
24
Thứ nhất, trong mô hình nghiên cứu của luận án, do số lượng biến
nghiên cứu và biến quan sát đưa vào mô hình là khá nhiều, nên thang
đo của một số biến nghiên cứu trong mô hình được thiết kế chưa thật
sâu theo từng nội dung cụ thể. Trên thực tế, Liên tưởng TH, Chất
lượng cảm nhận và Trung thành TH là những khái niệm phức tạp, đa
chiều (multi-dimensional concepts). Các nghiên cứu riêng về từng
thành phần của GTTH với những thang đo đa chiều và sâu hơn có thể
giúp khắc phục hạn chế này.
Thứ hai, mô hình nghiên cứu của luận án được dựa trên mô hình
của Aaker (1991), trong đó xem GTTH tổng thể là biến đầu ra. Trên
thực tế, sự ảnh hưởng giữa các yếu tố cấu thành GTTH và GTTH
tổng thể mang tính tương tác. Một số nghiên cứu lại tiếp cận theo
hướng ngược lại, chẳng hạn Taylor & cộng sự (2004) đã tìm hiểu ảnh
hưởng của GTTH tới Trung thành TH. Các nghiên cứu tương lai có
thể xem xét mối liên hệ ngược lại giữa GTTH và các nhân tố ảnh
hưởng nói trên.
Thứ ba, nghiên cứu mới thực hiện tại một số ít trường ĐH công
lập tại Hà Nội. Có thể có sự khác nhau giữa các trường ĐH tại Hà
Nội và tại các địa phương khác, cũng như là giữa các trường công lập
và các trường ngoài công lập. Để kết quả tin cậy hơn, cần làm những
nghiên cứu thêm tại những địa phương khác hoặc nhóm trường khác.
Các nghiên cứu tiếp theo có thể giúp bổ sung khiếm khuyết này.
Thứ tư, việc đánh giá GTTH và các thành phần của GTTH của
các trường ĐH mới dựa trên sự đánh giá của sinh viên đang theo học
tại trường. Những nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng diện khảo sát
để bao gồm thêm nhóm những nhà tuyển dụng và cựu sinh viên và có
được cái nhìn toàn diện hơn về GTTH trường ĐH.
Thứ năm, giáo dục ĐH là lĩnh vực sản phẩm phức tạp bao gồm
nhiều cấp độ TH khác nhau, trong đó có TH trường, TH khoa-viện,
TH chuyên ngành đào tạo và các TH của chương trình đào tạo (chính
quy, liên kết quốc tế, định hướng thực hành …). Luận án mới nghiên
cứu được ở cấp độ thương hiệu trường. Các nghiên cứu tiếp tục có
thể tìm hiểu sâu hơn về GTTH khoa-viện, chuyên ngành và chương
trình đào tạo.
Những hạn chế nêu trên sẽ là khoảng trống cho các nghiên cứu
tiếp theo liên quan đến GTTH trong lĩnh vực giáo dục đào tạo.
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lý do từ bối cảnh thực tiễn
Thương hiệu (TH), xây dựng TH và tạo dựng giá trị thương hiệu
(brand equity, viết tắt là GTTH) là vấn đề cực kỳ quan trọng và có ý
nghĩa dài hạn đối với tất cả các tổ chức (Keller 2013). Xây dựng
thương hiệu trong lĩnh vực dịch vụ đã được xem là quan trọng hơn
trong lĩnh vực sản phẩm hữu hình (Krishnan & Hartline 2001).
Giáo dục đại học (ĐH) là loại dịch vụ có hàm lượng vô hình cao,
tác động tới tâm trí con người, là sản phẩm dựa trên uy tín để lựa
chọn và đánh giá (credence goods), do đó TH càng đóng vai trò quan
trọng.
Trong vòng 15 năm qua, số lượng các cơ sở đào tạo ĐH tại Việt
Nam đã tăng nhanh. Sự gia tăng số trường ĐH và loại hình trường
ĐH (công lập, tư thục, quốc tế) đã làm cho sự cạnh tranh giữa các cơ
sở đào tạo ĐH mạnh hơn. Bởi vậy, vấn đề chất lượng và TH trường
cũng được chú trọng hơn. GTTH trường ĐH là một trong những tiêu
chí quan trọng được học sinh quan tâm khi lựa chọn trường ĐH theo
học và nhà tuyển dụng lựa chọn sinh viên tốt nghiệp.
Chính vì vậy, rất cần phải nghiên cứu sâu về GTTH trường ĐH và
những nhân tố ảnh hưởng tới GTTH trường ĐH.
Lý do từ khái niệm lý thuyết
GTTH (brand equity) là một khái niệm lý thuyết được đề xuất từ
những năm 1990 trên thế giới. Kể từ đó, khái niệm này đã nhận được
nhiều sự quan tâm nghiên cứu và có nhiều quan điểm và trường phái.
Trên thế giới, đa số các nghiên cứu về GTTH theo quan điểm
khách hàng (customer-based brand equity) và các nhân tố ảnh hưởng
đều dựa trên một trong hai trường phái chính là David Allen Aaker
(1991) và Kevin Lane Keller (1993) hoặc biến thể từ hai trường phái
này.
Một số nghiên cứu quốc tế điển hình về GTTH trường ĐH gần
đây là Rindova, Williamson & Petkova 2005 (ảnh hưởng của các
nhân tố đầu vào như sinh viên, cơ sở vật chất, thứ hạng của tạp chí
chuyên ngành được đăng tải công trình, nơi tốt nghiệp tiến sĩ của GV
2
tới danh tiếng TH trường ĐH), Mourad, Ennew & Kortam 2011
(nghiên cứu ảnh hưởng của đặc điểm người học, nhận biết TH và
hình ảnh TH tới GTTH trường ĐH), và Pinar & cộng sự 2014 (xây
dựng thang đo GTTH trường ĐH).
Một số nghiên cứu trong nước tiêu biểu về GTTH trường ĐH có
thể kể đến là nghiên cứu của Phạm Thị Minh Lý 2014 (nghiên cứu
ảnh hưởng của Nhận biết TH, Chất lượng cảm nhận, Liên tưởng TH,
Trung thành TH tới Tài sản TH trường ĐH tại thành phố Hồ Chí
Minh), Nguyễn Trần Sĩ & Nguyễn Thúy Phương 2014 (nghiên cứu lý
thuyết về quảng bá TH trong lĩnh vực giáo dục ĐH), Hoàng Thị Thu
Phương và Vũ Trí Dũng 2014 (nghiên cứu lý thuyết về xây dựng
hình ảnh thương hiệu đại học), Hoàng Thị Huệ và Phan Thị Thanh
Hoa 2014 (phát triển thương hiệu trường đại học Việt Nam thông qua
việc gắn kết giữa đào tạo và nhu cầu doanh nghiệp), Nguyễn Thanh
Trung 2015 (GTTH của trường ĐH dựa trên nhân viên: Nghiên cứu
tại Việt Nam).
Có thể thấy rằng, mặc dù khái niệm GTTH được quan tâm nghiên
cứu sớm, các nghiên cứu quốc tế và trong nước về GTTH trường ĐH
thì cho đến nay vẫn còn ít. Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào mang
tính mô hình hóa về GTTH trường ĐH và các nhân tố ảnh hưởng tới
GTTH trường ĐH tại Hà Nội. Đây chính là khoảng trống cho đề tài
của luận án. Do đó, NCS đã lựa chọn đề tài:
“Mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới giá trị thương hiệu của một
số trường đại học công lập ngành kinh tế và quản trị kinh doanh tại
Hà Nội”.
2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Luận án nhắm đến các mục tiêu nghiên cứu sau đây: (1) Phân tích
bản chất, các thành phần và các nhân tố ảnh hưởng tới GTTH trường
ĐH; (2) Thiết kế thang đo phù hợp cho khái niệm GTTH trường ĐH
và các nhân tố ảnh hưởng tới GTTH trường ĐH; (3) Xây dựng và
kiểm nghiệm mô hình về mối liên hệ giữa GTTH và các nhân tố ảnh
hưởng tới GTTH và (4) Đưa ra những đề xuất nhằm làm tăng GTTH
trường ĐH dựa trên mô hình đã kiểm nghiệm.
Để đạt các mục tiêu nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu mà luận án
phải trả lời là: (1) GTTH trường ĐH là gì? GTTH trường ĐH theo
quan điểm người học được đo lường như thế nào? (2) Đâu là những
23
Nhận biết TH là biến khởi đầu và hệ số ảnh hưởng lớn nhất tới
GTTH. Việc xây dựng nhận biết TH liên quan đến các nội dung
chính là thiết kế bộ nhận diện thương hiệu, triển khai áp dụng và
truyền thông đối ngoại.
3. Không ngừng nâng cao chất lượng cảm nhận. Chất lượng cảm
nhận bị ảnh hưởng bởi chất lượng thực và nhận thức của khách hàng
về chất lượng thực đó (Parasuraman 1985). Chất lượng thực bao gồm
chất lượng đội ngũ giảng viên (trình độ chuyên môn, sư phạm, tư
cách phẩm chất), cơ sở vật chất, hoạt động đào tạo (chuẩn đầu ra,
chương trình, nội dung giảng dạy, thực hành, kiểm tra và đánh giá),
hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động phong trào đoàn thể và
các mảng khác.
4. Đẩy mạnh các chương trình tăng cường lòng trung thành với
thương hiệu. Trung thành TH vừa có ảnh hưởng trực tiếp vừa có ảnh
hưởng trung gian tới GTTH với trọng số đáng kể. Do đó, cần thiết kế
và duy trì các chương trình tăng cường lòng trung thành (loyalty
programs) thông qua mạng lưới cựu sinh viên và tăng cường sự gắn
bó giữa sinh viên đang học và nhà trường (tích điểm thành tích học
tập và rèn luyện, cộng điểm ưu tiên, giảm học phí, tặng học bổng).
5. Lựa chọn và thiết kế các liên tưởng thương hiệu đặc trưng. Mỗi
trường ĐH cần căn cứ vào đặc điểm riêng, thế mạnh và tầm nhìn TH
của nhà trường để lựa chọn hoặc thiết kế mới một số lượng chọn lọc
các liên tưởng TH riêng có, giúp tạo nên tính cách riêng cho trường
mình.
6. Xây dựng và triển khai đồng bộ các chương trình truyền thông
thương hiệu tích hợp. Truyền thông tích hợp về thương hiệu (IBC –
Integrated Brand Communications) đóng vai trò quan trọng trong
việc tăng cường các thành phần của GTTH. Để thực hiện điều này,
cần có sự chỉ đạo thống nhất từ ban lãnh đạo nhà trường, thiết kế
thông điệp xuyên suốt, triển khai nhất quán và đồng bộ trong tất cả
các đơn vị trong trường.
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và gợi ý cho các hướng nghiên cứu
tiếp theo
Bên cạnh những đóng góp tích cực về mặt lý thuyết và thực tiễn,
nghiên cứu cũng còn một số hạn chế.