
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
445
TÌM HIỂU MỐI QUAN HỆ ĐỐI ỨNG GIỮA ÂM ĐẦU “L”
CỦA ÂM HÁN VIỆT VÀ THANH MẪU TIẾNG TRUNG HIỆN ĐẠI
EXPLORE THE RECIPROCAL RELATIONSHIP BETWEEN THE SOUND “L”
SOUND OF THE HAN-CHINESE AND CHINESE MODERN CONSANANT
SVTH: Huỳnh Thể Na
Lớp 07cnt01, Khoa tiếng Trung, Trường Đại học Ngoại ngữ
GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Thanh
Khoa tiếng Trung, Trường Đại học Ngoại ngữ
TÓM TẮT
Đề tài tìm hiểu mối quan hệ đối ứng giữa âm đầu “l” của âm Hán Việt và thanh mẫu tiếng
Trung hiện đại thông qua phân tích, thống kê dựa trên nguồn dữ liệu gồm 593 chữ Hán nhằm tìm
ra qui luật chung nhất trong mối quan hệ đối ứng của hai loại ngôn ngữ. Từ đó giúp cho sinh viên,
những người có hứng thú về ngữ âm tiếng Hán có thể hiểu biết sâu về mối quan hệ này, đồng thời
khắc phục khó khăn trong giai đoạn mới bắt đầu học tiếng Trung cũng như việc mở rộng hiểu biết
về ngôn ngữ đích.
ABSTRACT
The article aims at researching the reciprocal relationship between the first the syllable “l”
of the Han-Vietnamese and the modern Chinese sound by analyzing, statisting based on the
resources which include 593 Chinese characters to find out the most general rule about the
reciprocal relationship of the tow languages. The research helps the students who are interested in
Chinese language not only have a deep knowledge about this relationship but also overcome the
difficulties in the first stage of learning Chinese as well as widen their knowledge about the aiming
language.
1. Đặt vấn đề
Lịch sử ngàn năm bắc thuộc của Dân tộc Việt Nam đã tạo nên sự giao thoa văn hóa
ngôn ngữ giữa hai dân tộc Hán và Việt. Với chính sách Hán hóa của nhà Hán, tiếng Hán đã
được giảng dạy ở Việt Nam và người Việt Nam đã sử dụng thứ ngôn ngữ mới đó song
song với tiếng Việt- tiếng nói truyền miệng. Người Việt Nam tiếp thu tiếng Hán và chữ
Hán, đồng thời đã Việt hóa nhiều từ của tiếng Hán thành từ tiếng Việt, gọi là từ Hán Việt.
Theo thống kê của các nhà nghiên cứu hiện nay lượng từ gốc Hán trong hệ thống từ vựng
tiếng Việt chiếm khoảng 75%. Sự giao thoa về mặt ngữ nghĩa và ngữ âm giữa hai thành tố
Hán – Việt trước kia (theo Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn sự giao thoa rõ nét nhất diễn ra vào
giai đoạn nhà Đường, trước và sau giai đoạn này cũng có hiện tượng giao thoa ngôn ngữ
nhưng diễn ra không toàn diện và ồ ạt như giai đoạn trên) có ảnh hưởng gì đến sự phát
triển nội tại của hai loại ngôn ngữ Trung – Việt hiện nay hay không và nguồn gốc của sự
giao thoa này có giúp ích gì cho người Việt Nam trong quá trình học tiếng Trung hay
không? Đây là một vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu ngôn
ngữ hai nước Việt Nam và Trung Quốc.
Ai cũng thừa nhận khi học tiếng Trung rằng tiếng Trung là một ngôn ngữ rất phức
tạp và rất khó đọc, khó viết. Nhưng có một điều mà người học tiếng Trung đều cảm thấy

Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
446
thú vị là khi đọc tiếng Trung ta thấy rất gần với cách đọc của âm Hán Việt của chúng ta và
có nhiều từ chúng ta không biết cách viết nhưng biết cách đọc nhờ vào việc ghép âm Hán
Việt. Vấn đề là chúng ta phải biết vận dụng mối quan hệ logic giữa ngữ âm tiếng Hán và
âm Hán Việt vào thực tế để khi giao tiếp chúng ta phản ứng linh hoạt hơn.
Từ những vấn đề trình bày trên, việc “tìm hiểu mối quan hệ đối ứng giữa âm đầu
“l” của âm Hán Việt và thanh mẫu tiếng Trung hiện đại” là một việc làm cần thiết vì người
viết không tự bằng lòng vào sự giải thích chung chung về nguồn gốc mối quan hệ giữa
thanh mẫu tiếng Trung và phụ âm đầu âm Hán Việt nên đưa ra cách kiến giải của mình
nhằm cho sinh viên cũng như những người có hứng thú về ngữ âm tiếng Hán có thể hiểu
biết sâu về mối quan hệ này đồng thời khắc phục khó khăn trong giai đoạn mới bắt đầu học
tiếng Trung cũng như việc mở rộng hiểu biết về ngôn ngữ đích.
2. Kết quả thu được của đề tài nghiên cứu
2.1. Lý giải nguồn gốc của vấn đề
Trên cơ sở kết quả đối chiếu thu được chúng tôi phát hiện có 577/ 593 (chiếm
97.3%) chữ Hán có âm đầu của âm Hán Việt tương ứng với thanh mẫu /l/ của tiếng Trung
hiện đại. 16/ 593 (chiếm 2.7%) chữ Hán không có mối quan hệ đối ứng này. Trong số này
mối quan hệ đối ứng là Hán Việt /l/ sang tiếng Trung /y/ là ba chữ (滟
[liễm/yan4],杳[liểu/yao3], 轧[loát/ya4]); sang tiếng Trung /j/ là ba chữ (屦窭[lũ/ju4[
,拣[luyến/jian3]); sang tiếng Trung /ch/ là hai chữ (螭黐[li/chi3]); sang tiếng Trung /n/ là
hai chữ (辇[liễn/nian3], 弄[lộng/nong4]); sang tiếng Trung /d/ là một chữ (棣[lệ/di4]); sang
tiếng Trung /r/ là một chữ (嬈[liễu/rao2]); sang tiếng Trung /w/ là một chữ
(湾[loan/wan1]); sang tiếng Trung /sh/ là một chữ (刷[loát/shua1]); sang tiếng Trung /g/ là
một chữ (纶[luân/guan1]); sang tiếng Trung /zh/ là một chữ (繇[lựu/zhou4]). Ở chiều
ngược lại thanh mẫu /l/ của tiếng Trung hiện đại đối ứng với âm /l/ của âm Hán Việt là
582/593 chữ (chiếm 98.1%), quan hệ không đối ứng là 11/593 (chiếm 1.9%), trong đó âm
tiếng Trung /l/ sang âm Hán Việt /th/ có hai chữ (鬎[la1/thích], 脸[lian3/thiểm]); sang âm
Hán Việt /n/ có hai chữ (羸[la4/nuy]; 卵[luan3/noãn]); sang âm Hán Việt /kh/ có hai chữ
(倮, 裸[luo3/khỏa[); sang âm Hán Việt /k/ có một chữ (脸[lian3/kiểm[); sang âm Hán Việt
/r/ có một chữ (噜[lu1/rô]); sang âm Hán Việt /s/ có một chữ (率[lǜ/ soát]); sang âm Hán
Việt /d/ có một chữ (醪[lao2/dao]); sang âm Hán Việt /nh/ có một chữ (赁[lin4/ nhẫm]).
Từ kết quả thu được chúng ta có thể kết luận quan hệ phụ âm /l/ giữ âm Hán Việt
và tiếng Trung là mối quan hệ đối ứng, dựa vào quan hệ đối ứng này, khi người Việt Nam
học tiếng Trung có thể căn cứ trên âm Hán Việt để phán đoán thanh mẫu của tiếng Trung
và đây cũng là một lợi thế của người Việt Nam khi học tiếng Trung.
Tuy nhiên kết quả này cũng đặt ra một vấn đề, mối quan hệ đối ứng này không phải
là hiện tượng ngẫu nhiên nhưng phải chăng nó có một mối quan hệ logic nào đó. Từ sau

Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
447
Ngô Quyền xây dựng nước nhà độc lập, sự giao thoa về mặt ngôn ngữ không còn mật thiết
như giai đoạn trước đây. Sự phát triển của hai ngôn ngữ hầu như phát triển độc lập chứ
không còn cộng hưởng như trước đây. Mỗi loại ngôn ngữ đều phát triển trên cơ sở những
vấn đề nội tại của ngôn ngữ đó phải chăng đây chính là sự đặc điểm phát triển cùng nguồn
gốc của một loại hình ngôn ngữ nào đó.
Mặt khác một số hiện tượng ngoài qui luật phải chăng nguyên nhân của sự thay đổi
là do ảnh hưởng của ngôn ngữ bản địa hay là ẩn chứa trong đó còn có những tầng lịch sử
ngữ âm của các thời đại khác nhau?
Qua quá trình khảo sát nghiên cứu, sử dụng phương pháp truy nguyên chúng tôi
phát hiện nguyên nhân của qui luật này chính do nguồn gốc từ âm trung cổ của tiếng Hán.
Âm /l/ của Âm Hán Việt và âm /l/ của tiếng Trung có nguồn gốc từ thanh mẫu lai(来母)
của âm Hán trung cổ, xa hơn nữa, theo các nhà nghiên cứu của Trung Quốc như WangLi,
FanWuYun …. thống nhất cho rằng thanh mẫu lai(来母) của tiếng Hán trung cổ có một bộ
phần có nguồn gốc từ thanh mẫu nê (泥母) và thanh mẫu vân (云母), điều này dẫn đến
chúng tôi có thể phán đoán một số quan hệ đối ứng giữa âm /l/ của âm Hán Việt và âm /n/,
/y/, /j/ của tiếng Trung là mối quan hệ đồng nguyên từ âm Hán thượng cổ. Tuy nhiên để
chứng minh được vấn đề này cần phải có sự khảo sát toàn diện và chuyên sâu hơn nữa.
Chúng tôi hy vọng rằng sau này có điều kiện sẽ tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu để minh
chứng cho phán đoán của mình
Ngoài ra, một số âm đọc trong âm Hán Việt, theo tác giả Thiều Chửu thì đó là cách
đọc theo thói quen của người Việt. Tuy nhiên xét từ góc độ lịch sử ngữ âm thì cách đọc
này có thể có căn nguyên của nó. Phải chăng do chịu sự ảnh hưởng của qui luật ngôn ngữ
tiếng Việt và văn hóa Việt Nam đã làm thay đổi cách đọc hay chăng cách đọc này có
nguồn gốc khác nhau? Chúng tôi thiên về giả thiết thứ hai. Truy nguyên nguồn gốc âm đọc
của các chữ ngoại lệ này thì phần lớn những chữ này trong tiếng Hán cổ đại đều là chữ đa
âm, điều này có nghĩa là âm đọc của những chữ này có nguồn gốc khác nhau về âm vận
học. Chúng tôi phỏng đoán âm đọc Hán Việt của những chữ này (mà theo Thiều Chửu là
quen đọc) có khả năng người Việt Nam căn cứ theo qui luật phản thiết từ nguồn gốc khác
để tạo nên âm đọc Hán Việt (vấn đề này xin xem phần giải thích cụ thể một số âm đọc
ngoại lệ).
2.2. Tìm hiểu và giải thích nguồn gốc của một số hiện tượng ngoài quy luật
Như phần trên đã giới thiệu, tổng cộng có 37 chữ không theo qui luật đối ứng. Để
tìm hiểu được nguyên nhân của nó đòi hỏi phải có kiến thức hơn nữa. Trong phạm vi bài
này chúng tôi chỉ thử giải thích một số hiện tượng mang tính điển hình nhất trong số hiện
tượng ngoài qui luật.
2.2.1. [
鬎
] HV: / thích /, TV: /là/
Kết cấu của chữ là kết cấu hình thanh, biên bàng “lạt” [剌] là thanh, đọc /là/ như
vậy thì nó không liên quan đến chữ “thích” ở đây. Vậy thì sự thay đổi không phải do bản
thân nó mà do yếu tố tác động bên ngoài. Theo suy luận của người viết thì khi chữ Hán du
nhập vào Việt Nam, trong giai đoạn đầu du nhập chủ yếu bằng đường khẩu ngữ nên khi
đến thời Trung cổ khi chữ viết đã xuất hiện thì người Việt Nam đã nhầm lẫn giữa chữ[剌]

Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
448
“lạt” và chữ [刺] “thích” vì khi nhìn một cách khái quát thì cách viết của hai chữ này rất
giống nhau, do vậy mà chữ鬎 đọc là /là/ nhưng lại có âm Hán Việt là “thích”.
2.2.2. [
脸
] HV: /liễm/, /thiểm/, /kiểm/ TV: /liǎn/
Theo tiến trình ngữ âm của tiếng Hán trong thời thượng cổ khi chữ này du nhập vào
Việt Nam thì phát triển theo 2 hướng khác nhau, một hướng phát triển theo quy luật âm
Hán Việt bắt nguồn từ thanh mẫu [来] “lai”, phiên thiết [力减] “lực giảm” theo quy luật
phiên thiết thì nó phải là “lảm” vì vậy người Việt đã việt hóa thành “liễm” để phù hợp với
quy luật ngữ âm tiếng Việt. Và nó giữ nguyên gốc thanh mẫu của quy luật.
Cũng trong thời thượng cổ chữ này phát triển theo một hướng khác, lấy thanh mẫu
từ [清] “thanh”, vận mẫu [盐] “diêm”, thanh điệu [平] “âm bình”, phiên thiết là
[七廉]“thất liêm” vậy theo quy luật phiên thiết Hán Việt thì đây là “thiểm”.
Đến thời trung cổ thì chữ này xuất hiện thêm âm Hán Việt “kiểm”. Sự phát sinh
này do chính bản thân tiến trình ngữ âm Hán ngữ của chữ. Lấy thanh mẫu từ [见] “kiến”,
vận mẫu [盐] “diêm”, thanh điệu[上], phiên thiết [居奄]“cư yểm” khi phiên thiết qua âm
Hán Việt thì từ này chiu sự tác động của quy luật biến đổi ngữ âm của tiếng Việt, do đó đã
bị thay đổi diện mạo so với dạng ngữ âm Hán-Việt ban đầu để phù hợp với quy luật ngữ
âm tiếng Việt và trở thành âm “kiểm”.
2.2.3. [
噜
] HV: /rô/ TV: /lū/
Trong tiến trình ngữ âm của Hán ngữ thì chữ này không xuất hiện, nó có vẫn giữ
nguyên một âm gốc là <lỗ> phù hợp với quy luật thanh mẫu “lai”[来], nhưng trong cách
đọc của người Việt còn tồn tại một âm Hán Việt nữa là “rô” theo người viết thì chữ “rô”
này chịu ảnh hưởng của phương ngữ tiếng Hán nhưng do cứ liệu không đầy đủ nên người
viết không thể đưa ra nhận định chính xác là ảnh hưởng của phương ngữ cụ thể nào.
2.2.4. [
卵
] HV: /noãn/ TV: /luǎn/
Trong tiến trình ngữ âm của Hán ngữ thì chữ này du nhập vào Việt Nam từ thời
thượng cổ. Lấy thanh từ“lai”[来], vận mẫu [桓] “hoàn”, thanh điệu [上] “thượng thanh”,
phiên thiết[盧管]“lô quản” theo quy luật phiên thiết Hán Việt thì đây là “luản” và theo quy
luật ngữ âm tiếng Việt thì âm Hán Việt của chữ này là “loãn”. Nhưng trong âm tiếng Hán
hiện đại thì âm Hán Việt của từ này là “noãn”, theo tiến trình ngữ âm Hán ngữ của chữ này
thì nó du nhập vào Việt Nam trong thời Thượng cổ nghĩa là trong giai đoạn đầu do đó nó
bị ảnh hưởng của phương ngữ tiếng Hán cụ thể đó là phương ngữ Quảng Tín. Vì vậy mà
thanh mẫu “l” bị biến thành phụ âm “n”.
2.2.5. [
裸
] HV: /khỏa/ TV: /luǒ/
Chữ này có hai âm, dị thể tự[倮], chữ gốc裸, căn cứ tập vận thì nó có hai âm đọc
“lỏa, khỏa”, âm đọc chính là “lỏa”. Theo quy luật phát triển ngữ âm chữ hán thì âm đọc
“lỏa” hợp quy luật với phiên thiết Hán Việt [鲁果] “lỗ quả” thành “lỏa”. Nhưng bản thân
nó còn mang một âm nữa là “khỏa”, trong quá trình phát triển không có gì dị biệt, do đó

Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng năm 2010
449
theo người viết thì sự thay đổi này một là do thói quen người Việt vì người Việt có từ
thường dùng là “khỏa thân”. Thứ 2 là do tàn dư của của âm thượng cổ, trong thời thượng
cổ từ này khi vào Việt Nam chịu ảnh hưởng của phương ngữ tiếng Hán nên bị biến dạng
ngữ âm thành “khỏa” và được sử dụng đến ngày nay.
3. Kết luận
Từ kết quả thu được của đề tài nghiên cứu có thể kết luận quan hệ phụ âm /l/ giữ
âm Hán Việt và tiếng Trung là mối quan hệ đối ứng, dựa vào quan hệ đối ứng này, khi
người Việt Nam học tiếng Trung có thể căn cứ trên âm Hán Việt để phán đoán thanh mẫu
của tiếng Trung và đây cũng là một lợi thế của người Việt Nam khi học tiếng Trung.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Tài Cẩn (2001), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nxb:
Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà in Đại học Quốc gia Hà Nội.
[2] Viện khoa học xã hội Việt Nam (2006), từ điển TrungViệt, nhà xuất bản khoa học xã
hội.
[3] Thiều Chửu, 1942, Hán Việt tự điển(2006), nhà xuất bản thanh niên.
[4] Klas Bernhard Johannes Karlgre, Etudes sur la phonologie chinoise,
《中国音韵学研究》, bản tiếng Hoa, Nxb: Thương vụ, Bắc Kinh 1978.
[5] WangLi, 《语言论文集》Nxb: Thương vụ, Bắc Kinh 1978.
[6] 《东方语言网》http://www.eastling.org

