nhận ra và phân biệt con người ý thức và con người tâm hồn dựa trên nhân
hướng của họ. Người bà của Êrênđira là một con người thuần túy, một con người chỉ mang ý thức, ý
thức đó hướng vào trong và rỉ ra ngoài sự phì nhiêu bệnh hoạn của cơ thể. Marquez cụ thể hóa con
đường biến chất của con người này từ dạng người ý thức thành một thứ bước nhảy ngược ở dạng hữu
cơ khi cho chảy ra dòng máu xanh ma quỷ. Người bà bất lương của Erendira là hình tượng đặc biệt thể
hiện mẫu người phụ nữ gia trưởng (sẽ được tiếp nối trong hình ảnh những người già). Trong khi
Erendira luôn hướng về người thân thì người bà của cô bé lại hướng về bản thân mình. Cái kỳ ảo thể
hiện ở sự đối lập logic cá nhân với cuộc sống, đó là sự vị kỷ đến mức kỳ ảo không cần giải thích. Khi
bị đâm chết, từ người bà: “một dòng máu phụt ra thật mạnh… Đó là một thứ máu đặc sánh, óng ánh
một màu xanh giống như thứ máu trong lông ống còn tơ” [53,226]. Đó là sự tha hóa con người từ tâm
hồn, dòng máu xanh mang nghĩa biểu tượng phi thân xác- nó toát ra từ tâm hồn của những người thú.
Tuy nhiên, Erendira cũng không phải là một con người- nghĩa lý tưởng theo đối sánh của hai nhà
triết học này. Nhìn rộng ra đại đa số các nhân vật của Marquez không ai thỏa mãn tiêu chí là con người
hoàn mỹ, toàn thiện như hệ thống lý luận triết học. Mọi lý thuyết đều màu xám và cây đời mãi xanh
tươi, Marquez đã thể hiện điều đó trong tác phẩm của mình. Erendira không phải là chuẩn mẫu mà chỉ
là một con người đáng thương (cándida). Cô cũng như Pelayo (Cụ già đó đôi cánh khổng lồ), Tobias
(Biển của thời đã mất) và nhiều nhân vật khác, chỉ biết cam chịu một cuộc sống quẩn quanh và trở
thành công cụ cho người khác, cho những ràng buộc phi lý của cuộc đời từ lúc nào không biết. Yếu tố
kỳ ảo khắc đậm sự bất lực của những con người công cụ này nhằm mục đích cảnh tỉnh và thúc đẩy sự
thức dậy của nhân tính, lòng dũng cảm sống và thiên hướng bảo vệ cái đẹp.
2.2.2.Người già
Người già là dạng thức tập trung những suy tư, tình cảm của văn chương nói chung và Marquez
nói riêng. Đi từ góc độ này chúng tôi lưu ý đến hai dạng hình tượng người già là ông lão và bà lão.
Có thể nói hình ảnh ông lão xuất hiện khá thường xuyên trong tác phẩm của Marquez. (Biển của
thời đã mất, Thánh bà, Gió bắc, Ông lão có đôi cánh khổng lồ, Nabo- người khiến các thiên thần phải
chờ,…) Từ góc độ tâm lý thì đây là dạng nhân vật như linh dương (animus), mang nặng những câu hỏi
về nhận thức và cuộc đời. Có khi họ đóng vai trò hiền triết nhưng nhiều khi cũng thất bại trong bản
thân, có thể nói, Marquez ký thác nhiều vào dạng nhân vật này.
Từ dạng nhân vật ông lão có thể nhận thấy nỗi ám ảnh thường xuyên trong các truyện ngắn Marquez là
sự khẳng định bản thể. Đó là sự tìm kiếm mạnh mẽ nhất. Trong Biển của thời đã mất, ông lão Jacob là
người duy nhất khiêu chiến với anh người Mỹ chứ không cầu xin sự giúp đỡ một chiều. Cuộc chiến
của ông lão trên bàn cờ đam chia trắng đen như luân phiên ngày và đêm, như đấu tranh giữa những mặt
tính cách, những thái cực đối lập của con người và cuộc sống; trong đó ông đặt hy vọng của mình vào
còn người Mỹ thì không, anh ta sử dụng chúng không suy nghĩ. Đó không phải là cuộc chiến mà là
cuộc chơi không cân sức.
Vì thế, dạng nhân vật ông lão còn giúp Marquez triển khai những điều băn khoăn nhất mà tập trung lại
là nỗi cô đơn. Đây là vấn đề chung của cả châu lục Mỹ Latin. Họ đi tìm sự khẳng định bản thể như Mỹ
Latin tìm kiếm hình ảnh của mình và họ trăn trở trước hình ảnh của Bắc Mỹ và châu Âu. Mỹ Latin là
hình ảnh, là phái sinh của châu Âu. Nguồn gốc này làm cho người ta lo ngại về khả năng tự sinh thành
của mình. Như triết gia Leopoldo Zea (1912) trong bài tiểu luận về triết học lịch sử- “Chức năng của
Triết học ở Mỹ Latin” đã trình bày:
Người mỹ Latin đang sống thoải mái (dưới nền văn hóa Châu Âu-NTT) đã nhận ra rằng nền văn
hóa từng nâng đỡ đã làm hư mình, rằng anh ta không có tương lai, rằng những tư tưởng mà anh ta
xác tín giờ chỉ là những vật tạo tác, không còn ý nghĩa, thiếu đi giá trị ngay cả với những người
làm ra nó. Con người đã sống vô cùng tự tin dưới bóng cây nên đã không thể tự trồng cây bỗng
nhận ra mình đang sống dưới một khoảng không khi mà người làm vườn chặt đi tán cây và quăng
vào lửa như một thứ vô dụng. Con người giờ phải tự trồng lấy cây văn hóa, phải tự suy nghĩ.
Nhưng văn hóa không thể từ trời rơi xuống, hạt giống phải được lấy từ một nơi nào, phải thuộc về
một ai đó. Bây giờ, vấn đề của người mỹ Latin là anh ta phải tìm đâu ra hạt giống? Anh ta phải suy
nghĩ điều gì, phải tin vào gì? Có thể tiếp tục tin tưởng và phát triển hệ tư tưởng châu Âu, hay có hệ
tư tưởng nào phù hợp với hoàn cảnh châu Mỹ Latin?... [94,220]
Không phải họ không có truyền thống của mình, người châu Á vẫn học hỏi kỹ thuật của châu Âu
nhưng vẫn bảo tồn được văn hóa và giải quyết được những vấn đề phát sinh của họ. Truyền thống Inca,
Maya, Atez không còn ứng dụng được trong cuộc sống mẫu hình châu Âu; họ vừa cố hòa nhập nhưng
đồng thời lại cố chống đối như đứa con cố chống lại việc nó sẽ giống người cha. Các nhân vật của
Marquez luôn mang tâm thế này, họ phiêu dạt trên những nẻo đường của châu Âu vừa như bám lấy
nguồn mạch sữa thân quen từ thuở ấu thơ nhưng lại nỗ lực chứng tỏ tính độc lập bản thân.
Con đường của Mỹ Latin là nhận thức mình và châu Âu. Thật ra châu Mỹ chính là giấc mơ của châu
Âu già cỗi. Những gì người ta không làm ở châu Âu được nên phải mơ về một thiên đường thì bất chợt
thiên đường đó rơi xuống trần gian và mang một cái tên vừa đối lập, vừa hòa mình vào trần thế: Tân
thế giới. Người châu Âu đến châu Mỹ với mơ ước một cuộc đời mới, một chân trời phóng khoáng hơn,
một giấc mơ có cơ may thành hiện thực. Như vậy, châu Âu và châu Mỹ nói chung, Mỹ Latin nói riêng
đang rơi vào một cuộc chơi trốn tìm mà cả hai đều không thỏa mãn với vai trò của mình.
Nếu không nhận thức được điều này, như Zea chỉ rõ, người Mỹ Latin đã, đang và sẽ sống trong một
thế giới thân quen nhưng với tâm thế không phải là của mình. Họ cố tận dụng nó, không cần nghĩ
nhiều chỉ cần thu lợi từ nó là được. Vì thế, bộ máy chính trị của Mỹ Latin luôn đè nặng bởi chế độ
quan liêu.
Zea đi xa hơn nữa, chỉ ra con đường tiến đến ngày khải huyền của Mỹ Latin về mặt tư duy là không
phủ nhận nguồn gốc châu Âu của văn hóa, tư tưởng Mỹ Latin mà phải nhận thức đầy đủ nó và hoàn tất
những gì triết học châu Âu chưa hoàn thành. Đó là ý thức phát triển, để Mỹ Latin có thể tự tin, là một
bản copy không giống châu Âu không có nghĩa là thảm họa mà ngược lại: tồn tại một bản sắc. Từ đó,
châu Mỹ Latin sẽ giải quyết những vấn đề không chỉ bó hẹp trong khu vực mà còn mở rộng đến tầm
nhân loại… Marquez đã dùng hình ảnh những ông lão trăn trở, những cái chết đầy ám ảnh và những
hảo vọng chưa thành để thúc đẩy viễn tượng này thành sự thật, bằng cách hy vọng một cơ hội khác cho
dòng họ Buendia không còn bị nguyền rủa- đó là con đường phá bỏ sự cô đơn.
Bên cạnh những ông lão thì hình ảnh các bà lão của Marquez lại có điểm riêng khá lý thú. Theo
truyền thống của nhiều dân tộc thì từ cổ sơ, người phụ nữ là nguồn gốc hiểu biết, vừa có khả năng khai
tâm vừa mang khả năng thiêng liêng là sinh sản; cũng trên cơ sở này Marquez đã xây dựng những hình
tượng người nữ của riêng mình. Cơ cấu gia đình Colobia thường mang khuynh hướng mở rộng, tuy
nhiên các gia đình của Marquez lại thường theo dạng gia đình cơ bản (trừ Trăm năm cô đơn), đây là
dạng rút gọn theo yêu cầu của những truyện ngắn tuy nhiên cũng có thể thấy dấu vết ý thức của tác giả
ở đây: Quan hệ cha và con trai không mấy tốt đẹp trong khi quan hệ cha vợ và con rể luôn là rạn vỡ
(như trong Dấu máu em trên tuyết) bù vào đó, tất yếu là vai trò người nữ. Tuy nhiên, chúng tôi muốn
đề cập đến dạng đặc biệt của hình tượng người nữ của Marquez như là đặc trưng của khu vực và của
tác giả, đó là mẫu nữ độc tài. Điều này cần quay lại với ý kiến của Antonio Caso (1883-1946), triết gia
nổi bật của Mexico, vấn đề trọng tâm trong triết học của ông là Con người và tình trạng chuyên chế,
[94, 43-47] đã xác định ba cấp độ tồn tại: người, cá thể và vật. Con người lại đóng vai trò xã hội, anh ta
như diễn viên trên sân khấu và do đó mở rộng ra, con người mang vai trò lịch sử; như Nietzsche đã
nhiều lần khẳng định con người là chủ thể tạo ra giá trị. Vật thì có thể chia nhỏ mà không bị tổn
thương, về bản chất không đổi khi chia nhỏ; cá nhân cũng mang tính đơn nhất, xác định và liên tục.
Để hoàn thành con người, cá thể phải tham gia xã hội, phải góp phần kiến tạo lịch sử, nhưng Marquez
đã chỉ ra hậu quả của sự thoái hóa này bằng một dạng nhân vật đặc trưng cho Mỹ Latin: dạng nhân vật
độc tài. Đó là con người đồng nhất cá nhân với giá trị, với lịch sử, là con người đi ngược lại văn hóa
theo nghĩa rộng nhất, chống lại con người. Có thể so sánh với 10 luận điểm của Caso về con người và
văn hóa (tlđd); đó là con người tinh thần trong mối quan hệ với xã hội để hoàn thiện khái niệm văn
hóa. Mẫu hình này đi vào thực tế sẽ thành một con người cụ thể với ý thức hướng nội và hướng ngoại.
Nếu quá hướng ngoại, người này cũng không tạo thành một thể văn hóa cùng xã hội, mà sẽ lạc lõng,
không thuộc về thế giới này như những người tiên sẽ được bàn kỹ hơn phía sau- tóm lại con người
không thể tách rời khỏi cộng đồng, không được chối bỏ vị trí và nhiệm vụ của mình. Ngược lại, xã hội
cũng không được chối bỏ nhiệm vụ với con người. Các mẫu nhân vật độc tài thường là kết quả của một
con người hướng nội, khi nắm được quyền lực thì hướng tất cả về phía mình, đó là phi văn hóa. Quả
thật, mẫu nhân vật độc tài vi phạm gần hết các nguyên tắc nêu ra như tôn trọng con người, cứu rỗi con
người, xem cá nhân nhà cầm quyền cao hơn xã hội,…
Nhân vật bà lão của Marquez có thể xem như là sự tiếp nối bản thể mẫu về mẹ, về cái nguồn gốc
sâu xa của nhân loại. Vì tính chất riêng của khu vực, các nhân vật nữ của Marquez luôn có một uy
quyền nhất định lên cuộc sống và người đàn ông, đó là sự tiếp thu hình ảnh mẫu độc tài của riêng Mỹ
Latin: những người phụ nữ trong Biển của thời đã mất, vợ của Pelayo- người quyết định mọi chuyện
trong Ông lão có đôi cánh khổng lồ, người bà của Erendira... nổi bật nhất là Bà mẹ vĩ đại trong Đám
tang bà mẹ vĩ đại.
Dạng nhân vật này là sự thoái hóa và mang dấu vết của huyền thoại, đó là tư duy biến chuyển theo lối
sinh sản của người nữ; vai trò quyền lực được quyết định như người nam lại tạo nên linh dương trong
mẫu người nữ. Đó là dấu vết lưỡng tính thần thánh của hình thái tư duy cổ đại lưỡng nguyên- con
đường trở về khởi nguyên vĩnh cữu giúp thấy lại chiều sâu của các huyền thoại cổ thể hiện trong tư duy
xây dựng nhân vật. Cái lưỡng nguyên này phát triển trong lịch sử sẽ hình thành những cặp cha mẹ thần
thánh, những cặp anh hùng đối lập,… và phát triển về tận sau này là tình yêu- đó là quá trình hai nửa
thiêng liêng tìm lại sự kết hợp vĩnh cửu. Do những vấn đề về chính trị, văn hóa và xã hội, nỗ lực bám
lấy huyền thoại cổ xưa đã tạo nên một khuynh hướng đẩy các nhân vật của Marquez thành hai nửa, tự
nó hoàn thiện, theo cách thức và theo quan điểm của mình.
Như vậy, bằng hình tượng người nữ độc tài, Marquez thể hiện sự tiếp nối có tính chu kỳ những cổ
mẫu nhưng theo một hướng mới, đó là hướng giải huyền thoại; nhờ đó yếu tố kỳ ảo được soi chiếu
bằng thứ ánh sáng của hiện thực và thời đại.
2.2.3. Người tiên, hồn ma
Một luận cứ rõ ràng nhất khi đề cập đến yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Marquez là có sự xuất
hiện của người tiên và những hồn ma.
Trước hết, nói về người tiên trong truyện gắn Marquez chúng tôi muốn nhấn mạnh tính chất của
dạng nhân vật này với tư cách là một motif huyền thoại tái sinh trong văn học hậu hiện đại và chịu sự
chi phối của tư tưởng thời đại và tác giả; những người tiên của Marquez không còn là những nhân vật
quyền năng giúp đỡ các nhân vật khác như cổ tích mà đã trở thành người tiên bất lực và bị hiện thực
tra tấn. Điều này được thể hiện tiêu biểu nhất trong tác phẩm Cụ già với đôi cánh khổng lồ. Tác phẩm
được viết năm 1968, giữa hai tiểu thuyết Trăm năm cô đơn và Mùa thu của trưởng lão. Ông lão bí ẩn
này gợi nhớ đến lão Menkyades nhưng ngay cả khi lão được bổ sung đôi cánh thì vẫn không thể làm
người khác tin tưởng hay hội nhập vào cuộc sống của họ được. Như vậy, niềm tin vào cổ tích thần tiên
đã không còn. Chúng tôi thiết nghĩ là cần so sánh tác phẩm này với truyện cổ tích vì nó có phụ đề là A
Tale For Children và nhận ra rằng tác phẩm dùng cơ cấu và tiến triển của truyện cổ tích, khác biệt là ở
cách giải thích- đó cũng chính là điểm khác biệt giữa tư duy cổ tích và tư duy của chủ nghĩa hiện thực
huyền ảo được chúng tôi phân biệt dưới đây:
Tư duy cổ tích Tư duy chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo
Không có bài học thuần túy đạo đức. Hướng đến bài học đạo đức:
Thế giới đa nguyên, cuộc sống không +Con người tham lam bị thần tiên từ bỏ
có nguyên lý cũng như những bài học +Người đáng thương được thần tiên
đạo đức. giúp đỡ
Điều này chính là khu biệt tác phẩm Marquez với một truyện cổ tích thần kỳ truyền thống. Cuộc sống
không còn có chỗ cho thần thánh mà chỉ còn chỗ cho con người. Mọi thứ đều được nhìn nhận và phân
tích dưới mắt con người (thậm chí nhiều người trong truyện ngắn- trừ ông lão). Người ta phân tích
chiếc cánh, rồi ông lão,… hoàn toàn như với một con người nhưng lại đối xử lão như một con vật; tất
cả là do đôi cánh. Nó không quá tốt để là thiên thần nên đành phải đóng vai thứ quái dị. Chính đôi cánh
là nguyên nhân dẫn đến việc lão bị đối xử như một con vật. Phép lạ đời thường nếu không giúp ích
thực tế thì sẽ trở thành tai họa cho người sở hữu- đó là viễn cảnh đáng buồn cho một ngày nào đó các
vị thần rơi xuống trần gian để rồi phải trầm luân hơn cả con người.
Từ đó, có thể thấy vấn đề tác phẩm đặt ra là cách con người nhận thức thế giới thông qua những truyện
kể, cổ tích, đối thoại, giải thích và nhìn nhận,… Đồng thời hình tượng này còn có thể mang nghĩa
hướng đến tác giả- tư cách là nhà văn trong mối quan hệ châm biếm với quần chúng, đó là con đường
từ sáng tạo cá nhân nghệ sĩ đến nhận thức tập thể cộng đồng. Chuyện này nhắc người đọc nhớ đến câu
chuyện của Zarathustra do Nietzsche kể lại: Người ta bỏ rơi người diễn thuyết, bậc hiền nhân để xem
người đi trên dây. Đó là sự lạc mất niềm tin. Nhưng đây không phải là đáp án duy nhất cho câu hỏi. Từ
nhân vật người tiên, Marquez hướng người đọc nhận thức cái siêu nhiên, cái kỳ ảo. Nói chung cái
thiêng đã bị tiêu vong, nhận định về nhân vật chỉ là một ông lão (un señor muy viejo) với đôi cánh to
lớn (con unas alas enormes) chứ không phải là thiên thần (ángel). Ngoài hai yếu tố kỳ ảo ở ông lão và
cô gái thì chuyện cua biển bò vào nhà Pelayo cũng là một điều bất thường, hai yếu tố đầu là siêu nhiên
còn yếu tố sau chỉ là một sự kỳ lạ của tự nhiên. Nhưng Pelado không mảy may phân biệt điều đó.
Trước sau anh chỉ thấy phiền vì cua và ông lão, vì thế khi xây căn nhà mới họ cố tình làm sao tránh
được cả cua lẫn ông lão. Sự phân biệt hiện thực, siêu thực dường như không cần thiết, người ta sống và
chấp nhận nó. Người đọc có thể nhận thức rõ hơn bi kịch của người tiên cũng chính là bi kịch của yếu
tố kỳ ảo trong mối tương quan giữa ông lão và cô gái biến thành nhện sau một đêm trốn đi chơi. Thái
độ với cái kỳ ảo của công chúng thể hiện rõ sự thuần túy tò mò và tìm kiếm những giá trị quen thuộc,
đó là những bài học về đạo đức, phẩm giá,… Ông lão thu hút họ vì sự tò mò nhưng chỉ với điều đó
người ta không thỏa mãn về ông lão thế là sau đó họ quay sang cô gái vì được giải thích rõ ràng bằng
một bài học quen. Người ta đến với cái kỳ ảo chủ yếu vì tò mò nhưng cuối cùng lại luôn muốn nhận ra
một điều gì quen thuộc với kinh nghiệm.
Thông qua hình tượng người tiên bất lực, Marquez đã chỉ ra sự suy thoái tính thiêng trong cuộc đời,
con người sống hướng về vật chất và bị thế giới này chi phối. Không còn cơ hội cho câu chuyện cổ
tích, không còn cơ may cho những phép lạ xảy ra. Cái kỳ ảo đã rơi ra bên lề cuộc sống, cũng lấm lem
bụi đất như những sự vật bình thường khác. Hai biểu hiện kỳ ảo trong tác phẩm này thuộc dạng cơ bản
nhất của hệ tư duy nguyên thủy, đó là người bay và biến hình. Sự biến hình của cô gái thuộc trục quá
khứ và được kể lại thu hút người xem bằng câu chuyện nối các tuyến không gian và thời gian. Trong
khi đó ông lão lại không thể hiện sự đột biến mà lại như một sự thật đang diễn ra đằng sau cái vẻ kỳ lạ
của nó. Đôi cánh của ông lão không có một lời giải nào, ông từ đâu đến và ông sẽ về đâu cũng không
ai có thể giải đáp. Cái kỳ ảo mang tầm tư duy nhân loại này mới chính là điều mà tác giả hướng đến,
bởi tác phẩm không mang tên Cô gái biến thành nhện. Cái kỳ ảo của Marquez hướng đến nỗi cô đơn
không được chia sẻ. Trường hợp ông lão chủ yếu là cô đơn khách quan bởi trước và sau ông không hề
gắn với thế giới này. Cái kỳ ảo được chia sẻ của cô gái lại không gợi lên suy tư nhiều và vì thế nằm
ngoài trung tâm của vấn đề. Người ta dễ dàng đến với những tác phẩm thấy rõ nội dung, phản ánh cuộc
sống chân thật vì tìm được mình và những bài học của mình trong đó, người ta vui sướng khi sống lại
cuộc sống của mình với tư cách người khác, đó là một hành động vô hại nhưng chưa có nhiều người
dám dấn thân vào một cuộc đời xa lạ mà nhiều khi chính mình bị biến thành vật hiến tế vì tính mờ ảo,
lúc thực lúc huyễn của nó; vì lẽ đơn giản, người ta luôn sợ và xa lánh thứ mình không biết, nhà văn
hiện đại, đặc biệt là nhà văn hiện thực huyền ảo, nhà văn hậu hiện đại phải đương đầu với chính điều
này.
Như vậy, cái nhìn về cuộc sống và bản chất con người cần phải soi qua một thấu kính ngược của cái kỳ
ảo. Câu chuyện của cô gái quá rõ ràng, quen thuộc như sự thật của đời sống bởi nó đơn giản, tương
đương với trường tư duy bình thường của con người; trong khi đó chuyện của ông lão lại mờ mịt, phức
tạp, không hề dễ thâm nhập. Vấn đề là tác giả chọn và hướng người đọc vào cái kỳ ảo của ông lão bởi
chính điều này làm hiện lên rõ ràng nhất tất cả cái hiện thực, cái phi nhân và tính chất con người nhất.
Đó chính là lý do mà cái kỳ ảo luôn cần, luôn được chú ý và tồn tại trong văn học. Dạng nhân vật
người tiên mang tính đối sánh giá trị này tạo đường dây liên hệ với chủ nghĩa phê bình nghi lễ của
Frazer và nhóm Cambridge với học thuyết của Jung. Như chúng ta đã biết, các nhà nghi lễ tạo nên sơ
đồ rất trừu tượng, hợp nhất lễ thụ pháp và “các nghi thức chuyển tiếp” khác cùng với tục thờ cúng
những vị thần nông chết đi sống lại, với điển lễ đổi ngôi vị vua chúa thông qua việc trừ khử tượng
trưng (lúc đầu là có thật) và sự phục sinh của quốc vương- phù thủy (từ đây xuất hiện motif “chúa thể
trong giây lát” và “vật hiến sinh”- nhân vật thay thế trong nghi lễ),… [55,127]. Từ đó nhân vật này
kết nối hệ thống những lễ hội, những nghi thức tôn tụng tạm thời tạo điều kiện cho sự phá hủy giá trị
về sau của ông lão. Nằm ở trung tâm tiến trình này là yếu tố kỳ ảo, do đó nhân vật được chú ý và tạo
xung quanh mình những lễ hội, không khí quảng trường… yếu tố này cũng thể hiện bằng nhân vật. Đó
là một vị tiên mắc đoạ, một con người đa mang huyền lực. Đó là khâu nối tư duy thực ảo của nhân loại
nói chung và châu Mỹ Latin nói riêng trong quá trình truy tầm cầu nối hai bờ thực ảo trong đời, trong
mơ.
Thứ đến, truyện ngắn của Marquez có khá nhiều hồn ma. Có những hồn ma được thể hiện trực
tiếp như Lần thứ ba an phận, Nữ thần Eva ở ngay trong con mèo của nàng, Ai đó đã làm rối những
bông hồng; hoặc gián tiếp như trong Những bóng ma tháng tám. Đặc điểm chung của các bóng ma này
không nhằm mục đích gây kinh hãi cho người đọc như các truyện kinh dị, văn chương gothic nhưng là
phương tiện tập trung nhất để thể hiện sự cô đơn. Trong lời nói đầu Doce cuentos peregrinos, Marquez
đã từng tâm sự về giấc mơ thấy mình chết đi và nỗi cô đơn khi không thể đi theo mọi người, không thể
chia sẻ cùng ai khác. Những hồn ma ở nhiều dạng khác nhau của Marquez đều thể hiện cảm giác cô
đơn này. Đó là sự bất lực của nhân vật xưng tôi trong Lần thứ ba yên phận khi rất muốn nói với mọi
người rằng anh ta vẫn cảm giác được nhưng không thể. Đó là cảm giác của nhân vật tôi khi muốn lấy
đi những bông hồng nhưng lại đành phải chờ người con gái đi khỏi và vẫn chờ đến ngày nàng chết để
có thể chia sẻ rằng ai đã làm rối những bông hồng. Cũng không mấy võ đoán khi lý giải bóng ma của
Ludovico trong tòa lâu đài vẫn lang thang tìm sự yên bình và đem những người khách vào phòng gây
án như một nỗ lực để giãi bày câu chuyện nhằm xóa bỏ nỗi cô đơn. Trường hợp Nữ thần Eva thì nỗi cô
đơn càng rõ rệt, nàng đau khổ vì vẻ đẹp tông truyền của mình và những mong vứt bỏ nó, nàng mong
nhập vào con mèo để ăn một quả cam nhằm xóa đi nỗi giày vò mà chỉ mình phải chịu. Từ cái tên Eva,
người ta nhận ra rằng khao khát muốn chia sẻ của người nữ đầu tiên trong Kinh Thánh đã không ngừng
thôi thúc nhân vật của Marquez, khiến bóng dáng quả táo vẫn được lưu giữ tuy dưới dạng quả cam.
Bên cạnh đó, sự cô đơn còn biểu hiện ở dạng nhân vật hồn ma của Marquez bằng cách tác giả đan cài
những nhân vật khác như người nữ trồng hoa hồng trong Ai đó đã làm rối những bông hồng hay đứa bé
trong Nữ thần Eva ở trong con mèo của nàng. Đó là những điểm đến trong tâm hồn các bóng ma, như
ông lão Santiago của Hemingway trong gian khổ vẫn mong có cậu bé Manoline.
Tóm lại, những bóng ma trong truyện ngắn của Marquez hiện lên như những nhân vật cô đơn cần
được chia sẻ nhất; đó là những nạn nhân của trí nhớ, là quá khứ trong cái đối cực với hiện tại cuộc
sống, là nơi nỗi cô đơn vẫn không nguôi đày đọa con người. Nhắc đến những nhân vật của cõi chết,
yếu tố kỳ ảo của Marquez vẫn luôn hướng về cõi sống, về cuộc đời.
2.2.4. Người chết
Trong tác phẩm của Marquez có sự xuất hiện nhân vật người chết. Đây là một dạng đặc biệt có
tính chi phối cao đến các thành tố nghệ thuật khác. Nhờ tính chất của dạng nhân vật xác chết mà yếu tố
kỳ ảo càng có điều kiện bộc lộ hết khả năng, qua đó có thể soi chiếu quan điểm về nhân sinh quan, về
khung giá trị định giá con người của Marquez và Mỹ Latin. Miguel Reale (1910) triết gia người Brazil
đã trình bày khuôn giá trị trong lĩnh vực cái nên là trong quyển Filosofia do direito [chuyển dẫn từ
88,198]
Đối tượng tự nhiên Vật chất Cái đang là Đối tượng Đối tượng lý tưởng Tâm lý văn hóa Cái sẽ là – giá trị
Như vậy, cái hoàn tất văn hóa phải là cái đang là lẫn sẽ là. Văn học với tính văn hóa của mình hướng
đến tất cả những đối tượng tâm lý lẫn vật chất, những xác người trong tác phẩm văn học tuy không còn
thể hiện tâm lý nhưng vẫn mang một tác động, một ý nghĩa nghệ thuật nhất định. Vì thế, Marquez
thường nâng các đối tượng xác chết với vị thế là đối tượng tự nhiên thành những đối tượng lý tưởng;
thậm chí những xác chết còn đẹp hơn cả người sống như trong Người chết trôi đẹp nhất trần gian, hay
tốt hơn cả khi còn sống như trong Balacaman- Người hiền bán phép tiên : “y từng là người ướp xác
các vị phó vương và người ta đồn rằng y đã tạo cho thây ma các vị này một bộ mặt tươi tỉnh và oai vệ
mà trong nhiều năm những thây ma ấy đã lãnh đạo quốc gia còn tốt hon chính các vị lúc sinh thời…”
[55,334]; hay xác chết kỳ diệu của Thánh Bà:
Đó không phải là một xác ướp khô quắt như những thứ từng được thấy ở không biết bao nhiêu
viện bảo tàng trên thế giới mà là một cô bé mặc váy áo cô dâu đang ngủ ngon lành một thời gian
dài ở dưới lòng đất. Da căng mọng và ấm áp, đôi mắt mở to thật là trong, gây ta cho cảm giác
bức xúc rằng từ cõi chết nó đang nhìn chúng ta. [52,59]
Nhân vật xác chết ứng vào khuôn giá trị, dễ dàng trừu tượng hóa các tính chất tâm lý và không khó tìm
ra con đường đến văn hóa. Dạng nhân vật này mang ba ý nghĩa đặc biệt trong truyện ngắn Marquez.
Dạng nhân vật xác chết là điểm cuối của chu kỳ nhân vật, đó là sự thoái hóa các giá trị của con
người. Từ đó có thể phân biệt những cái chết thể xác và những cái chết tâm hồn. Khi thể xác chết đi thì
người ta vẫn còn có thể giữ được vẻ đẹp cho nó nhưng dù còn sống mà linh hồn đã mục ruỗng như
người bà bất lương hay Blacaman thì vẫn không khác gì thây ma, xác chết đáng sợ nhất. Đặc biệt,
trường hợp người chết trôi đẹp nhất trần gian là sự trở ngược về quá khứ, mang dấu vết Kinh Thánh,
thể hiện sức mạnh của ngôn ngữ và hành động. Con người hiền lành với một tâm hồn đẹp thì dù chết đi
vẫn là xác chết đẹp nhất trần gian có sức mạnh thu hút hơn cả người sống khiến cho các cô các bà
trong làng phải ganh tỵ và thầm so sánh với các ông chồng của mình.
Dạng nhân vật này là sự nối kết các nhân vật khác trong viễn cảnh chi phối bởi sự cô đơn. Xác
chết là dạng cô đơn nhất khi không còn quan hệ tiếp cận với thế giới bên ngoài. Vì thế, dạng nhân vật
này kêu gọi sự quan tâm, sự tiếp nhận của người khác. Trong Người chết trôi đẹp nhất trần gian người
được định danh là Estebal không khẳng định hay phủ nhận các thông tin về mình, anh ta được xác định
từng phần, từng phần một bằng những giả định mà người ta không ngần ngại gì biến nó thành các tiền
giả định. Các bước này chính là mô phỏng lại quá trình tạo thành ký hiệu mang nghĩa của cái kỳ ảo. Đó
là tính chất thứ ba, hướng đến người lập và người nhận ký hiệu. Ở góc nhìn này, dạng nhân vật xác
chết Estebal là một ký hiệu được nhà văn tạo lập và được các nhân vật đóng vai trò người nhận tiếp thu
và nhận định qua hai giai đoạn cơ bản- phủ định và khẳng định. Đây là hai mặt của vấn đề, là nhị
nguyên luận không lối thoát, là cái bóng ám ảnh của mối quan hệ thực ảo vẫn đeo đẳng tư duy con
người từ ngàn xưa. Cụ thể, trước tiên họ nhận định anh là người lạ mặt, thứ đến họ nghĩ anh là người
có mãnh lực lớn, nhận định anh có khuôn mặt của Estebal, suy nghĩ về nỗi bất hạnh và thể hiện tình
yêu của họ với anh [bảng 2.1]. Quá trình tiếp nhận Estaban chính là sự kết nối cộng đồng trong ngôi
làng biệt lập này. Đây là những con người tự giam cầm mình trong đời sống giới hạn ở khu làng nhỏ
đến nỗi không có nghĩa trang, dân số ít đến mức người ta có thể dễ dàng nhận dạng lẫn nhau. Estaban
chính là đối tượng, là chất xúc tác kết nối cộng đồng này: một người chết trôi lũ trẻ phát hiện, người
lớn đem về làng, đàn ông thì đi xác định nhân thân, đàn bà chăm sóc người chết, người già nhận ra
Estebal, người trẻ khóc lên tiếng đầu tiên; dân làng nhận anh làm con, làm anh, làm em,… Thế là nhờ
có anh mà cả làng này bỗng chốc trở thành những người ruột thịt của nhau. Sự kết nối này chính là
phương thức chống lại nỗi cô đơn cá nhân.
Một điểm nhỏ khi quan sát truyện Người chết trôi đẹp nhất trần gian, người ta có cảm tưởng cô đơn từ
bản tiếng Việt:
Có một vật màu xám mang vẻ bí hiểm từ ngoài khơi đang dạt vào bờ. Những đứa trẻ nhìn thấy nó,
lúc đầu tưởng là một chiếc tàu địch. Nhưng sau thấy nó chẳng treo cờ cũng chẳng có hệ thống cột
buồm, chúng lại nghĩ rằng đó là con cá voi… [53,145]
Điểm nhìn tuy vẫn xuất phát từ bọn trẻ nhưng đặt trong tâm ngay bản thân một vật màu xám mang vẻ
bí hiểm, còn nguyên bản thì bắt đầu bằng lũ trẻ
Los primeros niños que vieron el promontorio oscuro y sigiloso que se acercaba por el mar, se
hicieron la ilusión de que era un barco enemigo. Después vieron que no llevaba banderas ni
arboladura, y pensaron que fuera una ballena. [79,114]- Những đứa trẻ đầu tiên thấy những bộ
phận lồi của một cơ thể xám ngắt và bí hiểm đang dạt dần vào từ biển đã tưởng rằng đó là con tàu
địch. Nhưng sau đó chúng thấy rằng nó chẳng có cờ cũng không có cột buồm nên đã tưởng đó là
cá voi.
Không có một câu riêng biệt đề cập đến vật lạ mà thật ra từ đôi mắt quan sát của lũ trẻ. Bởi một lẽ đơn
giản mà thống nhất về sau, xác chết không thể tự mình tiết lộ, không mang giá trị vật chất lẫn tâm lý
mà phải được tiếp nhận và phụ thuộc vào tri nhận của người khác, đó có thể là sự thụ động hoặc bất
lực; lũ trẻ được nhấn mạnh để thấy được vai trò quyết định của tri nhận, của con người trong quá trình
tiếp nhận các giá trị văn hóa, các vấn đề liên quan đến con người.
Cuối cùng, dạng nhân vật xác chết là khát vọng của con người bằng sức mạnh của cái kỳ ảo vượt
thoát khỏi cái cô đơn. Điều này thể hiện trong Người chết trôi đẹp nhất trần gian, bà vợ ông lão trong
Biển của thời đã mất. Trước hết các xác chết đã trở nên đẹp đẽ hoặc đang bơi trong dòng nước kéo
theo một dãi hoa tươi với dáng hình rực rỡ hay vẻ đẹp to lớn khỏe mạnh,... chính là những ước mơ đẹp
nhất mà nhân loại có thể mơ về tương lai của mình, về những người xung quanh. Thứ đến, những xác
chết ấy là điều kiện, là phép lạ để người sống xích lại gần nhau hơn. Nhờ xác chết của Estebal mà cả
làng trở thành anh em, thành người nhà, cùng sửa sang lại nhà cửa và sống trong yên bình cũng như
niềm vui; nhờ xác chết Thánh bà mà những con người bơ vơ ở Rome có thể quan tâm và chia sẽ với
nhau, thế nên dù xác chết có được phong thánh hay không thì phép lạ từ đó đã lan tỏa và biến đổi cuộc
đời theo hướng tốt đẹp hơn.
Tóm lại, thông qua việc khảo sát bốn nhóm nhân vật chúng tôi có những nhận định sơ khởi như
sau:
Thứ nhất, yếu tố kỳ ảo là đặc điểm khu biệt các nhân vật của Marquez. Những người thú thì nắm
quyền lực tuyệt đối, những người công cụ thì bất lực; người tiên thì gần như bị trần tục nghiền nát;
người già băn khoăn mãi về những điềm báo và những xác chết thì luôn tươi đẹp hơn cả người sống.
Bản chất của hệ thống nhân vật này là sự hoài nghi một thế giới hậu hiện đại đang hỗn loạn mà Mỹ
Latin là điển hình. Con người cô đơn nhìn tất cả trôi qua theo quy luật trò chơi của nó, nhưng trò chơi
này thực đến nỗi người ta phải nghi ngờ và tự vấn bản chất, những con người hằng ngày của tiểu tự sự,
cảm nhận nỗi cô đơn thân phận, đặc biệt là trong quy chiếu đến không gian và thời gian.
Thứ hai, nhân vật, hay chính là phần thỏa hiệp với quy chuẩn xã hội dường như phai nhòa trong
các nhân vật của Marquez. Những con người này luôn trong tình thế có vấn đề với xã hội; phần bản
ngã luôn cao hơn cái siêu tôi. Tuy nhiên vì không phải là nhân vật tâm lý nên họ thường chỉ mang
những nét khu biệt nhất: một ông lão có đôi cánh khổng lồ, một Pelayo mang mùi hương bị cua biển
bám theo mãi, hay Blacaman- kẻ đầu cơ cái kỳ ảo, hai đứa trẻ Toto và Hoen đam mê và chết ngay
trong trí tưởng tượng của mình,… Chính bộ phận truyện ngắn đã giải thích và phủ định nhận xét rằng
nhân vật của Marquez gần với chủ nghĩa tự nhiên, chỉ mang những nét tính khí chứ không phải tính
cách. Phi tính cách, như vậy, cần phải được hiểu trong trường của chủ nghĩa hậu hiện đại, còn những
nét tính cách được khắc họa riêng biệt không chỉ là tính khí gắn liền với cái tôi ham muốn dục vọng mà
còn có bề sâu văn hóa và bề rộng xã hội.
Thứ ba, lưu ý đến con đường vận động của nhân vật cũng là một góc nhìn thú vị. Nếu nhận định
về bản thể, tức về con người là cái đang có thì nhận định giá trị là cái sẽ có. Đây là hành trình đi lên
của con người tư duy nói chung và nhân vật Marquez nói riêng. Hành trình đi từ hiện thực những
người thú, người thuần túy chủ thể đi tìm sự tư duy trong những linh âm linh dương là những bậc hiền
nhân nhưng vẫn không thể giải quyết vấn đề tư duy một khi còn hiện tồn; người ta hướng đến cái hoàn
hảo, tốt đẹp là người tiên nhưng cũng không thoát khỏi vấn đề như mạng nhện giăng ra này, người tiên
cũng phải bỏ đi, chỉ còn lại người chết- với hy vọng cuối cùng là chống lại cái chết. Đến đây rõ ràng là
cảm thức nhân loại đối mặt với hành trình tư duy cũng khám phá ra cái bi kịch, vấn đề muôn đời- sống
và chết. Người ta sợ hãi nhưng vẫn không thể chống lại cái chết, thế nên phải chấp nhận nó và chuyển
hướng đấu tranh với cái tàn phai. Con người đi đến tận cùng cái thực chứng để phản kháng nó bằng
phương thuốc tinh thần, đó là cứu rỗi cái đẹp khỏi tàn phai- đây cũng là triết lý chung của nghệ thuật.
Thứ tư, phân loại các dạng nhân vật trong truyện ngắn kỳ ảo của Marquez, có thể nhận ra ba
nhóm chủ yếu gồm nhân vật tư tưởng, nhân vật loại hình và nhân vật chức năng. Chúng tôi không nhận
thấy nhân vật tính cách trong hệ thống truyện được khảo sát này, và nếu mở rộng phạm vi thì khả năng
xuất hiện của dạng nhân vật này dưới sức ép của tư duy hậu hiện đại trong truyện ngắn cũng không
cao. Như chúng tôi đã trình bày, truyện ngắn của Marquez không phải là dạng truyện hướng vào đời
sống tâm lý nhân vật, vì thế các nhân vật có khuynh hướng bị phi trung tâm hóa (giải nhân cách hóa-
depersonalization); phạm trù nhân vật hiện tồn chủ yếu là dạng nhân vật chức năng bên cạnh những nét
vỡ của dạng nhân vật loại hình và nhân vật tư tưởng là mờ nhất. Thật ra hai dạng nhân vật này xuất
hiện dưới dạng xác suất ngày càng thấp, nhiều khi thể hiện ở đó nhưng rồi lại mất ở ngay chỗ đó.
Dạng nhân vật người già thể hiện bóng dáng của kiểu nhân vật tư tưởng, có khi đây thật ra là ngụy
trang của tác giả nên tính tư tưởng thể hiện cũng gián tiếp. Bên cạnh đó, có thể nhân thấy dạng người
thú, người công cụ trong truyện ngắn kỳ ảo của Marquez nằm trong nhóm nhân vật loại hình. Nổi bật
nhất vẫn là nhân vật chức năng, xuất hiện trong tác phẩm chỉ nhằm thực hiện một số vai trò nhất định,
thể hiện bằng hình tượng nhân vật người tiên, hồn ma và xác chết. Các nhân vật chức năng này thể
hiện không phải bản thân mà là chức năng của mình trong hệ thống, giá trị của loại này chỉ đạt được
thông qua tính thống nhất võ đoán trong những mối quan hệ. Đó là hiện hình của cảm quan hậu hiện
đại rõ nhất trong truyện ngắn Marquez, là kết quả của giải nhân cách và bất tín nhận thức, là sự phá sản
của tính cách truyền thống mà như Brooke-Rose đã chỉ ra năm nguyên nhân cơ bản gồm: khủng hoảng
nhận thức luận, sư suy thoái của xã hội tư sản và thể loại tiểu thuyết, sự xuất hiện của truyền miệng thứ
sinh, sự tăng trưởng uy tín các thể loại phổ cập và tính bất khả thi của các phương tiện nghệ thuật của
chủ nghĩa hiện thực trong việc truyền đạt kinh nghiệm thế kỷ XX với toàn bộ sự kinh hoàng và điên rồ
của nó [03,20].
2.3. Không gian nghệ thuật
Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Marquez thường lấy bối cảnh ở châu Mỹ Latin, chủ
yếu là vùng biển Caribbe thuộc các khu vực như Bắc Colombia, Bắc và Đông bắc Venezuela cũng như
đất nước Mexico ba mặt giáp biển. Đây là ba quốc gia mà nhà văn Marquez có cơ hội sống và làm việc
trong những khoảng thời gian khác nhau của cuộc đời. Hơn phân nửa lãnh thổ chưa hề có bước chân
con người và điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt không thể sinh sống của Colombia chính là nguyên
mẫu cho những ngôi làng biệt lập, huyền dị trong sáng tác của Marquez.
Không gian Mỹ Latin là nền tảng cho yếu tố kỳ ảo và cảm quan của nhà văn. Như ông từng viết
trong diễn từ nhận giải Nobel:
Antonio Pigafetta, một nhà hàng hải Florentine từng đi cùng Magellan trong chuyến vòng quanh
thế giới đầu tiên, khi chu du qua các vùng đất phía nam châu Mỹ đã viết một bản du ký cực kỳ
chính xác nhưng dẫu sao vẫn giống một cuộc dấn mình táo bạo vào hư cấu. Trong du ký đó ông
ta viết rằng đã thấy những con lợn có rốn trên hông, những loài chim không có vuốt mà con mái
đẻ trứng trên lưng con trống, lại còn những loài khác giống con bồ nông không có lưỡi, mỏ thì
giống như cái thìa. Ông ta viết rằng đã thấy một sinh vật dị hình dị tướng, đầu và tai la, thân lạc
đà, chân hươu, bờm ngựa. Ông ta mô tả rằng khi người dân bản địa đầu tiên của vùng Patagonia
gặp một tấm gương, anh chàng khổng lồ sôi nổi nồng nhiệt đó đã bất tỉnh vì kinh hoảng khi nhìn
thấy hình ảnh của chính mình [48].
Tuy vậy, không gian trong văn chương nói chung và truyện ngắn kỳ ảo của Marquez nói riêng
phải được ý thức như một hình tượng nghệ thuật.
Không gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và triển khai
của thế giới nghệ thuật. Nếu thế giới nghệ thuật là thế giới của cái nhìn và mang ý nghĩa thì
không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn, cách nhìn [66,42].
Không gian nghệ thuật của truyện ngắn Marquez là một mô hình phản ánh không gian thế giới
hiện thực được quan niệm theo kiểu của tác giả. Các yếu tố hợp thành không gian được cơ cấu lại tạo
một tổng thể chung, trong đó các đặc điểm khái quát nhất sẽ được khuếch đại, hiện lên nổi bật trong
tổng thể. Có nghĩa là bản thân hình tượng không gian cũng mang cơ cấu riêng mình trong việc định ra
một phạm vi riêng của nó. Như Iu.M.Lotman đã viết trong công trình Cấu trúc văn bản nghệ thuật
[44,377-378].
Khi xem xét một tổng hợp của những đối tượng nào đấy với tư cách không gian thì người ta bỏ
qua tất cả những đặc tính của các đối tượng này, trừ những cái được xác định bởi các quan hệ
tương tự các quan hệ của không gian thông thường.
Vì thế không gian biển xuất hiện ở đây theo nghĩa khác với biểu tượng biển sẽ được triển khai sau đó.
Ở đây biển được xem xét trong mối quan hệ về không gian, nó đóng vai trò như một hình tượng vừa là
tổng thể vừa là một điển hình.
Đi vào cụ thể, chúng tôi sẽ khảo sát không gian làng, không gian biển và không gian phiêu dạt.
2.3.1. Không gian làng
Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra hình ảnh của làng Aracataca được vận dụng và biến đổi thành
làng Macondo trong tác phẩm của Marquez, đó là một thực tế. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các ngôi làng
trong truyện ngắn của Marquez dù là có tên hay vô danh đều mang một đặc tính chung, đó là biệt lập.
Những ngôi làng khép kín này có thể lần về hoàn cảnh địa lý của quê hương tác giả cũng như những
điển thể trong văn chương Mỹ Latin mà nổi bật nhất là ngôi làng hẻo lánh đầy những hồn ma trong
Pero Paramo của Hoan Rulfo. Hình ảnh ngôi làng khép kín, xa lạ với không gian bên ngoài chính là sự
thể hiện tập trung nhất của nỗ cô đơn gắn chặt với không gian. Vì thế, không gian làng của Marquez
nếu không phải là làng khắc nghiệt trong Thần chết thường ẩn sau ái tình thì cũng là ngôi làng trong
quá trình tàn phai của Biển của thời đã mất,...
Như vậy, không gian làng là một mã gắn kết với quá khứ, đó là sự quẩn quanh của những bóng
ma không nguôi nhớ tưởng, không tự dứt mình được, dạng quá khứ như những giấc mơ, như sự khai
ngộ và thời đã qua thể hiện trong dạng không gian này. Đó là không gian làng nhỏ bé theo kiểu: “Làng
này chỉ có khoảng hai mươi nóc nhà lá, sân lủng cũng những sỏi cùng đá chẳng có bồn hoa mà cũng
chẳng có cây ăn quả. Những ngôi nhà này được dựng lên trên một doi đất đã heo hút lại rất hẹp đến
nỗi mỗi bận đi vắng các bà mẹ đếu lo gió thổi con mình ra biển. Làng hẹp đến nỗi không có đất để mai
táng người chết và buộc phải ném tử thi xuống vực biển.” [53,146]
Không gian làng quẩn bách, tạo hướng vượt thoát- một là ra đi, hai là giải quyết bằng cái chết-
tính chất hung bạo của làng không êm ả mà dữ dội. Vì thế truyện ngắn Marquez thường mang một
giọng điệu day dứt, trăn trở. Từ đó hình thành một hướng mở đến một dạng không gian khác, đó là
không gian biển.
2.3.2. Không gian biển
Trong khi địa hình khu vực Trung và Nam Mỹ nổi bật lên với dãy Andes như tấm lá chắn ở sườn
phía Tây thì không gian nghệ thuật trong tác phẩm Marquez nói chung và trong truyện ngắn của ông
nói riêng đều xoay quanh khu vực miền biển, bởi lẽ trong hồi ký Sống để kể lại ông nhiều lần khẳng
định mình không thích thứ khí hậu lạnh và khô ở miền cao nguyên cũng như tự nhận mình là cậu học
trò miền biển. Quê hương Marquez- Colombia- là đất nước duy nhất ở Nam Mỹ có bờ biển tiếp giáp
với Thái Bình Dương và Caribbe, lãnh thổ Colombia vươn ra đến 08 đảo nhỏ gồm Gorgora, Gorgonial,
Malpelo nằm ở Thái Bình Dương; San Andres, Providencia, San Bernando, Islas del Rosari và Isla
Fuerte ở biển Caribbe. Vì thế không khó nhận thấy hướng vận động ra biển trong hệ thống không gian
nghệ thuật của nhà văn người Colombia này. Trong truyện ngắn Marquez ít thấy khu vực vùng cao,
nếu có thì cũng không phải là thành phố lớn mà là những khu vực hoang hóa, Marquez hướng về đa số
thành phần nhân dân, những người của khí hậu nhiệt đới, khắc nghiệt, những không gian thử thách con
người trong cuộc thành toàn nhân cách bản vị. Những thành phố lớn thì lại xuất hiện ở châu Âu (trong
nhóm truyện ngắn phiêu dạt của ông). So với không gian làng thì không gian biển là sự khai mở vừa
quá khứ, vừa hiện tại lẫn tương lai- là mơ ước hoàn thiện nhất, là căn nguyên và chôn giấu những điều
kỳ ảo.
Không gian biển trong Biển của thời đã mất là nơi mà Herbert đã dẫn Pelayo xuống kiếm thức ăn. Biển
hiện ra như là không gian trầm tích nhiều lớp người chết có cũ có mới; có cả một ngôi làng bị chìm
xuống biển,… Dưới đáy có nhiều lớp rùa béo hàng ngàn năm trầm tích… trên tất cả biển là nơi phát
tích mùi hương hoa hồng. Những yếu tố kỳ ảo này làm cho biển như là kho báu vô tận chứa đựng
những giá trị vật chất lẫn phi vật chất. Không gian biển trong Ông lão có đôi cánh khổng lồ là nơi kỳ
diệu mà người ta chấp nhận và dùng để giải thích cho tất cả mọi điều kỳ ảo xảy ra. Trước hết người ta
xác định giọng ông lão là thủy thủ ở một vùng biển xa xôi nào đó; sau cùng khi ông lão bay đi thì chỉ
còn là một chấm nhỏ nơi biển cả. Ông lão đã ra đi về phía biển… Như vậy, không gian biển là nơi hứa
hẹn tất cả mọi khả năng kỳ ảo của truyện ngắn Marquez.
Bên cạnh đó, không gian biển là sự tương hợp. Trong ý nghĩa này biển là điểm đến cuối cùng của
những tâm hồn cô đơn- có thể là về biển, có thể là nơi nuôi dưỡng, mà cũng có thể là nấm mồ. Chính
biển cung cấp rùa để nuôi sống vợ chồng Tobías và Herbert; biển là nơi người ta chôn người chết như
trong Biển của thời đã mất; biển là nơi người ta có thể hồi sinh để bơi theo dòng hoa rực rỡ về phía có
ánh sáng… Như vậy, biển hứa hẹn những giải thoát quan trọng nhất của con người về vật chất lẫn tinh
thần.
Không gian biển là cái nền cho các nhân vật truyện ngắn hoạt động và ước mơ. Khi bị cô lập
trong không gian làng thì người ta hướng đến cái rộng lớn bao la của biển. Nhưng biển với tư cách một
không gian lại hàm chứa cả sự sống và cái chết, là hứa hẹn lẫn thử thách. Và trong hành trình từ làng
đến biển, có một lúc nào đó người ta muốn vượt thoát xa hơn, có thể là trước khi đến biển, cũng có thể
là sau khi vượt qua biển,… khi đó một dạng không gian khác xuất hiện, đó là không gian phiêu dạt.
2.3.3. Không gian phiêu dạt
Mảng không gian này chính là nền tảng cho tập truyện ngắn Doce cuentos Peregrinos. Không
gian này không đưa nhân vật đến đâu khác mà lại là một vòng luẩn quẩn không lối thoát như Marquez
đã trình bày trong lời nói đầu:
Không một nơi nào trong các đô thị đó còn liên quan đến các hồi tưởng của tôi. Qua bao tang
thương dâu bể, tất cả các đô thị đó, cũng như cá châu Âu ngày nay, đã trở nên lạ lùng. Những
hồi ức thực sự hình như đã trở nên những bóng ma trong khi những hồi tưởng giả trá lại đầy sức
thuyết phục đến độ chúng thay thế cho thực tại. Điều này có nghĩa là tôi đã không thể nhìn rõ
được lằn ranh phân cách giữa ảo mộng chán chường và niềm hoài niệm quá khứ. Đấy là một giải
pháp dứt khoát [80,04].
Tìm đường thoát nhưng lại rơi vào một cái khắc nghiệt khác khi bóng ma quá khứ không tha, những
niềm tin từ xa xưa tạo nên thế giới bao quanh con người, không còn yên bình, mất gốc nên cứ phải
hành động, phải di chuyển để chứng minh sự tồn tại. Đây là vấn đề với các nhân vật phải va vào loại
không gian phiêu dạt. Đó là loại không gian xa lạ của nước ngoài, nơi mang bóng dáng những thứ phi
lý của chế độ quan liêu mà Kafka từng đề cập đến trong Vụ Án nay lại xảy ra cho Billy Sanchez trong
bệnh viện với những thứ luật lệ về giờ thăm bệnh và thủ tục. Đó là không gian làng Cadaket với thứ
ma lực của cơn gió hung tàn đã ám ảnh các nhân vật như là dấu hiện của thần chết khiến không ai dám
quay trở lại đây một lần nữa và thậm chí có người đã phải nhảy xuống vực để tránh một cái chết được
báo trước.
Trong không gian phiêu dạt, khác với dự đoán của chúng tôi, đã không xuất hiện hình ảnh con
đường thường gắn liền với vận động. Không gian nghệ thuật của Marquez thường tĩnh tại là vì thế,
“Hình thế địa lý là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến giao thông vận tải ở Colombia. Địa hình của dãy
Andes và những vụ sạt lở đất do mưa lớn ở những vùng cao nguyên dân cư đông đúc đã gây khó khăn
cho việc đi lại bằng đường bộ và đường sắt, và làm cho việc xây dựng đường sá ở đây rất tốn kém…”
[37,59]
Dạng không gian phiêu dạt là sự soi chiếu và đánh giá quá khứ hiện tại, bên trong và bên ngoài- cuộc
chiến trở vào bên trong, không còn như quẫn bách của làng nữa- người ta không muốn bị kẹt lại ở một
nơi xa lạ nhưng suy nghĩ trở về cũng không mấy sáng sủa hơn- thế nên họ hy vọng một không gian
mới bằng giọng điệu băn khoăn, tiếc nuối xa xăm có phần ngậm ngùi.
Thông qua bảng 2.2. đối sánh không gian phiêu dạt với quê nhà, có thể thấy không gian châu Âu được
khai thác nhiều nhất là Ý và Tây Ban Nha. Một nơi là trung tâm văn hóa nghệ thuật của châu Âu, có
tòa thánh Vatican và các mối liên hệ với Giáo hoàng, người đứng đầu Thiên chúa giáo là hệ tư tưởng
chính thống và trong một thời gian dài có gắn kết trực tiếp với chính trị của Colombia. Một không gian
khác là Tây Ban Nha, nơi phát xuất thứ ngôn ngữ, nền tảng văn hóa mà các nước Mỹ Latin hấp thu
trong hơn mấy trăm năm và cảm thấy như mình thuộc về nơi đó. Hai không gian châu Âu nhưng lại có
mối quan hệ nhất định với những con người Mỹ Latin, vì thế, xuất hiện trong nhiều tác phẩm cũng là
điều dễ hiểu.
Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy tác giả chủ yếu hướng đến nguồn gốc Colombia của các nhân vật. Lẽ
tất yếu, trong không gian phiêu dạt thì quê nhà luôn là điều người ta nhớ nhất vì thế tự khắc nó gắn với
nguồn gốc các nhân vật như một sự soi chiếu của tác giả.
Tóm lại, thông qua khảo sát các loại không gian trong truyện ngắn Marquez có thể nhận thấy rằng
loại địa hình Colombia gợi lên nhiều suy nghĩ và bản thân không gian cũng mang tính tư tưởng. Chúng
tôi xác định có một đường dây nối kết lẫn nhau giữa các loại hình không gian. Không gian làng là điểm
xuất phát, là quá khứ hay hiện tại trễ (liên quan đến dạng không gian tù đọng); không gian biển là điểm
đến, là tương lai và không gian phiêu dạt là trạng thái trung gian, quá độ- là cái quá khứ đã qua và
tương lai chưa đến. Không gian phiêu dạt cũng là nguồn gốc của dạng không gian bất định được dựng
nên trong mơ, trong những chiều kích mờ ảo, nơi ấy nhà văn chỉ đối diện với thời gian- để nhìn rõ
hoàn cảnh cô độc của mình và nhân loại. Trục không gian được Marquez chú ý là trục ngang theo
chiều Tây sang Đông chuyển từ không gian khép kín làng ra biển và sang các không gian phiêu dạt.
Đà vận động của tác phẩm truyện ngắn có thể được xác quyết khi so sánh với nhau như sau:
Không gian làng Không gian biển Không gian phiêu dạt
Bất động Vận động Hành động
Sống Chết Tiệm cận cái chết
Quẩn quanh Giải thoát Tìm kiếm
Tàn lụi Phong nhiêu Sản sinh dị biệt
Đơn phương Đa phương Không xác định
Bất xứng ý Hồi nhớ Đối sánh
Bên trong Ra ngoài Bên ngoài
Hiện tại Quá khứ Lưỡng lự
Thực tại Phi thực Phi phi thực
Các mảng không gian tất yếu được quy định rõ ranh giới không thể xuyên thấm, chỉ có dạng nhân vật
đặc biệt bước qua ranh giới- là điều kiện cho yếu tố kỳ ảo. Đó là những người tiên (Ông lão có đôi
cánh khổng lồ) xâm nhập vào đời thực hoặc người chết đối với cuộc sống (Nữ thần Eva ở trong con
mèo của nàng, Lần thứ ba yên phận, Bóng ma tháng tám). Hướng ngược lại là những nhân vật người
sống vượt ranh giới như Tobías xuống biển trong Biển của thời đã mất, hay gia đình của nhân vật xưng
tôi xâm nhập vào không gian kỳ ảo của Ludovico,… Ở đây, các mảng không gian của Marquez mở ra
theo chiều ngang, trải từ những khu vực làng biệt lập, phát triển về phía Đông để ra biển và vượt sang
bên kia đại dương đến những khoảng không phiêu dạt ở nước ngoài. Tất cả là nỗ lực của con người
chạy trốn nỗi cô đơn với sự cầu viện đến yếu tố kỳ ảo.
2.4. Thời gian nghệ thuật
Hiện thực Mỹ Latin nói chung và Colombia nói riêng chính là thứ thời gian lịch sử hắt bóng lên
toàn bộ quá trình sáng tác của G.G.Marquez. Có một đặc điểm chung cho khu vực Mỹ Latin là những
diễn biến chính trị đều diễn ra theo cùng một quy cách, bởi lẽ họ có một quá khứ lâu dài là thuộc địa
của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Từ sau khi giành được độc lập thì các nước Nam và Trung Mỹ cũng
bắt đầu trải qua vô số những biến động chính trị, xã hội,… ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống và tư
tưởng dân cư. Có thể lấy Colombia là điển hình để làm rõ cái hiện thực ngoại cỡ của cả khu vực.
Đất nước Colombia chia rẽ, nội chiến chính là nguồn gốc sâu xa của nỗi cô đơn trong truyện ngắn
Marquez, đồng thời làm cho Colombia trở thành một hiện thực khắc nghiệt. Đó là cuộc chiến Một ngàn
ngày (War of a Thousand Days) năm 1899, là Cuộc thảm sát công nhân nhà máy chuối đình công vào
năm 1928, là vụ ám sát Gaitán vào ngày 09 tháng 04 năm 1948 ở thủ đô Bogotá… Hiện thực phức tạp
của thời đại đã tạo một sức ép lên thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn và đã biến hiện thực
Colombia cũng như Mỹ Latin thành một thứ hiện thực ngoại cỡ vượt ra khỏi tầm bao quát cũng như
tưởng tượng- mầm mống của cái kỳ ảo chi phối thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn kỳ ảo của
Marquez, vì vậy, cũng định hình.
Tuy nhiên, cần phải có ý thức phân biệt thời gian hiện thực với tư cách là một diễn trình lịch đại
với thời gian với tư cách là một hình tượng nghệ thuật.
Thời gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, thể hiện phương thức tồn tại và triển
khai của thế giới nghệ thuật… là cái thời gian được cảm nhận bằng tâm lý qua chuỗi liên tục các
biến đổi (biến cố) có ý nghĩa thẩm mỹ xảy ra trong thế giới nghệ thuật. [66,62]
Như vậy, cũng như không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là một thành phần trong mô hình quan
niệm con người và thế giới của Marquez. Nghiên cứu không gian nghệ thuật chính là tìm hiểu cách
nhìn nhận và con đường mà tác giả khám phá ra thế giới theo cách riêng mình. Con đường của các nhà
nghệ sĩ hiện đại và hậu hiện đại thường là phá hủy thời gian, Marquez cũng có cách vận dụng và trình
diễn thời gian nhằm đạt được ý đồ nghệ thuật.
Thời gian nghệ thuật trước hết gắn liền với hoạt động diễn biến của hình tượng nhân vật cũng như
điểm nhìn và thời gian trần thuật. Thời gian nghệ thuật bản thân mình sẽ trở thành một hệ quy chiếu
được lắp đặt bởi nhà văn để diễn đạt và lý giải hoặc sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật mới. Chúng tôi
thiết nghĩ không cần thiết phải diễn giải nhiều về thuật ngữ khá quen thuộc này, tuy nhiên có lẽ nên
hiểu một cách khác cặp thuật ngữ truyền thống không gian và thời gian nghệ thuật. Bởi lẽ không chỉ
trong văn học sự kết hợp không - thời gian được định tính mà tư duy hiện đại đã chứng kiến sự ra đời
của mạng lưới không- thời gian như chúng tôi đã trình bày ở phần giới thiệu chung. Vì thế bên cạnh
hai dạng thời gian tuyến tính và chu kỳ chúng tôi đề xuất thêm dạng không thời gian như là một điểm
để soi chiếu thực tế và lý luận, khoa học và văn học trong trường hợp mô hình quan niệm của
Marquez.
2.4.1. Thời gian tuyến tính
Thời gian tuyến tính được dùng để kể lại câu chuyện một cách khách quan và tuần tự, nhờ đó yếu
tố kỳ ảo bộc lộ một cách tự nhiên không nhằm đến một sự nhấn mạnh nào, đó là cách kể mà Marquez
đã lựa chọn khi trình bày những chuyện kỳ ảo của mình. Ngay trong những chuyện ngắn kỳ ảo nhất,
yếu tố kỳ ảo theo dòng thời gian tuyến tính càng được Marquez bố trí trình bày đặc sắc. Đó là câu
chuyện của Ông lão có đôi cánh khổng lồ được kể tuần tự từ lúc cơn bão đẩy ông lão rơi xuống sân
nhà Pelayo rồi đến khi ông ra đi; là Ánh sáng cũng như nước với dòng thời gian trôi qua tuần tự như
đời sống. Có thể nói, với trường hợp Ánh sáng cũng như nước, nhờ tiến trình thời gian tuyến tính mà
câu chuyện gây được hiệu quả nghệ thuật cao, đó là sự tăng tiến cấp độ cái kỳ ảo theo thời gian và đỉnh
điểm là những cái chết đuối của lũ đứa trẻ trên căn nhà cao tầng mặt phố ở Tây Ban Nha.
Thời gian tuyến tính trong những truyện ngắn của Marquez là kết quả của hiện thực được phản
ánh vào tác phẩm trong dáng vẻ thực nhất nhưng cũng là kỳ ảo nhất của nó. Nhờ thời gian tuyến tính
mà tác giả có thể liên hệ sự vật, hiện tượng, nhân vật từ thực tế lịch sử xã hội, từ đời sống của nhà văn.
Câu chuyện Những bóng ma tháng Tám là tiêu biểu của dạng truyện kể thời gian tuyến tính. Đó là
những đoạn phục bút về câu chuyện của Ludovico, về mùi dâu Tây và vết máu từ cái chết của cô người
yêu chàng hiệp sĩ buồn,… nhờ đó mà câu chuyện lên đến đỉnh điểm và đi đến hồi kết. Có thể nói thời
gian tuyến tính tạo cho truyện ngắn kỳ ảo của Marquez vẻ truyền thống gần gũi với truyện kinh dị của
Poe hay truyện ngắn thiên về cốt truyện của O’Henry.
Dòng thời gian tuyến tính còn tạo điều kiện cho cái kỳ ảo thể hiện. Dù cái kỳ ảo của truyện ngắn
hiện đại không cần thiết phải lẩn tránh ánh sáng như những bóng ma, nó là một phần của cuộc sống
nên ông lão có cánh vẫn hiện diện giữa thanh thiên bạch nhật, xác chết của đứa bé mất trọng lượng tỏa
mùi hương vẫn được trưng ra cho mọi người bất kể ngày đêm. Tuy nhiên, dường như không khí đêm
vẫn mang sức thu hút yếu tố kỳ ảo mạnh nhất; vì thế mà hầu hết những yếu tố kỳ ảo nhất và để lại ấn
tượng đẹp nhất thường xảy ra vào ban đêm. Đó là những đêm ngày thứ Tư khi ông bố và bà mẹ dẫn
nhau đi xem phim thì điều kỳ diệu đã được Tobi và Hoen thực thi trong Ánh sáng cũng như nước. Hình
ảnh người đọc khó quên được là con tàu được dẫn đến làng vẫn sừng sững giữa ánh mặt trời và cao
hơn cả tháp chuông nhà thờ; tuy nhiên bản chất của con tàu ma và vụ thảm kịch của nó phải xảy ra vào
ban đêm mới thoát ẩn thoát hiện và tạo được bầu không khí thích hợp [53,350]:
Và con tàu mang theo cái không khí chết chóc của chính nó, mang theo cái thời gian nhưng đọng
của nó, mang theo cái bầu trời trống rỗng của nó, mang theo cái biển cả trôi nổi không định
hướng trong đó bềnh bồng nổi lên cả một thế giới những con vật chết trôi, nhưng rồi bỗng nhiên
tất cả những thứ đó biến mất khi ánh sáng xanh ngọn đèn pha rọi tới và cái biển ấy lại biến thành
biển Caribbe trong suốt, với chính cái đêm tháng tư ấy.
Cái kỳ ảo qua thời gian đã có một mối liên hệ đặc biệt với bóng đêm, đó là khi người ta sống không
bằng thị giác, lý trí mà bằng cảm giác và tưởng tượng, đó là khoảng thời gian mở ra tất cả những khả
năng, những ước mơ cũng như ám ảnh nhất cho con người. Vì thế mùi hương hoa hồng ban đầu chỉ có
thể xuất hiện vào ban đêm để bà lão Petra cho đó là điềm báo tử cũng như thời gian cho nữ thần Eva
đau đớn vì những con bọ đục khoét trong máu mình chỉ có thể là ban đêm.
Kết quả của dạng thời gian tuyến tính là hướng đến điểm hoàn kết mà các nhà nghiên cứu văn học Mỹ
Latin thường định danh là phức cảm khải huyền. Soi vào huyền thoại thì đó là con đường ngược lại của
các huyền thoại sáng tạo. Nếu như theo chiều thứ nhất, mọi vật được tạo tác do các vị thần, được sắp
đặt ổn định vào thời gian huyền sử ban đầu... Đó là huyền thoại sáng thế. Theo hướng ngược lại, tất cả
bị phá hủy vào một ngày chung cục, đó có thể là đại hồng thủy trong Kinh Thánh, là cơn cuồng phong
cuốn đi tất cả không chừa lại gì ở làng Macondo. Đó là huyền thoại mạt thế nhằm giải thoát các sức
mạnh tự phát của hỗn mang hoặc làm suy yếu cấu trúc vũ trụ,… [55,300]
Như vậy, cảm thức khải huyền trong truyện ngắn Marquez nói riêng và tư tưởng Mỹ Latin nói chung
chính là niềm khao khát sự tái sinh, sự tiếp nối từ những chu kỳ, được dự phần vào những vinh quang
mặc khải mà tổ tiên họ từng có được. Vậy điểm kết của thời gian tuyến tính thể hiện bằng cảm thức
khải huyền chính là thời gian chu kỳ.
2.4.2. Thời gian chu kỳ
Có thể nói thời gian chu kỳ và thời gian tuyến tính là hai hệ hình phân biệt mô thức tư duy
phương Tây và phương Đông. Trong nền văn hoá Tây Âu, thời gian được biểu thị bằng hình ảnh thần
Kronos một tay cầm đồng hồ cát thể hiện dòng thời gian trôi chảy bất tận, tay còn lại mang lưỡi liềm
tượng trưng cho thời gian bị phân đoạn thành các phạm trù quá khứ, hiện tại, tương lai. Đó là quan
điểm thời gian theo kiểu tuyến tính chỉ chảy xuôi một chiều được biểu diễn bằng một đường thẳng bắt
nguồn từ vô thủy và chạy thẳng đến vô chung. Ngược lại, thời gian trong nền văn hóa phương Đông
được xem như chuyển động theo hình tròn bởi những chu kỳ nối tiếp nhau, vì thế người Trung Hoa
tính thời gian bằng thiên can và địa chi; thời gian cứ thế tuần tự nối nhau miên viễn vận hành; không
có sự phân biệt và chấp trước về thời gian, như kinh Kim Cương đã viết: Quá khứ tâm bất khả đắc,
hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc. Tư duy phương Đông vì thế mang tính hướng nội,
hướng phát triển thường tạo thành hình tròn. Không phải ngẫu nhiên mà các mô hình tâm linh như
Samsara, vòng Mandala hay vòng Thái cực Âm Dương,… đều vẽ nên những chu kỳ mang ý nghĩa quy
hồi. Có thể nói, cách nhìn của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo chính là nằm trên trục không chấp thời
gian, cảm nhận thời gian diễn hành theo cách của nó mà không băn khoăn, để thời gian trôi chảy và
chấp nhận tất cả dù là tuyến tính phân mảnh thời gian, đây cũng là điểm gặp gỡ với cảm thức thời gian
của chủ nghĩa hậu hiện đại. Vì thế mà phần lớn các tác phẩm của Marquez đều bắt đầu bằng một điểm
tạm gọi là hiện tại, sau đó lùi ngược về quá khứ rồi cứ thế tiếp diễn đến tương lai (Trăm năm cô đơn,
Sống để kể lại, Gió bắc, Dấu máu em trên tuyết, Biển của thời đã mất,…)
Trong truyện ngắn Marquez, do quy định của thể loại nên dấu ấn thời gian quy hồi không rõ như
tiểu thuyết nhưng vẫn thể hiện ý nghĩa cơ bản của nó- đó là sự vận động xoay vòng dẫn đến cái chết.
Nguồn gốc của thời gian chu kỳ là sự lưỡng phân giữa quá khứ sáng tạo đã lùi sâu vào lịch sử và huyền
thoại cùng với những hiện thực của nó. Với Mỹ Latin, những hiện thực ngoại cỡ của nó đã bù vào
khoảng trống này gây tái sinh cảm thức thời gian chu kỳ. Lịch sử Mỹ Latin là một chuỗi những bất
tương hợp từ chế độ thuộc địa châu Âu. Những mô hình từ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha không thể
hoàn toàn phù hợp vào một vùng đất từng có lịch sử vàng son của đế quốc Inca, Maya và Aztec. Vì thế
sau khi được độc lập về chính trị, ở Mỹ Latin đã liên tục có sự lặp lại những cuộc tranh giành quyền
lực chính trị của các phe phái đứng đầu bằng những nhà độc tài mà về bản chất thì cơ cấu cai trị của họ
cũng không khác gì với hoàng gia Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Thế nên lịch sử Mỹ Latin không phải
một đường thẳng về tương lai mà luôn quanh co về quá khứ. Trong khi người Châu Âu quen với những
khái niệm như đêm trường Trung Cổ rồi Phục Hưng, Khai Sáng, Cách mạng công nghiệp… thì Mỹ
Latin lại hoàn toàn không thể nghiệm những khái niệm lý tính đó. Tất yếu niềm tin của châu lục này lại
nghiêng về hướng quy hồi (như kiểu mê cung của Borge) và suy ngẫm về những thế lực thiêng liêng
đằng sau quy luật mang tính chất cố định này; cũng vì thế mà dân bản xứ có cái nhìn cuộc đời khác với
người châu Âu và Marquez có mô hình quan niệm thực- ảo phân biệt với những nhà văn hiện đại khác.
Châu Mỹ Latin với đặc điểm nền chính trị xã hội mang nhiều biến động, những chính phủ dựng nên
luôn biến chất thành những chính thể độc tài và rồi những chính thể ấy liên tục thay thế nhau- cái vòng
luẩn quẩn này đã tạo một dấu ấn sâu đậm trong tư tưởng dân tộc cũng như khu vực. Thời gian mang
tính chu kỳ của Marquez không chỉ là một kết cấu thuần túy nghệ thuật mà là một bộ phận trong mô
hình quan niệm con người và thế giới của tác giả Marquez.
Trong truyện ngắn của Marquez có thể bắt gặp nhiều mảnh thời gian phá vỡ liên hệ tuyến tính.
Những mảnh vỡ thời gian được lắp ghép với nhau theo kiểu chủ nghĩa hậu hiện đại trong Nabo, Người
da đen khiến các thiên thần phải đợi đã thể hiện rõ nhất cảm nhận về thời gian đứt đoạn của nhân vật
chính. Đó là thứ thời gian bị rối tung trong đầu người da đen bị ngựa đá móng sắt vào đầu và luôn vẩn
vơ về người đàn ông da đen với lời mời vào dàn đồng ca của những thiên thần. Sự trì hoãn của Nabo
chính là sự trì hoãn cái chết và sự quên lãng bằng ký ức mạnh mẽ nhất về những con ngựa và chiếc bàn
chải. Cuối cùng nhân vật này đã thành công khiến các thiên thần không chỉ phải đợi mà còn phải
nhượng bộ, đã vùng dậy để tìm lại chiếc bàn chải lông ngựa; anh ta đã tìm lại thời gian mình đã mất
chính ở nơi anh ta bị lấy đi 15 năm trước. Sự truy tìm thời gian đã mất chính là nỗ lực làm tái hồi hay
kéo ngược thời gian cũng như những ước mơ mà con người từng đánh mất.
Đặc biệt ở mảng truyện phiêu dạt, thời gian tuyến tính không còn nguyên vẹn trước những con người
không có tiểu sử; điểm đến là phương tiện nhưng đi mới là cứu cánh. Đây vừa là dấu ấn hậu hiện đại
nhưng cũng là kết quả của sự cô đơn mà các nhân vật phải chịu đựng. Với họ, ra đi cũng không giải
quyết định vấn đề nên đành ngậm ngùi và dự cảm về một cuộc trở lại, như thời gian sẽ quy hồi vậy.
Thời gian quy hồi diễn đạt rõ nhất quan niệm sự cô đơn mất đoàn kết sẽ dẫn đến diệt vong trong
truyện ngắn của Marquez.
Với Biển của thời đã mất, cả làng bị thu hút và tập trung vào mùi hoa hồng nhưng mỗi người đều có
những kiến giải riêng mình hoặc đứng ngoài cuộc. Petra thì nghĩ đó là điềm báo cái chết, cha xứ thì
cho rằng đó là dấu hiệu chúa ban phước lành, có người lại cho rằng đó là một ảo ảnh,… Vấn đề là đằng
sau những nhận định khác nhau đó họ bị xô đẩy đi bởi sự mù quáng về cái kỳ ảo để đổ dồn về làng một
cách tấp nập rồi lại bỏ đi khi mùi hương hoa hồng đã mất. Đó là một tập hợp không được cố kết mà các
phần tử bị cuốn hút theo những tư kiến.
Blacaman- Người hiền bán phép tiên lại đề cập đến một khía cạnh khác của thời gian chu kỳ. Ở tầng
thứ nhất, đó là sự liên tục chết đi và hồi sinh của Blacaman trong mồ nhờ phép lạ của nhân vật xưng
tôi. Đây được xem như sự trừng phạt cho một kẻ tàn nhẫn đối với người y không lợi dụng được. Dòng
sống chết của Blacaman là hình ảnh rõ nhất của chu kỳ hướng đến cái chết. Nhưng ở tầng thứ hai, với
một hình phạt như thế, không gì có thể ngăn cản nhân vật tôi trở thành một Blacaman thứ hai, khi mà
khả năng cứu sống chữa lành mọi thứ bệnh tật không còn nữa, khi nhân vật tôi qua cái thời vàng son
như Blacaman từng mất đi trong đời mình và phải đầu tư cho mình một cơ hội khác. Cứ như vậy, vòng
quay lại tiếp tục. Chu kỳ không còn chỉ là thời gian mà là cuộc đời.
Thời gian chu kỳ dễ gắn với bất động, không tiến triển hay hướng vận động đến cái chết. Bản
chất của cái chết là cô đơn, là hư vô; con người cố thoát khỏi cô đơn để rơi vào một cái cô đơn khác.
Trong cái mê lộ của thời gian, con người tập trung vào bản thân mình và chấp nhận cái kỳ ảo, phi lý.
Nhiều tác giả phương Tây hiện đại đã sa vào vòng luẩn quẩn này không lối thoát như James Joyce,
Kafka… Khác biệt của Marquez là sự tập trung vào cái cô đơn, tuy kết cục là vòng chu kỳ cái chết
nhưng tác giả không làm người đọc bi quan, mà vẫn cố gắng vạch ra lối thoát bằng việc lên án cái xấu
và kể lại những bi kịch bằng một giọng ngậm ngùi xót thương, trên hết là mang đến hy vọng cho con
người bằng chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, bằng yếu tố kỳ ảo lẩn khuất trong những tác phẩm của mình
nhằm tạo ra một hiện thực mới tươi đẹp hơn hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống.
Đối mặt với cái thực tại đáng sợ này, cái thực tại mà ắt hẳn đã luôn luôn dường như chỉ là một
thứ không tưởng trong suốt lịch sử nhân loại, chúng tôi, những kẻ phát minh ra chuyện kể, những
kẻ sẽ tin mọi thứ, cảm thấy mình có quyền tin rằng vẫn còn chưa quá muộn để dấn mình sáng tạo
một thứ không tưởng ngược lại. Một thứ không tưởng mới và toàn thắng của sự sống, nơi không
ai còn có thể quyết định chuyện người khác chết ra sao, nơi mà tình yêu sẽ chứng tỏ là có thật và
hạnh phúc là có thể, nơi mà những chủng tộc bị kết án trăm năm cô đơn rốt cuộc sẽ có và mãi
mãi có một cơ hội thứ hai trên mặt đất này. [48]
Như vậy, Marquez luôn quan tâm đề cập đến nỗi cô đơn của con người trong chu kỳ bất tận của
cuộc sống. Các nhà văn lớn có những cách thức khác nhau để nhìn nhận và giải quyết vấn đề này. Cô
đơn của Hemingway hướng đến cái chết như là sự hoàn trả món nợ, như một nghĩa vụ; Kawabata
muốn dùng cái đẹp để cứu rỗi con người và cũng không ít lần ông cố tìm cái đẹp trong nỗi buồn, cô
đơn. Marquez bằng cách riêng của mình đã đưa cái kỳ ảo vào đời thực bằng việc cấp cho nó cái căn cớ
hợp lý rồi đẩy nó tới đỉnh giới hạn để soi chiếu cuộc đời và vượt thoát nỗi cô đơn.
2.4.3. Không – thời gian
Không- thời gian là dạng thức hỗn hợp hình thành trên sự kết hợp của không gian và thời gian tạo
thành một thể đặc biệt thường được nhận ra trong các tác phẩm văn chương bởi tính xuyên thấm và bất
định của nó.
Trước hết, không- thời gian trong truyện ngắn Marquez gắn bó mật thiết với yếu tố kỳ ảo và chia
sẻ những đặc điểm của nó. Theo đó, không- thời gian không phải là kết quả của thứ tưởng tượng phi
hiện thực, là cơn bốc đồng trong sáng tạo văn chương mà ngược lại, bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử, xã
hội, tư tưởng nhất định của thời đại. Tuy văn học phản ánh thế giới theo cách riêng mình nhưng từ thế
kỷ XX ngày càng nhiều nhà văn đã sáng tạo những thế giới nghệ thuật vượt ngoài tất cả các phạm vi
không gian và thời gian. Đó là gợi ý hướng chúng tôi quan tâm đến hoàn cảnh hiện đại và khá ký thú
khi nhận thấy kết hợp không- thời gian và khả năng đảo chiều thời gian trong văn học có một sự tương
hợp kỳ lạ với thuyết Tương đối của Einstein khi ông đề cập đến võng không- thời gian cũng như tương
quan của không gian và thời gian với vận tốc chuyển động của vật chất. Thực tế là những luận điểm
của Einstein đã dần được chứng minh tính khả thủ của nó, ngược lại càng củng cố và làm sáng tỏ
những quan điểm của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, quan niệm về mô hình thế giới và con người của
Marquez như chúng tôi đã trình bày. Rõ ràng những cuộc sống bao gồm tất cả những mặt khác nhau
mà vẫn thường được phân biệt bằng thực và ảo.
Thứ đến, chúng tôi lưu ý đến sự xóa nhòa ranh giới, không gian, thời gian hoặc cả hai đối tượng
này trong truyện ngắn Marquez. Điển hình là trong Ông lão có đôi cánh khổng lồ, tác giả đã đưa vào
tác phẩm những điểm thời gian với ngày tháng không rõ ràng. Bắt đầu tác phẩm là một thời điểm
phiếm chỉ: Trời mưa đến ngày thứ ba, cua bị chết trong nhà nhiều đến mức Pêladô phải lội qua sân
nhà mình ngập nước để ra biển ném chúng đi, bởi vì đứa trẻ sơ sinh cả đêm qua sốt cao và người ta
liền nghĩ ngay rằng nó ốm do nhiễm phải cái mùi khẳn của xác những con vật chết [53,391]. Người ta
không hiểu được đó là ngày nào chỉ biết thời gian được xác định bằng cơn mưa- một đại lượng khá mơ
hồ. Theo văn bản chúng tôi có được thì ngữ trạng từ mở đầu tác phẩm là Al tercer día de lluvia (Đến
ngày thứ ba của cơn mưa) thì cơn mưa như càng mơ hồ và có cảm giác được kéo dài hơn. Tiếp đến là
sự xóa nhòa về không gian bằng một ngôi làng không tên- Ngay từ ngày thứ ba khung cảnh làng thật
buồn bã- tác giả không nói rõ là làng nào, mà chỉ là làng, người ta có thể áp vào bất kỳ một ngôi làng
ven biển nào đấy; tính phổ quát và mơ hồ của không gian càng rõ hơn trong nguyên bản: El mundo
estaba triste desde el martes [79, 99]- Từ hôm thứ ba, thế giới đã thật buồn bã. Khung cảnh được mở
rộng đến mức tối đa trong bóng nhập nhoạng của trời và biển màu xám tro, người đọc có cảm giác như
cơn mưa này phủ lên cả thế giới và khắp nơi đều âm u như ngôi làng này vậy. Chính nhãn quan của tác
giả xóa mờ các ranh giới không gian và thời gian. Trong cõi mơ hồ này những chuyện kỳ ảo mới có thể
xảy ra: những con cua bò vào nhà thành từng đàn bị giết chết nhiều đến mức khó chịu, giữa trưa mà
trời vẫn âm u,… nhưng điều này không có ý nghĩa gì với nhân vật.
Không- thời gian càng được thể hiện rõ với thế giới làng bị chìm trong Biển của thời đã mất: “làng bị
chìm xuống biển có những người đàn ông và những người đàn bà đang cưỡi ngựa, những con người
đang xoay tít xung quanh quán âm nhạc. Đó là một ngày rực rỡ và ở các sân hiên hoa nở sặc sỡ đủ
màu” [53,74]. Ngôi làng vẫn có những sinh hoạt bình thường vào lúc 11 giờ trưa theo nhận xét của
Herbert. Nhưng điểm thời gian ấy không còn ý nghĩa gì nữa đối với những con người và những bông
hoa đang nở. Cả không gian hiện thời là vùng biển chết vẫn không ngăn trở gì những con người đang
cưỡi ngựa, nghe nhạc hay những bông hoa nở. Không gian và thời gian dường như vô nghĩa ở đây, đó
là một thế giới nghệ thuật đúng nghĩa đã được tìm thấy trong truyện ngắn của Marquez.
Một thang độ khác của không - thời gian mà chúng tôi nhận ra là căn phòng của Ludovico trong
Những bóng ma tháng Tám, nơi không gian và thời gian ngừng đọng, nơi thuộc về cõi chết mà với sức
hút đặc biệt người sống cứ phải va vào:
Đó là một khoảnh khắc kỳ diệu. Ở đó vẫn nguyên chiếc giường với màn che thêu chỉ vàng và một
tấm khăn phủ giường vẫn còn nguyên dấu máu khô của cô người yêu bị hy sinh. Lò sưởi vẫn còn
tro lạnh và mẫu gỗ cuối cùng đã hóa đá, một cái giá treo đủ loại binh khí được mài sáng loáng
và bức chân dung của vị hiệp sĩ ưu tú,… Tuy nhiên, điều gây ấn tượng mạnh trong tôi hơn cả là
thứ mùi thơm của quả dâu tây mới hái vẫn nồng nặc đọng lại trong không gian căn phòng một
cách không thể giải thích nổi. [52,120]
Ngoài ra, không- thời gian còn là cõi chết của Nữ thần Eva ở trong con mèo của nàng, trong tầng
năm ngôi nhà số 47 đại lộ Castedana ở Tây Ban Nha,… Không - thời gian chính là thế giới nghệ thuật
được cấu thành từ yếu tố kỳ ảo, là dạng thức thăng hoa của nghệ thuật nhà văn và cống hiến những mỹ
cảm tốt đẹp cho người đọc. Đó là thế giới đáng ước mơ trong hành trình đấu tranh chống lại nỗi cô đơn
của con người.
Như vậy, thông qua khảo sát hình tượng không gian và thời gian trong truyện ngắn kỳ ảo của
Marquez chúng tôi có những nhận định sau:
Thứ nhất, thời gian là phạm trù được quan tâm nhất trong các nền tư tưởng, thông qua những
truyện ngắn của mình, Marquez đã trình bày quan niệm về thời gian gắn với yếu tố kỳ ảo từ đó khái
quát được cả không gian. Thời gian của yếu tố kỳ ảo là không có thời gian, là sự thật chân thực hơn
thật bởi quá khứ, hiện tại, tương lai đều không phải là thật, không ngày nào là quá khứ, là hiện tại, là
tương lai nhưng ngày nào cũng là quá khứ, hiện tại, tương lai. Đó là cái nhìn xuất phát từ mô hình quan
niệm về con người và thế giới của Marquez.
Thứ hai, tính chất thế giới nghệ thuật Marquez là thế giới song trùng thực và ảo; trong đó có
những không gian cô lập và phiêu dạt được diễn dịch bằng thời gian chu kỳ và tuyến tính, đặc biệt loại
không- thời gian đã tạo nên một thế giới nghệ thuật kỳ ảo đặc sắc.
Mỗi nhà văn đều có một mô hình quan niệm về con người và thế giới, chính mô hình này chi phối
những thành phần khác trong cơ cấu sáng tác của nhà văn. Thi pháp chính là khảo sát những hình thức
mang tính nội dung mà đặc biệt là chỉ ra tính quan niệm của chúng. Khi trở thành những thành phần
của tác phẩm đó rõ ràng là hình thức nhưng tư tưởng của nhà văn vẫn ẩn chứa nơi ấy- đó là nội dung.
Trong khi tư tưởng chỉ đạo cách thức tiếp cận đề tài và xử lý tác phẩm thì hình thức cũng vô cùng quan
trọng. Tồn tại và nhận thức đều xuất phát từ hình thức. Thi pháp hướng đến việc nghiên cứu dạng hình
thức này- tồn tại trên hình thức, nhận thức dựa trên hình thức và xác quyết phi hình thức không thể tạo
ra điều gì. Ngôn ngữ cũng là một dạng hình thức, văn học cũng như vậy. Muốn chuyển hóa và thể nhập
hai phạm trù dường như cách xa nhau về bản chất này cần phải có một mô hình để chỉ đạo và định hình
tác phẩm. Như nhà nghiên cứu Đào Ngọc Chương đã trình bày trong công trình Thi pháp tiểu thuyết
Hemingway [16,99], có thể hình dung tổng thể tác phẩm như một phân số trong đó tử số mang tính bất
định là hệ thống các yếu tố tổ chức tác phẩm còn mẫu số là mô hình quan niệm của nhà văn mang tính
bất định. Chính trong mối tương quan này, từ tính bất định của mẫu số mà tài hoa và nhiều khi là vô
thức của nhà văn được bộc lộ trên những thành tố ổn định. Vì thế khảo sát hệ thống các yếu tố không
gian, thời gian, cấu trúc tác phẩm, chúng tôi không tiến hành rời rạc mà tập trung nhằm làm sáng tỏ mô
hình quan niệm nhà văn. Nhờ vậy mà các thành phần có một mối liên kết vững chắc và giúp phân biệt,
nhận ra phong cách của Marquez.
Thứ ba, thông qua mô hình quan niệm con người và thế giới song trùng của, chúng tôi nhận thấy
Marquez đã thể hiện được phức cảm chung của khu vực Mỹ Latin- đó là khải huyền. Đó là con đường
liên kết từ song đề thời gian tuyến tính sẽ dẫn đến ngày mạt thế và thời gian chu kỳ hướng đến sự quy
hồi, tái lập. Đó không phải là hai phạm trù tách biệt nhưng thống nhất với nhau ở thế không- thời gian
để hướng đến phức cảm khải huyền lẫn tái hồi vĩnh cửu.
CHƯƠNG 3
YẾU TỐ KỲ ẢO VÀ BIỂU TƯỢNG
TRONG TRUYỆN NGẮN MARQUEZ
3.1. Biểu tượng và con đường của cái kỳ ảo
Biểu tượng với tính chất là một mã đa nghĩa, trong quá trình hành chức, có con đường riêng tiệm
cận đến những lớp ý nghĩa văn hóa. Với truyện ngắn kỳ ảo của Marquez, yếu tố kỳ ảo tham gia vào
quá trình này như những thành tố cơ bản mở ra các thông lộ vô tận cho biểu tượng.
3.1.1. Biểu tượng và biểu tượng văn học
3.1.1.1. Khái quát
Có nhiều cách hiểu về biểu tượng trong các lĩnh vực khác nhau. Trong triết học, giáo dục học thì
biểu tượng là hình ảnh của sự vật lưu lại trong óc khi sự vật không còn tác động đến các giác quan nữa;
là hình thức cao nhất của sự phản ánh trực quan- cảm tính xuất hiện trên cơ sở tri giác. Biểu tượng
không còn phản ánh rời rạc các thuộc tính của sự vật như tri giác mà có tính chỉnh thể. Nó là hình ảnh
về vật trong ý thức, tư duy con người. Biểu tượng thường được bọc bằng lớp vỏ ngôn ngữ và chứa
nhiều yếu tố của sự phản ánh khái quát. Đây là khâu trung gian giữa giai đoạn nhận thức cảm tính và
giai đoạn nhận thức lí tính.
Biểu tượng hiểu theo nghĩa mĩ thuật, sân khấu lại là phương tiện sáng tạo nghệ thuật mang ý nghĩa
khái quát và trừu tượng. Là một thủ pháp sáng tạo nghệ thuật khi tác động chủ yếu đến cảm xúc của
người xem, biểu tượng hình thành trên trực giác của người nghệ sĩ, những nhận thức khác nhau về biểu
tượng sẽ hình thành những cảm xúc khác nhau. Theo Từ điển thì biểu tượng có các nét nghĩa sau đây:
Biểu tượng: 1. Hình ảnh tượng trưng; 2. Hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh
của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt. 3. Kí hiệu
bằng hình đồ hoạ trên màn hình máy tính, người sử dụng máy có thể dùng con chuột trỏ vào đấy để
chọn một thao tác hoặc một ứng dụng phần mềm nào đó [63,66-67].
Trên đây là một số định nghĩa về "biểu tượng", chủ yếu là những định nghĩa thiên về đặc trưng.
Theo cách phân tích đề tài, chúng tôi chọn định nghĩa "biểu tượng": biểu tượng là hình ảnh tượng trưng
mang ý nghĩa như sau: “Biểu tượng là sự vật mang tính chất thông điệp được dùng để chỉ ra một cái ở
bên ngoài nó, theo một quan hệ ước lệ giữa sự vật trong thông điệp và sự vật ở bên ngoài. Nói khác đi,
biểu tượng chính là cái nhìn thấy được mang một kí hiệu dẫn ta đến cái không nhìn thấy được”. Biểu
tượng là "vật môi giới giúp ta tri giác cái bất khả tri giác" [14,18].
Có thể vận dụng quan điểm về tiến trình nhận thức của Marx để làm rõ biểu tượng. Trong Lời nói đầu
góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, Marx trong khi phê phán phương pháp của khoa kinh tế
chính trị là đi từ những vấn đề tổng thể trừu tượng, đã chỉ dẫn phương pháp nghiên cứu đúng đắn về
khoa học là phải đi từ cái cụ thể:
Cái cụ thể sở dĩ là cụ thể vì nó là sự tổng hợp của nhiều tính quy định, do đó, nó là sự thống nhất
của cái đa dạng. Cho nên, trong tư duy, nó biểu hiện ra là một quá trình tổng hợp, là kết quả,
chứ không phải là điểm xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phát thực sự và do đó cũng là điểm
xuất phát của trực quan và của biểu tượng. [54,615]
Và bằng cách này, “những tính quy định trừu tượng lại dẫn đến sự mô tả lại cái cụ thể bằng con
đường của tư duy”. Như vậy, biểu tượng chính là kết quả của quá trình trầm tích, kết tủa hệ thống giá
trị. Ban đầu chứa đựng quan niệm nhưng tồn tại cuối cùng chỉ còn hình thức, đó là đường đi của biểu
tượng. Trong quá trình tồn tại có những yếu tố mất đi, tạo lập những yếu tố mới, tạo thành một cấu trúc
mới- tựa như huyền thoại trong văn học. Cái còn lại cuối cùng là hình thức với hệ thống phong phú
những ý nghĩa nảy sinh từ các kết hợp của nó. Quá trình giải mã biểu tượng cũng phải đi từ trực quan
sinh động đến tư duy trừu tượng và quay lại thực tiễn. Nhận thức và chỉ ra biểu tượng là bước đầu tiên,
điều này chịu sự chi phối chặt chẽ bởi một hệ thống tiêu chí định tính. Tiếp theo sau sẽ là việc làm rõ,
lý giải ý nghĩa khả năng (chức năng) của biểu tượng và nhất thiết phải dẫn đến bước thứ ba là biện dẫn
nguyên nhân cũng như tác dụng của biểu tượng trong thực tiễn, sáng tác. Khâu cuối cùng này chính là
cái lý của vấn đề, ấy là nội dung bên trong của hình thức mà thi pháp học vẫn thường đề cập đến. Vì
tính da diện đó, xác định biểu tượng là một khâu quan trọng.
3.1.1.2. Tính chất của biểu tượng
Thứ nhất, ứng dụng biểu tượng vào phân tích văn học tức là quan tâm đến những kết tinh nhất
trong tác phẩm, có thể đó là những biểu tượng mang tính tập thể nhưng cũng có thể mang tính cá nhân
tác giả. Như vậy, nhà văn tập trung cái chung và riêng ấy trong bản thân đời sống mình rồi phóng chiếu
vào trang viết. Việc tìm hiểu biểu tượng trong tác phẩm văn học tất yếu gắn với việc khám phá những
cơ tầng tâm lý trầm tích của nhà văn. Theo hướng đó thì phân tâm học đã có nhiều bước tiến với đóng
góp của S.Freud và K.Jung.
Freud (1856-1939) thông qua khảo sát các chủ đề huyền thoại như chọn một người giữa ba người phụ
nữ; chủ đề Eudipe; người phụ nữ hoàn hảo, người phụ nữ im lặng là biểu tượng cái chết; mối quan hệ
giữa huyễn tưởng tính dục với sáng tạo, nghệ thuật, hội họa,… khẳng định rằng sáng tạo nghệ thuật
chẳng qua là sự thỏa mãn các ẩn ức tính dục bị kiềm nén: “Rối nhiễu tâm lý bắt đầu phát triển từ lúc có
một ấn tượng nào đó bất ngờ đánh thức những ấn tượng của tuổi thơ đã bị lãng quên, những ấn tượng
chí ít một lần mang màu sắc kích dục… Phải quy những biểu tượng rất đúng của nhà văn về những
thuật ngữ chuyên môn của tâm lý học…” [29,35]
Từ đó, những biểu tượng (hình ảnh tượng trưng) đều được Freud dùng để minh họa cho libido tính
dục:
Trong khái luận về phân tâm học, ông đã đưa ra những tượng trưng như cửa phòng lúc đóng lúc
mở, vải vóc, quần áo trắng, chiếc hộp, cái bàn là tượng trưng cho đàn bà… Còn tượng trưng cho
đàn ông là chìa khóa, áo tơi, cà vạt… Dã thú thì tượng trưng cho những người đam mê tình ái.
Áo dài hoặc đồng phục tượng trưng cho sự trần truồng. Đặc biệt trái cây là chỉ đôi vú; còn
phong cảnh, vườn tược, giày da, giày vải thì chỉ âm hộ; hoa và nhụy cũng vậy nhưng mang thêm
ý nghĩa trinh tiết. Còn dương vật thì tượng trưng bằng tảng đá, núi non. Đặc biệt là cầu thang
với những bậc và chỗ vịn tay là tượng trưng cho sự giao hợp. Trong Giải mộng, ông còn đem
những thứ xuất hiện trong giấc mơ như rìu, dao găm, súng ngắn, ngọn nến, cá, tôm,… cho đó đều
là tượng trưng của dương vật. Còn các thứ như hang, hòm, lò, nồi, … là tượng trưng cho âm hộ,
[45,189]
Đây là hướng lý giải biểu tượng văn học gắn với tác giả khá mới mẻ và đã có những đóng góp không
kém phần lý thú. Tuy nhiên, nhìn nhận quá trình sáng tạo văn học nói chung và lý giải hệ thống biểu
tượng nói riêng thì sẽ khá cực đoan khi quy tất cả về xung năng tính dục. Người đồng sự của Freud đã
phát triển hệ thống ý kiến của mình trên quan niệm này nhưng đã có những đóng góp, bổ sung hữu ích
cho quá trình nghiên cứu văn học và biểu tượng- đó là Karl Gustave Jung (1875-1961) với ý kiến về vô
thức tập thể và cổ mẫu.
Jung vẫn dùng khái niệm xung năng libido nhưng cho rằng nó không chỉ là xung năng tính dục mà còn
mang tính chất nhiều hoạt động khác đặt dưới sự ảnh hưởng của bối cảnh xã hội, truyền thống văn hóa,
hoàn cảnh gia đình, kỷ niệm ấu thơ,… Ông đi sâu hơn vào mảng vô thức để nhận ra rằng có một thứ vô
thức tập thể đằng sau vô thức bản năng mang tính cá nhân mà Freud gọi là cái bản ngã (id). Ông cho
rằng vô thức tập thể có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm lịch sử của nhân loại, chủng tộc, thủy tổ tiền
nhân loại. Đó là những ký ức mang tính chất tiên thiên do di truyền xã hội thể hiện ở những nghi thức
tôn giáo, tô tem, ma thuật… Những nội dung này có những yếu tố cơ bản tương ứng với tất cả những
tình cảnh điển hình trong cuộc sống, gọi là cổ mẫu (archetype)- và có 05 dạng cơ bản nhất gồm:
Persona (mặt nạ nhân cách), anima và animus, shadou (bóng âm), sefl (vô thức tự ngã). Tuy vậy,
nhưng Jung luôn nhấn mạnh không nên đồng nhất cổ mẫu với những nội dung cụ thể, tuy có những
định danh nhưng nó chỉ nên là những hạt nhân tiên thiên mở ra một hình thức rỗng, một thế khả năng
cho các biểu hiện. Thông qua phê phán khái niệm biểu tượng của Freud chỉ là những nội dung của ý
thức khiến ngờ vực sự hiện diện của cái nền vô thức, Jung đã đưa ra một định nghĩa ngắn gọn- biểu
tượng là sự diễn đạt cho tư tưởng trong lúc chưa thể mô tả được nó một cách trọn vẹn, hoàn chỉnh.
[29,52]
Bởi biểu tượng ở đây phải được xem là khả năng có một ý nghĩa khác rộng hơn, cao hơn nằm
ngoài năng lực cảm nhận và ám chỉ đến ý nghĩa đó của chúng ta… Biểu tượng nhô lên như một
lời trách cứ thường xuyên đối với khả năng suy xét và cảm nhận của chúng ta. Từ đây tất nhiên
sẽ bắt đầu một thực tế là sản phẩm mang tính biểu tượng đánh thức chúng ta nhiều hơn, có thể
nói, quấy đảo chúng ta sâu hơn và vì thế hiếm khi đưa cho chúng ta khoái cảm thẩm mỹ thuần
túy, trong khi tác phẩm không mang tính biểu tượng từ đầu thì nhằm hướng đến cảm giác thẩm
mỹ của chúng ta dưới dạng thuần túy hơn rất nhiều khi thấy nó cho thấy tận mắt bức tranh hài
hòa của sự trọn vẹn. [sđd, tr.63-64]
Về biểu tượng, Jung đã đi xa hơn Freud và mở ra thông lộ đồng thời cung cấp những chỉ dẫn rõ ràng
hơn để nghiên cứu và lý giải những hình ảnh tượng trưng trong tác phẩm văn chương. Đặc biệt ông
nhấn mạnh tính chất của các biểu tượng như một thể không hoàn kết bất động mà luôn vận động, dịch
chuyển để thách thức và mời gọi người đọc.
Như vậy, Jung hiểu biểu tượng của Freud như quan hệ một đối một của cái biểu hiện và cái được biểu
hiện. Theo ông thì biểu tượng như một cái biểu hiện đi xa hơn không phải trong phạm vi bản thân nó
mà là trong kết hợp (hoặc biến đổi), lúc này nó trở thành một cái được biểu hiện thứ cấp kết hợp với
một cái biểu hiện thứ cấp khác ở một vị trí nhất định nào đó và lại tạo thành một hệ mới. Trong phạm
vi kết hợp này có thể lần về tính phổ quát của nhân loại đến một đối tượng mà Jung gọi là cổ mẫu. Nếu
như Jung nhắc đến phương Đông, Phật giáo như những biểu tượng, cổ mẫu và vô thức tập thể với ý
muốn đào sâu hơn nguồn giếng bị khuất lấp bởi hệ thống tín điều Cơ Đốc giáo và Hồi giáo thì biểu
tượng của Marquez có con đường phức tạp không kém. Tư tưởng Thiên Chúa giáo ảnh hưởng đậm đến
tinh thần châu Mỹ Latin và Colombia, kết hợp tính chất sôi nổi của cư dân địa phương tạo thành một
thể tổng hợp mang tính tôn giáo, văn hóa và xã hội hòa quyện vào nhau. Cổ mẫu hay biểu tượng mang
gốc tích nhân loại của Marquez, vì thế, có sự hòa trộn, chuyển hóa khá linh động giữa các phạm trù
văn hóa, xã hội và tôn giáo. Có thể lấy cổ mẫu nữ làm điển hình, Marquez trong bầu không khí chung
của xã hội và tôn giáo, cũng vận dụng biểu tượng đẹp về nữ đồng trinh trong các tiểu thuyết và truyện
ngắn của mình. Nhưng rõ ràng biểu tượng này không thuộc về ông, những người phụ nữ trong tác
phẩm Marquez không phải là những thánh nữ. Nếu có thì họ cũng không thể sống được ở cuộc đời này
bởi với tâm hồn trong sáng- họ sẽ trở thành tai họa cho người khác hoặc bản thân. Vì thế nàng
Remedios phải bay lên trời tách khỏi cuộc sống trần gian (khác biệt rõ ràng về bản chất với hình ảnh
Đức bà Mary hồn xác lên trời trong truyền thống Thiên Chúa giáo). Ngược lại, cố bám lấy trần gian thì
họ phải trầm luân như Erendira tội nghiệp. Con đường khả dĩ để dung nạp hình ảnh người nữ vĩnh cửu
hóa thân vào là người nữ thủ lĩnh, độc tài như Bà mẹ vĩ đại hay chỉ còn lưu giữ lại nét chung nhất là
dục vọng của muôn đời. Sự liên kết này nối các nhân vật nữ của Marquez lại thành một hệ hình mà
trong đó cuộc sống hiện tại không thể tạo cơ hội cho tính nữ vĩnh cửu sinh sôi nẩy nở hài hòa trước sức
tấn công của những hiểm họa thường trực mà nguy hiểm nhất là cô đơn và tự cô đơn hóa bản thân.
Thứ hai, biểu tượng có cấu trúc tầng bậc. Trước hết: “Bởi vì cảm nhận một biểu tượng là công
việc hết sức cá nhân, không chỉ theo nghĩa là nó biến đổi tùy theo từng người, mà còn theo nghĩa là nó
bắt nguồn từ toàn bộ con người anh ta. Mà, cái toàn bộ con người vừa là một cái mắc phải vừa là một
cái tiếp nhận được; nó thừa kế từ di sản tâm sinh lý của nhân loại nhiều nghìn năm tuổi; nó chịu ảnh
hưởng những sự khu biệt văn hóa và xã hội riêng của môi trường phát triển trực tiếp của anh ta, thêm
vào đó lại còn có hệ quả của một trải nghiệm đơn nhất và những ưu tư do tình cảnh hiện tại của anh
ta. Đặc tính riêng biệt của biểu tượng chính là ở chỗ nó tổng hợp trong một biểu hiện dễ cảm nhận tất
cả những ảnh hưởng ấy của vô thức và ý thức, cùng các sức mạnh bản năng và trí tuệ, xung đột lẫn
nhau hay đang trong tiến trình hài hòa bên trong mỗi con người. [14, XV]
Như vậy, có sự xếp chồng ảnh hưởng của ít nhất ba tầng bậc trong tiếp nhận biểu tượng, bao
gồm: Đầu tiên là lớp cá nhân, bởi lẽ mỗi người đọc đều bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm và hoàn cảnh
sống riêng mình; những dấu ấn sâu đậm xảy ra với bản thân sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành
và giải mã biểu tượng. Với Marquez, biểu tượng biển là“một vùng nước xanh mênh mông với những
ngọn sóng trắng xóa, đang trôi nổi cả một thế giới gà mái bị chết ngạt. - Đó là biển, cháu biết không?
– ông nói với tôi. Tôi thất vọng hỏi bờ bên kia có gì và ông trả lời một cách chắc chắn: - Phía bên kia
không có bờ. Cho đến tận hôm nay, khi đã bôn ba qua nhiều sông sâu, biển cả, tôi vẫn nghĩ đó là một
trong những câu trả lời vĩ đại nhất” [50,27]. Thứ đến là lớp văn hóa, mỗi biểu tượng sẽ mang hệ thống
ý nghĩa khác nhau trong các vùng văn hóa phân biệt; bởi mỗi cộng đồng sẽ lý giải các biểu tượng theo
cách riêng mình và từ đó sẽ hình thành những khung giá trị khác nhau khi áp vào các biểu tượng. Ví
dụ, biểu tượng hoa hồng mang nhiều ý nghĩa khác nhau như sự hồi sinh ở La Mã, Thụy Sĩ; sắc đẹp của
nữ giới (trong kịch Shakespeare); vẻ đẹp của phái mạnh trong văn hoá Ả Rập... Thứ ba là lớp phổ quát.
Lớp này tương tự đến các cổ mẫu của Jung; theo đó có những biểu tượng mang nghĩa phổ quát cho loài
người. Ví dụ như sư tử trong nhiều nền văn hóa đều mang nét nghĩa sức mạnh uy quyền…
Nhìn nhận ý nghĩa xếp chồng của biểu tượng sẽ góp phần lý giải cho sự độc lập của tác phẩm như
một sinh thể tự sinh sôi và có đời sống riêng mình khi tác giả chấm vết mực cuối cùng lên bản thảo. Sự
phân cấp theo cơ chế biểu tượng cung cấp cho những hình ảnh- trước đó là những hình tượng mà bản
chất khởi thủy là các ký hiệu thẩm mỹ có thể mang những nét nghĩa vượt ra khỏi nó ở nhiều cấp độ mà
thành biểu tượng do cách tiếp cận mang tầm phổ quát, dân tộc hay cá nhân mỗi người.
Điều này nảy sinh ba trường hợp: Sự trùng khít giữa tiếp nhận và sáng tạo biểu tượng đồng nhất môi
trường văn hóa phổ quát, địa phương và cá nhân; sự trùng khít bộ phận; hoặc là sự phân ly hoàn toàn.
Trong trường hợp trùng khít toàn phần hoặc đại đa số bộ phận thì tác phẩm sẽ đạt được môi trường lý
tưởng để phát triển. Với trường hợp ngược lại, cần đọc biểu tượng theo hướng gắn với chủ đề tác
phẩm.
Trong ba lớp này thì cấp độ cá nhân trong hệ thống phân tầng ý nghĩa biểu tượng cần được chú ý. Tuy
chia thành 3 cấp độ nhưng quan trọng nhất vẫn là cấp độ cá nhân, vì thực tế cá nhân tiếp nhận chính là
sự tổng hợp và hiện thực hóa ba nhóm trên. Tính cá nhân trong tiếp nhận biểu tượng là tất yếu và nguy
cơ đẩy một hình ảnh đi quá xa bản chất của nó do tính tùy tiện và ngẫu nhiên kinh nghiệm của người
tiếp nhận. Vì thế cần phải đảm bảo khâu xác định tiêu chí biểu tượng- gắn với kinh nghiệm tác giả, khu
vực và các lớp ý nghĩa phổ quát- tầm cá nhân người tiếp nhận chỉ nên mang tính tham khảo, soi chiếu.
Vì lẽ đó, chúng tôi cố gắng chỉ ra các cấp độ dù hiểu rằng sự phân biệt như vậy chỉ là tương đối và
nhiều khi mang tính tư biện. Tuy nhiên cần luôn ý thức tính biểu hiện đồng thời, tiến trình hợp nhất các
yếu tố của biểu tượng. Một biểu tượng có giá trị ở mọi cấp độ và những cấp độ này phát lộ đồng thời.
Có được điều này là do biểu tượng có chức năng hợp nhất.
Như vậy, một mặt biểu tượng tiếp tục tính biện chứng của sự hiển linh, bằng cách biến đổi những
đối tượng thành vật khác so với cái mà chúng hình như được coi là như vậy trong kinh nghiệm
trần tục… Mặt khác trong khi trở thành biểu tượng, có nghĩa là dấu hiệu của một thực thể siêu
việt, những đối tượng đó xóa bỏ những giới hạn cụ thể của chúng, chấm dứt trạng thái là những
đoạn ngắn đơn độc để gia nhập vào một hệ thống; hơn nữa, chúng thể hiện ở những đoạn ngắn
đó, bất chấp tính lỏng lẻo và đứt đoạn của chúng, toàn bộ hệ thống đang được bàn tới. [26,184]
Đó là xu hướng đại diện, gắn liền với cái tổng thể. Ba cấp độ được phát lộ và hòa quyện vào nhau. Sự
hợp nhất này không hòa tan mà làm cho biểu tượng di chuyển qua nhiều cấp độ, làm đọng lại cái tình
thế ở mức trong sáng nhất của nó.
Thứ ba, cần ý thức về sự phân biệt giữa hình tượng và biểu tượng. Đó không chỉ là vấn đề thuật
ngữ mà là con đường đi của các yếu tố nghệ thuật, là con đường triển khai của tư duy nhà văn.
Nếu sử dụng cách phân loại tín hiệu do C.S.Peirce đề xuất thành: các tín hiệu- biểu số, các tín
hiệu- biểu hình, các tín hiệu- biểu tượng (trong Peirce C.S: Speculative Grammar, Collected
papers, Haward University Press, Cambridge, Mass., 1932, p.129), thì có thể nói rằng đối với cá
nhân tiếp nhận, tín hiệu- biểu số được liên tưởng với đối tượng mà nó biểu hiện do có những
quan hệ thực tồn giữa chúng trong tự nhiên; tín hiệu có tính biểu hình (tức hình tượng- chú thích
của người viết- NTT) do sự tương đồng thực tế, trong khi đó giữa tín hiệu biểu tượng và đối
tượng mà nó chú dẫn không tồn tại một quan hệ tự nhiên- có tính tiên định nào. Tín hiệu- biểu
tượng là tín hiệu của đối tượng “ trên cơ sở sự thỏa thuận”. Cơ sở của các quan hệ giữa những
biểu tượng đa loại thuộc cùng một hệ thống là những nguyên tắc truyền thống. Mối quan hệ giữa
cái biểu đạt được tri nhận cảm tính của biểu tượng và cái được biểu đạt của biểu tượng này được
nhận thức (được phiên dịch) trong tư tưởng dựa trên sự liên tưởng có tính chất thỏa thuận, giả
tạo và theo tập quán. [39,125]
Có thể khái quát ba hệ thống tín hiệu và tính chất này theo ý kiến của R.Jakobson như sau:
Tín hiệu- biểu số Tín hiệu- biểu tượng Tín hiệu- biểu hình
1 Quan hệ đối tượng Quan hệ đối tượng trên Quan hệ đối tượng trên
trên quan hệ thực tồn cơ sở sự thỏa thuận quan hệ tương đồng
thực tế
Quan hệ tương đồng với Quan hệ liên tưởng với các đối tượng 2 đối tượng có tính tự nhiên có tính nghệ thuật
Đồng hiện hữu thực Không cần sự đồng hiện hữu thực tế của đối 3 tế của đối tượng được tượng được chỉ thị chỉ thị
Dựa trên đặc điểm thứ ba có thể thấy được khả năng tham gia vào quá trình nghệ thuật đã được chỉ
định cho tín hiệu biểu hình và biểu tượng; một yêu cầu đồng hiện hữu thực tế của đối tượng được chỉ
thị không phải lúc nào cũng được thỏa mãn trong văn chương, và khi thỏa mãn thì nhiều khi tác phẩm
không mấy mang tính văn chương nữa.
Từ đặc điểm thứ nhất và thứ hai, có thể trả lời được mối quan tâm hiện nay của chúng tôi là sự khác
biệt giữa hình tượng và biểu tượng. Trước hết hình tượng dựa trên sự tương đồng thực tế, đó là hiện
thực được đưa vào văn chương dưới những hình thức cụ thể căn cứ trên mối quan hệ tương đồng có
thực với vật chỉ định. Đương nhiên, mối quan hệ này cần phải hiểu theo nghĩa nghệ thuật khi hình
tượng ở đây không phải là tín hiệu- biểu hình đơn thuần mà là một hình tượng nghệ thuật. Trong khi đó
tín hiệu- biểu tượng quan hệ với đối tượng dựa trên sự thỏa thuận. Mối quan hệ lỏng lẻo này cho phép
biểu tượng có phạm vi rộng hơn trong hiện thực, vươn tầm khái quát của mình đến những đối tượng
hữu hình lẫn vô hình (và thực tế đại đa số biểu tượng văn học hướng đến các vấn đề vô hình, trừu
tượng). Như vậy, biểu tượng đã đi tiếp con đường mà hình tượng để lại do chưa có khả năng chuyển tải
những đối tượng khó nắm bắt. Thêm vào đó, quan hệ tương đồng của tín hiệu- biểu hình tức hình
tượng với đối tượng rõ ràng là hẹp hơn quan hệ liên tưởng của tín hiệu- biểu tượng tức biểu tượng với
đối tượng. Tương đồng là mối quan hệ đơn tuyến trên tiêu chí giống, tương đương, tương tự; liên
tưởng là mối quan hệ đa tuyến, mở rộng. Vì thế, sau khi lý giải các hình tượng trong chương 2 chúng
tôi tiến hành chương 3 để mở rộng thêm tuyến liên tưởng nhằm khai thác đầy đủ hơn về yếu tố kỳ ảo
trong truyện ngắn của Marquez.
3.1.2. Con đường của yếu tố kỳ ảo thành một biểu tượng
Có thể nói những biểu tượng nổi bật nhất của Marquez đều có mối liên hệ với yếu tố kỳ ảo, vì thế
chúng tôi tiến hành xác định mối quan hệ này như một quá trình tác động xuyên thấm lẫn nhau của yếu
tố kỳ ảo và các biểu tượng theo các bước sau:
Bước thứ nhất, con đường của yếu tố kỳ ảo đi vào biểu tượng cũng chính là con đường của
huyền thoại học. Có lẽ chúng có cùng một căn nguyên từ tính chất của lời nói- ra đời trong thời đại
huyền thoại như Giambattista Vico [17,152-153] đã trình bày. Bản thân ngôn từ đã mang tính kỳ ảo tự
thân trong quá trình xác định danh pháp dưới ánh sáng thần khải. Con đường của cái kỳ ảo vì thế tập
trung trong nó cả sự sáng tạo cho dù được ý thức bị động là nhân danh Thượng đế hay chủ động là nối
dài sự sáng tạo của Vật tạo chủ bằng cách hoàn chỉnh tồn tại và ý nghĩa của sự vật. Tác giả Đào Ngọc
Chương tiếp tục khẳng định: “Đó là thứ ngôn ngữ sự vật và hành động… ngôn ngữ ấy chính là thứ
ngôn ngữ kỳ ảo, và nhờ thế có thể nói được bản chất của sự vật theo một đường bay của tưởng tượng
và biến những thực thể sống động thành thần thánh… đặc trưng tư duy huyền thoại, luôn trên tiến
trình, hay ít nhất là trên một tiến trình, từ sự tưởng tượng với hiện tượng nhân hóa đến trừu tượng, từ
các thần đến các biểu tượng và rồi dẫn đến phúng dụ”(tr54). Từ bản chất của ngôn từ, cái kỳ ảo đã
phôi thai; đường dây kết nối yếu tố kỳ ảo và biểu tượng chính là đường bay của tưởng tượng nối liền
những sự vật hiện hữu cũng như sự vật phi hiện hữu, trừu tượng. Biểu tượng là ánh sáng ở cuối đường
hầm này. Như vậy, theo góc nhìn huyền thoại thì biểu tượng là sự suy thoái của các thần, hay đúng hơn
là sự trừu tượng hóa lần thứ hai để chỉ giữa lại những nét tinh chất nhất. Đến lượt mình những nét tinh
chất ấy tham gia vào quá trình tái cấu trúc thành chỉnh thể mang tính phúng dụ. Biểu tượng là kết quả
trung gian của hai lần trừu tượng hóa vì thế nó vừa mang những nét chung hơn các hình tượng nhân
hóa nhưng vẫn riêng hơn các hệ thống phúng dụ. Điều này càng củng cố tính phân tầng trong đặc điểm
của biểu tượng chúng tôi đã đề cập. Cụ thể như nhà triết học Đức Ernest Cassirer đã xác định huyền
thoại theo hướng biểu tượng như sau: “Cassirer nhận thấy đặc trưng của tư duy huyền thoại trong sự
không tách biệt hiện thực và lý tưởng, sự vật và hình tượng, vật thể và bản chất, “nguyên lý” và
nguyên tắc… do đó sự tương đồng hay tiếp giáp biến thành tính nhất quán nhân quả; còn quá trình
nhân quả lại mang đặc tính biến đổi vật chất. Các quan hệ không được tổng hợp mà được đồng nhất;
các hình tượng cụ thể được thống nhất hóa thế chỗ cho các “quy luật”; bộ phận tương đồng với tổng
thể về chức năng; [55,51]
Ánh sáng cũng như nước là một trường hợp như vậy. Sự tương đồng của người nói về một khía cạnh
của ánh sáng và nước, với niềm tin của con trẻ, đã trở thành nhất quán, đồng nhất. Rõ ràng đến khi lũ
trẻ chết đuối trong thứ ánh sáng ấy thì cái tương cận hoàn toàn bị thay thế bằng quy định võ đoán đã
được chấp nhận một cách nghiêm ngặt nhất. Quy luật một khi đã hình thành dù là trên tính võ đoán
nhưng sẽ được duy trì, cố kết theo kiểu luật trò chơi mà người tham gia phải hoàn toàn chấp nhận.
Dòng ánh sáng này, vì thế, gợi nên trước hết như một vùng nước bao la để lũ trẻ có thể tha hồ khám
phá, đó là bước thứ nhất của biểu tượng khi thiết lập trên mối quan hệ gần gũi. Nhưng sau đó nó trở
thành đại dương, thành thứ biển cả có thể dìm cả làng vào lúc mười một giờ trưa trong Biển của thời
đã mất. Dễ dàng nhận thấy sự tương đồng giữa hình ảnh những người đàn ông và phụ nữ cưỡi ngựa
cùng những con người xoay quanh quán nhạc với lũ trẻ chết đuối trong Ánh sáng cũng như nước:
“Còn ba mươi sáu bạn cùng lớp của chúng đang trôi nổi đây đó khắp căn hộ, đã chết cứng và được
vĩnh hằng hóa trong khoảnh khắc đái vào chậu men sứ, trong khoảnh khắc hát bài hát của trường với
lời đã được đổi bằng những câu thơ nhạo báng thầy hiệu trưởng, trong khoảnh khắc uống trộm một
cốc rượu brandy trong chai của ông bố…” [52,56]
Bước thứ hai, trường hợp cái trải nghiệm và cái tưởng tượng cùng một chủ đề nhưng lại khác bản
chất, chúng thường gắn kết nhưng cũng có khi tách biệt, cái tưởng tượng, huyền thoại khi ấy không đi
song hành mà thay thế cuộc sống. Người tiếp nhận huyền thoại có thể chú ý mà chẳng hề ngạc nhiên…
Huyền thoại, đến lượt mình, là yếu tố kỳ ảo đặt vấn đề hơn là giải thích, định vị hơn là giải quyết. Đó
là lý do một điều gì đó lại được nói theo cách này hay cách cố định khác để dẫn đến chỗ người ta khám
phá ra tưởng tượng được nuôi dưỡng từ những gì, nó thao tác ra sao trong khi biến đổi và tái tạo dưới
vẻ dường như vô can. Trường hợp này biểu tượng kéo dài sự linh hiển. Đó là cung cấp tính linh thiêng
cho các yếu tố tham gia vào biểu tượng:
… phần lớn các linh hiển có khả năng trở thành biểu tượng. Nhưng không phải trong sự chuyển
đổi của các linh hiển thành biểu tượng mà ta tìm kiếm vai trò quan trọng của hệ thống biểu tượng
trong kinh nghiệm thần bí- tôn giáo của loài người. Không phải chỉ vì biểu tượng kéo dài một
linh hiển hoặc thay thế việc đó mà biểu tượng có vai trò quan trọng, trước hết chính là bởi biểu
tượng có thể kéo dài quá trình hiển linh hóa và nhất là khi có cơ hội, chính bản thân nó lại là một
linh hiển, có nghĩa là nó phát hiện một sự thật linh thiêng hoặc có tính vũ trụ mà không có bất kỳ
một thể hiện nào khác có thể phát hiện được. [26,179]
Đó là cái khát khao đồng hóa, mong nhận ra một nguồn gốc chung trong tầng sâu ý nghĩa để nhận ra
mình là bộ phận. Đó là cái chết của người bảo vệ già khi muốn thâm nhập và đồng nhất vào cơn gió
Tramontana cổ xưa nhất; là sự hóa thân trong những tầng lớp ý nghĩa sâu kín nhất có vai trò như những
cổ mẫu vào các nhân vật trong Đôi mắt chó xanh và phân thân trong Bên kia cái chết. Sự kéo dài
những huyền thoại thông qua yếu tố kỳ ảo hiện hình thành những biểu tượng mà với khả năng của
mình, nó kéo dài sự kỳ diệu từ quá khứ đến thực tại theo kiểu người thanh niên đã kéo con tàu ma về
làng mình cho mọi người thấy trong Chuyến đi cuối cùng của con tàu ma hoặc cũng có thể ngược lại,
kéo hiện tại về với những khoảnh khắc quá khứ phi thường, vượt ra ngoài những suy xét lý trí của
người hiện đại như kiểu bóng ma Ludovico đã làm với vợ chồng nhân vật xưng tôi trong Những bóng
ma tháng Tám. Tuy nhiên, cách thức đặc biệt nhất và cũng là đặc trưng kiểu chủ nghĩa hiện thực huyền
ảo của Marquez chính là duy trì quan niệm cổ xưa ngay trong đời sống hiện tại. Theo cách đó hiện tại
trở thành chính nó khi hé lộ được tất cả những khả năng mà chỉ có yếu tố kỳ ảo mới thi hành hoàn
chỉnh. Đó là việc người ta gặp gỡ chất vấn và chứng kiến sự ngạc nhiên của Thần Chết theo kiểu chính
con người quyết định số phận của mình trong Chết ở Samarra. Hay cách người ta sống giữa thực và ảo
thực hơn cả đời sống khi có thể thưởng thức được tất cả màu sắc, hương vị và cảm giác trong mơ.
Những ám ảnh lôi kéo con người đến nỗi không thể phân biệt đâu là thực đâu là ảo, đâu là cõi người
sống đâu là cõi người chết (Bên kia cái chết); tất nhiên khi có sự lưỡng phân giữa hai đối tượng được
đẩy ta phía trước ngụy trang cho sự song tồn thực ảo thì biểu tượng chiếc gương vẫn hiện lên như một
hình ảnh quyền lực nhất (Bên kia cái chết, Đôi mắt chó xanh,…)
3.2. Một số biểu tượng gắn với yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn G.G.Marquez
Tư duy biểu tượng tạo thành một hệ thống xoay quanh và phối kết với cái trung tâm cốt lõi theo
nhiều hướng khác nhau khó mà tập trung được. Vì thế nỗ lực chỉ ra ý nghĩa cụ thể của biểu tượng là
bất khả hoặc đẩy sang một thái cực khác là đơn giản hóa nó vào cái cá thể. Con đường của biểu tượng
phải đi theo hướng từ cái đơn thành cái bội (chữ của Jean Chevalier) để soi chiếu và bổ sung cho các
nét nghĩa. Vì thế, chúng tôi trình bày biểu hiện cái kỳ ảo như một trung tâm thu hút xung quanh nó
những dạng thức có mối liên hệ nhiều khi rõ ràng, nhiều khi tiềm ẩn hình thành những nhóm biểu
tượng. Tiêu chí phân định phạm vi liên kết là tư tưởng và sáng tác của Marquez. Chúng tôi chủ yếu
khảo sát 03 nhóm biểu tượng gồm biểu tượng biển, hoa hồng và du tử.
Từ cái nhìn sơ khởi, việc lựa chọn biểu tượng tuy ít nhiều mang tính võ đoán nhưng cái kết quả để lại,
cái tổng thể của nó đã hứa hẹn một tuyến liên kết mà trong những mê lộ của tư tưởng và ngôn ngữ có
thể bắt lấy được. Tiến hành khảo sát các nhóm biểu tượng chúng tôi ý thức được những phạm vi tinh
nhạy với tính co giãn của đối tượng được đề cập. Một biểu tượng sẽ mang khả năng liên kết theo trục
ngang và trục dọc đến một hệ thống các hình ảnh và ý nghĩa, vì thế tự giới hạn vào một đối tượng nhất
định không khác gì tự giết chết những ý nghĩa chưa bao giờ từ bỏ sức sinh sôi của mình.
3.2.1. Nhóm biểu tượng biển
Trong phần này chúng tôi đề cập đến hai vấn đề: đặc điểm và vai trò của nhóm biểu tượng biển.
Nhóm biểu tượng biển là một điểm nổi bật trong thế giới nghệ thuật của Marquez. Bởi lẽ biển và
những thể hiện của nó xuất hiện trong khá nhiều tác phẩm khiến có cảm giác như hình thành cả một thế
giới nghệ thuật gắn với biển của Marquez. Lướt qua các truyện ngắn của ông có thể thấy biển xuất hiện
với vai trò chủ đạo của mình trong Biển của thời đã mất, Chuyến đi cuối cùng của con tàu ma, biển với
tư cách là tác nhân quan trọng trong Cụ già có đôi cánh khổng lồ, Gió bắc, Người chết trôi đẹp nhất
trần gian, Quà tết; được nhắc đến như thành phần tác phẩm trong Blacaman- người hiền bán phép
tiên, Chuyện buồn không thể tin được của Erendira và người bà bất lương, Tôi được thuê để nằm
mộng… Trong chương ba chúng tôi đã làm rõ không gian biển trong một số các tác phẩm nêu trên.
Thông qua liệt kê của chúng tôi có thể nhận thấy biển với vai trò chủ đạo của mình đã vượt quá một
hình tượng không gian làm tiền đề cho các nhân vật hành động hay triển khai cốt truyện. Thêm vào đó
sự xuất hiện với tần số lớn cộng với các biến thể cũng như liên kết phong phú, chúng tôi nhận thấy
biển vừa có tính năng sản đồng thời lại đóng vai trò là một trục liên kết các thành phần như gió, bão,
nước, cua, rùa,… tạo thành một hệ biểu tượng khá phong phú. Như vậy khảo sát biểu tượng biển, ít
nhất có thể tiến hành theo hai hướng: bản thân biển và các liên kết khác của nó.
Biểu tượng biển đặc trưng ở tính chất đa diện trong văn hóa nhân loại, là động thái của sự sống và
cái chết, hay là con đường của sự sống [14,80]. Nhiều sinh thể đến từ biển và đi cũng trở về biển. Rõ
ràng ông lão có đôi cánh khổng lồ được xác định rằng giọng sang sảng như giọng thủy thủ, hai vợ
chồng Pelayo định trả ông về bằng cách thả ông trên chiếc bè với lương thực trong vài ngày và khi ra
đi thì ông cụ cũng chỉ còn là một điểm tưởng tượng trong đường chân trời ngoài biển cả mênh mông.
Biển cả là nơi con tàu ma tồn tại và khi nó xuất hiện trước mặt công chúng thì trên thân tàu còn rỏ ra
thứ nước cổ xưa của vùng biển chết. Người ta đã chôn và sẽ chôn cất những người làng ở biển, biển cả
trở thành nấm mồ chung nơi người ta thường ném tử thi trong Biển của thời đã mất.
Biển còn là sự quá độ giữa những khả năng phi hình và các thực tại đã hiện hình. Biển trong Chuyến đi
cuối cùng của con tàu ma đã làm sáng rõ điểm này. Khả năng của con tàu ma như một thực tại siêu
hình từ phía biển đã hiện diện giữa làng mà trên boong còn mang theo thứ nước từ những vùng biển
chết. Sự quá độ này với biển là vai trò trung gian đã tạo nhiều hướng thúc đẩy để nhân vật khao khát,
liều lĩnh thực hiện hành động cứu con tàu ma và đưa nó vào đất liền. Đây gần như là sự hiển linh mà
mỗi cuộc đời đều trông chờ. Với nhân vật chính thì hành động đó như thỏa mãn một ẩn ức từ sâu xa
mà cả làng đã đặt lên gia đình anh ta. Trong góc nhìn đó thì biển là bản năng, tiềm thức là nơi nổi lên
những con quái vật ám ảnh ý thức, việc dẫn con tàu ma về chính là làm sáng tỏ một huyền thoại bị
kiềm giữ từ lâu trong cộng đồng và trở thành ẩn ức của một cá nhân khi gia đình anh ta ngẫu nhiên lại
như bị sức nặng của một lời nguyền truy đuổi. Sự khai sáng cộng đồng như vậy cũng mang ý nghĩa
giải thỏa kiềm nén cá nhân. Soi chiếu với những lớp ý nghĩa kinh Thánh thì biển giữ thế thù nghịch với
Thiên Chúa [14,81], truyền thống Do Thái giáo thời xưa mong muốn Thiên Chúa chinh phục biển cả
(như Jehova đã làm khô biển Đỏ, và Jesus làm dịu giông bão trên biển) thì trường hợp trong nền văn
hóa Mỹ Latin thì không chỉ thể hiện sự kiềm chế biển cả mà dường như khi kết hợp với yếu tố kỳ ảo
thì cũng bị hiện thực tra tấn: biển đục ngầu và đầy những rác, biển là nơi người ta quăng xác chết, là
nơi người ta lừa phỉnh nhau bằng những con chim giấy bay về,… Với Mỹ Latin và trong truyện ngắn
Marquez như chúng tôi đã chỉ ra, biển đóng vai trò là sự hóa giải tình thế (ở một xứ nhiệt đới), là ước
mơ thể nhập và thoát khỏi sự cô đơn tù túng và vượt thoát thứ hiện thực bình thường hằng ngày của
cuộc sống.
Hình ảnh biển ánh sáng trong Ánh sáng cũng như nước có cả lớp ý nghĩa về lụt và hồng thủy. Đó là
mặc cảm trong lòng con người tích lũy từ ngàn xưa. Hồng thủy là kết quả tội lỗi song cũng là sự thanh
tẩy tội lỗi. Đối diện với nó, người ta thấy nhỏ bé, hỗ thẹn bao nhiêu thì cũng sảng khoái khi lướt thuyền
trên hồng thủy như Noel trong Kinh Thánh: “ngồi lên thuyền bơi theo ý thích, luồn lách khắp nhà.” Đó
là cảm giác vượt lên khó khăn cũng như những thứ thường ngày mà người ta phải ngước nhìn giờ lại
thấy ngay dưới chân. Được nước thanh tẩy, mọi thứ trở nên lạ lẫm và hiện ra với ánh sáng mới, tham
gia vào một hiện thực của thế giới để hé lộ những điều mà ánh sáng bình thường không thể thấy được.
Nhờ đó lũ trẻ có thể: “như những chú cá sấu hiền lành, chúng bơi lặn ở bên dưới những giường, tủ,
bàn, ghế và nhặt nhạnh từ dưới đáy ánh sáng những thứ bị mất trong bóng tối nhiều năm.” Chính nhờ
cách nhìn mới về thực tế mà một hiện thực mới vượt qua những phạm vi của sự thật, hiển lộ như một
sự kỳ ảo giữa cuộc đời vốn từ lâu không có chỗ cho những phép lạ: “Dân chúng đổ ra đại lộ
Castedana ngắm nhìn một cái thác ánh sáng đổ xuống từ một ngôi nhà cổ ẩn giữa những cây to. Từ
các ban công ánh sáng tràn rồi đổ thành dòng xuống theo bức tường mặt tiền ngôi nhà, làm ngập chìm
cả đại lộ trong một dòng chảy màu vàng và làm hừng sáng cả thành phố cho đến tận vùng ngoại ô
Goadarama” [50,58]. Hình ảnh ẩn dụ về đại dương này chính là một giải pháp cho ước mơ bị bóp
nghẹt trong cuộc sống. Những giấc mơ và niềm vui của trẻ con không thể bị bó hẹp trong khuôn khổ
gian phòng nhỏ, không thể thỏa mãn bằng những buổi tối thứ tư xem phim. Không chỉ trẻ con mà con
người cần những khoảng không rộng lớn của tâm hồn để có thể tháo bay tung những ước mơ, đó là
cuộc sống chỉ tìm thấy khung trời của nó trong biểu tượng biển cả.
Biểu tượng rùa là một thành phần, một liên kết với biển để mở rộng ý nghĩa của hệ biểu tượng
này. Hành trình đi xuống tầng sâu- dưới tầng những người chết trôi- nơi có nhiều rùa béo của Tobias
và Herbert chính là cuộc thâm nhập về quá khứ cổ xưa. Khác với kiểu xâm lược Thực dân kiểu cũ của
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Thực dân mới liên kết với người dân bản địa nhằm khai thác thuộc địa,
ngay cả những tài nguyên trong lòng biển mà người bản xứ không hay biết. Đối với Tobias thì chỉ có
người chết mới biết dưới lòng biển có gì nhưng với ngài Herbert thì các nhà khoa học cũng biết cả.
Tuy nhiên, ý nghĩa của biểu tượng rùa nằm sâu trong lòng biển cả vượt quá tầm vóc hiểu như tài
nguyên bị bóc lột nhưng đạt đến mối liên kết với những giá trị văn hóa truyền thống. Bởi rùa thuộc
nam tính và nữ tính, thuộc loài người và vũ trụ- tìm về rùa là về nghĩa biểu trưng của lịch sử [14,783].
Quá khứ thần thoại của khu vực Mỹ Latin hiện lên thông qua tính lưỡng phân song tồn này; thứ hiện
thực ấy tồn tại trên khắp dãi đất Trung và Nam Mỹ. Dưới biển là những con rùa béo mập mà khi chết
đi thì người ta phải dùng dao giết chết trái tim cứ giẫy đành đạch ngoài sân, trên đất liền là những con
người giống nhau như phân đôi: “Đúng vậy. Họ chính xác là hai anh em sinh đôi, không ai có phân
biệt được ai là anh, ai là em. Trước đây, khi cả hai còn sống riêng thì họ không giống như hai anh em
sinh đôi, giản dị và biệt lập giống như cặp khác” (Bên kia cái chết).
Một biểu tượng khác gắn liền với biển đồng thời trở thành ám ảnh lớn nhất của con người, thu hút
như một sức mạnh kỳ ảo trong truyện ngắn Marquez, đó là gió. Gió trong nhiều nền văn hóa thể hiện
tính hư phù, bất ổn định, nó là sức mạnh sơ đẳng vừa dữ dội, vừa mù quáng. Gió đồng nghĩa với khí, là
thần linh. Theo các truyền thuyết Ba Tư cổ thì gió có vai trò giá đỡ thế giới và điều tiết các thế cân
bằng của vũ trụ và tinh thần; theo các truyền thuyết Hồi giáo gió có chức năng tàng trữ nước, tạo ra
không khí và mây, gió có vô số cánh, cũng mang vai trò giá đỡ… [14,362-263] Trong truyện ngắn
Tramontana, gió đã mạnh lên trở thành cơn dông, khi nó nó không còn là hư phù nhưng đã khuếch đại
sức mạnh linh thiêng kỳ ảo, thường được hiểu như là sự can thiệp của thánh thần hay cơn giận của
Thượng Đế. Cơn dông là dấu hiệu của khai thế hay hủy diệt; đặc biệt cơn gió mạnh, cuồng phong lại
có thể hiểu theo quan niệm của thổ dân châu Mỹ là sự trổi dậy của không khí, lửa [14,226-261].
Ở Tây Ban Nha, Tramontana là trận gió thổi theo hướng đông bắc- tây nam ngang qua Ampurdan vùng
Ginora, thường kéo dài từ 03 đến 12 ngày trong đất liền, với tốc độ xấp xỉ 130 km/h; để đối phó với
hiện tượng tự nhiên này, người ta thường phải đóng kín các cửa nhà, gia cố vật liệu và tránh trận gió
này phó mặc ngoài trời tiếng rít dữ dội. Tramontana với tư cách là thứ gió cổ xưa nhất đã mang bốn
đặc điểm như sau khi nó đóng vai trò biểu tượng: Là một sự mặc khải, là sự giận dữ như một thông
điệp, là sự nổi dậy chống trật tự và là quy trình của hủy diệt và tái sinh. Nhờ đó có thể lý giải về những
cái chết trong Tramontana.
Gió bắc thực chất là một thông điệp về sự cô đơn của con người trước cái đẹp của cái chết. Cái chết
như một giới hạn mà không ai có thể vượt qua, không hề có tiền giả định kinh nghiệm cho cái chết nên
tự nhiên nó mang sức hấp dẫn lớn. Vẻ đẹp gắn với cái chết tự nhiên đã trở thành một dạng tồn tại
thiêng liêng của khái niệm trừu tượng trong nhận thức. Hai vấn đề quan trọng trong Tramontana của
Marquez là mối quan hệ giữa vẻ đẹp và cái chết. Người ta ngắm nhìn thưởng thức vẻ đẹp của nó trong
sự bạo cuồng của tự nhiên, cảm giác được chinh phục của con người khi tự nhiên hé lộ cái kỳ vĩ của
nó. Quan niệm về bản thân gió bắc khác nhau dẫn đến những thái độ khác nhau. Ban đầu là sự tò mò
thu hút của cái đẹp nhưng về sau các nhân vật đều trốn tránh nó; đặc biệt là bằng cả cái chết. Có khả
năng đây là việc thể nhập với cái kỳ ảo của thiên nhiên, hứa hẹn cái chết sự sợ hãi trở về với bản chất
cố hữu của con người từ ngàn xưa khi mang một thân phận mỏng manh giữa thế giới bao la. Vì thế,
con đường chết nếu bản thân nó là khả năng gió bắc hứa hẹn thì cái chết cũng không loại trừ khả năng
là cách thể nhập với gió bắc một cách rõ ràng nhất.
Cái chết trong tác phẩm mang hai ý nghĩa do khác biệt nhận thức. Cái chết của chàng thanh niên và
ông lão đều bị ảnh hưởng bởi tính tâm linh của gió bắc nhưng chàng trai là sự hoảng loạn và tiếp nhận
hệ thống phức tạp, ngồn ngộn ban đầu như một “đám tinh vân” hiện tượng được khái quát thành tín
ngưỡng dân gian, đây là bước đầu con người đến với cái kỳ ảo. Nhưng cái chết của ông cụ lại là sự thể
nhập và giải mã cái kỳ ảo- đó chính là tín hiệu, là dấu hiệu cho cái chết của ông. Vì thế, mà dạng điềm
triệu, dấu hiệu được sử dụng khá nhiều trong tác phẩm của Marquez, cả truyện ngắn hiện thực nghiêm
ngặt lẫn hiện thực kỳ ảo.
Tuy bản thân không là một biểu tượng nhưng cua lại đóng góp vào hệ biểu tượng biển những đối
chiếu lý thú với yếu tố kỳ ảo. Cua trong truyện ngắn Marquez không phải là là hóa thân của những
sinh lực siêu tại, thường có nguồn gốc âm ty, nhưng đôi khi cũng từ thiên giới [14,221]. Không còn là
một con vật huyền thoại khi di chuyển gây nên những bão táp trên mặt biển nhưng cua đóng vai trò là
sứ giả của yếu tố kỳ ảo. Cua cứ bò vào nhà và chết trong đó, những nhân vật trong Biển của thời đã
mất và Cụ già có đôi cánh khổng lồ đều phải chịu đựng điều này. Cua là biến thái đầu tiên cho sự bước
qua các ranh giới huyền thoại của không gian dẫn đến thời gian; sự bất tri nhận nó của con người thể
hiện một độ lệch bản chất giữa các thế giới được giới hạn bởi những mô hình cảm thức nhất định.
Người ta đánh giá cua cũng như ông lão có đôi cánh tương đồng với mùi hương hoa hồng,… tất cả đều
là sự rắt rối và phiền nhiễu của cuộc sống. Khi bị xếp loại như nhau thì những sự việc kỳ lạ thường
ngày như cua bò vào nhà, bò lên người Tobias sẽ giúp soi chiếu và nhận ra một sự lệch lạc trong nhận
thức của con người sống trong thế giới hiện thực bị thổi phồng khiến những mặt khác của cuộc sống
không thể bày tỏ. Truyện ngắn của Marquuez nhắc nhở tình trạng này nhằm tháo gỡ thế cô đơn khách
quan lẫn chủ quan.
Có thể nhận thấy biểu tượng biển mang chức năng quan trọng trong việc liên kết các nhân vật
cũng như tạo bước chuyển trong cốt truyện, điển hình nhất là trong Biển của thời đã mất.
Thứ nhất, biểu tượng biển liên kết nhân vật của hai tuyến thế giới khác nhau. Trong khi những
người khác trong làng và ngay cả ông lão Jacob đều được liên kết với nhân vật Herbert bởi túi vàng thì
Tobias lại liên kết với nhân vật này bằng hành trình đi xuống biển. Đại dương mở ra một sự kết hợp
của hai nhân vật chưa có được giao điểm ở làng, ở bàn phát tiền. Một nhân vật khác có thể xem như sự
soi chiếu với Tobias là ông già Jacob đã thất bại và trở thành con nợ của Tobias. Ông lão Jacob không
thể thực hiện một hành trình dài xuống biển để gặp lại bà Petra đang tươi trẻ trong dòng nước hoa bất
tử. Jacob là quá khứ trong khi Tobias là hiện tại của châu lục; nhưng hướng phát triển trong quan hệ
với nhân vật người Mỹ đã chỉ ra một hiện trạng là Tobias phải dưới sự dẫn đường của Herbert và khả
năng để Herbert biến Tobias thành Jacob là hoàn toàn có thể, tính hiện thực trong cái kỳ ảo là ở đấy.
Thứ hai, biển còn có chức năng phá vỡ phạm vi đời sống hạn hẹp thường ngày và cho phép yếu
tố kỳ ảo xâm thực vào mình để mở ra một thế giới mà ở đấy sự liên kết các nhân vật diễn ra vĩnh cữu,
chống lại mọi giới hạn không gian và thời gian. Bà Petra là một trường hợp như vậy. Khi sống bà luôn
băn khoăn và xem mùi hoa hồng từ biển là điềm báo cái chết, sau khi chết bà lại được hồi sinh trong
lòng biển cả thành: “một người đàn bà rất trẻ bơi qua trước mặt họ. Bà ấy bơi nghiêng, hai mắt mở to,
có một dòng hoa chảy theo… Đó là một người đàn bà đẹp nhất… Bà ta trẻ lại đến năm mươi tuổi
nhưng là bà ta… Bà ta đã bơi đi du lịch rất nhiều nơi- bà ta mang theo mình hoa của tất cả các biển
trên thế giới.”
Thứ ba, biển với tính chất của biểu tượng đã tạo bước chuyển trong cốt truyện. Chính xác hơn là
với sự kết hợp của yếu tố kỳ ảo, biển đã trở thành khâu trọng tâm trong cốt truyện kỳ ảo. Ở trường hợp
này, biển hóa thân vào ánh sáng và tiếp tục diễn hành trên một ngôi nhà cao tầng ở đại lộ Tây Ban Nha.
Chính sự xuất hiện của kiểu biển ánh sáng này dẫn đến yêu cầu của Toto và Hoen những thứ quà
thưởng khác nhau và đỉnh điểm kỳ ảo là cái chết của bọn trẻ. Biển cũng đóng vai trò dẫn dắt tiến trình
câu chuyện trong Gió bắc, Người chết trôi đẹp nhất trần gian. Đó là sự tác động và giải pháp cho
truyện ngắn kỳ ảo của Marquez- một sự lý giải hợp lý khi dung nạp biểu tượng biển vào trong cấu trúc
truyện ngắn.
3.2.2. Nhóm biểu tượng hoa hồng
Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới từ trang 429 đến 530 thì hoa hồng mang rất nhiều ý
nghĩa tượng trưng tâm linh và trong từng cấp độ có thể nhận thấy sự tương đồng bộ phận hoặc toàn thể
đối với truyện ngắn của Marquez.
Biểu tượng hoa hồng trước hết mang những lớp ý nghĩa biểu trưng như sau:
Thứ nhất, hoa hồng mang ý nghĩa hiển lộ, có vai trò như một Mandala tâm linh. Các nhân vật đều
khao khát có một hoa hồng (Thần chết thường ẩn sau ái tình, Clotilde trong Biển của thời đã mất)…
Hoa hồng như một biểu tượng của điều tốt đẹp, có là cứu cánh cuộc sống. Trong Thần chết thường ẩn
sau ái tình, hoa hồng được nghị viên Oneximo Sanchez mang theo là hoa hồng duy nhất xuất hiện ở
cái làng mang tên Vườn hồng phó vương có một ý nghĩa đặc biệt. Đó là hoa hồng che bóng cho giấc
ngủ, một chốn yên bình tâm hồn trong cuộc trốn chạy nỗi sợ hãi cái chết và đặc biệt là cô đơn. Hoa
hồng là chỗ dựa cho ông nghị trước khi gặp người phụ nữ của mình Laura Pharina. Giữa không khí
nóng bức và khô cằn, hoa hồng cắm trong ly nước là điểm thu hút sức tập trung và là đề tài mà họ nói
với nhau.
Thứ hai, hoa hồng là chén thánh, là máu Jesus. Biểu tượng này gắn với máu của Đấng linh thánh
nên mang nghĩa phục sinh thần bí, hay tái sinh. Theo tiếng Latin thì hoa hồng có liên quan đến sương-
rosa, với mưa ros- là các tạo vật mang ý nghĩa tốt lành trong khả năng tái sinh và tạo điều kiện cho một
sự sống mới. Hoa hồng, vì thế, mang một sinh lực thần bí thúc đẩy thành hình mầm sống trong những
hoàn cảnh đặc biệt nhất. Marquez xây hình hình ảnh thi hài em bé đã chết 11 năm nhưng vẫn tươi
nguyên và mất trọng lượng, gắn vào đó mùi hương và những hoa hồng còn tươi trải qua thời gian như
là minh chứng cho yếu tố kỳ ảo.
Hơn nữa, khi người ta bật nắp áo quan, thơm lựng cái mùi hương những bông hồng tươi mà
người ta đã bỏ vào áo quan khi an táng cô bé… Hơn thế nữa, những bông hồng người ta đặt vào
tay em vẫn tươi rói, y nguyên (sau 11 năm) [52, 48-49]
Những bông hồng và bé gái đã tác động lẫn nhau kiến cả hai chia sẻ tính chất thần bí, vì thế nếu như
người cha cho rằng đây là minh chứng con mình xứng đáng được phong thánh thì hoa hồng chứng
minh tính hiển thánh hay kéo dài một linh hiển theo đúng nghĩa biểu tượng.
Hoa hồng đã đóng vai trò là vật kết nối giữa cõi sống và cõi chết. Một lần nữa trong Ai đó đã làm rối
những bông hồng, vai trò này càng được nhấn mạnh. Nguyện vọng của người chết là lấy những hoa
hồng để kết thành vòng hoa không chỉ đơn thuần là một trò chơi nhưng chính là khát vọng được tiếp
nối sự sống một cách nào đó. Tất cả thể hiện nỗi mong ước được giao cảm với đời sống, với con người
trong khi cái chết đã phong tỏa tất cả. Bởi thế bằng những hoa hồng, người chết đã chờ đến khi nàng
biết rõ ai đã làm rối những bông hồng.
Thứ ba, hoa hồng là biểu tượng tình yêu. Ý nghĩa này khá phổ biến trong tất cả các nền văn hóa
và văn chương. Tuy nhiên, tình yêu cũng như Tramontana là thứ tình cảm cổ xưa nhất trên đời, cũng
như những điều kỳ ảo khác tình yêu là thứ tuyệt vời nhất. Thế nên tình yêu trong tác phẩm Marquez
cũng chịu chung số phận với cái kỳ ảo- bị hiện thực tra tấn. Hiếm khi thấy được một tình yêu nào trọn
vẹn hoàn kết trong truyện ngắn Marquez mà thường là băn khoăn về một cuộc hôn nhân không hạnh
phúc. Đó là vấn đề mà Dấu máu em trên tuyết muốn chuyển tải đến người đọc. Máu đó là sự sống, là
vật dẫn linh hồn, mất máu tức là chết, nhưng mất máu lại gây ra từ gai hoa hồng- từ biểu tượng tình
yêu của cuộc hôn nhân. Đó là băn khoăn muôn đời của những tình yêu- liệu cuộc hôn nhân sẽ viên
thành tình yêu hay hủy diệt nó. Nỗi băn khoăn ấy đeo bám Nena Daconte dẫn đến viễn tượng về một
hạnh phúc mong manh dễ vỡ trong hôn nhân. Nhưng rõ ràng là hạnh phúc nào của con người cũng
mong manh, quan trọng là truyện ngắn đề cập đến những trở lực phi lý của đời sống đang ngăn cản con
người từng ngày. Người ta bị hút vào những lực khác và đánh mất đi hạnh phúc lúc nào không hay, khi
đó rơi vào bi kịch của sự bất lực trước hạnh phúc. Vết máu đỏ như hoa hồng, đó là ẩn dụ những băn
khoăn nhỏ gây nên hậu quả lớn, đánh cắp mất hạnh phúc và ước mơ của con người.
Gắn liền với biểu tượng hoa hồng còn có mùi hương. Mùi hương hoa hồng trong truyện ngắn
Marquez cũng tham gia vào hệ biểu tượng để triển khai thế giới nghệ thuật của nhà văn. Mùi hương
hoa hồng đến từ biển không phải ngẫu nhiên mà lại dẫn đến đám đông du khách và đặc biệt nhất là
ngài Herbert. Mùi hương hoa hồng tượng trưng cho công cuộc thuộc địa hóa của Herbert đối với
những người dân bản địa bằng túi tiền thông qua những đề nghị hấp dẫn cho Tobias, Clotilde, Jacob,…
Mùi hương hoa hồng được cha xứ khẳng định là đã được nhắc đến trong Kinh Thánh, được Don
Maxcimo Gomet giải thích như một ảo ảnh thoát thai từ ước muốn trỗi dậy. Mùi hương hoa hồng như
một yếu tố kỳ ảo đã sống giữa cuộc đời thật hơn cả hiện thực:
Kể từ cái đêm ấy, và suốt mấy tuần sau nữa, mùi hoa hồng vẫn hiện diện ngoài biển. Nó thấm vào
gỗ các ngôi nhà, đượm mùi trong các món ăn, lẫn vào cả trong nước uống. Không có chỗ nào
không ngửi thấy mùi hoa hồng. Nhiều người còn kinh ngạc khi nhận thấy trong hơi phân của
chính mình cũng có mùi hương ấy. [53,63]
Đó là sự kết hợp hoặc liên tưởng những ý nghĩa có liên quan hoặc đối lập nhằm soi chiếu các khía cạnh
của hệ biểu tượng. Mùi hương hoa hồng là biểu tượng hai mặt phân ly- sự sống và cái chết. Mùi hương
hoa hồng đã dẫn đến sự hồi sinh và tuyệt diệt cho ngôi làng này- vòng tuần hoàn như Trăm năm cô
đơn.
Bên cạnh đó, những điều kỳ ảo trong truyện ngắn Marquez thường được dẫn xuất bằng các mùi hương
lạ. Mùi hương lạ là sự phát triển và mở rộng mùi hương trong biểu tượng hoa hồng. Đó là mùi phormal
ngâm xác trộn lẫn với hương hoa làm cho nhân vật bị dẫn vào thế giới bất phân giữa bản thân và người
anh em sinh đôi vừa chết:
Một thứ mùi nồng của hoa violet và phormal ướp xác từ phòng khác xộc đến lan rộng khắp nơi,
thứ mùi này hòa vào trong hương hoa mới nở lúc bình minh đưa tới từ khu vườn bên ngoài... Cái
mùi xông từ ngoài vườn vào giờ càng hăng hơn, tởm lợm, mùi kinh tởm gây buồn nôn... Chính
xác đó là mùi đặc trưng của khu vườn. Đó là một mùi kinh khủng và đặc biệt hơn mùi trộn lẫn
các loại hoa khác nhau. Một mùi hương được biết rằng nó luôn liên quan đến các tử thi. (Bên kia
cái chết)
Khi vừa tỉnh lại thì thứ mùi hương đó đã gợi nhân vật đến giấc mơ nhưng khi chìm trong mơ thì mùi
hương nồng đến mức đẩy nhân vật ra cuộc đời thực. Rõ ràng đây là sự mở rộng vai trò kết nối giữa cõi
thực và ảo của yếu tố kỳ ảo. Cùng một thể thức này còn có thể nhắc đến thứ mùi của xác chết trong
Lần thứ ba yên phận, mùi dâu tây tươi vừa mới hái trong Những bóng ma tháng Tám, mùi gỗ mới
trong Nỗi cay đắng của ba người mộng du, mùi mà nàng ngửi thấy trong tiệm thuốc phiện được ghi lại
trong Đôi mắt chó xanh,… Thế giới nghệ thuật của Marquez dù là kỳ ảo hay hiện thực đều mang đầy
mùi vị; chính những mùi hương này đã nối liền hai bờ thực ảo.
Thông qua khảo sát có thể nhận thấy hệ biểu tượng này mang tác dụng liên kết nhân vật. Trong
Biển của thờ đã mất, mùi hương lôi kéo con người chú ý, dẫn đến cái chết của bà Petra, thu hút người
ta đổ về làng và trong số đó có ngài Herbert. Sau khi giúp người ta những chuyện bất thường (giả tiếng
chim, lên giường với 100 người,…) nhân vật này ngủ cả thế kỷ rồi dẫn Tobías xuống biển, họ thấy bà
Petra bơi theo dòng nước có những bông hoa trôi chảy, thấy ngôi làng bị chìm vào lãng quên có những
hoa hồng tươi- thứ mà trên mặt đất không có… Như vậy, hoa hồng dưới những dạng thể hiện của nó đã
liên kết cốt truyện và nối kết các nhân vật theo một đà vận động được vạch ra một cách ngẫu nhiên và
kỳ diệu. Bên cạnh đó, hệ biểu tượng này tạo nên bước chuyển trong cốt truyện. Mùi hương là ranh
giới thực và ảo, nó không thể rõ ràng như nắm một làn hương nhưng cũng làm sống lại một hiện thực
bằng khứu giác. Sự trải nghiệm này nhân vật xưng nó trong Bên kia cái chết nhận thức rõ ràng nhất.
Và chính nhờ mùi hương mà nhân vật đươc đẩy đi đến những viễn cảnh trong khi vẫn chịu chi phối bởi
mùi hương hăng nồng ấy. Không có những mùi hương các nhân vật và cốt truyện sẽ thiếu lực đẩy và
thiếu một ánh sáng xuyên suốt soi chiếu.
3.2.3. Nhóm biểu tượng du tử
Đây là nhóm biểu tượng linh động và khó nắm bắt nhất. Du tử trước hết được hiểu là những
người đi lang thang trên các trang truyện ngắn của Marquez. Tất yếu một hình ảnh được nhắc đến ngay
là những người digan (gypsy) như Melquiades đã bất tử trong Trăm năm cô đơn. Tuy nhiên, do đặc
tính của nhóm người này là chủ nghĩa xê dịch và thực thi các điều kỳ ảo nên với tư cách biểu tượng, hệ
thống này dung chứa của những con người ra đi tìm chân lý, những con người hành hương, những
người phiêu dạt (như trong Mười hai truyện ngắn phiêu dạt), những đám đông hội hè, người đi qua các
ranh giới… Khảo sát nhóm người du tử chúng tôi hướng đến những lớp ý nghĩa khái quát nhất, những
nét văn hóa nhằm xác định tính chất truyện ngắn kỳ ảo của Marquez, và trên tiến trình đó, nhóm du tử
hiện ra với tư cách là một hệ biểu tượng thể hiện khát khao vượt thoát khỏi những tù đọng của cuộc đời
bằng những chuyến ra đi, những phép lạ, hội hè và dấu ấn văn hóa.
Thứ nhất, có thể nói trong tác phẩm của Marquez nói chung và truyện ngắn nói riêng thường
xuyên có sự xuất hiện của những nhân vật digan và nhân vật này thường để lại những ấn tượng sâu sắc.
Về từ nguyên học, người Digan có tên gọi chính thức trong tiếng Anh là Romani people do họ tự gọi
mình là rom hoặc rrom với nghĩa “chồng” và romni/rromni vói nghĩa "vợ" nhưng họ hoàn toàn không
có mối liên hệ nào với người Romani hay Roma của Ý cả. Nhiều người Di-gan sống ở Pháp có gốc từ
Bohemia, nên họ còn được gọi là người Bohémien (Bohémiens). Do niềm tin sai lầm rằng người Di-
gan bắt nguồn từ Ai Cập (Egypt), và đã bị đày biệt xứ vì tội đã che dấu Jesus thời bé nên họ bị định
danh trong tiếng Anh là Gypsy (hay Gipsy) do bắt nguồn từ chữ Hy Lạp Αιγύπτοι (Aigyptoi). Người ta
tin rằng người Di-gan có nguồn gốc từ các vùng Punjab và Rajasthan của bán đảo Ấn Độ. Họ bắt đầu
di cư đến Châu Âu và Bắc Phi qua cao nguyên Iran vào khoảng năm 1050… Tuy nhiên, do tính chất
phổ biến của họ, tên gọi “digan” trở thành một tính từ và được dùng để chỉ tất cả những người du tử,
những người sống tự do, không chấp nhận bất cứ quy định cố kết nào. Đằng sau cuộc sống bề ngoài
luôn sôi động, cộng đồng người Digan gắn kết với những tập quán và phong tục huyền bí, không bao
giờ định cư một nơi. Người Digan luôn bị coi là người ngoài cuộc, không nhà, không quốc gia và
thường bị người châu Âu gán cho những thành kiến như lừa đảo, dính dáng đến những tà thuật đen tối,
trộm cắp do lối sống du mục,… Nhân vật điển hình nhất của dạng này trong truyện ngắn Marquez là
Blacaman.
Blacaman với ngoại hình mang đậm tính sặc sỡ Digan “với những dải áo viền sợi vàng, những chiếc
nhẫn mặt đá kim cương đeo khắp các đốt ngón tay như ốc bấu và cái tóc kết đuôi sam có giắt những
quả chuông con…” [330] Khả năng của người Digan liên quan đến những kỹ xảo và điều kỳ ảo được
Blacaman thể hiện một cách thuần thục khi y bán thuốc trị rắn cắn thần diệu (hắn đã thuê người ta
mang đến một con rắn không có nọc độc và tự làm mình trương phù lên rồi tự dùng thuốc của mình mà
khỏi), đã tạo cho thây ma các vị phó vương một bộ mặt tươi tỉnh và điều hành đất nước tốt hơn cả khi
các vị còn sống,… Tuy đóng vai là một Blacaman kẻ ác nhưng người digan trong truyện ngắn Marquez
lại không phải là thứ khuôn mẫu tiêu cực như nhận định của người châu Âu về dân tộc du mục này.
Nếu hình ảnh người hiền triết Menquiades đọng lại trong lòng người đọc những cảm xúc tốt đẹp nhất
thì Blacaman cũng thốt lên những lời nói tâm huyết nhất của tác giả, của chính Marquez khi nói về
chuyện văn chương và cuộc sống:
Mặc dù quý vị có đủ thẩm quyền để mà không tin tôi sau bao nhiêu năm đã tin những thủ đoạn
bịp bợm và giả dối đầy tội lỗi của tôi, thưa quý ông quý bà tôi xin lấy vong linh của mẹ tôi ra để
thề rằng cuộc thí nghiệm hôm nay không minh chứng một điều gì viễn vông thuộc thế giới khác
mà minh chứng cho một chân lý giản dị của cuộc đời thực tại này và nếu quý vị không tin thì xin
hãy chú ý: hôm nay tôi sẽ không cười như mọi bận mà chỉ cố sức ghìm nước mắt mình lại.
[53,342]
Đó là tất cả những gì một người nghệ sĩ thực hiện. Anh ta nói điều kỳ lạ như chân lý hiển nhiên và
cùng một cách đó nói những thứ gần gũi thành kỳ ảo đầy đam mê. Cách anh ta làm chính là điều quan
trọng nhất- chọn khóc hay cười nhằm vào một mục đích- làm cho người ta tin, điều này không khác lối
kể chuyện kỳ ảo của Marquez là mấy nếu không nói là tương đồng.
Thứ hai, xuất phát từ tính chất du cư, người Digan gắn liền với hình ảnh hững cuộc ra đi, những
chuyến hành hương trong truyện ngắn Marquez. Hành hương chính là sự tìm kiếm chân lý, hòa bình,
bất tử, là tìm kiếm và phát hiện một trung tâm tinh thần [14,385] trên con đường nhằm hướng đến cái
trung tâm không lối vào, bởi thế cuộc hành trình có vai trò như một nghi thức thụ pháp. Người ta nhắc
nhiều đến các huyền tích phiêu lưu như Tây Du Ký, hành trình tìm chén thánh (Graal), cuộc tìm kiếm
miền đất Hứa, những cuộc du hành sau khi chết của Ai Cập và Tây Tạng. Trong đó những cuộc du
hành xuống địa phủ là những nghi thức bí truyền còn lên trời là nghi thức quảng truyền,… Những
chuyến ra đi, nhờ vậy gắn kết được với những tầng lớp sâu nhất trong văn hóa và tâm lý loài người, nó
là phổ quát. Truyện ngắn của Marquez gắn với hình ảnh những du tử, những người đã đi về không biết
bao nhiêu lần trong Biển của thời đã mất, những người đã bỏ làng ra đi lâu năm nay lại về theo mùi
hương hoa hồng và rồi sau đó họ lại bỏ ra đi khi làng tàn lụi trong sự mong mỏi mùi hương sẽ trở lại.
Trong tập Mười hai truyện ngắn phiêu dạt tất cả những con người ấy đều là du tử nơi miền đất lạ, đều
đang trên con đường tìm kiếm trung tâm thần thánh. Margarito Duarte tìm kiếm ý nghĩa thiêng liêng
cho đứa con của mình, Phrau Phrida thì luôn phiêu dạt để tìm kiếm giấc mơ cho bản thân, gia đình
nhân vật xưng tôi tìm kiếm sự hiện thân của quá khứ, nhân vật tôi trong Gió bắc thì tìm kiếm ý nghĩa
và trải nghiệm của Tramontana,…
Thứ ba, gắn liền với biểu tượng du tử chính là những phép lạ được họ thực hiện với vẻ bình thản
như không. Điểm này tương hợp với quan niệm của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, cách vận dụng yếu
tố kỳ ảo và kể chuyện của Marquez. Những người digan đã thực hiện cũng như thúc đẩy các phép lạ
xuất hiện với tính chất của yếu tố kỳ ảo hiện đại- phá vỡ tính huyễn hoặc của phép lạ. Tiêu biểu là phép
lạ mà gánh xiếc lưu động mang đến- một gã bay vù vù trên đầu khán giả với đôi cánh dơi, tiết mục
người con gái biến thành nhện; chính ông lão cũng là một du tử và thực hiện phép lạ theo kiểu giải
thiêng: chữa một ông mù thì ông không lành lại còn mọc thêm được ba cái răng, trị bệnh cho kẻ bại liệt
thì không khỏi mà hắn suýt trúng số độc đắc, chữa người hủi thì lại thấy cây hướng dương mọc lên
quanh những vết lở loét,... Rõ nhất trong việc thực hiện những phép lạ theo kiểu hiện thực huyền ảo-
nói với một gương mặt lạnh- là nhân vật xưng tôi- đệ tử của Blacaman [53,339]:
Từ đó tôi đi lang thang khắp thế gian để chữa khỏi sốt cho những người mắc chứng sốt rét với
giá hai peso; để chữa lành mắt cho những người bị mù lòa với giá bốn peso (nguyên bản là bốn
peso rưỡi); để chữa cho những người ra mồ hôi trộm với giá mười tám peso; để trả lại chân tay
cho những người què cụt bẩm sinh với giá hai mươi peso,… tiếng tăm xấu xa của bọn Blacaman
đã kết thúc và niềm vui chung của thế gian đã được xác lập.
Cảm thức hiện thực huyền ảo thấm đẫm đoạn kể chuyện kỳ ảo này không chỉ với giọng kể bình thản
kèm giá tiền đằng sau những chứng bệnh nan y, đồng thời tính hiện thực còn được nhấn mạnh đến nỗi
đẩy một câu tự sự này thành một đoạn dài 16 dòng nguyên bản tiếng Tây Ban Nha [79,127] với 248 từ
được phân ra bằng 25 dấu phẩy với trên 20 mệnh đề. (Trong bản tiếng Việt của Nguyễn Trung Đức
[53], câu này dài đến 37 dòng với 444 từ được phân ra bằng 33 dấu phẩy và chấm phẩy). Những phép
lạ được thực hiện theo đúng cách mà yếu tố kỳ ảo được sử dụng đã gắn liền với biểu tượng người du tử
đã tạo nên một sức hút đặc biệt cho truyện ngắn kỳ ảo của Marquez.
Thứ tư, nhờ tính chất di động của nhóm biểu tượng du tử mà Marquez có thể trình bày dấu ấn
tổng hợp văn hóa của Mỹ Latin trong truyện ngắn của mình. Văn hóa Mỹ Latin được cấu thành từ ba
mảng: văn hóa châu Âu, châu Phi và văn hóa bản địa. Có thể dễ dàng nhận ra dấu ấn của ba mảng này
thông qua hình ảnh du tử lãng mạn nhưng cũng trần thế nhất: ông lão có đôi cánh khổng lồ.
Trước hết, hình ảnh ông lão bay lên trời có thể bắt gặp trong nhiều chuyện cổ tích Phi châu, của những
người bị đem qua châu Mỹ làm việc như nô lệ, tiêu biểu nhất là All God's chillun got wings. Câu
chuyện này thể hiện niềm mong mỏi của những người nô lệ Châu Phi, họ hy vọng một ngày được thoát
khỏi cuộc sống đau khổ bằng cách bay lên trời, mong ước một cuộc sống tốt đẹp hơn. Câu chuyện này
về sau được nhà thờ Công giáo giải thích theo Kinh Thánh bằng lời tiên tri Isaiah rằng: “Những người
mong chờ Thượng Đế sẽ được tiếp thêm sức mạnh. Họ sẽ chạy mà không mệt mỏi. họ sẽ ra đi mà
không đớn đau.” Cách thức bay lên trời cũng đáng lưu ý, đó là nói, hành động bằng lời- gắn với việc
thiên chúa phán truyền và dựng nên trời đất, ngôi Hai- ngôi Lời xuống làm người,… Vì thế, người ta
gắn ông lão với hình ảnh Thiên thần theo tinh thần Thiên Chúa giáo châu Âu, ứng với mảng văn hóa
thứ hai và thứ ba. Thiên chúa giáo, chính xác hơn là nhà thờ Công giáo La Mã có vai trò quan trọng
trong đời sống tinh thần của châu Mỹ Latin nhờ có mối quan hệ chặt chẽ với thế quyền của Tây Ban
Nha và Bồ Đào Nha. Có thể nói hai thế lực vương quyền và thần quyền này đã dựa vào nhau để xác
định và duy trì vị thế của mình ở Tân thế giới.
Trong giáo lý Thiên chúa giáo thì thiên thần có nghĩa gốc là “sứ giả.” Trong Kinh Thánh, thiên thần là
những sứ giả được Thượng Đế sử dụng để truyền đạt ý chí của ngài tới con người. Họ là những thực
thể trung gian hoạt động như những sứ giả truyền tin của Thượng Đế cho con người. Thiên thần được
nhìn thấy trong hình hài con người, đến gặp gỡ và sinh hoạt với con người. Đôi cánh của thiên thần,
tượng trưng cho vai trò người đưa tin của nó. Do Thái giáo thiết lập một hệ thống thứ bậc thiên thần
bao gồm tiểu thiên thần và tổng lãnh thiên thần, rồi phân biệt thiên thần cao cấp với các thiên thần
khác. Ngày nay, tuy ý tưởng về các thiên thần hẳn bị đánh giá là phù phiếm như quỷ sứ hay linh
hồn,… nhưng rõ ràng “ý niệm về thiên thần soi sáng những suy nghĩ của chúng ta về trần gian. Sự suy
tư về một vương quốc của những tạo thể phi vật chất – của những lý trí thuần túy hoặc tinh thần – có
thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn thế giới vật chất mà ở đó lý trí và tinh thần chúng ta gắn chặt vào”.
[2,181]
Trường hợp ông lão có đôi cánh khổng lồ, người ta nhận ra ngay cùng một thông điệp. Đó là cách ý
thức và hành động của con người khi không có chuẩn mẫu thiên thần, những hành động mù quáng và
bất tín ấy gây nên sự ngậm ngùi và phẫn uất. Đặt trong môi trường thuần túy Mỹ Latin, cụ thể là thuộc
một vùng văn hóa duyên hải khi người ta gắn với biển ngay cả trong những suy kiến mơ hồ nhất, có
thể thấy dấu ấn Thiên Chúa giáo pha tạp thành một vị chua chát của hiện tại.
Thứ năm, biểu tượng du tử và phái sinh của nó là những con người sống tự do khỏi mọi ràng
buộc, yêu đời,… dẫn đến một hình ảnh khác của nhóm biểu tượng này chính là cảnh hội hè. Đã có rất
nhiều hội hè, carnaval trong truyện ngắn Marquez. Đó là đoàn du khách hội hè di động của Erendira:
“Bọn mày râu từ mọi miền dù xa đến mấy, cũng ùn ùn kéo đến để thưởng thức cái tân kỳ của Erendira.
Bọn người này tới kéo thêm những bàn xổ số, những quán nhậu và cả một cửa hàng ảnh lưu động”
[53,434]. Trong Biển của thời đã mất cũng xuất hiện “Đổ về làng này còn có cả phường nhạc, bàn xổ
số, sòng bạc, bàn bói toán, cả những tên găngxtơ, cả những người đàn ông cuốn một con rắn nơi cổ
mình đang rao án thuốc trường sinh bất tử….” [53,640] Đặc biệt, trong Cụ già có đôi cánh khổng lồ, ít
nhất có thể kể đến hai hội hè được tác giả tổ chức và miêu tả- tất cả đều gắn với yếu tố kỳ ảo, đều sôi
nổi và rộn ràng nhất đến mức có thể. Điều này xuất phát từ đặc trưng văn hóa Mỹ Latin gắn liền với
niềm tin tôn giáo. Hội hè gắn với yếu tố kỳ ảo ở bản chất của nó- vừa là tò mò vừa là lòng tin. Hội hè
thứ nhất là khi ông lão hạ cánh xuống nhà Pelayo và sau đó chuyển thành hội hè kinh tế của hai vợ
chồng nhà này- rào cửa và bán vé cho khách tham quan: “Những kẻ tò mò thích chuyện lạ từ đảo
Mactinic đã đến. Một gánh xiếc lưu động với một gã làm trò nhào lộn cũng đến… Những người bất
hạnh của cả cùng biển Caribê đã đến đây để được chữa bệnh…” [53,395]. Hội hè thứ hai diễn ra khi
người ta tập trung đến xem cô gái bị biến thành nhện. Từ đây, có thể so sánh tư duy hội hè diễn ra ở
ngôi làng này: người ta đến với cô gái biến thành nhện hơn là ở lại với ông lão do không có điểm nhấn
quen thuộc trong kinh nghiệm cũng như thỏa mãn hai yếu tố tò và niềm tin. Hội hè thường xuyên xảy
ra trong tác phẩm Marquez, dường như khi có chuyện gì đặc biệt, khi xuất hiện yếu tố kỳ ảo thì lập tức
có sự tập trung của hội hè. Nhưng hội hè gắn với yếu tố kỳ ảo, đồng thời là sự khuếch đại nhưng sau
đó tiêu hủy bản thân yếu tố kỳ ảo. Đó chính là nguyên tắc Carnaval- tôn xưng thần tượng rồi đập đổ
ngay sau đó. Hội hè xuất hiện khi người ta đến với ông lão, nhưng vì vậy cũng có những đám xiếc đến
và người ta quên ngay ông lão khi có cô gái biến thành nhện. Bà mẹ vĩ đại được miêu tả với đầy đủ
quyền lực tột bực, khi đám tang diễn ra không biết có bao nhiêu người từ mọi phương đến viếng,
nhưng khi họ ra đi thì: “Nay thật khó mà len chân nổi trên những nẻo đường của vương quốc Macondo
bởi chỗ nào cũng ngập ngụa những vỏ chai, những mẫu tàn thuốc lá, những khúc xương thối, những
thùng rỗng, những mẫu giẻ rách, những bãi phân mà đám đông đã để lại,…” [53,306] Những yếu tố
này chen vào giữa dòng chảy bình thường của cuộc sống. Nó làm hiện rõ yếu tố kỳ ảo, nhưng như một
thứ ký sinh, nó dần tiêu hủy chính cái kỳ ảo. Cuộc sống thể hiện bản thân nó còn kỳ ảo hơn cả cái mà
người ta mải mê đi tìm trong những hình thức kỳ lạ nhất của tưởng tượng.
3.2.4. Đặc điểm hệ thống biểu tượng gắn với yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn G.G.Marquez
Sau khi khảo sát, chúng tôi cơ bản có những nhận định về đặc điểm của hệ thống biểu tượng
trong truyện ngắn kỳ ảo của Marquez như sau:
Thứ nhất, các biểu tượng của Marquez đều có mối quan hệ trực tiếp và quan trọng đến hiện thực,
văn hóa Mỹ Latin. Biểu tượng biển của Marquez hướng vào đặc trưng khu vực Mỹ Latin. Đó là vùng
biển dáng dấp Carribe, là vịnh biển theo kiểu một không gian nghệ thuật và mang các lớp ý nghĩa gắn
với lịch sử, xã hội Mỹ Latin. Đó là vùng biển mang thử thách vì đã chất chứa các lớp trầm tích của thời
gian- đây là biểu tượng biển hoàn hình chứ không phải dạng biểu tượng đại dương nguyên hợp kiểu
Arvana của Ấn Độ, không phải nước Thượng giới, không phải linh hồn hoàn vũ Paramâtrâ theo Mật
tông- trí tuệ nguyên thủy. Biểu tượng này mang ý nghĩa lịch sử cụ thể của nó; thể hiện và được nhấn
mạnh hơn các lớp ý nghĩa văn hóa khác.
Thứ hai, bản chất của hệ biểu tượng được triển khai theo đúng tính chất của yếu tố kỳ ảo- như
một ký hiệu. Biểu tượng, dưới góc nhìn ký hiệu thì bản thân thể hiện một quá trình phân rã và phá hủy
ở đầu ý nghĩa rỗng. Đó là sự hy sinh cái đơn nhất với tư cách hình thức để bảo toàn một ý nghĩa toàn
thể. Việc phá hủy giới hạn bình thường mà không cần giải thích kiểu siêu nhiên có cơ sở thúc đẩy ở
bản thân cái kỳ ảo quy định biểu tượng. Đó là quá trình biến ngữ theo quy tắc ngôn ngữ, là một cuộc
trốn tìm xuất phát từ vấn đề cái được biểu đạt thì giới hạn hơn cái biểu hiện đang ngày càng nhân lên
theo những kết hợp của nó. Bên cạnh đó, từ cái nhìn lịch đại, có thể thấy quan hệ yếu tố kỳ ảo và biểu
tượng là sự chuyển hóa và kế thừa. So sánh với văn học dân gian có thể nhận ra sự kế thừa này từ thần
thoại qua truyền thuyết và truyện cổ tích. Những yếu tố cổ sơ được hình thành từ trước và sau đó
những yếu tố hậu sinh được đan cài vào hệ thống theo quan điểm lịch đại. Sự chuyển biến này cần một
khoảng thời gian nhất định và ít nhất là kết quả của hai hệ hình tư duy khác nhau. Với Marquez, sự kết
hợp này không phải hai hệ hình mà là sự thống nhất trong hệ hình truyền thống, đó là sự tổng hợp hậu
hiện đại. Như vậy, quan niệm về phức cảm khải huyền của Marquez và các tác giả Mỹ Latin chính là
xuất phát từ độ chênh về lý thuyết và nỗ lực thực tiễn của họ dung hòa hai góc nhìn cách xa nhau về
mặt lịch sử thực chứng này. Nỗ lực lớn ấy đủ lớn để đẩy các nhà văn hăm hở giải thích lại huyền thoại
và bản chất cuộc sống bằng cái nhìn tổng hợp, trong đó không che giấu tham vọng dự báo tương lai
của nhân loại.
Thứ ba, hệ biểu tượng thể hiện quan niệm về con người và thế giới của Marquez mang tính song
tồn xoay quanh phạm trù chính là nỗi cô đơn. Vấn đề trọng tâm nhất trong các cuộc nói chuyện cũng
như trong tác phẩm Marquez đều xoay quanh nỗi cô đơn, vì thế hệ thống biểu tượng được thể hiện đều
mang nặng ám ảnh và nỗ lực vượt thoát nỗi cô đơn, không phải chỉ cho một cá nhân mà là một cộng
đồng hay là cả nhân loại.
Từ đây trở về trên chúng tôi đã xét yếu tố kỳ ảo từ bản thân nó thông qua hai lớp hình tượng và
biểu tượng của truyện ngắn Marquez. Nhìn chung, cách nhìn trên mang tính tĩnh tại, nếu quan sát yếu
tố kỳ ảo trong tính quá trình của nó, tất yếu sẽ dẫn đến việc phải đối mặt với một chỉnh thể truyện ngắn
(hiểu theo kiểu truyền thống) ổn định đang xáo trộn bởi sự tồn tại của yếu tố kỳ ảo mà chúng tôi đã giả
định từ đầu tính quan trọng của nó. Như vậy, tất yếu cấu trúc truyện ngắn sẽ có nhiều biến động, có lẽ
điều này mang lại không ít thú vị và hứa hẹn.
CHƯƠNG 4
YẾU TỐ KỲ ẢO VÀ VẤN ĐỀ CẤU TRÚC
TRUYỆN NGẮN G.G.MARQUEZ
Tư tưởng không được chứa đựng trong bất kỳ những sự trích đoạn cho dù gọn ghẽ nào, mà được
diễn đạt trong toàn bộ cấu trúc nghệ thuật… Rõ ràng là nằm ngoài cấu trúc thì tư tưởng nghệ
thuật không được nghĩ ra. Tính nhị nguyên của hình thức và nội dung cần phải được thay thế
bằng khái niệm về cái tư tưởng hiện thực hóa bản thân mình trong một cấu trúc thích hợp và
không tồn tại bên ngoài cấu trúc này. [44,32]
Vì lẽ đó, chúng tôi tiến hành khảo sát yếu tố kỳ ảo trong cấu trúc truyện ngắn kỳ ảo của Marquez.
4.1. Quan điểm về cấu trúc truyện ngắn kỳ ảo
Cấu trúc là cái khung, là mô hình mà nhà văn triển khai các vấn đề của tác phẩm. Nói đến cấu
trúc là nói đến khuôn mẫu, dạng thức như một tổng thể trong mối quan hệ so sánh với cốt truyện, là
xem xét tác phẩm trong trạng thái tĩnh. Cốt truyện cũng có thể được nhìn như một tổng thể nhưng đó là
tổng thể trải dài theo kiểu hình tuyến thường có quan hệ nguyên nhân- kết quả. Từ góc độ tiến trình, có
thể khái quát tổng thể truyện ngắn thành cốt truyện gồm 05 phần: Mở đầu, thắt nút, đỉnh điểm, mở nút,
kết thúc; các thành phần này trải dài theo thời gian tri nhận tác phẩm. Như vậy, khi khảo sát cốt truyện
có thể tìm ra mối liên hệ giữa các bộ phận của truyện kể theo trục ngang trong khi đó cấu trúc là mối
liên hệ của các thành tố theo kiểu không gian. Đó là dạng liên kết không phải một đối một mà là đa
phương. Đồng thời, khảo sát cấu trúc tác phẩm nói chung và truyện ngắn nói riêng có thể lần tìm ra
mối liên hệ giữa không gian, thời gian, nhân vật… Vì thế, khảo sát cấu trúc truyện ngắn Marquez trong
mối liên hệ với yếu tố kỳ ảo chính là nhu cầu và là hệ quả của những vấn đề đã được giải quyết trong
chương 2 và 3 của luận văn này.
Với truyện ngắn, có thể đề cập đến hai dạng cấu trúc cơ bản là tuyến tính và phân mảng. Loại thứ
nhất gần với sự phát triển tuần tự theo trật tự thời gian quá khứ, hiện tại và tương lai của cốt truyện. Ở
các tác phẩm hiện đại, nếu đi theo cấu trúc này, thường đến giai đoạn cao trào của cốt truyện, tác giả
đặt vào đó một ẩn dụ sâu lắng làm nổi bật ý tưởng chủ đạo. Theo tiến trình ấy thì điểm nhìn của người
kể chuyện thường là xác định, từ một nơi nào đó bên ngoài quan sát, miêu tả, và điểm nhìn không hề
thay đổi từ đầu đến cuối để đảm bảo tính nhất quán.
Với cấu trúc phân mảng, văn bản truyện được lắp ghép bởi những mảng trần thuật khác nhau mà nhìn
bề ngoài như những khối rời rạc, ít hoặc không có liên hệ, nhưng thực ra bên dưới lại tồn tại một mối
liên hệ ngầm có tác dụng liên kết và định hướng các bộ phận khác. Nếu ở cấu trúc tuyến tính, nhà văn
miêu tả sự việc theo trật tự thời gian thực tại, thì với cấu trúc phân mảng, nhà văn có thể di chuyển
ngược xuôi, đảo chiều hoặc đẩy nhanh thời gian. Đặc biệt, nếu trong cấu trúc tuyến tính, điểm nhìn là
tĩnh và thường duy nhất thì ở cấu trúc phân mảng, thường có sự thay đổi điểm nhìn ở người kể chuyện.
Một hệ quả của cơ cấu phân mảng là nảy sinh những khoảng trống tự sự, dẫn đến có những phần của
câu chuyện diễn ra trong tưởng tượng của độc giả mà không hiển lộ trên trang sách. Ngoài hai kiểu cơ
bản trên, có nhiều nhà văn đã tạo ra kiểu cấu trúc của riêng mình như dạng cấu trúc mê cung của nhà
văn Argentina- Jorge Borges trong tác phẩm Những công viên có lối đi rẽ hai ngã mà chúng tôi từng
đề cập.
Có thể thấy rằng không phải yếu tố kỳ ảo luôn thể hiện một vai trò duy nhất trong các tác phẩm
kỳ ảo. Yếu tố kỳ ảo có thể là thành phần, có thể là tổng thể trong tiến trình hành chức của nó. Tùy vào
ý đồ tác giả thể hiện ở văn bản mà yếu tố kỳ ảo có thể đảm đương những nhiệm vụ khác nhau. Theo ý
kiến của Todorov, cơ bản nhất có thể đề cập đến ba dạng chức năng chính như sau:
Dạng thứ nhất là chức năng ngữ dụng. Yếu tố kỳ ảo mang chức năng ngữ dụng khi được quan sát
trong mối quan hệ với ngữ cảnh sử dụng. Ở đây, yếu tố kỳ ảo được kết hợp bên cạnh hiện thực như
một dạng hỗ trợ, không lấn át được hiện thực nhưng có thể gia giảm tính chất và thu hút, định hướng
tập trung người đọc. Như vậy, yếu tố kỳ ảo trong trường hợp này có thể được lược đi mà không ảnh
hưởng gì đến nội dung hiện thực được phản ánh, ví dụ như trường hợp những con chim giấy có thể bay
được trong “Thần chết thường ẩn sau ái tình” hay dòng máu xanh của người bà bất lương trong
“Chuyện buồn không thể tin được của Erendira đáng thương và người bà bất lương”,…
Thứ hai là dạng chức năng ngữ nghĩa. Với chức năng này, yếu tố kỳ ảo trong văn bản mang ý
nghĩa nhất định, nó là tính chất riêng của kiểu truyện kỳ ảo, là sự khám phá một hiện thực mới thông
qua con đường của cái kỳ ảo. Yếu tố kỳ ảo, như vậy, nếu bị tách rời sẽ tạo thành một khoảng trống về
nghệ thuật. Tác phẩm còn lại chỉ là một thể bình thường hoặc nhiều khi không thể đứng được trọn vẹn
vì sự mất mát ý nghĩa. Đó là trường hợp khả năng trị những bệnh tật của nhân vật tôi trong Blacaman-
người hiền bán phép tiên, là hơi thở hút mọi vật tạo nên khoảng môi trường chân không của Herbert
trong Biển của thời đã mất, hay sự tham gia đám tang của các vị lãnh đạo tôn giáo cũng như chính
quyền trong Đám tang bà mẹ vĩ đại…
Dạng thứ ba là chức năng cú pháp của yếu tố kỳ ảo. Yếu tố kỳ ảo, trong trường hợp này không
thể chỉ ra hay gọi tên một cách đơn thuần, cụ thể vì nó là gắn với tổng thể tác phẩm. Nó thúc đẩy sự
tiến triển của trần thuật, cơ cấu tác phẩm thành một chỉnh thể như nó phải có. Điều này có nghĩa là
không thể vì bất cứ lý do gì loại yếu tố kỳ ảo ra khỏi tác phẩm, vì như thế có nghĩa là tiêu hủy cả tác
phẩm. Vì yếu tố kỳ ảo “gia nhập vào sự phát triển của truyện kể. Chức nằng thứ ba này gắn với tính
toàn thể của tác phẩm văn chương trực tiếp hơn hai chức năng kia” [70, 195]. Đây là trường hợp “Ánh
sáng cũng như nước, Chuyến đi cuối cùng của con tàu ma, Ông lão có đôi cánh khổng lồ”,…
Ý thức như vậy, chúng tôi tiến hành khảo sát cấu trúc truyện ngắn kỳ ảo của Marquez theo hướng
nhấn mạnh vào sự tham gia của yếu tố kỳ ảo vào cấu trúc tổng thể của truyện ngắn với cấp độ chức
năng cú pháp và ngữ nghĩa.
4.2. Cấu trúc truyện ngắn Marquez gắn với yếu tố kỳ ảo
4.2.1. Cấu trúc truyện ngắn cơ cấu theo cái kỳ ảo
Trong phần này chúng tôi sẽ trình bày những điều kiện để cấu trúc tác phẩm dung nạp cái kỳ ảo,
tiếp đó là nhìn cấu trúc truyện ngắn kỳ ảo của Marquez thông qua cấu trúc cổ tích thần kỳ và huyền
thoại- vốn được đặc trưng bằng yếu tố kỳ ảo và sau đó sẽ bàn về điểm nhìn với tư cách là khâu quyết
định cấu trúc truyện ngắn của ông trong mối quan hệ với yếu tố kỳ ảo.
Thứ nhất, các thành phần của cấu trúc truyện ngắn Marquez được cơ cấu nhằm đảm bảo sự tồn tại
của yếu tố kỳ ảo và nhờ đó tác động hiệu quả nhất đến lý trí của người đọc. Trong một chừng mực, có
thể nhận thấy từ xưa Aristote đã quan tâm đến điều này khi bàn về sử thi. Một điều khá lý thú là chúng
tôi phát hiện ra những nét tương đồng trong quan điểm của Aristote về sử thi với truyện ngắn Marquez
trên phương diện thể loại cũng như bút pháp. Trong giới hạn nhất định, chúng tôi sẽ bàn đến ý thức cấu
trúc tác phẩm và cách thức xây dựng tác phẩm ở những điểm kỳ ảo trong chương XXIII và XXIV
Nghệ thuật thi ca của Aristote. Trước hết Aristote cho rằng sử thi phải đạt đến tính chất hoàn chỉnh, tập
trung về cấu trúc [06,54], có thể thấy truyện ngắn thỏa mãn yêu cầu này về mặt thể loại. Về cấu trúc,
Aristote muốn tác phẩm sử thi phải tập trung vào tính thống nhất của hành động, sự kiện, khi ông khen
ngợi cách Homer xây dựng tác phẩm Iliad không mang tham vọng miêu tả toàn cuộc chiến tranh mà
chỉ chọn một phần của cuộc chiến còn những tình huống khác thì được dùng như những chi tiết. Điều
này gần với quan niệm truyện ngắn như một thể loại giới hạn số lượng nhân vật và tình tiết nhằm tái
hiện một lát cắt đời sống. Bởi lẽ, sự vượt quá giới hạn trong tình huống này sẽ phá vỡ cấu trúc sử thi và
truyện ngắn mà biến chúng thành dạng thức khác, như Hegel đã lý giải tính phi sử thi của thần thoại
Hy Lạp ở số lượng nhân vật đồ sộ của nó. Vì lẽ đó, thần thoại Hy Lạp phải thi hành một chủ đề không
thể khác được là chủng tộc các thần. Điều này làm chúng tôi nhớ đến một trường hợp tương tự khá nổi
tiếng của Marquez: thử tưởng tượng việc Marquez xây dựng những truyện ngắn mang chất sử thi như
Đám tang của bà mẹ vĩ đại, lồng vào đó Chuyện buồn không thể tin được của Êrênhđira ngây thơ và
người bà bất lương, cho những con người từ vùng đất bị nguyền rủa Biển của thời đã mất sống lại… sẽ
tạo nên một dạng tiểu thuyết mà chủ đề của nó không thể khác được là phả hệ của những con người vì
sợ nỗi cô đơn mà trốn vào vòng xoay loạn luân để cuối cùng bị tuyệt diệt- đó chính là Trăm năm cô
đơn. Tưởng tượng đó đã thành sự thật, sự phá vỡ cấu trúc truyện ngắn sẽ tiêu hủy thể loại.
Quay lại với ý kiến của Aristote, ở chương XXIV ngoài việc khẳng định việc giới hạn độ dài sử thi mà
chúng ta không khó nhận ra điểm tương hợp với truyện ngắn, chúng tôi nhận thấy Aristote đề cập đến
cách thức xây dựng yếu tố kỳ ảo:
Trong sử thi và trong cả bi kịch đều cần biểu hiện cái khác thường, nhưng riêng sử thi lại có khả
năng biểu hiện những điều phi lý - nguồn gốc chủ yếu của sự khác thường- nhờ chỗ mọi người
không trông thấy nhân vật hành động… Sự khác thường đã làm cho người ta thú vị. Có thể dẫn
chứng là: mọi người khi kể chuyện đều có những thêm thắt, nhằm làm hài lòng người nghe. Chính
Homer cũng đã dạy mọi người cách bịa đặt chuyện như thế nào, thủ pháp này dựa trên sự suy luận
sai lầm. Nghĩa là: thường người ta hay nghĩ rằng một sự việc tồn tại hoặc phát sinh sẽ kéo theo
một sự việc khác cũng tồn tại và phát sinh. Vậy, nếu sự việc thứ hai đã thành sự thật hoặc đã phát
sinh, thì chắc chắn cái thứ nhất cũng đã là sự thật hoặc đã phát sinh rồi. Nhưng đó là một điều sai
lầm. Nó sai lầm vì giả sử cái thứ nhất là giả dối, thì dù cái tiếp theo có thành sự thật đi nữa thì
cũng chưa hẳn cái thứ nhất là sự thật,- đã thành sự thật hoặc sẽ thành sự thật, vì ý thức chúng ta
cũng hay kết luận một cách sai lầm rằng cả cái trước cũng là sự thật… [06,58]
Ở đây, chúng tôi quan tâm đến ý kiến của Aristote đề cập đến việc xây dựng yếu tố khác thường, phi
lý- đây chính là yếu tố kỳ ảo mà chúng tôi đang bàn. Aristote đã chỉ ra cơ cấu tâm lý con người khi đối
diện với cái kỳ lạ, cái phi lý. Ông khuyên nên chấp nhận cái luân lý, trong những hoàn cảnh nhất định,
nếu cần có thể hy sinh tính hình thức của nó để đảm bảo mạch ngầm logic của vấn đề- và có lẽ ông cho
đây là hình thức nghệ thuật có giá trị.
Rõ ràng quan điểm tô vẽ cái phi lý để nó trở thành như thật nhằm thỏa mãn độc giả đã được Marquez
phát biểu rõ ràng. Vấn đề ở đây chúng tôi muốn nói đến cách thể hiện yếu tố kỳ ảo của Marquez trong
truyện ngắn khi so sánh với quan điểm của Aristote. Ở Aristote, cái kỳ ảo được hình dung trong tiếp
nhận của con người thông qua hai mệnh đề có quan hệ tương ứng theo tiến trình, trước hết là quan hệ
kéo theo và sau đó là quan hệ định tính. Với dạng này, có thể nhìn ra điểm tương đồng ở nhiều truyện
ngắn của Marquez như:
Cụ già có đôi cánh khổng lồ đã đến làm gia đình Pelado giàu có. Chuyện một gia đình giàu có hoàn
toàn có thể xảy ra (không có gì phải nghi ngờ theo kiểu họ mọc cánh bay theo cụ già, hay họ trở thành
thiên thần…) thế nên chuyện cụ già có đôi cánh khổng lồ đã đến là thực. (Cụ già với đôi cánh khổng
lồ)
Estebal chết trôi đẹp nhất trần gian đã đến ngôi làng, họ làm đám rước (không phải đám đưa ma- vì có
trang điểm, gắn hoa, chọn người làm cha mẹ,…) cho anh và để anh ra biển. Họ trang hoàng nhà cửa
đẹp để khi thích anh có thể trở về. Họ vẫn sống một cách bình thường như bao người trên cuộc đời nên
việc có một người chết trôi đẹp nhất trần gian là sự thật. (Người chết trôi đẹp nhất trần gian)
Ma, một cách huyền bí, thường đưa người sống đến chỗ của chúng. Chúng tôi buổi tối ngủ ở một
phòng, sáng lại thức dậy trong căn phòng từng có án mạng. Vậy chắc chắn ma có tồn tại và đã thực
hiện hành động đó (Những bóng ma tháng tám) .
Như vậy, cái kết quả đảm bảo cho nguyên nhân một chỗ đứng trong hiện thực. Phần lớn những câu
chuyện cổ tích, chuyện truyền kỳ… từ xưa đến nay đều thuộc dạng này. Tuy nhiên, cấu trúc truyện
ngắn kỳ ảo của Marquez còn một dạng khác, có thể khái quát dưới dạng tam đoạn luận, như sau:
a. Nếu ánh đèn cũng có tính chất như nước
Nếu nước có thể làm người ta chết đuối
Thì người ta cũng có thể chết đuối do ánh đèn (Quà tết)
b. Nếu các vị Thánh khi chết di thể không bị hủy hoại
Di thể của bé gái không bị hủy hoại
Nên bé gái phải là một vị thánh (phải được phong thánh) (Thánh Bà)
c. Blacamăng có phép tiên và anh ta xác định tôi cũng có phép tiên
Với phép tiên người ta có thể làm người chết sống lại
Vậy tôi cũng có thể làm anh ta sống lại trong mồ để trả thù. (Blacamăng, người hiền bán phép
tiên)
Và chúng tôi xác định dạng này mang những đặc điểm nghệ thuật rất đáng lưu ý do người đọc được
nhập cuộc, liên tục nhận thức bước đi của yếu tố kỳ ảo và cuối cùng có thể phản tỉnh bản thân. Ở đây
vai trò của tác giả rõ ràng quan trọng hơn dạng trước. Nếu như với dạng quan hệ nguyên nhân kết quả,
yếu tố kỳ ảo thuần túy được quy hết cho một thế lực bên ngoài mà tác giả chỉ có vai trò giới thiệu thì
với dạng tạm đoạn luận, tác giả phải đầu tư, thuyết phục người đọc chấp nhận giả thuyết ban đầu của
mình, từ đó đẩy tác phẩm đi theo mạch cái kỳ ảo thúc đẩy để cuối cùng theo nguyên lý bắt cầu, người
đọc nhận ra mình đang ngập trong một thế giới kỳ ảo mà không phải ai khác, không phải tác giả, mà
chính là bản thân mình đã chấp nhận, đã dự phần, đã thúc đẩy nó hiện hình. Đến đây, yếu tố kỳ ảo tự
mình vận động sau khi nhận được “cú huých” đầu tiên tạo thành một tiến trình hoàn chỉnh. Dạng cấu
trúc này thỏa mãn tính chất mang tính hiện thực nhưng vẫn uyển chuyển như huyền thoại của yếu tố kỳ
ảo.
Khi xem xét mặt nghệ thuật của kiểu truyện kể này có thể thấy đây cũng là một dạng của thuật ngụy
biện bằng cách đưa ra giả thuyết có vẻ như đúng nhưng tuyệt đối hóa mọi mặt làm thành một mệnh đề
ngụy trang như chân lý:
Nếu ánh đèn cũng có tính chất như nước- điều này đúng nhưng không phải mọi tính chất của ánh đèn
đều giống như nước. Vấn đề là ánh đèn không thể làm người ta chết đuối. Hay các vị Thánh khi chết di
thể không bị hủy hoại- điều này có thể đúng nhưng không phải tất cả đều như vậy (Ít ra thì các Kinh
sách cũng không khẳng định tất cả mọi trường hợp), không phải vị thánh nào chết đi thi thể cũng
không bị phân rã. Bên cạnh đó, nếu thánh thì thi thể không phân rã không có nghĩa cứ thi thể không
phân rã thì phải là thánh- mối quan hệ một chiều, suy ra bị đánh tráo bằng quan hệ tương đương…
Với dạng này, có thể hình dung cấu trúc tác phẩm như sau: Ban đầu bằng một tiền giả định mang tính
chân lý bộ phận, câu chuyện làm cho người đọc tin rằng, bị thuyết phục rằng nó là chân lý toàn thể. Từ
đó cái phần ngoại biên chính thức trở thành bộ phận của hệ thống và chính nhóm này tự khuếch trương
thành một tổng thể buộc người ta phải chấp nhận một cách vừa ngậm ngùi, vừa lý thú. Cái phần ngoại
biên ấy với Marquez chính là yếu tố kỳ ảo, ban đầu nó chỉ đóng vai phụ nhưng khi được lên sân khấu
nó lại thu hút mọi chú ý và trở thành diễn viên chính với tất cả cái kiêu kỳ, phi chuẩn kỳ diệu của
mình, độc giả thì ngạc nhiên, tác giả thì mỉm cười.
Bên cạnh đó, hành động còn là khâu quan trọng trong việc đảm bảo cấu trúc tác phẩm dung chứa
được yếu tố kỳ ảo mà không làm nó thoái hóa hay biến chất. Yếu tố kỳ ảo của Marquez là dạng hiện
đại nên việc bộc lộ tâm lý nhân vật có liên quan đến cái kỳ ảo là rất hạn chế, điều này cũng phù hợp
với cảm quan sáng tác của chủ nghĩa hậu hiện đại. Truyện ngắn Marquez không nhằm triển khai tâm
lý, vì thế hành động mang tính chất ngoại động và cấu trúc truyện ngắn được cơ cấu tập trung vào hành
động.
Todorov đã chỉ ra sự khác biệt giữa hai loại truyện kể khi ông so sánh Ngàn lẻ một đêm của
Chahrazade và truyện kể của James Joyce. [71,42] Những khác biệt đối sánh từ hai dạng trên có thể
quy chiếu về những điểm như sau:
Tiêu chí/ Đối Ngàn lẻ một đêm của Truyện kể của James Joyce tượng Chahrazade
Tâm lý Truyện kể tâm lý Truyện kể phi tâm lý
Hành động mang tính nội Hành động mang tính ngoại Hành động động động
Vị trí trọng âm Chủ ngữ Vị ngữ
Khi soi chiếu vào những tiêu chí trên thì không mấy khó khăn để nhận ra rằng truyện ngắn kỳ ảo của
Marquez cũng thuộc dạng truyện kể phi tâm lý trong đó một hành động mang giá trị tự thân chứ không
nhằm làm rõ một nét tính cách nào đó của nhân vật. Như vậy, trong một mệnh để truyện kể đơn giản
nhất “X – hành động (nhìn thấy)- Y” theo Todorov đã đề xuất để phân tích, thì trọng tâm đặt ở Y. Các
nhân vật của Marquez không trải nghiệm hàng loạt hành động để thể hiện trước người xem những diễn
biến tâm lý hay minh chứng một quá trình trưởng thành nội tâm. Nhân vật trong truyện như thế giới
con người có phần thụ động trước hành động, không ngừng bị lôi kéo vào một lực hút bất khả chống
đối đến nỗi biến bản thân mình thành một thành phần bị ngoại cảnh và chính hành động chi phối. Đó là
Pelayo trong mối quan hệ với ông lão có đôi cánh khổng lồ, là hai cha con nhân vật tôi trước sức hút
của tramontana, là bà lão vợ ông Jacob với mùi hương hoa hồng,… những nhân vật này không đề xuất
bất cứ một mệnh đề tính từ nào cho bản thân mình, hay nói đúng hơn là trong mối quan hệ giữa bản
thân với yếu tố kỳ ảo cả. Với dạng truyện ngắn kỳ ảo thì mệnh đề này lại được xếp chồng lên mô hình
quan niệm thế giới song trùng Thực- ảo và như một hệ quả tất yếu, yếu tố kỳ ảo lại nổi lên như một
trọng điểm thu hút sự chú ý trong tiến trình truyện kể.
Từ phạm vi nội bộ mệnh đề, mở rộng lên mối quan hệ giữa các mệnh đề, Todorov đã chỉ ra hai kiểu
quan hệ: trực tiếp và gián tiếp; trong đó ông khẳng định Ngàn lẻ một đêm có dạng quan hệ trực tiếp
theo kiểu mọi đặc điểm tính cách đều có tính nhân quả trực tiếp; chúng vừa xuất hiện là gây nên một
hành động [71,43]. Truyện ngắn Marquez lại không thuộc kiểu quan hệ thứ nhất. Bởi lẽ tư duy hậu
hiện đại không thể để tác giả đề ra một nét tính cách rồi dùng những sự kiện để chứng minh nó như
truyện cổ tích. Thường thì nét tính cách hậu hiện đại luôn vượt ra khỏi nó và chạy trốn tác giả đến
những nghịch lý khó khái quát nhất và mối quan hệ trực tiếp tương hỗ của sự kiện với tính cách không
thể diễn ra trong một hoàn cảnh mà người kể không thể, hay không còn muốn đóng vai trò toàn năng
của Thượng đế đứng ra dàn xếp mọi chuyện. Tất cả đều muốn bứt phá ra khỏi giới hạn của nó để làm
một cuộc đổi mới, để có được sự sống của riêng mình- yếu tố kỳ ảo trong chủ nghĩa hậu hiện đại là
một điển hình. Vì thế mối quan hệ hiện tồn trong tác phẩm chỉ còn là gián tiếp, phân mảnh và phần
việc mà tác giả có thể làm là cắt ghép và tái sắp xếp. Trong hoàn cảnh này truyện kể không được dẫn
dắt bởi logic của nhân vật hay hành động nhân vật ý thức mà phụ thuộc vào, trường hợp truyện ngắn
kỳ ảo của Marquez, bản thân tiến trình của yếu tố kỳ ảo khi nó đang chiếm giữ vai trò vị ngữ của
truyện kể.
Đó là trường hợp Biển của thời đã mất- yếu tố biển thể hiện tăng cấp liên tục dẫn đến vô vàn những
biến đổi như mùi hương, thiên hạ kéo về, những người chết bơi dưới biển, dưới đáy biển trầm tích lớp
lớp rùa,… quy định và thúc đẩy nhân vật hành động. Trường hợp Tramontana là cơn gió khủng khiếp
dẫn đến 2 cái chết, trường hợp Người chết trôi đẹp nhất trần gian là cái xác hàn gắn những người
sống,…
Thứ hai, yếu tố kỳ ảo thể hiện một dạng cấu trúc đặc biệt giúp các truyện ngắn của Marquez thể
hiện cấu trúc huyền thoại của nó. Lévi-Strauss từng đề xuất công thức cấu trúc huyền thoại như sau:
fx (a): fy (b) fx (b): fa-1 (y)
Theo sự diễn giải của E.M. Melentinsky, “trong công thức này thông số a gắn với chức năng tiêu cực
x, còn thông số b là trung gian giữa x và chức năng tích cực y. Biểu tượng đại số của thông số b mà ở
đó luận cứ và chức năng đổi chỗ cho nhau còn thông số a phải bị trừ đi một phần nào đó đã chứng
minh rằng sự phát triển của huyền thoại theo chiều xoáy trôn ốc, dẫn đến tình trạng hủy cũ tạo mới…”
[55,15].
Như vậy, giai đoạn fx (a): fy (b) chính là một tình huống cân bằng, một dạng tính từ (theo ngữ pháp
truyện kể mà Todorov đã trình này trong Thi pháp văn xuôi [71]), giai đoạn fx (b): fa-1 (y) cũng là một
tình huống cân bằng nhưng khác biệt về chất với lần đầu. Cần quan tâm là giữa hai tình huống này cần
có một hành động, một sự biến mà công thức của Lévi- Strauss trình bày bằng ký hiệu lưỡng tính =/≈
thể hiện mối quan hệ hình thức và bản chất giữa hai giai đoạn. Strauss không đặt vấn đề ở hành động
này, nhưng chúng tôi thiết nghĩ công thức này sẽ hình dung được phần nào cấu trúc của truyện ngắn kỳ
ảo và vận dụng như sau:
fx (b): fa-1 (y) fx (a): fy (b)
Căn cứ vào công thức trên có thể diễn giải rõ cấu trúc của cái kỳ ảo và tiến trình của nó trong truyện
ngắn của Marquez như sau:
Tình huống có vấn đề được hình thành bằng mâu thuẫn, hay tác động của nhân tố a chủ động x ảnh
hưởng đến nhân vật b mang tính bị động y. Sau sự biến động do xuất hiện hành động, ở đây việc tham
gia của yếu tố kỳ ảo sẽ dẫn đến trạng thái cân bằng chung cục là nhân tố tích cực trở thành b và tác
động trở lại a lúc này đã mang tính bị động. Cần phải hiểu theo nghĩa rộng các thông số a, b và các
biến x,y. Thông số ở đây, tức trong cơ cấu tác phẩm, vừa có thể là tác nhân mà cũng có thể là đối
tượng; biến x,y không chỉ là tiêu cực hay tích cực mà còn có thể hiểu là chủ động và bị động.
Trong tác phẩm Ánh sáng cũng như nước, Toto và Hoin đóng vai trò b mang tính bị động y chịu tác
động bởi ước muốn có những dụng cụ đi biển a mang tính chủ động x. Sau sự biến, Toto và Hoin chủ
động thỏa mãn khát khao của mình trên những vật dụng, lúc đó những khát khao này được thoản mãn
ở trạng thái a-1.
Nhìn dưới cấu trúc này có thể soi sáng truyện ngắn của Marquez ở một tầng ý nghĩa khác. Thông số a
chính là hiện thực đè nặng lên các nhân vật b bằng những ngăn cản, những trở lực và ước mơ x dưới
nhiều cấp độ trong khi nhân vật được thụ đắc hay mang mầm mống kỳ ảo y. Sau sự biến của yếu tố kỳ
ảo, sự việc thay đổi, nhân vật được giải phóng trở nên trung tâm của đời sống trong khi đó hiện thực bị
giảm trừ thành a-1. Sự biến trung tâm, lặp đi lặp lái đó chính là khâu động từ nằm giữa hai tình thế tính
từ; là một khâu trung gian ít đối lập hơn giữa chuỗi sự việc diễn ra liên tục mà Levi Strauss đã định
hình bằng cấu trúc huyền thoại: sống/ chết→ sống/ chết/ linh hồn→ linh hồn/ sự tái sinh→ linh hồn/ sự
tái sinh/ sự bất tử→ sự bất tử/ sự sa ngã→ sự bất tử/ sự sa ngã/ sự cứu rỗi. Truyện ngắn kỳ ảo của
Marquez là một dạng huyền thoại hiện đại là vì thế.
Có hai vấn đề đặt ra là tính chất của tình trạng giảm trừ này như thế nào và sự biến tiến hành ra sao?
Sự giảm trừ có thể là sự thành công theo nghĩa đen của nhân vật với ước mơ của mình như Tôi trong
Blacaman, người hiền bán phép tiên nhưng cũng có thể là dẫn đến cái giảm trừ hiện thực mạnh nhất-
cái chết trong Nước cũng như ánh sáng, Dấu máu em trên tuyết,… Ở đây cần lưu ý đến kết cục hay là
tính chất của tính từ phái sinh so sánh với trạng thái cân bằng, tính từ gốc ở giai đoạn đầu. Ngoài ra, sự
biến có thể diễn ra đơn thuần theo cấu trúc tình tiết cơ bản mà Todorov đã trình bày nhưng cũng có thể
là sự xếp chồng, sự kết hợp hoặc rẽ nhánh, tạo liên kết,… chúng tôi đặc biệt chú ý đến lối kết cấu tăng
cấp sự biến trong truyện ngắn này của Marquez.
Đồng thời, còn có thể nhận ra cấu trúc truyện ngắn kỳ ảo của Marquez gần với truyện cổ tích thần
kỳ. Đó là trường hợp Ánh sáng cũng như nước. Cấu trúc tác phẩm có nhiều nét tương đồng với cấu
trúc cổ tích, cái khuôn được diễn tập lại và trừu tượng hóa tất cả những gì không thuộc cơ cấu của nó.
Đó là motif ba lần cầu xin và đều được thỏa mãn, nhưng mỗi lần như vậy đều có thử thách, phải vượt
được thử thách mới được thõa ước mơ kỳ diệu. Ba lần cha mẹ đi ra ngoài, bọn trẻ phá vỡ giao ước, vi
phạm cấm kỵ: đập bóng đèn, xả ánh sáng,… Mỗi lần vi phạm thì mức độ càng cao, tính kỳ ảo càng
tăng. Có thể thấy đây là kiểu cổ tích hiện đại- dạng thức đặc biệt của hậu hiện đại. Thế giới trẻ con và
người lớn bị ngăn cách bởi những giới hạn khác nhau và chỉ bằng phương tiện cái kỳ ảo mới có thể
thõa mãn ước mơ bị thực tế hằng ngày đè nén. Khi chiếu vào hệ thống chức năng của cổ tích thần kỳ
theo liệt kê gồm 31 chức năng của V.Proop, có thể nhận ra truyện ngắn của Marquez đã dùng lại bộ
phận chuẩn bị cho chuyện cổ tích (Sự đi vắng, Cấm kỵ- mệnh lệnh- (trường hợp này là ẩn), Cấm kỵ bị
vi phạm). Về sau thì tính thường nhật xen vào thay đổi cơ cấu. Nhận ra dạng cổ tích này có thể khẳng
định được ý thức về khoảng cách thế hệ, về dấu ấn văn hóa cổ xưa, về sự cô đơn thường trực và thể
hiện trong sáng tác của Marquez.
Bên cạnh đó, có thể giải mã hạt nhân của dạng tác phẩm này khi so sánh với khái niệm tình tiết trong
ngữ pháp truyện kể mà Todorov đã ứng dụng trong truyện Mười ngày của Boccacio. Trong đó, tình tiết
trọn vẹn tối thiểu là bước chuyển từ một trạng thái cân bằng này sang một trạng thái cân bằng khác.
Một truyện kể lý tưởng bắt đầu bằng một tình thế ổn định và một sức mạnh nào đó sẽ làm biến loạn.
Điều này đưa đến một tình trạng mất cân bằng; nhờ tác động của một sức mạnh theo chiều hướng
ngược lại, sự cân bằng được tái lập, sự cân bằng thứ hai giống sự cân bằng đầu tiên nhưng hai trạng
thái không bao giờ đồng nhất. [71,63] Từ đó ông xác định hai kiểu đoạn truyện- đoạn tả trạng thái và
dạng đoạn tả bước chuyển và quy chúng về tương đồng với hai bộ phận của diễn ngôn là tính từ và
động từ. Truyện ngắn Ánh sáng cũng như nước là điển thể của cấu trúc được triển khai theo kiểu tiếp
nối các tình tiết đồng dạng.
Toto, Hoen và cha mẹ là các danh từ riêng trần thuật, dù cha mẹ của chúng không được nêu tên mà
được chỉ định trong quan hệ huyết thống trực hệ với Toto và Hoen; họ là tác nhân của hoạt động.
Trạng thái cân bằng trong quan hệ được mặc nhiên thừa nhận bằng hành động đòi hỏi quà giáng sinh
của lũ trẻ, nhưng vấn đề là giữa căn nhà phố trong một chung cư cao tầng không thể làm được gì với
một chiếc thuyền có mái chèo như bọn trẻ mong muốn. Như vậy, tình trạng có vấn đề ở đây là sự bất
đồng giữa hiện thực và mong ước, tính từ xuất hiện và được xác lập. Việc bọn trẻ được vòng nguyệt
quế ở năm thứ ba trường tiểu học không phải là một hành động chuyển đổi trạng thái mà cũng là một
dạng tính từ để tô đậm thêm tính bất xứng giữa hiện thực- căn nhà mặt phố và ước mơ- chèo thuyền
trong phòng của lũ trẻ. Tuy vậy, hành động trung tâm, bước chuyển quyết định, động từ của ngữ pháp
truyện kể đã xuất hiện:
Bọn trẻ được thể đã đóng kín các cửa, kể cả cửa sổ, đập vỡ bóng ngọn đèn phòng khách, một
dòng ánh sáng vàng và mát như nước từ bóng đèn vỡ bắt đầu chảy ra và chúng cứ để cho nó
dâng cao bốn gang tay mới ngắt dòng chảy, lấy chiếc thuyền từ trong phòng chứa đồ ra, rồi ngồi
trên thuyền bơi theo ý thích, luồn lách khắp nhà.
Trạng thái cân bằng đến đây đã xuất hiện với việc thỏa mãn ý thích của lũ trẻ. Nhưng chính từ sở thích
đó mà xuất hiện tiếp trạng thái không cân bằng là chúng đòi có hai bộ đồ lặn để lặn thật sâu trong căn
phòng tầng 05 này, và yếu tố kỳ ảo lại xuất hiện để giải quyết thế xung đột giữa hiện thực và huyễn ảo.
Cấu trúc này được nhấn mạnh bằng việc lũ trẻ muốn tổ chức một buổi tiệc và mời bạn bè. Bản thân
việc này không phải là một tình thế mâu thuẫn hình thức đối với cha mẹ của bọn trẻ (chứng minh rõ
ràng tình thế trung tâm của truyện ngắn này không phải là mâu thuẫn giữa cha mẹ và con trẻ, người lớn
và trẻ con) nhưng tình trạng mất cân bằng ở việc là bọn trẻ đến để chơi trò chèo thuyền và lặn ngụp
trong phòng. Và vẫn với hành động cũ, qua nhiều lần thực hiện, chúng đã chết đuối trên tầng 05 nhà số
47 đại lộ Castedana. Các dạng động từ trong truyện kể này đều do yếu tố kỳ ảo đóng vai trò trung tâm;
tình trạng cân bằng và mất cân bằng thể hiện qua các dạng tính từ mang vấn đề lưỡng phân hiện thực
và ước mộng. Cuối cùng lũ trẻ đã chết đuối, liệu điều đó có thật hay không chẳng phải là vấn đề đáng
lưu ý để phải đặt câu hỏi bởi cuối cùng câu chuyện cũng trở về thế cân bằng- sự thỏa mãn của lũ trẻ-
đối tượng chính của truyện kể. Marquez ngừng truyện kể lại trong giây phút chúng thỏa mãn nhất, cân
bằng nhất như một hoàn kết cho chuyện kể dựa trên tình tiết yếu tố làm trung tâm tạo nên một cấu trúc
vòng xoáy ba tầng. Như vậy, nỗ lực dựng lại một cổ tích hiện đại chính là để xóa đi nỗi cô đơn. Thế
giới ấy thuộc một không gian và thời gian khác song trùng với đời sống thực tế. Thế nhưng có vẻ cuối
cùng nỗ lực này trở thành bi kịch, ít nhất là theo cách nhìn thông thường. Đó cũng là con đường của cổ
tích đi từ những phép màu nhỏ đến những huyền thuật lớn lao, con người khi chấp nhận cuộc chơi sẽ đi
từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác và đắm mình trong đó. Cái nhìn hiện thực huyền ảo với yếu tố
kỳ ảo không mang ngạc nhiên, được ngụy trang bởi cái nhìn của trẻ thơ- đây chính là chất đặc trưng
trong tự sự của Marquez- nhìn một cách bình thản và tận hiến tin tưởng, không ngờ vực. Đây là cái
nhìn trong sáng của trẻ thơ và an nhiên của bậc hiền triết.
Dấu ấn anh hùng cặp đôi để phát triển motif, tiến triển như cuộc phiêu lưu. Hai người anh hùng chu du
trên nhiều miền đất cùng nhau tiêu diệt quái vật để giữ bình an cho con người là một motif quen thuộc.
Có thể liệt kê vô số mẫu hình của các nền văn hóa cùng các biến thái của nó, điển hình như hai người
anh hùng Kiche- Maya là Hunahpú và Xbalanqué hay thần Viracocha của người Inca thể hiện thành
hai anh em sinh đôi Iamaimana Viracocha và Tokama Viracocha,…
Hai anh em trong truyện ngắn của Marquez không phải là hai người phân biệt mà là hai thể hiện của
cùng một bản thể. Không nhận ra một sự khác biệt nào về tính cách và hành động của hai anh em trong
tiến trình cái kỳ ảo. Kiểu con người song trùng này thống nhất trong bản thể tạo thành dạng anh hùng
lưỡng thê, lưỡng tính từng bắt gặp trong truyện ngắn Bên kia cái chết và sau này là trong Trăm năm cô
đơn. Đây chính là motif được lặp lại từ cội nguồn sau xa những chuyện thần thoại của người Maya do
tư duy nông nghiệp trồng ngô mà hình thành kiểu anh hùng lưỡng thê lưỡng tính mà chúng tôi đã có
dịp bàn đến trong “Nhận dạng anh hùng sử thi Popol Vuh” [72].
Thứ ba, cấu trúc kỳ ảo của truyên ngắn Marquez có mối liên hệ với sự phát ngôn của văn bản- đó
là điểm nhìn. Điểm nhìn là sự lựa chọn cự ly trần thuật tất yếu đặt trong mối tương quan với tác giả
văn bản. Vấn đề lựa chọn điểm nhìn sẽ quyết định tác phẩm như một cấu trúc tự trị, độc lập với tác giả
và sẽ góp phần xác lập mô hình truyện kể. Việc lựa chọn điểm nhìn toàn tri, ngôi thứ nhất hay thứ ba
có liên quan đến khoảng cách thẩm mỹ giữa tác giả, người kể chuyện, nhân vật và độc giả. “Trong
những câu chuyện kỳ ảo, thông thường người kể chuyện xưng “tôi”: Đó là một thực tế thể nghiệm mà
người ta có thể kiểm duyệt dễ dàng” [70,100] .
Lý giải về điều này Todorov đã đi từ mối quan hệ quy chiếu giữa từ ngữ và vật quy chiếu trong văn
học. Ông khái quát: “thực ra trong văn bản chỉ có cái gì được nêu nhân danh tác giả mới thoát khỏi
thử thách của sự thực; còn lời lẽ của nhân vật, về phần này, có thể thực hoặc giả, giống như diễn ngôn
thường nhật” [70,101], và kết luận: “Người kể chuyện được thể hiện trong truyện phù hợp với cái kỳ
ảo, bởi anh ta khiến sự đồng nhất cần có giữa độc giả và các nhân vật trở nên dễ dàng. Diễn ngôn của
người kể chuyện này có một tiêu chí mơ hồ, và các tác giả đã khai thác nó theo cách khác nhau, nhất
mạnh phương diện này hoặc khác ở nó: nếu là của người kể chuyện, diễn ngôn vượt lên trên thử thách
của sự thực, nếu là của nhân vật, nó phải được thử thách” [70,105]. Todorov nhấn mạnh tính chất kỳ
ảo nằm ở sự lưỡng lự nên từ nhân vật xưng tôi câu chuyện sẽ thu hút và tạo nên sự lưỡng lự bởi bản
chất tác giả- nhân vật của người kể chuyện. Theo đó, chúng tôi khảo sát điểm nhìn trong các truyện
ngắn của Marquez khi có xuất hiện yếu tố kỳ ảo ở bảng 4.1 và có những nhận định như sau:
Điểm nhìn từ ngôi thứ nhất- như một nhân vật xưng tôi của Marquez thường xuất hiện và đứng
ra xưng tôi- một cách lập lờ nhằm minh chứng tính xác thực của vấn đề được nêu ra. Điều này cũng
nằm trong chiến lược của cái kỳ ảo vì thế nên dạng ngôi thứ ba xuất hiện có với tần suất thấp hơn. Tuy
về mặt hình thức, tỉ lệ điểm nhìn bên trong và bên ngoài của các truyện ngắn gần như tương đương,
nhưng vẫn thấy góc nhìn bên ngoài có vẻ đậm hơn. Thậm chí trong nhiều trường hợp điểm nhìn từ bên
trong nhưng tâm lý nhân vật không được thể hiện hoặc thể hiện rất ít như Đôi mắt chó xanh, Những
bóng ma tháng Tám, Nỗi cay đắng của ba người mộng du,… truyện ngắn của Marquez không đặt nặng
diễn tả tâm lý.
Bên cạnh đó, điểm nhìn của tác giả, đặc biệt là trong truyện ngắn kỳ ảo nếu chiếu vào góc độ ngữ
pháp thì sẽ được một quang cảnh khá lý thú về cấu trúc tác phẩm. Chúng tôi muốn đề cập đến việc tri
nhận thời gian từ góc độ điểm nhìn để liên kết với cấu trúc tác phẩm hư cấu. Từ đó điểm nhìn đặt ở
ngôi thứ ba trong hư cấu tự sự cũng hình thành một cảm quan đặc biệt gắn với cái kỳ ảo. Đó là khả
năng tri nhận thời gian hiện tại của tác phẩm hư cấu tự sự từ ngôi thứ ba trần thuật. Chúng tôi từng đề
cập đến thời gian tuyến tính và thời gian chu kỳ của Marquez gắn liền với những yếu tố kỳ ảo, đặc biệt
là loại không- thời gian thể hiện rõ nhất cảm quan hậu hiện đại và có mối quan hệ mật thiết với yếu tố
kỳ ảo. Truyện kể ở ngôi thứ ba luôn được soi chiếu vào một chủ thể gốc đứng vai trò kể chuyện, đó là
chủ thể phát ngôn. Nhờ tập trung vào chủ thể phát ngôn nên câu chuyện liên tục diễn ra cùng lúc với
hành động đọc- và một diễn biến hiện tại được hình thành. Vì thế, dù câu chuyện ở quá khứ nhưng
truyện kể lại vẫn mang hình thức hiện tại. Rõ ràng có một sức hút tập trung về thì hiện tại tiếp diễn,
bày ra mọi sự việc như nó đang diễn ra trước mắt người đọc. Trước hết đó là nghệ thuật kể chuyện để
thu hút và đặt người đọc vào câu chuyện một cách sinh động nhất. Thứ đến, do đặc tính của tác phẩm
tự sự hư cấu, người đọc tiếp xúc với một sự việc dù diễn ra trước đây hàng ngàn năm và điểm thời gian
được đề cập cụ thể nhưng không thể xem như đọc một văn kiện lịch sử vốn mang trong mình nó một
khoảng cách về thời gian và tính chính xác khách quan; người đọc tiếp xúc với một tác phẩm hư cấu tự
nhiên sẽ không quan tâm đến tính chính xác và khoảng cách lịch sử này. Nhờ đó, sự quy chiếu luôn
hướng về hiện thực dù thời điểm thuộc quá khứ. Bản thân đặc điểm này đã xóa nhòa các ranh giới thời
gian, tạo thành một khoảng không- thời gian hợp nhất trong tiếp nhận tác phẩm.
De pronto notó que se le había derrumbado su belleza que llegó a dolerle físicamente como un
tumor o como un cáncer. Todavía recordaba el peso de ese privilegio que llevó sobre su cuerpo
durante la adolescencia y que ahora había dejado caer- ¡quién sabe dónde!- con un cansancio
resignado, con un último gesto de animal decadente. Era imposible seguir soportando esa carga
por más tiempo. [79,11]- Ngay lập tức nàng nhận ra rằng chính cái sắc đẹp của nàng đã làm
nàng sụp đổ, rằng nàng đã cảm thấy người đau nhức như bị đau một bệnh ung thư. Nàng vẫn còn
nhớ cái sức nặng ấy của niềm vinh dự mà nàng mang suốt trong tuổi trẻ và rằng giờ đây nàng đã
gục với một nỗi mệt mỏi cam chịu, với một cử chỉ cuối cùng của con vật kiệt sức. Việc tiếp tục
chịu đựng cái sức nặng ấy thêm một thời gian nữa là không thể được. [53,234]
Sức hút về hiện tại trong đoạn này thể hiện ở việc trong khi ba động từ chính đều chia ở quá khứ lần
lượt gồm: Notó nghĩa là chú ý, được chia theo ngôi thứ ba số ít ở thì quá khứ, thứ hai recordaba nghĩa
là nhớ (ở dạng quá khứ chia theo ngôi thứ ba số ít), thứ ba: era mang nghĩa thì, là (tương tự động từ to
be trong tiếng Anh)- ở dạng quá khứ của ngôi thứ ba số ít, thì trong đoạn này vẫn tồn tại cả các phương
diện hình thức chỉ thời gian hiện tại như De pronto- đột nhiên, ahora- giờ đây. Như vậy, dù cho sự
việc diễn ra ở ba ngàn năm trước nhưng khi trình bày thì câu chuyện mang nặng lực hút hiện tại, nhờ
đó người đọc tiến sát, tiếp cận câu chuyện và tạo điều kiện cho cái kỳ ảo phát huy tác dụng trong việc
tạo lập mô hình tác phẩm.
Sức mạnh của hiện tại cũng dẫn đến dạng cấu trúc phân mảnh của Marquez thể hiện ở điểm bắt đầu
của nó. Nhiều truyện ngắn của Marquez bắt đầu bằng khoảng giữa câu chuyện rồi quay về quá khứ
trình bày và lại nối tiếp hiện tại- tự hủy nó thành quá khứ để kể tiếp. Lối cắt đoạn thời gian này đưa sự
kiện trực tiếp đến với độc giả, chỉ khi đọc toàn bộ tác phẩm thì sự việc được tái sắp xếp lại. Sự sắp đặt
này đảm bảo sức thu hút của chỉnh thể có trung tâm là yếu tố kỳ ảo. Nhiều khi sự việc nằm ở trung
tâm, đã được kể từ đầu như con tàu ma trong Chuyến đi cuối cùng của con tàu ma, như mùi hương
trong Biển của thời đã mất,… Cấu trúc tác phẩm kỳ ảo của Marquez thể hiện kiểu ghép mảnh của chủ
nghĩa hậu hiện đại. Đó là những mảnh vỡ của cuộc đời phi trọng tâm, được bày ra không nhằm một
khát vọng giải thích nhưng lại được kết nối bằng yếu tố kỳ ảo. Một đôi vợ chồng già sống nhiều năm,
bỗng một hôm bà vợ cảm thấy mùi hương hoa hồng từ biển và muốn chết; hai vợ chồng trẻ quấn quýt
bên nhau, anh chồng cũng nghe thấy mùi hương hoa hồng; một nhân vật người Mỹ mang tiền đến phát
cho một vùng quê nghèo với những điều kiện từ các đối tượng,… Ba mảnh này dường như không có
một mối liên hệ nào, không mang một ý nghĩa gì đặc biệt trong cuộc sống hằng ngày, nhưng lại được
kết nối vào một nhóm bằng hình tượng biển. Chính biển cả nối dài cuộc sống người vợ ông lão Jacob,
mùi hương hoa hồng từ biển đã giết chết bà lão nhưng lại mang người Mỹ đến để thi đấu với ông lão,
chính biển cả mở ra không gian để anh thanh niên và nhân vật người Mỹ hoạt động trong tiến trình
kiếm cái ăn. Tất cả những tuyến trên được thực hiện trong biển cả với ý nghĩa vừa là không gian, vừa
là yếu tố kỳ ảo, vừa là thành tố của cốt truyện đứng ở vai trò trung tâm, là cái khung, mẫu cho mọi diễn
biến cốt truyện. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tác giả hướng người đọc đến cái kỳ ảo bằng các
phương thức khác một cách thực tập trung, vì nếu thế sẽ giết chết yếu tính của yếu tố kỳ ảo với tính
chất là thành tố của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo mà chỉ thông qua giọng kể quán xuyến tất cả: [77]
Tất cả những điều này là đặc trưng cho phần kỳ ảo, trong khi chủ nghĩa hiện thực thể hiện trong
cách trần thuật như thể là mạch chính của nó là hiện thực và những điều quan trọng thì đó văn
học kỳ ảo lại hướng đến những chi tiết bình thường nhỏ bé. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo mời
gọi người đọc bên cạnh hiện thực, nhận ra những điều kỳ diệu và những điều mà lịch sử sao
lãng. Những chi tiết này được tường thuật lại với một giọng trung tính không đạt trọng tâm vào
cái kỳ ảo vì sợ rằng điều đó sẽ làm độc giả tập trung quá mức. Tác giả nhìn nhận cái kỳ ảo như
điều gì hiển nhiên.
Rõ ràng yếu tố kỳ ảo đã chi phối cấu trúc truyện kể ở dạng phân mảnh do sự chọn lựa mốc thời gian
cũng như điểm nhìn của người kể. Đa điểm nhìn làm cho câu chuyện bắt đầu không rõ, người ta không
biết ai đang nói và quan điểm của ai đang được trình bày. Điển hình như tác phẩm Đám tang của bà
mẹ vĩ đại được kể lại theo kiểu chuyện kể truyền miệng, người kể chuyện kể về cuộc đời rồi rẽ nhánh
sang thế hệ ông cha của bà mẹ vĩ đại, những người đã lập làng Macondo và cả cái thể chế gia đình trị
này dẫn dài dến cái chết của bà mẹ vĩ đại cũng là kết thúc thể chế đó. Tự sự đa điểm nhìn còn được thể
hiện trong tác phẩm Cụ già có đôi cánh khổng lồ khi Marquez liên tục chuyển các ngôi trần thuật và
đan vào vô vàn những nhận định về ông lão, đây chính là một ngụ ngôn về trách nhiệm tri nhận và giải
thích cuộc sống mà Marquez muốn chuyển tải. Trần thuật từ nhiều điểm nhìn hình thành một cấu trúc
phân mảnh và ráp nối phức tạp, tạo cái nhìn không đơn phương mà bao quát nhưng cũng không rõ ràng
và nhất quán. Sự hiện diện của ông lão được giải thích bằng nhiều cách khác nhau trên nhiều cấp độ. Ở
cấp độ cá nhân, những nhân vật như Pelayo, Elisenda, cha Gonzaga, người hàng xóm và những người
khác đều cố gắng giải thích nguồn gốc và ý nghĩa của ông lão, có người thì đề cao nhưng cũng có
người đánh giá thấp. Đó là cuộc sống, mỗi người nhìn theo cách của mình và hành trình tìm ra ý nghĩa
sự vật đòi hỏi nỗ lực rất lớn. Sai lầm chính của những con người trong truyện ngắn này nằm ở chỗ
không phải họ không thể giải thích nguồn gốc ông lão mà là họ không nhận ra vai trò của mình trong
tiến trình lý giải. Trong khi ông lão mang đến của cải cho gia đình thì Pelayo và Elisenda lại cầm tù lão
như gia cầm, những người khác thì cố giành lấy chiến thắng trong cuộc tranh luận và rồi chán nản
trước những sai lầm bản thân và sự im lặng của ông lão. Điều này càng chứng minh yếu tố kỳ ảo đã
hình thành những cấu trúc mang nghĩa trong truyện ngắn kỳ ảo của Marquez.
Cấu trúc truyện ngắn của Marquez từ cách chọn điểm nhìn đã đặt trọng tâm ở cái kỳ ảo làm thúc đẩy
sự phát triển của cốt truyện theo nhiều hướng khác nhau. Điều này xuất phát từ tính chất của yếu tố kỳ
ảo. Do mang tính chất một ký hiệu năng sản thông qua quá trình sao chép và kết hợp với các yếu tố
khác, bản thân câu chuyện mang yếu tố kỳ ảo ở trung tâm sẽ cho phép phát triển câu chuyện theo nhiều
hướng. Chính điều này sẽ tạo nên tính đa nghĩa cũng như cấu trúc ghép mảnh trong văn học hậu hiện
đại.
Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn dạng này đóng vai trò trung tâm, là điểm kết nối và hội tụ các tuyến
nhân vật, đặt họ vào những tình huống khác nhau để thể nghiệm và bộc lộ tư tưởng, chủ đề,… Có thể
nhận thấy dạng này trong tác phẩm Tramontana. Câu chuyện gắn với cơn gió cuồng bạo có thể phát
triển theo ít nhất là ba hướng: thứ nhất là câu chuyện của người thanh niên đã cương quyết tự tử để
tránh đối mặt với cơn gió lần nữa; thứ hai là câu chuyện của ông lão đã tự tử vì xem cơn gió là thông
điệp cổ xưa mà ông vẫn chờ đợi; và câu chuyện thứ ba là của bố con nhân vật xưng tôi, từng tò mò
muốn thưởng thức sức mạnh khủng khiếp của tự nhiên và không bao giờ dám thử lại lần nữa. Ba câu
chuyện này phát xuất và đều tụ lại một đầu mối là cơn gió. Như vậy, cơn gió bắc ở đây vừa là yếu tố
kỳ ảo thu hút người đọc nhưng đồng thời cũng là một thành tố tổ chức cốt truyện quan trọng không thể
loại bỏ, nó có vai trò cú pháp.
Tóm lại có thể thấy cấu trúc truyện ngắn kỳ ảo của Marquez có mối liên hệ đặc biệt với yếu tố kỳ
ảo và chính yếu tố kỳ ảo đã thúc đẩy việc định hình cấu trúc truyện ngắn Marquez.
4.2.2. Điểm kết cái kỳ ảo và cấu trúc truyện ngắn
Nhìn tổng thể, cấu trúc truyện ngắn của Marquez cơ cấu theo yếu tố kỳ ảo. Từ góc độ bộ phận
của cấu trúc, chúng tôi từng lưu ý truyện ngắn Marquez thường bắt đầu với sức hút của hiện tại dưới
tác động của yếu tố kỳ ảo.
Đến đây, chúng tôi đặc biệt chú ý đến khâu cuối cùng trong cấu trúc truyện ngắn trong mối quan
hệ với yếu tố kỳ ảo. Từ đó, có thể nhận định sơ bộ rằng khâu kết của cấu trúc ứng với điểm kết của cái
kỳ ảo chính là sự thoái hóa. Có một kết cục chung cho nhân vật của, một cách này hay cách khác, đều
phần nào mang tính bi kịch, dẫn đến một cảm giác ngậm ngùi, day dứt.
Thứ nhất, cái kỳ ảo của Marquez là thành tố góp phần hình thành cảm quan khải huyền chung cục
trong truyện ngắn Marquez. Khải huyền trước hết gợi đến những ý nghĩa tôn giáo, điều này cũng hiển
nhiên vì Mỹ Latin có thể xem là khu vực nhiệt thành Thiên Chúa giáo nhất trên thế giới. Khải huyền là
sự mặc khải những điều huyền bí của Thượng giới, đây là dạng văn bản khá phổ biến của dân Do Thái
cuối thời Cựu ước. Trong các văn bản này, tác giả thường dùng thị kiến tượng trưng để diễn tả tư
tưởng, ngụ ý đến những biến cố đương thời, như Joan đã thể hiện các hình ảnh con chiên mở ấn, thiên
thần thổi loa, phụ nữ có thai và con rồng, bảy thiên thần mang bảy tai họa,… Khải huyền trong văn
chương Mỹ Latin là ước vọng về một viễn tượng an bình và hòa giải giữa các thế lực đang làm xáo
động đời sống chính trị xã hội. Các nhà văn trong khu vực đều thấy có trách nhiệm dự phần vào cuộc
loan báo và hỗ trợ một tương lai tốt đẹp như vậy. Với Marquez, ông chọn cho mình hướng đối mặt và
giải thoát con người khỏi nỗi cô đơn như là một mặt của ngày khải huyền. Vì thế, cái chết trong truyện
ngắn của Marquez- không đơn thuần chỉ là hiện hình của dạng nhân vật người chết mà thể hiện trên
nhiều cấp độ hướng vận động về cái kết thúc của những người bị kiềm hãm bởi cuộc sống hiện tại. Cái
chết trong Ánh sáng cũng như nước có thể cho thấy tư duy huyền thoại thể hiện ở việc khi đường dây
chuyển từ ý nghĩa sang hình thức cũng kéo theo sự thay thế các giá trị bằng các sự kiện. Như vậy, cái
kỳ ảo có tác dụng đẩy nhanh đến kết thúc, người ta hy vọng một sự thay đổi, cái tác tạo mới trên cơ sở
phá hủy.
Bên cạnh đó, cảm quan khải huyền chung cục này có thể được lý giải trên tinh thần văn học hậu thuộc
địa- một hệ thống giá trị cần đến cái kỳ ảo. Chủ nghĩa hậu thuộc địa (post-colonial) là một thực tế đáng
lưu ý trong văn học từ sau thế chiến thứ hai. Sự độc lập về chính trị tạo cơ sở cho các quốc gia cựu
thuộc địa, vốn sống trong cái khung văn hóa Châu Âu của mẫu quốc thấy rằng đã đến lúc phải xác định
lại một khung giá trị riêng mình. Vì thế, ý thức hậu thuộc địa thể hiện trong tư tưởng Mỹ Latin và
Colombia tạo nên đặc trưng riêng và được Marquez thể hiện yếu cái kỳ ảo nhấn mạnh ở khâu cuối
trong cấu trúc truyện ngắn. Những cái chết hay sự từ bỏ của các nhân vật ở cuối truyện ngắn là viễn
cảnh khẳng định bản thân trong đối sánh với hệ thống giá trị chính quốc. Nhưng cuộc chia ly nào cũng
mang ít nhiều ngậm ngùi càng đặc biệt với Mỹ Latin bởi quá trình phủ định này không phải một chiều.
Con người Mỹ Latin luôn muốn có sự độc lập tư tưởng nhưng họ không sao từ bỏ được sức quyến rũ
từ nền văn hóa rực rỡ Tây Ban Nha vẫn hằng ngày hiện diện trong ngôn ngữ, chuẩn mực văn hóa,
phong cách ứng xử, truyền thống văn chương,... của họ. Thế lưỡng lự này đã tạo nên sức ép và đẩy
những con người lạc lối của thời hậu hiện đại vào một đoạn kết có phần bi kịch. Bi kịch này không thể
hiện trực tiếp như một thế lực thúc ép con người kiểu chiến tranh, bạo loạn hay dịch bệnh,… nhưng lại
luôn mê hoặc, quyến rũ và đẩy các nhân vật của Marquez vào những khát khao không nguôi, những
nỗi niềm không thể gọi thành tên, nửa tiếc hiện tại nửa vương quá khứ nhưng vẫn không từ bỏ hy vọng
hướng đến tương lai. Vì thế, họ không thể sống yên khi hiện tại ràng buộc trong không gian làng, giá
trị văn hóa châu Âu thôi thúc họ bức phá ra đi để được vỗ về trong nền văn minh châu Âu. Nhưng khi
đến châu Âu, họ lại nhận ra mình sống trong một không gian phiêu dạt; nó rất quen thuộc nhưng mình
lại không thuộc về nơi đó. Cuối cùng là vỡ mộng dẫn đến cô đơn, tiếp nối phức cảm đã mang theo từ
Mỹ Latin và càng nung nấu một sự thay đổi- biểu trưng bằng phức cảm khải huyền.
Ý thức hậu thuộc địa đã dẫn đến tham vọng tạo ra hệ thống giá trị riêng mình bằng cách đẩy nhanh thời
gian đến chung cục đồng thời hình thành những giới hạn- phạm vi giá trị của riêng mình. Vì thế, trong
truyện ngắn nói riêng và tác phẩm Marquez tràn đầy những so sánh cực cấp [Bảng 4.2]. Những so sánh
cực cấp này có thể được xem như là bộ phận của giọng kể mà Marquez dần hình thành theo tiến trình
các truyện ngắn và tập trung nhất trong Trăm năm cô đơn, đó là giọng khuếch trương tăng cường sức
tác động của cái kỳ ảo; nhưng đồng thời về mặt tư tưởng, đây cũng là nỗ lực khẳng định khung giá trị
của Mỹ Latin với các cực cấp của nó. Sự khẳng định này mang tinh thần dân tộc, châu lục.
Thứ hai, cái kỳ ảo của Marquez cùng với kết thúc tác phẩm tuy phơi bày những bi kịch nhưng lại
không kích thích người đọc tìm lời giải đáp thông qua quá trình lý giải yếu tố kỳ ảo. Trước hết, nhắc
lại ý kiến của Todorov, cái kỳ ảo chỉ tồn tại trong một độ phân vân, khi người ta xác định chọn lựa, chủ
yếu ở câu kết của truyện ngắn,- đại loại như thế là anh ta tỉnh dậy với mồ hôi đầm đề và biết chuyện
mình mọc cánh vừa rồi chỉ là một giấc mơ- hay vậy mọi chuyện đúng là sự thật, anh ta xem lại cánh
của mình rồi bước ra khỏi nhà đến sở làm vì sợ trễ giờ- thì tác phẩm sẽ thành chuyện huyễn hoặc hay
chuyện lạ.
Tuy nhiên, cái ấn tượng day dứt băn khoăn mà Marquez tạo ra cho người đọc không phải băn khoăn về
cái kỳ ảo mà là băn khoăn về cuộc đời và việc sử dụng cái kỳ ảo. Rõ ràng là không thể xét truyện ngắn
huyền ảo của Marquez theo khung của Todorov vì nếu vậy toàn bộ các truyện ngắn kỳ ảo sẽ thành
chuyện thần thoại, hoang đường vì không một ai mảy may nghi ngờ những điều đã xảy ra, người ta
mặc nhiên chấp nhận không thắc mắc. Nhưng người ta sống với nó hằng ngày, bản thân sự việc vẫn
tiến triển không cách gì phân xuất nó ra khỏi hiện thực để lay tỉnh con người dậy mà chỉ ra đó là ảo; nỗ
lực đó là bất khả. Người ta chấp nhận và sống với nó hệt như cái kỳ lạ của cuộc đời. Như vậy, khâu kết
truyện ngắn Marquez không thể xác định cái kỳ ảo theo kiểu Todorov.Vì thế, kết thúc truyện ngắn và
cái kết của cái kỳ ảo không mang sức nặng đánh giá mà lại hướng vào ý nghĩa việc dùng yếu tố kỳ ảo.
Một cách rất tự nhiên, người đọc ý thức yếu tố kỳ ảo như một thành tố nghệ thuật truyện ngắn
Marquez, nơi đó không có một sự biến đặc biệt, một mở nút gây cấn hay một giải thoát thú vị.
Kết thúc các truyện ngắn của Marquez thường là cái chết, nỗi cô đơn tiên nghiệm hay sự từ bỏ. Có thể
lấy khái niệm biến cố của Lotman để làm sáng tỏ thêm điều này. Biến cố được coi là đơn vị cực tiểu và
bền vững của cấu trúc cốt truyện [44,396]… Trong văn bản, biến cố là sự di chuyển của nhân vật qua
ranh giới của các trường ngữ nghĩa, vì thế ông đề xuất cần phải giải quyết được vấn đề về vị trí của nó
trong trường cấu trúc ngữ nghĩa bậc hai bị quy định bởi loại hình văn hóa, cấp độ cấu trúc… Chính
những đơn vị này tạo thành mắt xích liên kết trong một tổng thể cốt truyện. Cốt truyện quan hệ hữu cơ
với bức tranh thế giới- bức tranh cho thấy quy mô của cái gọi là biến cố, cả biến thể của nó. [44,399]
Như vậy, biến cố phụ thuộc vào quan điểm và góc nhìn. Yếu tố phủ nhận việc thực hiện các chuẩn tắc,
bản thân nó mang tính cách mạng đối lập với sự phân loại thông thường. Biến cố luôn là sự vi phạm
một ngăn cấm nào đó, là sự việc đã xảy ra dù không nhất thiết phải xảy ra [44,404]. Những kết thúc
của Marquez không nhằm giải quyết các tình huống căng thẳng cũng không phải tháo gỡ những vấn đề
của nhân vật mà thường là những cái kết êm ả, phát triển như là kết quả của mạch truyện phi biến cố.
Từ việc không cố gắng giải thích hay ngạc nhiên với những sự biến xảy ra, cấu trúc truyện ngắn
Marquez cũng không hướng đến việc khắc sâu những hiệu ứng kỳ ảo theo lối làm kinh ngạc hay kiếp
sợ người đọc. Cũng như các nhà văn hiện đại và hậu hiện đại khác, kết thúc truyện của Marquez luôn
để lại một dư vị bùi ngùi, day dứt mà không rõ tại sao. Đó là cảm nghiệm hậu hiện đại thấm vào cấu
trúc tác phẩm. Nhà văn không có gắng giải thích hay dàn dựng một vở kịch có đủ các phần thắt nút và
mở nút để đánh vào thị hiếu khán giả.
Điểm qua những đoạn kết của Marquez có thể thấy thường là những kết thúc mở. Mở ở đây có thể hiểu
là mở trong cảm nhận và lý giải của người đọc. Những tác phẩm kết bằng cái chết như Blacaman-
người hiền bán phép tiên, Dấu máu em trên tuyết, Ánh sáng cũng như nước,… không tạo nên cảm giác
hoàn kết, hay cực điểm của sự kiện hoặc một kết thúc bi kịch. Chuyện buồn không thể tin được của
Erendira đáng thương và người bà bất lương có mang kịch tính trong cuộc mưu sát bà lão nhưng
người đọc thấy hài hước và kỳ lạ vì cái chết của nhân vật người thú và càng không dễ giải thích hành
động bỏ chạy khỏi người yêu của Erendira; rõ ràng tác giả từ chối một cái kết kiểu chuyện cổ tích rằng:
họ sống bên nhau hạnh phúc mãi mãi mặc dù đã sử dụng đúng kiểu cốt truyện cổ tích quen thuộc kiểu
Bạch tuyết và Bảy chú lùn, Công chúa ngủ trong rừng,… và đặt tên nhân vật nam mang dấu ấn sử thi
Hy Lạp cổ đại với những chuyến phiêu lưu của Uylysse. Những truyện ngắn khác thì luôn mang kết
cục bằng hoàn cảnh ban đầu, bằng một sự từ bỏ hay nuối tiếc, thường nhất là câu chuyện xoay về như
cũ, các nhân vật tiếp tục hành chức như thể chưa có gì xảy ra: Biển của thời đã mất, Lần thứ ba an
phận, Nabô, người da đen khiến các thiên thần phải đợi, Đám tang của bà mẹ vĩ đại,…
Kiểu cấu trúc này phân biệt truyện ngắn kỳ ảo của Marquez với những truyện kỳ ảo kiểu Gothic. Cấu
trúc cái kỳ ảo kiểu Gothic chớp lấy những khắc kỳ lạ và yêu cầu sự tán đồng từ người đọc. Tác giả sẽ
dẫn dắt người đọc đi sâu vào những sự kiện kỳ bí rồi lần lần hé mở những bí mật về cuộc đời để kết
thúc bằng một sự kiện trọng tâm, để lại cảm giác hồi hộp và hấp dẫn người đọc. Ngược lại, ngay từ
phần triển khai, truyện ngắn hậu hiện đại nói chung và chuyện kỳ ảo của Marquez nói riêng lại dường
như tránh và đẩy sự tập trung của người đọc khỏi yếu tố kỳ ảo; các tác giả này không muốn mê hoặc
người đọc bằng bản thân những cái dị thường mà lại hướng ngay đến những hiện thực dồn dập của
cuộc sống. Phút giây hạ phàm của ông lão có đôi cánh khổng lồ không được tập trung tô vẻ như một
thiên thần nên cuối cùng lão ra đi cũng không gây cho ai cảm xúc đặc biệt; sự chết đi và sống lại của
Blacaman không làm người ta ngạc nhiên cũng như cái chết của lũ trẻ trong Ánh sáng cũng như nước
không được bình luận gì thêm. Tác giả dường như chỉ muốn trình bày sự việc theo như nó diễn ra mà
không muốn hướng người đọc vào bất kỳ một hình thức suy luận hay nhận định gì. Đây là cảm quan
phi trọng tâm của chủ nghĩa hậu hiện đại cũng như một kết thúc mở cho tất cả độc giả. Người đọc có
thể nhận định theo kiểu của riêng mình.
Những cái kết như vậy là kết quả của sự phân hóa hậu hiện đại mang tính chất đa nguyên. Không có
trọng tâm của sự việc thì không tạo sức tập trung nhất định, sẽ dẫn đến sự tản mác. Từ đó, nỗ lực của
con người hướng vào truy tìm một chân lý tối thượng, một phán xét cuối cùng như trường hợp Thánh
bà, Dấu máu em trên tuyết,… là bất khả. Người ta buộc phải chấp nhận cuộc sống nhiều khi không thể
giải thích mà phải chấp nhận nó với tất cả tính đa nguyên, đa cực phức tạp, và văn học cũng nằm trong
mô hình đó.
Bên cạnh đó, những cái chết ở cuối truyện ngắn của Marquez cũng gợi rõ mối quan hệ với yếu tố kỳ
ảo. Chính cái chết là điểm quá độ để bước sang ranh giới của cõi sống và cõi chết, để thâm nhập vào
mô hình quan niệm con người và thế giới thực- ảo của Marquez. Nhờ đó mà hai thế giới song hành mở
ra những cái kết hướng đến cái chết. Đó là cõi chết của những người chết, đứng ra kể câu chuyện của
mình và cuối cùng hé lộ về cái chết đã diễn ra trong quá khứ. Dạng khác là cõi sống đang hướng về cái
chết.
4.2.3. Yếu tố kỳ ảo như một phương thức kết nối nội bộ và liên văn bản
Trong quá trình khảo sát mối quan hệ giữa yếu tố kỳ ảo và cấu trúc truyện ngắn của Marquez,
chúng tôi nhận ra có một sự liên kết các tác phẩm của Marquez, làm người xem có cảm giác như bước
vào một thế giới nghệ thuật thống nhất mà mỗi truyện ngắn là một mảng của tổng thể đó. Có những
cảm giác quen thuộc, những nhân vật được nhắc đến từ những tác phẩm khác, những yếu tố kỳ ảo
nhiều lần xảy ra với những nhân vật khác nhau,…
Thứ nhất, chúng tôi quan tâm đến sự kết nối nội bộ văn bản. Nói cách khác đó là sư tương hợp
giữa tên của các tác phẩm với nội dung chuyển tải trong sự liên kết của yếu tố kỳ ảo.
Trước hết, trong 23 truyện ngắn kỳ ảo mà chúng tôi khảo sát, có những tác phẩm chứa đựng yếu tố kỳ
ảo ngay trong tựa đề [Bảng 4.3]. Như vậy, yếu tố kỳ ảo được đề cập ngay từ tên tác phẩm chính là một
bộ phận của cấu trúc truyện ngắn được cơ cấu theo hướng nhấn mạnh mối quan hệ mà chúng tôi đang
đề cập.
Thứ đến, chúng tôi quan tâm đến sự tương hợp giữa tên và nội dung tác phẩm. Có thể thấy 11 truyện
ngắn có yếu tố kỳ ảo thể hiện ngay trên tựa đề đều gắn kết và mang tính định hướng trong tiếp nhận tác
phẩm (Trừ trường hợp Blacaman, người hiền bán phép tiên sẽ được trình bày sau). Mối quan hệ này có
thể được soi sáng dưới quan điểm lý thuyết thông tin.
G.A.Golixun trong công trình Thông tin- Logic học- Thơ ca [31] đã sử dụng xác suất thống kê và logic
học để lý giải thích về lượng thông tin cực đại trong giao tiếp. Ông chứng minh rằng: Lượng thông tin
mà thông báo y cho ta về sự kiện x được xác định: I(x,y)= ln .
Ở đây p(x) là xác suất xảy ra sự kiện x trước khi nhận được thông báo y- ta tạm gọi là xác suất vô điều
kiện hoặc xác suất tiên nghiệm. p(x/y) là xác suất cũng của sự kiện ấy sau khi nhận được thông báo y-
ta gọi là xác suất có điều kiện hoặc xác suất hậu nghiệm. Nếu số lượng thông báo không phải chỉ là y
mà là y1, y2 thì lượng thông tin ta nhận được về đối tượng x bằng :
I(x,y1,y2) = ln , nhân cả tử và mẫu cho cùng một giá trị p(x/y1) ta có thể biểu diễn công thức ở
dạng sau :
. = ln + ln [31,19]. I(x/y1,y2)= ln
Số hạng thứ nhất là lượng thông tin mà thông báo thứ nhất mang lại, số hạng thứ hai là lượng thông tin
thông báo thứ hai, tổng là lượng thông tin thông báo hai mang lại trên nền thông báo đầu- với điều kiện
thông báo thứ nhất hoàn tất. Từ đó, ông sử dụng logic học để diễn tả quá trình hội và tuyển của tổ hợp
thông tin này thì nhận ra rằng giá trị thông tin nằm ở miền dương khi hai tập hợp có sự trùng khít từng
phần và giá trị bằng không khi hai tập hợp không giao hoặc trùng toàn phần. Điều này lý giải vì sao
trong thơ ca, nguyên tắc gieo vần là trùng từng phần chứ không phải trùng toàn bộ hoặc khác biệt. Trở
lại vấn đề chúng tôi đang trình bày, có thể xem tên truyện ngắn là thông báo thứ nhất và nội dung văn
bản tác phẩm là thông báo thứ hai. Lượng thông tin đạt giá trị cao khi có sự trùng khớp bộ phận giữa
hai thành phần này. (Vì thế khi dịch “La luz es como el agua” (Ánh sáng cũng như nước) dịch giả
Nguyễn Trung Đức đã chuyển thành Quà Tết nhằm tạo ra độ lệch cần thiết để mang lại hiệu ứng cao
đến người đọc). Có thể nói trường hợp Blacaman, người hiền bán phép tiên thể hiện mối quan hệ này
đặc sắc nhất.
Blacaman, từ tên tác phẩm, được định hình là một người hiền bán phép tiên, tức thuộc nhân vật tích
cực như ta vẫn thường xác định trong cổ tích. Nhưng bản thân tác phẩm lại nói lên một điều khác:
Blacaman là kẻ ác còn tôi mới là người hiền, chính sự không trùng khít với nội dung được gợi ra trong
mở đầu đã làm cho tác phẩm thú vị hơn. Cấu trúc truyện ngắn được bố trí theo dạng này làm cho người
đọc như được khám phá một ý nghĩa mới khác với ý nghĩa tiên nghiệm tiếp xúc ở tên tác phẩm.
Trường hợp này không phải là nhiều nếu không nói là khá hiếm. Mười truyện ngắn mang yếu tố kỳ ảo
từ tên tác phẩm còn lại đều triển khai theo hướng thuận với tên tác phẩm. Tuy nhiên, với việc vận dụng
yếu tố kỳ ảo và văn phong hiện đại, Marquez đã tránh được sự trùng khít toàn phần giữa tên và nội
dung truyện ngắn của mình bằng khoảng cách thực- ảo, vì thế mà các tác phẩm đều mang sức hút đáng
lưu ý. Ví dụ như tác phẩm Chuyến đi cuối cùng của con tàu ma được hình dung một cách kỳ bí qua tựa
đề thì kết thúc là hình ảnh con tàu giữa thanh thiên bạch nhật hay truyện ngắn Thánh Bà thì theo nhân
vật tôi chính người cha đã phong thánh cho mình bằng hành trình xin phong thánh cho xác chết của
đứa con,… Quá trình nhận thức này cũng gần với việc vận dụng “Tầm đón đợi” mà Han Robert Jauss
đã đề cập vào trong cấu trúc văn bản nghệ thuật.
Thứ hai, đường dây liên kết giữa các truyện ngắn của Marquez cũng là những chỉ dẫn quan trọng
khi khảo sát cấu trúc truyện ngắn Marquez. Có thể nhận thấy rằng các truyện ngắn của Marquez có một
mối liên hệ chặt chẽ với nhau, dễ dàng bắt gặp hiện tượng tái xuất hiện các không gian và nhân vật
trong hệ thống truyện ngắn này. Về không gian, làng Macondo chính là mẫu thức chung quy định các
không gian làng không tên trong truyện ngắn Marquez. Bản thân Marquez cũng ý thức về mối liên kết
không gian khi ông đặt tên cho 12 truyện ngắn của mình là Doce cuentos peregrinos (Mười hai truyện
ngắn phiêu dạt). Bên cạnh đó, còn có thể nhận ra hiện tượng nhân vật thuộc tác phẩm này được nhắc
đến trong một tác phẩm khác. Ví dụ như Blacaman (1955) được nhắc đến trong Thần chết thường ẩn
sau ái tình (1970) với nhận xét của Nenson Parina về nghị viên Oneximo Sanchez: Merde- gã nói-
c’est le Blacaman de la politique. Hay cuối truyện ngắn cùng tên, Bà góa Montiel trong một thị kiến
của mình đã gặp và trò chuyện với Bà mẹ vĩ đại; trong Biển của thời đã mất (1961) hình ảnh cô gái bán
hoa tiếp 100 khách chính là hạt nhân để sau này (1972) Marquez triển khai trành một tác phẩm mang
tên Chuyện buồn không thể tin được của Erendira đáng thương và người bà bất lương. Dạng nhân vật
tái xuất hiện này tạo một sự liên kết, tiếp nối kiểu tái hiện nhân vật như một bức chân dung chứ không
phải tổng thể; trong những mảng khác, tác giả lại hé lộ và giải thích các nhân vật ở những hoàn cảnh
khác nhau. Nhận ra đường dây liên kết này có thể thấy được cấu trúc truyện ngắn Marquez ráng rõ
hơn, các nhân vật hiện ra đầy đủ hơn. Như vậy, thế giới nghệ thuật của Marquez tìm ra sự thống nhất
của mình trong hệ thống truyện ngắn. Những truyện ngắn là những lát cắt khác nhau trong một chỉnh
thể thường xuyên soi chiếu và giải thích lẫn nhau. Tuy truyện ngắn của Marquez không nhiều nhưng
do tính chất liên kết nhờ việc lặp lại trong cấu trúc những nhân vật, không gian,… đã trở thành một
khối thống nhất, vững vàng và hoàn toàn có giá trị khi đối sánh với mảng tiểu thuyết nổi tiếng của ông.
Thứ ba, trong mối liên hệ với yếu tố kỳ ảo, cấu trúc nội tại truyện ngắn của Marquez mang khả
năng phát triển lớn. Điều này chạm đến mối quan hệ giữa truyện ngắn và tiểu thuyết.
Đã có nhiều ý kiến cũng như nỗ lực phân biệt truyện ngắn và tiểu thuyết, những luận điểm về hệ hình
tư duy, tính tập trung, độ dài,… đã là những điểm tựa để chúng ta tiếp tục suy nghĩ. Bản thân chúng tôi
không có tham vọng chỉ ra hay đóng góp gì mới cho vấn đề phân biệt truyện ngắn và tiểu thuyết. Tuy
nhiên, do đòi hỏi của vấn đề nghiên cứu- đó là sự kết nối các tác phẩm, trong đó có truyện ngắn và tiểu
thuyết của Marquez- phải tìm được một điểm kết nối và đối sánh, dù là trong một phạm vi giới hạn
nhất, truyện ngắn và tiểu thuyết của Marquez. Trong nỗ lực này, chúng tôi nhận thấy gợi ý về cấu trúc
lồng ghép của Tzvetan Todorov mở ra cho đề tài một hướng để đối sánh.
Trong bài viết của mình [71,46-47] ông đã chỉ ra sự tương đồng giữa cấu trúc hình thức của sự lồng
ghép trùng hợp với cấu trúc của một hình thái cú pháp, trường hợp đặc biệt của mệnh đề phụ, mà ngữ
pháp hiện đại đặt cho đúng cái tên là sự lồng ghép. Chứng minh một ví dụ bằng tiếng Đức và Todorov
đã đưa ra kết luận rằng:
Trong câu, việc xuất hiện một danh từ lập tức tạo nên một mệnh đề phụ có thể nói là kể câu
chuyện của danh từ ấy, nhưng vì mệnh đề thứ hai này cũng chứa đựng một danh từ, nên đến lượt
nó phải đòi có một mệnh đề phụ, và cứ tiếp tục như vậy, cho đến một sự gián đoạn võ đoán, từ
chỗ gián đoạn này, ta trở lại các mệnh đề bị gián đoạn, lần lượt từng mệnh đề một. Truyện kể
lồng ghéo có cấu trúc y hệt như vậy, vai trò của danh từ do nhân vật đóng: mỗi nhân vật mới đều
kéo theo một câu chuyện mới. [71,47]
Todorov đã chỉ ra khâu kết nối của các truyện kể cũng tương tự như mệnh đề phụ của một đơn vị
câu, do đó việc phát triển các mệnh đề phụ bổ nghĩa cho câu cũng tương đồng với lồng ghép thêm các
truyện kể mới vào truyện kể chính. Và như vậy, một câu đơn chính là mô hình sơ khởi nhất cho cấu
trúc một truyện kể (truyện ngắn), việc phát triển truyện kể này phong phú bằng các mệnh đề quan hệ
đến một lúc nào đó truyện kể này sẽ trở thành tiểu thuyết là khả năng có thể tiên liệu được. Thật ra,
trong câu, việc phát triển mệnh đề quan hệ không chỉ nằm ở danh từ mà tất cả các thực từ. Có nghĩa
ngoài những từ chỉ mang ý nghĩa ngữ pháp là hư từ như trợ từ, giới từ,… những từ loại có nghĩa từ
vựng như động từ, tính từ, danh từ,… đều có khả năng mở rộng thành ít nhất một mệnh đề quan hệ của
riêng mình. Như vậy, việc phát triển những mệnh đề mới cho thành phần chính yếu của câu sẽ là phát
triển các truyện kể mới, các tình tiết mới để truyện kể từ một truyện ngắn thành tiểu thuyết. Tất nhiên
cuối cùng thì câu cơ bản hay truyện kể căn bản phải được hoàn kết để tạo tính thống nhất và sự kết nối
cho văn bản. Từ đó căn cứ vào độ tập trung vào tuyến truyện chính để xác định một văn bản là truyện
ngắn lại trở thành mơ hồ vì bản thân tiểu thuyết cũng phải có sự kết nối ấy (do cũng xuất phát và hoàn
kết câu/ truyện kể cơ bản). Đặt dấu chấm hết cho các tranh cãi về phân biệt truyện ngắn và tiểu thuyết,
đến đây, có vẻ như khả thi nếu ấn định tiêu chí phát triển thêm truyện kể như mở rộng mệnh đề quan
hệ của câu thì sẽ biến truyện ngắn thành tiểu thuyết; nhưng rõ ràng là thực tế sẽ phủ nhận tiêu chí này.
Nỗ lực tiếp theo, nếu có, là hạn định số lượng các truyện kể được phát triển đến bao nhiêu thì sẽ biến
truyện ngắn thành tiểu thuyết, và trong giới hạn nào thì vẫn giữ truyện ngắn ở nguyên chất của nó dù
có sự biến đổi về lượng. Hạn định này, khi so sánh với việc xác định độ dài bao nhiêu trang là truyện
ngắn, bao nhiêu trang là tiểu thuyết, cũng không rõ ràng và khả thi hơn là mấy.
Con đường đi của truyện ngắn như vậy là đã được xác lập: từ kiểu truyện tình tiết đến những
biến động phá vỡ các quy định tưởng rất chắc chắn đối với một thể loại mà độ ngắn của nó được
xem là yếu tố quy định mọi đặc trưng. Tại những biến thể này, truyện ngắn đã làm những cuộc
kết nối/ lắp ghép bất ngờ trong bản thân nó/ với nó để tái sinh dưới một lốt mới mà hình hài lại
tiếp tục được tiếp nhận đa dạng như kiểu một tập truyện hoặc như một tiểu thuyết. Chính tính
chất tự đủ trong thế luôn luôn vượt khỏi bản thân (nghĩa là trong cái dạng tự đủ đó luôn chứa
đựng một khả năng bùng vỡ của cấu trúc và tiếp nhận) của truyện ngắn đã tạo cơ hội cho những
cuộc lắp ghép bất ngờ trong văn bản tác phẩm được xem là một tổng thể của nó để có thể làm
nên kiểu truyện ngắn hậu hiện đại. Trong trường hợp này bản thân cấu trúc của truyện ngắn nói
được rõ nhất những cảm quan hậu hiện đại về thế giới. [18, 78]
Tuy ở đây chưa thể giải quyết vấn đề truyện ngắn và tiểu thuyết nhưng lại cung cấp một cái nhìn khá
thú vị vế mối quan hệ giữa truyện ngắn và tiểu thuyết. Cần nhấn mạnh là chúng tôi không khẳng định
loại hình tiểu thuyết là sự phát triển phái sinh từ truyện ngắn hay ngược lại truyện ngắn là bản mô hình
thu gọn từ tiểu thuyết mà có thể thấy rằng một câu đơn, một truyện kể cơ sở chính là nền tảng của tiểu
thuyết lẫn truyện ngắn. Chính do có cùng một nền tảng nên truyện ngắn và tiểu thuyết mang hàng loạt
những điểm tương đồng mà hệ quả của nó là việc phân xuất, so sánh truyện ngắn và tiểu thuyết đã khó
khăn như hiện nay.
Từ sự phân biệt này, chúng tôi chia truyện ngắn kỳ ảo của Marquez thành hai nhóm trên tiêu chí
cấu trúc đơn và phức. Cấu trúc đơn là những truyện ngắn được phát triển trên một truyện kể cơ bản
như Chuyền đi cuối cùng của con tàu ma, Bóng ma tháng tám, Dấu máu em trên tuyết, Ánh sáng cũng
như nước,… Cấu trúc phức là truyện ngắn được lồng ghép và phát triển như trường hợp Biển của thời
đã mất hay truyện mang tiềm năng này như Blacaman- người hiền bán phép tiên. Truyện ngắn mang
cấu trúc phức này chính là mầm mống cho tiểu thuyết. Và rõ ràng, khi phát triển thành tiểu thuyết thì
những tình tiết như mùi hương hoa hồng, biển, những phép lạ của nhân vật xưng tôi,… chắc chắn sẽ
không mất đi chỗ đứng của mình.
Bản thân truyện kể cơ bản có mang phần thừa ra, phần thặng dư (chữ của Todorov) cần được bổ
khuyết và bổ khuyết mãi mãi, câu truyện trở thành một phương kế thuyết phục người đối thoại (56).
Người ta phải tập trung vào một câu chuyện mới của nàng Chahrazade nếu không làm được như vậy,
nàng phải chết. Sự chọn lựa mang tính định mệnh nghiệt ngã- truyện kể hay cái chết được hình thành.
Truyện ngắn kỳ ảo của Marquez làm người ta tập trung bằng những yếu tố kỳ ảo được nhà văn phát
triển thành một thế giới nghệ thuật truyện kể- đó chính là con đường của yếu tố kỳ ảo- một ký hiệu
được lập ra nhằm thuyết phục người khác. Nếu không thuyết phục được người đọc bằng một cách nào
đó thì truyện ngắn và nhà văn sẽ chết trong lòng độc giả, như kiểu Marquez từng nói: … tôi đã tự xác
định cho mình lời thề chiến đấu: viết văn hay là chết. Hoặc như Rilke đã nói: “Nếu bạn tin là có thể
sống mà không cần viết văn thì tốt nhất là đừng viết”. [50,139]. Triển khai phần thặng dư ấy chính là
tạo mối liên kết giữa truyện ngắn này với truyện ngắn khác, đặc biệt là với tiểu thuyết.
Xuất bản năm 1967, có thể thấy Trăm năm cô đơn có sự liên kết với nhiều truyện ngắn của Marquez
như Độc thoại của Isabel ngắm mưa ở làng Macondo (1955), Ngài đại tá chờ thư (1957), Marquez còn
từng tuyên bố ông viết Trăm năm cô đơn chỉ để mọi người đọc Ngài đại tá chờ thư. Trong khuôn khổ
luận văn này chúng tôi giới hạn trong mối quan hệ của một số truyện ngắn kỳ ảo với tiểu thuyết nổi
tiếng nhất của tác giả: Trăm năm cô đơn. Mối quan hệ giữa truyện ngắn và tiểu thuyết thường được
quy về ba dạng: truyện ngắn là phác thảo của tiểu thuyết, truyện ngắn là bộ phận và truyện ngắn là hạt
nhân của tiểu thuyết. Thật ra trường hợp truyện ngắn là phác thảo và hạt nhân của tiểu thuyết chủ yếu
phân biệt tương quan thời gian sáng tác trước hoặc cùng lúc giữa truyện ngắn và tiểu thuyết của cùng
một tác giả. Vì thế, hai dạng này nhìn từ góc độ cấu trúc sẽ không cần phải phân biệt. Đồng thời xác
định ba dạng này chính là mang một tiền giả định rằng truyện ngắn luôn là bộ phận của tiểu thuyết bởi
dung lượng nhỏ của nó. Tuy nhiên, khi khảo sát cấu trúc truyện ngắn Marquez và tiểu thuyết Trăm
năm cô đơn chúng tôi nhận ra vấn đề không hẳn như vậy; mối quan hệ này là hai chiều và tác động
tương hỗ lẫn nhau. Vì thế chúng tôi sẽ khảo sát vấn đề này trên hai góc nhìn từ hai đối tượng.
Xuất phát từ truyện ngắn, có thể thấy được những truyện ngắn ban đầu chính là các bộ phận của
tiểu thuyết Trăm năm cô đơn. Có thể dẫn ra đây hai truyện ngắn kỳ ảo là Blacaman, người hiền bán
phép tiên (1955) và Đám tang của bà mẹ vĩ đại (1961). Hình ảnh Blacaman, và nhân vật người du tử
có những khả năng siêu nhiên xưng tôi chính là những phác thảo ban đầu cho nhân vật kỳ ảo số một
trong thiên tiểu thuyết: Menquiades. Menquiades là người dẫn đầu nhóm du tử đến làng Macondo, là
người mê hoặc José Arcadio Buendía bằng những phát minh tân tiến và những phép lạ kỳ ảo, người đã
đi vòng quanh thế giới và rồi trở về làng cứu mọi người khỏi chứng buồn ngủ, là người đã tạo nên một
căn phòng thuộc dạng không- thời gian để tiếp tục tồn tại giữa đám con cháu thế hệ sau nhà Buendia,
là người đã biết trước định mệnh và chuyển hết vào tấm da dê những viễn tượng chính xác,… Nơi
Menquiades có cả cái kỳ ảo của những khả năng được gợi mở trong nhân vật tôi (chữa bách bệnh), có
cái phóng khoáng của người du tử và cái chững chạc của một hiền triết kiểu nhân vật ông lão mà chúng
tôi đã đề cập. Có thể nói Marquez ký thác vào dạng nhân vật này từ rất sớm, bằng nhân vật xưng tôi
Marquez đã bộc lộ rõ quan điểm của một lữ khách chống lại nỗi cô đơn giữa cuộc đời:
Sự thật là tôi chẳng được gì cả sau khi đã chết rồi, mặc dù tôi được phong thánh. Tôi chỉ là một
người nghệ sĩ và điều duy nhất mà tôi hằng mong ước là được sống để tiếp tục vui chơi thỏa chí
trên chiếc xe cổ lỗ mua lại của viên lãnh sự của những tên lính thủy đánh bộ, với người tài xế-
gốc Trinidat, từng là giọng nam trầm trong nhà hát nhạc kịch của những tên cướp biển vùng núi
Oóclêăng, diện những chiếc áo sơ mi lụa tơ, đôi ủng hai màu, chiếc mũ kiểu Tácta, hàm răng
bằng đá Tôpa, dùng nước hoa phương Đông, để ngủ thẳng giấc và nhảy thỏa sức với các hoa
hậu, những cô gái mê tít lời nói văn hoa của tôi. [53,341]
Và rồi đến Trăm năm cô đơn, tác giả lại dùng những ấn tượng đẹp nhất để viết về Menquiades như
người giữa gìn huyền thoại của gia đình Buendia nói riêng và tiểu thuyết nói chung.
Bên cạnh đó, Đám tang bà mẹ vĩ đại chính là một lần tập dượt để Marquez triển khai vai trò cũng như
đám tang của José Arcadio Buendía và Úrsula Iguarán. Bậc trưởng lão của làng Macondo từ bà mẹ vĩ
đại đến José Arcadio Buendía và Úrsula Iguarán đã phát triển và hoàn chỉnh. Giọng hài hước không
còn cần để khuếch đại nữa mà thay vào đó mà chất thơ, chất men mà José Arcadio Buendía đã truyền
và trong nhân vật, khiến đám tang của ông lão không ngập đường rác rến mà trời lại đổ mưa hoa. Vai
trò của Úrsula Iguarán với tư cách là bậc trưởng lão, là bà mẹ quán xuyến mọi việc trong gia đình
chính là hình ảnh của Bà mẹ vĩ đại cai trị vương quốc Macondo. …
Xuất phát từ tiểu thuyết, có thể thấy nhà văn đã làm rõ nhiều vấn đề của Trăm năm cô đơn thông
qua truyện ngắn. Quen thuộc nhất là câu chuyện ông đại tá chờ thư và lương hưu trong Không ai viết
thư cho ông đại tá (1957) là một mảng hoàn chỉnh được cắt ra và thâm nhập vào trong tiểu thuyết
Trăm năm cô đơn. Với truyện ngắn kỳ ảo, chúng tôi lưu ý trường hợp người phụ nữ bán hoa từng được
nhắc đến trong Trăm năm cô đơn như một làn gió làm mê lòng giới mày râu ở Macondo chính là được
phát triển từ phát họa Biển của thời đã mất (1961) và phát triển đến mức hoàn chỉnh thành Chuyện
buồn không thể tin được của Êrênhđira ngây thơ và người bà bất lương (1972). Nếu như Trăm năm cô
đơn chỉ trình bày sự việc theo nhận định của dân làng Macondo nên có nhiều điểm khuất lấp về hai bà
cháu Erendira tân thời thì truyện ngắn viết năm 1972 đã vẽ nên một bức tranh hoàn chỉnh về cặp nhân
vật người thú và người công cụ đặc biệt này. Có thể nói, trường hợp này, tiểu thuyết chính là phác
thảo, là bộ phận của truyện ngắn. Từ đó càng thấy được truyện ngắn và tiểu thuyết Trăm năm cô đơn
của Marquez có mối liên hệ chặt chẽ và thường xuyên có những bộ phận cấu trúc trùng nhau như
những day dứt và tâm đắc nhất của tác giả trên hành trình vượt thoát nỗi cô đơn bằng sức mạnh của
yếu tố kỳ ảo.
Hiện tượng liên văn bản của Marquez gợi chúng tôi nhớ đến trường hợp của Honore de Balzac.
Bằng cách cho nhân vật tái xuất hiện, Balzac đã đã làm một liên kết đặc biệt trong hệ thống tác phẩm
của mình; điều này phù hợp với định hướng kết cấu bộ Tấn trò đời của ông. Tuy nhiên, còn một lẽ
khác là thông qua đó nhà văn khắc họa những tính cách điển hình trong những hoàn cảnh điển hình.
Paris là một hoàn cảnh điển hình của thế giới Tư sản, mỗi một cá nhân khu biệt khi gia nhập vào thế
giới ấy tự khắc dần mang những nét chung của nó, đó là những chặng khác nhau trên con đường tha
hóa. Mỗi một gương mặt, một con người dần nhập vào cái quỹ đạo chung và thống nhất thành một kiểu
hậu quả- đứa con của thế giới Tư sản Paris, nơi nếu cần người ta có thể trườn dưới những lớp cống
ngầm bẩn thỉu để giật lấy vinh quang trên đỉnh cao một cách hợm hĩnh nhất. Tuy vậy, nhìn rộng ra thì
hiện tượng liên văn bản của một nhà văn cũng ít nhiều mang tính phổ quát; những tính cách, sự kiện,
suy tư … một khi khiến nhà văn trăn trở thì sẽ thường xuyên xuất hiện không chỉ trong phạm vi một
tác phẩm của anh ta; Gabriel Garcia Marquez cũng như vậy. Trong phạm vi Trăm năm cô đơn và
những truyện ngắn của ông tồn tại những mẫu thức được lặp lại như chúng tôi đã nêu. Nhìn từ hướng
lịch đại, đó là một thế hệ những con người đang nhìn lại quá khứ và trăn trở trong hiện tại. Từ hướng
nhìn đồng đại thì mỗi cá nhân của Marquez dưới sức nặng của lịch sử đều mang một định mệnh của
đời người- đó là hậu quả của một cá nhân muốn xốc vác gánh nặng dân tộc; mở rộng ra là một cộng
đồng muốn nhận lãnh nhiệm vụ của nhân loại thông qua việc nhìn nhận và lý giải lịch sử của bản thân
mình. Đây là nguyên nhân sâu xa của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin và cũng là một dạng cảm
quan thế giới của Marquez.
KẾT LUẬN
Như vậy với đề tài “Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Gabriel Garcia Marquez”, chúng tôi đã tiến
hành trên hai cấp độ diễn trình lịch sử và sự thể hiện của yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Marquez.
Trước hết, cái kỳ ảo với bản chất là một tín hiệu nghệ thuật đã gắn bó với văn học ngay từ
những hình thức sơ khai nhất. Theo thời gian, cái kỳ ảo dần có những biến đổi, tiêu biểu nhất là ba
dạng tương ứng với ba thời kỳ cổ đại, trung đại và hiện đại. Trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi
chú ý đến giai đoạn thứ ba của cái kỳ ảo và mối quan hệ của nó đối với truyện ngắn của nhà văn
Colombia đoạt giải Nobel văn học 1982- Gabriel Garcia Marquez. Mỗi nhà văn lớn đều có một mô
hình quan niệm về con người và thế giới. Do hoàn cảnh lịch sử, địa lý, văn hóa và cá nhân, Marquez đã
hình thành một mô hình thế giới song tồn, đi về giữa hai trục thực và ảo. Vì thế, việc khảo sát yếu tố kỳ
ảo có thể làm sáng rõ mô hình quan niệm của Marquez nhằm soi chiếu vào các tác phẩm nói chung
cũng như truyện ngắn kỳ ảo của ông nói riêng. Trong quá trình đó, chúng tôi nhận ra tư duy hậu hiện
đại có ảnh hưởng mạnh đến sự vận dụng yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn của Marquez.
Sau đó, chúng tôi đã chỉ ra vai trò và tính chất của yếu tố kỳ ảo trong bộ phận truyện ngắn của
Marquez như hình tượng, biểu tượng và cấu trúc.
Yếu tố kỳ ảo chi phối hệ thống hình tượng trong truyện ngắn kỳ ảo của Marquez. Những hình
tượng như nhân vật, không gian, thời gian đều được thể hiện một cách nổi bật thông qua yếu tố kỳ ảo.
Đặc biệt, có một đường dây logic nối các nhân vật, không gian và thời gian của Marquez, đó là sự ám
ảnh và nỗ lực vượt thoát khỏi nỗi cô đơn. Nỗi cô đơn này nằm ở trung tâm mô hình quan niệm của nhà
văn và được phóng chiếu lên trục thực- ảo, hiện lên một cách đặc sắc gắn với yếu tố kỳ ảo.
Trong truyện ngắn Marquez, sự vận hành của yếu tố kỳ ảo còn hướng đến một cấp độ khác: hệ
thống biểu tượng. Trong khi hình tượng mang tính hình tuyến một chiều thì biểu tượng mang tính
không gian đa phương với ít nhất ba lớp giá trị xếp chồng lên nhau là cá nhân, văn hóa và phổ quát. Hệ
biểu tượng biển, hoa hồng và du tử hiện lên với một vẻ đẹp kỳ ảo, chuyển tải rõ nhất những băn khoăn,
trăn trở về nỗi cô đơn và những trải nghiệm khải huyền của nhà văn nói riêng và cả Mỹ Latin nói
chung.
Cấu trúc truyện ngắn kỳ ảo của Marquez cũng được cơ cấu theo hướng dung hợp yếu tố kỳ ảo.
Nhìn truyện ngắn của Marquez dưới góc độ cấu trúc giúp nhận ra những điểm tương đồng giữa tác giả
với các nhà lý luận việc xây dựng cấu trúc tác phẩm liên quan đến những vấn đề về điểm nhìn, kết
thúc, mở đầu, sự liên kết trong và ngoài cấu trúc văn bản.
Như vậy, chúng tôi đã lý giải yếu tố kỳ ảo trong bộ phận truyện ngắn kỳ ảo của Marquez, đồng
thời cũng đã chỉ ra mô hình quan niệm về con người và thế giới của nhà văn. Mô hình này giúp lý giải
nhiều vấn đề trong sáng tác của Marquez như chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, cảm quan khải huyền, sự
tiếp thu và hòa hợp các giá trị văn hóa Mỹ Latin,… Vì thế, nếu có cơ hội tiếp tục phát triển đề tài này,
chúng tôi dự định có thể sẽ phát triển khai mở rộng phạm vi đến mảng truyện ngắn hiện thực nghiêm
ngặt của ông với chức năng ngữ dụng của yếu tố kỳ ảo. Nghĩa là chúng tôi hướng đến sự khảo sát toàn
vẹn các vai trò ngữ dụng, ngữ nghĩa và cú pháp của yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn của Gabriel Garcia
Marquez, kể cả tiểu thuyết của ông
Đồng thời, trong hướng triển khai đó, chúng tôi cũng đặc biệt lưu ý đến dấu ấn của Marquez
trong các sáng tác của các tác giả Việt Nam, tiêu biểu như truyện ngắn Giọt máu của Nguyễn Huy
Thiệp, truyện ngắn Khi người ta trẻ của Phan Thị Vàng Anh, tiểu thuyết Lời nguyền hai trăm năm của
Khôi Vũ với tiểu thuyết Trăm năm cô đơn; tập thơ Biển đã mất của Phan Thị Ngọc Liên với truyện
ngắn Biển của thời đã mất của Marquez… Ở những cấp độ nhất định, hiện tượng Việt hóa các dấu ấn
của Marquez đã tạo nên tính giá trị.
Như vậy, quan niệm của Marquez nói riêng và các nhà văn chủ nghĩa hiện thực huyền ảo nói
chung về cái kỳ ảo có một giá trị đặc biệt trong việc nhận thức và đánh giá cuộc sống theo hướng nhân
văn, giúp con người chiến thắng được nỗi cô đơn trong một thế giới còn nhiều bất ổn. Vì thế, cần tiếp
tục đẩy mạnh nghiên cứu đối tượng này về lý luận theo hướng tổ chức các hội thảo, các chuyên đề như
hội thảo “Văn học kỳ ảo” (ĐHSP Hà Nội ngày 27 tháng 05 năm 2006), chuyên đề Văn học kỳ ảo (Tạp
chí Nghiên cứu Văn học- 08/2006),…
Về phương diện thực tiễn sáng tác, các nhà văn Mỹ Latin nói chung và Marquez nói riêng, trong
khi vận dụng yếu tố kỳ ảo đã đặc biệt lưu ý đến hoàn cảnh cũng như các đặc trưng của khu vực trong
sáng tác và đẩy những vấn đề đó lên tầm phổ quát. Đây có thể là kinh nghiệm quý báu đối với các nhà
văn Việt Nam trong bối cảnh một đất nước phương Đông có truyền thống văn hóa, lịch sử đặc sắc.
Nhận thức được những giá trị về nội dung và nghệ thuật truyện ngắn của Marquez gắn với yếu
tố kỳ ảo, chúng tôi thiết nghĩ cần dành một thời lượng nhất định để giới thiệu truyện ngắn của Marquez
ở chương trình trung học; cần có những học phần cơ bản ở bậc đại học và chuyên đề nâng cao về văn
học kỳ ảo nói chung và truyện ngắn kỳ ảo của Marquez nói riêng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. TIẾNG VIỆT
1. Adamson, Joseph, “Giải cấu trúc”, Hải Ngọc (dịch), Văn học nước ngoài (04/2008), Hội Nhà Văn
VN.
2. Adler, Mortimer J., Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại, Phạm Viêm Phương, Mai Sơn
(dịch và chú thích), NXB Văn hóa thông tin.
3. Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới- những vấn đề lý thuyết,
NXB Hội Nhà Văn, TTVH NN Đông Tây.
4. Lê Thị Vân Anh, “Tính chất nước đôi của chủ thể hậu thuộc địa trong Vu khống của Linda Lê”,
Văn học nước ngoài (03/2010), Hội Nhà Văn VN.
5. Arinina, A.R. (2003), “Lý luận văn học của Yu. Borev”, Ngân Xuyên (dịch), Nghiên cứu văn học
(01/2004), Viện Văn học, TTKHXH&NVQG.
6. Aristote (1997), Nghệ thuật thơ ca, Lê Đăng Bảng, Thành Thế, Thái Bình... (dịch), Văn học nước
ngoài, (1).
7. Assagioli, Roberto, Sự phát triển siêu cá nhân, Huyền Giang (dịch) (1997), KHXH, Hà Nội.
8. Lê Huy Bắc (2009), Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo và Gabriel Garcia Marquez, NXB GD.
9. Trần Lê Bảo (1991), “Cái kỳ trong tổ chức nghệ thuật Tam Quốc chí diễn nghĩa của La Quán
Trung”, Tạp chí Văn học (03/1991). Viện Văn học, TTKHXH&NV.
10. Barthes, Roland (1957), Những huyền thoại, Phùng Văn Tửu (2008), NXB Tri Thức.
11. Borges, Jorge Luis, Jorge Luis Borges tuyển tập, Nguyễn Trung Đức (dịch) (2001), NXB Đà Nẵng.
12. Đoàn Đình Ca. “Sơ lược về sự hình thành và phát triển của nền văn học Mỹ Latinh”. Nghiên cứu
văn học (04/1967), Viện Văn học, TTKHXH&NVQG.
13. Lê Nguyên Cẩn (2002), Cái kỳ ảo trong tác phẩm Balzac, NXB ĐHSP, HN.
14. Chevalier Jean, Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Phạm Vĩnh Cư (chủ biên)
(1997), Đà Nẵng.
15. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Viện văn hóa, NXB Văn hóa thông tin.
16. Đào Ngọc Chương (2003), Thi pháp tiểu thuyết và sáng tác của Ernest Hemingway, NXB ĐHQG
TPHCM.
17. Đào Ngọc Chương (2008), Phê bình huyền thoại, NXB ĐHQG TPHCM.
18. Đào Ngọc Chương (2009), Truyện ngắn dưới ánh sáng so sánh, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Đại học Quốc gia- B2005-18b-04. TPHCM.
19. Đặng Anh Đào, “Vai trò của cái kỳ ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam", Nghiên cứu văn học
(08/2006), Viện Văn học, Viện KHXHVN.
20. Đêpêtơrơ (R), “Văn học châu Mỹ Latinh”, Nghiên cứu văn học (09/1961), Viện Văn học,
TTKHXH&NVQG.
21. Trịnh Bá Đĩnh (2002), Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Văn học, HN.
22. Nguyễn Trung Đức. “Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của G.Máckét qua Chuyện buồn không thể tin
được của Êrênhđira ngây thơ và người bà bất lương”. Nghiên cứu văn học (02/1981), Viện Văn
học, TTKHXH&NVQG.
23. Nguyễn Trung Đức. “Chủ nghĩa hiện thực và sắc thái Mỹ Latinh trong tiểu thuyết Cácpênhtiê”,
Nghiên cứu văn học (02/1977), Viện Văn học, TTKHXH&NVQG.
24. Nguyễn Trung Đức. “Hiệu quả nghệ thuật của không- thời gian trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn
của G.G. Máckét.” Nghiên cứu văn học (01/1995), Viện Văn học, TTKHXH&NVQG.
25. Nguyễn Trung Đức. “Luận thuyết “Cái thực tại kỳ diệu Mỹ Latinh” của Alejô Cácpênhtiê.” Nghiên
cứu văn học (08/1995), Viện Văn học, TTKHXH&NVQG.
26. Eliade, Mircea, “Cấu trúc của các biểu tượng”, Triều Đông (dịch), Văn học nước ngoài (03/2007),
Hội Nhà văn Việt Nam.
27. Eliade, Mircea, “Hình thái học và chức năng của huyền thoại”, Triều Đông (dịch), Văn học nước
ngoài (02/2007), Hội Nhà văn.
28. Frazer, James George, Cành vàng, Ngô Bình Lâm (dịch) (2007), Văn hóa Thông tin, Tạp chí Văn
hóa- Nghệ thuật, Hà Nội.
29. Freud, Sigmund, Jung,…, “Vô thức và sáng tạo”, Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, NXBVHTT
(2004), Hà Nội.
30. Giới Nghiêm (2008), A di đà giảng luận, NXB Phương Đông.
31. Golixun, G.A., “Thông tin- Logic học- Thơ ca”, Toán học trong thi văn, Lê Hoài Nam (dịch)
(1984), NXB Mir, Maxcơva.
32. Hamburgar, Kate (1986), “Hư cấu tự sự”, Phùng Kiên (dịch), Văn học nước ngoài (06/2008), Hội
Nhà văn Việt Nam.
33. Lê Bá Hán (cb) (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB GD.
34. Hegel, Mỹ học, Phan Ngọc (dịch) (2005). NXB Văn Học
35. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại, NXB GD, HN.
36. Đào Duy Hiệp, “Cấu trúc cái kỳ ảo trong truyện ngắn Maupassant”, Nghiên cứu văn học (09/2006),
Viện Văn học, Viện KHXHVN.
37. Trịnh Huy Hóa (2003), Đối thoại với các nền văn hóa- Colombia, NXb Trẻ.
38. Nguyễn Thanh Hùng (2007), Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT – Những vấn đề cập nhật, NXB
ĐHSP.
39. R.Jakobson (1986), “Bàn về các tín hiệu thị giác và thính giác”, Trịnh Bá Đĩnh (dịch), Nghiên cứu
Văn học (06/2007), Viện Văn học, Viện KHXH VN.
40. Nguyễn Thị Khánh (cb)(1999), Văn học Mỹ Latin, TTKHXH và NVQG, Viện TTKHXH.
41. Kinh Thánh, Cựu ước và Tân ước, Arms of Hope (2002), Singapore.
42. Likhachốp (ĐX) “Thời gian nghệ thuật của tác phẩm văn học”, Nghiên cứu văn học (03/1989),
Viện Văn học, TTKHXH&NVQG.
43. Lê Nguyên Long, “Về khái niệm cái kỳ ảo và văn học kỳ ảo trong nghiên cứu văn học”, Nghiên
cứu văn học (09/2006), Viện Văn học, Viện KHXHVN.
44. Lotman, Iu.M, Cấu trúc văn bản nghệ thuật, Trần Ngọc Vương (dịch) (2007), NXB ĐHQG HN.
45. Phương Lựu (2001), Lý luận phê bình Văn học phương Tây thế kỷ XX, Văn Học, Trung tâm Văn
hóa Ngôn ngữ Đông Tây.
46. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình
(2006), Lý luận văn học. NXBGD.HN
47. Phương Lựu (2007), “Chủ nghĩa lịch sử mới, một chuyển biến trong lòng chủ nghĩa hậu hiện đại”,
Tạp chí Nghiên cứu văn học (12/2007), Viện Văn học.
48. Marquez, Gabriel Garcia, Diễn từ Nobel- Nỗi cô đơn của châu Mỹ Latin, Trần Tiễn Cao Đăng
(dịch), Vietnamnet.
49. Marquez, Gabriel Garcia, Ngài đại tá chờ thư, Nguyễn Trung Đức (dịch) (1983), NXB Văn học.
50. Marquez, Gabriel Garcia, Sống để kể lại, Lê Xuân Quỳnh (dịch) 2004. NXB TPHCM.
51. Marquez, Gabriel Garcia, Trăm năm cô đơn, Nguyễn Trung Đức- Phạm Đình Lợi- Nguyễn Quốc
Dũng (dịch) (1986), NXB Văn Học.
52. Marquez, G.G., Gabriel Garcia Marquez- Mười hai truyện ngắn phiêu dạt, Nguyễn Trung Đức
dịch, NXB Văn học 2004.
53. Marquez, G.G.,Gabriel Garcia Marquez- truyện ngắn tuyển chọn, Nguyễn Trung Đức (dịch), NXB
Văn học (2007).
54. Marx, Kart, “Lời nói đầu- góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, Tuyển tập Mac Anghen (tập
2) (1981), NXB Sự Thật, HN.
55. Meletinsky, E.M., Thi pháp của huyền thoại, Trần Nho Thìn (dịch) (2004), Đại học Quốc Gia Hà
Nội.
56. Nguyễn Đức Nam. “Một khuynh hướng trong tiểu thuyết hiện thực tiến bộ ngày nay ở châu Mỹ
Latinh: Chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo”, Nghiên cứu văn học (01/1975), Viện Văn học,
TTKHXH&NVQG.
57. Nauđrop, M.A. , Tâm lý học sáng tạo văn học, NXB Giáo dục, 1978.
58. Phạm Thị Thanh Nga, “Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975”, Nghiên cứu Văn học
(05/2008), Viện Văn học, Viện KHXH VN.
59. Nhiều tác giả (1983), Nhà văn bàn về nghề văn, Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam Đà Nẵng.
60. Nhiều tác giả (2007), Huyền thoại và Văn học, NXB ĐHQG TPHCM.
61. Nietzsche.F., Zarathustra đã nói như thế, Trần Xuân Kiêm (dịch) (2003), NXB VHTT.
62. Paz, Octavio, “Có một nền văn học Mỹ Latinh?”, Nghiên cứu văn học (01/1996), Viện Văn học,
TTKHXH&NVQG.
63. Hoàng Phê (cb)( 2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.
64. Huỳnh Như Phương (2007), Trường phái hình thức Nga, ĐHQG TP. HCM, TPHCM.
65. Saussure, Ferdinand de (1955), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Tổ ngôn ngữ học khoa Ngữ
văn trường ĐH Tổng hợp HN (dịch) (1972), NXBKHXH, HN.
66. Trần Đình Sử (1993), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, Bộ GDĐT- Vụ giáo viên, HN
67. Võ Thành Thắng (2008), “Quan niệm về nghệ thuật kể chuyện của Gabriel Garcia Marquez qua các
truyện ngắn”, Khoa học xã hội và nhân văn.
68. Nguyễn Viết Thảo, “Văn học Mỹ Latinh: Một số vấn đề”, Nghiên cứu văn học (03-04/1988), Viện
Văn học, TTKHXH&NVQG.
69. Huy Thông, Nguyên Hạ (2007), Einstein và Đức Phật- gặp gỡ tư tưởng, NXB Văn Nghệ.
70. Todorov, Tzevan, Dẫn luận về văn chương kỳ ảo, Lê Hồng Sâm- Đặng Anh Đào (dịch)(2008),
NXBĐHSP.
71. Todorov, Tzevan, Thi pháp văn xuôi, Lê Hồng Sâm- Đặng Anh Đào (dịch)(2008), NXBĐHSP.
72. Nguyễn Thành Trung. “Nhận diện anh hùng sử thi Popol Vuh”, Nghiên cứu văn học (05/2010),
Viện Văn học- Viện KHXH VN.
73. Bùi Thanh Truyền, “Sự hồi sinh của yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam”, Nghiên cứu
văn học (11/2006), Viện Văn học, Viện KHXHVN.
74. Bùi Thanh Truyền, “Truyện kỳ ảo Việt Nam trong đời sống văn học đương đại”, Nghiên cứu văn
học (12/2005), Viện Văn học, Viện KHXHVN.
75. Phùng Văn Tửu, “Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học”, Nghiên cứu văn học
(10/2007), Viện Văn học, Viện KHXH VN.
76. Vưgôtski (1981), Tâm lý học nghệ thuật, KHXH, HN.
B. TIẾNG TÂY BAN NHA
77. María, Achitenei (1995), El realismo mágico. Conceptos, rasgos, principios y métodos,
http://www.babab.com/no29/realismo_magico.php
78. Marquez, G.G (1974), Ojos de perro azul, Editorial Sudamericana, Primera Edicion, Buenos Aires.
79. Márquez, Gabriel García (1987), Todos los cuentos 1947-1972, Editol Oveja Negra, Bogotá.
80. Márquez, Gabriel García (1992), Doce cuentos Peregrinos, Sudamericana, Buenos Aires.
81. Márquez, Gabriel García (1995), Cómo se cuenta un cuento, Taller de guión, Voluntad, Bogotá.
82. Morin, Elodie (2008), “Alteridad y muerte en Ojos de perro azul”, Cartaphilus- Revista de
Investigación y Crítica Estética 4 (2008), 88-98, ISSN: 1887-5238.
83. Nickeson, Frances M. Reece (2007), El budismo y el cuento hispanoamericano, Una tesis Presentar
En la Satisfacción Parcial de Los Requisitos Para el Título de MA, Universidad de Estado de
Connecticut Central Nueva Bretaña, Connecticut.
C. TIẾNG ANH
84. Bauman, Harriet J., The Latin American Short Story: A Cultural Tradition, Yale-New Haven
Teachers Institute, http://www.yale.edu.
85. Bell, Gene H. -Villada (Summer 2005), “Journey Back to the Source- An Interview with Gabriel
García Márquez,” Virginia Quarterly Review.
86. Bevan, Margaret (1960), South America, Golden Press. NY
87. Bloom, Harold (1988), Modern critical views- Gabriel Garcia Marquez. Chelsea House publishers.
NY- Philadelphia.
88. Carpentier, Alejo, Harriet de Onis (Translator) (1989) "Prologue to The Kingdom of This World”,
The Kingdom of This World, ISBN-13: 978-0374521974, Farrar, Straus and Giroux.
89. Cida S.Chase (2004), “La Violencia and Political Violence in García Márquez’s Short fiction”, The
Journal of Popular Culture, Volum 22 issue 1.
90. Davis, Robert Con. (1986), Contemporary Literary Criticism, Longman New York & London.
91. Diana, Perez García, “Baroque Historiographies: Joyce, Faulkner, and García Márquez”, Irish
Migration Studies in Latin America (July 2009), pp. 185-194.
92. Eliade, Mircea, Images and symbols: Studies in Religious Symbolism, Philip Mairet (translator)
(1961), Sheed Andrews and McMeel, Kansas City.
93. Frye, Northrop (1957), Anatomy of Criticism, Princeton, Princeton University Press, New Jersey.
94. Gracia, Jorge J.E. (1986), Latin American Philosophy in the Twentieth Century, Prometheous
books, Arherst, New York.
95. Jerry Hoeg (1997), “The social imaginary/symbolic: technology and Latin American literature”,
Mosaic (Winnipeg), Vol. 30, 1997.
96. Keen, Benjamin (1955), Reading in Latin- American civilization: 1492 to the present, Houghton
Miffin, Boston.
97. Leal, Luis, "Magical Realism in Spanish American Literature", Magical Realism: Theory, History,
Community (1995), Durham, Duke UP, N.C:
98. Lois Parkinson Zamora (1989), Writing the Apocalypse- Historical Vision in Contemporary U.S.
and Latin American Fiction, Cambridge.
99. Many authors (first published in 1829), “Latin America”, The Encyclopedia Americana, Americana
Corporation, NY, Chicago, DC.
100. Márquez, Garc’a Gabriel, Innocent Erendira and Other Stories (New York: Harper and Row
Publishers), 1978.
101. Márquez, Garc’a Gabriel, No One Writes to the Colonel and Other Stories (New York: Harper
and Row Publishers), 1968.
102. Markham, Clements (1910), The Incas of Peru, Smith Elder & Co. London, 1910.
103. Maythawee Holasut, The Suspension of Time in Short Stories of Gabriel Garcia Marquez,
http://www.human.cmu.ac.th/~thai/html2/methawi.pdf
104. Mendoza, Plinio Apuleyo (1988), The Fragrance of Guava: Conversation with Garbriel Garcia
Marquez, Faber and Faber Limited, London.
105. Pelayo, Ruben (2001), Critical Companion to popular contemporary writers- Gabriel García
Marquéz, ISSN 0-313-31260-5, Greenwood Press, USA.
106. Several writers, Magic Realism- A Background Reading/Primer for Teachers of Fourth – Eighth
Grade Students, www. seattleschools.org
107. Stone, Peter (1984), “Gabriel García Márquez- Writers at Work”, The Paris Review Interviews
(Sixth Series), Ed. George Plimpton, Viking, New York, 313-339.
108. Warnes, Christopher (2005), “Naturalizing the Supernatural: Faith, Irreverence and Magical
Realism”, Literature Compass 2 (2005), Blackwell Publishing.
PHỤ LỤC
A. LƯỢC THUẬT CÁC SÁNG TÁC CỦA MARQUEZ
I. TIỂU THUYẾT
Gồm có: Bão lá, Giờ xấu, Trăm năm cô đơn, Mùa thu của trưởng lão, Ký sự một cái chết được báo
trước, Tình yêu thời thổ tả, Tướng quân giữa mê hồn trận, Tình yêu và những con quỷ khác, Tin tức về
một vụ bắt cóc.
1. LA HOJARASCA (BÃO LÁ)
Đây là truyện vừa được viết năm 1952 mang tên La hojarasca dưới ảnh hưởng của nhà văn
hiện đại Mỹ Faulkner và kịch tác gia Hy Lạp Sophocles. Tác phẩm này bị bỏ quên trong ngăn kéo sau
khi bị nhà xuất bản từ chối và chỉ được xuất bản năm 1955 ở Bogotá nhờ một người bạn, lúc này
Marquez đang ở châu Âu. Điều đáng lưu ý là trong tác phẩm này, hình ảnh làng Macondo, lần đầu tiên,
đã xuất hiện, đây là kết quả của chuyến về thăm làng quê Aracataca của tác giả. Macondo trong tiếng
Bantu có nghĩa là chuối, và nó cũng là tên của một đồn điền chuối gần đó. Trong hình thức đầu tiên
này, ngôi làng huyền thoại Macondo mang vẻ điêu tàn, xuống dốc trong cô đơn và nghèo khó sau khi
công ty chuối đến đây và đã ra đi. Bị ngập trong mưa, ngôi làng nặng một mùi tàn phai, con người
sống cay đắng và phán xét nhau nghiệt ngã. Nơi đó có ông Đại tá đáng kính cố gắng hoàn thành lời
hứa cách đây nhiều năm là chôn cất ông bác sĩ, một người nước ngoài tục tĩu và bủn xỉn mà cả làng
đều ghét. Tác phẩm này xoay quanh mối quan hệ giữa ông bác sĩ và gia đình đại tá cũng như nhiệm vụ
khó khăn là chôn cất một người mà cả làng đều muốn thấy hắn mục rữa và bị vùi lấp trong quên lãng.
Tác phẩm La hojarasca mang nhiều kinh nghiệm quá khứ cũng như cảm xúc hiện tại của nhà văn.
Theo kiểu Faukner, Marquez kể lại câu chuyện từ ba điểm nhìn khác nhau: ngài Đại tá, đứa con gái
khổ đau của ông và đứa con trai vô tội của cô. Vì thế, cùng một sự kiện được ba nhân vật nhìn nhận và
giải thích theo ba cách khác nhau nhờ đó ngôi làng Macondo hiện lên với nhiều góc độ. Tuy vẫn còn
những điểm nhạt của một bản thảo đầu tiên nhưng tác phẩm đã bước đầu định hình nét tính cách và
cuộc sống của những con người trong ngôi làng Macondo, đó là bầu tâm lý ảm đạm, cảm xúc nặng nề,
con người tự mình không thể san sẻ và cũng không muốn được san sẻ vì tính đa cảm và bất thường của
mình. Những con người này sẽ còn xuất hiện trong nhiều tác phẩm tương lai của Marquez.
Năm 1972 Harper Collins tập trung thêm ba tác phẩm khác và xuất bản bằng tiếng Tây Ban Nha gồm
La incréible y triste historia da la cándida Eréndira, hai truyện ngắn trước đó là Nabo và Monologue
of Isabel watching the rain in Macondo; sau đó tiếp tục được in trong Collected Novellas. Tác phẩm
này được dịch ra tiếng Việt với tựa đề là Bão lá hay Bão lá úa.
2. LA MALA HORA (GIỜ XẤU)
Tiểu thuyết này lần đầu tiên được Talleres de Graficas "Luis Perez" xuất bản ở Madrid, Tây Ban
Nha và năm 1961, sau đó được Bruguera in lại ở Barcelona vào năm 1982. Bản tiếng Anh do Gregory
Rabassa dịch và xuất bản với tựa đề In Evil Hour do Harper xuất bản ở New York vào năm 1979. Tác
phẩm này được dịch ra tiếng Việt với tựa đề Giờ xấu.
La mala hora là một tiểu thuyết ngắn viết về cuộc sống của một thị trấn bị đè nặng dưới sự bức hại dựa
trên sự kiện la violencia có thật ở Colombia và mang nặng ảnh hưởng của Hemingway. Vốn mang tên
gốc là Este pueblo de mierda, nghĩa là Thị trấn phân (This Town of Shit) và được tác giả viết trong
những năm tháng đói kém ở Paris; năm 1962, dưới sự khuyến khích của một người bạn, Marquez đã
gửi tác phẩm này đến cuộc thi sáng tác của Colombia, vì thế ông chỉnh sửa và đặt tên mới La mala
hora. Với tư cách là tác phẩm đoạt giải, La mala hora được những nhà tài trợ gửi sang xuất bản ở Tây
Ban Nha nhưng nhà xuất bản đã chỉnh sửa và cắt bỏ nhiều đoạn khẩu ngữ Mỹ Latin cũng như những
vấn đề dễ gây tranh luận, các nhân vật bị gán vào những câu nói chuẩn xác theo từ điển tiếng Tây Ban
Nha. Marquez phải khước từ mối quan hệ với tác phẩm của mình, cuối cùng tác phẩm này cũng được
in theo nguyên bản ở Mexico vào năm 1966.
La mala hora gần gũi văn phong với No One Writes to the Colonel. Tác phẩm đặt bối cảnh ở một thị
trấn không tên, nơi sinh sống của những nhân vật như cha Angel, ông bác sĩ và viên thị trưởng,… càng
ngày rơi vào mối lạnh nhạt thù hằn do những cuộc thay đổi chính trị diễn ra. Sau đó, nhiều truyền đơn
xuất hiện trên đường phố kể về những câu chuyện của các cá nhân trong làng. Không ai biết tác giả của
những tin đồn, những lời bàn tán có mục đích tiêu cực nhằm vào mọi người nhưng bầu không khí trong
làng ngày càng xấu, tình trạng bạo lực gia tăng. Tác phẩm được viết lại trước One Hundred Years of
Solitude một năm nên người đọc có thể dễ dàng nhận thấy nhiều điểm tương đồng giữa hai tác phẩm
này.
3. CIEN AÑOS DE SOLEDAD (TRĂM NĂM CÔ ĐƠN)- 1967
Có lẽ đây là tác phẩm được biết đến nhiều nhất của García Márquez. Tiểu thuyết này được viết
ròng rã 18 tháng trong căn phòng đóng kín ngập mùi thuốc lá, khoảng thời gian này vợ ông phải tự
mình quán xuyến chuyện gia đình. Cien años de soledad đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng, đoạt được 4
giải thưởng quốc tế, trong đó có giải Nobel Văn chương 1982.
Tác phẩm viết về vòng phát xuất, tiến triển và tàn lụi của dòng họ Buendía ở làng Macondo. Đó là
những con người chạy trốn vào cuộc loạn luân để trốn nỗi cô đơn, những người thích nghiên cứu đến
mê cuồng rồi chết bên gốc cây vả, khát khao dấn thân phát động 72 cuộc chiến rồi rơi vào tuổi già mòn
mỏi, tin tưởng và bị ám ảnh phiền nhiễu bởi những hồn ma đi lại trong nhà,… các thế hệ của dòng họ
Buéndia cùng mang một dấu ấn cô đơn của tổ tiên và những con người này bằng nhiều cách đã diễn lại
điều đó bằng chính bi kịch của mình. Cuối cùng đứa cháu út của dòng họ bị kiến cắn chết; một trận gió
to cuốn sạch cả làng Macondo và những con người của nhà Buéndia. Tác phẩm được xuất bản bằng
tiếng Tây Ban Nha tên Cien años de soledad ở Buenos Aires, Argentina do nhà xuất bản Editorial
Sudamericana ấn hành năm 1967, sau đó được Catedra in lại vào năm 1984. Gregory Rabassa dịch tác
phẩm này sang Anh ngữ và được NXB Harper ấn hành ở New York năm 1970 với tựa đề One Hundred
Years of Solitude; bản có lời tựa do Rabassa viết do Knopf xuất bản ở New York vào năm 1995. Tác
phẩm này được dịch ra tiếng Việt mang tựa đề Trăm năm cô đơn.
4. EL OTOÑO DEL PATRIARCA (MÙA THU CỦA TRƯỞNG LÃO)- 1975
Đây là một trong những tác phẩm phức tạp và mang nhiều kỳ vọng nhất của Gabriel Garcia
Marquez. The Autumn of the Patriarch là tác phẩm nổi bật viết về chế độ độc tài và tham nhũng quyền
lực ở khu vực Carribbe- Marquez gọi đó là một “bài thơ về nỗi cô đơn của quyền lực” (a poem on the
solitude of power). Nhân vật trung tâm là một nhà độc tài Nam Mỹ, con người không tên này đầy tài
năng chính trị nhưng phải trải qua chuỗi ngày cô đơn và nghi ngờ mọi thứ. Để miêu tả thành công nhân
vật đặc trưng cho văn học châu Mỹ Latin này, nhà văn đã nghiên cứu nhiều hình mẫu, đi nhiều nơi như
Barcelona dưới thời Franco, đến Liên Xô thăm mộ Stalin và ông đã đặc biệt chú ý đến bàn tay đẹp,
mềm mại của nhà lãnh đạo này và chuyển tải nó vào tác phẩm như dấu vết của các nhà độc tài; Pinilla
của Colombia chắc chắn cũng có ảnh hưởng đến hình mẫu này. Nhân vật độc tài được miêu tả mang
sức hút thuần túy bởi vẻ đẹp và nỗi sợ hãi. Với ngòi bút sáng tạo và văn phong kỳ ảo, tác phẩm đã
trình bày bức tranh đậm ý nghĩa biểu tượng về một con người đầy quyền lực đang chết dần trong nhà
tù của chính thể chuyên chế do mình dựng nên. Đó là bản chất nhân loại được thể hiện trong những
thái cực đối lập của nó: từ nhân hậu đến gian ngoa, từ bác ái đến bạo lực, từ kính sợ Chúa trời đến
hung ác cực độ, … Lời văn cuốn theo muôn vàn những ý nghĩa ẩn trong mê cung đầy ám ảnh về không
gian và thời gian, người đọc phải lắp ghép nhận thức từ những mảng vỡ phi tuyến tính gợi nhớ đến
sáng tác của các nhà văn như Samuel Beckett, William Faulkner,… Có ý kiến cho rằng tác phẩm như
một lời phù chú bởi lối hành văn mãnh liệt, cuốn lấy nhân vật độc tài và kìm giữ ông ta trong một giới
hạn nhất định- điều này cũng như Ngài President của Asturias với một cuộc hiến sinh vĩ đại. Tác phẩm
này được dịch ra tiếng Việt với tựa đề Mùa thu của trưởng lão. Đây là tác phẩm viết về phía tối và
thách thức người đọc trong quá trình tiếp nhận nó.
5. CRÓNICA DE UNA MUERTE ANUNCIADA (KÝ SỰ MỘT CÁI CHẾT ĐƯỢC BÁO
TRƯỚC)- 1981
Crónica de una muerte anunciada là một tiểu thuyết ngắn được xuất bản năm 1981 trước khi
Marquez được trao giải Nobel. Hành động truyện khá đơn giản- xoay quanh câu chuyện có thực. Một
sáng thứ hai sau lễ cưới linh đình, chú rể trả cô dâu về nhà cha mẹ vợ sau khi phát hiện ra cô không
còn là trinh nữ. Khi cô dâu tiết lộ người đàn ông đã có quan hệ với mình, hai anh trai của cô đã tìm và
giết anh ta bằng dao mổ heo. Mọi người trong thị trấn nhỏ ở Colombia đều biết việc này nhưng không
ai ngăn cuộc đổ máu đó cả. Từ một cốt truyện đơn giản, Marquez đã đầu tư cho tác phẩm mình dạng
kết cấu nhiều điểm nhìn phong phú. Từ một câu mở đầu đơn giản xác định trước sự việc: "On the day
they were going to kill him, Santiago Nasar got up at five-thirty in the morning to wait for the boat the
bishop was coming on" tác giả xác nhận cái chết của Santiago và dẫn dắt bằng hơn 30 nhân chứng bao
gồm mẹ của nạn nhân, mẹ và chị của người kể, những cô gái bán hoa trong làng, linh mục và nhiều
người qua đường chứng kiến,… trong đó có nhiều người được phỏng vấn và kể lại câu chuyện sau 27
năm. Tác giả đã đề cập đến cuộc sống về sau của cặp vợ chồng Angela và Bayardo San Román.
Câu chuyện có thực nảy sinh vào sáng thứ hai ngày 22 tháng Giêng năm 1951 tại làng Sucre,
một người đàn ông tên Cayetano Gentile bị anh em của Margarita Chica Salas giết chết sau khi cô bị
người chồng là Miguel Reyes Palencia trả về nhà. Tuy nhiên cũng có vài điểm tác phẩm của Marquez
khác với sự việc thực tế. Chú rể không phải một người lạ mặt giàu có mà là con của một địa chủ địa
phương, đám cưới không hề diễn ra lãng mạn nhưng dưới áp lực của anh em nhà cô dâu; người anh cô
dâu không phải là một người mổ heo mà là ngư dân; nạn nhân Cayetano không phải người Ả Rập mà
là một sinh viên y khoa đẹp trai xuất thân trong một gia đình nhập cư người Ý danh giá. Sau án mạng
nhiều năm cô dâu chú rể của Marquez tái hợp nhưng thực sự hai con người thật ấy đã không đến với
nhau.
Tác phẩm này được nhà xuất bản La Oveja Negra ấn hành ở Bogota, Colombia vào năm 1981
và được Gregory Rabassa dịch sang tiếng Anh, J. Cape xuất bản năm 1982 ở London và sau đó được
Knopf in ở New York năm 1983.
6. EL AMOR EN LOS TIEMPOS DEL CÓLERA (TÌNH YÊU THỜI THỔ TẢ)- 1985
Tác phẩm là chuyện tình mê đắm của Florentino Arisa và Fermina Daxa. Lấy bối cảnh một đất
nước bên bờ biển vùng Caribbe ở Nam Mỹ, tác giả đặt thời gian vào thế kỷ 19 và bắt đầu bằng: “It was
inevitable … ” để kể một câu chuyện tình. Hai người yêu nhau và để ý đến nhau từ buổi thanh xuân.
Anh nhà nghèo, con của một bà bán tạp hoá trong khi gia đình cô là một nhà buôn giàu có mới nổi. Họ
yêu nhưng không lấy được nhau vì bức tường môn đăng hộ đối cũng như những ý nghĩ nông nổi khi
đánh giá con người qua hình thức và tiền bạc. Tuy nhiên, họ vẫn không thể quên những kỷ niệm thời
yêu nhau. Cô đi lấy chồng- một bác sĩ giàu có con nhà thế phiệt- nhưng không hạnh phúc. Còn anh thất
tình nên lao vào những cuộc phiêu lưu tình ái và sự nghiệp với quyết tâm làm giàu bằng mọi giá và đã
thành một ông chủ hãng tàu thủy giàu có như vẫn mơ ước. Anh lao có vô số những cuộc giao du tình
cảm và dan díu với nhiều người đàn bà: từ gái tơ đến nạ dòng, từ gái già chồng chê đến gái trẻ chê
chồng. Nhưng bất cứ lúc nào và bất cứ với ai, cũng chỉ thỏa mãn dục vọng nhất thời, ông không thể
nào quên Fermina Daxa và ôm ấp một dự tính sẽ cưới bà khi người chồng chết. Ông khắc khoải chờ
đợi đến khi cả hai đã trên bảy chục tuổi thì bác sĩ Juvenal Urbino de la Calle- một vị bác sĩ đáng kính,
người bảo trợ nghệ thuật và tiên phong trong việc chống lại căn bệnh dịch thời bấy giờ- từ trần, với sự
từng trải hiểu đời và địa vị xã hội, họ tìm đến với nhau nối lại tình xưa. Quả thật câu mở đầu: Điều đó
là không tránh khỏi đã xảy ra; sau 15 năm 9 tháng 4 ngày đợi chờ, câu chuyện của Florentino Ariza và
Fermina Daza lại được tiếp nối khi ông nói lời yêu và cầu hôn ngay trong lễ tang chồng bà. Dù đắm
đuối mê say, dù tình cảm càng lúc càng nồng cháy nhưng cũng không thể nào vượt qua trở ngại từ ràng
buộc của đại gia đình, hoặc những lề thói quan niệm cổ hủ, họ trốn tránh thế sự và sống với nhau trên
một con tàu lênh đênh giữa dòng sông Madaglena. Con tàu mang cờ hiệu màu vàng của những người
mang trong cơ thể mầm mống của bệnh dịch nguy hiểm nhất thời ấy: thổ tả…
El amor en los tiempos del colera do Oveja Negra xuất bản năm 1985, bản tiếng Anh do Edith
Grossman dịch được Knopf xuất bản với tên gọi Love in the Time of Cholera ở New York năm 1988.
7. EL GENERAL EN SU LABERINTO (TƯỚNG QUÂN GIỮA MÊ HỒN TRẬN)- 1989
Tiểu thuyết chuyển tải những vấn đề hiện thực lịch sử dưới ngòi bút kỳ ảo của Marquez khi ông
tái hiện cuộc đời sông động của anh hùng Simón Bolívar. Tác giả cung cấp cho người đọc hình ảnh của
ngài Liberator, người đã mang đến nền độc lập cho các dân tộc Mỹ Latin trước sự đô hộ của Tây Ban
Nha, hình ảnh của người anh hùng châu lục được phục dựng với tất cả tính chất người, vừa cao cả vừa
bình thường trong những thành công lẫn thất bại của ông.
Marquez đã thể hiện một Bolívar như người nhạc trưởng của các phong trào chính trị quân sự, một tình
nhân, một hình tượng của chủ nghĩa anh hùng, một người vị tha, một kẻ tàn nhẫn,… Đó là con người
bằng xương bằng thịt sống với tất cả sự yêu kính và căm giận của đồng đội và kẻ thù. Tác phẩm được
kể lại trong khuôn khổ chuyến phiêu lưu kỳ ảo trong 07 tháng xuống khu vực đại giang Magdalena từ
Bogota ra biển. Bolívar tuy chưa đến tuổi 50 nhưng đã có vẻ già đi nhiều vì áp lực chiến tranh, đam
mê, chiến thắng, phản bội,… Cuộc hành trình như con đường dài nhận ra sự vỡ mộng của nhân vật
chính dù được vây quanh bởi đoàn tùy tùng, người anh hùng trong những tháng ngày cuối của cuộc đời
mình buộc phải đối diện với bóng ma quá khứ, phải tính sổ cuộc đời rồi chợt nhận ra những gì đã mang
đến chiến thắng và vinh quang cho mình lại chính là thứ bao vây không sao có được lối thoát. Đó
chính là cái mê hồn trận của cuộc đời bao gồm cả chiến tranh và ái tình, cuộc phiêu lưu dài của ông đã
vẽ nên dáng hình, vận mệnh của một lục địa.
Tác phẩm được Mondadori xuất bản ở Madrid với tựa đề El general en su labertino vào năm
1989 và bản tiếng Anh được Edith Grossman dịch, Knopf xuất bản với tên gọi The General in His
Labyrinth ở New York năm 1990. Tác phẩm này được dịch ra tiếng Việt nhan đề Tướng quân giữa mê
hồn trận.
8. DEL AMOR Y OTROS DEMONIOS (TÌNH YÊU VÀ NHỮNG CON QUỶ KHÁC)- 1994
Xuất bản năm 1994 với tựa đề Del amor y otros demonios, có thể xem tác phẩm này có một mối
quan hệ gần gũi với One Hundred Years of Solitude. Lấy bối cảnh một cảng biển thuộc địa ở Nam Mỹ,
tác phẩm kể lại câu chuyện của một cô gái mang tên Sierva María, một người ương ngạnh, tóc nâu
đồng, sinh trưởng trong một gia đình quý tộc xuống dốc. Cô được nuôi nấng trong căn nhà nhiều nô lệ
của cha mình còn mẹ thì sống ở một trang trại xa xôi. Vào ngày sinh nhật thứ 12 cô có vẻ mang bệnh
dại sau khi bị chó cắn. Sierva María được gửi vào nhà dòng và được cha Father Cayetano Delaura- một
thanh niên thông minh- chăm sóc. Nhận thấy những lời hướng dẫn cầu nguyện là vô ích, cha Delaura
bắt đầu tự mình chữa lành vết thương của cô bé bằng một tình yêu trong sáng. Khi vị linh mục này
chuẩn bị rưới nước thánh và dầu thiêng thì cô bé nhận ra rằng có một thứ gì khó giải thích nhưng mênh
mông rộng lớn, “Đó là tình yêu”, “là con quỷ khủng khiếp nhất”.
Del amor y otros demonios ngắn nhưng mang tầm ảnh hưởng lớn. Tác phẩm mô tả những bóng ma ám
ảnh tâm hồn con người, chỉ ra bản chất của nhân loại trong một dạng phổ quát mà mỗi người đều tự
mình nhận thấy. Những nhân vật trong tác phẩm mang bóng dáng của Trăm năm cô đơn nhưng họ bị
cầm tù nghiêm ngặt hơn, bị cầm buộc cả thể xác lẫn tâm hồn. Giữa nhà ngục này, nổi bật lên vài người
khác thường, đó là Sierva María, cha Delaura, và một người vô thần bí ẩn mang tên Abrenuncio- họ
như những ngọn than chỉ chờ cơn gió thổi qua là cháy bùng lên, thắp sáng cuộc đời.
Del amor y otros demonios do nhà xuất bản Mondadori ấn hành lần đầu ở Barcelona, sau đó Edith
Grossman dịch sang tiếng Anh và được Knopf xuất bản ở New York năm 1995.
9. NOTICIA DE UN SECUESTRO (TIN TỨC VỀ MỘT VỤ BẮT CÓC) – 1996
Tác phẩm này được Marquez viết dưới dạng báo cáo không xen vào bất cứ bình luận gì từ phía
tác giả về một vụ việc thực tế đã xảy ra ở Colombia- quê hương ông. Pablo Escobar, ông trùm đường
dây buôn bán thuốc phiện cùng với đồng bọn đã tổ chức một cuộc bắt cóc cẩn mật nhằm tạo áp lực
buộc chính phủ Colombia phải chấp nhận yêu sách từ chối dẫn độ các tội phạm sang Mỹ. Mười nhân
vật nổi tiếng của Colombia bị bắt giữ gồm 09 người đàn ông và 01 phụ nữ bị nhốt trong những khu nhà
tù dã chiến. Sau khi vụ việc kết thúc, một số người sống sót đã yêu cầu Marquez viết một tác phẩm kể
lại chuyện này và Noticia de un secuestro đã ra đời
10. MEMORIA DE MIS PUTAS TRISTES (HỒI ỨC VỀ NHỮNG CÔ GÁI ĐIẾM BUỒN CỦA
TÔI)- 2002
Ra đời trong một gia đình trung lưu nhưng sớm mồ côi cha mẹ, trở thành một nhà báo già dạy
ngữ pháp tiếng Latinh cùng tiếng Tây Ban Nha. Ngoài ra, ông còn làm biên tập tin tức, viết báo và
bình luận âm nhạc cho một tờ báo địa phương. Ông cứ sống như vậy cho đến trước hôm trước ngày kỷ
niệm sinh nhật thứ 90 của mình, ông ao ước được có một đêm với thiếu nữ còn trinh nguyên.
Ông đã liên hệ với bà Rosa Cabarcas, người đàn bà ông đã quen từ hồi còn trẻ, chuyên mối lái các cô
gái cho các vị khách, đề nghị tìm cho ông cô gái như yêu cầu. Tuy tuổi đã cao nhưng ông vẫn rất tin
tưởng vào khả năng của mình. Năm hai mươi tuổi, ông có sở thích là thống kê, ghi chép lại tên họ, tuổi
tác, nơi chốn và tóm tắt về hoàn cảnh và phong cách của các cô gái điếm mà ông đã từng quan hệ. Cho
đến khi ông 50 tuổi, số lượng các cô gái trong danh sách của ông đã là 514 người.
Đến buổi chiều hôm trước ngày sinh nhật thì đã có thông tin từ bà Rosa Cabarcas. Cô bé này chưa đầy
14 tuổi, sẽ gặp ông sớm nhất là mười giờ đêm vì đứa bé gái còn phải cho các em ăn, ngủ và đưa bà mẹ
bị liệt chân tay lên giường ngủ xong đã. Khi đến nơi gặp, đối diện với "nữ thần trinh trắng" trần trụi,
mọi dục vọng đam mê bỗng tan biến. Cô bé ngủ say như chết sau khi đã thực hiện một núi công việc
hằng ngày. Tối hôm đó, ông bỗng phát hiện ra "niềm thích thú thực sự khi được ngắm nhìn thân thể
người phụ nữ ngủ say mà không bị áp lực của dục vọng hay bối rối vì ngượng ngùng". Ông cầu chúa
giữ hộ trinh tiết cho cô bé, "vĩnh biệt mãi mãi bé gái bằng nụ hôn trên trán". Sáng hôm sau, những
tưởng sẽ không gặp lại cô bé nữa, nhưng chính sự cô đơn đã kéo ông đến nhiều lần nữa đến với bé gái.
Ông đặt tên cho bé gái là Delgadina. Mỗi lần đến ông cắm thêm bó hoa, hát ru, đọc truyện Hoàng tử
Bé, Nghìn lẻ một đêm... cho cô nghe, mang tranh đến để treo tường trang trí căn phòng, mang đài đến
cho cô nghe nhạc... và "căn phòng đã hồi sinh từ đống tro tàn và tôi đang bơi trong mối tình của
Delgadina với niềm háo hức và hạnh phúc như chưa từng có trong cuộc đời trước đây của mình". Từ
khi có cô bé, ông bỗng trở thành người khác. Ông đọc lại các tác phẩm cổ điển, lặn ngụp trong nền văn
học lãng mạn. Nội dung các bài báo của ông bây giờ thay đổi hoàn toàn, ông đã viết các bài đó như
những bức thư tình mà mỗi người đọc có thể cảm nhận như là thư của chính mình. Ông cảm thấy rất
vui khi mua cho cô bé chiếc xe đạp để cô có thể đi đến chỗ đơm cúc áo hằng ngày cho khỏi mệt và
trong tuần lễ đó, ông đã viết một bài báo có nhan đề "Làm thế nào để cảm thấy hạnh phúc khi ngồi trên
xe đạp ở tuổi chín mươi"... Ông và cô bé như hai người sống chung và rất hiểu nhau, cùng với thời
gian, cô bé vẫn tiếp tục lớn lên theo quy luật của tự nhiên.
Mọi việc vẫn tiếp diễn như vậy cho đến khi có một rắc rối lớn xảy ra tại nơi cô bé ở, nơi nhà trọ của bà
Rosa. Có một vụ giết hại ông chủ ngân hàng ở đó, cảnh sát đã đến điều tra và cô bé phải đi trú ở nơi
khác...
II. TUYỂN TẬP
1. LA HOJARASCA (BÃO LÁ)
Xuất bản năm 1955 với tên gốc là La hojarasca sau đó được dịch sang tiếng Anh với tựa đề
Leafstorm and Other Stories. Tuyển tập này gồm 07 truyện sau: Leaf Storm, The Handsomest Drowned
Man in the World, A Very Old Man with Enormous Wings, Blacamán the Good- Vendor of Miracles,
The Last Voyage of the Ghost Ship, Monologue of Isabel Watching It Rain in Macondo, Nabo.
Đây là tổng hợp những tác phẩm đầu tiên Marquez bắt đầu viết dưới ảnh hưởng của Kafka, đặc biệt là
truyện ngắn Monologue of Isabel Watching It Rain in Macondo-Isabel viendo llover en Macondo. La
hojarasca, do Sipa biên tập (Bogota, Colombia) (1955), in lại ở Bruguera Barcelona, Tây Ban Nha
(1983).
2. KHÔNG AI VIẾT THƯ CHO NGÀI ĐẠI TÁ VÀ CÁC TRUYỆN KHÁC (NO ONE WRITES
TO THE COLONEL AND OTHER STORIES)
Xuất bản năm 1968 gồm tác phẩm Không ai viết thư cho ngài đại tá và nhóm 08 truyện ngắn Đám
tang của bà mẹ vĩ đại gồm: Tuesday Siesta, One of These Days, There Are No Thieves in This Town,
Balthazar's Marvelous Afternoon, Montiel's Widow, One Day After Sunday, Artificial Roses, Big
Mama's Funeral.
Truyện ngắn El coronel no tiene quien le escriba được cho là viết năm 1961. Tác phẩm đặt bối
cảnh ở một làng cảng nhỏ, không phải làng Macondo nhưng có cho tiết cho biết làng Macondo ở cuối
dòng sông. Mọi người nhận thư chuyển bằng đường sông vào thứ sáu hàng tuần. Ngôi làng này là nơi
sống của các nhân vật quen thuộc trong sáng tác của Marquez: ông bác sĩ, cha Engel- người cấm giáo
dân xem các bộ phim nhạy cảm đối với nhà thờ, ông thương gia giàu có bị tiểu đường Sabas, người vợ
tuyệt vọng và ông đại tá. Đây là câu chuyện về ông đại tá già suốt hai mươi mấy năm chờ đợi một lá
thư báo cho biết tiền bồi thường cựu chiến binh từ lời hứa của một chính phủ đã sụp đổ từ lâu. Đứa con
ông đã bị phe đối lập bắn chết. Trong khi đó, gia cảnh hết sức khốn cùng: một người vợ ốm yếu bị
bệnh suyển không có thuốc, nhà hết gạo, lon cà phê thì chỉ còn một muổng cuối cùng mà ông phải
nhường cho vợ, và một con gà độ mà ông phải nhường chính phần ăn của mình cho nó. Ấy vậy mà ông
vẫn cứ chờ đợi, ra bến đò chờ thuyền chở thư đến mỗi ngày. Theo chân người phát thư đến bưu trạm
lân la hết ngày. Nhưng vì lòng háo thắng và bướng bỉnh ông không chịu bán gà. Vì lòng tự ái ông
không mở miệng hỏi thư tại bưu trạm, chờ cho tới khi người phát thư tuyên bố, "hôm nay không có thư
cho ông đại tá", thì ông mới lủi thủi ra về.
Câu chuyện tuy đơn giản, nhưng cái xuất sắc là tác giả đã khéo dùng điệp văn, điệp ngữ để lập đi lập
lại một sự việc, khiến cuốn hút người đọc và khiến câu chuyện trở nên hấp dẫn; qua đó như gởi gắm
một lời nhắn nhủ: trong đời lắm lúc phải chờ dợi và vẫn phải nuôi một hy vọng dẫu sự hy vọng đó gần
như vô vọng và có thể sẽ không bao giờ đến. El coronel no tiene quien le escriba do Aguirre Editor
xuất bản lần đầu ở Medellin, Colombia năm 1961, sau đó được Bruguera in lại ở Barcelona, Tây Ban
Nha năm 1983.
El coronel no tiene quien le escriba được viết trong khoảng thời gian từ 1956-1957, ngay trong giai
đoạn García Márquez sống trong khó khăn ở Paris.
3. TUYỂN TẬP TRUYỆN (COLLECTED STORIES)- 1984
Đây là tuyển tập gồm 26 truyện ngắn được đánh giá là nổi bật nhất và tiêu biểu nhất cho phong cách
của Marquez. Các sáng tác được xếp theo thứ tự năm xuất bản bằng tiếng Tây Ban Nha theo ba nhóm:
Eyes of a Blue Dog, Big Mama's Funeral, và The Incredible and Sad Tale of lnnocent Eréndira and
Her Heartless Grandmother. Tuyển tập cho thấy quá trình sáng tác gần 20 năm của nhà văn với những
chủ đề chính như gia đình, đói nghèo và cái chết.
Phần Eyes of a Blue Dog gồm: The Third Resignation, The Other Side of Death, Eva Is Inside
Her Cat, Bitterness for Three Sleepwalkers, Dialogue with the Mirror, Eyes of a Blue Dog, The
Woman Who Came at Six O’Clock, Nabo: The Black Man Who Made the Angels Wait, Someone Has
Been Disarranging These Roses, The Night of the Curlews, Monologue of Isabel Watching It Rain in
Macondo.
Phần Big Mama’s Funeral gồm: Tuesday Siesta, One of These Days, There Are No Thieves in
This Town, Balthazar’s Marvelous Afternoon, Montiel’s Widow, One Day After Saturday, Artificial
Roses, Big Mama’s Funeral.
Phần The Incredible and Sad Tale Of Innocent Eréndira and Her Heartless Grandmother gồm
những truyện ngắn: A Very Old Man with Enormous Wings, The Sea of Lost Time, The Handsomest
Drowned Man in the World, Death Constant Beyond Love, The Last Voyage of the Ghost Ship,
Blacamán the Good, Vendor of Miracles, The Incredible and Sad Tale of Innocent Eréndira and Her
Heartless Grandmother.
4. TUYỂN TẬP TRUYỆN DÀI (COLLECTED NOVELLAS)-1990
Đây là tập hợp 3 truyện dài của Marquez. Bao gồm: Leaf Storm, No One Writes to the Colonel,
Chronicle of a Death Foretold.
5. DOCE CUENTOS PEREGRINOS (MƯỜI HAI TRUYỆN NGẮN PHIÊU DẠT) - 1992
Tác giả đã trình bày rằng đây là nhóm truyện ngắn về “những điều kỳ lạ xảy ra cho những người
dân châu Mỹ Latin ở châu Âu” ("the strange things that happen to Latin Americans in Europe,").
Mười hai truyện ngắn này lấy bối cảnh ở châu Âu và kể lại những kinh nghiệm khác thường, kỳ ảo,
khủng khiếp của những người Mỹ Latin đi du lịch hay định cư ở châu Âu: Đó là một vị cựu tổng thống
khu vực Caribbe già bệnh được người lái xe cứu thương tham vọng và người vợ tính toán của anh ta
kết thân. Margarito Duarte đến Rome từ khu vực Andes của Colombia để đưa chiếc hộp trong đó có thi
hài của con mình cho Đức Giáo hoàng xem. Một người phụ nữ mang chiếc nhẫn hình rắn với cặp mắt
bằng ngọc được người ta biết đến với tên Frau Frieda, thông qua anh sinh viên Mỹ Latin ở Vienna,
kiếm sống bằng việc nói các giấc mơ của mình cho các gia đình giàu có. Đó là câu chuyện người phụ
nữ xinh đẹp Mexico đang trên đường trở lại Barcelona khi xe hư, cô đi nhờ xe và bị nhốt vào bệnh viện
tâm thần. Ở Tuscany, gia đình tác giả thăm tòa lâu đài Phục Hưng của một nhà văn nổi tiếng người
Venezeula và đã gặp ma ở đó. Bà Maria dos Prazeres, một kỹ nữ già ở Barcelona đã trải qua nhiều đêm
với các giấc mơ như điềm báo trước cái chết, vì thế bà chuẩn bị rất kỹ cho tang lễ của mình. Một bà
quả phụ mặc đồ theo kiểu thánh Francis đến Rome từ Argentina để gặp đức Giáo hoàng. Một chàng
trai đẹp vùng Caribbe đã phát điên và tự tử ở Tây Ban Nha. Một phụ nữ người Đức đã phá hỏng kỳ
nghỉ của bọn trẻ bà được yêu cầu giám hộ và cũng tự phá hủy cuộc sống của mình. Billy Sanchez đưa
người vợ đang mang thai vào viện vì một vết gai hoa hồng đâm chảy máu và không bao giờ gặp lại cô
nữa.
Tập truyện ngắn này gồm phần lời dẫn đầu và 12 truyện ngắn.
Trong phần lời dẫn ban đầu, tác giả trình bày ba vấn đề: Vì sao lại là con số 12, vì sao lại là truyện
(stories), vì sao lại là hành hương, phiêu dạt (pilgrims). Mười hai truyện ngắn bao gồm:
_Bon Voyage, Mr. President, The Saint, Sleeping Beauty and the Airplane, I Sell My Dreams, "I Only
Came to Use the Phone", The Ghosts of August, Maria dos Prazeres, Seventeen Poisoned Englishmen,
Tramontana, Miss Forbes's Summer of Happiness, Light Is Like Water, The Trail of Your Blood in the
Snow.
Tập truyện ngắn này mang tên Doce cuentos peregrinos được nhà xuất bản Mondadori ấn hành
ở Madrid, Tây ban Nha và năm 1992; bản tiếng Anh được Edith Grossman dịch với tựa đề Strange
Pilgrims: Twelve Stories và nhà xuất bản Knopf ấn hành ở New York năm 1993.
III. THỂ LOẠI KHÁC
Ngoài ra, Marquez còn nhiều sáng tác thuộc các thể loại khác, có thể kể đến những tác phẩm nổi
bật khác như sau:
1. The story of a Shipwrecked Sailor (Relato de un náufrago) 1955. Đăng 14 kỳ trên tờ El
Espectador.
2. El Gallo de Oro, (viết chung với Carlos Fuentes) kịch bản phim chuyển thể từ tiểu thuyết của
Juan Rulfo, làm thành phim năm 1964.
3. Viva Sandino (kịch), Nueva Nicaragua biên tập, 1982, bản in lần 2 xuất bản mang tên El asalto:
el operativo con que el FSLN se lanzo al mundo, 1983.
4. Erendira (kịch bản phim chuyển thể từ truyện ngắn dài của ông- La increible y triste historia de
la candida Erendira y su abuela desalmada), Les Films du Triangle phát hành năm 1983.
5. El secuestro: Guion cinematografico (kịch bản chưa làm phim), Oveja Negra, Bogota,
Colombia (1982).
6. A Time to Die (kịch bản phim), ICA Cinema phát hành năm 1988.
7. Diatribe of Love against a Seated Man (kịch; lần đầu tiên giới thiệu tại nhà hát Cervantes,
Buenos Aires, năm 1988), Arango Editores xuất bản tại Santafe de Bogota, Colombia năm 1994.
8. (Hợp tác) The Picador Book of Latin American Stories, Picador, NY (1998).
9. (Hợp tác) J. H. Blair biên tập. Caliente!: The Best Erotic Writing in Latin American Fiction.
Penguin/Putnam, NY (07/ 2002).
10. (Hợp tác với Mario Vargas Llosa) La novela en America Latina: Dialogo, Carlos Milla Batres.
Lima, Peru (1968).
11. Relato de un naufrago (báo), Tusquets Editor. Barcelona, Tây Ban Nha, 1970; bản tiếng Anh do
Randolph Hogan dịch. The Story of a Shipwrecked Sailor. Knopf. New York, NY. 1986.
12. Cuando era feliz e indocumentado (báo). When it was happy and illegal alien, Ediciones El Ojo
de Camello – Bản The Eye of Camel, Caracas, Venezuela, 1973.
13. Operacion Carlota,- Operation Carlota (tiểu luận) 1977.
14. Cronicas y reportajes- Tin tức và tường thuật (báo), Oveja Negra- Black sheep, 1978.
15. Periodismo militante- Militant journalism (báo). Son de Maquina. Bogota, Colombia. 1978.
16. De viaje por los paises socialistas: 90 dias en la "Cortina de hierro" - Of trip for the socialist
countries: 90 days in the iron "Curtain (báo), Ediciones Macondo, Colombia, 1978.
17. (Hợp tác) Los sandanistas- The sandanistas. Oveja Negra. 1979.
18. (Hợp tác) Soledad Mendoza biên tập. Asi es Caracas- It is this way Caracas, Editorial Ateneo
de Caracas, Caracas, Venezuela, 1980.
19. Obra periodistica- It works journalistic (báo). Jacques Gilard biên tập. Bruguera, Volume 1:
Textos constenos. 1981, Volumes 2-3: Entre cachacos. 1982, Volume 4: De Europa y America (1955-
1960). 1983. Volumes 2-3: Among cachacos, 1982, Volume 4: Of Europe and America.
20. El olor de la guayaba: Conversaciones con Plinio Apuleyo Mendoza- The scent of the guava:
Conversations with Plinio Apuleyo Mendoza (phỏng vấn). Oveja Negra, 1982, Bản tiếng Anh của Ann
Wright, The Fragrance of Guava. Verso, London, Anh, 1983.
21. (Viết chung với Guillermo Nolasco-Juarez) Persecucion y muerte de minorias: dos
perspectivas- Persecution and death of minorities: two perspectives. Juarez (biên tập), Buenos Aires,
Argentina, 1984.
22. (Hợp tác) La Democracia y la paz en America Latina- The Democracy and the peace in Latin
America, Editorial El Buho (Bogota, Colombia), 1986.
23. La aventura de Miguel Littin, clandestino en Chile: Un reportaje- Miguel's adventure Littin,
secret in Chile: A report. Editorial Sudamericana. 1986. Bản tiếng Anh của Asa Zatz, Clandestine in
Chile: The Adventures of Miguel Littin. Holt, NY, 1987.
24. Primeros reportajes- First reports, Consorcio de Ediciones Capriles, Caracas, Venezuela, 1990.
25. (Tác giả giới thiệu) Mina, Gianni. An Encounter with Fidel: An Interview, Mary Todd (dịch),
Ocean Press, Melbourne, Australia. 1991.
26. Notas de prensa- Press notes, 1980-1984, Mondadori, Madrid, Tây ban Nha, 1991.
27. Elogio de la utopia: Una entrevista de Nahuel Maciel- I eulogize of the utopia: An interview of
Nahuel Maciel, Cronista Ediciones, Buenos Aires, Argentina, 1992.
28. (Viết chung với Reynaldo Gonzales) Cubano 100%, kèm theo ảnh của Gianfranco Gorgoni,
Charta, 1998.
29. For the Sake of a Country Within Reach of the Children, Villegas Editores, 1998.
30. (Tác giả giới thiệu) Castro, Fidel. My Early Years, LPC Group, 1998.
IV. HỢP TUYỂN
Đây là tập hợp một số hợp tuyển trong đó có sáng tác của Gabriel Garcia Marquez đã xuất bản
trong khoảng 30 năm cuối thế kỷ XX do Steven Jeffery thực hiện (www.iblist.com). Tập hợp những sáng
tác này thể hiện vai trò của Marquez trên văn đàn thế giới hiện đại đồng thời cũng chỉ ra, một cách vô
tình hay cố ý, khuynh hướng nhận định và đánh giá một số truyện ngắn của nhà văn Colombia tài năng
1. Eye of the Heart (1973)
này. Có thể nhận ra những vấn đề trên thông qua 19 hợp tuyển sau:
Tập hợp tuyển này do by Barbara Howes biên tập 43 truyện ngắn của nhiều tác giả, trong đó
2. Imperial Messages (1976)
Marquez được chọn đăng tác phẩm Người chết trôi đẹp nhất trần gian.
Ngoài phần mở đầu, giới thiệu Kafka và Ngụ ngôn hiện đại, phần cuối cùng giới thiệu về tác
giả. Hợp tuyển này gồm 102 truyện ngắn; trong tập này truyện ngắn Ông già có đôi cánh khổng lồ
3. Elsewhere (1981)
được tuyển chọn.
Đây là tập truyện ngắn 30 truyện kỳ ảo. Ở đây, có đăng truyện Chuyến đi cuối cùng của con tàu
4. Short Shorts (1982)
ma của Marquez.
Tập này gồm 38 truyện được chia làm 02 phần.
Nguyên bản tập truyện này mang tên Hợp tuyển các truyện cực ngắn (Short Shorts: An Anthology of
the Shortest Stories), truyện ngắn được tuyển chọn của Marquez là Nỗi cay đắng của ba người mộng
5. Magical Realist Fiction (1984)
du.
Tập truyện ngắn hiện thực huyền ảo này do David Young và Keith Hollaman biên tập. Tập này gồm 42
truyện ngắn trong đó Marquez được chọn hai truyện ngắn: Ông lão với đôi cánh khổng lồ và
6. Art of the Tale (1986)
Blacaman- người hiền bán phép tiên.
Tên gốc của tập này là: Nghệ thuật truyện kể: Hợp tuyển truyện ngắn quốc tế (The Art of the
Tale: An International Anthology of Short Stories). Hợp tuyển này gồm 83 truyện ngắn, trong đó có
7. World of the Short Story (1986)
tuyển chọn Đôi mắt chó xanh của Marquez.
Hợp tuyển này vốn mang tên Thế giới truyện ngắn (The World of the Short Story) gồm 62 truyện
ngắn, trong đó có Tình yêu thường bên kia cái chết của Marquez.
8. Sudden Fiction International (1989)
Tập này do Charles Baxter giới thiệu, Robert Shapard và James Thomas biên tập gồm 60 truyện ngắn,
9. Black Water 2: More Tales of the Fantastic (1990)
trong đó có truyện Một trong những ngày này của Marquez.
Vốn tập truyện tên gốc là Dòng nước đen 2: Thêm những câu chuyện huyền ảo (Black Water 2: More
Tales of the Fantastic), sau đó được đổi thành Lửa trắng: Bên kia văn học huyền ảo (White Fire:
Further Fantastic Literature). Tập này gồm 65 truyện ngắn, trong đó có giới thiệu truyện Chuyến đi
10. Nobel Crimes (1992)
cuối cùng của con tàu ma của Marquez.
Tập truyện này tập trung những truyện ngắn hình sự của các nhà văn đoạt giải Nobel, gồm 17 truyện
11. Rebels and Reactionaries (1992)
ngắn, trong đó giới thiệu truyện Người phụ nữ đến vào lúc 06 giờ của Marquez.
Tựa gốc của tập truyện này mang tên Nổi loạn và phản động: Hợp tuyển những truyện chính trị hay
nhất. (Rebels and Reactionaries: An Anthology of Great Political Stories).
12. New Mystery, the: The International Association of Crime Writers’ Essential Crime Writing of
Tập này gồm 33 truyện, trong đó Một trong những ngày này của Marquez được tuyển chọn.
the Late 20th Century (1993)
13. Fiction: A Harpercollins Pocket Anthology (1993)
Tập này gồm 43 truyện ngắn, trong đó Marquez được chọn đăng Chuyến đi cuối cùng của con tàu ma.
Hợp tuyển này mang tên: Hợp tuyển văn học vắn tắt của Harpercollins (Fiction: A Harpercollins
Pocket Anthology) với lời đầu của Lisa Moore và phần giới thiệu, ngoài ra gồm 31 truyện ngắn được
liệt kê theo sau đây, truyện ngắn Người chết trôi đẹp nhất trần gian của Marquez được giới thiệu trong
14. Year's Best Fantasy and Horror: Seventh Annual Collection, the (1994)
tập này.
Do Ellen Datlow và Terri Windling biên tập. Tựa gốc là The Year's Best Fantasy and Horror: Seventh
Annual Collection.
Hợp tuyển này ngoài các phần giới thiệu, tóm tắt năm 1993 về Cái kỳ ảo của Terri Windling, nội dung
15. Murder on Deck! (1998) Rosemary Herbert biên tập
chính gồm có 54 truyện ngắn, trong đó có tác phẩm Thánh Bà của Marquez.
16. Road To Science Fiction Volume 6: Around the World (1998)
Gồm 22 truyện ngắn, trong đó có truyện Chuyến đi cuối cùng của con tàu ma của Marquez.
Giới thiệu của James Gunn, hợp tuyển chia theo khu vực quốc gia và được trình bày thành 10 nhóm. Ở
nhóm 07, khu vực Tây Ban Nha và Mỹ Latin có đăng truyện ngắn Blacaman- người hiền bá phép tiên
của Gabriel García Márquez.
17. Nightshade: 20th Century Ghost Stories (1999)
18. Telling Tales (2004)
Tập này gồm 27 truyện ngắn, trong đó có truyện Bóng ma tháng tám của Marquez.
Ngoài phần giới thiệu chung, hợp tuyển này gồm 22 truyện ngắn, trong đó có Thần chết thường ẩn
sau ái tình của Marquez.
Mười chín hợp tuyển này được khảo sát từ năm 1973 đến 2004 là giai đoạn mà tên tuổi của
Marquez đã bắt đầu được chú ý đến khi thực sự nổi tiếng trên văn đàn thế giới; phạm vi thời gian này
giúp chỉ rõ bộ phận truyện ngắn của Marquez được các nhà biên tập chú ý là mảng truyện ngắn kỳ ảo
(15/19 chiếm 79%)
V. TÁC PHẨM ĐÃ DỊCH RA TIẾNG VIỆT
Ký sự về một cái chết đã được báo trước (tiểu thuyết), Nguyễn Mạnh Tứ dịch (1983), NXB Văn
Học.
Ngài đại tá chờ thư (tập truyện), Nguyễn Trung Đức- Phạm Đình Lợi- Nguyễn Mạnh Tứ dịch
(2001), NXB Văn Học, 1983; 2001.
Người chết trôi đẹp nhất trần gian, Nguyễn Trung Đức dịch (1987), NXB Hải Phòng - NXB
Đồng Nai.
Giờ xấu (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức dịch (2001), NXB Thanh Niên, 1989; NXB Văn Học.
Tướng quân giữa mê hồn trận (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Văn Học (1990);
NXB Hội Nhà Văn (1999).
Mười hai truyện phiêu dạt (tập truyện), Nguyễn Trung Đức dịch, NXB Quân Đội Nhân Dân
(1995); NXB Văn Học (2004).
Tình yêu thời thổ tả (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức dịch (1995; 2000), NXB Văn Học.
Trăm năm cô đơn (tiểu thuyết), Nguyễn Trung Đức - Phạm Đình Lợi - Nguyễn Quốc Dũng dịch
(1986; 1992; 1999; 2000), NXB Văn Học.
36 truyện đặc sắc (tập truyện ngắn), Nguyễn Trung Đức dịch (2001), NXB Văn Học.
Tin tức về một vụ bắt cóc (tiểu thuyết), Đoàn Đình Ca dịch, NXB Đà Nẵng, (1998); NXB Văn
Nghệ TP. HCM (2001).
Những người hành hương kì lạ (tập truyện ngắn), Phan Quang Định dịch (2002), NXB Thanh
Niên.
Tuyển tập truyện ngắn, Nguyễn Trung Đức dịch (2004), NXB Văn Học.
Sống để kể lại (hồi kí), Lê Xuân Quỳnh dịch (2004), NXB TP. Hồ Chí Minh.
Ông già và đôi cánh khổng lồ, Nguyễn Trung Đức (dịch), Tập truyện ngắn nước ngoài chọn
lọc. NXB Quân Đội Nhân Dân (1998); Tuyển tập truyện ngắn Châu Mỹ Latinh. NXB Hội Nhà Văn
(1999).
Làng này không có kẻ trộm, Quà Tết, Nguyễn Trung Đức (dịch), Truyện ngắn chọn lọc- tác giả
đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn (1998); Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB
Hội Nhà Văn (2004).
Dấu máu em trên tuyết (tập truyện), Nguyễn Trung Đức dịch (1997), NXB Đà Nẵng.
Máy bay của người đẹp ngủ, Gió Bắc, Mùa hè hạnh phúc của bà Phorớt, Thánh bà, Người bạn
Mutit của tôi, Thưa Tổng thống - chúc ngài thượng lộ bình an, Dấu máu em trên tuyết, Nguyễn Trung
Đức dịch; Giấc ngủ trưa ngày thứ ba, Nguyễn Kim Thạch dịch, Tuyển tập truyện ngắn Châu Mỹ
Latinh, NXB Hội Nhà Văn (1999.
Chuyện buồn không thể tin được của Êrênhđira ngây thơ và người bà bất lương, Nguyễn Trung
Đức dịch, Thời cơ của Matraga, NXB Mũi Cà Mau (1986); Những truyện ngắn nổi tiếng thế giới,
NXB Hội Nhà Văn (1999).
Buổi chiều tuyệt vời của Bantaxa, Dương Tường dịch; Thần chết thường ẩn sau ái tình, Người
chết trôi đẹp nhất trần gian, Nguyễn Trung Đức dịch, Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải
Nobel, NXB Văn Học (1999).
Biển của thời đã mất, Nguyễn Trung Đức dịch, Truyện ngắn chọn lọc - tác giả đoạt giải Nobel,
NXB Hội Nhà Văn (1998); Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học (1999);
Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học (2000); Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel,
NXB Hội Nhà Văn (2004).
Bà Maria Dos Przeres, Đoàn Đình Ca dịch, in trong Truyện ngắn Châu Mỹ. NXB Văn Học
(2000).
Đôi mắt chó xanh, Nguyễn Trung Đức dịch, in trong Truyện ngắn Châu Mỹ, NXB Văn Học
(2000); Truyện ngắn chọn lọc - tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn (1998); Tuyển tập truyện
ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Hội Nhà Văn (2004).
Thần chết thường ẩn sau ái tình, Nguyễn Trung Đức dịch, Truyện ngắn đặc sắc các tác giả đoạt
giải Nobel, NXB Văn Học (2004).
Các tác phẩm của Marquez được liệt kê và tập trung dựa trên những sáng tác nổi bật nhất tính
đến năm 2005.
B. TÓM TẮT CÁC TRUYỆN NGẮN KỲ ẢO CỦA MARQUEZ ĐƯỢC DÙNG
TRONG LUẬN VĂN
1. AI ĐÓ ĐÃ LÀM RỐI NHỮNG BÔNG HỒNG
Tôi là đứa bé đã chết vào tháng Tám năm ấy khi người ta gọi nàng vào bảo khóc thương như thể
tôi là đứa em nhỏ của nàng vậy. Thế là từ đó tôi gắn kết với nàng bởi những bông hồng mà nàng trồng
để cúng và làm vương miện. Nhiều khi tôi sắp thực hiện được nguyện vọng là lấy những bông hồng
làm thành một vòng hoa đẹp nhưng phải dừng lại, trả về nơi cũ trên bàn thờ khi nàng quay lại. Có một
dạo nàng đi xa, người ta dọn đi tất cả chỉ để lại chiếc ghế và tôi đã ngồi vào đấy trong cái không gian
bụi bặm cho đến khi nàng về và ở luôn tại đây. Từ đó cứ khi nàng đi ra ngoài hay nhập định thì tôi lại
lén lấy hoa hồng và chờ đến khi nàng chết đi để lấy những bông hồng nàng trồng, và chắc cũng đến khi
ấy nàng sẽ biết được rằng không phải do cơn gió mà ai chính là người đã làm rối những bông hồng của
nàng.
2. BÀ GÓA MONTIEL
Montiel là một doanh nhân trung bình nhưng nhờ những thủ thuật trong chính trị lẫn kinh doanh
nên đã nhanh chóng làm giàu bằng ách ép những đối thủ của mình phải rời làng để mua lại tài sản của
họ với giá rẻ mạt. Khi sự việc ổn định thì ông ta đã trở thành người giàu có và quyền lực nhất làng, đã
xoay được cho con mình làm việc ở tòa đại sứ Đức, gửi các con gái đi học nước ngoài và không ngừng
củng cố cơ ngơi của mình bằng việc độc quyền buôn bán trong làng. Khi ông chết đi thì người ta vô
cùng hả hê và bắt đầu chiến dịch trả đũa. Những sản phẩm mà trước đây người ta phải nhờ vả ông
Montiel để có được thì nay để đến nổi mốc đầy giòi trong nhà. Những đứa con ở xa đều không ai về dự
đám tang hay quản lý cơ ngơi vì chúng không muốn bỏ vùng đất văn minh về sống ở nơi mà người ta
có thể thoải mái bắn nhau vì những lý do chính trị. Cuối cùng chỉ còn bà góa Montiel và người quản
gia già đứng ra gánh vác cái cơ ngơi đang trên đà lụn bại của ông Montiel để lại. Bà mẹ chỉ còn liên lạc
với những đứa con qua các bức thư. Bà sống tách biệt với thế giới bên ngoài, chỉ còn biết cắn móng tay
và cầu nguyện. Thế rồi bà mẹ Vĩ đại hiện lên và trò chuyện với bà góa về việc khi nào bà được chết- ấy
là khi bà lần tràng hạt mỏi tay.
3. BÊN KIA CÁI CHẾT
Nó giật mình thức giấc vì mùi phormal ướp xác và hoa violet nồng nặc trong phòng, nó cố bình
tĩnh lại sau cơn hốt hoảng từ cơn ác mộng. Nó thấy mình đang ở trên một toa xe lửa đi qua vùng đất
chết, anh em của nó- những người đã được chôn chiều hôm đó- đang vẫn gọi nó dừng xe lại. Nó biết
đây là giấc mơ nhưng vẫn cắm đầu chạy đến té ngã. Nó thấy đau chân và tự nghĩ mình không nên
mang đôi giày này. Nơi chân nó có vết sưng, nó trích vết thương bằng vật nhọn rồi kéo từ đó ra một sợi
gạc dài không dứt. Nó mệt mỏi giữa cõi mơ và thực bằng những ý nghĩ liên miên về việc đi trả tiền
tang lễ, về cảm giác nhẹ bỗng mất đi gốc gác thực tế. Nó thấy mình bị giam hãm tù đọng xung quanh
thân thể vật lý và môi trường xung quanh, thấy mình cũng đang chết đi như người anh em song sinh.
Nó vẫn bị ám ảnh bởi mùi phormal hòa trộn với mùi hoa kỳ dị khiến nó thấy khó chịu và bị ngột trong
mùi hương đó. Nó luôn nghĩ dến người anh em đã chết, nghĩ về những cơn gió lạnh buốt đang chà xát
trên thi thể. Đó là anh em của nó, hai người rất giống nhau đến nỗi khi nhìn xác chết nó cứ nghĩ đó là
mình trong những buổi sáng vẫn cạo râu; rằng việc người ta đang chăm sóc tử thi trước mắt nó như
diễn ra với bản thân nó vậy, chính nó là cái tử thi. Nó nghe tiếng mưa rơi và cảm nhận thân thể mình
đang thối rữa ra. Cảm giác tương đồng này của nó và xác chết khiến nó không biết mình còn sống hay
không. Tất cả chống lại mọi nỗ lực phân biệt lý trí của nó. Khoảng cách giữa nó và cái chết chỉ còn là
ngôi mộ mà thôi.
4. BIỂN CỦA THỜI ĐÃ MẤT
Tác phẩm kể về câu chuyện của Tobiats với mùi hương hoa hồng phả ra từ biển. Tobiats hàng
đêm không ngủ được vì người anh toả ra mùi thơm khiến lũ cua biển cứ bò lên người. Không phải ai
cũng ngửi được mùi hương hoa hồng vào những đêm đầu, nhưng trái với sự tò mò hứng khởi của
Tobiats, bà vợ già của ông Jacob ngửi thấy mùi hoa hồng và cho đây là điềm báo của đời mình. Bà đã
chết sau đó. Càng ngày mùi hoa hồng của biển càng đậm và rõ ràng, ngôi làng cũng nhộn nhịp lên hẳn
vì nhiều người từ xa đến và những người xưa bỏ đi giờ quay lại làng với đủ thứ đồ vật hiện đại của
cuộc sống bên ngoài. Ngôi làng từ hoang vắng đã trở nên nhộn nhịp nhưng cha xứ đến và ông đã cấm
đoán nhiều thứ. Một ngày nọ, ngài Herbert- một người Mỹ giàu có nhất trần gian- đã đến và phát tiền
cho mọi người tùy theo nhu cầu và khả năng của họ. Nhiều người đã được thỏa mãn nhưng cũng có
những người bị mất tài sản của mình vì không thể hoàn tất phần thử thách của ngài Herbert. Những
ngày sau đó ngài Herbert ngủ say li bì và người ta thất vọng vì phải chờ ngài quá lâu, biển mất mùi hoa
hồng, làng dần thưa thớt, cha xứ lẩn thẩn bỏ đi… Khi tỉnh dậy Herbert rủ Tobiats lặn xuống biển bắt
rùa và hai người đã đi vào lòng biển, thế giới của ngôi làng bị chìm từ xa xưa, nhiều người chết thanh
thản; họ thấy bà vợ già của ông Jacob giờ trẻ lại đang bơi nghiêng trong dòng nước đầy hoa… Họ đã
ăn thịt rùa khi trở lại làng, ngài Herbert bỏ đi chỉ còn lại Tobiats và câu chuyện về lòng đại dương mà
anh đã cố kể cho vợ tin nhưng đã thất bại.
5. BLACAMAN- NGƯỜI HIỀN BÁN PHÉP TIÊN
Đứng trên chiếc bàn ở cảng tàu Santa Maria, Balacaman lớn tiếng kêu gọi mọi người đến với
quầy hàng của anh ta- quầy thuốc thần kỳ cứu vớt những tiếng kêu đau khổ của người dân vùng biển
Caribbe. Nhưng anh ta không vội vã bán thứ gì mà đã biểu diễn một màn chống độc rắn có một không
hai. Người ta mang đến cho anh ta một con rắn cực độc, loay hoay thế nào mà Blacaman bị rắn cắn,
ngã ra cố uống vài viên thuốc mà y chế ra. Cơ thể Blacaman trương phù lên, mặt xanh ra như người
chết… Những người xung quanh đến bàn tán nhiều về sự việc vừa xảy ra. Chiến hạm Mỹ đến thăm
hữu nghị từ 20 năm nay đã phải ra lệnh nội bất xuất ngoại bất nhập để tránh nọc độc rắn lan lên tàu.
Vài thủy thủ còn chụp hình người chết bằng phim màu để ghi lại cảnh khủng khiếp ấy; có người không
đồng tình nên đã lấy lá che mặt người chết.
Trong lúc đó, đột nhiên Blacaman sống dậy và lớn tiếng giới thiệu về loại thuốc mà mình chế
ra. Kết quả là người ta chen lấn mua hết thuốc mà y có được. Trong khi tìm người xem giúp hàng
Blacaman đã phát hiện ra tôi nhờ gương mặt ngây ngô với ước mơ làm thầy bói; thế là ông ta mua tôi
vĩnh viễn. Blacaman đã qua thời hoàng kim nhất của mình vì thế chúng tôi buôn bán không mấy thuận
lợi lắm. Hắn bắt đầu dùng tôi vào công việc kinh doanh bói toán nhưng tôi không thể bói được gì nên
hắn đối xử với tôi rất tệ. Tình hình càng khó khăn hơn khi đất nước tôi bị lính thủy đánh bộ Mỹ xâm
lược, giết chóc và đốt phá. Blacaman cho rằng tôi là nguyên nhân dẫn đến việc làm ăn không thành
công nên hắn hành hạ, đánh đập tra tấn tôi bằng những hình thức khốc liệt nhất.
Trong cơn tức giận, tôi phát hiện ra khả năng chữa bệnh thần kỳ của mình. Kể từ đó tôi lang
thang khắp nơi chữa những căn bệnh từ đơn giản đến ngặt nghèo nhất, sống đời sống vương giả, hưởng
những thú vui trần thế, bỏ ngoài tai những lời khuyên bảo để thành thánh từ cánh nhà thờ. Blacaman đã
rơi xuống đáy của cuộc đời, trong lần thí nghiệm loại thuốc cải tử hoàn sinh hắn ta đã chết và tôi bỏ
tiền làm một đám ma linh đình, xây dựng cho hắn một lăng tẩm của bậc vua chúa. Điều quan trọng
nhất là khi chôn hắn ta xong, tôi lại làm ông ta sống lại để phải khóc lóc rên rỉ và mỗi bận tôi đi ngang
qua lăng, nếu Blacaman chết thì tôi lại tiếp tục làm hắn ta sống lại mà rên rĩ.
6. CHẾT Ở SAMARRA
(Xem văn bản bên dưới)
7. CHUYỆN BUỒN KHÔNG THỂ TIN ĐƯỢC CỦA ERENDIRA ĐÁNG THƯƠNG VÀ
NGƯỜI BÀ BẤT LƯƠNG
Đây là câu chuyện về cuộc đời của Erendira, cô sống với người bà trong một dinh cơ rộng lớn
“Căn nhà khổng lồ, tường đã lở vôi, vốn đã xiêu vẹo trong cảnh cô đơn của hoang mạc, rùng mình
ngay từ cơn gió giật đầu tiên”. Cô cháu gái 14 tuổi chăm lo cho bà- thân hình khổng lồ, sống như
mệnh phụ. Bà của cô luôn nói trong lúc ngủ và đến khi bà mớ thì cô biết là bà đã ngủ say. Trong căn
nhà rộng, Erendira có vô số việc phải làm “Chỉ để lên dây cót và chỉnh lại kim cho những chiếc đồng
hồ có trong nhà, Êrênhđira phải mất sáu giờ liền… cô bé phải tắm và trang điểm cho bà mình, phải
lau sàn nhà, nấu ăn trưa và đánh bóng các cửa kính. Đến lúc 11 giờ trưa, khi cô đang thay xô nước
mới cho chú đà điểu và nhổ cỏ dại mọc um tùm trên nấm mộ song táng của cha con Amađix…” Vì thế
cô có thói quen làm việc trong lúc ngủ. Và sự việc bất hạnh đã xả ra, sau một ngày mệt nhọc làm việc,
Erendira ngã vật xuống ngủ quên và ngọn đèn đã gây ra một trận cháy thiệu rụi cả cơ ngơi đồ sộ. Thế
là người bà quyết định bắt cô cháu gái phải làm việc để trả lại bà khoảng nợ xấp xỉ một triệu peso. Đầu
tiên bà bán trinh tiết cháu gái cho tên lái buôn với giá 250 peso và sau đó lần lượt cho tất cả những ai
chịu trả tiền trong làng.
Khi trong làng không còn người đàn ông nào có thể xài tiền để chơi Êrênhđira, người bà liền mang cô
bé lên một chiếc xe tải đi tìm bọn buôn lậu. Giữa những tải gạo và thùng bơ là đồ đạc còn sót lại sau
vụ hỏa hoạn của mụ: một vài thang giường, kiểu giường bà phó vương, một tượng thần chiến tranh,
một chiếc ghế dựa có tay ngai cháy nham nhở và một số đồ vặt vãnh. Trong một chiếc hòm có vẽ hình
chữ thập nguệch ngoạc đựng hài cốt cha con Amađix.
Và từ đó Erendira theo bà đi khắp mọi làng mạc thôn quê, qua những mỏ diêm sinh nóng bỏng, những
ngôi làng vắng vẻ để bán thân trả nợ cho bà một cách vâng phục và kính trọng. Từ người khách đầu
tiên là anh nhân viên bưu điện được giảm giá, tin tức về Erendira được truyền đi khắp nơi. “Bị cám dỗ
bởi những lời tuyên truyền từ miệng gã nhân viên bưu điện, bọn mày râu từ mọi miền dù xa mấy, cũng
ùn ùn kéo tới để thưởng thức cái tân kỳ của Êrênhđira. Bọn người này tới kéo thêm những bàn xổ số,
những quán nhậu và cả một cửa hàng ảnh lưu động.” Từ đó, việc làm ăn của hai bà cháu ngày một
khấm khá, họ mua sắm được nhiều thứ và bắt đầu lấy đại đời sống vương giả trên con đường hằng
ngày kinh doanh thân xác Erendira. Trong những ngày ấy, xuất hiện một anh thanh niên tên Uylysse-
con trai một lão lái buôn Hà Lan- người có thể trồng được những quả cam có chứa kim cương bên
trong. Họ đã gặp nhau, ân ái và cuốn hút lẫn nhau từ đó.
Trên đường làm ăn lưu động, hai bà cháu đã đến khu vực đặt dưới sự quản lý của hội truyền giáo,
không đồng ý với việc kinh doanh này, họ đã bí mật bắt Erendira và nhốt cô vào nhà tu. Người bà đã
đem Erendira ra ngoài bằng cách mua chuộc một anh thanh niên cưới cô bé. Thế là họ lại tiếp tục lên
đường.
Uylysse biết mình đã yêu Erendira nên lén cắt lấy mấy trái cam và đi tìm cô. Tối đêm đó, họ đã trốn đi
trên chiếc xe tải mà Uylysse thường cùng cha mang cam lên biên giới. Người bà tức giận vì mất đi
nguồn lợi nên yêu cầu ông chỉ huy dân phòng đuổi theo bắt hai người trở lại.
Từ đoạn này một nhân vật xưng tôi xuất hiện và kể tiếp về thời làm ăn phát đạt của hai bà cháu… tiệm
chơi được dựng lên với bảng quảng cáo viết trên những tấm lụa: Tuyệt trần Êrênhđira!, Êrênhđira
đang chờ anh! Thật vô vị cuộc đời nào chưa biết Êrênhđira! Cái hàng người vòng vèo và vô tận kia
gồm đàn ông đủ hạng: lính tráng có, công chức, dân buôn có, da trắng có, da màu cũng có. Nó giống
như một con rắn khổng lồ. Từ sau khi bị bắt lại, mỗi khi tiếp khách, Erendira bị xích vào giường bằng
một cái xích chó. Có lần vì ghen tức, mấy người phụ nữ bán hoa đã khiêng cả giường và Erendira trần
truồng ra đường mà làm nhục. Uylysse quyết không bỏ cuộc nên đã một lần nữa trốn nhà đi tìm
Erendira. Sống những ngày khổ sở ấy, trong đầu Erendira bắt đầu xuất hiện ý tưởng sẽ giết chết người
bà, và cô đã nói điều đó với Uylysse. Lần đầu tiên anh chàng đã đầu độc người bà bằng một chiếc bánh
kem nhưng không có gì xảy ra. Sau đó, thuốc nổ được đặt trong chiếc đàn piano cũng không làm gì
được bà. Cuối cùng, dưới sức ép và trách móc của Erendia, Uylysse đã dùng dao dâm chết bà và Một
dòng máu phụt ra thật mạnh phun vào mặt anh. Đó là một thứ máu đặc sánh, óng ánh một màu xanh
giống như thứ máu trong lông ống còn tơ.
Khi chắc bà mình đã chết, Erendira nhặt chiếc áo dắt đầy vàng mà bà thường mặc và bỏ lại Uylysse
đang gọi tên mình, cô cắm đầu cúi cổ chạy trong không khí ngột ngạt của vùng mỏ diêm sinh, chạy bên
miệng những chiếc giếng khai thác đá tan, chạy qua những làng bản thưa thớt người của người
Anhđiêng.
8. CHUYẾN ĐI CUỐI CÙNG CỦA CON TÀU MA
Bây giờ họ sẽ biết mình là ai, y nói một mình bằng cái giọng ồm ồm của người lớn, sau rất
nhiều năm kể từ cái lần đầu tiên y nhìn thấy con tàu khách đi qua làng. Đó là một con tàu
khổng lồ như một dinh thự, không đèn đóm, không tiếng động, dài hơn chiều dài của cả làng và
cao hơn cả chiều cao tháp chuông nhà thờ, đang dò dẫn đi về phía thành phố thời kỳ thuộc địa
Tây Ban Nha,… (tr.345)
Một người vô danh đã kể với mẹ anh ta rằng mình nhìn thấy con tàu ma. Bà mẹ đau đớn đã than vãn
trong niềm tuyệt vọng suốt ba tuần liền. Anh hẹn với bà vào đêm tháng ba, lần nữa, sẽ thấy con tàu ma
trên biển mất phương hướng lại đâm sầm vào đá như anh vẫn thấy hằng đêm.
Thế nhưng bà mẹ đã chết trước khi nhìn thấy chiếc tàu vì ngồi trên chiếc ghế kỳ lạ đã làm chết, sau đó,
nhiều người khác. Thế là anh bị nguyền rủa vì mẹ mình mang đến hiểm họa cho cả làng. Lần này, anh
muốn tự khẳng định với mọi người về con màu ma ấy. Đánh cắp một chiếc thuyền nhỏ, không thắp đèn
và tự bơi ra vùng nước đã từng thấy con tàu ma; và rồi nó cũng xuất hiện, không tiếng động, không
bóng người, chệch choạc mò mẫn trên đại dương và chuẩn bị lao vào vách đá; lúc đó, anh đã tự mình
biến điều kỳ ảo thành hiện thực, thắp một ngọn đèn nhỏ và chỉ hướng cho con tàu khổng lồ khỏi va vào
đá. Thế là đèn nến rực sáng, tiếng nhạc vang lên, tiếng những cặp tình nhân hôn nhau,… vọng ra từ
con tàu. Anh ta đã chuyển hướng và dẫn con tàu vào làng mình cho mọi người tận mắt thấy điều mà họ
không bao giờ chịu tin anh. Và nó đã ở đó, trước mặt mọi người, trong ánh nắng buổi trưa tháng tư:
… đám người kém lòng tin đang há hốc miệng nhìn con tàu khổng lồ chưa từng thấy trên trái đất này
và mạn tàu phía bên kia của nó im lặng nằm đối diện với nhà thờ. Nó trắng hơn tất thảy, cao hơn tháp
chuông nhà thờ hai mươi lần và dài hơn chiều dài của làng chín mươi sáu lần với cái tên của nó khắc
nổi bằng kim loại Halalesillag. Và hai bên mạn tàu vẫn nhỏ giọt một thứ nước cổ xưa màu xám ngắt
của các biển trong cõi chết (tr.352).
9. CỤ GIÀ VỚI ĐÔI CÁNH KHỔNG LỒ
Câu chuyện kể về ông lão có đôi cánh khổng lồ và gia đình Pelayo. Vào cuối trận mưa bão dài
ba ngày Pelayo phát hiện ra một ông lão có đôi cánh lớn nằm úp mặt xuống bùn trong sân nhà mình.
Ngay sau đó hai vợ chồng anh đã đến kiểm tra ông lão đầu hói chỉ còn lưa thưa vài sợi tóc đang trong
tình trạng thừa chết thiếu sống. Họ cố gắng tìm hiểu nhưng không ai hiểu được thứ tiếng ông lão nói.
Sau khi được người hàng xóm tư vấn rằng ông lão là một thiên thần, Pelayo đã kéo con người bẩn thỉu
và thụ động ấy vào chuồng gà. Nhiều người đến xem, chọc ghẹo ông lão, có kẻ lại mong thấy ông làm
phép lạ. Cha xứ địa phương đến để xác nhận xem liệu ông lão bí ẩn này là một thiên thần hay là một
trò đùa của ma quỷ. Cha xứ nhận ra ông không nói được thứ ngôn ngữ của nhà thờ, đồng thời có mùi
hôi và đôi cánh còn có cả vật ký sinh, thế là cha viết thư cho cấp cao hơn trong hội thánh để có thể đưa
ra phán quyết cuối cùng dù ai cũng biết Hội thánh sã không bao giờ có câu trả lời.
Sau đó hai vợ chồng Pelayo bắt đầu dùng ông lão làm vật kinh doanh, họ bán vé cho khách vào tham
quan. Người ta kéo đến đông đúc làm thành một lễ hội địa phương; nhưng sau đó họ cảm thấy xem ông
lão không có gì đặc biệt ngoài đôi cánh và sự im lặng kiên nhẫn này chẳng hấp dẫn bằng cô gái biến
thành nhện. Trái với vẻ im lặng, bất hợp tác khó hiểu của ông lão, cô gái biến thành nhện tự mình kể
lại sự việc và giúp người ta có một câu chuyện đạo đức rõ ràng, quen thuộc. Nhưng đến lúc đó thì vợ
chồng Pelayo cũng đã kiếm đủ tiền để xây một căn nhà 2 tầng khang trang nhờ kinh doanh ông lão.
Vài năm sau, đứa con của họ gần đến tuổi đến trường, nó chạy chơi trong sân với ông lão có đôi cánh-
hiện đã được thả cho đi lại một cách vụng về trong nhà. Mùa đông ông lão gần như sắp chết vì sốt
nhưng sang xuân thì lông cánh bắt đầu mọc trở lại. Một ngày nọ khi Elisenda trong nhà bếp, ông lão đã
cất cánh bay lên và biến mất phía mặt biển.
10. ĐÁM TANG CỦA BÀ MẸ VĨ ĐẠI
Tiểu thư Maria thuộc dòng họ Rosario Castanheda và Monterro, 22 tuổi đã trờ thành bà mẹ vĩ
đại của vương quốc Macondo nay đã chết sau 92 năm cai trị. Mọi công việc được chuẩn bị cho lễ tang
trọng thể này. Ngôi nhà to lớn với những đồ đạc của bốn đời đã ngừng hẳn mọi công việc nhộn nhịp
của nó để chuẩn bị cho lễ tang. Lũ con cháu đã xúm xít lại chờ được chia gia tài, người ta thật sự
không tin rằng bà mẹ đang chết khi tiếng chuông nhà thờ báo có người hấp hối. Những phương thuốc
của bác sĩ làng đã không thể làm được gì nữa giờ người ta đã mời cha xứ đến cầu kinh cho bà mẹ vĩ
đại. Việc lập di chúc và liệt kê số tài sản về vật chất lẫn tinh thần của bà mẹ diễn ra tương xứng với giá
trị của nó. Người ta đã in tấm hình khi bà còn trẻ chạy trên các tít báo lớn nhất để báo tin. Tổng thống
nước Cộng hòa đã sắp xếp mọi việc để được đến dự lễ tang của bà bằng cả việc triệu tập hội đồng cố
vấn Pháp luật để sẵn sàng đổi Hiến pháp. Người ta bàn bạc lâu và nhiều đến nỗi tin tức bay đến tận tai
Đức giáo hoàng và đoàn Hồng Y của ngài, thế là mọi người đều kéo đến dự lễ tang của bà mẹ vĩ đại.
Từ tổng thống đến đoàn nội các, đức giáo hoàng, dân tứ chiếng,… đều tham dự vào đám tang lớn nhất
thế gian và sau 14 ngày tán thán, khi người ta đã hạ tấm chì chôn bà mẹ vĩ đại thì mọi người đều thở
phào thanh thản. Người ta có thể trở lại cuộc sống thường ngày và làm những việc mà trước đây bị bà
mẹ cản trở; đó là lúc để ai đó kể lại câu chuyện này.
11. DẤU MÁU EM TRÊN TUYẾT
Chuyện kể về Nêna Đacôntê và Biđi Săngchêt trong chuyến đi hưởng tuần trăng mật của họ.
Xuất thân từ hai gia đình trâm anh thế phiệt, họ từng học chung tiểu học và hưởng những ngày tháng
tuổi thơ. Thế rồi nhiều năm sau, họ gặp lại nhau khi Biđi Săngchêt đột nhập vào phòng thay đồ của
Nêna Đacôntê và kết quả là phải nhập viện bởi bản lĩnh của cô gái. Thế là họ yêu nhau. Những khát
khao mà Nêna Đacôntê chất chứa trong cách cô chơi đàn nay có chỗ thể hiện… tình yêu đến độ với họ,
thế giới không đủ đất để làm những chuyện khác nữa. Họ chỉ làm tình với nhau thôi. Làm bất cứ giờ
nào, làm bất cứ tại đâu, và trong khi chưa xong cuộc này họ lại họ lại hò hẹn tiếp tới cuộc sau tiếp
theo. [trang 26,tpđn]. Một đám cưới và kỳ hưởng tuần trăng mật vương giả tại Pháp được tổ chức cho
hai người và từ khi xuống sân bay, không quan tâm đến buổi tiếp đón nồng hậu của ngài đại sứ, Biđi
Săngchêt chỉ cắm cúi vào chiếc xe hơi sang trọng- quà cưới của cha mình- và quyết định sẽ dùng chiếc
xe này chở vợ thẳng đến Paris. Trong khi nhận đóa hoa hồng từ tay vợ ngài đại sứ, một cành gai nhọn
đã làm Nêna Đacôntê đau buốt nhưng nàng nhanh chóng biến nó thành một chuyện đùa vui.
Họ lên đường qua những khu vực âm u bởi khí trời xám xịt, vào biên giới bằng giấy tờ ngoại
giao và băng qua những vùng băng tuyết rơi dày. Ban đầu Nêna Đacôntê mút ngón tay rỉ máu của mình
một cách vô thức, sau đó cô băng bó ngón tay và ngủ thiếp đi trong khi người chồng say mê lái xe suốt
11 tiếng đồng hồ không nghỉ ngơi. Cô tỉnh dậy và phát hiện ra chỗ ngồi, váy áo thấm đẫm máu; thế là
cô vươn tay ra ngoài cửa xe để ngón tay rỉ máu những vệt loang xuống tuyết và cảm nhận như thể linh
hồn cô cũng thoát ra ngoài theo những giọt máu. Biđi Săngchêt cố tìm một hiệu thuốc cho vợ nhưng vô
vọng, trời đổ bão tuyết dày nên họ phải chạy thẳng đến Paris và dừng lại trước một bệnh viện khổng lồ.
Nêna Đacôntê được nhập viện và Biđi Săngchêt khai báo với một vị bác sĩ đầu trọc nói một thứ tiếng
Tây Ban Nha lơ lớ. Do quy định của bệnh viện, sau khi đánh vật với chỗ ở và những điều thần diệu tại
đất khách quê người, sáu ngày sau anh xông vào bệnh viện nhằm thăm vợ và bị tống ra ngoài. Cầu viện
đến tòa đại sứ, Biđi Săngchêt được khuyên là phải biết chấp nhận và thế là anh đi tham quan Paris
trong tâm trạng nặng nề của nỗi cô đơn và cảm thức cái chết. Ba ngày sau, anh vào bệnh viện và gặp
được viên bác sĩ mà mình cố công tìm mấy ngày vừa qua và nhận một tin bất ngờ: vợ mình đã chết hai
ngày sau khi nhập viện; và người ta đã nháo nhào tìm anh; rằng xác vợ mình đã được đưa về nước,...
Biđi Săngchêt bước ra đường khi Paris đổ trận mưa tuyết lớn nhất trong mười năm nay.
12. ĐÔI MẮT CHÓ XANH
Nàng và tôi đã mơ thấy nhau. Chúng tôi gắn bó với nhau trong giấc mơ ấm áp của cả hai, cùng
cảm nhận thân thể và hơi ấm qua ranh giới là chiếc bàn một chân. Không cần nhìn nhưng tôi vẫn có thể
thấy nàng dù đã quay lưng đi, đó là sự gắn kết mà cảm xác chỉ có thể tìm thấy trong cái tinh nhạy của
giấc mơ. Tôi và nàng là hai nhân vật cô đơn tìm đến nhau có chung một mật mã là “đôi mắt chó xanh”.
Nàng đã cố gắng viết bốn chữ này lên tất cả mọi nơi nàng đi qua, trên bàn, trên kính, dưới sàn nhà…
mong tìm ra tôi trong nơi nàng sống nhưng tất cả đều vô ích. Tôi chỉ có thể gặp nàng trong giấc mơ.
Khi tôi hỏi tên nàng thì nàng lại không nhớ còn tôi thì lại không nhớ được gì khi đã thức dậy. Có khi
tôi cố vượt qua ranh giới để đến bên nàng thì nàng lại sợ là sẽ mất tất cả vì cuộc chia tay của chúng tôi
nhiều khi đơn giản chỉ khi có ai đó đánh rơi vật gì làm tỉnh những giấc mộng mỏng manh giữa những
cơn mơ khó khăn khác.
13. GIÓ BẮC
Câu chuyện do nhân vật kể ở ngôi thứ nhất- xưng tôi. Tôi là một du khách thường xuyên đi nghỉ
đã mười lăm năm nay ở làng Carakêt- một trong những ngôi làng đẹp nhất ở vùng bờ biển Costa
Barva, Tây Ban Nha- nằm ven Địa Trung Hải. Chính nhờ kinh nghiệm đối mặt với gió bắc- “một loại
gió thổi từ đất liền, nóng hầm hập và thổi vù vù một cách bạo liệt mà theo một số người địa phương và
một số nhà văn khe khắt đã nghĩ hẳn nó chỉ gieo rắt những ý nghĩ cuồng điên” mà tôi mới hiểu được
câu chuyện bi thương của chàng thanh niên đã lao mình xuống vực để trốn một cuộc quay về ngôi làng
Carakêt.
Tôi đã ở làng Karakêt ngay dịp có gió bắc. Bản thân mình, tôi đã nghe nhiều người nói về cơn gió đặc
biệt này và vẫn mong có dịp được thưởng thức thứ đặc sản này. Trái lại, những người sống lâu ở làng
lại tỏ vẻ sợ hãi một cách thiêng liêng đối với cơn gió bí hiểm và cổ xưa này. Ông già gác cửa đã giúp
chúng tôi chuẩn bị tất cả cho cuộc vật lộn giữa cơn gió bạo tàn và những ngôi nhà bên bờ biển với
những con người nhỏ bé bất lực sống trong đó. Và thế là chúng tôi chờ đợi cơ gió bắc với những tâm
thế khác nhau. Tự tin với khả năng chống chọi với thiên tai ở quê nhà, hai cha con tôi đã trốn ông lão
gác cổng mà đi ra biển nhằm đối diện với thứ thử thách đầy mê lực mà người ta cố gắng khuyên bảo và
cưỡng buộc chúng tôi chạy trốn nó. Trái với những gì từng tưởng tượng, cơn gió đánh bại ý chí và khả
năng chúng tôi, và cuối cùng nhờ có ông lão gác cổng mà Thần chết mới buông tha cho chúng tôi trong
cơn cuồng nộ của gió biển. Từ đó, chúng tôi ngồi yên trong nhà chờ gió bắc ngưng. Hai ngày sau,
không gian yên tĩnh kỳ lạ như chưa từng có cơn gió nào thổi đến, người gác cửa sùng kính cơn gió bắc
như nữ thần vẫn hằng ngày gắn đời mình vào hiện tượng kỳ vĩ của tự nhiên này bằng một niềm tin vào
điềm báo số phận cơn gió đưa đến đã treo cổ tự tử- vì ông lão nghĩ cơn gió này là điềm báo dành cho
mình. Tôi đưa con rời khỏi làng Cadakêt và tự nhủ sẽ không bao giờ trở lại.
14. LẦN THỨ BA YÊN PHẬN
Y đã mắc một chứng bệnh và phải chết nhưng nhờ sự can thiệp của bác sĩ và tình thương của
người nhà, y có thể được duy trì các cơ quan cơ thể, chúng vẫn có thể phát triển bên trong cơ thể y. Nói
chung đó là một cái chết sống. Và thế là người ta đặt y vào quan tài người lớn theo yêu cầu của thầy
thuốc và người mẹ để y có thể tiếp tục phát triển. Y bị buộc phải an phận lần đầu ấy là năm bảy tuổi; từ
đó y đã nằm đấy nghe tất cả đi qua trong đời, đón nhận những thay đổi đang diễn ra trong cơ thể mình.
Bà mẹ siêng năng vẫn hằng ngày quét dọn căn phòng, thay hoa tương và vui mừng khi dùng thước đo
để xác định sự sống của con trai mình thông qua những phát triển của cơ thể. Mười tám năm trôi qua, y
đã 25 tuổi, với một thân hình to lớn, người ta phải làm một quan tài mới rộng hơn cho y. Mẹ y đã
không còn nhận thấy sự phát triển- minh chứng cho sự sống nơi thân xác con trai. Và rồi y bị những
con chuột bò lên gặm nhấm thân thể. Lần thứ hai y yên phận trong chiếc quan tài người lớn và sợ hãi
một ngày y sẽ chết thật. Và ngày đó cũng tới, bắt đầu từ khi y có mùi, nhưng cảm giác vẫn làm y cố
gắng chống đối về ý chí rằng mình chưa chết, rằng cái mùi ấy không phải từ thân thể này mà có lẽ do
nước bình hoa cũ chưa thay, do xác con chuột chết… Y hoảng loạn sợ người ta sẽ chôn sống mình,
nhưng mọi bằng chứng đều cho rằng y đã chết; nghĩ đến cảnh người thân sẽ kinh khiếp che mũi bỏ
chạy trước cái thân xác thối rữa, y an phận nghe tiếng cầu kinh để chết. Đó là lần thứ ba an phận.
15. NABO- NGƯỜI KHIẾN CÁC THIÊN THẦN PHẢI ĐỢI
Nabo là một thanh niên cao lớn mạnh khỏe, khi đến xin việc, người ta hỏi anh biết làm gì thì
anh trả lời là biết hát và người ta thuê anh chăm sóc lũ ngựa. Trong nhà có một bé gái câm, mồm cứ
nhễu nước giãi; Nabo thường vào chơi, vặn đĩa hát cho cô bé nghe, thỉnh thoảng y còn hát nữa- thế là y
trở thành bạn của cô bé- ít ra là người nhà nghĩ vậy. Y thường đến quãng trường vào thứ bảy để nhìn
một người da đen chơi kèn saxonphone, nhưng một tuần nào đó người đàn ông đã không xuất hiện, rồi
các tuần sau cũng như vậy. Y mua một bàn chải lông ngựa về chải lông đuôi và bị ngựa đá móng sắt
vào trán; thế là từ đó y nghễnh ngãng đến nỗi người ta bỏ y vào chuồng ngựa trong 15 năm với 3 bữa
ăn hàng ngày mà y vẫn sống. Trong thời gian đó y nói chuyện với người đàn ông da đen, người này
một mực mời y đến dàn đồng ca nhưng y vẫn không đi vì chuyện những con ngựa và những giấc ngủ
không mộng mỵ ập đến bất ngờ. Cuối cùng, sau 15 năm, y quyết định tìm lại chiếc bàn chải lông ngựa
trước khi đến dàn đồng ca bằng cách phá cửa và dân trói xông vào nhà bằng sức mạnh kỳ lạ đập vỡ
kính và dùng mảnh vỡ ấy cào sàn chuồng ngựa trong khi khi cô bé vẫn luôn miệng gọi: “Nabo”.
16. NGƯỜI CHẾT TRÔI ĐẸP NHẤT TRẦN GIAN
Bọn trẻ báo chúng nhìn thấy ở bờ biển thứ gì dường như là tàu của quân địch, sau khi đến gần
hơn thì không thể thấy bất kỳ lá cờ hay tấm buồm nào; họ cố đến gần xem có phải cá voi hay không
nhưng khi nó dạt vào bờ biển thì người ta nhận ra đó là một xác người chết trôi.
Người ta đã chơi đùa với anh ta (cái xác) suốt buổi chiều, cánh đàn ông còn mang anh ta vào thị
trấn. Sau khi tắm rửa và mặc trang phục đẹp đẽ cho anh ta, mọi người thấy rằng đây là một người xa lạ.
Cánh phụ nữ tang điểm cho anh ta thật đẹp và tận sâu trong lòng họ yêu mến ta ta và thấy rằng
anh ấy hơn hẳn những người đàn ông trong làng. Họ đặt tên và gọi anh ta thân mật như người trong gia
đình. Khi những người đàn ông quay về và xác định những thông tin có liên quan đến anh ta, họ biết
chắc rằng anh ấy không ở trong làng và phải tổ chức an táng. Nhưng có người lớn tuổi bảo rằng anh có
gương mặt của Estebal. Thế là người ta nhận ra anh là Estebal cao lớn dễ thương cả đời vẫn bị họ chế
nhạo. Một đám tang lớn đã được tổ chức, cả làng đều đến tham dự. Và anh ta được yên nghỉ nơi vùng
biển mà người ta vẫn thả những người thân yêu của mình xuống đấy. Những người đứng trên bờ đã
thành cha mẹ, anh chị em của anh ấy và họ sẽ không bao giờ quên người chết trôi đẹp nhất trần gian
ấy.
17. NHỮNG BÓNG MA THÁNG TÁM
Một gia đình gồm vợ chồng và hai người con trai (có lẽ là bản thân gia đình Marquez) đến thăm
nhà của văn sĩ nổi tiếng người Venezuela Mighen Otero Sinva ở Toscana. Trên đường đi họ được bà
lão chăn ngan cho biết tòa nhà ấy có ma nhưng với lý trí của những người hiện đại họ không tin vào
điều đó. Khi đến nhà, họ được tiếp đãi linh đình với buổi trưa trên hàng hiên dưới giàn hoa và khung
cảnh tuyệt vời với câu chuyện về Ludovico- người chủ cũ của tòa lâu đài đã giết vợ sau khi ân ái và tự
suỵt lũ chó xé xác mình; căn phòng ngày xưa vẫn còn nguyên những di tích còn lại, đặc biệt là mùi dâu
tây và dấu máu trên giường. Họ đã chiêm ngưỡng các tác phẩm nghệ thuật bậc thầy và quên cả thời
gian; khi thu xếp hành lý thì bữa tối đã dọn xong và họ đành dùng cơm rồi ở lại đêm không mảy may
nghĩ về những bóng ma. Khác với những do dự ban đầu, họ đã ngủ thẳng giấc mà chẳng hề có chuyện
gì xảy ra cho đến tận sáng hôm sau, khi họ phát hiện ra mình không nằm trong căn phòng tầng trệt đêm
qua mà lại nằm trong căn phòng tầng cuối cùng với mùi dâu tươi nơi chứng kiến tội ác của Ludovico.
18. NỖI CAY ĐẮNG CỦA BA NGƯỜI MỘNG DU
Chúng tôi đã tiếp xúc với một cô gái kỳ lạ khi người ta chuyển cô vào nhà. Người ta bảo cô sẽ
không quen với cuộc sống này. Nhìn kỹ cô gái chúng tôi thấy cô cũng có một tuổi thơ đẹp đẽ; rồi cô òa
khóc và chỉ ngưng khi chúng tôi hát. Cô bảo sẽ không cười nữa và chúng tôi để cô lại một mình trong
phòng tối. Đêm nay cũng như vậy. Cô là người lớn tuổi nhất trong chúng tôi. Một lúc chúng tôi bắt gặp
cô đang nằm sấp dưới đất cứng sau một cú ngã xuống từ trên lầu, đỡ cô dậy chúng tôi thấy cơ thể cô
như đang rã ra. Có người nói cô đã chết. Cô vẫn nằm đấy, khi tỉnh lại thì khẳng định rằng đã đi tìm
tiếng dế sau tấm gương mà không thấy. Thế là chúng tôi quyết định chấm dứt chuyện này bằng cách
tiêu diệt hết tất cả côn trùng trong nhà. Thế rồi cô bảo sẽ không cười nữa và chúng tôi biết rằng con
người trong khi cố thoát khỏi những chức năng của cuộc sống thì sẽ không còn ý nghĩa gì nữa- như cái
chết mà thôi. Và chúng tôi mong ước nghe thấy tiếng khóc trong đêm sắc nhọn của cái kính bị vỡ, ít
nhất để có một ảo tưởng rằng có một cô gái được sinh ra trong ngôi nhà, để tin rằng cô ấy lại mới
được sinh ra.
19. NỮ THẦN EVA Ở TRONG CON MÈO CỦA NÀNG
Nàng đau đớn và nguyền rủa cơn ám ảnh day dứt không nguôi. Thể xác đau đớn vì mất ngủ làm
nàng oán trách cái đẹp mà mình mang lấy như một oan nghiệt. Dòng họ nàng đã mang cái đẹp bị
nguyền rủa từ đời này qua đời khác, cứ tựa như khi bà mẹ chết thì lại lấy đầu ra lắp lại cho đứa con gái
mình vậy. Nàng cô đơn ở trong căn nhà hoang vắng và bị ám ảnh trong những đêm mưa về đứa trẻ bi
chôn ngay ngoài vườn càng làm nàng bất an. Nàng đau đớn và sợ hãi, oán ghét những con bọ được di
truyền lại với sắc đẹp đang luồn lách trong mạch máu, làm nàng mất ngủ và ước mong được một cuộc
sống hay cái chết như những người phụ nữ bình thường. Nàng đấu tranh chống lại sự hành hạ của thân
xác và cái chết. Trong một lúc nàng thấy tất cả những nỗi đau khổ đang cô đặc lại trên đầu lưỡi và chỉ
khao khát ăn một quả cam là thứ ấy sẽ tan biến đi mãi. Nàng muốn ăn cam nhưng luôn ám ảnh thân
xác thằng bé đã rã ra để nuôi sống cây cam và tiết chất vào những quả cam mọng, nàng ghê tởm khi
nghĩ đến việc ăn cam. Nhưng cuối cùng nàng thực sự muốn làm điều đó. Nàng định sẽ nhập vào một ai
đó trong nhà để ăn cam nhưng đã không còn ai nữa, nhà hoang vắng đã thay đổi nhiều so với trí nhớ
của nàng. Thế là nàng quyết định nhập vào một con mèo, nhưng lại lo sợ sự hóa thân này sẽ làm biến
đổi mình thành mèo chứ không còn là người. Và nàng nhận ra rằng đã ba ngàn năm trôi qua kể từ khi
nàng thèm ăn quả cam đầu tiên.
20. QUÀ TẾT (ÁNH SÁNG CŨNG NHƯ NƯỚC)
Tôtô- chín tuổi- và Hôên- bảy tuổi- đã đòi bố mẹ mình món quà Giáng Sinh là một con thuyền
có mái chèo. Vì nhà ở Tây Ban Nha quá chật và không có biển nên họ hứa sẽ mua khi trở về thành phố
cảng ở Colombia. Thế nhưng khi bọn nhóc giành được vòng nguyệt quế năm thứ ba trường tiểu học thì
ông bố đã mua cho chúng món đồ chơi hằng ao ước. Thế là đêm thứ tư, như thường lệ, bố mẹ đi xem
phim thì
…Bọn trẻ được thể đã đóng kín các cửa, kể cả cửa sổ, đập vỡ bóng ngọn đèn phòng khách, một
dòng ánh sáng vàng và mát như nước từ bóng đèn vỡ bắt đầu chảy ra và chúng cứ để cho nó
dâng cao bốn gang tay mới ngắt dòng chảy, lấy chiếc thuyền từ trong phòng chứa đồ ra, rồi
ngồi trên thuyền bơi theo ý thích, luồn lách khắp nhà… [Quà tết, trang 49]
Thế rồi hai cậu nhóc hạng bét lớp đòi được 2 bộ đồ lặn khi chúng đoạt giải Bông Lan vàng, và sự việc
diễn ra đúng như vậy. Tối thứ 4 khi ba mẹ đã ra ngoài xem phim
…Bọn trẻ cho ánh sáng chảy vào phòng sâu đến hai sải, rồi như những chú cá sấu hiền lành
chúng bơi lặn ở bên dưới những giường, tủ, bàn, ghế và nhặt nhạnh từ dưới đáy ánh sáng
những thứ bị mất trong bóng tôi nhiều năm. [trang 51]
Khi được tuyên dương vào kỳ thi cuối cấp, hai anh em xin được tổ chức một buổi tiệc mời bạn bè đến
chơi. Và khi người ta phát hiện ra thì tất cả bọn chúng đã chết đuối trên tầng năm ngôi nhà số 47 đại lộ
Castedana.
21. THÁNH BÀ
Chuyện kể về Margarito Duarte và hành trình xin phong thánh cho con gái. Ông phát hiện ra
xác con gái mình sau 11 năm mà vẫn không phân hủy, không như bất cứ xác ướp nào khác, cô bé vẫn
tươi như chỉ ngủ say sau nhiều năm trời, dần mất trọng lượng và tỏa mùi hương hoa hồng. Mọi người
góp tiền cho ông đến Roma vì rõ ràng đây là dấu hiệu hiển thánh. Hành trình của ông bị chậm trễ và
gặp nhiều khó khăn, do giáo hoàng bị nấc không sao chữa khỏi, do trường hợp của ông không phải là
hiếm, rằng cần phải có kiến nghị tập thể,… Sau nhiều vất vả ông mới trình bày được với Đức giáo
hoàng và khi chuẩn bị được triệu kiến thì Đức giáo hoàng băng hà. Người ta đã giúp ông dưới nhiều
hình thức, thông qua con đường ngoại giao, tìm người giúp ông khuây khỏa, làm phim về đề tài
“Thánh Bà” của ông,… Sau 22 năm vất vả đấu tranh, tôi gặp lại ông và xác tín rằng chính ông là vị
thánh thực sự với sự nghiệp đòi phong thánh giữa đời thông qua thi hài con mình.
22. THẦN CHẾT THƯỜNG ẨN SAU ÁI TÌNH
Nghị viên Ônêximô Xăngchêt trong một cuộc vận động tranh cữ tại Vườn hồng phó vương đã
gặp được người đàn bà của đời mình ngay khi ông biết mình sắp chết. Tại ngôi làng hẻo lánh và khô
cằn vì diêm sinh, ông nghị viên đã vẽ nên những ảo tưởng tương lai cho đám dân cùng khổ và tiến
hành các hoạt động phúc lợi nhằm thu hút số phiếu cho mình. Đặc biệt là những con chim giấy họ tung
lên lại vỗ cánh như thật rồi bay ra biển. Một trong những người không ra chào đón ông là Nenxông
Pharina- người đã giết vợ cả của mình và khẩn khoản nhờ ngài cấp cho một giấy thông hành để có thể
yên ổn tránh sự trừng phạt từ hành động giết người nhưng đã nhiều lần không được đáp ứng. Lần này
khi vô tình gặp cô con gái của ông- Laura Pharina- người con gái đẹp nhất trần gian, da đen với mùi
chuột chù và mồ hôi dầu, ông nghị sững sờ và người cha tinh ý đã hiến đứa con cho ông nghị. Tối hôm
ấy sau khi họp với những người đứng đầu địa phương và thả bay một con bướm giấy, ông nghị đã gần
gũi cô gái và nhận ra mình bị chơi khăm bằng một cái khóa trinh tiết mà người cha muốn dùng nó để
đổi lấy đảm bảo từ Ônêximô Xăngchêt cho điều kiện của mình. Thế là một cuộc thỏa thuận diễn ra và
trong cơn cô đơn ám ảnh, ông nghị đã tìm được người đàn bà của mình và đã lìa đời trong khi gần gũi
cô sau sáu tháng mười một ngày.
23. TÔI ĐƯỢC THUÊ ĐỂ NẰM MỘNG
Truyện ngắn được bắt đầu bằng cơn sóng mạnh ven bờ biển Cuba đã làm vỡ tấm kính khách sạn
nơi nhân vật đang ngồi và làm dẹp bí chiếc xe của người phụ nữ có mang chiếc nhẫn mặt rắn với đôi
mắt bằng đá quý. Nhân vật nhận ra người phụ nữ mà ông đã quen từ 34 năm trước ở Roma trong quán
ăn cho sinh viên nghèo và ghi nhớ đặc biệt về khả năng và cũng là nghề nghiệp của bà Phrau Phrida:
nằm mộng. Khả năng này đến từ lúc bà còn nhỏ và đã trở thành nghề nghiệp giúp bà sống được ngay
cả trong những năm khó khăn nhất. Bà đã bảo cho nhân vật xưng tôi phải rời Vien ngay và lời bà có
sức nặng đến mức đã khiến đối tượng phải thực hiện đúng như vậy mặc dù không bao giờ biết rõ
nguyên nhân. Sau đó, nhân vật xưng tôi còn gặp lại Prau Phrida một lần nữa ở Barcelona khi đi cùng
với Paulo Neruda. Nhà thơ nởi tiếng không tin vào khả năng kỳ lạ của người phụ nữ nhưng ông lại
nằm mơ thấy bà mơ với mình. Khi nhà văn rời đi thì chính người phụ nữ cũng thú nhận rằng mình nằm
mơ thấy nhà thơ mơ với mình (giống như câu chuyện của Borge). Sau cái chết của bà, nhân vật xưng
tôi đã xác nhận lại với người chủ ngôi nhà bà đang làm việc- viên đại sứ Bồ Đào Nha- về nghề nghiệp
của bà- nằm mộng.
C. BẢN DỊCH 03 TRUYỆN NGẮN CỦA MARQUEZ
Đây là ba truyện ngắn hiện vẫn chưa được dịch sang tiếng Việt. Do nhu cầu của luận văn, chúng
tôi chú ý dịch hai tác phẩm thuộc giai đoạn sáng tác đầu tiên nhằm có một nhìn nhận và đánh giá bao
quát hơn về truyện ngắn Marquez (Nỗi cay đắng của ba người mộng du và Bên kia cái chết) đồng thời
rút ra một truyện cực ngắn của ông in trong vài viết về phương pháp sáng tác của ông làm minh họa
cho luận điểm của mình. Với khó khăn về ngôn ngữ Tây Ban Nha cũng như phong cách sáng tác trong
giai đoạn đầu đậm tính trừu tượng cũng như dấu ấn dòng ý thức của Marquez, những bản dịch dưới
đây cần được hiểu chỉ như tài liệu tham khảo nội bộ trong khuôn khổ luận văn này.
1. BÊN KIA CÁI CHẾT (LA OTRA COSTILLA DE LA MUERTE)– 1948
Truyện ngắn La otra costilla de la muerte xuất hiện lần đầu trên tờ El Espectador bản Chủ Nhật
ngày 29 tháng Bảy năm 1948 ở Bogotá, về sau được in trong tập Ojos de perro azul. Văn bản
chúng tôi dùng ở đây cũng thuộc tập này nhưng được in lại ở Buenos Aires vào tháng 03 năm
1977 từ trang 10 đến trang 14 với ISBN 950-07-0088-3.
Chẳng hiểu sao nó giật mình thức giấc. Một thứ mùi nồng của hoa violet và phormal ướp xác từ
phòng khác xộc đến lan rộng khắp nơi, thứ mùi này hòa vào trong hương hoa mới nở lúc bình minh
đưa tới từ khu vườn bên ngoài. Nó cố gắng trấn tĩnh, cố lấy lại tinh thần vừa bị mất đi trong giấc mơ.
Chắc hẳn trời đã bình minh vì trong vườn cây đã bắt đầu cất lên bài hát của rau quả và bầu trời xanh từ
khung cửa sổ mở rộng. Nhìn lại căn phòng cố gắng tìm ra nguyên nhân làm giật mình thức giấc, nó có
cảm giác, chắc chắn có ai đó đã vào phòng khi nó đang ngủ. Nhưng nó vẫn một mình, cửa vẫn khóa
bên trong, không có dấu hiệu xâm phạm nào. Bên khung cửa, một ngôi sao sáng cũng thức giấc. Nó im
lặng một chút để làm dịu đi cơn căng thẳng đã đẩy mình lên bờ nông của giấc ngủ; nhắm mắt, ngẩng
đầu nó lại bắt đầu tìm kiếm sợi chỉ tĩnh lặng mỏng manh. Máu dường như đông lại, nó cố nuốt xuống
cổ, vào ngực; tim đập mạnh, nhịp tim mạnh và nhanh như thể nó đang trên đường chạy trốn. Nó cố nhớ
lại những gì vừa xảy ra cách đây vài phút. Có lẽ nó vừa mới có một giấc mộng lạ lùng, một cơn ác
mộng. Không, thật không có lý do gì để e sợ “điều đó”.
Nó đã ở trên một con tàu (giờ nó có thể nhớ rồi) thấy một quang cảnh (giấc mơ này cũng khá
thường xuyên) của vùng đất chết, rợp bóng những cây nhân tạo, nở hoa nhờ dao kéo và các dụng cụ cắt
tỉa khác (giờ thì nó nhớ là nó cũng cần phải đi cắt tóc). Giấc mơ này đến thường xuyên nhưng không
làm nó sợ thế này. Đằng sau một gốc cây là anh trai của nó, sau một gốc khác là em sinh đôi của nó-
những người được chôn cất vào buổi chiều hôm đó, họ đang vẫy gọi nó dừng xe lại (chuyện này thỉnh
thoảng xảy ra với nó trong đời thực). Vẫn biết đây là điều không thực nhưng nó vẫn chạy ra phía sau
toa cho đến khi vấp ngã, thở hổn hển, miệng sùi bọt mép. Rõ ràng đây là một giấc mơ vô nghĩa và phi
lý, nhưng không thể khiến nó tỉnh giấc đầy bồn chồn như thế. Nó nhắm mắt lại lần nữa, cảm nhận
những mạch máu bó lại trên thái dương như những nấm đấm vào đầu. Con tàu đi vào vùng khô cằn, trơ
trọi và hoang vu và cơn đau từ chân trái làm nó quên tập trung vào cảnh vật. Nó chú ý (lẽ ra nó không
nên mang đôi giày này) thấy có vết sưng nhỏ ở đầu ngón chân giữa. Theo cách tự nhiên, như thể đã
quen với vết đau này, nó lấy chiếc vít từ trong túi ra chích đầu vết sưng. Và rồi, nó đặt cái vít cẩn thận
vào hộp xanh (trong giấc mơ có thể thấy được màu sắc không nhỉ?). Vết thương giờ đây chỉ còn thấy
lòi ra một đầu dây đầy chất mỡ vàng. Cứ thế, như thể đã quen với sự hiện diện của vết thương ấy, nó
kéo đầu dây ra từ từ. Đó là một miếng gạc dài, rất dài, tự nhiên xuất hiện không gây khó chịu cũng như
đau đớn gì. Một giây sau khi nhìn xung quanh nó phát hiện ra rằng toa xe này không còn ai khác ngoài
nó. Ở một toa khác, người anh trai của nó ăn mặc như một phụ nữ đứng trước gương, đang cố gắng
móc mắt mình ra bằng cây kéo.
Thực tế nó không thích giấc mơ này, nhưng cũng không thể giải thích tại sao giấc mơ ấy lại có thể cứu
nó thoát khỏi dòng thời gian quá khứ ám ảnh- khi mà những ác mộng thật khủng khiếp, chúng lại mang
lại cảm giác yên lành. Nó cảm thấy tay mình lạnh, mùi phormal và hoa violet càng nồng, có lẽ còn
mạnh hơn lúc nãy. Nhắm mắt lại, cố gắng điều hòa hơi thở gấp của mình, nó cố nghĩ về một điều gì
vẩn vơ để lại tiếp tục đắm chìm vào trong giấc mơ đã bị mất vài phút trước. Ví dụ như nghĩ trong ba
tiếng nữa nó phải đến nhà tang lễ để thanh toán tiền. Từ trong góc phòng tiếng dế đêm cất lên, rả rích.
Cảm giác căng thẳng thần kinh bắt đầu biến mất từ từ nhưng hiệu quả và một lần nữa nó cảm thấy các
cơ giãn ra, thả lỏng. Nó cảm thấy mình nằm trên một đống chăn bông mềm và dày; trong khi cơ thể
duỗi ra nhẹ nhàng, phi trọng lực, như trải nghiệm cảm giác thiên đường ngọt ngào và quên đi hết
những mệt mỏi cùng các ý thức rã rời về thể chất từ sức hút trái đất, từ sức nặng có được của một thể
chất sống trên mặt đất mà trọng lượng được xác định chính xác trong một quy mô sinh thể để nâng đỡ
khó khăn cả một hệ thống- về mặt hình học, cơ thể nó phát triển thành một dạng động vật lý trí và có
hệ thống tôn ti võ đoán. Mi mắt dễ bảo của nó giờ đã ép sát vào giác mạc cũng tự nhiên như thể tay và
chân nó đang dần dần mất đi cảm giác độc lập riêng lẽ; các cơ quan như quay trong một vòng tròn lớn;
toàn bộ cơ thể và cả nó – một người đàn ông - đã rời bỏ những cội rễ bất tử để thâm nhập vào thứ gốc
rễ sâu xa và chắc chắn hơn- đó là thứ gốc rễ vĩnh cửu của giấc mơ viên thành và rõ ràng. Nó nghe rằng
ở bên ngoài, từ bên kia thế giới, âm thanh tiếng dế yếu dần cho đến khi biến mất khỏi các giác quan mà
quay trở lại bên trong, chôn vùi âm thanh ấy vào một khái niệm mới, đơn giản về thời gian và không
gian; xóa bỏ đi sự hiện diện của thế giới vật chất đó; thể chất và đau đớn, đầy côn trùng và mùi hăng
của hoa violet và phormal.
Thời tiết trở lại ôn hòa và ấm áp, nó cảm thấy sự nhẹ nhàng của cơ thể chết giả tạo thường ngày. Nó
đắm mình vào vùng đất thân thiện, vào một thế giới giản đơn, lý tưởng; một thế giới như thể do trẻ em
tạo ra, không có phương trình đại số, không có chia ly tình cảm và cũng không có lực hấp dẫn.
Không thể biết chính xác nó có bao nhiêu thời gian như thế, giữa bề ngoài của giấc mơ thanh tao ấy và
thực tại, nhưng bất thình lình nó nhớ ra rằng như thể cổ họng bị dao cứa, nó nhảy nhổm trên giường và
nó cảm thấy rằng người anh em sinh đôi của nó, đứa em đã chết, đang ngồi bên mép giường.
Một lần nữa, như trước đây, trái tim như nắm đấm đưa lên miệng, buộc nó phải nhảy lên. Ánh sáng
xuất hiện, tiếng dế tiếp tục nghiền nát nỗi cô đơn cùng với tiếng đàn organ lạc nhịp. Không khí trong
lành tràn ngập cả khu vườn, tất cả khiến nó trở lại với đời thực một lần nữa, nhưng lần này nó có thể
hiểu được sự hoảng sợ của mình. Trong suốt vài phút ngái ngủ ngắn ngủi (bây giờ tôi mới để ý), trong
suốt buổi tối mà nó tin rằng mình có một giấc ngủ bình yên, đơn giản, không suy nghĩ, ký ức của nó
tĩnh tại trong một hình ảnh đơn độc, liên tục, không thay đổi, một hình ảnh tự trị bị áp đặt vào suy nghĩ
của nó bất kể ý chí và sự cưỡng lại suy nghĩ đó. Đúng vậy. Hầu như nếu nó không chấp nhận “điều đó”
thì cái suy nghĩ đã thu phục, lấp đầy và hoàn toàn bao lấy nó, trở thành cơ sở duy trì sự tĩnh tại sau tất
cả những suy nghĩ khác, tạo thành sự chống đỡ, một cuộc sống xác định trong vở kịch tinh thần ngày
và đêm. Và giờ đây khi nó bỏ đi khỏi nơi đó, trên mảnh đất của nó, với mí mắt rung rung vì mưa, giờ
đây, đã sợ nó.
Chẳng bao giờ nó nghĩ rằng cú đập ấy lại mạnh đến thế. Bên cửa sổ mở ra, cái mùi lẫn lộn với mùi đất
ẩm và đá nổi lên thổi vào và khứu giác có cuộc gặp gỡ vui vẻ với một niềm vui tuyệt vời của người đàn
ông lực lưỡng. Nó đã trải qua nhiều giờ sau giây phút thấy mình lăn lộn như một con chó bên dưới
tấm chăn, tru tréo, cắn xé, tiếng rên cuối cùng choáng đầy trong cổ họng đầy muối, nó đang cố dùng
móng cào xé sự đau đớn chạy dọc lưng đến gốc rễ của vết sưng. Nó không thể quên được mấy cái
chậu hoa của con vật đang hấp hối; sự nổi loạn trước sự thật rằng nó đã ngưng lại trước mặt, rằng việc
đó đã cột chặt cơ thể nó bằng sự ngoan cường, không hề nao núng, dứt khoát giống như với cùng cái
chết ấy. Nó đã nhìn thấy điều đó trong giây phút cuối cùng giãy giụa dữ dội trước khi chết. Khi các
móng tay của nó bị hỏng do bấu vào tường, cào cấu từng mảng đời cuối cùng giữa các ngón tay, chúng
không chảy máu, trong khi chứng hoại thư chầu chực bên cạnh như một người đàn bà không dễ mủi
lòng. Sau khi thấy mình nằm trên cái giường hỗn độn, mệt mỏi nhẫn nhịn, mồ hôi đầm đìa, hàm răng
đầy nước bọt, nó ném ra cho cái thế giới này một nụ cười kinh khủng, quái vật; và cái chết đã bắt đầu
lướt qua xương giống như một con sông đầy tro cốt.
Do vậy, đó là khi nghĩ đến khối u ở bụng hành hạ mình, tưởng tượng ra nó tròn tròn (giờ nó cũng có
cùng cảm giác như thế), bị sưng lên giống như một mặt trời nằm bên trong, không thể chịu đựng được
giống như một con côn trùng màu vàng kéo dài sợi dây sa đọa đến cuối đường ruột. Nó cảm thấy lục
phủ ngũ tạng bị nới lỏng ra như thể đang đứng trước một nhu cầu sinh lý sắp xảy ra. (Có lẽ tôi cũng có
một cục u giống nó). Đầu tiên là một hình cầu nho nhỏ, nhưng đang phát triển phân chia thành nhánh
và đang lớn dần trong bụng giống như một bào thai. Có lẽ nó cảm nhận được cái khối u ấy khi cử
động, di chuyển hướng vào trong giống như cơn thịnh nộ của một đứa trẻ mộng du, đang chuyển sang
đường ruột, mù loà (nó đưa tay xuống bụng để giữ lấy cơn đau dữ dội), với đôi bàn tay tha thiết đưa về
hướng bóng tối, tìm kiếm cái bụng âm ấm. Cái bụng mến khách ấy không tìm thấy gì cả; trong khi một
trăm chân của con vật quái dị sẽ làm rối tung sợi dây rốn vàng dài thượt. Đúng vậy. Có lẽ tôi (cái bao
tử!) giống như người anh em vừa mới mất này có một khối u ở đầu lục phủ ngũ tạng. Cài mùi xông từ
ngoài vườn vào giờ càng hăng hơn, tởm lợm, mùi kinh tởm gây buồn nôn. Thời gian dường như đã làm
ngưng mép bình minh. Ngược lại với tấm kính, một ngôi sao đang chiếu sáng, trong khi ở mảnh đất
nhà hàng xóm, nơi mà suốt buổi tối hôm trước người ta đặt thi thể ở đó, mùi phormal vẫn tiếp tục tỏa
hăng nồng. Chính xác đó là mùi đặc trưng của khu vườn. Đó là một mùi kinh khủng và đặc biệt hơn
mùi trộn lẫn các loại hoa khác nhau. Một mùi hương được biết rằng luôn liên quan đến các tử thi. Đó là
mùi lạnh lẽo và choáng ngợp của phormal tỏa ra trong các gian phòng. Nó đã nghĩ đến phòng thí
nghiệm. Nó nhớ đến các lục phủ ngũ tạng được bảo quản trong cồn nguyên chất, nhớ đến những con
chim bị giải phẫu. Đối với một con thỏ thấm đẫm phormal thì cơ thể nó sẽ trở nên cứng hơn, khử nước
và làm cứng nó cho đến khi trở thành một con thỏ bất diệt vĩnh viễn. Chất phormal. Mùi này từ đâu ra?
Cách duy nhất để ngăn chặn thối rữa. Nếu cơ thể chúng ta có chứa chất phormal trong mạch máu thì
chúng ta sẽ giống như các mẫu giải phẫu học được ngâm trong cồn nguyên chất. Ngoài đó nó nghe
thấy tiếng mưa rơi lộp độp ngày càng to trên tấm kính cửa sổ đang mở. Không khí mới, trong lành, hân
hoan thổi vào, mang theo hơi ẩm. Đôi bàn tay lạnh lẽo càng làm tăng thêm sự hiện diện của phormal
trong động mạch; như thể hơi ẩm ngoài hiên thấu vào tận xương. Ẩm ướt. “Ở đó” có rất nhiều hơi ẩm.
Với sự ghê tởm, nó đã nghĩ đến các buổi tối mùa đông với những cơn mưa làm ướt hết đám cỏ và hơi
ẩm bước vào giấc ngủ trên giường của em trai nó, lướt qua cơ thể giống như một luồng không khí cụ
thể. Nó nghĩ rằng tất cả xác chết đều cần một hệ thống tuần hoàn khác mà nó bị làm ngừng hoạt động
như một xác chết cuối cùng không thể chữa trị được. Trong giây phút này, nó ước gì trời đừng mưa
nữa, và mùa hè kéo dài mãi. Bởi vì cái mà nó ghét chính là tiếng mưa lách tách trên cửa kính. Nó muốn
là đất sét xi măng khô, luôn khô ráo bởi vì nó cảm thấy phiền phức khi nghĩ rằng trong mười lăm ngày
tới, khi hơi ẩm thấm vào tủy thì sẽ không có người nào giống như thế, chính xác là giống nó sẽ nằm
dưới lòng đất.
Đúng vậy. Họ chính xác là hai anh em sinh đôi, không phân biệt được ai là anh, ai là em. Trước đây,
khi cả hai còn sống riêng thì họ không giống như hai anh em sinh đôi, giản dị và biệt lập như cặp khác.
Cả hai không có điểm chung nào về mặt tinh thần. Nhưng giờ đây, cơ thể cứng lại, nó cảm nhận như có
cái gì đó giống như động vật không xương sống đang bò trong xương sống, cái gì đó đã hòa tan vào
không khí, cái gì đó được xem như một khoảng trống, như thể bên mép giường của nó đã mở ra một
vách núi hoặc như thể cơ thể của nó bị rìu bén cắt ra; chính xác không phải là cơ thể được giải phẫu ấy
theo một định nghĩa hình học hoàn hảo, không phải cơ thể có cảm giác sợ hãi này mang đến, mà là do
một cơ thể khác nằm ở bên trong, ở cùng với nó trong một khoảng không gian tối đầy dịch trong bụng
mẹ, và nó được xác định dựa vào phả hệ lâu đời, nó mang dòng giống của bốn đời ông bà, và nó đã đến
từ phía sau, từ thuở hồng hoang của thế giới, duy trì trọng lượng và sự hiện diện bí ẩn, tất cả sự cân
bằng vũ trụ. Có thể là nó đã mang dòng máu của Isaac và Rebecca, là một người em trai khác được
sinh ra, giữ lại dưới gót chân, và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, đem này sang đêm khác, trong
những nụ hôn, những cuộc tình, cứ thế chuyển xuống động mạch rồi tinh hoàn, ở đó cho đến khi, như
trong một cuộc dạ du, đến tử cung của người mẹ gần nhất. Hành trình tông truyền huyền thoại giờ đây
được thực hiện trong chân thực và đau đớn, nó rõ ràng đã phá vỡ tất cả sự cân bằng và tương đồng xác
quyết. Nó biết có gì đó đã trượt khỏi sự hài hòa cá nhân, sự hoàn chỉnh hằng ngày và bình thường của
họ: Jacob đã tự do một cách vô vọng trong mắt cá chân.
Trong suốt những ngày này, khi anh của nó bệnh, nó không có thứ cảm giác này bởi gương mặt hốc
hác, bị biến dạng đi bởi cơn sốt và nỗi đau, râu mọc xồm xoàm, anh ta trông khác xa với bản thân
mình.
Thế nhưng trong lúc bất động nằm trên giường, anh ta đã gọi cho mình một thợ cạo để trang điểm tử
thi. Anh ta được dựng lên, tựa vào tường cho đến khi người thợ mặc đồ đen và đến với tất cả các dụng
cụ của mình. Với sự chuyên nghiệp, anh ta phủ một lớp bọt lên râu tử thi (Cái miệng đầy bọt, tôi đã
thấy cảnh này trước khi chết) và anh ta cẩn trọng cạo râu như thể người ta đang dần hé lộ một bí mật
kinh người. Rồi sau đó nó bị một ý nghĩ khủng khiếp tấn công. Khi con dao cạo lướt qua để lộ gương
mặt xanh xao và phàm tục của người anh trai, nó có cảm giác rằng tử thi này không xa lạ với mình mà
cũng được làm từ một thứ vật chất với nó, chính là một bản sao của nó. Nó có cảm giác rằng những
người họ hàng của mình đều được làm bằng hình ảnh trong gương của nó, hình ảnh mà nó thấy mỗi khi
cạo râu. Giờ đây, hình ảnh ấy phản ứng lại trong mọi động thái hướng đến tự do của nó. Nó đã thấy
việc cạo râu mỗi sáng nhưng giờ đây trước cảnh này nó lại có cảm giác rằng người ta đang lấy đi bộ
râu từ hình ảnh trong gương của mình bất chấp đến vóc dáng vật lý ấy. Nó tin chắc rằng, nếu lúc ấy nó
tiến sát đến chiếc gương thì sẽ nhận ra ở đó chẳng có gì ngoài một khoảng trống dù chắc chắn khoa vật
lý học sẽ chẳng thể nào có lời giải thích xác đáng cho hiện tượng này. Đó là trạng thái phân tách mà
bản sao của nó là một xác chết. Với tất cả sự liều lĩnh, nó cố làm một phán ứng gì đấy nhưng lại nhận
ra bức tường rắn cứ nâng cao lên như một két sắt bất khả công phá. Người thợ cạo đã hoàn thành công
việc của mình và với đầu kéo anh ta đã kéo mí mắt người chết xuống. Bóng đêm nằm rung rẩy bên
trong cơ thể nó, trong sự cô độc không thể dứt bỏ của cái cơ thể đã bị hủy hoại đi. Như thế mới chính
xác. Hai anh em, giống nhau, lặp đi lặp lại không ngừng nghỉ.
Đó là sau đó, sau khi đã quan sát xong cái sự liên kết chặt chẽ của hai sinh vật này, khi nó chợt nhận ra
rằng có điều gì đó lạ thường, bất ngờ sẽ xảy ra. Nó tưởng tượng rằng tách hai cơ thể ra là không thể
thực hiện được khi trên thực tế cả hai đều là một phần của cùng một sinh vật độc nhất. Có lẽ đến khi cơ
thể đã phân hủy hết, nó, phần còn sống, cũng bắt đầu thối rữa từ bên trong.
Nó nghe tiếng mưa bắt đầu nhỏ lộp độp trên cửa sổ và con dế đột ngột kéo đàn. Hai bàn tay nó giờ đây
lạnh toát do không khí giá băng kinh khủng. Mùi formal nồng nặc làm nó nghĩ đến khả năng đưa mình
đến gần cái cơ thể mục nát của đứa em sinh đôi mà nó đang giao tiếp từ phía kia, từ cái lỗ lạnh cứng
bằng đất. Thật là vô lý! Có lẽ hiện tượng này diễn ra theo hướng ngược lại: nên thực hành với đứa vẫn
còn sống, với năng lượng của nó, với tế bào còn sống của nó. Có lẽ, trên tầng này, cả nó cũng như đứa
em trai của nó vẫn còn tiếp xúc, duy trì sự cân bằng giữa sống và chết để tránh sự thối rữa. Nhưng ai có
thể bảo đảm điều này? Cũng không thể nào người em bị thối rửa duy trì tới mức mà sự thối rữa xâm
chiếm cuộc sống với những chiếc vòi màu xanh?
Nó nghĩ rằng giả thiết thứ hai là có thể xảy ra nhất và nhẫn nhịn để chờ thời khắc quan trọng đến. Thịt
của nó đã trở nên mềm, có mỡ, và nó nghĩ rằng nó cảm thấy có một chất màu xanh bao phủ nó hoàn
toàn. Nó ngửi thấy mùi cơ thể đặc trưng bay lên từ phía dưới, nhưng chỉ có chất formol của cái mảnh
bên cạnh làm rung rẩy những tế bào khứu giác một cách không thể nhầm lẫn được. Sau đó, nó không
lo lắng gì nữa. Trong góc nhỏ, con dế lại tiếp tục cất lên bài hát trong khi những giọt gì đó đặc sệt và
giống hệt nhau bắt đầu thấm qua từ bầu trời phẳng lì đầy lan ra căn phòng. Nó lắng nghe mưa rơi mà
không hề thấy ngạc nhiên bởi vì biết rằng tại nơi này gỗ đã mục, nhưng nó tưởng tượng giọt nước đó
được làm từ một loại nước trong sạch, ngon lành đến từ trên trời, từ một cuộc sống tốt đẹp hơn, rộng
rãi hơn và ít những điều ngu ngốc như tình yêu hay là sự tiêu hóa và phân đôi. Có thể cái giọt này sẽ
lắp đầy cả căn phòng trong một giờ hoặc cả ngàn năm và làm tiêu tan đi cái sự cay đắng kinh khủng
này, cái chất trống rỗng đó có thể- tại sao không? – không còn tồn tại nữa trong một thời gian ngắn mà
là một hỗn hợp nhão giữa albumin và huyết thanh. Bây giờ mọi thứ đều giống nhau. Giữa nó và ngôi
mộ chỉ còn cái chết. Cam chịu, nó nghe giọt nước to, nặng, rơi lộp độp trong một thế giới khác, trong
cái thế giới sai lầm và kì lạ của những động vật có lý trí.
2. NỖI CAY ĐẮNG CỦA BA NGƯỜI MỘNG DU (AMARGURA PARA TRES
SONÁMBULOS)- 1949
Truyện ngắn Amargura para tres sonambulos xuất hiện lần đầu trên tờ El Espectador bản Chủ
Nhật ngày 13 tháng Mười một năm 1949 ở Bogotá, về sau được in trong tập Ojos de perro azul.
Văn bản chúng tôi dùng cũng thuộc tập này nhưng được in lại ở Buenos Aires vào tháng 03 năm
1977 từ trang 21 đến trang 3 với ISBN 950-07-0088-3; đồng thời có so sánh với bản in trong tập
Todos los cuentos, Bogotá Editol Oveja Negra 1987 từ trang 34-37.
Giờ đây chúng tôi đã có được cô gái, con người bị bỏ lại trong góc nhà. Có ai đó đã nói trước
khi chúng tôi xách hành lý của cô ấy- quần áo cô thơm mùi gỗ mới, giày tịnh không dính một tí bùn-
rằng chắc cô không thể quen với cuộc sống chậm chạp đó, không một hương vị ngọt ngào, không một
hứng thú nào khác là nỗi cô đơn cùng cực, luôn luôn níu chặt người ta. Họ cũng nói- đã rất lâu rồi
trước khi chúng tôi còn nhớ- rằng cô gái ấy cũng có một tuổi thơ. Khi ấy có lẽ chúng tôi đã không tin
điều đó, nhưng giờ nhìn cô ngồi trong góc phòng với cặp mắt ngạc nhiên, ngón tay đính trên môi,
chúng tôi cũng chấp nhận rằng cô đã từng có một thời ấu thơ, rằng cô đã từng có sự tinh tế nhạy cảm
của cơn mưa đầu mùa mát mẻ và rằng cô đã chịu đựng việc bên cạnh mình luôn là một cái bóng không
mong đợi.
Với tất cả những điều đó- và còn hơn thế- vào buổi chiều hôm ấy chúng tôi tin rằng mình nhận
ra ngoài cái vẻ âm ty địa ngục kinh khủng đó, cô ấy hoàn toàn là con người. Đột nhiên, chúng tôi thấy,
như thể tấm kính bị vỡ ra từ bên trong, cô bắt đầu gào khóc thảm thương rồi gọi tên chúng tôi từng
người, giọng nói hòa theo những giọt nước mắt cho đến khi chúng tôi ngồi lại bên cô, hát và vỗ tay
như thể những âm thanh ấy có thể hàn gắn lại tấm kính đã vỡ. Chỉ khi ấy chúng tôi mới tin rằng cô đã
từng có tuổi thơ. Tựa như rằng những tiếng kêu có một mối tương quan gì đó, như thể tiếng kêu ấy gợi
về nhiều tàn cây rộng, con sông sâu mà cô đã từng dầm mình; hơi cúi người về phía trước vẫn không
mạng che mặt, vẫn không sụt sùi nhưng vẫn trong làn nước mắt cô bảo chúng tôi rằng:
“Tôi sẽ không cười nữa”
Cả ba chúng tôi đi ra sân, không nói gì nhưng chắc rằng mình có những suy nghĩ chung. Có lẽ không
nên mở đèn trong nhà. Có lẽ cô ấy muốn ở một mình ngồi trong góc tối để đan mảnh vải cuối cùng, tựa
như đó là cách duy nhất để trải qua thời khắc này.
Bên ngoài khoảng sân rả rích tiếng côn trùng, chúng tôi ngồi xuống và cùng nghĩ về cô ấy. Chúng tôi
đã làm thế này không biết bao nhiêu lần, có thể nói chúng tôi đang thực hiện điều mà mình làm đi làm
lại mỗi ngày trong đời.
Tuy nhiên, đêm nay lại khác; cô ấy đã nói sẽ không bao giờ cười nữa; và chúng tôi hiểu cô ấy rất rõ, tin
chắc rằng cơn ác mộng đã thành hiện thực. Ngồi thành hình tam giác chúng tôi cùng tưởng tượng về
điều đang xảy ra trong nhà, một cái gì vô hình, trừu tượng cho đến khi nghe rõ tiếng chiếc đồng hồ gõ
nhịp và chứng tỏ một cách rõ ràng cô ấy đã ra đi. Chúng tôi đồng thanh: “Ít nhất thì chúng ta cũng có
dũng khí để nghĩ về cái chết của cô ấy.”
Nhưng chúng tôi yêu thương cô gái lạnh lùng và xấu xí này như một cách thông cảm với những mặt
xấu xa tăm tối ẩn khuất của bản thân mình.
Chúng tôi đều đã trưởng thành từ lâu rồi. Tuy vậy, cô ấy vẫn nhà người lớn nhất nhà. Cũng trong đêm
đó lẽ ra cô đã ở đấy, cùng ngồi với chúng tôi, cảm nhận sự chuyển động của các ngôi sao, xung quanh
là những đứa trẻ khỏe mạnh. Lẽ ra cô đã có thể trở thành một mệnh phụ đáng kính nếu lấy một nhà
quyền quý hay làm vợ lẻ cho một nhân vật quan trọng. Nhưng cô đã quen sống trong một không gian
đơn độc, tựa như đường thẳng tắp, có lẽ do các khuyết điểm cũng như ưu điểm của cô không thể nhìn
thấy từ bên hông. Sau nhiều năm, chúng tôi đã hiểu rõ về cô. Thế nên không có gì là ngạc nhiên khi
một sáng nọ sau khi tỉnh dậy chúng tôi thấy cô nằm úp mặt, cạp đất với một thái độ tĩnh tại cứng nhắc
ấy. Sau đó, cô đã mỉm cười quay lại nhìn chúng tôi. Cô đã té từ cửa sổ lầu hai xuống mặt đất sét cứng
trong sân, nằm đấy bất động, mặt úp bùn ẩm. Sau đó, chúng tôi nhận ra lời giải thích khả dĩ rằng ấy là
do nỗi sợ độ cao, như khi người ta đứng trước hố sâu vậy. Chúng tôi xốc cô lên vai. Thật ra cũng
không quá khó như chúng tôi đã nghĩ. Ngược lại, cơ thể cô mềm nhũng ra, như những bộ phận tách rời
hẳn với ý chí, như thể một xác chết âm ấm không bao giờ cứng lại.
Mắt cô mở to, trên miệng vẫn còn dính đất mà cô có lẽ biết đó là thứ đất trong mộ huyệt, khi tôi đem
cô ra sưởi nắng, cứ như là đặt cô trước một tấm gương. Cô nhìn tất cả chúng tôi với sự đờ đẫn phi giới
tính- tôi ôm cô trong vòng tay- điều đó thể hiện vô hồn của cô. Có người nói rằng cô đã chết. Và sau
đó cô nằm đó, nhoẻn miệng với nụ cười lạnh lẽo và bất động suốt đêm hôm ấy cho đến khi bị cả nhà
đánh thức. Cô bảo rằng cô chẳng biết tại sao mình ra được ngoài hiên. Cô bảo rằng cô đã cảm thấy
nóng bức và đang nghe tiếng dế kêu nhức nhối, the thé như thể (cô đã nói như thế) tiếng kêu ấy sẵn
sàng đánh đổ bốn bức vách căn phòng và làm cô nhớ đến những lời cầu nguyện trong thánh lễ misa
ngày chủ nhật khi cô áp sát má mình xuống sàn xi măng.
Tuy vậy, chúng tôi biết cô chẳng nhớ gì, bởi vì chúng tôi biết rằng sau khi cô hoàn toàn mất đi khái
niệm thời gian khi nói rằng mình đã ngủ phía sau bức tường, về tiếng dế kêu bên ngoài, và rằng cô đã
ngủ say khi chúng tôi bế xốc cô lên và đem gương mặt cô soi ra trước ánh mặt trời.
Tối nay, ngồi hoài hiên, chúng tôi biết rằng cô ấy sẽ không bao giờ cười nữa. Chúng tôi đau trước sự
vô hồn trầm trọng, trước sự tối tăm và kiên quyết sống thu mình vào góc tối của cô. Chúng tôi đau đớn
vô cùng vào cái ngày mà thấy cô ngồi trong bóng tôi nơi cô đang ngồi đây và nghe cô nói sẽ không bao
giờ quanh quẩn trong nhà nữa. Thoạt đầu, chúng tôi không tin cô. Chúng tôi đã quan sát cô hàng tháng
trời lúc nào cũng bận rộn việc nhà, với chiếc đầu cứng ngắc, vai cong cong không bao giờ mệt mỏi.
Nửa đêm, chúng tôi có thể nghe tiếng động từ thân hình đẩy đà của cô di chuyển giữa những khoảng
tối, và có lẽ chúng tôi nằm thức trên giường, nghe tiếng chân lén lút và tiếp tục nghe âm thanh của cô
khắp nhà. Có lần, cô bảo với chúng tôi rằng cô nghe thấy tiếng dế trong gương rồi nó chìm dần, hòa
vào mặt phẳng trong suốt ấy, thế là cô ấy đã theo vào gương để bắt tiếng dế. Thực tế, chúng tôi không
hiểu ý cô muốn nói gì tất cả những gì mà chúng tôi có thể thấy là đồ cô ướt sũng, dính sát người như
thể vừa bước lên từ ao nước. Không cần bất cứ lời giải thích nào, chúng tôi quyết định đặt dấu chấm
hết cho côn trùng trong nhà này, tiêu diệt những gì ám ảnh cô ấy. Chúng tôi làm sạch bức tường, nhờ
người cắt bụi cây trong vườn, cứ như thể quét sạch đi cái im lặng của bóng đêm. Nhưng, không còn
nghe tiếng chân cô ấy nữa, không còn nghe cô ấy nói về tiếng dế; cho đến một ngày sau bữa ăn gần
đây nhất, cô nhìn chúng tôi, vẫn ngồi dưới sàn xi măng mắt vẫn không rời chúng tôi, cô nói: “Tôi sẽ
ngồi đây luôn!” Chúng tôi rùng mình vì thoáng thấy có điều gì đó gần như là một cái chết hoàn toàn.
Từ đấy chúng tôi thấy cô ấy ngồi ở đấy, với tấm vải len dài như cô định đan; tựa như cô ấy bị
hòa tan trong sự cô đơn và biến mất. Dù cô vẫn đang nhìn nhưng vô hồn như không tồn tại. Vì vậy, bây
giờ chúng tôi đã hiểu rằng cô sẽ không cười nữa bởi cô đã nói điều đó một cách chắc chắn như khi cô
bảo sẽ không đi nữa. Điều này cũng chắc chắn như thể rằng sau này cô sẽ nói rằng: “Tôi không thấy
gì”, hay “Tôi không nghe gì!” và chúng tôi biết rằng phải là con người một cách đầy đủ để mơ ước
thoát ly những chức năng cơ bản của cuộc sống và lúc đó ngay lập tức sẽ dẫn đến sự phá bỏ mọi ý
nghĩa cho đến một ngày người ta tìm thấy cô bên bức tường như thể cô đã ngủ từ lần đầu tiên trong
đời. Có lẽ thiếu nhiều thời gian cho việc ấy, nhưng cả ba chúng tôi đã ngồi đó, trong khu vườn, mong
ước nghe thấy tiếng khóc trong đêm sắc nhọn của cái kính bị vỡ, ít nhất để có một ảo tưởng rằng có
một cô gái được sinh ra trong ngôi nhà, để tin rằng cô ấy lại mới được sinh ra.
3. CHẾT Ở SAMARRA (LA MUERTE EN SAMARRA)-1955
Tên người hầu hoảng hốt chạy về nhà ông chủ
_“Thưa ông”, hắn nói, “Tôi đã thấy thần Chết ở chợ và ông ta đã làm dấu hiệu báo tử với tôi”
Ông chủ lấy ngựa và mang tiền đến, nói:
_“Hãy trốn đến Samarra!”
Tên người hầu đã trốn thoát. Chiều, người chủ đến chợ gặp thần Chết ở đấy.
_“Sáng nay ông đã đe dọa giết người hầu của tôi”, ông chủ nói.
_“Đó không phải là đe dọa”, thần Chết trả lời, “mà là ta ngạc nhiên. Bởi ta gặp nó ở đây, cách quá xa
Samarra, và chiều nay ta vừa giết nó ở đó.”
-------------------------------------------
García Márquez (1995), Cómo se cuenta un cuento, Taller de guión, Voluntad, Bogotá, p.46
D. BẢNG THỐNG KÊ
BẢNG 1- BẢNG KÊ TÁC PHẨM THEO NĂM SÁNG TÁC
STT TÁC PHẨM NĂM
Lần thứ ba an phận 1 1946
Nữ thần Eva ở ngay trong con mèo của nàng 2 1946
Bên kia cái chết 3 1948
Đối thoại trước gương 4 1949
Nỗi cay đắng của ba người mộng du 5 1949
Đôi mắt chó xanh 6 1950
Người đàn bà đến vào lúc sáu giờ chiều 7 1950
Ai đó đã làm rối những bông hồng 8 1952
9 Độc thoại của Isabel ngắm mưa ở làng Macondo 1955
10 Blacaman, người hiền bán phép tiên 1955
11 Một ngày sau thứ bảy 1955
12 Nabo, người da đen khiến các thiên thần phải đợi 1955
13 Ngài đại tá chờ thư 1957
14 Một trong những ngày này 1959
15 Buổi chiều kỳ diệu của Bantaxa 1960
16 Ở làng này không có kẻ trộm 1960
17 Bà góa Montiel 1961
18 Biển của thời đã mất 1961
19 Đám tang của bà mẹ vĩ đại 1961
20 Những bông hồng giấy 1961
21 Chuyến đi cuối cùng của con tàu ma 1968
22 Cụ già với đôi cánh khổng lồ 1968
23 Người chết trôi đẹp nhất trần gian 1968
24 Thần chết thường ẩn sau ái tình 1970
Chuyện buồn không thể tin được của Erendira ngây 1972 25 thơ và người bà bất lương
1976 26 Mùa hè hạnh phúc của bà Phorbert
1978 28 Quà tết
28 Tháng 04,1978 Tôi đến chỉ để gọi điện thoại
29 Thưa Tổng thống, chúc ngài thượng lộ bình an Tháng 06,1979
30 Tôi được thuê để nằm mộng Tháng 03,1980
31 Mười bảy người anh bị đầu độc Tháng 04,1980
32 Những bóng ma tháng Tám Tháng 10,1980
33 Thánh Bà Tháng 08,1981
34 Gió bắc Tháng 01,1982
35 Máy bay của người đẹp ngủ Tháng 06,1982
36 Giấc ngủ trưa ngày thứ ba 1984
37 Bà Maria Dos Przeres (Đoàn Đình Ca dịch) 1992
38 Dấu máu em trên tuyết 1992
39 Chết ở Samarra 1995
TÁC PHẨM KHÔNG RÕ NĂM SÁNG TÁC
40 Ông bạn Mitut của tôi
41 Đêm của những con vạc
BẢNG 2- BẢNG KÊ TÊN TÁC PHẨM THEO THỨ TỰ ALPHABET
TÁC PHẨM NĂM
1 Ai đó đã làm rối những bông hồng 1952
2 Bà góa Montiel 1961
3 Bà Maria Dos Przeres (Đoàn Đình Ca dịch) 1992
4 Bên kia cái chết 1948
5 Biển của thời đã mất 1961
6 Blacamăng, người hiền bán phép tiên 1955
7 Buổi chiều kỳ diệu của Bantaxa 1960
8 Chết ở Samarra 1995
Chuyện buồn không thể tin được của Erendira ngây thơ 9 1972 và người bà bất lương
10 Chuyến đi cuối cùng của con tàu ma 1968
11 Cụ già với đôi cánh khổng lồ 1968
12 Đám tang của bà mẹ vĩ đại 1961
13 Dấu máu em trên tuyết 1992
14 Đêm của những con vạc
15 Đối thoại trước gương 1949
Độc thoại của Isabel ngắm mưa ở làng Macondo 16 1955
Đôi mắt chó xanh 17 1950
Giấc ngủ trưa ngày thứ ba 18 1984
Gió bắc 19 Tháng 01,1982
Lần thứ ba an phận 20 1946
21 Máy bay của người đẹp ngủ Tháng 06,1982
22 Một ngày sau thứ bảy 1955
23 Một trong những ngày này 1959
24 Mùa hè hạnh phúc của bà Phorbert 1976
25 Mười bảy người anh bị đầu độc Tháng 04,1980
Nabo, người da đen khiến các thiên thần phải đợi 26 1955
Ngài đại tá chờ thư 28 1957
Người chết trôi đẹp nhất trần gian 28 1968
Người đàn bà đến vào lúc sáu giờ chiều 29 1950
Những bông hồng giấy 30 1961
Những bóng ma tháng Tám 31 Tháng 10,1980
Nỗi cay đắng của ba người mộng du 32 1949
Nữ thần Eva ở ngay trong con mèo của nàng 33 1946
Ở làng này không có kẻ trộm 34 1960
Ông bạn Mitut của tôi 35 1970
Quà tết 36 1978
Thần chết thường ẩn sau ái tình 37 1970
Thánh Bà 38 Tháng 08,1981
Thưa Tổng thống, chúc ngài thượng lộ bình an 39 Tháng 06,1979
40 Tháng 04,1978 Tôi đến chỉ để gọi điện thoại
Tôi được thuê để nằm mộng 41 Tháng 03,1980
TỔNG 41 truyện ngắn 1946-1995
BẢNG 3- PHÂN LOẠI TRUYỆN NGẮN CỦA MARQUEZ
STT TRUYỆN NGẮN HIỆN STT TRUYỆN NGẮN HIỆN THỰC
THỰC KỲ ẢO
NGHIÊM NGẶT
1 Ai đó đã làm rối những bông hồng
2 Bà góa Montiel
1 Bà Maria Dos Przeres (Đoàn
Đình Ca dịch)
3 Biển của thời đã mất
4 Bên kia cái chết
5 Blacamăng, người hiền bán phép
tiên
2 Buổi chiều kỳ diệu của Bantaxa
6 Chuyện buồn không thể tin được
của Erendira ngây thơ và người bà
bất lương
7 Chết ở Samarra
8 Chuyến đi cuối cùng của con tàu
ma
9 Cụ già với đôi cánh khổng lồ
10 Đám tang của bà mẹ vĩ đại
11 Dấu máu em trên tuyết
3 Đêm của những con vạc
4 Đối thoại trước gương
5 Độc thoại của Isabel ngắm mưa
ở làng Macondo
12 Đôi mắt chó xanh
6 Giấc ngủ trưa ngày thứ ba
13 Gió bắc
14 Lần thứ ba an phận
7 Máy bay của người đẹp ngủ
8 Một ngày sau thứ bảy
9 Một trong những ngày này
10 Mùa hè hạnh phúc của bà
Phorbert
11 Mười bảy người anh bị đầu độc
15 Nabo, người da đen khiến các
thiên thần phải đợi
12 Ngài đại tá chờ thư
16 Người chết trôi đẹp nhất trần gian
13 Người đàn bà đến vào lúc sáu
giờ chiều
14 Những bông hồng giấy
17 Những bóng ma tháng Tám
18 Nỗi cay đắng của ba người mộng
du
19 Nữ thần Eva ở ngay trong con mèo
của nàng
15 Ở làng này không có kẻ trộm
16 Ông bạn Mitut của tôi
20 Quà tết
21 Thần chết thường ẩn sau ái tình
22 Thánh Bà
17 Thưa Tổng thống, chúc ngài
thượng lộ bình an
18 Tôi đến chỉ để gọi điện thoại
23 Tôi được thuê để nằm mộng
BẢNG 4- LOẠI HÌNH NHÂN VẬT TRONG
TRUYỆN NGẮN KỲ ẢO CỦA MARQUEZ
NHÂN VẬT
Người Người STT TÁC PHẨM thú, Người tiên/ hồn Xác chết người già ma công cụ
1 Ai đó đã làm rối những X bông hồng
2 Biển của thời đã mất X X X
3 Bà góa Montiel X X X
Blacamăng, người hiền bán 4 X phép tiên
5 Bên kia cái chết X
6 Chết ở Samarra X
Chuyện buồn không thể tin
7 được của Erendira ngây thơ X
và người bà bất lương
Chuyến đi cuối cùng của X 8 con tàu ma
Cụ già với đôi cánh khổng 9 X X X lồ
10 Đám tang của bà mẹ vĩ đại X
11 Dấu máu em trên tuyết X X
12 Đôi mắt chó xanh
13 Gió bắc X X
14 Lần thứ ba an phận X
Nabo, người da đen khiến X X 15 các thiên thần phải đợi
Người chết trôi đẹp nhất 16 X X trần gian
17 Những bóng ma tháng Tám X
Nỗi cay đắng của ba người 18 mộng du
Nữ thần Eva ở ngay trong X 19 con mèo của nàng
20 Quà tết X
21 Thánh Bà X X
Thần chết thường ẩn sau ái X X 22 tình
23 Tôi được thuê để nằm mộng X
BẢNG 5- LOẠI HÌNH KHÔNG GIAN, THỜI GIAN TRONG
TRUYỆN NGẮN KỲ ẢO CỦA MARQUEZ
KHÔNG GIAN THỜI GIAN ST TÁC PHẨM T Làng Biển Phiêu Chu Tuyến Không
dạt kỳ tính -thời
1 Ai đó đã làm rối những X bông hồng
2 Biển của thời đã mất X X X X
3 Bà góa Montiel X X
Blacamăng, người hiền 4 X X bán phép tiên
5 Bên kia cái chết X X
6 Chết ở Samarra X X
Chuyện buồn không thể
tin được của Erendira 7 X X ngây thơ và người bà bất X
lương
Chuyến đi cuối cùng của X X 8 con tàu ma
Cụ già với đôi cánh X 9 khổng lồ
Đám tang của bà mẹ vĩ X 10 đại
11 Dấu máu em trên tuyết X X
12 Đôi mắt chó xanh X
13 Gió bắc X X
14 Lần thứ ba an phận X
Nabo, người da đen
15 X X X khiến các thiên thần phải
đợi
Người chết trôi đẹp nhất X X 16 trần gian
Những bóng ma tháng X 17 Tám
Nỗi cay đắng của ba X X 18 người mộng du
19 Nữ thần Eva ở ngay X X
trong con mèo của nàng
20 Quà tết X X X
21 Thánh Bà X
Thần chết thường ẩn sau 22 X X ái tình
Tôi được thuê để nằm 23 X X mộng
BẢNG 6- BẢN KÊ BIỂU TƯỢNG TRONG
TRUYỆN NGẮN KỲ ẢO MARQUEZ
Nhóm Nhóm Nhóm
biểu biểu biểu STT TÁC PHẨM tượng tượng hoa tượng du
biển hồng tử
1 Ai đó đã làm rối những bông X hồng
2 Biển của thời đã mất X X X
3 Bà góa Montiel
Blacamăng, người hiền bán phép 4 X tiên
5 Bên kia cái chết X
6 Chết ở Samarra
Chuyện buồn không thể tin được
của Erendira ngây thơ và người X X 7
bà bất lương
Chuyến đi cuối cùng của con tàu X 8 ma
9 Cụ già với đôi cánh khổng lồ X X X
10 Đám tang của bà mẹ vĩ đại X
11 Dấu máu em trên tuyết X X
12 Đôi mắt chó xanh X
13 Gió bắc X X
14 Lần thứ ba an phận X
Nabo, người da đen khiến các 15 thiên thần phải đợi
Người chết trôi đẹp nhất trần X X 16 gian
17 Những bóng ma tháng Tám X
Nỗi cay đắng của ba người mộng X 18 du
Nữ thần Eva ở ngay trong con 19 X mèo của nàng
20 Quà tết X
21 Thánh Bà X X
22 Thần chết thường ẩn sau ái tình X
23 Tôi được thuê để nằm mộng X
BẢNG 2.1 LUẬN ĐIỂM VÀ LUẬN CỨ DÂN LÀNG TRI NHẬN XÁC CHẾT
Luận điểm Luận cứ
1. Đàn ông trong cái làng này không lấy gì làm đông
lắm… trong số họ không thiếu một ai
2 ...rong rêu này là thứ chỉ có ở biển Thái Bình Dương và
quần áo của anh rách bươm như thể anh ta đã bơi qua
1. Xác chết này là rừng san hô.
người lạ 3 …anh là người cao nhất, khỏe nhất và dũng cảm
nhất… họ vẫn không thể tin được rằng trong cuộc đời lại
có người đàn ông đẹp đến thế.
4. Họ nghĩ rằng anh là người có mãnh lực đến mức có thể
gọi tên cá, cá hải nhảy lên khỏi biển,…
2. Xác chết này là 1. …một cụ già nhất…, bỗng thở dài nói: Người này có
Esteban khuôn mặt của Esteban
2. … với tấm thân ngoại cỡ ấy anh đã phải chịu bao nỗi
bất hạnh, bất hạnh ngay cho đến khi chết.
3. … những người đàn ông trở về nói rằng: người chết
trôi này không phải là người của các làng lân cận… Đích
thị là người của chúng ta rồi.
4. Ngay tức khắc một bà, vì né giận chẳng được, đã lật
tung cái khăn che mặt người chết và thế là cả đám đàn
ông câm họng im bặt. Đó là Esteban. Bọn đàn ông không
thể nghi ngờ được nữa.
5. Chẳng cần nhìn nhau dân làng cũng biết họ đã thiếu
mất một người
BẢNG 2.2. KHÔNG GIAN PHIÊU DẠT TRONG ĐỐI SÁNH VỚI KHÔNG GIAN QUÊ NHÀ
TRONG 12 TRUYỆN NGẮN PHIÊU DẠT
Mỹ Latin Châu Âu Tác phẩm
Matinich Thụy Sĩ Thưa tổng thống, chúc ngài thượng lộ bình
an
Colombia Ý Thánh Bà
Colombia Pháp- Mỹ Máy bay của người đẹp ngủ
Cuba, Áo, Roma Tôi được thuê để nằm mộng
Colombia
Mexico Tây Ban Nha Tôi chỉ đến để gọi điện thoại
Venezuela Ý Những bóng ma tháng tám
Tây Ban Nha Maria Dos Przeres
Ý Colombia Mười bảy người Anh bị đầu độc
Tây Ban Nha Gió bắc
Ý Mùa hè hạnh phúc của bà Phorbert
Colombia Tây Ban Nha Quà tết
Colombia Pháp Dấu máu em trên tuyết
BẢNG 4.1. ĐIỂM NHÌN TRONG TRUYỆN NGẮN KỲ ẢO MARQUEZ
ĐIỂM NHÌN TÁC PHẨM
Ngôi thứ nhất, nhân vật- người kể Ai đó đã làm rối những bông hồng
chuyện
Ngôi thứ ba Bà góa Montiel
Ngôi thứ nhất, nhân vật- người kể Bên kia cái chết
chuyện
Ngôi thứ ba Biển của thời đã mất
Ngôi thứ nhất, nhân vật- người kể Blacamăng, người hiền bán phép tiên
chuyện
Ngôi thứ ba Chết ở Samarra
Ngôi thứ ba Chuyện buồn không thể tin được của
Erendira ngây thơ và người bà bất
lương
Ngôi thứ nhất, nhân vật- người kể Chuyến đi cuối cùng của con tàu ma
chuyện
Ngôi thứ ba (đa điểm nhìn) Cụ già với đôi cánh khổng lồ
Ngôi thứ ba Đám tang của bà mẹ vĩ đại
Ngôi thứ ba→ ngôi thứ nhất, nhân vật- Dấu máu em trên tuyết
người kể chuyện
Ngôi thứ nhất, tác giả- người kể chuyện Đôi mắt chó xanh
Ngôi thứ nhất, tác giả- người kể chuyện Gió bắc
Ngôi thứ nhất, nhân vật- người kể Lần thứ ba an phận
chuyện
Ngôi thứ ba Nabo, người da đen khiến các thiên
thần phải đợi
Ngôi thứ ba Người chết trôi đẹp nhất trần gian
Ngôi thứ nhất, tác giả- người kể chuyện Những bóng ma tháng Tám
Ngôi thứ nhất số nhiều, tác giả- người Nỗi cay đắng của ba người mộng du
kể chuyện
Ngôi thứ nhất, nhân vật- người kể Nữ thần Eva ở ngay trong con mèo của
chuyện nàng
Ngôi thứ ba Quà tết
Ngôi thứ nhất, tác giả- người kể chuyện Thánh Bà
Ngôi thứ ba Thần chết thường ẩn sau ái tình
Ngôi thứ nhất, tác giả- người kể Tôi được thuê để nằm mộng
chuyện→ nhân vật- người kể chuyện
BẢNG 4.2. NHỮNG SO SÁNH CỰC CẤP TRONG MỘT SỐ
TRUYỆN NGẮN KỲ ẢO CỦA MARQUEZ
Tác phẩm Những lần so sánh nhất mang ý nghĩa cực cấp
Ông đã cưới một cô vợ người Đức thanh lịch sinh cho ông năm
đứa con sống cả nhà vui vầy hạnh phúc và chính ông từng là
người hạnh phúc nhất đời cho đến cách đây ba tháng, người ta Bên kia tình thông báo rằng ông sẽ chết và chắc chắn chết vào kỳ Giáng sinh yêu thường tới. là cái chết Cô con gái thừa hưởng làn da và vóc dáng của mẹ, và do đó
người cha đôi mắt vàng vọt ngỡ ngàng cứ nghĩ rằng mình đang
nuôi nấng người phụ nữ đẹp nhất trần đời.
Những người bất hạnh nhất của cả vùng biển Ca-ri-bê đến đến Ông lão có đây để mong được chữa bệnh: một người đàn bà bị bệnh tim đôi cánh ngay từ thời ấu thơ lúc nào cũng đếm nhịp tim mình và bà ta đã khổng lồ đếm được rất nhiều, tới mức không còn đủ con số cho bà ta
đếm;…
Căn nhà có vô số cửa sổ từ nền đến trần đối diện với mặt nước
Dấu máu em tĩnh lặng - một thứ vật cấm được sùng bái - của Vịnh biển trước
trên tuyết mặt và ngôi nhà đó là một trong những ngôi nhà lớn nhất và
cũng cổ nhất trong quận La Manga, không nghi ngờ gì nữa,
cũng là ngôi nhà xấu xí nhất.
Câu chuyện lan truyền rộng rãi bằng tiếng thổ dân Anhđiêng ở
đây kể rằng: Amađix bố đã cướp người phụ nữ đẹp nhất của một
nhà chứa ở vùng Angtidat bằng cách dùng dao đâm chết một
người đàn ông rồi sau đó mang cô gái về sống ngoài vùng cương
toả tại hoang mạc này… Gã nhìn khuôn mặt đau buồn vì thất Chuyện buồn
vọng, nhìn đôi mắt mêt mỏi vì thức nhiều, nhìn mái tóc đã ngả không thể tin
màu xám chì của người phụ nữ mà dẫu tuổi đã cao và đang ở được của
trong tình huống cực kỳ khó khăn vẫn có thể nói đó là người đàn Erendira và
người bà bất bà đẹp nhất trần gian… Chàng ta đứng đó với con vẹt đuôi dài
lương đậu trên vai, với khẩu súng Etpintơn săn kẻ ăn thịt đồng loại. Ta
cảm thấy hơi thở sặc mùi người chết khi chàng đứng trước mặt
ta và bảo ta: “Anh đã đi khắp thế giới hàng ngàn lần, đã nhìn
thấy tất cả phụ nữ của mọi dân tộc, vì thế anh có quyền để nói
với em rằng: em là cô gái kiêu kỳ nhất đồng thời lại là cô gái
đáng yêu nhất, em là cô gái đẹp nhất trần gian này”
Khi tắm gội cho người chết trôi này, mọi người bỗng nín thở im
lặng vì nhận ra anh thuộc lớp người hiếm có không chỉ anh là
người cao nhất, khoẻ nhất, dũng cảm nhất mà còn ngay khi
ngắm nhìn anh, họ vẫn không tin được trong cuộc đời lại có
người đàn ông đẹp đến thế...
Anh không mặc vừa quần áo của đàn ông làng này dù đó là quần
diện ngày lễ của những người đàn ông cao to nhất, dù đó là sơ
mi diện hằng ngày của những người đàn ông vạm vỡ nhất. Cả
những đôi giày ngoại cỡ đóng đẹp nhất cũng không vừa chân
anh.
Họ nghĩ rằng, nếu con người quý hóa ấy mà sống ở trong cái
làng này thì nhà của anh hẳn phải có cửa rộng, trần cao, sàn
chắc chắn nhất, giường nằm của anh hẳn phải rộng rãi vững
Người chết chắc nhất và người vợ của anh hẳn phải là người phụ nữ hạnh
trôi đẹp nhất phúc nhất.
trần gian Họ khóc anh mãi tới mức anh trở thành người cô đơn nhất thế
gian, trở thành con người hiền lành nhất, con người tận tụy nhất,
Êxtêban đáng thương!
Bọn họ còn muốn buộc thêm cái mỏ neo to vào củ khoai chân
của xác chết để nó chìm hẳn xuống đáy biển, nơi cá phải mù mắt
và những người thợ lặn giỏi nhất cũng không bao giờ lặn tới.
Sự hiện diện của anh là có thực, rất thực đến mức ngay cả
những người đàn ông hay ngờ vực nhất, những người trong
những đêm thanh vắng ở ngoài khơi đang héo ruột héo gan lo ở
nhà vợ mình vì đợi họ no chán vẫn không thấy về, ao ước được
chung chạ với những người chết trôi, chính những con người ấy
và cả những người đàn ông sắt đá nhất cũng đã phải mũi lòng
thật sự trước Êxtêban chân thành.
Rồi đám tang của Êxtêban được cử hành với nghi thức trọng thể
nhất có thể có đối với một cái thây vô chủ.
BẢNG 4.3. MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN MANG YẾU TỐ KỲ ẢO Ở
TÊN TÁC PHẨM
TÊN NGUYÊN BẢN STT TÊN TIẾNG VIỆT
1 Bên kia cái chết La otra costilla de la muerte
2 Blacamăng, người hiền bán phép Blacaman el bueno, vendedor de
tiên milagros
3 Chuyện buồn không thể tin được La increible y triste historia de la
của Erendira ngây thơ và người bà candida Erendira y su abuela
bất lương desalmada
4 Chuyến đi cuối cùng của con tàu El último viaje del buque fantasma
ma
5 Cụ già với đôi cánh khổng lồ Un señor muy viejo con unas alas
enormes
6 Nabo, người da đen khiến các thiên El negro que hizo esperar a los
thần phải đợi angeles
7 Người chết trôi đẹp nhất trần gian El ahogado más hermoso del mundo
8 Những bóng ma tháng Tám Espantos de agosto
9 Nữ thần Eva ở ngay trong con mèo Eva está dentro de su gato
của nàng
10 Thánh Bà La Santa
11 Tôi được thuê để nằm mộng Me alquilo para soñar

