NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-------------------
NGÔ THỊ HẰNG
TÁC ĐỘNG CỦA HIỂU BIẾT TÀI CHÍNH CÁ NHÂN TỚI
NHU CẦU ĐẦUQUA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN KINH TẾ
HÀ NỘI - 2024
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
-------------------
NGÔ THỊ HẰNG
TÁC ĐỘNG HIỂU BIẾT TÀI CHÍNH CÁ NHÂN TỚI
NHU CẦU ĐẦU TƯ QUA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 9.34.02.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. Mai Thanh Quế
2. TS. Đặng Tài An Trang
HÀ NỘI - 2024
M ĐẦU
1. TÍNH CP THIT CA ĐỀ TÀI
HBTC giúp các nhân đưa ra các quyết định tiêu dùng sản phẩm tài chính
cũng như các quyết định đầu thông minh hơn, phù hợp với nhu cầu tài chính
nhân hơn, và qua đó giảm thiểu rủi ro tối ưu hoá lợi nhuận. Khi nhiều nhà đầu
(NĐT) kiến thức tài chính tốt, yếu ttâm trong các quyết định đầu thể
được kiểm soát, theo đó thị trường tài chính sẽ trở nên ổn định phát triển bền
vững hơn.
Thêm vào đó, thị trường tài chính (TTTC) nói chung thị trường chứng khoán
(TTCK) nói riêng luôn vận động không ngừng với những cải tiến, đổi mới về sản
phẩm và dịch vụ tài chính, các sản phẩm tài chính ngày một đáp ứng tốt hơn nhu cầu
của người tiêu dùng song đồng thời cũng đi kèm với sự phức tạp đặc tính rủi ro đa
dạng. Điều này cũng đòi hỏi người tiêu dùng cần mức độ hiểu biết nhất định để
đưa ra các quyết định tiêu dùng sản phẩm tài chính, tiết kiệm và đầu tư hiệu quả, phù
hợp với nhu cầu điệu kiện tài chính nhân (Bhushan, 2014, Stavrova, 2014,
Narula, 2015, Aren & Zengin, 2016, Allianz, 2016, Janor, 2016, Foucault, Huerou,
& Scherer, 2020).
Tại Việt Nam, bên cạnh các sản phẩm tài chính truyền thống từ hệ thống ngân
hàng, thì TTCK Việt Nam với nhiều sản phẩm đầu tư hấp dẫn đã và đang thu hút sự
quan tâm lớn của công chúng thời gian gần đây. Tuy nhiên, TTCK tiềm ẩn nhiều rủi
ro với sở nhà đầu bất cân đối với hơn 90% NĐT nhân phần lớn NĐT
thể hiện tính chất đầu cơ, ngắn hạn, tâm đám đông với sự hiểu biết hạn chế v
thị trường (Gia Miêu, 2022). Điều này thể dẫn tới các phản ứng tiêu cực thái quá
trước các cú sốc nội sinh và ngoại sinh, đe doạ tính ổn định của TTCK.
Bên cạnh đó, với mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế và thị trường
tài chính trong khu vực cũng như trên phạm vi toàn cầu, cùng với kế hoạch nâng hạng
TTCK Việt Nam, thì mức độ phơi nhiễm của TTCK Việt Nam trước sự luân chuyển
linh hoạt của các dòng vốn quốc tế vào ra khỏi thị trường cũng như trước các
sốc tài chính và phi tài chính từ thị trường quốc tế sẽ càng cao hơn. Điều này đòi hỏi
phải cân bằng sở NĐT, giảm thiểu tính đầu bất ổn của NĐT nhân, tăng
cường sự tham gia của các NĐT có tổ chức, mà trong đó điển hình là các quỹ đầu
chứng khoán, hay gọi tắt là quỹ đầu tư (QĐT).
Sự phát triển của các QĐT trên thế giới i chung, đặc biệt tại các TTCK
phát triển cũng đã chỉ ra tầm ảnh hưởng của HBTC của NĐT nhân tới việc định
hình quan điểm, nhu cầu, và quyết định đầu tư QĐT của các NĐT cá nhân (Muller &
Weber, 2010; Usharani, 2015; Chu & cộng sự, 2016; Zheng & cộng sự, 2016;
Mahdzan & cộng sự, 2021; Ghose & Dhar, 2022; Chung & Kim, 2022; Wen & cộng
sự, 2023; Indrastoto & Juwita, 2023; Palesta & Paramita, 2024).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về mức độ HBTC nhân cũng như về tác động
của HBTC cá nhân tới nhu cầu đầu tư qua QĐT còn tương đối hạn chế. Chủ yếu các
nghiên cứu về HBTC hiện đang tập trung vào khai thác tác động của HBTC tới hiệu
quả đầu hoặc các quyết định tài chính khác (tiết kiệm, bảo hiểm, …) của các cá
nhân (Lê Văn Hinh, 2017, Lê Văn Hinh & Ngô Văn Chung, 2017, Phạm Ngọc Toàn
& Nguyễn Thành Long, 2018, Hoàng Anh & cộng sự, 2019, Morgan & Trinh,
2020).
Hầu hết nghiên cứu không minh bạch hoá bảng hỏi và cách thức đo lường mức
độ HBTC cá nhân, làm cho kết quả nghiên cứu trở nên kém tin cậy, đồng thời có thể
gây khó khăn cho công tác so sánh, đối chiếu mức độ HBTC của người Việt Nam,
thiếu giá trị sử dụng lâu dài trong việc duy trì các giai đoạn nghiêm cứu sau đó, đánh
giá mức độ cải thiện HBTC cá nhân theo thời gian. Thêm vào đó, chưa nghiên cứu
nào nghiên cứu về thực thi xây dựng và triển khai các giải pháp nâng cao HBTC của
người trưởng thành quy mô quốc gia.
những do nêu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu về “TÁC ĐỘNG
CỦA HIỂU BIẾT TÀI CHÍNH NHÂN TỚI NHU CẦU ĐẦU TƯ QUA QUỸ
ĐẦU CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
2. TNG QUAN NGHIÊN CU
2.1. TÁC ĐỘNG CỦA HIỂU BIẾT TÀI CHÍNH NHÂN TỚI QUYẾT ĐỊNH
ĐẦU
2.2. TÁC ĐỘNG CỦA HIỂU BIẾT TÀI CHÍNH CÁ NHÂN TỚI NHU CẦU ĐẦU TƯ
QUA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
2.2.1. Các nhân tố tác động tới nhu cầu đầu tư qua quỹ đầu tư chứng khoán
2.2.2. Tác động của hiểu biết tài chính cá nhân tới nhu cầu đầu tư qua quỹ đầu
tư chứng khoán
3. KHONG TRNG NGHIÊN CU
Về cơ sở lý luận
Tính tới thời điểm hiện tại và trên ssoát c nghiên cứu trước đó về chủ
đề hiểu biết tài chính và nhu cầu đầu tư quỹ đầu tư chứng khoán (QĐT), tác giả nhận
thấy chưa nghiên cứu đã công bố tại Việt Nam thực hiện xây dựng sở luận
về hiểu biết tài chính cũng như sở luận về tác động của HBTC cá nhân tới nhu
cầu đầu tư qua quỹ đầu tư chứng khoán của các cá nhân.
Về nghiên cứu thực nghiệm
Tại Việt Nam hiện nay, chưa các bằng chứng thực nghiệm giá trị thực
tiễn về việc HBTC có phải là yếu tố kìm hãm sự phát triển của các mô hình QĐT tại
Việt Nam giống như các TTCK tại các nền kinh tế đang phát triển. Việc nâng cao và
khuyến khích cải thiện HBTC cho các NĐT cá nhân có giúp tăng cường và mở rộng
hội phát triển cho các hình QĐT khác nhau tại Việt Nam, đặc biệt các
hình QĐT mới. Những khoảng trống nghiên cứu này được khai thác trong luận án
thông qua các câu hỏi nghiên cứu chính trình bày ở nội dung dưới đây.
4. MC TIÊU NGHIÊN CU VÀ CÂU HI NGHIÊN CU
4.1. Mục tiêu nghiên cứu
4.1.1. Mục tiêu tổng quát
Luận án tập trung nghiên cứu và lượng hoá tác động của hiểu biết tài chính
nhân tới nhu cầu đầu tư qua quỹ đầu chứng khoán tại Việt Nam, và trên sở đó
đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiểu biết i chính nhân
hướng tới thúc đẩy sự phát triển của các loại nh quỹ đầu chứng khoán trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
4.1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu