ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜ NG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
TRẦN THỊ THANH HUỆ
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ GEN MÃ HÓA YẾU TỐ
QUYẾT ĐỊNH KHÁNG NGUYÊN CỦA
XOẮN KHUẨN Leptospira interrogans
GÂY BỆNH LEPTOSPIROSIS TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC ỨNG DỤNG
THÁI NGUYÊN - NĂM 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜ NG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
TRẦN THỊ THANH HUỆ
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ GEN MÃ HÓA YẾU TỐ
QUYẾT ĐỊNH KHÁNG NGUYÊN CỦA
XOẮN KHUẨN Leptospira interrogans
GÂY BỆNH LEPTOSPIROSIS TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
MÃ SỐ: 60.42.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. Võ Thị Bích Thủy
THÁI NGUYÊN, NĂM 2017
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành và sâu sắc nhất của mình tới TS.Võ Thị Bích Thủy phó trưởng phòng Hệ
gen học vi sinh - Viện Nghiên cứu hệ gen - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ
Việt Nam, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn trong quá trình nghiên cứu và
hoàn thành luận văn.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô trong Ban giám hiệu Trường Đại
học Khoa học Thái Nguyên; Ban chủ nhiệm khoa Công nghệ Sinh học - Trường
Đại học Khoa học Thái Nguyên; Quý thầy, cô trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu khoa học.
Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS. TS Nghiêm Ngọc Minh, KS. Phạm
Thùy Linh và các anh chị em, cán bộ phòng Hệ gen học vi sinh - Viện Nghiên
cứu hệ gen - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đã nhiệt tình hướng
dẫn, giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, xin được bày tỏ lòng yêu thương và biết ơn sâu sắc đến gia đình,
đồng nghiệp - những người đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên tác giả trong
quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
Tác giả
Trần Thị Thanh Huệ
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi trực tiếp thực hiện
với sự giúp đỡ của cán bộ, nhân viên phòng Hệ gen học vi sinh - Viện nghiên cứu
hệ gen, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa
học của TS. Võ Thị Bích Thủy. Các tư liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng,
các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Trần Thị Thanh Huệ
i
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT .................................. iii
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................ iv
DANH MỤC HÌNH .......................................................................................... v
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề ...................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 2
3. Nội dung nghiên cứu ..................................................................................... 3
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 4
1.1. Đặc điểm của xoắn khuẩn Leptospira ........................................................ 4
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ............................................................. 6
1.2.1. Tình hình bệnh Leptospirosis .................................................................. 6
1.2.2. Tình hình nghiên cứu vắc xin phòng bệnh Leptospirosis ..................... 10
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước ............................................................. 12
1.3.1. Tình hình bệnh Leptospirosis ................................................................ 12
1.3.2. Tình hình nghiên cứu vắc xin phòng bệnh Leptospirosis ..................... 14
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................ 15
2.1. Vật liệu nghiên cứu .................................................................................. 15
2.2. Hóa chất, thiết bị ...................................................................................... 16
2.2.1. Hóa chất ................................................................................................ 16
2.2.2. Thiết bị ................................................................................................... 17
2.3. Địa điểm nghiên cứu ................................................................................ 17
2.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 18
2.4.1. Phương pháp tách chiết DNA tổng số................................................... 18
ii
2.4.2. Định lượng và kiểm tra độ tinh sạch của DNA tổng số ........................ 19
2.4.3. Thiết kế các cặp mồi của các gen 16S rDNA, OmpL1, LipL32, LipL41, LipL21, LigA, LigB .......................................................................................... 20
2.4.4. Kỹ thuật PCR ......................................................................................... 20
2.4.5. Tinh sạch sản phẩm PCR của gen 16S rDNA ....................................... 21
2.4.6. Giải trình tự gen 16S rDNA của 6 chủng xoắn khuẩn .......................... 22
2.4.7. Phân tích và xây dựng sơ đồ hình cây phân loại 6 chủng Leptospira .. 23
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................ 24
3.1. Phân loại học phân tử 6 chủng Leptospira ............................................... 24
3.1.1. Kiểm tra chất lượng DNA tổng số......................................................... 24
3.1.2. Trình tự các cặp mồi của các gen 16S rDNA, OmpL1, LipL32, LipL41, LipL21, LigA, LigB .......................................................................................... 26
3.1.3. Nhân gen với các cặp mồi của gen 16S rDNA ...................................... 27
3.1.4. Tinh sạch sản phẩm PCR gen 16S rDNA .............................................. 28
3.1.5. Giải trình tự gen 16S rDNA của 6 chủng xoắn khuẩn .......................... 29
3.1.6. Phân tích và xây dựng cây phát sinh chủng loại của 6 chủng xoắn khuẩn ............................................................................................................... 30
3.2. Xác định sự có mặt của các gen LigA, LipL32, LigB, OmpL1, LipL21, LipL41 ............................................................................................................. 34
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................................. 41
1. Kết luận ....................................................................................................... 41
2. Đề nghị ........................................................................................................ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 1
PHỤ LỤC
iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Base pair bp
Nước khử ion dH2O
Deoxyribonucleic acid DNA
deoxyribonucleotide triphosphates dNTPs
Ethylene Diamine Tetraacetace Axit EDTA
Ellinghausen - McCullough-Johnson-Harris EMJH
Ethidium Bromide EtBr
Forward Primer : Mồi xuôi F-
Reverse Primer: Mồi ngược R-
Kilobase Kb
Leptospira L.
MLST Multilocus Sequence Typing
Protein ngoài màng (outer membrane protein) OMP
Polymerase Chain Reaction PCR
Ribonucleic acid RNA
Sodium Dodecyl Sulfate SDS
Tris-acetate-EDTA TAE
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng Tên bảng Trang
2.1 Danh mục các thiết bị đã sử dụng 17
2.2 Thành phần phản ứng nhân gen 21
Giá trị mật độ quang phổ hấp thụ ở bước sóng 260nm 3.1 25 và 280nm của 6 chủng Leptospira
3.2 Trình tự cặp mồi dùng để nhân các đoạn gen 27
Các loài Leptospira quốc tế tham khảo từ cơ sở dữ 3.3 30 liệu GenBank
v
DANH MỤC HÌNH
Tên hình Trang Hình
1 Leptospira interrogans 4
2 Chu kì nhiệt của phản ứng PCR nhân gen 21
3.1 Hình ảnh điện di DNA tổng số của 6 chủng Leptospira 24
3.2 Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen mã hóa rRNA 16S 28
Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen mã hóa rRNA 16S 3.3 29 tinh sạch
3.4 Hình ảnh cây phát sinh chủng loại của 6 chủng xoắn khuẩn 32
3.5.a Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen LigA 35
3.5.b Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen LipL32 35
3.5.c Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen LigB 36
3.5.d Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen OmpL1 36
3.5.e Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen LipL21 37
3.5.f Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen LipL41 37
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Bệnh Leptospirosis (bệnh Xoắn khuẩn) là một trong những bệnh truyền
nhiễm cấp tính, lan truyền từ động vật sang người phổ biến trên thế giới, được
Tổ chức Sức khỏe động vật Thế giới (World Organisation for Animal Health-
OIE) xếp vị trí thứ 2 trong nhóm bệnh nguy hiểm và được bổ sung vào nhóm
bệnh nghề nghiệp ở Việt Nam. Nguyên nhân gây ra bởi một loại xoắn khuẩn
Leptospira interrogans.
Leptospira interrogans là loài gây bệnh thường kí sinh ở người và động
vật, bao gồm hơn 200 typ, được chia thành 23 nhóm (trong đó Leptospira
interrogans serovar Icterohaemorrhagiae thường gặp nhất). Xoắn khuẩn này có
khả năng gây bệnh trên động vật và có thể lây sang người. Bệnh do xoắn khuẩn
gây ra còn gọi là bệnh vàng da, nó gây ảnh hưởng đến các cơ quan và có thể
gây sẩy thai ở thú nuôi. Bệnh xoắn khuẩn lây nhiễm sang người qua niêm mạc,
da, mắt hoặc các màng nhầy tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với nước tiểu hoặc
mẫu mô động vật mắc bệnh. Bệnh phát triển ở khắp mọi nơi trên thế giới, gây
thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của
con người. Do tính đa dạng về triệu chứng nên bệnh Leptospirosis khó chẩn
đoán và tỷ lệ tử vong cao. Việc điều trị bệnh này rất khó khăn nên đòi hỏi những
biện pháp phòng ngừa bệnh có hiệu quả cao.Vì vậy, việc sản xuất vắc xin phòng
bệnh do xoắn khuẩn Leptospira là một yêu cầu cấp thiết.
Trong quá trình nghiên cứu ứng dụng, các nhà khoa học đang tập trung
vào các loại vắc xin có khả năng phòng chống dịch bệnh mang tính dịch tễ
vùng, an toàn, mức độ bảo hộ cao và lâu dài, giá thành hạ, đảm bảo sức khỏe
cộng đồng và động vật. Đặc biệt quan tâm với loại vắc xin nhược độc được
thiết kế dựa trên cơ sở trình tự gen và các yếu tố độc lực của các tác nhân gây
bệnh để tối ưu hóa mức độ an toàn của các loại vắc xin. Đây là một bước đột
2
phá thực sự, ứng dụng công nghệ di truyền trong chế tạo vắc xin nói chung và
vắc xin Leptospirosis nói riêng.
Thực tế, nhiều protein ngoài màng của xoắn khuẩn Leptospira đã được
tìm thấy và sử dụng trong công nghệ chế tạo vắc xin tái tổ hợp. Quá trình tách
chiết, tái tổ hợp và tinh sạch các protein này đơn giản, hơn nữa protein tái tổ
hợp có giá trị tương tự như kháng nguyên trong xét nghiệm miễn dịch để phát
hiện xoắn khuẩn Leptospira. Kết quả thực nghiệm cho thấy vắc xin tái tổ hợp
phòng bệnh xoắn khuẩn có miễn dịch cao hơn so với các loại vắc xin thông
thường. Do đó, những nghiên cứu về các gen quyết định kháng nguyên tiềm
năng, công thức tối ưu, tá dược, liều lượng và liệu trình để phát triển các loại
vắc xin phòng bệnh xoắn khuẩn đạt hiệu quả cao, an toàn cho người và động
vật sử dụng là rất cần thiết. Việc cải thiện chất lượng vắc xin tái tổ hợp DNA
và vắc xin protein thực sự quan trọng đối với các ứng dụng thực tế. Hơn nữa,
việc nghiên cứu các protein màng sẽ đóng góp vào cơ sở dữ liệu di truyền học,
có ý nghĩa thiết thực đối với các nhà khoa học và sản xuất liên quan đến vắc
xin phòng bệnh do xoắn khuẩn Leptospira.
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Xác định
một số gen mã hóa yếu tố quyết định kháng nguyên của xoắn khuẩn
Leptospira interrogans gây bệnh Leptospirosis tại Việt Nam” nhằm tạo cơ
sở cho việc nghiên cứu, sản xuất vắc xin tái tổ hợp phòng bệnh do xoắn khuẩn
Leptospira interrogans tại Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Định danh được 6 chủng xoắn khuẩn Leptospira interrogans gây bệnh
Leptospirosis, đang sử dụng chế vắc xin vô hoạt ở Việt Nam.
- Xác định được một số gen quyết định kháng nguyên tiềm năng, có giá
trị ứng dụng trong chế vắc xin tái tổ hợp chống lại bệnh gây ra do xoắn khuẩn
Leptospira interrogans tại Việt Nam.
3
3. Nội dung nghiên cứu
- Giải trình tự gen 16S rDNA và xây dựng sơ đồ phân loại hình cây của 6
chủng xoắn khuẩn Leptospira gây bệnh Leptospirosis, đang sử dụng chế vắc
xin vô hoạt ở Việt Nam.
- Xác định sự có mặt của một số gen mã hóa kháng nguyên trên 6 chủng
xoắn khuẩn Leptospira gây bệnh Leptospirosis, đang sử dụng chế vắc xin vô
hoạt ở Việt Nam.
4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc điểm của xoắn khuẩn Leptospira
Đặc điểm sinh vật học: Xoắn khuẩn Leptospira có hình thể rất mảnh,
đường kính 0,1- 0,2μm, dài 5- 25μm. Quan sát dưới kính hiển vi nền đen thấy
vi khuẩn di động mạnh. Thường nhuộm theo phương pháp nhuộm thấm bạc
Fontana -Tribondeau mới phát hiện được vi khuẩn, khi đó vi khuẩn nhìn thấy
mảnh như sợi tóc, hai đầu cong như móc câu và 2 tiêm mao quanh bào chất để
Leptospira có thể chui sâu vào mô vật chủ. Dưới kính hiển vi điện tử phóng đại
khoảng x 10.000 lần mới thấy các vòng xoắn nhỏ (15 - 30 vòng), sát nhau như
một sợi chỉ lóng lánh bạc, di động nhanh theo kiểu xoáy và bật thẳng như lò
xo. Xoắn khuẩn có khả năng xuyên qua da và niêm mạc, nhất là da bị xây xước.
Bắt màu Gram âm, ưa khí, mọc chậm ở các môi trường nuôi cấy, pH thích hợp
7,2-7,5; không thể phát triển trong điều kiện axít; nhiệt độ 28-300C (nhưng cũng
có thể nuôi cấy ở nhiệt độ tối đa là 390C và nhiệt độ tối thiểu là 13 - 150C)
(http://toquoc.vn/thu-y/benh-xoan-khuan-o-gia-suc-206301.html)
Hình 1. Xoắn khuẩn Leptospira interrogans
(http://benh.vn/truyen-Nhiem/Benh-do-xoan-khuan-
Leptospira/35/4081/12-11-2013.htm)
5
Khi nuôi cấy trên môi trường thạch máu hoặc các môi trường thông
thường, nếu không bổ sung 5 - 10% huyết thanh thỏ, xoắn khuẩn không mọc
được. Ngoài ra, giống như các loài vi khuẩn khác, xoắn khuẩn cũng cần sắt để
phát triển. Hiện nay có nhiều loại môi trường bổ sung albumin huyết thanh bò
(bovine serum albumin - BSA) dùng để nuôi cấy, phân lập xoắn khuẩn, ví dụ
môi trường thạch bán cố thể (0,1 - 0,2 thạch) có BSA + Tween 80 (môi trường
EMJH - Ellinghausen McCullough - Johnson - Harris) hoặc môi trường có BSA
+ hỗn hợp Tween 80 và Tween 40. Để hạn chế tạp nhiễm cho thêm vào môi
trường các chất như 5 - fluorouracil, fosfomycin hoặc hỗn hợp gồm rifamycin,
polymycin, neomycin, 5 - fluorouracil, bacitracin và actidione; tuy nhiên các
loại môi trường này có thể gây khó khăn trong việc phân lập xoắn khuẩn nếu
số lượng xoắn khuẩn ít hoặc một số chủng xoắn khuẩn không mọc được trong
môi trường có nhiều kháng sinh. Có thể quan sát rõ các chủng xoắn khuẩn gây
bệnh mọc sau khi nuôi cấy 5 - 7 ngày; trong khi đó các loài sống hoại sinh có
thể mọc trong vòng 2 - 3 ngày. Thời gian nuôi cấy tùy thuộc vào thời gian mọc
khác nhau của các serovar Leptospira, ví dụ L. interrogans serovar Pomona và
L. interrogans serovar Grippotyphosa cho kết quả sau 7 - 10 ngày nuôi cấy
nhưng các chủng khác như L. interrogans serovar Hardjo và L. interrogans
serovar Bratislava có thể lâu hơn, lâu nhất sau 26 tuần.
Xoắn khuẩn Leptospira có sức đề kháng yếu nhưng còn cao hơn so với
các loại xoắn khuẩn khác, bị diệt ở nhiệt độ 500C/10 phút. Ánh sáng và các
thuốc khử trùng thông thường như phenol, nước javen dễ diệt được Leptospira.
Tuy vậy, xoắn khuẩn Leptospira chịu được lạnh và sống được lâu ở nước tới 3
tuần; sống dai dẳng trong bùn lầy, nước đọng với pH bazơ (pH=7,7), tốt nhất
là nước cống, rãnh, ruộng đồng, khe suối.
( http://vinafeed.com.vn/vn/benh-xoan-khuan-o-gia-suc.html)
6
Về phân loại thì xoắn khuẩn Leptospira thuộc giới Monera, ngành
Spirochaetes, họ Leptospiraceae, giống Leptospira. Người ta phân ra thành các
loài gây bệnh, loài không gây bệnh và loài trung gian. Dựa vào cấu trúc kháng
nguyên mà phân loại thì Leptospira được chia ra làm 23 nhóm, bao gồm 230
typ huyết thanh; mỗi typ huyết thanh có các kháng nguyên đặc hiệu. Một typ
huyết thanh có thể gây nhiều bệnh cảnh khác nhau. Ngược lại, một bệnh cảnh
lâm sàng có thể do bất kỳ typ nào trong nhóm gây bệnh tạo nên. Các typ huyết
thanh có nhiều yếu tố kháng nguyên trùng chéo, gây khó khăn cho chẩn đoán.
Có ít nhất 5 typ huyết thanh có tầm quan trọng tại Mỹ và Canada, tất cả đều
gây bệnh ở chó (với các thuật ngữ Icterohaemorrhagiae, Canicola, Pomona,
Grippotyphosa và Bratislava). Ở Việt Nam thường gặp 12 typ huyết thanh sau:
L. interrogans serovar Australis, L. interrogans serovar Canicola, L.
interrogans serovar Autumnalis, L. interrogans serovar Grippotyphosa, L.
interrogans serovar Bataviae, L. interrogans serovar Hebdomalis, L.
interrogans serovar Icterohaemorrhagiae, L. interrogans serovar Ponoma, L.
interrogans serovar Mitis, L. interrogans serovar Saxkoebing 6, L. interrogans
serovar Poi, L. interrogans serovar Sejroe.Trong đó, 6 typ gây bệnh đang sử
dụng làm vắc xin vô hoạt ở Việt Nam là: L. interrogans serovar Pomona, L.
interrogans serovar Canicola, L. interrogans serovar Mitis, L. interrogans
serovar Icterohaemorrhagiae, L. interrogans serovar Bataviae và L. interrogans
serovar Grippotyphosa.
(http://www.impe-qn.org.vn/impe-
qn/vn/portal/InfoDetail.jsp?area=58&cat=1066&ID=2240)
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1. Tình hình bệnh Leptospirosis
Bệnh do xoắn khuẩn Leptospira interrogans gây ra, được phát hiện đầu
tiên vào năm 1850 trên chó tại Stuttgart (Đức). Khi đó, bệnh được gọi là bệnh
7
vàng da truyền nhiễm. Năm 1886, Adolf Weil ở Heidelberg (Đức) đã mô tả dấu
hiệu lâm sàng của bệnh này là sốt phát ban, sưng mật, đặc biệt bệnh xuất hiện
đột ngột kèm theo lách to, vàng da và viêm thận. Đến đầu thế kỷ 20, những
thuật ngữ được sử dụng để mô tả bệnh Leptospirosis bao gồm sốt xuất huyết
Java, sốt bảy ngày, sốt mùa thu, bệnh Akiyama và sốt đầm lầy [9].
Năm 1915, Inada và cộng sự đã xác định Leptospira interrogans serovar
Icterohaemorrhagiae là tác nhân gây bệnh Weil ở Nhật Bản [32] và cũng được
Hiibener và Reiter xác nhận tại Đức [31]. Inada và cộng sự (1918) đã phát hiện
serovar L. interrogans serovar Hebdomadis gây sốt 7 ngày ở Nhật Bản [33].
Những nghiên cứu tiếp theo đã tìm thấy hàng loạt các serovars khác nhau của
Leptospira như L. interrogans serovar Pyrogenes (1923), L. interrogans
serovar Bataviae (1926), L. interrogans serovar Grippotyphosa (1928) [12].
Đến nay, người ta đã phát hiện ra hơn 230 serovars khác nhau của Leptospira
interrogans ở khắp nơi trên thế giới [60].
Bệnh Leptospirosis lây nhiễm sang người qua niêm mạc, da, mắt hoặc các
màng nhầy tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với nước tiểu hoặc mẫu mô động vật
mắc bệnh. Các triệu chứng thường gặp của bệnh Leptospirosis là cơ bắp chân
đau, sốt cao đột ngột, rét run, sốt liên tục hoặc kèm theo mạch nhanh, huyết áp
dao động, mệt nhiều, đau đầu, nhức mắt, buồn nôn và nôn, trường hợp nặng có
biểu hiện li bì, vật vã, mê sảng. Sau khi qua da và niêm mạc, xoắn khuẩn
Leptospira vào máu, gây nhiễm khuẩn huyết, giai đoạn khởi phát này kéo dài
khoảng 5-7 ngày. Sau đó, xoắn khuẩn khu trú và gây bệnh ở gan, thận, màng
não, tim, phổi, thượng thận. Bệnh nhân có triệu chứng vàng da do độc tố xoắn
khuẩn hủy diệt hồng cầu và gây viêm tổ chức trung diệp ở gan. Gan to ra, xung
huyết, xuất huyết vi thể, các bè gan đảo lộn, có thể có ổ hoại tử và xuất huyết
rải rác (có thể nhầm lẫn áp xe gan). Xoắn khuẩn cũng gây tổn thương ống thận,
dẫn đến thiểu niệu và vô niệu, tăng urê và creatinin máu - nguyên nhân chính
làm bệnh nhân tử vong. Thận bệnh nhân to ra, đôi khi có xuất huyết, các tế bào
8
phình lên và hoại tử, gây bít tắc, khe thận bị phù và xâm nhiễm tế bào đơn nhân
(dễ bị chẩn đoán nhầm với viêm gan virus, sốt xuất huyết dengue hoặc nhiễm
khuẩn huyết). Leptospira trong giai đoạn hoại huyết có thể đến cơ quan sinh
dục gây rối loạn sinh sản.Về mức độ nguy hiểm của nhiễm xoắn khuẩn
Leptospira, tuy ít ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của người bệnh, song gây
ra các tổn thương ở nhiều cơ quan, trong đó đáng chú ý đến triệu chứng hoại tử
cơ, hoại tử ống thận cấp có thể gây suy thận cấp, tổn thương các mô, gan, viêm
và xuất huyết khu trú ở tim, phổi; gây tổn thương (không nguy hiểm lắm) ở não
và màng não. Đặc biệt trên cơ địa phụ nữ mang thai thì khi nhiễm xoắn khuẩn
Leptospira có thể gây ra sẩy thai [4].
Theo các chuyên gia nghiên cứu về Leptospira thì bệnh này có ở mọi nơi
trên thế giới, nhiều nhất ở Châu Phi, Nam Mỹ, Châu Á, gây thiệt hại đáng kể
cho ngành chăn nuôi và ảnh đến sức khỏe con người ở nhiều quốc gia, đặc biệt
là các nước vùng nhiệt đới [8], [9], [62].
Một số gia súc nhiễm Leptospira nhưng không thể hiện triệu chứng lâm
sàng và đây là nguồn truyền lây mầm bệnh. Một số loài gặm nhấm như chuột
là loài vật trung gian mang trùng nguy hiểm nhất [40]. Mặc dù, các loài chuột
là vật chủ chính quan trọng nhưng cũng có nhiều loại động vật có vú khác bao
gồm chó, hươu, nai, thỏ, nhím, bò, cừu, gấu trúc, thú có túi, chồn và một số
động vật có vú ở biển có thể mang và truyền bệnh như là vật chủ phụ. Ở châu
Phi, mèo Banded Mongooses đã được xác định là ổ chứa mang mầm bệnh,
ngoài ra còn có một số vật chủ hoang dã khác ở châu Phi cũng có khả năng
mang mầm bệnh. Chó có thể liếm nước tiểu của động vật bị nhiễm bệnh thải ra
cỏ hoặc đất hoặc uống nước bị nhiễm bệnh. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng
loài “chó nhà” nhiễm Leptospirosis do thói quen liếm nước tiểu của chuột bị
nhiễm bệnh đi vào nhà. Tuy không lây lan mạnh và làm chết nhiều chó như
dịch Carre, Parvo, nhưng nếu mắc nhiễm sẽ bị viêm gan, báng bụng, vàng da,
9
rối loạn toàn thân và tử vong. Nguy cơ lây bệnh Leptospirosis cho người rất
cao qua tiếp xúc với nước tiểu từ những con vật bị bệnh [61].
Tỷ lệ mắc bệnh Leptospirosis hàng năm là khác nhau từ 0,02/100.000 dân
ở các quốc gia vùng khí hậu ôn đới và 100/100.000 dân ở vùng khí hậu nhiệt
đới. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính hàng năm trên thế giới có từ
7 đến 10 triệu người nhiễm xoắn khuẩn vàng da. Do tính đa dạng của các triệu
chứng, bệnh do xoắn khuẩn Leptospira khó chẩn đoán nên tỉ lệ tử vong tại một
số vùng có thể lên đến 20%-25% [44]. Ở các nước đang phát triển, những người
mắc bệnh chủ yếu là nông dân và người nghèo ở các thành phố. Ở các nước
phát triển, những người thường phải làm việc ngoài trời ở những nơi ấm và ẩm
thấp thường có nguy cơ nhiễm bệnh [7]. Người mắc bệnh ngẫu nhiên chứ không
phải là nguồn bệnh. Tuy nhiên một số tác giả cho rằng, có sự lây truyền từ
người sang người do thải xoắn khuẩn qua đường nước tiểu của người bệnh hoặc
lây qua đường tiêu hóa: qua thức ăn, nước uống không đun sôi, nấu chín, bị ô
nhiễm. Cá biệt, bệnh có thể lây qua đường hô hấp do hít phải các giọt nước
nhiễm khuẩn ở dạng khí dung.
Xoắn khuẩn Leptospira rất khó tiêu diệt vì nó đa dạng về nguồn nhiễm,
như động vật ở ao hồ, động vật hoang dã và đặc biệt là động vật nuôi trong gia
đình, đồng thời xoắn khuẩn Leptospira có thể tồn tại rất lâu trong môi trường
tự nhiên. Hơn nữa, bệnh này càng khó kiểm soát ở những nước nông nghiệp
phát triển (do có đàn gia súc đông) và tình trạng vệ sinh môi trường kém (tạo
điều kiện mầm bệnh phát triển) [65]. Bệnh xoắn khuẩn có thể lây sang người
qua tiếp xúc với thú bệnh khi da, niêm mạc bị trầy xướt hay da nguyên lành
nhưng bị ngâm nước lâu làm giãn nở các lỗ chân lông, xoắn khuẩn có thể chui
qua da và gây bệnh. Sự truyền lây còn xảy ra do sự vấy nhiễm của động vật
nhiễm bệnh với các nguồn nước, thực phẩm hay ngay cả chỗ nằm ô nhiễm, chó
tiếp xúc với môi trường bị vấy nhiễm này cũng lây bệnh. Nước tù đọng hay
chảy chậm là môi trường sống thích hợp cho xoắn khuẩn Leptospira tồn tại lâu.
10
Có thể chẩn đoán bệnh bằng cách tìm kháng thể chống lại vi khuẩn hoặc
tìm DNA của vi khuẩn trong máu hay nước tiểu bệnh nhân, động vật mang
mầm bệnh [35]. Chẩn đoán huyết thanh học là phương pháp phổ biến được sử
dụng để chẩn đoán bệnh do xoắn khuẩn gây ra. Các phương pháp chẩn đoán
khác như sử dụng kính hiển vi tụ quang nền đen, phản ứng miễn dịch huỳnh
quang, PCR, phương pháp nuôi cấy, chẩn đoán biến đổi vi thể cũng được sử
dụng. Tuy nhiên, kỹ thuật PCR dùng để phát hiện chuỗi DNA của Leptospira
chỉ thực hiện ở các trung tâm lớn. Có nhiều cặp mồi (primer) khác nhau đã
được thiết lập, trong đó một số đặc hiệu ở mức giống Leptospira nhưng một số
loại đặc hiệu ở mức serovar.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu vắc xin phòng bệnh Leptospirosis
Các nỗ lực phòng bệnh bao gồm trang bị bảo vệ để không tiếp xúc với
động vật có nguy cơ nhiễm bệnh, vệ sinh sạch sẽ sau khi tiếp xúc và tiêu diệt
các loài gặm nhấm ở những khu dân cư [52]. Việc sử dụng kháng sinh để ngừa
bệnh không đem lại hiệu quả rõ ràng [7]. Một số vắc xin dùng cho động vật để
phòng vài loại xoắn khuẩn vàng da có thể làm giảm nguy cơ lây lan sang người.
Từ lâu, các nhà khoa học đã mong muốn tìm được một loại vắc xin hiệu quả để
ngăn ngừa bệnh do xoắn khuẩn Leptospira thông qua tiêm chủng cho người và
động vật có nguy cơ lây nhiễm cao. Qua nhiều thập kỷ nghiên cứu với chi phí
hàng triệu đô la, các nhà khoa học đã tìm được một số loại vắc xin phòng bệnh
Leptospirosis. Tuy nhiên cho đến nay, các loại vắc xin để phòng bệnh này vẫn
còn hạn chế và chưa đạt hiệu quả cao trong ứng dụng lâm sàng [64].
Một số loại vắc xin phòng bệnh Leptospirosis như: vắc xin sống [41], [15],
vắc xin lipopolysaccharide (LPS) [22], [54], vắc xin lipoprotein [16] [37], [58],
vắc xin protein màng ngoài (OMPs), [25], [46] và vắc xin các yếu tố độc lực
tiềm năng [55], [68]. Hiện nay, ở một số nước như Nhật Bản, Cuba và Trung
Quốc đã có vắc xin phòng chống bệnh Leptospirosis cho người tuy nhiên chưa
11
được cấp phép sử dụng rộng rãi do cần phải tiếp tục nghiên cứu về độ an toàn
của vắc xin này. Vắc xin áp dụng ở động vật chỉ có một vài chủng.
Vắc xin protein tái tổ hợp là loại vắc xin có tiềm năng lớn trong phòng
bệnh do xoắn khuẩn Leptospira. Vắc xin protein tái tổ hợp được xây dựng với
phương pháp công nghệ sinh học hiện đại [49], [58], [59] nhưng trong đó vắc
xin OMPs tái tổ hợp, vắc xin lipoprotein và vắc xin các yếu tố độc lực tái tổ
hợp được quan tâm hơn cả. Những đặc trưng bảo vệ của vắc xin tái tổ hợp đã
được kiểm nghiệm, bao gồm: OmpL1, LipL41 [18], [29], hemolysis-associated
protein 1 (Hap1) [14], và protein miễn dịch (Lig) [48]. Năm 1993, lần đầu tiên
OmpL1 được báo cáo [27]. Sáu năm sau đó, nghiên cứu trên chuột mô hình đã
chứng minh tác dụng gây miễn dịch của 2 loại vắc xin OmpL1 và LipL41 [29].
Vào năm 2002, LigA được mô tả như một globulin miễn dịch giống protein
[48], sau đó các phản ứng miễn dịch của protein LigA, LigB cũng được xác
nhận [37], [49], [59]. Hơn nữa, gen Lig đã được chứng minh là hữu ích trong
việc phát hiện bệnh xoắn khuẩn [47]. Một số protein ngoài màng khác như
LAg42, Loa22 [36], Lk73.5 [10] cũng được công nhận là nguyên liệu trong
việc tạo vắc xin phòng bệnh do xoắn khuẩn Leptospira, tuy nhiên chúng vẫn
chưa được tiến hành thử nghiệm trong các mô hình động vật để phát triển thành
vắc xin.
Lipoprotein là protein quan trọng trong Leptospira, những protein có
nhiều ở màng ngoài và chúng được gắn thông qua các axit béo. Mặc dù khó
khăn trong việc sản xuất lipoprotein do hệ thống biểu hiện dị hợp, nhưng một
số loại lipoprotein như LipL41 [26], LipL32 [28], LipL45 [43] và LipL21 [17]
đã được khẳng định là nguồn nguyên liệu thích hợp cho việc tạo ra vắc xin
lipoprotein tái tổ hợp. Ngoài ra, glucoproteins (GPLs) cũng được dự đoán là
một trong những gen tiềm năng, do khả năng sản xuất ra các yếu tố hoại tử khối
u, interleukin-10 và CD69 [21]. Loại GPLs này xuất hiện trong cả chủng gây
bệnh L. interrogans hoặc chủng không gây bệnh L. biflexa. Trong một vài công
12
trình nghiên cứu trước đây đã có báo cáo về yếu tố độc lực của Leptospira, bao
gồm FlaA, FlaB [52], Hsp58 [51], SphH [38], [39] và ChpK [53] đều có thể
được coi là nguồn nguyên liệu để sản xuất vắc xin phòng bệnh Leptospirosis.
Gen mã hóa yếu tố độc lực FlaB (gen flab) có thể được khuếch đại từ hệ gen
DNA của nhiều chủng. Tuy nhiên, một số kết quả nghiên cứu đã chỉ ra hàng
loạt các protein ngoài màng (LAg42, Loa22, Lk73.5), lipoprotein (LipL32,
LipL45, LipL21 và GLP) và các yếu tố độc lực mới được phát hiện (Hsp58,
flaA, Flab, SphH và ChpK) có thể giúp chúng ta tìm thấy vắc xin phù hợp hơn
[44], [50], [67]. Bởi vì hệ gen của L. interrogans chủng Icterohaemorrhagiae
Lai [55] và L. interrogans chủng Copenhageni [45] có biểu hiện dị hợp của
OMPs, điều này mở ra một tiềm năng mới cho việc phát triển vắc xin [70].
Do vậy, vắc xin phòng bệnh xoắn khuẩn nói riêng cũng như các loại vắc xin
khác nói chung đã, đang và sẽ được nghiên cứu xa hơn để tạo một bức tường
bảo vệ con người và động vật khỏi những tác nhân gây bệnh.
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.3.1. Tình hình bệnh Leptospirosis
Tại Việt Nam, bệnh được Ragiot và Souchard phát hiện lần đầu tiên trên
người năm 1931. Tiếp đó, dịch bệnh bùng phát ở Lai Châu (1964) gây thiệt hại
nhiều gia súc và nhiễm cho cả người [3]. Bệnh Leptospirosis trên gia súc được
nghiên cứu từ rất sớm (1968-1978), đã có nhiều tác giả nghiên cứu về bệnh,
như Đào Trọng Đạt (1966), Lê Đại (1972), Phạm Quân (1976), Vũ Đình Hưng
(1979), Nguyễn Thị Nhân (1999) và gần đây là Vũ Đạt, Lê Huỳnh Thanh
Phương (2001). Các tác giả đã tập trung nghiên cứu tình hình nhiễm Leptospira
ở một số loài gia súc, trong đó có bệnh xảy ra ở lợn. Theo một số tác giả, các
loại gia súc và người chăn nuôi nhiễm xoắn khuẩn Leptospira với tỷ lệ 21 -
56%. Các serovar Leptospira interrogans thường gặp ở gia súc là
Grippotyphosa, Australis, Icterohaemorrhagiae, Pomona, Hebdomadis [5].
13
Nguồn lây là các súc vật mang xoắn khuẩn Leptospira và nước tiểu của
chúng. Xoắn khuẩn Leptospira bài tiết từ cơ thể gia súc ra bên ngoài cùng với
nước tiểu làm ô nhiễm môi trường xung quanh, trong đó có nguồn nước. Trong
nước, xoắn khuẩn Leptospira không chỉ tồn tại mà còn sinh sản và giữ nguyên
đặc tính gây bệnh. Ổ chứa mầm bệnh thường là các loài gặm nhấm (chuột),
chúng luôn đào thải xoắn khuẩn Leptospira hoặc gia súc (trâu, bò, ngựa…). Ở
nước ta, bệnh hay gặp ở những người làm việc trong rừng và gần rừng như bộ
đội (biên giới), công nhân địa chất, lâm nghiệp, hầm mỏ, công nhân chăn nuôi
và nông dân qua da bị xây xát, qua vết thương hoặc qua niêm mạc do tiếp xúc
trực tiếp hay gián tiếp với nguồn lây.
Bệnh xoắn khuẩn vàng da cũng lưu hành rộng rãi ở nông thôn, thành thị,
miền núi, đồng bằng, ven biển... Các vùng sinh thái khác nhau có tỷ lệ nhiễm
Leptospira khác nhau và dao động từ 19,45% đến 31,31%. Khoảng 20 năm
trước đây, nhiều nơi có dịch xoắn khuẩn vàng da ở súc vật nuôi, nhất là lợn
trong các trại chăn nuôi và lây sang người. Trong những năm gần đây, nguy cơ
bùng phát dịch bệnh nhiễm xoắn khuẩn Leptospira có chiều hướng ngày càng
gia tăng do tình hình vệ sinh môi trường thấp kém, úng ngập thường xuyên,
kéo dài và hệ thống kiểm soát bệnh gia súc còn yếu kém. Bệnh gây thiệt hại
nặng về kinh tế, đặc biệt ở những đàn gia súc sinh sản. Trên các đàn sinh sản,
bệnh là nguyên nhân gây giảm khả năng sinh sản, sẩy thai; lợn con sau khi sinh
ra chậm lớn, còi cọc.
Ở người, theo bác sĩ Lê Công Tảo, Phó trưởng khoa Sốt rét, Ký sinh trùng
động vật (Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội) cho biết, Leptospirosis vốn được
coi là bệnh ở các vùng núi, đầm lầy, nông thôn, nhưng hiện nay đã tràn xuống
vùng địa hình dân cư đông đúc, nghèo nàn tại các thành phố lớn [4]. Mỗi năm
ở Hà Nội có 10 - 15 người mắc. Từ tháng 4/1999 đến 12/2002, tại thành phố có
28 ổ dịch trên người. Tại các khu dân cư, bến xe, bến tàu (nơi cư ngụ lý tưởng
của chuột) nguy cơ bùng phát dịch nhiễm xoắn khuẩn Leptospira là rất lớn. Do
14
vậy, dịch bệnh xoắn khuẩn Leptospira vẫn là một vấn đề sức khỏe cấp thiết cần
quan tâm tại Việt Nam [2].
Hiện nay, Việt Nam vẫn nằm trong vùng dịch tễ học cao của bệnh xoắn
khuẩn [6]. Nghiên cứu dịch tễ học mô tả sử dụng số liệu hồi cứu cho thấy, tổng
số ca mắc xoắn khuẩn được ghi nhận tại Việt Nam giai đoạn 2002-2011 là 369
ca và không có trường hợp tử vong. Người mắc bệnh mang tính chất nghề nghiệp
rõ: công nhân làm vệ sinh cống rãnh, công nhân chăn nuôi, cán bộ địa chất, lâm
nghiệp hay mắc bệnh. Mặc dù bệnh này luôn tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm cao cho
người và động vật, nhưng lâu nay ít được chú ý cả về mặt pháp luật cũng như về
nhận thức của nhân dân. Việc mua bán gia súc bừa bãi không được kiểm tra chặt
chẽ về mặt thú y làm cho nguy cơ nhiễm bệnh ở gia súc ngày một tăng, đồng
thời nguy cơ lây nhiễm sang người cũng tăng theo [1].
1.3.2. Tình hình nghiên cứu vắc xin phòng bệnh Leptospirosis
Như đã nói ở trên, việc điều trị bệnh này là rất khó khăn chính vì vậy cần
có những biện pháp phòng ngừa bệnh có hiệu quả cao. Do đó, sản xuất vắc xin
phòng bệnh do xoắn khuẩn Leptospira là một yêu cầu cấp thiết. Tại Việt Nam
hiện có một số cơ sở đã sản xuất các loại vắc xin Leptospirosis, như vắc xin
Leptospira vô hoạt của Công ty cổ phần thuốc thú y Trung ương (Vetvaco).
Kháng nguyên là vi khuẩn Leptospira được vô hoạt bằng methiolat bao gồm 6
chủng: L. interrogans serovar Pomona, L. interrogans serovar Canicola, L.
interrogans serovar Mitis, L. interrogans serovar Icterohaemorrhagiae, L.
interrogans serovar Bataviae và L. interrogans serovar Grippotyphosa. Chúng
tương đồng về mặt kháng nguyên với đa số các chủng gây bệnh Leptospirosis
đang lưu hành tại Việt Nam. Với 2 lần tiêm cho gia súc, nhưng thời gian tạo
miễn dịch bảo hộ chỉ trong vòng 6 tháng. Hoặc vắc xin vô hoạt
PALATO.VACL của Công ty cổ phần Nanovet, có thể phòng 3 bệnh: khô thai,
sẩy thai truyền nhiễm và Leptospirosis. Tương lai của việc phát triển vắc xin
15
phòng bệnh Leptospirosis là tìm ra một loại có khả năng phòng bệnh cho một
số lượng lớn người khỏe mạnh và động vật để làm tăng khả năng kháng bệnh,
như vậy, vắc xin phải có độ an toàn cao [19], [24]. Tuy nhiên, hiện nay tại Việt
Nam chỉ đang lưu hành 2 loại vắc xin Leptospirosis vô hoạt và nhược độc phòng
bệnh cho gia súc. Trong đó, các vắc xin nhược độc được thực hiện bằng cách
tiêm truyền các xoắn khuẩn đã được giảm độc lực vào vật chủ với hi vọng giúp
vật chủ tạo kháng thể chống lại bệnh xoắn khuẩn nhưng không kích thích sự
phát triển của các loại xoắn khuẩn này đủ để gây bệnh cho cơ thể đó. Vắc xin
vô hoạt Leptospirosis đã được nghiên cứu rộng rãi trong thập kỷ 70-80 của thế
kỷ 20. Những năm gần đây, việc sử dụng kết hợp cả vắc xin nhược độc và vô
hoạt trong phòng bệnh cho hiệu quả phòng bệnh cao hơn nhưng để đảm bảo an
toàn cho vật nuôi cũng như cho con người, chúng ta cần đầu tư nhiều hơn nữa
cho lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất vắc xin Leptospirosis.
CHƯƠNG II
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
6 chủng xoắn khuẩn đang được sử dụng chế vắc xin vô hoạt phòng bệnh
xoắn khuẩn Leptospirosis tại Việt Nam được nuôi cấy trong môi trường EMJH
16
tại Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, Cục Thú y, bao gồm: L.
interrogans serovar Pomona, L. interrogans serovar Canicola, L. interrogans
serovar Mitis, L. interrogans serovar Icteroheamorrhagiae, L. interrogans
serovar Bataviae và L. interrogans serovar Grippotyphosa.
2.2. Hóa chất, thiết bị
2.2.1. Hóa chất
- Hóa chất tách DNA tổng số: gồm có đệm tách (Tris HCl 1M, pH=8,NaCl
5M, EDTA 0,5M, CTAB 4% H2O), đệm rửa (Tris HCl 1M , EDTA 0,5M,
pH=8, H2O), dung dịch phenol-chloroform-isoamyl 25:24:1, dung dịch
Isopropanol,...
- Hóa chất điện di: Đệm TAE 50X: 57,1 ml CH3COOH, 100ml 0,5M
EDTA, 242g TRIS - BASE, đệm TAE 1X, agarose, loading dye, ethidium
bromide (EtBr).
- Các hóa chất phục vụ nhân gen: Taq polymerase (Fermentas). Cặp mồi
đặc hiệu được thiết kế dựa trên trình tự gen đã được công bố trên ngân hàng
gen quốc tế.
- Bộ kit dùng cho tinh sạch sản phẩm PCR GeneJETTM PCR Purification
Kit (Thermo Fisher Scientific Inc., USA),…và một số hóa chất khác.
17
2.2.2. Thiết bị
Bảng 2.1. Danh mục các thiết bị đã sử dụng
STT Thiết bị Nguồn gốc, xuất xứ
Máy PCR Applied Biosystem - Mỹ 1
Bộ điện di Pharmacia Biotech, Scie-plas Ltd. - Anh 2
Bể ổn nhiệt Memmert - Đức 3
Máy ly tâm Thermo Sci Legend Micro 21R - Mỹ 4
Máy chụp ảnh gel Gel Logic Kodak 1500 - Mỹ 5
Máy lắc Vortex IKA Minishaker MS1 - Đức 6
Máy đo quang phổ định 8 NanoDrop Lite Spectrophotometer - Mỹ lượng
Tủ lạnh -20oC Sanyo - Nhật Bản 10
Tủ lạnh -4oC Sanyo - Nhật Bản 11
13 Máy lắc ấm Hàn Quốc
14 Máy giải trình tự AB 3500 Applied Biosystems, Mỹ
15 Lò vi sóng Sanyo - Nhật Bản
Ngoài ra còn sử dụng các trang thiết bị sinh học phân tử cần thiết khác
của Viện Nghiên cứu hệ gen - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt
Nam.
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Các thí nghiệm được thực hiện tại phòng thí nghiệm của Viện Nghiên cứu
hệ gen - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
18
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp tách chiết DNA tổng số
Lấy mẫu: 6 chủng xoắn khuẩn (L. interrogans serovar Pomona, L.
interrogans serovar Canicola, L. interrogans serovar Mitis, L. interrogans
serovar Icteroheamorrhagiae, L. interrogans serovar Bataviae và L. interrogans
serovar Grippotyphosa) sẽ được nuôi cấy trong các môi trường đặc hiệu (môi
trường Ellinghausen - McCullough-Johnson-Harris (EMJH) của hãng Difco
(Detroit, USA) có bổ sung 8% huyết thanh thỏ và 0.1% agarose trong một ống
5ml) ở 28oC trong điều kiện hiếu khí, sau bảy ngày nuôi cấy sẽ được chuyển về
Viện Nghiên cứu hệ gen để tiến hành tách chiết DNA cho các nghiên cứu tiếp
theo.
Tách chiết DNA tổng số từ 6 chủng xoắn khuẩn sử dụng phương pháp
phenol- chloroform theo như hướng dẫn [57]. Cụ thể:
- Xoắn khuẩn sau khi được nuôi cấy, đạt yêu cầu về số lượng, cho dung
dịch nuôi vào ống eppendorf 2ml, ly tâm 13000 vòng/phút trong 10 phút ở 4oC.
Loại bỏ dung dịch nổi ở trên, thu lấy cặn vi khuẩn ở đáy ống.
- Chuẩn bị dung dịch đệm gồm: 10% SDS, Tris (100 mM), EDTA (50
mM), 3 µl của proteinase - K 20 µg/ml, 5 µl của RNase A 20 µg/ml, cho vào
ống eppendorf 1,5ml có chứa cặn xoắn khuẩn, ủ ở 37oC trong 1 giờ.
- Thêm vào một lượng tương đương dung dịch phenol-chloroform-
isoamyl , trộn đều, ly tâm 12000 vòng/phút trong 5 phút ở 4oC.
- Thu lấy dung dịch bên trên cho vào ống eppendorf 1,5ml mới. Kết tủa
DNA với một lượng tương đương isopropanol, ủ ở - 20oC/30 phút. Sau đó ly
tâm 12000 vòng/phút trong 10 phút ở 4oC, lấy kết tủa sau khi ly tâm.
- Rửa kết tủa bằng ethanol 70 % được làm lạnh ở - 20 oC, nghiêng nhẹ
19
qua lại, ly tâm 13000 vòng/phút trong 10phút ở 4oC. Thu kết tủa và làm khô ở
nhiệt độ phòng.
- Hòa tan hoàn toàn DNA kết tủa trong dung dịch TE (10mM Tris HCl,
pH = 8,0 và 1 mM EDTA).
- Bảo quản sản phẩm trong tủ ở nhiệt độ -20oC để phục vụ cho các nghiên
cứu tiếp theo.
2.4.2. Định lượng và kiểm tra độ tinh sạch của DNA tổng số
2.4.2.1. Phương pháp quang phổ hấp thụ
DNA được đo bằng máy quang phổ ở bước sóng 260 nm và 280 nm.
Nồng độ DNA được tính theo công thức:
Nồng độ DNA (ng/µl) = A260 x 50 x hệ số pha loãng
Độ sạch DNA = A260/A280
Trong đó: A260 là chỉ số đo được ở bước sóng 260 nm
A280 là chỉ số đo được ở bước sóng 280 nm.
Nếu tỷ lệ A260/A280 = 1,8 - 2,0 thì sản phẩm DNA tổng số được tách chiết là
tinh sạch.
2.4.2.2. Phương pháp điện di
Đun tan 1% agarose (dung dịch 50X TAE: 2ml, nước cất: 98 ml, agarose:
1g) để ấm, đổ vào khuôn, đợi cho nguội và đặt tấm gel vào trong máy điện di,
ngập trong 300ml dung dịch 1X TAE. Trộn đều1l dung dịch 6X loading buffer
với 5 l mẫu, nhỏ vào giếng. Chạy điện di bằng dòng điện một chiều với điện
thế 110V, cường độ dòng điện 80 mA trong 30 phút, bỏ ra ngâm trong dung
dịch EtBr (nồng độ 0,5 l/ml) 20 phút vớt ra. Quan sát trên máy soi gel và chụp
ảnh.
Dựa vào hình ảnh điện di kiểm tra nồng độ và độ tinh sạch của DNA
20
trong mẫu thí nghiệm đã tách chiết.
2.4.3. Thiết kế các cặp mồi của các gen 16S rDNA, OmpL1, LipL32, LipL41,
LipL21, LigA, LigB
Thiết kế các cặp mồi của các gen 16S rDNA, OmpL1, LipL32, LipL41,
LipL21, LigA, LigB dựa trên các thông tin về trình tự của các gen được công bố
trên ngân hàng gen quốc tế (Genbank)/NCBI và chương trình
http://frodo.wi.mit.edu/primer3/.
2.4.4. Kỹ thuật PCR
Sau khi tách chiết được DNA tổng số, thực hiện khuếch đại trình tự gen
16S rDNA, OmpL1, LipL32, LipL41, LipL21, LigA, LigB bằng phản
ứng PCR.
Thành phần phản ứng PCR nhân gen 16S rDNA, OmpL1, LipL32, LipL41,
LipL21, LigA, LigB của 6 chủng xoắn khuẩn được trình bày ở bảng sau:
Bảng 2.2. Thành phần phản ứng nhân gen
STT Thành phần Thể tích (μl)
1 10X Buffer 2 µl
2 dNTPsmix (2,5mM) 2 µl
3 Mồi -F 1 µl
4 Mồi -R 1 µl
5 Taq (5u/ µl) 0,2 µl
6 12,8 µl H2O
19 µl Tổng
Thực hiện phản ứng PCR nhân gen với chu trình nhiệt như sau:
21
Hình 2. Chu trình nhiệt của phản ứng PCR nhân gen
Sản phẩm PCR được kiểm tra bằng phương pháp điện di trên gel agarose
1% với sự có mặt của marker chuẩn, nhuộm bản gel trong EtBr và chụp ảnh
dưới ánh sáng cực tím.
2.4.5. Tinh sạch sản phẩm PCR của gen 16S rDNA
Trong sản phẩm PCR, ngoài đoạn gen đặc hiệu đã được nhân lên còn lẫn
tạp với 1 lượng primer, dNTP dư và enzyme DNA polymerase. Những chất lẫn
tạp này có khả năng ảnh hưởng đến phản ứng giải trình tự Sanger (sử dụng
ddNTP). Vì vậy, chúng tôi tiến hành tinh sạch sản phẩm PCR của gen 16S
rDNA theo hướng dẫn của bộ kít GeneJETTM PCR Purification Kit (Thermo
Fisher Scientific Inc., USA).
Quy trình làm sạch sản phẩm PCR như sau:
- Bổ sung đệm hòa tan (Binding Buffer) theo tỷ lệ Vmẫu : VBB = 1 : 1 (quy
ước 100μl Binding Buffer tương đương 100μl mẫu), trộn đều và quan sát màu
của dung dịch. Màu vàng cho thấy độ pH tối ưu để hòa tan DNA. Nếu dung
dịch có màu cam hoặc tím, bổ sung thêm 10μl Natri axetat 3M, pH 5,2 và trộn
đều sẽ chuyển sang màu vàng.
- Thêm vào thể tích isopropanol 100% với tỷ lệ 1: 2 (Ví dụ, 100 μl
isopropanol nên được thêm vào 100 μl hỗn hợp PCR kết hợp với 100 μl Binding
Buffer). Trộn kỹ.
22
- Chuyển 800 μL dung dịch từ bước 1 (hoặc bước 2) tới cột tinh sạch
GeneJET, ly tâm 30-60 giây. Loại bỏ dịch chảy qua cột.
- Bổ sung 700μl đệm rửa WB (Washing Buffer) lên cột. Ly tâm 30-60
giây. Loại bỏ dịch chảy qua cột và đặt cột vào ống thu.
- Ly tâm lần hai để đảm bảo loại bỏ hết dịch WB.
- Chuyển cột sang ống eppendorf mới, bổ sung 50μl nước cất đã khử
trùng lên màng lọc, để ở nhiệt độ phòng trong 1 phút, sau đó đem ly tâm 13000
vòng/phút trong 1 phút.
- Loại bỏ cột, thu dịch chứa mẫu DNA đã tinh sạch chuyển sang ống mới.
Bảo quản ở -20oC.
- Điện di kiểm tra sản phẩm sau tinh sạch.
2.4.6. Giải trình tự gen 16S rDNA của 6 chủng xoắn khuẩn
Giải trình tự với máy giải trình tự AB 3500 (Applied Biosystems, USA)
tại Viện Nghiên cứu hệ gen. Quy trình được tóm tắt như sau:
Các sản phẩm PCR được giải trình tự theo phương pháp chuỗi
dideoxynucleotide. Các đoạn DNA được khuếch đại trong 10 μl thể tích phản
ứng (bao gồm: 2 μl BigDye Terminator v3.1, 1μl dung dịch BigDye
Sequencing, 1 μl primer (10 μM), 2 μl DNA và 4 μl nước). Chu trình khuếch
đại như sau: biến tính ở 96oC trong 1 phút, sau đó là 96oC trong 10 giây ở 25
chu kỳ, ủ ở 50oC trong 5 giây, kéo dài ở 60oC trong 4 phút. Tiếp theo, các mẫu
được tinh chế và ủ với 20 μl Hi-Di, và bị làm biến tính ở 98°C trong 2 phút.
Cuối cùng, các mẫu này được chuyển lên màng và giải trình tự bằng cách sử
dụng POP6 và một mao mạch 36 cm. Các điều kiện chạy giải trình tự như sau:
22 giây cho thời gian bơm mẫu, 1 kV cho điện áp bơm, 15 kV cho điện áp chạy,
10 μAmps cho dòng chảy và 55oC cho nhiệt độ chạy.
23
2.4.7. Phân tích và xây dựng sơ đồ hình cây phân loại 6 chủng Leptospira
- Các trình tự tham chiếu của gen 16S rDNA dùng trong nghiên cứu này
được lấy từ cơ sở dữ liệu NCBI với các công cụ tin sinh BLAST và PSI-
BLAST.
- Phân tích và xây dựng cây phát sinh chủng loại thông qua trình tự của
các gen 16S rDNA với các thuật toán ClustalW thực hiện trong MEGA 4.0. Xác
suất biến đổi và vùng bảo tồn giữa các trình tự liên quan được thực hiện bởi
MEGA 4.0 và BioEdit 7.0.4.1.
24
CHƯƠNG III
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Phân loại học phân tử 6 chủng Leptospira
3.1.1. Kiểm tra chất lượng DNA tổng số
DNA tổng số là vật liệu khởi đầu cho mọi nghiên cứu ở mức phân tử. Chất
lượng của DNA tổng số có vai trò quan trọng quyết định sự thành công của các
thí nghiệm phân tích sinh học phân tử. Do đó, chúng tôi tiến hành tách chiết
DNA của 6 chủng xoắn khuẩn sử dụng phương pháp phenol- chloroform theo
như hướng dẫn [57].
Trong quy trình tách chiết, chúng tôi đã sử dụng tác nhân lý, hóa học vì
thế ít hay nhiều ảnh hưởng tới độ nguyên vẹn của axit nucleic. Bởi vậy chúng
tôi phải kiểm tra mức độ nguyên vẹn của DNA bằng điện di trong gel agarose
1%, sau đó nhuộm EtBr và soi qua tia cực tím. Kết quả thể hiện trong hình 3.1:
Hình 3.1. Hình ảnh điện di DNA tổng số của 6 chủng Leptospira.
Kí hiệu được sử dụng như sau: Ba: Leptospira interrogans serovar Bataviae;
Ca: Leptospira interrogans serovar Canicola; Ic: Leptospira interrogans
serovar Icterohaemorrhagiae; Gr: Leptospira interrogans serovar
25
Grippotyphosa; Po: Leptospira interrogans serovar Pomona; Mi: Leptospira
interrogans serovar Mitis; M: Marker DNA 1 Kb (10.000 bp; Thermo).
Kết quả cho thấy mẫu DNA thu được có băng sáng rõ, gọn và không bị
đứt gãy, kích thước lớn hơn 10.000 bp, đạt tiêu chuẩn cho các thí nghiệm sinh
học phân tử.
Tiếp theo chúng tôi tiến hành kiểm tra độ tinh sạch và hàm lượng của
DNA tổng số bằng phương pháp đo trên máy quang phổ. Kết quả thu được thể
hiện ở bảng 3.1:
Bảng 3.1. Giá trị mật độ quang phổ hấp thụ ở bước sóng 260nm và 280nm
của 6 chủng Leptospira
Tỷ số Hàm lượng DNA
Tên chủng
A260/A280 (ng/µl)
L. interrogans serovar 1,95 559,3 Canicola
L. interrogans serovar 1,89 473,4 Bataviae
L. interrogans serovar 1,81 272 Icterohaemorrhagiae
L. interrogans serovar 1,81 230,5 Mitis
L. interrogans serovar 1.86 561,1 Grippotyphosa
L. interrogans serovar 1,93 152,5 Pomona
26
Bảng 3.1 cho thấy tỷ số A260/A280 dao động trong khoảng 1,8 - 2,0
chứng tỏ rằng các mẫu DNA tách chiết có độ tinh sạch cao, ít lẫn protein, có
thể sử dụng để tiến hành các thí nghiệm sinh học phân tử tiếp theo.
3.1.2. Trình tự các cặp mồi của các gen 16S rDNA, OmpL1, LipL32, LipL41,
LipL21, LigA, LigB
Mu ̣c đích của việc thiết kế mồi là có được mô ̣t sự cân bằng giữa hai kết quả: sự đặc hiệu và hiê ̣u suất khuếch đa ̣i. Sự đă ̣c hiệu dựa trên cơ sở xuất hiê ̣n bao nhiêu lần hiê ̣n tượng gắn mồi nhầm (mis-priming) trên tổ ng số lần gắn
primer (priming) tức là quá trình lai giữa mồi và khuôn mẫu tại vi ̣ trí đích củ a nó . Hiê ̣u suất là sự tiếp câ ̣n với lý thuyết về kết quả sản phẩm, trong mỗi chu kỳ PCR, mô ̣t că ̣p mồi có thể khuếch đa ̣i ra mô ̣t sản phẩm. Vớ i mô ̣t trình tự DNA cho trước, mồi có thể được tính toán và phân tích trên máy tính để có mô ̣t
kết quả cân bằng giữa hai mu ̣c tiêu nó i trên.
Viê ̣c cho ̣n lựa mồi có một ý nghĩa quan trọng để phản ứng PCR có hiê ̣u quả và độ chính xác cao. Vì thế, cần phải tính toán các thông số chính xác hợp lý trong thiết kế mồi. Trình tự củ a mồi quyết định vị trí và kích thước sản phẩm PCR, cũng như nhiệt độ nóng chảy (Tm) của vùng đươ ̣c khuếch đa ̣i. Mồi thiết kế đúng có thể tránh được việc tạo ra những sản phẩm PCR không đă ̣c hiệu. Trình tự cặp mồi dùng để nhân các đoạn gen được thể hiện trong bảng 3.2:
27
Bảng 3.2. Trình tự cặp mồi dùng để nhân các đoạn gen
Kích
Nhiệt độ
thước
bắt cặp
TT
Tên mồi
Trình tự (5’ – 3’)
(bp)
1
16S
GCCTACGGGAGGCAGCAG
550
56oC/ 50s
F
rDNA
CCGTCAATTCMTTTGAGTTT
R
2
OmpL1
TTGATTGAATTCTTAGAGTTCGTGTTTATA
960
56oC/ 50s
F
AAGGAGAAGCTTATGATCCGTAACATAAGT
R
3
LipL32
TTACCGCTCGAGGTGCTTTCGGTGGTCTGC
782
50oC/ 30s
F
TGTTAACCCGGGTTACTTAGTCGCGTCAGA
R
4
LipL41
AGAGAAGATAATTTTCTCCCCATGGGTAACA
1065
50oC/ 30s
F
GAAAGCAACGCAAAGTAACTCGAGTCCTTT
R
5
LipL21
ATGATCAATAGACTTATAGCTC
560
50oC/ 60s
F
TTATTGTTTGGAAACCTCTTGA
R
6
LigA
CGGTCGACTATCGTTACTCCAGCA
991
50oC/ 50s
F
CGGCGGCCGCAATATCCGTATTAGA
R
7
LigB
CCGCTCGAGGTGTTTATGAAGAAA
620
50oC/ 30s
F
ACTCTCGAGCGTATTAGAGGAAT
R
3.1.3. Nhân gen với các cặp mồi của gen 16S rDNA
Sử dụng DNA tổng số làm khuôn để khuếch đại trình tự gen 16S rDNA,
bằng phản ứng PCR với cặp mồi xuôi và mồi ngược được thiết kế dựa trên trình
tự gen 16S rDNA đã được công bố trên ngân hàng gen quốc tế. 16S rDNA là
vùng mã hóa các RNA ribosome được xác định là đoạn gen được bảo tồn nhất
ở tất cả các tế bào. Trình tự các đoạn gen này ở các sinh vật có khoảng cách di
truyền rất xa nhau vẫn tìm thấy có sự giống nhau. Tuy nhiên, đây cũng là vùng
rất linh hoạt, sự thay đổi trình tự các nucleotide ở vùng này được ứng dụng
nhiều trong khảo sát di truyền các dòng vi khuẩn. Chúng tôi tiến hành phản ứng
PCR với các điều kiện khác nhau và nhận thấy rằng phản ứng PCR nhân gen
28
xảy ra tối ưu trong điều kiện nhiệt độ gắn mồi là 56oC. Sau 25 chu kỳ phản ứng,
kết quả nhân gen được kiểm tra trên gel agarose 1% cùng với DNA Marker
100bp (Thermo) và được thể hiện ở hình 3.2:
Hình 3.2. Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen 16S rDNA
Ghi chú: Ba: Leptospira interrogans serovar Bataviae; Ca: Leptospira
interrogans serovar Canicola; Ic: Leptospira interrogans serovar
Icterohaemorrhagiae; Gr: Leptospira interrogans serovar Grippotyphosa; Po:
Leptospira interrogans serovar Pomona; Mi: Leptospira interrogans serovar
Mitis; M: Marker DNA 100 (1000 bp; Thermo).
Hình 3.2 cho thấy băng DNA nhân bản sáng rõ, gọn và đẹp, có kích thước
khoảng 550 bp phù hợp với tính toán lý thuyết khi thiết kế mồi. Hàm lượng của
sản phẩm đủ lớn để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo.
3.1.4. Tinh sạch sản phẩm PCR gen 16S rDNA
Thông thường sau khi chạy PCR, ngoài đoạn gen quan tâm còn có các sản
phẩm phụ không mong muốn, các nucleotide dư thừa sau phản ứng, mồi,
enzyme... Những chất lẫn tạp này có thể ảnh hưởng đến các kết quả của quá
trình giải trình tự. Vì vậy, để quá trình giải trình tự đạt hiệu quả cao nhất, chúng
tôi tiến hành tinh sạch sản phẩm theo quy trình của bộ kít: GeneJETTM PCR
29
Purification Kit (Thermo Fisher Scientific Inc., USA). Các đoạn gen sau khi
tinh sạch xong sẽ được kiểm tra bằng điện di trên gel agarose 1% để kiểm tra
chất lượng. Kết quả tinh sạch sản phẩm PCR được thể hiện ở hình 3.3:
Hình 3.3. Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen 16S rDNA tinh sạch
Ghi chú: Ba: Leptospira interogans serovar Bataviae; Ca: Leptospira
interrogans serovar Canicola; Ic: Leptospira interrogans serovar
Icterohaemorrhagiae; Gr: Leptospira interrogans serovar Grippotyphosa; Po:
Leptospira interrogans serovar Pomona; Mi: Leptospira interrogans serovar
Mitis; M: Marker DNA 1Kb (10.000 bp; Thermo).
Hình ảnh điện di sản phẩm PCR sau tinh sạch cho thấy một băng DNA
duy nhất với kích thước khoảng 550bp, chứng tỏ đã thu nhận được đoạn gen
mong muốn và đoạn DNA không bị đứt gãy trong quá trình tinh sạch, có thể
tiến hành các nghiên cứu tiếp theo.
3.1.5. Giải trình tự gen 16S rDNA của 6 chủng xoắn khuẩn
Gen 16S rDNA của 6 chủng xoắn khuẩn được giải trình tự với máy giải
trình tự AB 3500 (Applied Biosystems, USA). Kết quả giải trình tự được trình
bày ở phần phụ lục.
30
3.1.6. Phân tích và xây dựng cây phát sinh chủng loại của 6 chủng xoắn
khuẩn
Trình tự gen 16S rDNA của 6 chủng Leptospira đã được chuẩn hóa và
được sử dụng như một công cụ để phân tích phát sinh loài. Phân tích trình tự
của các gen 16S rDNA được phân lập từ các chủng xoắn khuẩn sử dụng chế vắc
xin ở Việt Nam bằng các thuật toán ClustalW thực hiện trong MEGA 4.0. Xác
suất biến đổi và vùng bảo tồn giữa các trình tự liên quan được thực hiện bởi
MEGA 4.0 và BioEdit 7.0.4.1. Các dữ liệu của phần mềm Maximum
Likelihood đã cho thấy mối quan hệ phát sinh loài giữa những chủng Leptospira
gây bệnh khác nhau trong nghiên cứu này với các loài gây bệnh quốc tế khác.
Bảng 3.3. Các loài Leptospira quốc tế tham khảo từ cơ sở dữ liệu GenBank
Leptospira interrogans
Hardjo-prajitno
JQ765630.1
1
2
Leptospira interrogans
Hardjo-prajitno
CP013147.1
3
Leptospira interrogans
Hardjo
CP012603.1
4
Leptospira interrogans
Kennewicki
FJ154571.1
5
Leptospira interrogans
Pyrogenes DB60
JQ988842.1
6
Leptospira interrogans
Pomona DB37
JQ988858.1
7
Leptospira interrogans
Pomona
KR091971.1
8
Leptospira interrogans
Copenhageni
NR 74524.1
9
Leptospira interrogans
Copenhageni
KR091970.1
10
Leptospira interrogans
Linhai
CP006723.1
11
Leptospira interrogans
Grippotyphosa
JQ906628.1
Mã số trên STT Chủng Loài genbank
31
12
Leptospira interrogans
Grippotyphosa
JQ906625.1
13
Leptospira interrogans
Saxkoebing
KR107202.1
14
Leptospira interrogans
Manilae
CP011931.1
15
Leptospira interrogans
Canicola
KU053945.1
16
Leptospira interrogans
Canicola
KR080516.1
17
Leptospira interrogans
Bratislava
CP011410.1
18
Leptospira interrogans
Bratislava-DB38
JQ988859.1
19
Leptospira interrogans
Lai
NR 74481.1
20
Leptospira interrogans
Australis-DB42
JQ988863.1
21
Leptospira interrogans
JQ988845.1
22
Leptospira interrogans
Icterohaemorrhagiae -DB69 Icterohaemorrhagiae
FJ154563.1
23
Leptospira interrogans
Bataviae-DB59
JQ988841.1
24
Leptospira interrogans
Muenchen
FJ154565.1
Mã số trên STT Chủng Loài genbank
Kết quả xây dựng sơ đồ hình cây phân loại các chủng xoắn khuẩn như
hình 3.4:
32
Hình 3.4. Sơ đồ hình cây phân loại các chủng xoắn khuẩn
Hình ảnh cho thấy hầu hết các chủng xoắn khuẩn sử dụng chế vắc xin ở
Việt Nam tương đồng với các chủng xoắn khuẩn Leptospira interrogans phân
lập được trên thế giới. Điều này khẳng định lại một cách có cơ sở những mẫu
chủng được sử dụng trong nghiên cứu là các chủng Leptospira mà không bị
nhầm lẫn trong quá trình thực nghiệm.
Các kết quả cũng đã chỉ ra rằng hai loài gây bệnh L. interrogans serovar
Pomona_VN và L. interrogans serovar Hardjo dường như là có quan hệ di
truyền chặt chẽ (mức độ gần gũi về mặt di truyền: 99%, khoảng cách di truyền
0,00). Ngược lại, giữa các chủng L. interrogans serovar Canicola_VN hoặc L.
33
interrogans serovar Icterohaemorrhagiae_VN và chủng cổ điển L. interrogans
serovar Canicola, L. interrogans serovar Grippotyphosa lại có mối quan hệ di
truyền yếu hơn (mức độ gần gũi về mặt di truyền: 62%). Cũng từ kết quả sơ đồ
hình cây phân loại cho thấy 2 chủng L. interrogans serovar Mitis_VN và L.
interrogans serovar Grippotyphosa_VN thuộc cùng một phân nhóm, nhưng
chúng xuất hiện một mối quan hệ di truyền yếu với nhóm chị em là chủng L.
interrogans serovar Bataviae_VN (bootstrap: 62%). Như vậy kết quả phân tích
sơ đồ hình cây phân loại cho thấy một sự đa dạng di truyền giữa các chủng L.
interrogans gây bệnh phân lập được từ Việt Nam và các chủng phân lập được
từ các nước khác. Tỷ lệ mức độ gần gũi về mặt di truyền trong thí nghiệm của
chúng tôi dao động trong khoảng 62% đến 99%, cho thấy xoắn khuẩn
Leptospira có thể phát triển khác nhau theo các địa điểm khác nhau và dịch tễ
học của bệnh do Leptospira ở Việt Nam là tương đối độc lập so với các nước
khác.
Các mối quan hệ di truyền của loài Leptospira cũng được xác nhận bởi
một số nghiên cứu trước đó. Anna Rettinger (2012) đã so sánh cây phân loại
của 28 chủng Leptospira, kể cả các chủng gây bệnh, không gây bệnh và trung
tính thông qua việc phân tích trình tự gen 16S rDNA của chúng. Phân tích thống
kê của ba chủng gây bệnh cho thấy có các đỉnh khác biệt về di truyền giữa các
chủng trong nghiên cứu [56]. Một nghiên cứu phát sinh loài của Xiao và cộng
sự (2015) đã sử dụng trình tự gen 16S rDNA và các phương pháp phân tích kiểu
gen MLST (Multilocus Sequence Typing) để điều tra sự đa dạng di truyền của
Leptospira và hiểu các xu hướng thay đổi dịch tễ học và tiến hóa của chủng tại
Trung Quốc. Dữ liệu của họ cho thấy rằng các chủng Leptospira từ các nước
khác nhau có sự khác biệt và một sự đa dạng di truyền lớn về dịch tễ học địa lý
[66]. Bourhy (2014) phân tích trình tự gen 16S rDNA và cây phân loại của chi
Leptospira ở Mayotte (Ấn Độ Dương). Kết quả cũng phản ánh quan hệ di
truyền khác nhau giữa các chủng Leptospira [13]. Trong nghiên cứu này của
34
chúng tôi cũng chỉ ra rằng trình tự gen 16S rDNA là một kỹ thuật hữu ích để
phát hiện sự đa dạng di truyền và dịch tễ học phân tử của bệnh do Leptospira
trên toàn cầu. Hơn nữa, những kết quả này cung cấp một kế hoạch chi tiết cho
các nghiên cứu phát sinh loài rõ hơn đối với một số chủng Leptospira bệnh lý
khác.
3.2. Xác định sự có mặt của các gen LigA, LipL32, LigB, OmpL1, LipL21,
LipL41
Tiếp tục sử dụng DNA tổng số làm khuôn để khuếch đại trình tự các gen
LigA, LipL32, LigB, OmpL1, LipL21, LipL41 bằng phản ứng PCR với cặp mồi
xuôi và mồi ngược được thiết kế dựa trên trình tự các gen đã được công bố trên
ngân hàng gen quốc tế. Chúng tôi tiến hành các phản ứng PCR với các điều
kiện khác nhau và nhận thấy rằng các phản ứng PCR nhân gen xảy ra tối ưu
trong điều kiện nhiệt độ gắn mồi tương tự bảng 3.2. Sau 25 chu kỳ phản ứng,
kết quả nhân gen được kiểm tra trên gel agarose 1% cùng với DNA Marker
1000bp và 100bp (Thermo), được thể hiện ở các hình 3.5.a đến 3.5.f:
35
Hình 3.5.a. Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen LigA
Ghi chú: Ba: Leptospira interrogans serovar Bataviae; Ca: Leptospira
interrogans serovar Canicola; Ic: Leptospira interrogans serovar
Icterohaemorrhagiae; Gr: Leptospira interrogans serovar Grippotyphosa; Po:
Leptospira interrogans serovar Pomona; Mi: Leptospira interrogans serovar
Mitis; M: Marker DNA 1Kb (10.000 bp; Thermo).
Hình 3.5.b. Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen LipL32
Ghi chú: Ba: Leptospira interrogans serovar Bataviae; Ca: Leptospira
interrogans serovar Canicola; Ic: Leptospira interrogans serovar
Icterohaemorrhagiae; Gr: Leptospira interrogans serovar Grippotyphosa; Po:
Leptospira interrogans serovar Pomona; Mi: Leptospira interrogans serovar
Mitis; M: Marker DNA 1Kb (10.000 bp; Thermo).
36
Hình 3.5.c. Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen LigB
Ghi chú: Ba: Leptospira interrogans serovar Bataviae; Ca: Leptospira
interrogans serovar Canicola; Ic: Leptospira interrogans serovar
Icterohaemorrhagiae; Gr: Leptospira interrogans serovar Grippotyphosa; Po:
Leptospira interrogans serovar Pomona; Mi: Leptospira interrogans serovar
Mitis; M: Marker DNA 1Kb (10.000 bp; Thermo).
Hình 3.5.d. Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen OmpL1
Ghi chú: Ba: Leptospira interrogans serovar Bataviae; Ca: Leptospira
interrogans serovar Canicola; Ic: Leptospira interrogans serovar
Icterohaemorrhagiae; Gr: Leptospira interrogans serovar Grippotyphosa; Po:
Leptospira interrogans serovar Pomona; Mi: Leptospira interrogans serovar
Mitis; M: Marker DNA 1Kb (10.000 bp; Thermo).
37
Hình 3.5.e. Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen LipL21
Ghi chú: Ba: Leptospira interrogans serovar Bataviae; Ca: Leptospira
interrogans serovar Canicola; Ic: Leptospira interrogans serovar
Icterohaemorrhagiae; Gr: Leptospira interrogans serovar Grippotyphosa; Po:
Leptospira interrogans serovar Pomona; Mi: Leptospira interrogans serovar
Mitis; M: Marker DNA 100 (1.000 bp; Thermo).
Hình 3.5.f. Hình ảnh điện di sản phẩm PCR nhân gen LipL41
Ghi chú: Ba: Leptospira interrogans serovar Bataviae; Ca: Leptospira
interrogans serovar Canicola; Ic: Leptospira interrogans serovar
Icterohaemorrhagiae; Gr: Leptospira interrogans serovar Grippotyphosa; Po:
Leptospira interrogans serovar Pomona; Mi: Leptospira interrogans serovar
Mitis; M: Marker DNA 1Kb (10.000 bp; Thermo).
38
Chúng tôi đã chọn sáu gen, bao gồm: gen LigA và LigB (immunoglobulin
likeproteins A and B), gen OmpL1 và gen LipL32, LipL41, LipL21
(lipopolysaccharide) và kiểm tra sự xuất hiện của các gen này bằng phương
pháp phản ứng chuỗi polymerase (PCR). Kết quả cho thấy, chỉ có ba gen (gen
LipL32, LipL21 và gen LigA) xuất hiện trong tất cả các chủng kiểm tra, riêng
gen OmpL1 chỉ xuất hiện trong 4 chủng (gồm L. interrogans serovar Bataviae,
L. interrogans serovar Canicola, L. interrogans serovar Mitis và L. interrogans
serovar Pomona). Trong khi đó, gen LipL41 thì không xuất hiện trong bất cứ
chủng Leptospira nào. Chúng tôi đã không nhân được đoạn gen mong muốn
(kích thước 620 bp) của gen LigB bằng kỹ thuật PCR, mặc dù đã thử nhiều điều
kiện bắt cặp mồi khác nhau. Kết quả điện di sản phẩm PCR 6 chủng với gen
LigB cho thấy có xuất hiện 1 băng vạch 2000 bp (không đúng với kích thước
của gen khi thiết kế).
Việc nghiên cứu xác định một số gen mã hóa yếu tố quyết định kháng
nguyên của xoắn khuẩn Leptospira đã và đang được các nhà nghiên cứu tại
Việt Nam và trên thế giới quan tâm và phát triển. Năm 2000, Zuerner và cộng
sự đã phát hiện ra hệ gen của L. interrogans có biểu hiện dị hợp của OMPs giúp
mở ra một hướng mới trong nghiên cứu vắc xin chống bệnh Leptospirosis [70].
Điều này được Nascimento phát hiện ở L. interrogans chủng Copenhageni [45]
và cũng được khẳng định trong nghiên cứu trước đó của Ren và cộng sự trên
chủng L. interrogans serovar Icterohaemorrhagiae Lai năm 2003 [55]. Một số
kết quả nghiên cứu đã chỉ ra hàng loạt các protein ngoài màng (LAg42, Loa22,
Lk73.5), lipoprotein (LipL32, LipL45, LipL21 và GLP) và các yếu tố độc lực
mới được phát hiện (Hsp58, flaA, Flab, SphH và ChpK) có thể giúp chúng ta
tìm thấy vắc xin phù hợp hơn. Mặc dù không nhằm mục đích thương mại hóa,
nhưng các loại vắc xin tái tổ hợp đầu tiên đã đặt nền móng hiệu quả cho việc
phát triển các vắc xin thế hệ mới phù hợp với nhu cầu hiện tại [63]. Hu (2014)
công bố nhiều kháng nguyên protein màng ngoài tồn tại trong tất cả các chủng
39
L.interrogans phổ biến ở Trung Quốc và cho rằng loại kháng nguyên này có
thể được sử dụng để phát triển vắc xin phòng bệnh do Leptospira [30]. Các kết
quả nghiên cứu của Dezhbord (2014) trong nhân bản và tái tổ hợp gen biểu hiện
OmpL1 như một kháng nguyên hiệu quả và đã đề xuất rằng gen OmpL1 có thể
là gen tiềm năng để nghiên cứu sản xuất vắc xin phù hợp phòng bệnh do
Leptospira trong khu vực Iran [20]. Một số nghiên cứu cho rằng các protein
LigA tái tổ hợp tinh khiết là protein vắc xin tiềm năng nhất đối với bệnh do
Leptospira [11]; [34]. Trong năm 2014, Maneewatch và Adisakwattana nghiên
cứu hai kháng thể đơn dòng chuột LipL32 cụ thể (mAbLPF1 và mAbLPF2) và
kết luận LipL32 protein tái tổ hợp là công cụ cho chẩn đoán và vắc xin cho
Leptospirosis [42]. Ngoài ra, Ye (2014) đã thử nghiệm và phát triển bốn protein
tái tổ hợp của L. interrogans, cụ thể là, rLipL21, rLoa22, rLipL32 và
rLigACon4-8 như kháng nguyên để chẩn đoán bệnh do Leptospira ở ngựa [69].
Tiếp tục phát triển từ nghiên cứu khảo sát các loại OMP của các chủng
Leptospira trong năm 2013, Raja và Natarajaseenivasan (2015) đã kết hợp tất
cả các tính năng mới của OMP và đưa ra một số quan điểm cho các nghiên cứu
trong tương lai của vắc xin tái tổ hợp [23]. Forster (2015) đã đánh giá vùng N-
terminal của protein B immunoglobulin (LigBrep) như một kháng nguyên hiệu
quả cho loại vắc xin tái tổ hợp chống lại bệnh xoắn khuẩn và nhấn mạnh việc
sử dụng protein DNA sẽ là một chiến lược quan trọng để phát triển các loại vắc
xin thế hệ mới. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có protein Lig, LipL41 và Hap1 được
công nhận như vắc xin phòng chống Leptospira ở động vật. Ở Việt Nam, hiện
nay lưu hành phổ biến vắc xin vô hoạt dạng nước trong việc ngăn ngừa và kiểm
soát bệnh do Leptospira. Tuy nhiên, loại vắc xin này chứa toàn bộ tế bào của
xoắn khuẩn đã được làm bất hoạt (bacterins) nên hạn chế khả năng đáp ứng
miễn dịch của cá thể được tiêm phòng. Trong một nỗ lực hướng tới cải thiện và
phát triển các loại vắc xin phòng bệnh, vắc xin tái tổ hợp là một trong những
loại cần được tiến hành nghiên cứu và thử nghiệm.
40
Tóm lại, trên cơ sở của các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam, vắc
xin tái tổ hợp phòng bệnh do Leptopira nói riêng cũng như các loại vắc xin
khác nói chung đã, đang và sẽ được nghiên cứu xa hơn để tạo một bức tường
bảo vệ con người cũng như động vật khỏi những tác nhân gây bệnh.
41
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận
- Trình tự gen 16S rDNA của 6 chủng xoắn khuẩn và kết quả xây dựng sơ
đồ cây phân loại cho thấy những mẫu chủng được sử dụng trong nghiên cứu là
các chủng Leptospira interrogans mà không bị nhầm lẫn trong quá trình thực
nghiệm. Các chủng Leptospira interrogans của Việt Nam đã có sự khác biệt so
với một số chủng Leptospira gây bệnh khác trên thế giới (mức độ gần gũi về
mặt di truyền từ 62 - 99 %, khoảng cách di truyền 0,00 - 0,82), có thể do dịch
tễ học địa lý khác nhau đã dẫn đến sự đa dạng về di truyền.
- Ở 6 chủng xoắn khuẩn Leptospira gây bệnh Leptospirosis, đang sử dụng
chế vắc xin vô hoạt ở Việt Nam có mặt của một số gen mã hóa kháng nguyên,
bao gồm: gen LipL32, LipL21 và gen LigA xuất hiện trong tất cả các chủng
kiểm tra, riêng gen OmpL1 chỉ xuất hiện trong 4 chủng (gồm L. interrogans
serovar Bataviae, L. interrogans serovar Canicola, L. interrogans serovar Mitis
và L. interrogans serovar Pomona), gen LipL41 thì không xuất hiện trong bất
cứ chủng Leptospira nào. Chúng tôi bước đầu dự đoán 3/ 6 gen này có thể sử
dụng như những gen tiềm năng cho các nghiên cứu về vắc xin tái tổ hợp phòng
chống bệnh xoắn khuẩn tại Việt Nam. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu
sinh học phân tử sâu hơn để chứng minh giả thuyết này.
2. Đề nghị
Cần tiếp tục nghiên cứu:
- Giải trình tự các gen quyết định kháng nguyên tiềm năng (gen LigA, LigB,
gen OmpL1, gen LipL32, gen LipL41 và gen LipL21)
- Phân tích protein tái tổ hợp tiềm năng để tạo cơ sở cho việc sản xuất vắc xin
tái tổ hợp phòng bệnh Leptospirosis ở Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Tài liệu Tiếng Việt
1. Trần Quang Bính (2010), "Nhân một số trường hợp nhiễm Leptospira
khó chẩn đoán", Tạp chí Y Học TP. Hồ Chí Minh, Phụ bản Số 2,14: p.
603-607.
2. Báo Lao động (2003), "Hà Nội có nguy cơ bùng phát dịch Leptospirosis",
Báo Lao động.
3. Trần Thanh Phong ( 1996), Bệnh truyền nhiễm do vi trùng trên heo, Tủ
sách ĐHNL TP.HCM.
4. Huỳnh Hồng Quang (2009), Bệnh Leptospirose và những dấu hiệu lâm
sàng cần phân biệt với sốt rét ác tính thể gan mật,Viện Sốt Rét Ký Sinh
Trùng Côn Trùng Quy Nhơn.
5. Nguyễn Thị Nội, Vũ Đình Hưng (1980), Bệnh Leptospirosis ở gia súc
và người, Kết quả nghiên cứu KH&KT thú y 1968 – 1978: p. 226-232.
6. Lê Thị Thanh Xuân (2015), "Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh xoắn
trùng Leptospira tại Việt Nam giai đoạn 2002-2011", Tạp chí y học dự
phòng, 6(15): p. 358.
B. Tài liệu Tiếng Anh
7. A Slack (2010), Leptospirosis, Aust Fam Physician, 7(39): p. 495 - 498.
8. Alston JM (1963), The Leptospiroses,The Practitioner, 191: p. 594-598.
9. Alston JM and Brown HC (1937), The epidemiology of Weil's
disease,Journal of the Royal Society of Medicine, 30(6): p. 741-756.
10. Artiushin S, Timoney JF, Nally J, Verma A (2004), Host-inducible
immunogenic sphingomyelinase-like protein, Lk73. 5, of Leptospira
interrogans,Infection and immunity, 72(2): p. 742-749.
11. Bacelo Katia L, Hartwig Daiane D, Seixas Fabiana K, Schuch Rodrigo,
Moreira Angelita da S, Amaral Marta, Collares Tiago, Vendrusculo
Claire T, McBride Alan JA, Dellagostin Odir A (2014), Xanthan gum as
an adjuvant in a subunit vaccine preparation against leptospirosis,
BioMed research international.
12. Baranton Guy and Postic Danièle (2006), "Trends in leptospirosis
epidemiology in France. Sixty-six years of passive serological
surveillance from 1920 to 2003", International journal of infectious
diseases, 10(2): p. 162-170.
13. Bourhy Pascale, Collet Louis, Brisse Sylvain, Picardeau Mathieu (2014),
"Leptospira mayottensis sp. nov., a pathogenic species of the genus
Leptospira isolated from humans", International journal of systematic
and evolutionary microbiology, 64(12): p. 4061-4067.
14. Branger C, Sonrier C, Chatrenet B, Klonjkowski B, Ruvoen-Clouet N,
Aubert A, Andre-Fontaine G, Eloit M (2001), Identification of the
hemolysis-associated protein 1 as a cross-protective immunogen of
Leptospira interrogans by adenovirus-mediated vaccination, Infection
and immunity, 69(11): p. 6831-6838.
15. Charon Nyles W and Goldstein Stuart F (2002), Genetics of motility and
chemotaxis of a fascinating group of bacteria: the spirochetes, Annual
review of genetics, 36(1): p. 47-73.
16. Coutinho ML, Vasconcellos FA, Fernandes CPH, Seyffert N, Seixa K,
Ko AI, Dellagostin OA, Aleixo JAG (2007), "Evaluation of the Anti‐
LipL32 Monoclonal Antibodies Potential for Use in Leptospirosis
Immunodiagnostic Tests", Journal of immunoassay &
immunochemistry, 28(3): p. 279-288.
17. Cullen Paul A, Cordwell Stuart J, Bulach Dieter M, Haake David A
Adler Ben (2003), LipL21 is a novel surface-exposed lipoprotein of
pathogenic Leptospira species, Infection and immunity, 71(5): p. 2414-
2421.
18. Dai B, Chen Z, Haake DA, You Z, Fang Z (1999), Alignment of DNA
sequences of ompL1 genes of insert fragment of recombinant plasmid,
pDC38 of L. interrogans serovar lai and L. kirschneri, Hua xi yi ke da
xue xue bao= Journal of West China University of Medical Sciences=
Huaxi yike daxue xuebao/[bian ji zhe, Hua xi yi ke da xue xue bao bian
wei hui], 30(3): p. 236-240.
19. Day MJ (2006), Vaccine side effects: fact and fiction, Veterinary
microbiology, 117(1): p. 51-58.
20. Dezhbord Mehrangiz, Esmaelizad Majid, Khaki Pejvak, Fotohi Fariba,
Moghaddam Athena Zarehparvar (2014), "Molecular identification of
the ompL1 gene within Leptospira interrogans standard serovars", The
Journal of Infection in Developing Countries, 8(06): p. 688-693.
21. Diament Decio, Brunialti Milena Karina Colo, Romero Eliete Calo,
Kallas Esper Georges, Salomao Reinaldo (2002), Peripheral blood
mononuclear cell activation induced by Leptospira interrogans
glycolipoprotein, Infection and immunity, 70(4): p. 1677-1683.
22. Erridge Clett, Pridmore Alison, Eley Adrian, Stewart John, Poxton Ian
R (2004),"Lipopolysaccharides of Bacteroides fragilis, Chlamydia
trachomatis and Pseudomonas aeruginosa signal via toll-like receptor 2",
Journal of Medical Microbiology, 53(8): p. 735-740.
23. Forster Karine M, Hartwig Daiane D, Oliveira Thaís L, Bacelo Kátia L,
Schuch Rodrigo, Amaral Marta G, Dellagostin Odir A (2015), DNA
prime-protein boost based vaccination with a conserved region of
leptospiral immunoglobulin-like A and B proteins enhances protection
against leptospirosis, Memórias do Instituto Oswaldo Cruz, (AHEAD).
24. François Guido, Duclos Philippe, Margolis Harold, Lavanchy Daniel,
Siegrist Claire-Anne, Meheus André, Lambert Paul-Henri, Emiroglu
Nedret, Badur Selim, Van Damme Pierre (2005), Vaccine safety
controversies and the future of vaccination programs, The Pediatric
infectious disease journal, 24(11): p. 953-961.
25. Gebriel AM, G Subramaniam, and SD Sekaran (2006), The detection and
characterization of pathogenic Leptospira and the use of OMPs as
potential antigens and immunogens, Trop Biomed, 23(2): p. 194-207.
26. Guerreiro Hygia, Croda Júlio, Flannery Brendan, Matsunaga James
Reis, Mitermayer Galvaxo (2001), Leptospiral proteins recognized during the
humoral immune response to leptospirosis in humans, Infect, Immun.
27. Haake DA, Champion CI, Martinich C, Shang ES, Blance DR, Miller
JN, Lovett MA (1993), "Molecular cloning and sequence analysis of the
gene encoding OmpL1, a transmembrane outer membrane protein of
pathogenic Leptospira spp". Journal of bacteriology, 175(13): p. 4225-
4234.
28. Haake David A, Chao Garlo, Zuerner Richard L, Barnett Jeanne K,
Barnett Dean, Mazel Mary, Matsunaga James, Levett Paul N, Bolin
Carole A (2000), The leptospiral major outer membrane protein LipL32
is a lipoprotein expressed during mammalian infection, Infection and
immunity, 68(4): p. 2276-2285.
29. Haake David A, Mazel Mary K, McCoy Adam M, Milward Frank, Chao
Garlo, Matsunaga James, Wagar Elizabeth A (1999), Leptospiral outer
membrane proteins OmpL1 and LipL41 exhibit synergistic
immunoprotection, Infection and immunity, 67(12): p. 6572-6582.
30. Hu Weilin and Yan Jie (2014), Leptospira and leptospirosis in China,
Current opinion in infectious diseases, 27(5): p. 432-436.
31. Hübener EA and Reiter Hans (1915), Beiträge zur Aetiologie der
Weilschen Krankheit, Dtsch,Med, Wochenschr., 41: p. 1275-1277.
32. Inada R and Ido Y (1915), A report of the discovery of the causal
organism (a new species of spirocheta) of Weil’s disease, Tokyo
Ijishinshi, 1908: p. 351-360.
33. Inada Ryokichi, Ido Yutaka, Hoki Rokuro, Ito Hiroshi, Wani Hidetsune
(1918), "INTRAVENOUS SEROTHERAPY OF WEIL'S DISEASE
(SPIROCHÆETOSIS ICTEROHÆMORRHAGICA)", The Journal of
experimental medicine, 27(2): p. 283.
34. Inada Ryokichi, Ido Yutaka, Hoki Rokuro, Ito Hiroshi, Wani Hidetsune
(2014), B-cell-specific peptides of Leptospira interrogans LigA for
diagnosis of patients with acute leptospirosis, Clinical and Vaccine
Immunology, 21(3): p. 354-359.
35. Koizumi N and Watanabe H (2005), "Leptospirosis vaccines: past,
present, and future", Journal of postgraduate medicine, 51(3): p. 210.
36. Nobuo Koizumi and Haruo Watanabe (2003), Molecular cloning and
characterization of a novel leptospiral lipoprotein with OmpA domain,
FEMS microbiology letters, 226(2): p. 215-219.
37. Koizumi Nobuo and Watanabe Haruo (2004), Leptospiral
immunoglobulin-like proteins elicit protective immunity, Vaccine,
22(11): p. 1545-1552.
38. Lee Seoung Hoon, Kim Kyung A, Park Yong Gun, Seong In Wha, Kim Min
Ja, Lee Yong Ju (2000), Identification and partial characterization of a
novel hemolysin from Leptospira interrogans serovar Lai, Gene, 254(1):
p. 19-28.
39. Lee Seoung Hoon, Kim Sangduk, Park Seung Chul, Kim Min Ja (2002),
Cytotoxic activities of Leptospira interrogans hemolysin SphH as a pore-
forming protein on mammalian cells, Infection and immunity, 70(1): p.
315-322.
40. Levett Paul N, Branch Songee L, Whittington Carol U, Edwards Charles
N, Paxton Helene (2001), Two methods for rapid serological diagnosis
of acute leptospirosis, Clinical and diagnostic laboratory immunology,
8(2): p. 349-351.
41. Li Chunhao, Motaleb A, Sal Melanie, Goldstein Stuart F, Charon Nyles
W (2000), "Spirochete periplasmic flagella and motility", Journal of
molecular microbiology and biotechnology, 2(4): p. 345-354.
42. Maneewatch Santi, Adisakwattana Poom, Chaisri Urai, Saengjaruk ,
Patcharin, Srimanote Potjanee, Thanongsaksrikul Jeeraphong,
Sakolvaree Yuwaporn, Poungpan Phakkanan, Chaicumpa Wanpen
(2014), Therapeutic epitopes of Leptospira LipL32 protein and their
characteristics, Protein Engineering Design and Selection: p. gzu006.
43. Matsunaga James, Young Tracy A, Barnett Jeanne K, Barnett Dean,
Bolin Carole A, Haake David A (2002), Novel 45-kilodalton leptospiral
protein that is processed to a 31-kilodalton growth-phase-regulated
peripheral membrane protein, Infection and immunity, 70(1): p. 323-
334.
44. McBride AJ Athanazio DA, Reis MG, Ko AI (2005), Leptospirosis, Curr
Opin Infect Dis 5(18): p. 3.
45. Nascimento Ana Lucia Tabet Oller do, Verjovski-Almeida S, Van Sluys
MA, Monteiro-Vitorello CB, Camargo LEA, Digiampietri LA,
Harstkeerl RA, Ho PL, Marques MV, Oliveira MC (2004), "Genome
features of Leptospira interrogans serovar Copenhageni", Brazilian
Journal of Medical and Biological Research, 37(4): p. 459-477.
46. Oliveira Thaís Larré, Grassmann André Alex, Schuch Rodrigo Andrade,
Neto Amilton Clair Pinto Seixas, Mendonça Marcelo, Hartwig Daiane
Drawanz, McBride Alan John Alexander, Dellagostin Odir Antonio
(2015), Evaluation of the Leptospira interrogans Outer Membrane
Protein OmpL37 as a Vaccine Candidate, PloS one, 10(11): p.
e0142821.
47. Palaniappan Raghavan UM, Chang Yung-Fu, Chang Chao-Fu, Pan MJ
Yang CW, Harpending Peter, McDonough Sean P, Dubovi Edward,
Divers Thomas, Qu Jiaxin (2005), Evaluation of lig-based conventional
and real time PCR for the detection of pathogenic leptospires, Molecular
and cellular probes, 19(2): p. 111-117.
48. Palaniappan Raghavan UM, Chang Yung-Fu, Jusuf SSD, Artiushin S,
Timoney John F, McDonough Sean P, Barr Steve C, Divers Thomas J,
Simpson Kenneth W, McDonough Patrick L (2002), Cloning and
molecular characterization of an immunogenic LigA protein of
Leptospira interrogans, Infection and immunity, 70(11): p. 5924-5930.
49. Palaniappan Raghavan UM, McDonough Sean P, Divers Thomas J,
Chen Chia-Sui, Pan Ming-Jeng, Matsumoto Mitsuharu, Chang Yung-Fu
(2006), Immunoprotection of recombinant leptospiral immunoglobulin-
like protein A against Leptospira interrogans serovar Pomona infection,
Infection and immunity, 74(3): p. 1745-1750.
50. Palaniappan Raghavan UM, Ramanujam Subbupoongothai, and Chang
Yung-Fu (2007), Leptospirosis: pathogenesis, immunity, and diagnosis.
Current opinion in infectious diseases, 20(3): p. 284-292.
51. Park Se-Hoon, Ahn Byung-Yoon, and Kim Min-Ja (1999), Expression
and immunologic characterization of recombinant heat shock protein 58
of Leptospira species: a major target antigen of the humoral immune
response, DNA and cell biology, 18(12): p. 903-910.
52. Picardeau M (2013), Diagnosis and epidemiology of leptospirosis,
Médecine et maladies infectieuses, 43(1): p. 1-9.
53. Picardeau Mathieu, Bauby Hélène, and Saint Girons Isabelle (2003),
Genetic evidence for the existence of two pathways for the biosynthesis
of methionine in the Leptospira spp, FEMS microbiology letters, 225(2):
p. 257-262.
54. Priya C Gowri, Bhavani K, Rathinam SR, Muthukkaruppan VR (2003),
"Identification and evaluation of LPS antigen for serodiagnosis of uveitis
associated with leptospirosis", Journal of medical microbiology, 52(8):
p. 667-673.
55. Ren Shuang-Xi, Fu Gang, Jiang Xiu-Gao, Zeng Rong, Miao You-Gang,
Xu Hai, Zhang Yi-Xuan, Xiong Hui, Lu Gang, Lu Ling-Feng (2003),
Unique physiological and pathogenic features of Leptospira interrogans
revealed by whole-genome sequencing, Nature, 422(6934): p. 888-893.
56. Rettinger Anna, Krupka Inke, Grünwald Karola, Dyachenko Viktor,
Fingerle Volker, Konrad Regina, Raschel Heribert, Busch Ulrich, Sing
Andreas, Straubinger Reinhard K (2012), Leptospira spp. strain
identification by MALDI TOF MS is an equivalent tool to 16S rRNA gene
sequencing and multi locus sequence typing (MLST), BMC
microbiology, 12(1): p. 185.
57. Sambrook (2011), Molecular cloning: a laboratory manual.
58. Seixas Fabiana Kömmling, Fernandes Claudia Hartleben, Hartwig
Daiane Drawanz, Conceicao Fabricio Rochedo, Aleixo Jose Antonio
Guimaraes, Dellagostin Odir Antonio (2007), "Evaluation of different
ways of presenting LipL32 to the immune system with the aim of
developing a recombinant vaccine against leptospirosis", Canadian
journal of microbiology, 53(4): p. 472-479.
59. Silva Éverton F, Medeiros Marco A, McBride Alan JA, Matsunaga
Jim, Esteves Gabriela S, Ramos João GR, Santos Cleiton S, Croda Júlio,
Homma Akira, Dellagostin Odir A (2007), The terminal portion of
leptospiral immunoglobulin-like protein LigA confers protective
immunity against lethal infection in the hamster model of leptospirosis,
Vaccine, 25(33): p. 6277-6286.
60. Smythe Lee D, Smith Ina L, Smith Greg A, Dohnt Michael F, Symonds
Meegan L, Barnett Leonie J, McKay David B (2002), A quantitative PCR
(TaqMan) assay for pathogenic Leptospira spp, BMC infectious
diseases, 2(1): p. 13.
61. Talwani Rohit, Gilliam Bruce L, and Howell Charles (2011), Infectious
diseases and the liver, Clinics in liver disease, 15(1): p. 111-130.
62. Vanasco Norma Bibiana, Schmeling MF, Lottersberger Javier, Costa
Federico, Ko Albert Icksang, Tarabla Héctor Dante (2008), Clinical
characteristics and risk factors of human leptospirosis in Argentina
(1999–2005), Acta Tropica, 107(3): p. 255-258.
63. Vedhagiri K, Natarajaseenivasan K, Chellapandi P, Prabhakaran SG, Selvin
Joseph, Sharma S, Vijayachari P (2009), Evolutionary implication of outer
membrane lipoprotein-encoding genes ompL1, lipL32 and lipL41 of
pathogenic Leptospira species, Genomics, proteomics & bioinformatics,
7(3): p. 96-106.
64. Wang Zhijun, Jin Li, and Węgrzyn Alicja (2007), Leptospirosis
vaccines, Microbial Cell Factories, 6(1): p. 39.
65. Wasinski Bernard and Dutkiewicz Jacek (2013), Leptospirosis-current
risk factors connected with human activity and the environment, Annals
of Agricultural and Environmental Medicine, 20(2).
66. Xiao Di, Zhang Cuicai, Zhang Huifang, Li Xiuwen, Jiang Xiugao,
Zhang Jianzhong (2015), "A novel approach for differentiating
pathogenic and non-pathogenic Leptospira based on molecular
fingerprinting", Journal of proteomics, 119: p. 1-9.
67. Yanagihara Yasutake, Villanueva Sharon YAM, Yoshida Shin-ichi,
Okamoto Yoshihiro, Masuzawa Toshiyuki (2007), Current status of
leptospirosis in Japan and Philippines, Comparative immunology,
microbiology and infectious diseases, 30(5): p. 399-413.
68. Yang Hong-Liang, Zhu Yong-Zhang, Qin Jin-Hong, He Ping, Jiang Xu-
Cheng, Zhao Guo-Ping, Guo Xiao-Kui (2006), In silico and microarray-
based genomic approaches to identifying potential vaccine candidates
against Leptospira interrogans, BMC genomics, 7(1): p. 293.
69. Ye Cuilian, Yan Weiwei, McDonough Patrick L, McDonough Sean P,
Mohamed Hussni, Divers Thomas J, Chang Yung-Fu, Yang Zhibang
(2014), Serodiagnosis of equine leptospirosis by enzyme-linked
immunosorbent assay using four recombinant protein markers, Clinical
and Vaccine Immunology, 21(4): p. 478-483.
70. Zuerner Richard, Haake David, Adler Ben, Segers Ruud (2000),
"Technological advances in the molecular biology of Leptospira",
Journal of molecular microbiology and biotechnology, 2(4): p. 455-462.
PHỤ LỤC
1. Trình tự gen 16S rDNA của chủng L. interrogans serovar Bataviae
GACCGGGGGGGGGACCTGAGCAGCGACGCCGCGTGAACGATGAA
GGTCTTCGGATTGTAAAGTTCAGTAAGCAGGGAAAAATAAGCAGC
AATGTGATGATGGTACCTGCCTAAAGCACCGGCTAACTACGTGCC
AGCAGCCGCGGTAATACGTATGGTGCAAGCGTTGTTCGGAATCAT
TGGGCGTAAAGGGTGCGTAGGCGGACATGTAAGTCAGGTGTGAAA
ACTGCGGGCTCAACTCGCAGCCTGCACTTGAAACTATGTGTCTGGA
GTTTGGGAGAGGCAAGTGGAATTCCAGGTGTAGCGGTGAAATGCG
TAGATATCTGGAGGAACACCAGTGGCGAAGGCGACTTGCTGGCCT
AAAACTGACGCTGAGGCACGAAAGCGTGGGTAGTGAACGGGATTA
GATACCCCGGTAATCCACGCCCTAAAGGTTGTCTACCAGTTGTTGG
GGGTTTTAACCCTCAGTAACGAACCTAACGGATTAAGTAGACCGC
CTGGGGACTATGCTCGCAAGAGTGAAACTCAATGAAATTTGACGG
2. Trình tự gen 16S rDNA của chủng L. interrogans serovar Mitis
GGCCCAAGGGGGGGGACCTGAGCAGCGACGCCGCGTGAACGATGA
AGGTCTTCGGATTGTAAAGTTCAGTAAGCMSGGAAAAATAAGCAG
CAATGTGATGATGGTACCTGCCTAAAGCACCGGCTAACTACGTGCC
AGCAGCCGCGGTAATACGTATGGTGCAAGCGTTGTTCGGAATCATT
GGGCGTAAAGGGTGCGTAGGCGGACATGTAAGTCAGGTGTGAAAA
CTGCGGGCTCAACTCGCAGCCTGCACTTGAAACTATGTGTCTGGAG
TTTGGGAGAGGCAAGTGGAATTCCAGGTGTAGCGGTGAAATGCGT
AGATATCTGGAGGAACACCAGTGGCGAAGGCGACTTGCTGGCCTA
AAACTGACGCTGAGGCACGAAAGCGTGGGTAGTGAACGGGATTAA
ATACCCCGGTAATCCACGCCCTAAACGTTGTCTACCAGTTGTTGGG
GGTTTTAACCCTCAGTAACGAACCTAACGGATTAAGTAGACCGCCT
GGGGACTATGCTCGCAAGAGTGAAACTCAAATGAATTGACGGA
3. Trình tự gen 16S rDNA của chủng L. interrogans serovar Pomona
GGATGGCCGTCCCAGGGCGGTCTACTTAATCCGTTAGGTTCGTTAC
TGAGGGTTAAAACCCCCAACAACTGGTAGACCACGTTTAGGGCGT
GGATTACCGGGGTATCTAATCCCGTTCACTACCCACGCTTTCGTGC
CTCAGCGTCAGTTTTAGGCCAGCAAGTCGCCTTCGCCACTGGTGTT
CCTCCAGATATCTACGCATTTCACCGCTACACCTGGAATTCCACTT
GCCTCTCCCAAACTCCAGACACATAGTTTCAAGTGCAGGCTGCGA
GTTGAGCCCGCAGTTTTCACACCTGACTTACATGTCCGCCTACGCA
CCCTTTACGCCCAATGATTCCGAACAACGCTTGCACCATACGTATT
ACCGCGGCTGCTGGCACGTAGTTAGCCGGTGCTTTAGGCAGGTAC
CATCATCACATTGCTGCTTATTTTTCCCTGCTTACTGAACTTTACAA
TCCGAAGACCTTCATCGTTCACGCGGCGTCGCTGCTTCAGGGTTCC
CCCCAATATAGAATAATCCTAATCGGCCGTGCCCCATCAGCCAAG
GCATTAATAACCCTGGCCAAGGGGGGGGAAACCCAAAAACCCCCC
CCCCCGAGAAAGAAAAAATTTCCCCAATAGTAAAATTTTTCAAAA
AGGGGGAAAAAAAAAACCCCCCGGGGAAAAAGGGTCCCCCCCCA
AAGCCCCGAAAAAAGGGGGCCCCCCCGGGGAAAAAAATAAGGGG
GGAAATGTTTTTAACAAAAAATTGCGGGCAAACAGGGGGGGGAG
GGGGGGAAATAGATATTAGGTGGGATAAAAAACGAGACGCGCGG
GGTGTTGCAAAAAAAACCTTTGCGCGTAGTGGTGAGAGAGAGAAG
AGACCCCCTCTCCCGCGTGGGGCGCGGGGAAATATTATAATATTTT
GGAAAGACACATCACGAGCAGACCAGCATTAAGGTATAACACTAG
CTAAACTAGACTGAGCATACGA
4. Trình tự gen 16S rDNA của chủng L. interrogans serovar Canicola
GGGCGTGGGGGGCAAATCTGACCACCCATGCCGCGTGAAGGATGA
AGGTCCTCTGGATTGTAAACTTCTTTTATAGGGGGCGAAAAAAGG
GAAATCTTTCTCACTTGACCGTACCCTATGAATAACACACCGGCTA
ACTCCGTGCCAGCAAACCGCGGTACATACGGAGGGTGCAAGCGTT
ATCCGGATTCACTGGGTTTAAAGGGTGCGTAGGCGGGCGTATAAG
TCAAATGGTGAAATCCTGGAGCTTATCTCCAGAACTGCCATTGATA
CTATATGTCTTGAATATGGTGGAGGTAACCGGAATATGTCATGTAG
CGGTGAAATGCATAAATATGAACATAGAACACCTATTGCGAAGGC
GGCTTACTACGCCTATTTTGACCCTAAGGCACGAAAGCGTGGGGA
TCAAACAGGATTAGATACCCTGGTACTCCACGCCCTAAACCATGAT
TACTCGACGTGTGCGATAAACGGTACGCGTCTGAGCGAAAGCATT
AAGTAATCCACCTGGGAAGTACGACCGCAAGGTTGAAACTCAAAT
GAAATTGACGG
5. Trình tự gen 16S rDNA của chủng L. interrogans serovar Grippotyphosa
TTAACCTTGGGGGCACCTGTATCAGCGCAGGCCGCGTGAACGACG
AAGGTCTTCGGATTGTAAAGTTCATTAGGCAGGGAAAAATAAGCA
ACCTTGTGATGATGGTACCTGCCTAAAGCACCGGATAACTACCTGC
CAGCAACCGCGGTAATACCTATGGGGCAAGCGTTGTTCGGAATCA
TTGGGCGTAAAGGGTGCGTAAGCGGACATGTAATTCAAGTGTGAA
AACTGCGGGCTCACCTCATAGCCTGCACTTGAAACTATGTGTCTGG
AGTTTGGGAGAGGCAAGTGGAATTCCAGGTGTACCGGTGAAATGC
GTAAATATCTGGAGGAACACCAGTGGCGAAGGCACTTGCTGGCCT
AAAACTGACGCTGAGGCACGAAAGCGTGGGTAGTGAACGGGATTA
GATACCCCGGTAATCCACGCCCTAAACGTTGTCTACCACTTGTTGG
GGGTTTTAACCCTCATTAACGAACCTAACGGATTAACTAGACCGCC
TGGGGACTATGCTCGCAAGAGTGAAACTCAAATGAATTGACGG
6. Trình tự gen 16S rDNA của chủng L. interrogans serovar Icteroheamorrhagiae
GCACGGAGGGGGGGCACCTGAGCAGCGACGCCGCGTGAACGATG
AAGGTCTTCGGATTGTAAAGTTCAGTAAGCAGGGAAAAATAAGCA
GCAATGTGATGATGGTACCTGCCTAAAGCACCGGCTAACTACGTG
CCAGCAGCCGCGGTAATACGTATGGKGCAAGCGTTGTTCGGAATC
ATTGGGCGTAAAGGGTGCGTAGGCGGACATGTAAGTCAGGTGTGA
AAACTGCGGGCTCAACTCGCAGCCTGCACTTGAAACTATGTGTCTG
GAGTTTGGGAGAGGCAAGTGGAATTCCRGGTGTAGCGGTGAAATG
CGTAGATATCTGGAGGAACACCAGTGGCGAAGGCGACTTGCTGGC
CTAAAACTGACGCTGAGGCACGAAAGCGTGGGTAGTGAACGGGAT
TAGATACCCCGGTAATCCACGCCCTAAACGTTGTCTACCAGTTGTT
GGGGGTTTTAACCCTCAGTAACGAACCTAACGGATTAAGTAGACC
GCCTGGGGACTATGCTCGCAAGAGTGAAACTCAAATGAAATTGAC
GGATAGCAAACCAAGAGTCTTGCTCACTGGGGGGAACCCTGAAGC
ATTCACAACGCATGAGCCATCAACGTCGTCCAATTGTAAAAGTTCC
CTAAGCAGGGAAGTATAARCAGCATGCTGAATGATTGTACCTGCC
TAAAGGCACGGCTAATTACGTGCCGCRTCGGCCTAATACATTATGG
GTGCAACGGGTTGTTTAGGAATCATTAGTAACGTAGAGAGGGCGA
TATAGGGCGGAACATCGACAAGTCAGGATGTGAAAACTGGCGTGC
TCACTACACTGCAATAGAAAAATAAACGTTATTCGAGGAGTTTCG
GGAACAAGCAAATGATAATTCCCAGGATGTCACAAGGTGACAACC
GTGGCTACAAAATRTCTCTCAGACAGGGA