53
© Học viện Ngân hàng
ISSN 3030 - 4199
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
Tác động của đa dạng hóa và rủi ro tín dụng lên
tỷ suất sinh lời của các quỹ tín dụng nhân dân tại
tỉnh Bình Thuận
Ngày nhận: 17/04/2025 Ngày nhận bản sửa: 18/09/2025 Ngày duyệt đăng: 22/09/2025
Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích tác động của đa dạng hóa thu nhập và đa dạng
hóa chi phí cũng như rủi ro tín dụng đối với tỷ suất sinh lời của các Quỹ tín
dụng nhân dân tại địa bàn tỉnh Bình Thuận. Sử dụng phương pháp 2SLS (Two-
Stage Least Squares) trên mẫu dữ liệu bảng gồm 2.016 quan sát được thu thập
từ Bảng cân đối tài khoản kế toán tháng của 24 Quỹ tín dụng nhân dân trong
giai đoạn từ năm 2018- 2024, kết quả nghiên cứu cho thấy, đa dạng hóa thu
nhập và rủi ro tín dụng có tác động ngược chiều trong khi đa dạng hóa chi phí
các tác động cùng chiều đến tỷ suất sinh lời của các Quỹ tín dụng nhân dân.
Nghiên cứu cũng chỉ ra tác động tương tác của rủi ro tín dụng. Kết quả nghiên
cứu nhất quán sau khi thực hiện các bài kiểm tra tính vững của kết quả
chính cũng như kết quả mở rộng tác động tương tác của rủi ro tín dụng. Kết
The impact of diversification and credit risk on the profitability of people’s credit funds in
Binh Thuan province
Abstract: This study analyzes the impact of income diversification, cost diversification, and credit risk on
the profitability of People’s Credit Funds (PCFs) in Binh Thuan Province. The Two-Stage Least Squares
(2SLS) method is applied to a panel dataset consisting of 2,016 observations collected from the monthly
balance sheets of 24 PCFs over the period 2018 to 2024. The results indicate that income diversification and
credit risk exert opposite effects on PCFs' profitability, whereas cost diversification positively influences
profitability. The study also highlights the interactive effect of credit risk. The findings are consistent
following the implementation of robustness tests on both the primary results and the expanded analysis
of the interaction effects of credit risk. The results provide important implications for the management and
operation of People’s Credit Funds, suggesting the consideration of diversification strategies, effective cost
management, and credit risk control to enhance profitability.
Keywords: Diversification, Credit risk, Profitability, Credit Funds
Doi: 10.59276/JELB.2025.11.2945
Nguyen Anh Thu1, Le Vu Hoi2(*)
Email: nathu@upt.edu.vn1, ncs20100907@sv.ufm.edu.vn2
Organization: University of Phan Thiet, Viet Nam1, University of Finance- Marketing, Viet Nam2
(*) Tác giả liên hệ/Corresponding author
Nguyễn Anh Thư1, Lê Vũ Hội2
Trường Đại học Phan Thiết, Việt Nam1, Trường Đại học Tài chính - Marketing, Việt Nam2
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tác động của đa dạng hóa và rủi ro tín dụng lên tỷ suất sinh lời
của các quỹ tín dụng nhân dân tại tỉnh Bình Thuận
54
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
quả nghiên cứu cung cấp hàm ý quan trọng trong việc điều hành quản
các Quỹ tín dụng nhân dân giúp cải thiện tỷ suất sinh lời như việc cân nhắc áp
dụng đa dạng hóa, quản hiệu quả chi phí cũng như kiểm soát rủi ro tín dụng.
Từ khóa: Đa dạng hóa, Rủi ro tín dụng, Tỷ suất sinh lời, Quỹ tín dụng nhân dân
1. Giới thiệu
Trong những năm gần đây, hoạt động các
tổ chức tín dụng (TCTD) đã liên tục thay
đổi để thích ứng với sự cạnh tranh ngày
càng gay gắt. Các TCTD phải đưa ra nhiều
chiến lược nhằm đảm bảo hoạt động
tăng thu nhập. Một trong các chiến lược
được quan tâm hàng đầu chính đa dạng
hóa (Vo, 2020). Đa dạng hóa thể được
hiểu sự đa dạng không phụ thuộc
một nguồn cố định (Duong cộng sự
2023). Các TCTD thể đa dạng hóa về
mặt thu nhập, sản phẩm hay sự hiện diện
(Cai và cộng sự 2016; Li và cộng sự 2021;
Saghi-Zedek, 2016).
Bên cạnh việc chú trọng đến tỷ suất sinh lời,
nhận diện và kiểm soát rủi ro cũng là vấn đề
được quan tâm hàng đầu. Khác với những
tổ chức kinh tế khác, TCTD phải đối mặt
với rất nhiều rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi
ro thanh khoản, rủi ro thị trường (Koch &
MacDonald, 2014). Nhưng nhìn chung, rủi
ro tín dụng một trong những rủi ro được
quan tâm hàng đầu tín dụng khoản
mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cấu
tài sản đóng góp lớn vào thu nhập của
các TCTD (Suu cộng sự, 2020). Điều này
càng quan trọng đối với hoạt động của các
Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nơi
tín dụng hầu như là hoạt động chủ yếu. Rủi
ro tín dụng làm gia tăng chi phí khiến các
TCTD dễ dẫn đến tình trạng khủng hoảng
tài chính (Ekinci & Poyraz, 2019).
Nghiên cứu hiện tại được thực hiện nhằm
trả lời các câu hỏi sau: (i) rủi ro tín dụng
tác động như thế nào đến tỷ suất sinh
lời của các QTDND; (ii) đa dạng hóa (thu
nhập chi phí) tác động đến tỷ suất sinh
lời của các QTDND như thế nào, (iii)
tương tác giữa rủi ro tín dụng đa dạng
hóa tác động đến tỷ suất sinh lời ra sao.
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm tìm
hiểu tác động của đa dạng hóa rủi ro tín
dụng đến tỷ suất sinh lời của các QTDND tại
tỉnh Bình Thuận. Mặc dù chủ đề nghiên cứu
sự tương đồng với các nghiên cứu trước
(Duong và cộng sự 2023; Ekinci & Poyraz,
2019; Vo, 2020; Wang & Lin, 2021) nhưng
nghiên cứu hiện tại đóng góp vào sở
thuyết ở một số điểm đáng chú ý sau.
Thứ nhất, QTDND loại hình hợp tác
xã, cung cấp vốn tín dụng cấp độ vi mô.
Theo Báo cáo kết quả hoạt động QTDND
năm 2023, các QTDND cung cấp nguồn
vốn tín dụng hơn 134 nghìn tỷ đồng chủ
yếu cho các đối tượng sản xuất, kinh doanh
tại các vùng nông thôn (Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, 2024). Tuy nhiên, hầu
như có rất ít nghiên cứu tại Việt Nam được
thực hiện nhằm tìm hiểu hoạt động của các
QTDND. Bên cạnh đó, nghiên cứu được
thực hiện tại Bình Thuận các QTDND
tại đây có nhiều đặc điểm cho thấy tính đại
diện cao cho hoạt động của các QTDND
như hoạt động chủ yếu tại các vùng nông
thôn, cung cấp vốn tín dụng ở cấp độ vi
cho các đối tượng sản xuất tại nông thôn
số lượng phân bổ tương đối đều trong
toàn Tỉnh. Cụ thể, mặc dù tỉnh Bình Thuận
gần vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
nhưng nông nghiệp vẫn hoạt động chiếm
giá trị không nhỏ trong cấu đóng góp
GRDP của địa phương. Theo Cục Thống
NGUYỄN ANH THƯ - LÊ VŨ HỘI
55
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
tỉnh Lâm Đồng (2025), khu vực nông,
lâm nghiệp thủy sản chiếm trên 25%
cấu GRDP của toàn Tỉnh. Toàn tỉnh
25 QTDND, trong đó tập trung chủ yếu tại
khu vực nông thôn với 23 QTDND. Tính
đến cuối năm 2024, các QTDND này đã
cung cấp hơn 2.800 tỷ đồng vốn tín dụng
tại địa phương, chiếm gần 3% tổng vốn tín
dụng nhằm trong nhóm 25% TCTD
tổng dư nợ cao hơn giá trị trung vị của toàn
tỉnh Bình Thuận. Do đó, các QTDND đóng
vai trò cùng quan trọng trong sự phát
triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói
riêng cũng như kinh tế của toàn tỉnh Bình
Thuận nói chung.
Thứ hai, mặc hoạt động chủ yếu trong
lĩnh vực tín dụng nhưng nhu cầu cạnh tranh
khiến các QTDND ngày nay phải tham gia
hoạt động nhiều lĩnh vực hơn; một mặt
nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của thành
viên, khách hàng; một mặt để gia tăng thu
nhập. Luật các TCTD năm 2010 mới
đây là 2024 đã mở rộng lĩnh vực hoạt động
cho các QTDDN thay chỉ hoạt động
tín dụng như truyền thống. Chính thế,
cần thiết phải những nghiên cứu nhằm
cung cấp các bằng chứng thực nghiệm
thể đánh giá thực trạng hiện tại đưa ra
các khuyến nghị quan trọng trong việc mở
rộng lĩnh vực hoạt động của các QTDND.
Thứ ba, mặc dù đã nghiên cứu tìm hiểu
tác động của rủi ro tín dụng lên tỷ suất
sinh lời của các QTDND (Ngô Văn Tuấn
& Nguyễn Thanh Minh, 2020), tuy nhiên,
nghiên cứu này mở rộng hơn các kết quả
nghiên cứu hiện tại bằng việc phân tích tác
động tương tác của rủi ro tín dụng lên mối
quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập chi
phí lên tỷ suất sinh lời, từ đó thể cung
cấp nhiều bằng chứng hơn góp phần cải
thiện tỷ suất sinh lời của các QTDND.
Thực hiện phương pháp hồi quy dựa trên
dữ liệu bảng gồm 2.016 quan sát được thu
thập từ Bảng cân đối tài khoản kế toán
tháng của 24 QTDND trên địa bàn tỉnh
Bình Thuận giai đoạn 2018- 2024, kết quả
nghiên cứu cung cấp các bằng chứng thực
nghiệm quan trọng góp phần mở rộng
sở thuyết đối với hoạt động của các tổ
chức tài chính vi như QTDND. Thứ
nhất, đa dạng hóa những tác động khác
nhau đến tỷ suất sinh lời của các QTDND.
Trong khi đa dạng hóa thu nhập có tác động
ngược chiều (Abbas & Ali, 2022; Berger
cộng sự 2010) thì đa dạng hóa chi phí lại
tác động tích cực đến tỷ suất sinh lời của các
QTDND (Doan cộng sự 2018; Wang &
Lin, 2018). Thứ hai, rủi ro tín dụng thật sự
tác động ngược chiều đến tỷ suất sinh lời của
các QTDND. Thêm vào đó, kết quả mở rộng
nghiên cứu cho thấy sự gia tăng rủi ro tín
dụng làm gia tăng tác động ngược chiều
giảm tác động cùng chiều của đa dạng hóa.
Kết cấu bài viết được chia làm 5 phần. Phần
1 Giới thiệu tổng quát nghiên cứu, phần
2 phần 3 gồm Tổng quan thuyết
phương pháp nghiên cứu. Kết quả nghiên
cứu được trình bày tại phần 4. Phần 5 Kết
luận và hàm ý quản trị.
2. sở thuyết tổng quan nghiên cứu
2.1. Tác động của đa dạng hóa lên tỷ suất
sinh lời
Theo Duong cộng sự (2023), đa dạng
hóa thể được hiểu sự đa dạng
không phụ thuộc một nguồn cố định.
Diễn giải theo quan điểm trên thể hiểu
đa dạng hóa thu nhập hay chi phí sự đa
dạng không phụ thuộc vào một nguồn
thu nhập hay chi phí nào. sở thuyết
cho đa dạng hóa phần nhiều sự đóng góp
từ thuyết đa dạng hóa của Markowitz
(1952). thuyết này nền tảng cho
thuyết danh mục đầu hiện đại (Modern
Portfolio Theory - MPT). Ý tưởng cốt lõi
không "bỏ trứng vào cùng một giỏ" để
Tác động của đa dạng hóa và rủi ro tín dụng lên tỷ suất sinh lời
của các quỹ tín dụng nhân dân tại tỉnh Bình Thuận
56
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
thể giảm rủi ro tổng thể. Tuy nhiên,
để thể thực hiện được đa dạng hóa đòi
hỏi tổ chức phải sự đánh đổi trong lựa
chọn để thể cân bằng được các nguồn
lực bên trọng bên ngoài. Đây cũng
nội hàm quan trọng của thuyết đánh đổi,
thuyết phụ thuộc nguồn lực. Đã rất
nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm
hiểu tác động của đa dạng hóa lên tỷ suất
sinh lời (khả năng tạo ra lợi nhuận dựa trên
một đại lượng cơ sở nhất định như tổng tài
sản, vốn chủ sở hữu, tổng doanh thu,…)
của các ngân hàng như đa dạng hóa thu
nhập, đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa
nguồn vốn các nghiên cứu trên đều cung
cấp bằng chứng thực nghiệm cho thấy đa
dạng hóa có ảnh hưởng nhất định đến hoạt
động của các tổ chức tài chính (Duong
cộng sự, 2023; Meslier cộng sự, 2014;
Wang & Lin, 2018).
Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan tác
động của đa dạng hóa đối hoạt động của
QTDND tại Việt Nam hiện khá ít. Theo
Luật các TCTD năm 2024, QTDND được
hoạt động trên nhiều lĩnh vực từ các hoạt
động truyền thống như huy động, cho vay
đến các hoạt động dịch vụ như nhận vốn
ủy thác, đại thanh toán hay thậm chí
đại bảo hiểm. Đây vừa hội, vừa
thách thức không nhỏ đối với các QTDND.
Bên cạnh đó, một trong các vấn đề được
quan tâm trong hoạt động của các QTDND
cấu các khoản chi phí trong hoạt động.
Với quy nhỏ cùng với nhiều hạn chế
(lĩnh vực địa bàn hoạt động), việc quản
lý tốt chi phí sẽ giúp các QTDND gia tăng
tỷ suất sinh lời (Ngô Văn Tuấn & Nguyễn
Thanh Minh, 2020). Xét về góc độ quản
trị, thuyết người đại diện cho rằng có sự
mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa chủ sở hữu
người quản của doanh nghiệp. Nếu
thể cân bằng lợi ích từ hai phía, doanh
nghiệp thể hoạt động hiệu quả. Bên cạnh
đó, thuyết sự phụ thuộc nguồn lực cũng
cho rằng, các doanh nghiệp nên tận dụng
nguồn lực bên ngoài để gia tăng tỷ suất sinh
lời. Do đó, các chi phí lương thu nhập
góp phần thu hút nhân lực nguồn lực giúp
gia tăng tỷ suất sinh lời của các QTDND.
Dựa vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu
trước đó, nghiên cứu xây dựng giả thuyết
nghiên cứu như sau:
Giả thuyết 1a: Đa dạng hóa tác động
cùng chiều đến tỷ suất sinh lời của các
QTDND.
Giả thuyết 1b: Đa dạng hóa tác động
ngược chiều đến tỷ suất sinh lời của các
QTDND.
2.2. Tác động của rủi ro tín dụng lên tỷ
suất sinh lời
Theo Văn bản hợp nhất số 05/VBHN-
NHNN ngày 01/3/2024, rủi ro tín dụng
“rủi ro do khách hàng không thực hiện
hoặc không khả năng thực hiện một
phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp
đồng hoặc thỏa thuận”. Tại Việt Nam, hoạt
động tín dụng vẫn là hoạt động chủ yếu
đem lại phần lớn thu nhập cho các TCTD
(Suu cộng sự, 2020; Long Hậu &
Phạm Xuân Quỳnh, 2016). Do đó, việc chú
trọng quan tâm đến hoạt động tín dụng
cũng như rủi ro tín dụng không chỉ mối
quan tâm của từng TCTD còn của cả
hệ thống quản Nhà nước, đặc biệt từ
sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007- 2008
bắt nguồn từ hoạt động tín dụng. Đã có rất
nhiều nghiên cứu cả trong ngoài nước
tìm hiểu tác động của rủi ro tín dụng lên
tỷ suất sinh lời của các tổ chức tín dụng.
Một số nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng
gia tăng làm ảnh hưởng đến chất lượng tài
sản, gia tăng rủi ro, ảnh hưởng đến tỷ suất
sinh lời của các tổ chức tài chính, tín dụng
(Ekinci & Poyraz, 2019; Isanzu, 2017). Tuy
nhiên, một số khác lại cho thấy rủi ro tín
dụng một mức độ nhất định tác động
NGUYỄN ANH THƯ - LÊ VŨ HỘI
57
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
cùng chiều, thúc đẩy gia tăng mở rộng hoạt
động cho vay và giúp các tổ chức tài chính,
tín dụng gia tăng thu nhập (Alshatti, 2015;
Boahene và cộng sự, 2012).
Dựa vào những phân tích ở trên, nghiên cứu
xây dựng giả thuyết nghiên cứu như sau:
Giả thuyết 2: Rủi ro tín dụng tác động
ngược chiều đến tỷ suất sinh lời của các
QTDND
2.3. Tác động của rủi ro tín dụng lên mối
quan hệ giữa đa dạng hóa và tỷ suất sinh
lời của các Quỹ tín dụng nhân dân
thuyết đánh đổi rủi ro cho rằng, việc
chấp nhận mức độ rủi ro cao thường sẽ
mang lợi nhuận cao. Tuy nhiên, nếu rủi ro
vượt ngưỡng chịu đựng của đơn vị thì lợi
nhuận sẽ không còn ngân hàng thể
phải đối mặt với các thách thức lớn hơn để
duy trì hoạt động. DeYoung Rice (2004)
cho rằng các đa dạng hóa giúp ngân hàng
tăng trưởng bền vững tăng tỷ suất sinh
lời nhờ vào nhiều nguồn thu nhập giảm
rủi ro mất vốn. Tuy nhiên, đa dạng hóa quá
mức thể gây ra chi phí quản tăng
giảm hiệu quả. Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng
cao thường đi kèm với sự gia tăng thêm
nhiều khoản chi phí (chi phí dự phòng rủi
ro tín dụng, chi phí xử nợ). Điều này ngụ
ý rằng, bất kỳ chiến lược kinh doanh nào
cũng đều tồn tại chi phí, do đó, việc vận
hành và áp dụng các chiến lược kinh doanh
đòi hỏi nhiều sự đầu về mặt chi phí trong
môi trường rủi ro sẽ khiến cho chi phí tăng
cao sụt giảm lợi nhuận (Stiroh, 2004).
Do đó, DeYoung Rice (2004) khẳng
định rằng việc áp dụng đa dạng hóa phải đi
kèm với việc kiểm soát tốt rủi ro.
Giả thuyết 3a: Rủi ro tín dụng làm gia
tăng tác động giữa đa dạng hóa và tỷ suất
sinh lời của các QTDND
Giả thuyết 3b: Rủi ro tín dụng làm giảm
tác động giữa đa dạng hóa và tỷ suất sinh
lời của các QTDND
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Mô hình nghiên cứu
Dựa theo các nghiên cứu trước của các tác
giả Vo (2020), Meslier cộng sự (2014),
Minot cộng sự (2006), Duong cộng
sự (2023) Ekinci Poyraz (2019),
nhóm tác giả xây dựng hình (1) (2)
để kiểm định giả thuyết nghiên cứu 1 2
về tác động của đa dạng hóa rủi ro tín
dụng đến tỷ suất sinh lời của các QTDND
tại địa bàn tỉnh Bình Thuận như sau:
Profitabilityi,t = α + βProfitabilityi,t-1 +
γHHIi,t + δControli,t + εi,t (1)
Profitabilityi,t = α + βProfitabilityi,t-1 +
γHHIi,t + θNPLsi,t + δControli,t + εi,t (2)
Để kiểm định giả thuyết nghiên cứu 3,
nghiên cứu xây dựng hình (3) để tìm
hiểu tác động của đa dạng hóa đến tỷ suất
sinh lời của các QTDND thay đổi theo rủi
ro tín dụng như thế nào:
Profitabilityi,t = α + βProfitabilityi,t-1 +
γHHIi,t + NPLsi,t (θ + ϑHHIi,t) + δControli,t
+ εi,t (3)
Với i, t tương ứng với QTDND i tại thời
điểm t. Tỷ suất sinh lời (Profitability) được
đo lường thông qua tỷ lệ lợi nhuận trên
tổng tài sản (ROA). Biến HHI đại diện cho
đa dạng hóa gồm đa dạng hóa thu nhập
đa dạng hóa chi phí (HHIincome
HHIcost). Rủi ro tín dụng (NPLs) được đo
lường thông qua tỷ lệ nợ xấu trên tổng
nợ của QTDND. Thêm vào đó, sai số
của hình Control các biến kiểm
soát. Cách đo lường các biến nghiên cứu
chính như sau:
Tỷ suất sinh lời
Dựa theo các nghiên cứu trước của
Almaqtari cộng sự (2019); Ekinci
Poyraz (2019); Isanzu (2017), nghiên cứu