
12
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Năm thứ 27(11)- Tháng 10. 2025- Số 283
© Học viện Ngân hàng
ISSN 3030 - 4199
Mối quan hệ giữa qui định kế toán và thuế tại
Việt Nam: Phân tích từ góc độ lý thuyết
Ngày nhận: 13/01/2025 Ngày nhận bản sửa: 14/05/2025 Ngày duyệt đăng: 07/06/2025
Tóm tắt: Ở Việt Nam, kế toán chuyển dịch theo hướng chú trọng đáp ứng nhu
cầu thông tin hữu ích cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng báo cáo
tài chính của doanh nghiệp, và dần tách khỏi mục đích tính thuế. Tuy nhiên,
mức độ độc lập giữa kế toán và thuế ở Việt Nam cần được làm rõ nhằm cải
thiện sự độc lập giữa kế toán và thuế, thỏa mãn tốt nhất mục tiêu của cả hai hệ
thống. Bài viết sử dụng cách tiếp cận của Lamb và cộng sự (1998) để đo lường
mức độ độc lập/phụ thuộc của kế toán với thuế tại Việt Nam. Theo đó, phương
pháp phân tích nội dung được vận dụng để nhận diện mối quan hệ giữa các
qui định kế toán và thuế. Dữ liệu được sử dụng bao gồm các qui định kế toán
và thuế có hiệu lực ở thời điểm hiện tại, được ban hành trong giai đoạn 2013-
2019. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ độc lập của kế toán với thuế tại
Việt Nam tương đối thấp. Khuyến nghị nhằm giảm sự phụ thuộc giữa kế toán
và thuế là thuế thu nhập doanh nghiệp cần được xác định dựa trên cơ sở chắc
Relationship between accounting and tax regulations in Viet Nam: A theoretical analysis
Abstract: In Viet Nam, accounting has been moving towards emphasizing faithful representation and
relevance of financial information which is useful for financial statement users to make decisions, and
has become more and more independent from taxation. However, the degree of independence between
accounting and taxation in Viet Nam is questionable and should be determined to help improve the
independence between the two systems to best meet their different aims. This paper adapts the approach
of Lamb et al. (1998) to measure the degree of independence between accounting and taxation in Viet
Nam. Accordingly, the content analysis method is used to identify the relationship between accounting and
tax regulations. Accounting and tax regulations which are effective at present, issued during the period
2013-2019, are analyzed in the paper. The result shows that the connection between accounting and
taxation is relatively interdependent. Suggestions to reduce the interdependence are that determination of
income tax should be based on certainty, and estimation and changes in accounting policies for taxation
purposes are not allowed.
Keywords: Accounting profit, Accounting regulations, Taxable income, Tax regulations, Viet Nam
Doi: 10.59276/JELB.2025.10.2869
Pham Hoai Huong
Email: huongph@due.edu.vn
Organization: University of Economics- The University of Danang, Viet Nam
Phạm Hoài Hương
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng, Việt Nam
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

PHẠM HOÀI HƯƠNG
13
Năm thứ 27(11)- Tháng 10. 2025- Số 283- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
chắn, không dựa trên ước tính và không được phép thay đổi phương pháp xác
định doanh thu, thu nhập và chi phí cho mục đích tính thuế.
Từ khóa: Lợi nhuận kế toán, Qui định kế toán, Qui định tính thuế, Lợi nhuận tính
thuế, Việt Nam
1. Giới thiệu
Hệ thống kế toán và thuế với những mục
tiêu khác nhau nhưng luôn tồn tại mối quan
hệ nhất định. Kế toán dịch chuyển theo
hướng đáp ứng nhu cầu thông tin của thị
trường vốn, trong khi qui định thuế hướng
đến quản lý các mục tiêu của chính sách
xã hội. Kế toán với mục đích cung cấp
thông tin hữu ích cho các đối tượng sử
dụng báo cáo tài chính (BCTC) nên cần có
tính linh hoạt và sử dụng xét đoán chuyên
môn trong một số trường hợp nhằm đảm
bảo các giao dịch kinh tế được xử lý dựa
trên bản chất. Qui định thuế nặng về hình
thức pháp lý hơn, nhằm xác định chính xác
nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp (DN). Với
các mục tiêu khác nhau, duy trì một khoảng
cách nhất định giữa kế toán và thuế là cần
thiết (Sikka, 2017; Karagiorgos và cộng
sự, 2020).
Mối quan hệ giữa kế toán và thuế ở Việt
Nam thay đổi cùng với sự phát triển của kế
toán. Trước năm 1995, kế toán được xem
là công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước, do
đó mục đích chủ yếu của kế toán là phục
vụ tính thuế. Từ năm 1995, vai trò của kế
toán đã có sự thay đổi đáng kể. Kế toán
không chỉ là công cụ quản lý của nhà nước
mà quan trọng hơn là cung cấp thông tin
phục vụ ra quyết định của DN và các bên
liên quan. Chế độ kế toán doanh nghiệp
(CĐKT) được ban hành năm 1995 hướng
đến cung cấp thông tin trung thực, hợp lý
và phù hợp với việc ra quyết định của các
đối tượng sử dụng thông tin kế toán hơn là
mục đích tính thuế. BCTC không còn bao
gồm báo cáo thuế như trước năm 1995, thể
hiện kế toán đã dần tách khỏi mục đích tính
thuế. Với sự hình thành và phát triển của thị
trường chứng khoán, yêu cầu về tính minh
bạch của thông tin tài chính ngày càng cao,
trong bối cảnh đó các chuẩn mực kế toán
(CMKT) Việt Nam đã được ban hành trong
giai đoạn 2001- 2005. Sự ra đời của CMKT
đánh dấu một bước phát triển quan trọng
của kế toán Việt Nam. Các qui định của
CMKT phục vụ cho mục đích lập BCTC,
không phục vụ cho mục đích tính thuế. Đặc
biệt, sự ra đời của CMKT Thuế thu nhập
doanh nghiệp (TNDN) nhằm xử lý sự khác
biệt giữa lợi nhuận (LN) kế toán và LN
tính thuế, thể hiện xu hướng độc lập giữa
kế toán và thuế. CĐKT hiện hành được ban
hành theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, xác
định phạm vi điều chỉnh của Thông tư chỉ
áp dụng cho việc lập và trình bày BCTC,
không áp dụng cho việc xác định nghĩa vụ
thuế của DN (Bộ Tài chính, 2014a). Điều
này khẳng định sự độc lập giữa qui định kế
toán và thuế. Gần đây Luật Kế toán 2015
được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 56/2024/
QH15, theo đó BCTC cần được “lập và
trình bày” theo đúng quy định của CMKT
và CĐKT thay vì chỉ yêu cầu “được trình
bày theo biểu mẫu” quy định tại CMKT
và CĐKT (Quốc hội, 2024). Sửa đổi này
cho thấy kế toán Việt Nam dịch chuyển
theo hướng chú trọng ‘bản chất’ hơn ‘hình
thức’, đòi hỏi qui định kế toán phải độc lập
với qui định thuế.
Với đặc điểm của hệ thống ‘Dân luật’
(Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2022), các qui định
kế toán và thuế ở Việt Nam đều do Chính

Mối quan hệ giữa qui định kế toán và thuế tại Việt Nam: Phân tích từ góc độ lý thuyết
14 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(11)- Tháng 10. 2025- Số 283
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
phủ ban hành, do đó tính độc lập giữa kế
toán và thuế có thể bị ảnh hưởng. Nếu qui
định kế toán và thuế có sự liên kết chặt chẽ
thì các DN có thể lựa chọn chính sách kế
toán (CSKT) theo hướng giảm thiểu thuế
TNDN, dẫn đến có thể làm giảm tính trung
thực, hợp lý của thông tin kế toán. Sự độc
lập của qui định kế toán với qui định thuế
không chỉ đảm bảo tính hữu ích của thông
tin kế toán mà còn giúp nhà nước quản lý
nghĩa vụ thuế của DN một cách hiệu quả.
Sự ra đời CMKT Thuế thu nhập doanh
nghiệp, nhằm xử lý sự khác biệt giữa LN
kế toán và LN tính thuế, là điều kiện để qui
định kế toán độc lập với thuế. Tuy nhiên,
nếu qui định kế toán ít khác biệt với qui
định tính thuế thì chênh lệch giữa LN kế
toán và LN tính thuế sẽ không đáng kể, khi
đó CMKT Thuế thu nhập doanh nghiệp ít
có ý nghĩa. Thông tư số 200/2014/TT-BCT
và đặc biệt là sửa đổi Luật Kế toán gần đây
đã khẳng định sự tách bạch giữa qui định
kế toán và thuế, nhưng qui định kế toán có
thực sự độc lập với qui định thuế hay độc
lập ở mức độ nào cần được làm sáng tỏ.
Moisescu (2018) cho rằng để cải thiện tính
độc lập giữa kế toán và thuế, cần đánh giá
mức độ độc lập/phụ thuộc giữa 2 hệ thống.
Bài viết nhằm đánh giá mức độ độc lập/phụ
thuộc của các qui định kế toán với thuế ở
Việt Nam, thông qua so sánh các qui định
của kế toán và thuế liên quan đến các vấn
đề ảnh hưởng quan trọng đến xác định LN.
Mức độ độc lập/phụ thuộc liên quan đến
từng vấn đề được xác định theo cách đo
lường của Lamb và cộng sự (1998) với 5
mức độ khác nhau. Bài viết không chỉ xác
định mức độ độc lập/phụ thuộc của qui
định kế toán với thuế như các nghiên cứu
trước mà còn phân tích bản chất của mối
liên kết giữa kế toán và thuế trong từng vấn
đề cụ thể nhằm đề xuất các khuyến nghị
góp phần cải thiện sự độc lập của kế toán
với thuế.
Phần tiếp theo của bài viết sẽ tổng quan các
loại mối quan hệ giữa kế toán và thuế. Trên
cơ sở đó, phương pháp tiếp cận của bài viết
và mức độ độc lập/phụ thuộc giữa qui định
kế toán và thuế tại Việt Nam sẽ được phân
tích ở các Phần 3 và 4. Cuối cùng là kết
luận và khuyến nghị được rút ra từ thực
trạng mối quan hệ giữa qui định kế toán và
thuế ở Việt Nam.
2. Tổng quan về mối quan hệ giữa kế
toán và thuế
Mối quan hệ giữa kế toán và thuế thể
hiện thông qua mức độ độc lập/phụ thuộc
của qui định kế toán với qui định thuế.
Hoogendoorn (1996) định nghĩa mối quan
hệ độc lập là LN kế toán được xác định
độc lập với LN tính thuế. Mối quan hệ phụ
thuộc khi kế toán theo qui định thuế hoặc
LN tính thuế được xác định theo sự lựa
chọn CSKT. Mức độ liên kết giữa kế toán
và thuế hàm ý ảnh hưởng của mục đích
tính thuế đến lựa chọn CSKT (Deaconu &
Cuzdriorean, 2016).
Mức độ độc lập giữa kế toán và thuế ở một
quốc gia phụ thuộc vào hệ thống chính trị,
pháp luật của quốc gia đó. Quyền lực chính
trị ảnh hưởng đến tính độc lập của kế toán
với thuế thông qua mức độ can thiệp của
chính phủ đối với chính sách thuế và kế
toán (Moisescu, 2018). Chính phủ can thiệp
sâu vào qui định kế toán khi kế toán được
sử dụng là công cụ quản lý thuế của nhà
nước, làm tăng sự phụ thuộc của kế toán
vào thuế. Qui định kế toán và thuế là các
qui định mang tính pháp lý cao, do đó mối
quan hệ giữa kế toán và thuế phụ thuộc vào
hệ thống pháp luật của từng quốc gia. Ở
các nước theo hệ thống ‘dân luật’, CMKT
do chính phủ ban hành và phụ thuộc nhiều
vào qui định thuế. Ngược lại, ở các nước
theo hệ thống ‘thông luật’, CMKT do tổ
chức nghề nghiệp kế toán ban hành và độc

PHẠM HOÀI HƯƠNG
15
Năm thứ 27(11)- Tháng 10. 2025- Số 283- Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
lập với qui định thuế. Hoogendoorn (1996)
đã chứng minh các nước theo hệ thống
thông luật có hệ thống kế toán độc lập với
thuế hơn ở các nước theo hệ thống dân luật.
Hoogendoorn (1996) phân loại mối quan
hệ giữa kế toán và thuế ở các quốc gia
thành 7 nhóm với mức độ độc lập tăng dần
như sau:
Nhóm 1: Kế toán và thuế phụ thuộc lẫn
nhau, và không kỳ vọng mối quan hệ này
sẽ thay đổi. Hầu như không có qui định về
kế toán thuế TNDN hoãn lại, và qui định kế
toán có nhiều lựa chọn. Cả BCTC riêng và
hợp nhất đều bị ảnh hưởng bởi thuế.
Nhóm 2: Kế toán và thuế phụ thuộc lẫn
nhau, và không kỳ vọng mối quan hệ này
sẽ thay đổi. Có một số qui định về kế toán
thuế TNDN hoãn lại. Thuế thường không
ảnh hưởng đến BCTC hợp nhất.
Nhóm 3: Kế toán và thuế phụ thuộc lẫn nhau,
nhưng có sự phát triển rõ ràng theo hướng
độc lập. Không có qui định mang tính bắt
buộc về kế toán thuế TNDN hoãn lại.
Nhóm 4: Kế toán độc lập với thuế về mặt
hình thức, nhưng thực tế vẫn có mối quan
hệ chặt chẽ. Không có qui định mang tính
bắt buộc về kế toán thuế TNDN hoãn lại.
Nhóm 5: Kế toán độc lập với thuế. Qui
định về kế toán thuế TNDN hoãn lại có
nhiều lựa chọn. DN có thể ghi nhận toàn
bộ thuế TNDN hoãn lại (full recognition)
hoặc chỉ ghi nhận một phần thuế TNDN
hoãn lại tương ứng với giá trị có thể hoàn
nhập trong tương lai (partial recognition).
Doanh thu nhận trước có thể tính một lần
vào thu nhập tính thuế (liability method)
hoặc tính vào thu nhập tính thuế tương
ứng với doanh thu thực hiện trong từng kỳ
(deferral method).
Nhóm 6: Kế toán độc lập với thuế. Qui
định về kế toán thuế TNDN hoãn lại yêu
cầu chỉ được ghi nhận thuế TNDN hoãn
lại tương ứng với giá trị có thể hoàn nhập
trong tương lai (partial recognition).
Nhóm 7: Kế toán độc lập với thuế. Qui
định về kế toán thuế TNDN hoãn lại yêu
cầu ghi nhận toàn bộ thuế TNDN hoãn lại
(full recognition); áp dụng phương pháp
nợ phải trả (liability method) đối với doanh
thu nhận trước; ghi nhận thuế TNDN hoãn
lại đối với chênh lệch đánh giá lại tài sản
và nợ phải trả.
Mối quan hệ giữa kế toán và thuế ở một
quốc gia sẽ không hoàn toàn phụ thuộc hay
độc lập với nhau mà mỗi qui định sẽ có
mức độ độc lập/phụ thuộc khác nhau. Do
đó, Lamb và cộng sự (1998) đã phân loại
mối quan hệ giữa kế toán và thuế liên quan
đến một vấn đề cụ thể thành 5 trường hợp
như sau:
Trường hợp 1 (Disconnection): Qui định
kế toán khác với thuế (hoặc có những lựa
chọn khác nhau), và được tuân thủ với
những mục đích khác nhau.
Trường hợp 2 (Identity): Qui định kế toán
và thuế giống nhau.
Trường hợp 3 (Accounting leads): Qui
định kế toán hoặc một sự lựa chọn được
tuân thủ cho mục đích BCTC cũng áp dụng
cho mục đích tính thuế do thuế không có
qui định cụ thể.
Trường hợp 4 (Tax leads): Qui định thuế
hoặc một sự lựa chọn được tuân thủ cho
mục đích tính thuế cũng áp dụng cho mục
đích BCTC do không có qui định kế toán
cụ thể.
Trường hợp 5 (Tax dominates): Qui định
thuế hoặc một sự lựa chọn được tuân thủ
cho cả mục đích thuế và BCTC khi có sự
mâu thuẫn trong qui định kế toán.
Các trường hợp trên thể hiện mức độ ảnh
hưởng của thuế đến quyết định BCTC (lựa
chọn CSKT) tăng dần. Trường hợp 1 thể
hiện qui định kế toán hoàn toàn độc lập với
thuế, do đó qui định thuế không ảnh hưởng
đến quyết định BCTC. Với trường hợp
2 (qui định kế toán và thuế giống nhau),
nếu qui định kế toán và thuế đều cho phép

Mối quan hệ giữa qui định kế toán và thuế tại Việt Nam: Phân tích từ góc độ lý thuyết
16 Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(11)- Tháng 10. 2025- Số 283
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
có nhiều lựa chọn thì DN có thể lựa chọn
CSKT vì mục đích thuế (Lamb và cộng sự,
1998). Ở trường hợp 3, qui định kế toán chi
tiết hơn qui định thuế nên thuế có thể được
xác định theo qui định kế toán. Tuy nhiên,
nếu qui định kế toán cho phép có nhiều lựa
chọn thì có thể CSKT được lựa chọn nhằm
mục đích thuế, khi đó thuế lại ảnh hưởng
đến quyết định BCTC (Lamb và cộng sự,
1998). Trường hợp 4 và 5 thể hiện rõ hơn
ảnh hưởng của thuế đến lựa chọn CSKT.
Cách tiếp cận của Lamb và cộng sự (1998)
đã được nhiều nghiên cứu, như Oliveras
và cộng sự (2005), Nobes và Schwencke
(2006), Vokshi (2018), áp dụng để đánh
giá mức độ độc lập/phụ thuộc của kế toán
với thuế thông qua phân tích, so sánh các
qui định kế toán với thuế liên quan đến các
vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến xác định
LN. Kết quả của các nghiên cứu trên cho
thấy kế toán có xu hướng ngày càng độc
lập với thuế (Hoogendoorn, 1996; Oliveras
và cộng sự, 2005; Nobes & Schwencke,
2006). Sự dịch chuyển này gắn liền với
sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường,
và thuận lợi cho quá trình hội nhập với
chuẩn mực BCTC quốc tế của các nước
(Hoogendoorn, 1996).
Ngày nay, việc áp dụng chuẩn mực BCTC
quốc tế ở nhiều nước trên thế giới đã làm
cho kế toán ngày càng độc lập với thuế, do
đó việc phân loại mối quan hệ giữa kế toán
và thuế của các nước thành 7 nhóm theo
cách tiếp cận của Hoogendoorn (1996)
không còn phù hợp. Tuy nhiên, cách tiếp
cận của Lamb và cộng sự (1998) vẫn có
thể áp dụng để đánh giá mức độ độc lập/
phụ thuộc giữa kế toán và thuế đối với
từng qui định cụ thể. Cho dù kế toán và
thuế được điều tiết bởi các qui định độc
lập thì các qui định cụ thể không nhất thiết
khác nhau hoàn toàn mà vẫn có thể giống
nhau hoặc có ảnh hưởng lẫn nhau.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về mối quan
hệ giữa kế toán và thuế còn khá hạn chế.
Nguyễn Công Phương (2010) đã phân tích
mối liên kết giữa kế toán và thuế, và kết
luận mối liên kết này chặt chẽ. Nghiên
cứu của Trương Thùy Vân (2016) về sự
chuyển dịch của mối liên hệ giữa kế toán
và thuế qua các giai đoạn 1995- 2002,
2002- 2010 và 2010- 2015, cho thấy kế
toán ngày càng độc lập với thuế. Tuy
nhiên, các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở
nhận diện tính độc lập/phụ thuộc giữa kế
toán và thuế ở Việt Nam, chưa phân tích
tính hợp lý của các qui định kế toán và
thuế nhằm đề xuất giải pháp làm giảm bớt
ảnh hưởng của thuế đến kế toán. Do đó,
bài viết này nhằm cập nhật tình trạng độc
lập/phụ thuộc của kế toán với thuế tại Việt
Nam ở thời điểm hiện tại, và đi sâu phân
tích ảnh hưởng của các qui định đến mối
quan hệ kế toán- thuế, từ đó đề xuất các
khuyến nghị nhằm tăng cường tính độc
lập của kế toán với thuế.
3. Phương pháp tiếp cận
Hệ thống kế toán và thuế của một nước luôn
tồn tại song song những điểm tương đồng
và khác biệt, do đó mức độ độc lập/phụ
thuộc giữa kế toán và thuế cần được đánh
giá dựa trên phân tích sự giống/khác nhau
giữa các qui định kế toán và thuế đối với
từng vấn đề cụ thể. Do đó, bài viết sử dụng
cách tiếp cận của Lamb và cộng sự (1998)
như đã trình bày ở Phần 2 để xác định mức
độ độc lập/phụ thuộc giữa kế toán và thuế ở
Việt Nam thông qua phân tích các qui định
có ảnh hưởng quan trọng đến xác định LN.
Cách tiếp cận của Lamb và cộng sự (1998)
dựa trên quan điểm nếu qui định kế toán
chi tiết hơn qui định thuế thì DN vẫn có thể
áp dụng qui định chi tiết của kế toán cho
mục đích thuế miễn là không vị phạm qui
định thuế, và ngược lại. Trong các trường
hợp này mặc dù qui định kế toán và thuế

