
2
cứu phân tích định tính và định lượng để làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh
lời vượt trội của các QĐTCK. Thuật ngữ "lợi nhuận bất thường" trong một hoàn cảnh
cụ thể đề cập đến việc đạt được kết quả bất thường, là tốt hơn so với mức lợi nhuận
được xác định trên điểm chuẩn, ví dụ chỉ số chứng khoán.
Có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trong đó nghiên cứu của Jensen (1968),
Sharpe (1966), Kim (1978) đã đưa ra cách xây dựng, đánh giá hiệu quả của các quỹ
đầu tư tương hỗ. Cả hai tác giả cho rằng các QĐT là không thể đạt được lợi nhuận bất
thường. Trái lại, nghiên cứu của Kon và Jen (1979) đã chứng minh sự tồn tại của hiệu
quả lợi nhuận bất thường từ hiệu quả hoạt động của QĐT. Tương tự, Grinblatt và
Titman năm (1989) đã chỉ ra rằng các quỹ có thể đạt được lợi nhuận điều chỉnh rủi ro
đạt mức tốt hơn so với tỷ suất sinh lời tham chiếu. Thêm vào đó, nghiên cứu của Arnaud
(1985) đã xem xét tỷ suất sinh lời của quỹ đầu tư chỉ số và tỷ suất sinh lời chỉ số thị
trường chứng khoán, kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả đầu tư của quỹ đầu tư chỉ
số cao hơn so với danh mục đầu tư tham chiếu là chỉ số chứng khoán.
Như vậy, các nghiên cứu ở trên, thông qua so sánh hiệu quả hoạt động của các
QĐT với tỷ suất sinh lời danh mục đầu tư tham chiếu hoặc danh mục đầu tư chuẩn cho
thấy các nhà quản lý quỹ có thể tạo ra hiệu quả tốt hơn cho danh mục đầu tư được quản
lý so với thị trường hoặc so với danh mục chuẩn tham chiếu, chỉ số chuẩn tham chiếu.
Ngoài việc so sánh với danh mục chuẩn và chỉ số chuẩn tham chiếu, Haslem
(1988) đã đánh giá hiệu quả của quỹ bằng cách so sánh tác động của các rủi ro hệ thống
của quỹ. “Beta” là thước đo rủi ro hệ thống, đo lường biến động tỷ suất sinh lời của
danh mục đầu tư thực tế với danh mục đầu tư chỉ số chứng khoán.
Trong khi đó, Elton, Gruber và Blake (1996) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư. Kết quả cho thấy thời gian hoạt động của quỹ
và hiệu quả đầu tư trong quá khứ là những nhân tố có mức ảnh hưởng đáng kể. Malkiel
(1995), đã thống kê tất cả các quỹ đang hoạt động và không còn hoạt động tại Mỹ, qua
thống kê phân tích cũng cho thấy thời gian hoạt động của quỹ và hiệu quả đầu tư trong
quá khứ có tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư. Ông đặc biệt chú ý đến
các QĐT vào cổ phiếu và tìm thấy một bằng chứng về hiệu quả tốt hơn của các quỹ
tương hỗ. Hơn nữa, Malkiel bác bỏ giả thuyết về sự tồn tại các nhà quản lý có thể liên
tục đạt được kết quả tốt hơn ở một mức độ rủi ro cụ thể.
Chan, Karceski và Lakonishok (2000) cung cấp bằng chứng về hiệu quả hoạt động
của các loại tài sản vốn chủ sở hữu có tác động tới quy mô của quỹ. Kosowski và cộng
sự (2006) nghiên cứu về các quỹ hoạt động kém của Hoa Kỳ cho thấy rằng hầu hết các
hoạt động kém hiệu quả trong giai đoạn nghiên cứu chủ yếu là do kỹ năng kém của các
nhà quản lý quỹ.
Các nghiên cứu về hiệu quả của quỹ tương hỗ sử dụng các phương pháp thống kê
thông thường ít bằng chứng cho thấy hiệu quả tốt hơn trong thời gian dài của các quỹ
như các nghiên cứu của Quigley và Sinquefield (2000), Fletcher và Forbes (2002),
Cuthbertson và cộng sự (2008).
Nghiên cứu về hiệu quả của các quỹ ở thị trường mới nổi như Trung Quốc của
Chen và Chen (2017) nhận thấy rằng tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ phần
lớn do khả năng của các nhà quản lý quỹ trong lựa chọn cổ phiếu và xây dựng danh