
46
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Năm thứ 27(13)- Tháng 12. 2025- Số 285
© Học viện Ngân hàng
ISSN 3030 - 4199
Ngân hàng nước ngoài và rủi ro tài chính: Phân tích
ngưỡng theo Fintech, cạnh tranh và bất định vĩ mô
Ngày nhận: 21/05/2025 Ngày nhận bản sửa: 12/08/2025 Ngày duyệt đăng: 15/08/2025
Tóm tắt: Nghiên cứu này phân tích tác động phi tuyến của sự hiện diện ngân
hàng nước ngoài (FBP) đến rủi ro tài chính tại Việt Nam trong giai đoạn 2010-
2024, với trọng tâm vào ba yếu tố điều tiết: mức độ phát triển Fintech, bất định
vĩ mô, và năng lực cạnh tranh. Bằng cách kết hợp mô hình Panel Threshold
Regression và học máy, nghiên cứu phát hiện rằng FBP không có tác động
tuyến tính cố định, mà thay đổi mạnh mẽ theo điều kiện nền tảng. Kết quả cho
thấy FBP giúp nâng cao ổn định tài chính trong bối cảnh Fintech ở mức vừa
phải, cạnh tranh không quá cao và môi trường vĩ mô ổn định. Tuy nhiên, khi
các yếu tố này vượt quá ngưỡng nhất định, tác động có thể đảo chiều. Ngoài
ra, hiệu ứng FBP khác biệt đáng kể giữa các nhóm ngân hàng: tích cực hơn tại
Foreign bank presence and financial risk: A threshold analysis of fintech, competition, and
macroeconomic uncertainty
Abstract: This study investigates the nonlinear impact of foreign bank presence (FBP) on financial risk
in Vietnam over the period 2010- 2024, with a focus on three moderating factors: fintech development,
macroeconomic uncertainty, and market power. By integrating Panel Threshold Regression techniques
with machine learning algorithms, the findings reveal that the effects of FBP are not fixed or linear but
vary significantly depending on contextual thresholds. Specifically, FBP contributes to greater financial
stability when fintech maturity is moderate, market competition remains within an optimal range, and
macroeconomic conditions are relatively stable. However, once these thresholds are exceeded, the
stabilizing effects may reverse. The impact of FBP also differs markedly across banking segments, showing
more positive effects for smaller, privately-owned banks and during the pre-COVID-19 period. This
research provides new empirical evidence from a rapidly integrating emerging economy, offering insights
into the conditional dynamics of financial integration amid digital transformation and rising uncertainty.
Policy implications are proposed concerning conditional financial liberalization, risk segmentation, and the
development of early-warning frameworks tailored to Vietnam's context.
Keywords: Foreign bank presence, Fintech, Financial risk, Macroeconomic uncertainty, Competition,
Machine learning
Link Doi: http://doi.org/10.59276/JELB.2025.12.2976
Pham Thuy Tu
Email: tupt@hub.edu.vn
Organization: Banking University of Ho Chi Minh city, Vietnam
Phạm Thủy Tú
Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG

PHẠM THỦY TÚ
47
Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
các ngân hàng nhỏ, tư nhân và trong giai đoạn trước COVID-19. Nghiên cứu
cung cấp bằng chứng thực nghiệm mới tại một nền kinh tế mới nổi đang hội
nhập nhanh, góp phần làm sáng tỏ cơ chế điều kiện hóa của hội nhập tài chính
trong môi trường số hóa và bất định. Từ đó, đưa ra các hàm ý chính sách về mở
cửa tài chính có điều kiện, phân loại rủi ro theo nhóm và thiết kế khung cảnh
báo sớm phù hợp với bối cảnh Việt Nam.
Từ khóa: Ngân hàng nước ngoài, Fintech, Rủi ro tài chính, Bất định vĩ mô, Cạnh
tranh, Học máy
1. Giới thiệu
Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam trở thành
một trong những nền kinh tế mới nổi năng
động nhất tại châu Á, với tốc độ mở cửa tài
chính nhanh và độ hội nhập ngày càng sâu
rộng. Quá trình này không chỉ kéo theo sự
gia tăng hiện diện của các ngân hàng nước
ngoài (FBP), mà còn chứng kiến sự bùng
nổ mạnh mẽ của các công ty công nghệ tài
chính (Fintech), cùng với mức độ bất định
vĩ mô gia tăng hậu COVID-19. Những biến
chuyển đó đã tái định hình cấu trúc cạnh
tranh và rủi ro trong hệ thống ngân hàng nội
địa, làm dấy lên các câu hỏi trọng yếu về
tính ổn định tài chính trong bối cảnh mới.
FBP được kỳ vọng mang lại các hiệu ứng
tích cực như nâng cao hiệu quả phân bổ
vốn, lan tỏa công nghệ và thúc đẩy chuẩn
hóa quản trị. Tuy nhiên, tại các thị trường
mới nổi, thực nghiệm lại cho thấy những tác
động không nhất quán, phụ thuộc mạnh vào
đặc điểm nền tảng như sức cạnh tranh, mức
độ số hóa hay bất định vĩ mô (Yildirim và
cộng sự, 2021; Boamah và cộng sự, 2022).
Sự phát triển nhanh chóng của Fintech vừa
mở ra cơ hội đổi mới, vừa tạo ra áp lực cạnh
tranh lớn, dẫn đến xu thế chấp nhận rủi ro
cao hơn trong hệ thống ngân hàng (Sajid và
cộng sự, 2023; Elekdag và cộng sự, 2024).
Đồng thời, bất định vĩ mô và ESG ngày càng
được ghi nhận là các nhân tố gây biến động
và làm gia tăng rủi ro tài chính, đặc biệt tại
các nền kinh tế chưa có khung quản trị rủi ro
vĩ mô hoàn chỉnh (Chiaramonte và cộng sự,
2021; Jeon và cộng sự, 2022).
Một khoảng trống nghiên cứu hiện nay là
ít kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa
FBP và rủi ro tài chính, quan sát sự thay đổi
theo ngưỡng của các yếu tố nền tảng như
Fintech, bất định vĩ mô và năng lực cạnh
tranh nội địa. Một số bằng chứng ban đầu
cho thấy các điều kiện này có thể tương tác
để FBP mang lại ổn định hay gây rủi ro tài
chính cho hệ thống ngân hàng (Williams &
Brown, 2021; Huynh, 2024; Yuan, 2024).
Việt Nam, một nền kinh tế mở, đang số hóa
nhanh nhưng năng lực quản trị còn phân
hóa, việc xác định “ngưỡng hiệu quả” để
FBP phát huy vai trò tích cực là một nhu
cầu cấp thiết về cả học thuật lẫn chính sách.
Từ đó, nghiên cứu này nhằm kiểm định
tác động phi tuyến của FBP đến rủi ro tài
chính ngân hàng tại Việt Nam, với ba biến
điều tiết chính: mức độ phát triển Fintech
(G_FINTECH), bất định vĩ mô tổng hợp
(CMUI), và năng lực cạnh tranh (LERNER).
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đánh giá-sự
tác động có điều kiện theo quy mô, hình thức
sở hữu, giai đoạn trước và sau COVID-19,
nhằm làm rõ vai trò điều kiện hóa của hội
nhập tài chính trong môi trường bất định.
Nghiên cứu đóng góp theo ba hướng chính:
(i) phát triển khung phân tích ba chiều FBP-
Fintech- bất định trong mô hình phi tuyến
ngưỡng; (ii) ứng dụng kết hợp mô hình

Ngân hàng nước ngoài và rủi ro tài chính: Phân tích ngưỡng theo Fintech,
cạnh tranh và bất định vĩ mô
48
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng- Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285
Panel Threshold Regression (PTR) và học
máy nhân quả (Causal Forests) để xác định
ngưỡng tác động và sự khác biệt phản ứng
giữa các nhóm ngân hàng; (iii) cung cấp
bằng chứng thực nghiệm mới từ Việt Nam,
một đại diện tiêu biểu cho các nền kinh tế
mới nổi đang hội nhập nhanh. Từ đó đưa ra
các gợi ý chính sách mở cửa tài chính có điều
kiện và nâng cao khả năng chống chịu rủi ro
tài chính cho hệ thống ngân hàng trong kỷ
nguyên số hóa. Bài viết kết cấu gồm 5 phần:
(1) Giới thiệu; (2) Cơ sở lý thuyết và tổng
quan tài liệu; (3) Dữ liệu và phương pháp
nghiên cứu; (4) Kết quả và thảo luận; và (5)
Kết luận và hàm ý đề xuất.
2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan tài liệu
2.1. Sự hiện diện của ngân hàng nước
ngoài và rủi rotài chính
FBP có thể tác động đến rủi ro tài chính
theo cả hai chiều- tích cực và tiêu cực-
tùy thuộc vào bối cảnh thể chế và điều
kiện thị trường. Lý thuyết tài chính quốc
tế xem FBP như một kênh lan tỏa công
nghệ, nâng cao chuẩn mực quản trị và cải
thiện hiệu quả phân bổ vốn (Claessens &
Horen, 2014). Tuy nhiên, các bằng chứng
thực nghiệm gần đây chỉ ra rằng tác động
của FBP không mang tính phổ quát mà
phụ thuộc đáng kể vào đặc điểm thể chế và
điều kiện nội tại của từng quốc gia. Trong
các nền kinh tế mới nổi, nơi hệ thống giám
sát còn yếu và thị trường tài chính thiếu
chiều sâu, FBP có thể làm trầm trọng thêm
rủi ro hệ thống, lấn át ngân hàng nội địa
hoặc kích hoạt các chu kỳ tín dụng bất ổn
(Yildirim và cộng sự, 2021; Boamah và
cộng sự, 2022).
Khi mức độ bất định vĩ mô gia tăng, chẳng
hạn do thay đổi chính sách đột ngột hoặc
môi trường kinh tế toàn cầu bất ổn, FBP
có thể phản ứng bằng cách thu hẹp hoạt
động, gia tăng hành vi thận trọng hoặc tái
định vị danh mục tín dụng để bảo toàn vốn,
từ đó làm suy giảm vai trò hỗ trợ ổn định
tài chính của khu vực này (Zhang và cộng
sự, 2022). Ngược lại, trong môi trường vĩ
mô ổn định, FBP có thể đóng vai trò như
một “cơ chế chống sốc” nhờ vào năng lực
quản trị rủi ro tốt hơn và khả năng tiếp cận
nguồn lực quốc tế.
Một số nghiên cứu cho thấy vai trò của
FBP thay đổi đáng kể tùy theo quy mô
và năng lực hấp thụ công nghệ của ngân
hàng nội địa. Theo Huynh (2024), FBP gia
tăng rủi ro tài chính tại các ngân hàng yếu,
trong khi tạo hiệu ứng cải thiện tại các ngân
hàng lớn. Elekdag và cộng sự (2024) cũng
cảnh báo rằng sự cạnh tranh từ FBP có thể
dẫn đến hành vi chấp nhận rủi ro tại các
ngân hàng nội nếu thiếu điều kiện nền tảng
vững chắc. Do đó, cấu trúc cạnh tranh, chất
lượng điều tiết và trình độ công nghệ trở
thành những yếu tố trung gian quan trọng
quyết định hiệu ứng ròng của FBP (Yuan,
2024; Anestiawati và cộng sự, 2025).
2.2. Bất định vĩ mô, ESG và rủi ro tài chính
Bất định vĩ mô và hiệu quả thực thi các chiến
lược môi trường, xã hội và quản trị (ESG)
đang nổi lên như những yếu tố then chốt
ảnh hưởng đến rủi ro hệ thống trong lĩnh
vực ngân hàng. Bất định vĩ mô được hiểu
là mức độ khó lường liên quan đến chính
sách tài khóa, tiền tệ và điều tiết, có thể làm
suy giảm nghiêm trọng năng lực quản trị rủi
ro của ngân hàng thông qua việc gây nhiễu
kỳ vọng thị trường, từ đó thúc đẩy hành vi
phòng vệ thái quá hoặc chấp nhận rủi ro
một cách thiếu kiểm soát (Wu và cộng sự,
2020; Zhang và cộng sự, 2022). ESG là một
khung tiếp cận đa chiều, bao gồm tính bền
vững môi trường, trách nhiệm xã hội và chất
lượng quản trị doanh nghiệp, những yếu tố
được chứng minh là có vai trò quan trọng

PHẠM THỦY TÚ
49
Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
trong việc nâng cao khả năng chống chịu
rủi ro tài chính của ngân hàng. Nghiên cứu
thực nghiệm gần đây của Vuong và cộng
sự (2024) tại khu vực ASEAN cho thấy tác
động của bất định vĩ mô trở nên rõ rệt hơn
khi được đo lường bằng nhiều khía cạnh
bất ổn cùng lúc. Đồng thời, nghiên cứu của
Chiaramonte và cộng sự (2021) cũng chỉ
ra rằng các ngân hàng theo đuổi chiến lược
ESG một cách hiệu quả có khả năng chống
chịu khủng hoảng tốt hơn. Vì vậy, mặc dù
khác biệt về bản chất, hai yếu tố này cùng
hội tụ trong khả năng ảnh hưởng đến tính
ổn định hệ thống, qua đó cho thấy tính hợp
lý của việc lồng ghép chúng trong cùng một
khung phân tích.
Chỉ số bất định chính sách kinh tế EPU của
Baker và cộng sự (2016) là các công cụ được
sử dụng phổ biến trong đo lường ảnh hưởng
của bất ổn kinh tế tới thị trường tài chính.
Bên cạnh chỉ số EPU, nhằm lượng hóa một
cách toàn diện và đặc thù các dạng bất định
tác động đến rủi ro hệ thống tại Việt Nam,
nghiên cứu này lựa chọn cách tiếp cận đa
chiều và bản địa hóa thông qua bộ chỉ số đo
lường được thiết kế riêng hoặc điều chỉnh
phù hợp với bối cảnh quốc gia, bao gồm:
World Uncertainty Index (WUI) và World
Pandemic Uncertainty Index (WSI) của Ahir
và cộng sự (2022); Geopolitical Risk Index
(GPR) của Caldara và Iacoviello (2022);
và đặc biệt là ESG-Based Sustainability
Uncertainty Index (ESGUI) do Ongan và
cộng sự (2025) phát triển gần đây.
2.3. Fintech và tái cấu trúc rủi ro- tài chính
Sự nổi lên nhanh chóng của Fintech đang
làm thay đổi căn bản cấu trúc ngành ngân
hàng tại các thị trường mới nổi. Không
chỉ cung cấp dịch vụ tài chính thay thế,
Fintech còn đặt ra thách thức điều tiết, do
thường hoạt động bên ngoài phạm vi giám
sát truyền thống, tồn tại rủi ro “lách luật”
(Boot và cộng sự, 2021). Fintech có thể
thúc đẩy hành vi chấp nhận rủi ro do lợi
thế cạnh tranh không cân bằng (Buchak và
cộng sự, 2018).
Tác động của Fintech đối với rủi ro tài
chính tại ngân hàng là hai mặt và phụ thuộc
vào năng lực quản trị của tổ chức tài chính.
Trong điều kiện quản trị yếu, fintech có thể
làm gia tăng rủi ro tín dụng và giảm hiệu
quả hoạt động của các ngân hàng (Nguyen
và Dang, 2022; Phạm Thuỷ Tú, 2025).
Ngược lại, với kỷ luật nội bộ và khung pháp
lý minh bạch, Fintech có thể giúp cải thiện
hiệu quả và kiểm soát rủi ro (Sajid và cộng
sự, 2023; Le và cộng sự, 2024). Fintech
có thể khuếch đại hành vi rủi ro tại ngân
hàng truyền thống trong môi trường cạnh
tranh số hóa khốc liệt (Elekdag và cộng sự,
2024). Do đó, mối quan hệ này cần tiếp cận
dưới góc nhìn phi tuyến và điều kiện hóa.
2.4. Cạnh tranh và rủi ro tài chính
Hai dòng lý thuyết đối lập tồn tại trong
nghiên cứu về cạnh tranh ngân hàng: quan
điểm “cạnh tranh-bất ổn” cho rằng cạnh
tranh cao thúc đẩy rủi ro do biên lợi nhuận
bị thu hẹp (Martinez-Miera & Repullo,
2010), trong khi quan điểm “cạnh tranh- ổn
định” nhấn mạnh vai trò giảm rủi ro đạo
đức và tăng minh bạch (Berger và cộng sự,
2009). Các nghiên cứu gần đây làm rõ hơn
lập luận này bằng cách chứng minh mối
quan hệ phi tuyến: tác động của cạnh tranh
có thể đảo chiều tại một mức ngưỡng cụ
thể, phụ thuộc vào điều kiện thị trường và
năng lực giám sát (Beck và cộng sự, 2013;
Fu và cộng sự, 2014; Kasman & Kasman,
2015). Nghiên cứu của Ekananda (2023)
và Khan (2022) tại các nước ASEAN và
thị trường mới nổi cho thấy tồn tại mức độ
cạnh tranh “tối ưu” để cân bằng giữa rủi ro
tài chính và đổi mới hiệu quả.
Vì vậy, phát hiện các ngưỡng chuyển tiếp,

Ngân hàng nước ngoài và rủi ro tài chính: Phân tích ngưỡng theo Fintech,
cạnh tranh và bất định vĩ mô
50
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng- Năm thứ 27 (13)- Tháng 12. 2025- Số 285
Vuong và cộng sự, 2024).
H4: Trong điều kiện cạnh tranh vừa phải
(LERNER thấp), tác động của FBP đến
rủi ro tài chính có xu hướng tích cực hơn.
Cạnh tranh lành mạnh giúp các ngân
hàng nội địa tăng khả năng thích ứng,
trong khi thị trường quá tập trung có thể
gây ra các hiệu ứng cạnh tranh không cân
xứng (Martínez-Miera và Repullo, 2010;
Beck và cộng sự, 2013).
H5: Tác động của FBP là không đồng
nhất giữa các nhóm ngân hàng, thay đổi
theo quy mô, hình thức sở hữu và thời
kỳ kinh tế (trước và sau COVID-19). Các
ngân hàng lớn và tư nhân có xu hướng
tận dụng hiệu quả hơn lợi ích từ FBP nhờ
vào năng lực quản trị và công nghệ tốt
hơn (Huynh, 2024; Elekdag và cộng sự,
2024).
Các giả thuyết trên không chỉ làm rõ cơ chế
truyền dẫn phức tạp của FBP mà còn tạo
nền tảng phương pháp vững chắc cho việc
triển khai các mô hình ngưỡng phi tuyến và
học máy nhằm phát hiện các điểm chuyển
tiếp và phân loại phản ứng ngân hàng một
cách chính xác.
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1. Dữ liệu và biến số
Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu bảng cân
bằng gồm 28 ngân hàng thương mại tại
Việt Nam (NHTM VN) (2010- 2024),
gồm 420 quan sát. Dữ liệu đặc trưng ngân
hàng được tổng hợp từ các báo cáo tài chính
đã kiểm toán, dữ liệu FBP được thống kê bởi
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, dữ liệu vĩ mô
từ World Bank và các tổ chức quốc tế khác.
Biến phụ thuộc ZSCORE, thước đo ổn
định tổng thể của ngân hàng.
Biến độc lập chính: FBP, được xây dựng
bằng phương pháp PCA từ hai chỉ số FS1
(tỷ lệ số lượng chi nhánh FBP trên tổng số
nơi mà FBP có thể chuyển đổi vai trò từ
ổn định sang bất ổn, qua tương tác với
Fintech, bất định vĩ mô và năng lực cạnh
tranh là quan trọng. Đây là khung lý thuyết
nền tảng để định hình các giả thuyết nghiên
cứu được trình bày ở phần tiếp theo.
2.5. Giả thuyết nghiên cứu
Các bằng chứng lý thuyết và thực nghiệm
đã cho thấy rõ tính không đồng nhất, điều
kiện hóa và phi tuyến trong tác động của
FBP, phụ thuộc vào các yếu tố nền tảng
như công nghệ tài chính, bất định vĩ mô và
cấu trúc cạnh tranh thị trường. Dựa trên nền
tảng này, nghiên cứu xây dựng hệ thống
giả thuyết theo ba định hướng chính: (i)
kiểm định sự tồn tại của quan hệ phi tuyến
giữa FBP và rủi ro tài chính; (ii) xác định
các ngưỡng điều tiết có ý nghĩa thống kê;
và (iii) phát hiện các tác động có điều kiện
theo đặc điểm vi mô ngân hàng.
H1: FBP tác động đến rủi ro tài chính theo
cách phi tuyến, thay đổi về chiều hướng
và cường độ tùy thuộc vào điều kiện nền
tảng cụ thể. Đây là giả thuyết trung tâm
phản ánh vai trò “hai mặt” của FBP trong
hệ thống ngân hàng Việt Nam (Cull &
Pería, 2013; Boamah và cộng sự, 2022).
H2: Tác động của FBP trở nên tích cực
hơn khi mức độ phát triển Fintech vượt
qua một ngưỡng nhất định. Ngược lại,
trong điều kiện số hóa thấp, FBP có thể
làm tăng rủi ro do ngân hàng nội địa chưa
đủ khả năng tiếp nhận công nghệ và cạnh
tranh (Boot và cộng sự, 2021; Sajid và
cộng sự, 2023; Le và cộng sự, 2024).
H3: Mức độ bất định vĩ mô làm suy yếu
hoặc đảo ngược tác động tích cực của
FBP. Trong các môi trường thiếu ổn
định, FBP có thể dẫn đến hành vi phòng
thủ hoặc chấp nhận rủi ro cao hơn của
ngân hàng trong nước (Chiaramonte và
cộng sự, 2021; Jeon và cộng sự, 2022;

