
phải cân bằng cơ sở NĐT, giảm thiểu tính đầu cơ và bất ổn của NĐT cá nhân, tăng
cường sự tham gia của các NĐT có tổ chức, mà trong đó điển hình là các quỹ đầu tư
chứng khoán, hay gọi tắt là quỹ đầu tư (QĐT).
Sự phát triển của các QĐT trên thế giới nói chung, đặc biệt là tại các TTCK
phát triển cũng đã chỉ ra tầm ảnh hưởng của HBTC của NĐT cá nhân tới việc định
hình quan điểm, nhu cầu, và quyết định đầu tư QĐT của các NĐT cá nhân (Muller &
Weber, 2010; Usharani, 2015; Chu & cộng sự, 2016; Zheng & cộng sự, 2016;
Mahdzan & cộng sự, 2021; Ghose & Dhar, 2022; Chung & Kim, 2022; Wen & cộng
sự, 2023; Indrastoto & Juwita, 2023; Palesta & Paramita, 2024).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về mức độ HBTC cá nhân cũng như về tác động
của HBTC cá nhân tới nhu cầu đầu tư qua QĐT còn tương đối hạn chế. Chủ yếu các
nghiên cứu về HBTC hiện đang tập trung vào khai thác tác động của HBTC tới hiệu
quả đầu tư hoặc các quyết định tài chính khác (tiết kiệm, bảo hiểm, …) của các cá
nhân (Lê Văn Hinh, 2017, Lê Văn Hinh & Ngô Văn Chung, 2017, Phạm Ngọc Toàn
& Nguyễn Thành Long, 2018, Lê Hoàng Anh & cộng sự, 2019, Morgan & Trinh,
2020).
Hầu hết nghiên cứu không minh bạch hoá bảng hỏi và cách thức đo lường mức
độ HBTC cá nhân, làm cho kết quả nghiên cứu trở nên kém tin cậy, đồng thời có thể
gây khó khăn cho công tác so sánh, đối chiếu mức độ HBTC của người Việt Nam,
thiếu giá trị sử dụng lâu dài trong việc duy trì các giai đoạn nghiêm cứu sau đó, đánh
giá mức độ cải thiện HBTC cá nhân theo thời gian. Thêm vào đó, chưa có nghiên cứu
nào nghiên cứu về thực thi xây dựng và triển khai các giải pháp nâng cao HBTC của
người trưởng thành quy mô quốc gia.
Vì những lí do nêu trên, nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu về “TÁC ĐỘNG
CỦA HIỂU BIẾT TÀI CHÍNH CÁ NHÂN TỚI NHU CẦU ĐẦU TƯ QUA QUỸ
ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM”
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. TÁC ĐỘNG CỦA HIỂU BIẾT TÀI CHÍNH CÁ NHÂN TỚI QUYẾT ĐỊNH
ĐẦU TƯ