
Luận văn
Triển vọng và những giải
pháp nhằm thúc đẩy quan
hệ kinh tế - thương mại
giữa Việt Nam và Trung
Quốc

1
MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu 1
Chương 1: TIỀM NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA MỐI QUAN
HỆ KINH TẾ - THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT
NAM - TRUNG QUỐC
2
I. Tiềm năng của mối quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam
- Trung Quốc
2
1. Về mặt chính trị 2
2. Về mối quan hệ giữa các ngành, các địa phương 3
3. Về việc giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ 3
4. Tiềm năng xuất phát từ hai bên 4
5. Lợi thế so sánh trong trao đổi hàng hóa qua biên giới Việt
Nam - Trung Quốc
7
6. Các hiệp định và thỏa thuận 8
Chương 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ -
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - TRUNG QUỐC
14
I. Quan hệ thương mại 14
1. Những đặc điểm trong quan hệ thương mại Việt Nam -
Trung Quốc
14
2. Cơ sở phát triển thương mại Việt Nam - Trung Quốc 18
3. Diễn biến của trao đổi mậu dịch song phong 19
4. Tình hình buôn bán qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc 21
5. Những kết quả chủ yếu 26
6. Những vấn đề tồn tại
II. Quan hệ đầu tư 30
1. Hạng mục và cơ cấu đầu tư 30
2. Những đặc điểm trong quan hệ đầu tư Việt Nam - Trung Quốc 31
3. Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam 31
4. Viện trợ phát triển 35
III. Đánh giá tổng quát 36
Chương 3: TRIỂN VỌNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
NHẰM THÚC ĐẨY QUAN HỆ KINH TẾ -
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - TRUNG QUỐC
38
I. Triển vọng 38
II. Những giải pháp 39
Kết luận 42

2
LỜI NÓI ĐẦU
Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng núi sông liền một dải,
nhân dân hai nước vốn có tình hữu nghị truyền thống lâu đời, 50 năm trước đây,
ngày 18 tháng 1 năm 1950, Trung Quốc đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt
Nam, là một nước thiết lập quan hệ ngoại giao đầu tiên với Việt Nam. Nửa thế
kỷ qua, trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước của
Việt Nam cũng như trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của mỗi nước,
nhân dân hai nước đã kề vai sát cánh, nhường cơm sẻ áo, chia ngọt sẻ bùi. Đúng
như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Mối tình thắm thiết Việt Hoa, vừa là đồng
chí, vừa là anh em". Sau một thời gian dài gián đoạn từ năm 1991, Việt Nam -
Trung Quốc chính thức bình thường hóa quan hệ, mở cửa biên giới cho nhân
dân và các doanh nghiệp hai nước thông thương. Đồng thời với sự phát triển
quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực đã nảy sinh nhiều vấn đề
buộc chúng ta cần phải nhìn nhận và đánh giá lại một cách đúng đắn hơn trong
tình hình mới.
Chúng tôi đã lựa chọn đề tài này với mục đích xem xét những tiềm năng
có thể khai thác được và vai trò của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đối với nền
kinh tế hai nước, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy triển vọng
của mối quan hệ này. Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài tiểu luận, đề tài chỉ
giới hạn trong phạm vi nghiên cứu mối quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam
- Trung Quốc đặc biệt từ sau khi bình thường hóa quan hệ (1991).
Nội dung của tiểu luận sẽ gồm 3 chương:
Chương 1: Tiềm năng và vai trò của mối quan hệ kinh tế - thương mại
Việt Nam - Trung Quốc.
Chương 2: Thực trạng quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam - Trung
Quốc.
Chương 3: Triển vọng và những giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ kinh
tế - thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc.

3
Chương 1
TIỀM NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA MỐI QUAN HỆ
KINH TẾ - THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
I. TIỀM NĂNG CỦA MỐI QUAN HỆ KINH TẾ - THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT
NAM - TRUNG QUỐC
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng "núi liền núi, sông liền sông".
Do điều kiện địa lý tự nhiên đó và một số nhân tố khác nữa, cho nên
ngay từ trước công nguyên giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có mối quan hệ
lịch sử và chính trị, giao lưu kinh tế và văn hóa với nhau. Cùng với thời gian,
mối quan hệ trên nhiều lĩnh vực đó không ngừng được duy trì củng cố và phát
triển. Chúng ta có thể tìm được không mấy khó khăn những ghi chép trong sử
cũ của cả Trung Quốc lẫn Việt Nam nói về giao lưu kinh tế và văn hóa giữa hai
nước trong thời kỳ cổ trung đại. Đến thời kỳ cận đại, mối quan hệ kinh tế đó
được mở rộng và phát triển thêm một bước. Đặc biệt, từ khi hai nước bình
thường hóa trở lại tháng 11/1991, mối quan hệ đó ngày một có những biểu hiện
tốt đẹp hơn.
Để duy trì và củng cố mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc,
chúng ta phải phân tích để thấy rõ tiềm năng của mối quan hệ này.
1. Về mặt chính trị
Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng nổi bật- đó là: cùng
do Đảng Cộg sản lãnh đạo, đang xây dựng CNXH theo đặc điểm và tình hình
mỗi nước, đều xúc tiến công cuộc cải cách và đổi mới, thực hiện mở cửa với thế
giới. Từ những nét tương đồng đó, hai nước càng có điều kiện trao đổi và học
tập kinh nghiệm lẫn nhau trong xây dựng và phát triển đất nước. Đó là thuận lợi
cơ bản mà hai nước cần phát huy vì lợi ích mỗi dân tộc.
Hơn nữa, trong thời gian gần đây, các cồng chí lãnh đạo cấp cao thường
xuyên thăm viếng lẫn nhau. Tổng bí thư, Chủ tịch nước Giang Trạch Dân, Thủ
tướng Lý Bằng, Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương chính trị Lý Thụy Hoàn, Ủy
viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Kiều
Thạch, đã lần lượt sang thăm Việt Nam. Các đồng chí ủy viên thường vụ Bộ
Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 7, khóa 8
cũng đã sang thăm Trung Quốc. Riêng kế từ năm 1998 đến nay, các đồng chí
lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam như Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, Thủ
tướng Phan Văn Khải, ủy viên thường vụ, thường trực Bộ Chính trị Phan Thế
Duyệt và Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng cũng đã lần lượt sang
thăm Trung Quốc. Về phía Trung Quốc, đồng chí ủy viên thường vụ Bộ Chính
trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào và
thủ tướng Chu Dung Cơ đã sang thăm Việt Nam. Các đồng chí lãnh đạo Đảng
và Nhà nước hai nước đã trao đổi ý kiến một cách sâu rộng về các vấn đề trọng
đại quan hệ song phương và đi đến nhiều nhận thức chung, đã phát huy tác
dụng hết sức to lớn đối với việc tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau,
thúc đẩy sự hợp tác hữu nghị cũng như giải quyết các vấn đề tồn tại giữa hai
nước do lịch sử để lại. Đặc biệt tháng 2 năm 1999 tại Bắc Kinh, Tổng bí thư

4
Giang Trạch Dân và Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã tiến hành cuộc gặp mang tính
chất lịch sử, hai bên công bố "Tuyên bố chung", cùng xác định khuôn khổ về
quan hệ hai Đảng, hai nước bằng 16 chữ vàng là láng giềng hữu nghị, hợp tác
toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, đánh dấu quan hệ Trung - Việt
đã bước sang một giai đoạn phát triển mới.
2. Về mối quan hệ giữa các ngành, các địa phương
Thời gian qua, các đoàn đại biểu Đảng, chính quyền, bộ đội, đoàn thể
nhân dân cũng như các tỉnh, thành phố giữa hai nước đi lại nhộn nhịp, lĩnh vực
hợp tác không ngừng được mở rộng. Hàng năm đều có hơn 100 đoàn chính
thức thăm viếng lẫn nhau. Theo thống kê chưa đầy đủ, riêng năm 1999, hai bên
đã trao đổi 146 đoàn chính thức ở cấp bậc khác nhau, trong đó gần 80 đoàn
thuộc cấp từ thứ trưởng trở lên. Bộ trưởng Quốc phòng hai nước và tổng tham
mưu trưởng, chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và Tổng cục Hậu cần cũng như các
tướng lĩnh lục, hải, không quân của quân đội hai nước đều thăm viếng lẫn nhau.
Sự trao đổi giữa các quân khu vùng biên giới hai nước cũng đã được từng bước
triển khai. Đến nay, bưu chính viễn thông... đã toàn bộ được khai thông. Hai
nước đã ký kết hơn 30 văn kiện hợp tác gồm các lĩnh vực kinh tế thương mại,
khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục, giao thông vận tải, lãnh sự, tư pháp, hải
quan, du lịch... Thủ đô Bắc Kinh đã kết nghĩa với thủ đô Hà Nội. Thành phố
Thượng Hải đã kết nghĩa với thành phố Hồ Chí Minh. Mười mấy tỉnh của Trung
Quốc như: tỉnh Hà Bắc, Giang Tô, Sơn Đông, Tứ Xuyên... và các tỉnh hữu quan
của Việt Nam đã cử đoàn thăm viếng lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm xây dựng
kinh tế và triển khai hợp tác kinh tế với các hình thức khác nhau. Chúng tôi
nghĩa rằng, Trung Quốc và Việt Nam đều đang thực hiện sự chuyển đổi từ kinh
tế kế hoạch sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cải cách
mở cửa của Trung Quốc và đổi mới ở Việt Nam có nhiều nét tương đồng và
tương tự về mục tiêu cũng như về cách là việc bước đi. Việc trao đổi kinh
nghiệm giữa hai nước trong nhiều lĩnh vực là điều rất cần thiết và bổ ích cho cả
hai bên, đã và sẽ góp phần quan trọng vào việc bổ sung cho nhau, cùng nhau
phát triển.
3. Về giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ
Nhờ sự quan tâm đích thân và chỉ đạo trực tiếp của các đồng chí lãnh
đạo cấp cao hai nước, đặc biệt là hai đồng chí Tổng Bí thư của hai Đảng, nhờ sự
cố gắng chung và hợp tác chặt chẽ giữa các chuyên gia hai nước trong vòng 8
năm, ngày 30 tháng 12 năm 1999, trước thềm năm mới và thiên niên kỷ mới,
thay mặt nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, đồng chí Bộ trưởng Ngoại giao Đường Gia Triền và đồng chí
Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã chính thức
Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa hai nước. Đây là một sự kiện lớn có ý
nghĩa lịch sử. Sẽ tạo điều kiện thuận lợi để hai nước cùng nhau xây dựng đường
biên giới vĩnh viễn hòa bình, ổn định và hữu nghị. Thành công của cuộc đàm
phán biên giới trên đất liền đã tăng thêm sự tin cậy giữa hai bên, đồng thời cũng
đã cung cấp những kinh nghiệm bổ ích để hai bên giải quyết các vấn đề tồn tại
khác. Việc hai nước Trung - Việt giải quyết thỏa đáng các tranh chấp về biên

