
1
Luận văn
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ VIỆT
NAM VÀO THỊ TRƯỜNG EU

2
Chương 1
Giới thiệu chung về thị trường EU
1.1. Vài nét về quá trình phát triển của Liên minh Châu Âu
1.1.1. Sự hình thành và phát triển của Liên minh Châu Âu
Liên minh Châu Âu (European Union – EU) hiện có 15 nước thành
viên, gồm: Pháp, Đức, Italy, Bỉ, Hà Lan, Lúc Xăm Bua, Anh, Ai Len, Đan
Mạch, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, áo, Thuỵ Điển, Phần Lan. Tổng
diện tích các nước EU là 3,3 triệu km, tổng số dân khoảng 400 triệu người,
tổng GDP khoảng 8.000 tỷ USD. Trụ sở của EU được đặt tại Bruxelles (thủ
đô Bỉ). EU được quản lý bởi một loạt các thể chế chung ( Nghị Viện, Hội
đồng, Uỷ Ban, v.v…).
Bước khởi đầu của quá trình thành lập Liên minh Châu Âu là ngày
18/04/1951, Bỉ, Pháp, Italy, Hà Lan, Lúc Xăm Bua và CHLB Đức (tức Tây
Đức) kí Hiệp ước Paris thành lập Cộng đồng Than Thép Châu Âu (CESC),
nhằm tạo ra một thị trường chung cho than, thép, quặng, sắt. Tiếp đó, ngày
25/07/1957, các nước CESC kí Hiệp ước Roma thành lập Cộng đồng kinh tế
Châu Âu (EEC), nhằm thiết lập một thị trường chung về công – nông
nghiệp, rồi thành lập Cộng đồng Năng lượng Nguyên tử Châu Âu (CEEA)
nhằm kiểm soát và phối hợp việc sử dụng năng lượng và nghiên cứu nguyên
tử. Từ ngày 1/7/1967, các cơ quan điều hành của CESC, EEC, CEEA đã hợp
nhất và được gọi chung là Cộng đồng Châu Âu ( EC ).
Tháng 12/1991, tại Maastrict (Hà Lan), nguyên thủ quốc gia các nước
EC đã quyết định và ngày 7/2/1992 đã kí Hiệp ước Liên minh Châu Âu ,
thường được gọi là Hiệp ước Maastricht, đổi tên EC thành Liên minh Châu
Âu ( EU ). Ngày 10/11/1993, Liên minh Châu Âu chính thức được thành lập.

3
Về Liên minh kinh tế, các nước EU đã tiến hành xoá bỏ kiểm soát
giao lưu vốn trong các nước thành viên, thành lập Viện tiền tệ Châu Âu năm
1945, thành lập Ngân hàng Trung Ương Châu Âu năm 1998, và từ ngày
1/1/1999, đồng euro đã chính thức trở thành đồng tiền chung cho 11 nước
trong 15 nước thuộc EU. Khoảng đầu năm 2002, đồng tiền chung Châu Âu
EURO mới chính thức được đưa vào lưu hành, thay thế cho các đồng tiền
quốc gia các nước thành viên, với ý đồ xoá bỏ vị trí độc tôn của đồng USD
trên thị trường thế giới. Khi Hiệp ước mở rộng EU có hiệu lực (1/5/2004),
EU sẽ trở thành khu vực kinh tế lớn trên thế giới với 25 nước thành viên (10
ứng cử viên mới: Síp, Cộng hoà Séc, Estonia, Hungary, Latvia, Litva,
Manta, Ba Lan, Slovalia, Slovennia), có tổng số dân lên tới gần 500 triệu
người.
1.1.2. Vai trò của EU trên lĩnh vực hoạt động thương mại quốc tế
Sự lớn mạnh về kinh tế qua quá trình nhất thể hoá và những bước tiến
tới một Liên minh Chính trị đã và đang đem lại cho Liên minh Châu Âu một
sức mạnh kinh tế và chính trị to lớn trên thế giới.
Với khoảng 380 triệu người tiêu dùng và tổng giá trị GDP đạt 8.458 tỷ
USD năm 1999, đạt 7.837 tỷ USD vào năm 2000, EU đã tạo ra một thị
trường quan trọng của thế giới, đẩy mạnh thương mại giữa 15 nước thành
viên và phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế. Tuy chỉ chiếm 6% dân số
thế giới nhưng EU đã chiếm tới 1/5 trị giá thương mại toàn cầu. Hiện nay,
EU là khối thương mại mở lớn nhất thế giới và là thành viên chủ chốt của Tổ
chức thương mại thế giới (WTO), chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch
thương mại toàn cầu (gồm cả kim ngạch xuất nhập khẩu)
Bảng: Tỷ lệ thị phần của EU trong mậu dịch thế giới.
(% xuất nhập
khẩu)

4
1980 1985 1990 2000
Xuất khẩu
EU
Mỹ
Châu á - TBD
36,5
11,6
14,5
35,9
11,8
21,2
41,0
11,8
22,2
44,9
9,8
31,9
Nhập khẩu
EU
Mỹ
Châu á - TBD
39,7
13,2
8,0
35,1
19,1
11,6
41,0
15,0
13,7
49,2
10,3
35,1
Nguồn: WB, World Development Repot, 2000
Qua các việc làm thiết thực, EU đã có những đóng góp không nhỏ đối
với việc phát triển thương mại thế giới. Khối lượng thương mại ngày càng
tăng lên đáng kể nhờ vào việc tiếp tục loại bỏ các hàng rào thuế quan và phi
quan thuế.
Kim ngạch xuất nhập khẩu của EU tăng lên hàng năm (năm 1998:
1.463,13 tỷ USD; năm 1999: 1,532,37 tỷ USD; năm 2000: 1.572,51 tỷ
USD).
Kim ngạch nhập khẩu của EU năm 2000 là 757,852 tỷ USD trong đó
59,1% là buôn bán trong nội bộ EU và 40,9% là từ các nước ngoài EU. Giá
trị nhập khẩu vào EU tăng trung bình 4%/năm, trong đó nhập khẩu từ Mỹ và
Trung Quốc chiếm khoảng 50%.
Kim ngạch xuất khẩu của EU năm 2000 đạt 814,658 tỷ USD gồm xuất
khẩu giữa các nước thành viên với nhau chiếm 61,8%, phần còn lại là xuất
khẩu ra bên ngoài.
Từ những số liệu phân tích trên, chúng ta nhận thấy EU chiếm một tỷ
trọng lớn trong thương mại toàn cầu và có vai trò nổi bật trong Tổ chức
Thương mại thế giới, bất kì một sự suy giảm nào của nền kinh tế EU đều ảnh
hưởng xấu đến hoạt động thương mại toàn cầu.
1.2. Đặc điểm của thị trường EU
1.2.1. Tập quán, thị hiếu tiêu dùng và kênh phân phối

5
Tập quán và thị hiếu tiêu dùng
EU gồm 15 thị trường quốc gia, nhưng 15 nước thành viên đều là
những quốc gia nằm trong khu vực Tây và Bắc Âu nên cũng có những điểm
tương đồng về kinh tế và văn hoá. Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của
các nước thành viên khá đồng đều, cho nên người dân thuộc khối EU có sở
thích và thói quen tiêu dùng khá thống nhất như: ưa chuộng hàng có nguồn
gốc tự nhiên, lành mạnh. Mức sống của người dân EU rất cao nên vấn đề là
chất lượng, mẫu mã, chủng loại chứ không phải là giá cả. Người dân EU
chấp nhận giá cao khi hàng đạt yêu cầu thị hiếu và chất lượng theo ý của họ.
Xu hướng tiêu dùng của người dân EU ngày nay đã thay đổi từ hàng bền
trước đây nay sang hàng sử dụng ngắn ngày, không thích sử dụng đồ nhựa
mà thích dùng đồ gỗ, thích ăn thuỷ hải sản hơn ăn thịt, yêu cầu về mẫu mốt
và kiểu dáng hàng hoá là những sản phẩm có chu kì sống ngắn hơn, giá rẻ
hơn và phương thức dịch vụ tốt hơn. Tuy nhiên, người tiêu dùng EU yêu cầu
rất khắt khe về chất lượng và độ an toàn của sản phẩm nói chung, còn riêng
đối với thực phẩm thì chất lượng và vệ sinh là hàng đầu.
Thị trường EU về cơ bản cũng giống như một thị trường quốc gia, do
vậy có 3 nhóm người tiêu dùng khác nhau: (1) Nhóm có khả năng thanh toán
ở mức cao, chiếm gần 20% dân số của EU, dùng hàng có chất lượng tốt nhất
và giá cả cũng đắt nhất hoặc những mặt hàng hiếm và độc đáo; (2) Nhóm có
khả năng thanh toán ở mức trung bình, chiếm 68% dân số của EU, sử dụng
hàng có chất lượng kém hơn một chút so với nhóm 1 và giá cũng rẻ hơn; (3)
Nhóm có khả năng thanh toán ở mức thấp, chiếm hơn 10% dân số của EU,
tiêu dùng những loại hàng hoá có chất lượng và giá cả đều thấp hơn so với
hàng của nhóm 2.. Đối tượng tiêu dùng hàng Việt Nam là nhóm 2 và 3. Các
đối thủ cạnh tranh chính của hàng Việt Nam là hàng Trung Quốc và hàng
của các nước ASEAN khác ( Thái Lan, Indonesia, Malaysia,v.v…).

