BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

NGUYỄN MINH TRUNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG HẠ ĐƯỜNG HUYẾT CỦA

SẢN PHẨM VI BAO CAO CHIẾT TỪ CÂY TRÂM VỎ ĐỎ

(Syzygium zeylanicum (L.) DC.)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Đắk Lắk - 2024

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

NGUYỄN MINH TRUNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG HẠ ĐƯỜNG HUYẾT CỦA

SẢN PHẨM VI BAO CAO CHIẾT TỪ CÂY TRÂM VỎ ĐỎ

(Syzygium zeylanicum (L.) DC.)

Chuyên ngành: Công nghệ Sinh học

Mã số: 9 42 02 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN QUANG VINH

Đắk Lắk - 2024

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trình

bày trong luận án là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ bất cứ một

luận án nào khác. Các thông tin khoa học được trích dẫn trong luận án đều đã

được chỉ rõ nguồn gốc.

Đắk Lắk, ngày tháng năm 2024

Tác giả luận án

Nguyễn Minh Trung

i

Nghiên cứu của Luận án này được thực hiện dưới sự tài trợ của Quỹ Phát triển Khoa

học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), mã số 106.99-2020.17.

Nguyễn Minh Trung được tài trợ bởi Chương trình học bổng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ

trong nước của Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF), mã số

VINIF.2021.TS.157, VINIF.2022.TS.139 và VINIF.2023.TS.138.

ii

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường,

Trường Đại học Tây Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình học tập

và nghiên cứu để tôi hoàn thành Luận án. Tôi xin bày tỏ biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.

Nguyễn Quang Vinh, người Thầy tận tâm, đã luôn quan tâm, chỉ bảo, dìu dắt, đồng hành

và tận tình hướng dẫn tôi từng bước vào con đường nghiên cứu khoa học, thực hiện

nghiên cứu và hoàn thành Luận án Tiến sĩ.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo Trường Đại học Tây Nguyên,

Khoa Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Bộ môn Sinh học đã tạo điều kiện công tác,

cho phép tôi theo học chương trình Tiến sĩ; Ban lãnh đạo Viện Công nghệ Sinh học và

Môi trường - Trường Đại học Tây Nguyên, Viện NTT Hi-tech - Trường Đại học Nguyễn

Tất Thành, Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) Đắk Lắk đã tạo điều kiện về cơ sở vật

chất, trang thiết bị giúp tôi thực hiện các nội dung nghiên cứu.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia

(NAFOSTED), mã số 106.99-2020.17 đã tài trợ cho nghiên cứu. Tôi xin bày tỏ lòng

biết ơn đến Quỹ đổi mới sáng tạo Vingroup (VINIF) đã tài trợ cho tôi thông qua Chương

trình học bổng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trong nước, mã số VINIF.2021.TS.157,

VINIF.2022.TS.139 và VINIF.2023.TS.138. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

PGS.TS. Bạch Long Giang, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành đã tin tưởng giới thiệu

tôi là ứng viên nhận học bổng của Quỹ đổi mới sáng tạo Vingroup.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ba mẹ đã sinh thành, dưỡng dục, luôn ủng

hộ mọi quyết định của tôi. Tôi vô cùng biết ơn vợ con đã luôn đồng hành, ủng hộ, chia

sẻ, động viên; anh chị em trong gia đình đã ủng hộ tôi theo đuổi con đường học thuật và

hoàn thành Luận án.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả Quý Thầy cô, đồng nghiệp, sinh viên,

anh chị em, bạn bè. Những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện chia sẻ, gợi mở đã giúp ích

rất nhiều cho tôi trong quá trình hoàn thiện Luận án này. Trân trọng./.

Đắk Lắk, ngày tháng năm 2024 Tác giả luận án

Nguyễn Minh Trung

iii

THÔNG TIN VỀ NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Mã số: 9.42.02.01

Tên luận án: Nghiên cứu khả năng hạ đường huyết của sản phẩm vi bao cao chiết từ cây Trâm vỏ đỏ (Syzygium zeylanicum (L.) DC.) Chuyên ngành: Công nghệ Sinh học. 1. Tóm tắt nội dung luận án

Đề tài được thực hiện tại Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường, Trường Đại học Tây Nguyên từ tháng 6/2021 đến tháng 12/2023 trên đối tượng vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ, thu thập tại Khu bảo tồn thiên nhiên Easo, Ea Kar, Đắk Lắk với mục tiêu: Xác định được thành phần các hợp chất chính trong cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ và khả năng hạ đường huyết thông qua tác động đa mục tiêu của sản phẩm vi bao cao chiết trên mô hình in vitro và in vivo làm cơ sở nghiên cứu phát triển các sản phẩm bảo vệ sức khoẻ trong kiểm soát đường huyết. Các nội dung nghiên cứu chính của luận án gồm:

− Đánh giá ảnh hưởng của trích ly phân đoạn đến khả năng kiểm soát đường huyết đa mục tiêu của cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ, gồm: (1) Trích ly phân đoạn cao chiết thô, xác định hàm lượng polyphenol và flavonoid tổng số của cao chiết thô và các loại cao chiết phân đoạn; (2) Đánh giá khả năng chống oxy hóa, kháng viêm, ức chế α-glucosidase và α-amylase, kháng khuẩn và kích thích sinh trưởng lợi khuẩn của các loại cao chiết; (3) Đánh giá độc tính của các chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ trên mô hình cá ngựa vằn; (4) Đánh giá khả năng kiểm soát đường huyết của cao chiết phân đoạn trên mô hình cá ngựa vằn; (5) Đánh giá ảnh hưởng của cao chiết tiềm năng đến hệ vi sinh đường ruột trên mô hình in vivo; (6) Đánh giá tác động của cao chiết tiềm năng đến điều hòa biểu hiện gene liên quan đến kiểm soát đường huyết trên mô hình cá ngựa vằn;

− Phân lập các hợp chất, định lượng và đánh giá tương quan với hoạt tính sinh học của cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ, gồm: (1) Phân lập và xác định cấu trúc của các hợp chất có hoạt tính sinh học từ cao chiết tiềm năng; (2) Định lượng các hợp chất có hoạt tính sinh học trong các loại cao chiết; (3) Đánh giá tương quan giữa thành phần hoạt chất và hoạt tính sinh học của các loại cao chiết;

− Vi bao cao chiết và đánh giá khả năng kiểm soát đường huyết đa mục tiêu của sản phẩm vi bao, gồm: (1) Xác định điều kiện vi bao phù hợp bằng phương pháp sấy phun; (2) Đánh giá hoạt tính hạ đường huyết của sản phẩm vi bao trong điều kiện in vitro; (3) Đánh giá tính an toàn của sản phẩm vi bao trên mô hình cá ngựa vằn; (4) Đánh giá khả năng hạ đường huyết của sản phẩm vi bao trên mô hình cá ngựa vằn; (5) Đánh giá khả năng điều hòa biểu hiện một số gene liên quan đến kiểm soát đường huyết của sản phẩm vi bao cao chiết; (6) Đánh giá hoạt tính kháng viêm in vitro và in vivo của sản phẩm vi bao cao chiết;

− Nghiên cứu xây dựng mô hình dự đoán thời hạn bảo quản của sản phẩm vi bao, gồm: (1) Đánh giá tác động của điều kiện kích thích đến sự thay đổi độ ẩm và hàm lượng polyphenol của sản phẩm vi bao theo thời gian bảo quản; (2) Đánh giá tác động của điều kiện kích thích đến sự thay đổi hoạt tính chống oxy hóa và ức chế enzyme của sản phẩm vi bao theo thời gian bảo quản; (3) Xây dựng mô hình dự đoán thời hạn bảo quản của sản phẩm bột vi bao;

iv

2. Những kết quả mới của luận án

− Cung cấp những dữ liệu quan trọng về hiệu quả hạ đường huyết của cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ và sản phẩm vi bao thông qua tác động đa mục tiêu gồm: Ổn định đường huyết lúc đói, chống tăng đường huyết sau ăn, chống oxy hóa, kháng viêm, ổn định hệ vi sinh vật đường ruột và điều hoà biểu hiện của các gene liên quan đến quá trình tăng đường huyết ở mô hình cá ngựa vằn gây bệnh đái tháo đường. Cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ và sản phẩm vi bao có khả năng điều hoà biểu hiện một số gene liên quan đến kiểm soát quá trình sinh tổng hợp chất béo như gene SREBF1, ACC1, và FASN; cải thiện kháng insulin thông qua gene insulin (INS), và thụ thể insulin (INSRA1 và INSRB1); ức chế hấp thu glucose qua thành ruột thông qua gene SGLT1 và cải thiện chuyển hóa glucose thông qua gene GLP-1. − Phân lập và xác định được cấu trúc của các hợp chất chính trong vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ thể hiện hoạt tính tiềm năng trong kiểm soát đường huyết. Trong đó, gallic acid, catechin, epicatechin, ellagic acid, quercetin, caffeine và apigenin là các thành phần chống oxy hóa quan trọng. Ethyl gallate và rutin là thành phần chính ức chế α- glucosidase. − Sử dụng maltodextrin kháng tiêu hóa làm chất mang vi bao gói cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ bằng phương pháp sấy phun đã nâng cao được tính sinh khả dụng của sản phẩm, nhờ vào sự tương tác phân tử giữa vật liệu bao gói và các hợp chất trong cao chiết. − Xây dựng được mô hình dự đoán thời hạn bảo quản của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (Mô hình tuân theo quy luật hàm bật nhất: 𝐶𝑡 = 𝐶0. 𝑒−𝑘𝑡. Sản phẩm vi bao gói ổn định ở điều kiện nhiệt độ (40 °C) và độ ẩm môi trường bảo quản (75%), với thời gian bán rã và suy thoái 90% hoạt tính lần lượt là 346,57 ngày và 1.151,29 ngày, so với cao chiết không vi bao lần lượt là 231,05 ngày và 767,53 ngày.

3. Các ứng dụng/khả năng ứng dụng trong thực tiễn, những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Luận án làm sáng tỏ những minh chứng khoa học về khả năng hạ đường huyết thông qua tác động đa mục tiêu của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ. Đồng thời, cung cấp các dẫn liệu ban đầu về tiềm năng ứng dụng để phát triển các thực phẩm an toàn từ cây Trâm vỏ đỏ trong phòng chống đái tháo đường, góp phần làm gia tăng chuỗi giá trị trong hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững.

Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu gồm (1) Tối ưu hóa điều kiện sơ chế, trích ly và vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ để nâng cao khai thác các hợp chất cũng như nâng cao hoạt tính sinh học của các hợp chất tự nhiên từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ; (2) Đánh giá tác động của cao chiết và sản phẩm vi bao trên các mô hình nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng để có thể phát triển thành các dạng thực phẩm thuốc cũng như thực phẩm chức năng trong phòng chống bệnh đái tháo đường; (3) Thử nghiệm sản xuất một số sản phẩm thực phẩm có khả năng ổn định đường huyết hỗ trợ phòng ngừa và điều trị đái tháo đường.

v

DECLARATION OF THE NOVELTY OF THE DOCTORAL

DISSERTATION

Dissertation title: Research on the hypoglycemic ability of a microencapsulated extract of Syzygium zeylanicum (L.) DC. Specialization: Biotechnology. Code: 9.42.02.01 1. Summary

This study was conducted at the Institute of Biotechnology and Environment, Tay Nguyen University, from June 2021 to December 2023. The investigation focused on the trunk-bark of Syzygium zeylanicum (L.) DC., which was collected from the Easo Nature Reserve, Ea Kar, Dak Lak. The primary objective of this investigation is to elucidate the composition of the principal bioactive compounds in the trunk-bark extract of Syzygium zeylanicum (L.) DC. and assess its hypoglycemic potential through the multi-target effects of its microencapsulated products in in vitro and in vivo models. This pivotal investigation provides a cornerstone for the advancement of health- protective interventions that target glucose homeostasis. This investigation comprises four primary contents, as follows:

− Investigate the impact of fractionation on glycemic control through the multi-target effects of Syzygium zeylanicum (L.) DC. extract, encompassing (1) fractionation of crude extract and determination of total polyphenol and flavonoid contents in the crude extract and its fractions; (2) assessment of antioxidant, anti-inflammatory, α- glucosidase, and α-amylase inhibitory activities, as well as antimicrobial and prebiotic properties of the extracts; (3) evaluation of the toxicity of the extracts in a zebrafish model; (4) assessment of the glycemic control efficacy of the extracts in a zebrafish model; (5) examination of the modulation of the intestinal microflora of the potential extracts; and (6) investigation of the impact of potential extracts on gene expression related to glycemic control in a zebrafish model.

− Isolation and quantification of bioactive compounds, as well as evaluation of their correlation with the bioactivity of Syzygium zeylanicum (L.) DC., encompassing (1) isolation and structural elucidation of bioactive compounds from the potential extracts, (2) quantitative analysis of bioactive compounds in extracts, and (3) evaluation of the correlation between active constituents and bioactivity of extracts.

− Microencapsulate the Syzygium zeylanicum (L.) DC. extract and evaluate its multi- target effects on glycemic control, including (1) determination of suitable conditions for microencapsulation via the spray-drying method, (2) assessment of the hypoglycemic potential of the microencapsulated products in an in vitro model, (3) examination of the toxicity of the microencapsulated products, (4) evaluation of the hypoglycemic efficacy in a zebrafish model, (5) investigation of the ability to modulate gene expression related to glycemic regulation of microencapsulated products, and (6) assessment of the anti- inflammatory activity of the microencapsulated products in in vitro and in vivo models. − Research to develop a model for predicting the storage life of microencapsulated products, encompasses (1) assessment of the impact of accelerated conditions on the alteration in moisture and polyphenol content of microencapsulated products over the storage period, (2) evaluation of the effect of stimulating conditions on the change in antioxidant and enzyme inhibitory activities of microencapsulated products over the

vi

storage period, and (3) development of a predictive model for the storage life of microencapsulated products. 2. The novelty of the dissertation

− Syzygium zeylanicum (L.) DC extract and microencapsulated products have been demonstrated to exhibit hypoglycemic efficacy through multi-target effects, including stabilization of fasting and postprandial blood glucose levels, mitigation of oxidative stress and inflammatory responses, modulation of intestinal microbiota, and regulation of hyperglycemia-associated genes in diabetes-induced zebrafish. Furthermore, these extracts and microencapsulated products can regulate fat biosynthesis by modulating SREBF1, ACC1, and FASN genes, ameliorating insulin resistance by modulating insulin (INS) and insulin receptor (INSRA1 and INSRB1) genes, attenuating glucose absorption through the intestinal wall via the SGLT1 gene, and enhancing glucose metabolism through the GLP1 gene.

− The isolation and identification of primary compounds in the trunk-bark of Syzygium zeylanicum (L.) DC has demonstrated potential for glycemic control. Essential antioxidant components include gallic acid, catechin, epicatechin, ellagic acid, quercetin, caffeine, and apigenin. Ethyl gallate and rutin are the principal compounds that inhibit the α-glucosidase activity.

− The utilization of digestion-resistant maltodextrin as a carrier

for microencapsulation of the Syzygium zeylanicum (L.) DC extract through the spray- drying method enhances the bioavailability of the product, which is attributable to the molecular interaction between the encapsulating material and the principal compound in the core extract.

− A model was developed to predict the shelf life of the microencapsulated product derived from Syzygium zeylanicum (L.) DC extract (model follows the first-order rule: Ct = C0. e−kt). The microencapsulated product exhibits stability under ambient temperature (40 °C) and humidity (75%), with a half-life and 90% degradation of activity of 346.57 days and 1,151.29 days, respectively, compared to those of the free extract, which are 231.05 days and 767.53 days, respectively. 3. Applications/applicability in practice, problems topic needs to continue research

to optimize

required

is

This dissertation elucidates the scientific evidence supporting hypoglycemic effects via multi-target effects of the trunk-bark extract from Syzygium zeylanicum (L.) DC. Furthermore, this study provides preliminary data on the potential application of this plant in the development of safe food products for diabetes prevention, which may contribute to sustainable resource utilization and enhance the value chain. Additional research the pre-processing, extraction, and microencapsulation conditions of Syzygium zeylanicum (L.) DC to improve the utilization of these compounds and enhance their bioactivity. It is imperative to conduct research and evaluate the effects of extracts and microencapsulated products in preclinical and clinical research models to develop medicinal and functional foods for diabetes prevention. Investigating the production of food products that stabilize blood glucose levels is essential for the prevention and treatment of diabetes.

vii

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................ i

LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................ iii

THÔNG TIN VỀ NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ ................... iv

DECLARATION OF THE NOVELTY OF THE DOCTORAL DISSERTATION ....... vi

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ..................................................x

DANH MỤC CÁC BẢNG .......................................................................................... xiii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ........................................................................xv

MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1

1. Đặt vấn đề/tính cấp thiết của đề tài .............................................................................1

2. Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................................2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................................3

4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ...............................................................................3

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn .....................................................................................3

5.1. Ý nghĩa khoa học ..................................................................................................3

5.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................................4

6. Những đóng góp mới của luận án ...............................................................................4

Chương 1. TỔNG QUAN ................................................................................................5

1.1. Tổng quan về bệnh đái tháo đường ......................................................................5

1.2. Các phương pháp tiếp cận hiện đại nhằm kiểm soát đường huyết trong điều trị

bệnh đái tháo đường ....................................................................................................9

1.3. Tiềm năng phòng chống bệnh đái tháo đường thông qua khả năng kiểm soát

đường huyết của các polyphenol từ thực vật .............................................................13

1.4. Chi Trâm (Syzygium sp.) và tiềm năng phòng chống bệnh đái tháo đường .......23

1.5. Công nghệ vi bao gói các hợp chất tự nhiên ứng dụng trong phòng chống bệnh

đái tháo đường ...........................................................................................................30

1.6. Mô hình cá ngựa vằn trong nghiên cứu đái tháo đường .....................................36

1.7. Thực trạng và hướng tiếp cận nghiên cứu ..........................................................39

viii

Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................42

2.1. Vật liệu nghiên cứu .............................................................................................42

2.2. Nội dung nghiên cứu .........................................................................................44

2.3. Phương pháp nghiên cứu và chỉ tiêu đánh giá ....................................................46

Chương 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN .......................................................................70

3.1. Ảnh hưởng của trích ly phân đoạn đến thành phần hoạt chất và khả năng hạ đường

huyết đa mục tiêu của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ ........................70

3.2. Phân lập các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

...................................................................................................................................97

3.3. Vi bao gói cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ ................................................... 116

3.4. Xây dựng mô hình dự đoán thời hạn bảo quản của sản phẩm vi bao .............. 141

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................... 149

Kết luận ................................................................................................................... 149

Kiến nghị ................................................................................................................ 150

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ........................................................... 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 153

PHỤ LỤC .................................................................................................................... P-1

ix

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chú thích

Chữ viết tắt 3T3-L1 ABTS AGES

AGES

Akt1 ALA AMPK

AQP2 AQP3 AVV α-CD BCAAs

β-CD CAT CFU

COSY

CRP DHA DPPH DPP4 ĐTĐ EGCG EPA GA GAE

GEN GIP GLP-1 GLP-1Ras

GLUT

GLUT4

GR GSH GS-MS 3T3-L1 preadipocyte cells 2,2-azino-bis(3-ethylbenzothiazoline-6-sulfonic acid) Advanced glycation end products (Sản phẩm cuối quá trình glycated hóa) Advanced Glycated End-products (Sản phẩm cuối quá trình glycate hóa) Protein Kinase B α-linolenic acid AMP-activated protein kinase pathway (Con đường protein kinase được kích hoạt bởi AMP) Aquaporin-2 Aquaporin-3 Adeno-Asociated Virus Vector α-cyclodextrin Branched-chain amino acids (Acid béo mạch phân nhánh) β-cyclodextrin Catalase Colony-forming unit (Đơn vị hình thành khuẩn lạc) ¹H-¹H Correlation Spectroscopy (Phổ tương quan ¹H-¹H) C-reactive protein Docosahexaenoic acid 2,2-diphenyl-2-picrylhydrazyl Dipeptidyl peptidase-4 Đái tháo đường Epigallocatechin-3-gallate Eicosapentaenoic acid Gum Arabic Gallic Acid Equivalents (Đương lượng gallic acid) Genistein Gastric Inhibitory Peptide Glucagon-like peptide 1 Glucagon-like peptide 1 receptor agonists (Chất chủ vận thụ thể peptide giống glucagon 1) Glucose transporter (Chất vận chuyển glucose) Glucose transporter type 4 (Chất vận chuyển glucose loại 4) Glutathione reductase Glutathione Gas chromatography–Mass spectrometry (Sắc ký khí – Khối phổ)

x

GST -CD HbA1c HFD HT IC50

IDF

IL-6 ipGTT

iPSCs

IRS

IRS1 JNK LA LC-MS

LC-PUFA

MA MHA

MHB

MSCs

NF- B NMR

NOESY

Nrf2/Glo1 OA OGTT

PI3K PPAR PPARγ PPARG2 PPCs

Glutathione S-Transferases -cyclodextrin The hemoglobin A1c High-fat diet Hydroxytyrosol Half-maximal Inhibitory Concentration (Nồng độ ức chế 50 %) The International Diabetes Federation (Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế) Interleukin-6 Intraperitoneal glucose tolerance tests (Thử nghiệm chống chịu glucose đường tiêm) Induced Pluripotent Stem Cells (Tế bào gốc cảm ứng đa năng) Infrared spectroscopy (Phổ hồng ngoại) insulin receptor substrate protein 1 c-Jun N-terminal kinase Linoleic acid Liquid chromatography–Mass spectrometry (Sắc ký lỏng – Khối phổ) Long-chain polyunsaturated fatty acid (Acid béo không bão hòa đa chuỗi dài) Maslinic acid Muler Hinton Agar (Môi trường Muler Hinton rắn) Muler Hinton Broth (Môi trường Muler Hinton lỏng) Mesenchymal Stem Cells (Tế bào gốc trung mô) Nuclear Factor-kappa B Nuclear Magnetic Resonance Spectroscopy (Phổ cộng hưởng từ hạt nhân) Nuclear Overhauser Effect Spectroscopy (Phổ hiệu ứng overhauser hạt nhân) Nuclear factor erythroid 2-related factor 2/glyoxalase 1 Oleanolic acid Oral Glucose Tolerance Test (Thử nghiệm chống chịu glucose đường uống) Phosphoinositide 3-kinases/ phosphatidylinositol 3-kinases Peroxisome proliferator-activated receptor Peroxisome proliferator-activated receptor gamma Peroxisome proliferator-activated receptor γ 2 gene Pancreatic polypeptide cells (Tế bào polypeptide tuyến tụy) Protein Tyrosine Phosphatase Non-Receptor Type 6 PTPN6

Quercetin Equivalents QE

xi

qRT-PCR

RMD

RNS

ROS

SCFAs

SGLT

SGLT1 SGLT2 Slc2a4 SOD SZL TGFβ2 TLC

TNF-α TZDs (Đương lượng quercetin) Real-Time Quantitative Reverse Transcription PCR (PCR phiên mã ngược định lượng theo thời gian thực) Digestion-Resistant maltodextrin (Matodextrin kháng tiêu hóa) Reactive Nitrogen Species (Gốc nitơ nguyên tử hoạt động) Reactive Oxygen Species (Gốc oxy nguyên tử hoạt động) Short-chain fatty acids (Acid béo chuỗi ngắn) Sodium-glucose cotransporter (Chất đồng chuyển Natri-glucose) Sodium-glucose co-transporter-1 Sodium-glucose co-transporter-2 Glucose transporter gene Superoxide dismutases Syzygium zeylanicum L. (DC) Transforming Growth Factor Beta 2 Thin Layer Chromatography (Sắc ký lớp mỏng) Tumor Necrosis Factor-α Thiazolidinediones

UPLC/UHPLC Ultra Performance Liquid Chromatography/Ultra High Performance Liquid Chromatography (Sắc ký lỏng siêu hiệu năng) Vasopressin receptor 2 V2R

WHO

WPRO

YY World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới) WHO Regional Office (Văn phòng đại diện tổ chức y tế thế giới) Peptide YY

xii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Khả năng kiểm soát đường huyết và phòng chống bệnh đái tháo đường của

một số loài cây thuốc thuộc Chi Trâm ...........................................................................23

Bảng 1.2. Các nghiên cứu về thành phần hoạt chất và hoạt tính sinh học của Trâm vỏ đỏ

.......................................................................................................................................27

Bảng 1.3. Các hợp chất polyphenol và dẫn xuất được vi bao gói bằng kỹ thuật sấy phun

.......................................................................................................................................32

Bảng 2.1. Trình tự mồi cho phản ứng chuỗi polymerase định lượng gene thời gian thực

(a real-time quantitative polymerase chain reaction, qRT-PCR) ...................................55

Bảng 2.2. Thiết kế thực nghiệm phân tích mức độ biểu hiện gene ...............................56

Bảng 2.3. Các công thức sấy phun ................................................................................60

Bảng 2.4. Thiết kế thực nghiệm đánh giá khả năng kháng viêm của sản phẩm vi bao cao

chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC) trên mô hình ấu trùng cá ngựa vằn67

Bảng 2.5. Điều kiện bảo quản sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ ......68

Bảng 3.1. Hàm lượng polyphenol, flavonoid tổng số của các loại cao chiết từ vỏ thân

cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) ......................................................................71

Bảng 3.2. Hoạt tính chống oxy hóa của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S.

zeylanicum (L.) DC.) .....................................................................................................72

Bảng 3.3. Khả năng ức chế biến tính protein của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) ......................................................................................74

Bảng 3.4. Khả năng ức chế enzyme thủy phân tinh bột của các loại cao chiết từ vỏ thân

cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum L. (DC.)) ......................................................................76

Bảng 3.5. Khả năng ức chế Echesteria coli ATCC25923 và Staphylococcus aureus

ATCC25923 của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) ....79

Bảng 3.6. Giá trị nồng độ tối thiểu ức chế sinh trưởng vi khuẩn (MIC) của các loại cao chiết

từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) .........................................................80

Bảng 3.7. Khả năng kích thích sinh trưởng lợi khuẩn Lactobacillus casei của các loại

cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) trong điều kiện tăng đường

huyết in vitro ..................................................................................................................82

Bảng 3.8. Thành phần và hàm lượng các hợp chất polyphenol trong cao chiết từ vỏ thân

cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum L. (DC.)) .................................................................... 110

Bảng 3.9. Ma trận tương quan Pearson giữa hàm lượng polyphenol và flavonoid tổng số

(TPC và TFC), các hoạt tính trung hòa DPPH• và ABTS•+ (DPPH &; ABTS), hoạt tính

xiii

ức chế α-glucosidase và α-amylase (aAI & aGI), các hợp chất polyphenol của các loại

cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum L. (DC.)) ................................... 111

Bảng 3.10. Các thuộc tính lý hóa của sản phẩm vi bao gói cao chiết vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ ............................................................................................................................ 118

Bảng 3.11. Hiệu suất sấy, hiệu quả vi bao gói và hàm lượng polyphenol được bao gói

.................................................................................................................................... 120

Bảng 3.12. Các thông số mô hình động học giải phóng hoạt chất từ sản phẩm vi bao gói

.................................................................................................................................... 122

Bảng 3.13. Khả năng chống oxy hóa của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ ........................................................................................................................... 123

Bảng 3.14. Khả năng ức chế enzyme của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ

đỏ ................................................................................................................................ 124

Bảng 3.15. Tổng hợp sự thay đổi hoạt tính sinh học và khả năng kiểm soát đường huyết

của sản phẩm vi bao (MEP) so với cao chiết thô (CE) và cao phân đoạn ethyl acetate

(EAF) từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) ...................................... 138

Bảng 3.16. Hằng số tốc độ (k), hệ số xác định (R2), chu kỳ bán rã (t1/2) và hệ số nhiệt độ

Van’t Hoff (Q10) liên quan đến sự suy giảm hàm lượng polyphenol của bột vi bao cao

chiết và cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) ..................... 147

xiv

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1. Các loại hormone tuyến tụy và mối liên hệ điều hòa các mô cơ quan trong quá

trình chuyển hóa glucose .................................................................................................6

Hình 1.2. Cơ chế điều hòa đường huyết của các hormone tuyến tụy ..............................7

Hình 1.3. Các mục tiêu tác động kiểm soát đường huyết của thuốc điều trị đái tháo đường

....................................................................................................................................... 11

Hình 1.4. Phân nhóm các hợp chất tự nhiên từ thực vật có khả năng kiểm soát đường

huyết và chống đái tháo đường ......................................................................................13

Hình 1.5. Các vị trí tác động kiểm soát đường huyết của polyphenol trong phòng trị đái

tháo đường .....................................................................................................................17

Hình 1.6. Tác dụng kiểm soát đường huyết và chống đái tháo đường của hợp chất tự

nhiên thông qua hệ vi sinh đường ruột (theo Xia et al. (2021) và các công bố khác) ...22

Hình 1.7. Trâm vỏ đỏ (Syzygium zeylanicum (L.) DC.) ................................................27

Hình 1.8. Nguyên lý cơ bản của kỹ thuật sấy phun ......................................................31

Hình 1.9. Các quá trình bao gói hợp chất tự nhiên sử dụng kỹ thuật sấy phun ............32

Hình 1.10. Mục tiêu bao gói các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học: bảo vệ cấu trúc

và tăng sinh khả dụng ....................................................................................................34

Hình 1.11. Các phương pháp gây tăng đường huyết, đái tháo đường và mô hình nghiên

cứu các biến chứng do đái tháo đường sử dụng cá ngựa vằn ........................................38

Hình 2.1. Mẫu vỏ thân và bột vỏ thân Trâm vỏ đỏ ........................................................42

Hình 2.2. Sơ đồ tổng quan tiến trình nghiên cứu ..........................................................44

Hình 2.3. Sơ đồ tiến trình thí nghiệm nội dung nghiên cứu số 1 ..................................46

Hình 2.4. Sơ đồ tiến trình tách phân đoạn cao chiết ......................................................47

Hình 2.5. Sơ đồ phân lập các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học từ vỏ thân Trâm

vỏ đỏ ..............................................................................................................................57

Hình 3.1. Tác dụng của các loại cao chiết từ vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.)

DC.) và acarbose đối với đường huyết sau ăn ở cá ngựa vằn khỏe mạnh .....................85

Hình 3.2. Tác dụng của các loại cao chiết từ vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.)

DC.) và metformin đối với đường huyết ở cá ngựa vằn đái tháo đường. .....................87

Hình 3.3. Ảnh hưởng của cao chiết phân đoạn ethyl acetate từ vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S.

zeylanicum (L.) DC.) đến biểu hiện một số gene liên quan chuyển hóa chất béo ........91

Hình 3.4. Ảnh hưởng của cao chiết phân đoạn ethyl acetate từ vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S.

zeylanicum (L.) DC.) đến biểu hiện gene insulin và thụ thể sau 20 ngày tác động. .....93

xv

Hình 3.5. Ảnh hưởng của cao chiết phân đoạn ethyl acetate từ vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S.

zeylanicum (L.) DC.) đến biểu hiện gene liên quan hấp thu và chuyển hóa glucose sau

20 ngày tác động. ...........................................................................................................95

Hình 3.6. Cấu trúc hợp chất SBE1 (Ellagic acid) ..........................................................97

Hình 3.7. Cấu trúc hợp chất SBE2 ((-)-epicatechin) .....................................................98

Hình 3.8. Cấu trúc hợp chất SBE3 (Ethyl gallate) ..................................................... 100

Hình 3.9. Cấu trúc hợp chất SBE4 (Quercetin) .......................................................... 100

Hình 3.10. Cấu trúc hợp chất SBE5 (Quercitrin) ....................................................... 101

Hình 3.11. Cấu trúc hợp chất SBE6 (Rutin) ............................................................... 103

Hình 3.12. Cấu trúc hợp chất SBE7 (Vitexin) ............................................................ 105

Hình 3.13. Cấu trúc hợp chất SBE8 (Gallic acid) ...................................................... 106

Hình 3.14. Cấu trúc hợp chất SBE9 (Chlorogenic acid) ............................................ 107

Hình 3.15. Cấu trúc hợp chất SBE10 (Catechin) ....................................................... 108

Hình 3.16. Phân tích thành phần chính (PCA) Biplot cho tổng hàm lượng polyphenol và

flavonoid, khả năng chống oxy hóa, hoạt tính ức chế enzyme, các hợp chất polyphenol

của cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum L. (DC.)) ............................. 114

Hình 3.17. Đặc điểm hình thái sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ ghi nhận

bằng kính hiển vi điện tử quét (Scanning Electron Microscopes - SEM) ................... 119

Hình 3.18. Ảnh hưởng của chất mang đến mức độ giải phóng polyphenol của sản phẩm

vi bao cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) sau 5 phút phân tán trong

nước cất ...................................................................................................................... 121

Hình 3.19. Khả năng làm chậm quá trình gia tăng đường huyết sau ăn của sản phẩm vi

bao cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC) trên mô hình cá ngựa vằn.

.................................................................................................................................... 126

Hình 3.20. Tác động của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum

(L.) DC) lên đường huyết lúc đói của cá ngựa vằn đái tháo đường sau 20 ngày điều trị.

.................................................................................................................................... 127

Hình 3.21. Ảnh hưởng bột vi bao cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum

(L.) DC.) đến biểu hiện một số gene liên quan chuyển hóa chất béo sau 20 ngày tác

động. ........................................................................................................................... 129

Hình 3.22. Ảnh hưởng bột vi bao cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum

(L.) DC.) đến biểu hiện gene insulin và thụ thể sau 20 ngày tác động. ..................... 130

xvi

Hình 3.23. Ảnh hưởng bột vi bao cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum

(L.) DC.) đến biểu hiện gene liên quan hấp thu và chuyển hóa glucose sau 20 ngày tác

động. ........................................................................................................................... 131

Hình 3.24. Khả năng chống biến tính protein của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây

Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC) so với cao chiết không được vi bao và thuốc kháng

viêm ibuprofen. ........................................................................................................... 133

Hình 3.25. Khả năng kháng viêm của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S.

zeylanicum (L.) DC) trên mô hình ấu trùng cá ngựa vằn. .......................................... 134

Hình 3.26. Cấu hình quang phổ FTIR của maltodextrin kháng tiêu hóa (RMD), cao

chiết thô Trâm vỏ đỏ (CE) và bột vi bao cao chiết (MEP). ........................................ 136

Hình 3.27. Sơ đồ mô tả con đường tác động kiểm soát đường huyết của sản phẩm vi bao

cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) trên mô hình cá ngựa vằn ... 140

Hình 3.28. Ảnh hưởng của nhiệt độ (40 và 60oC) và độ ẩm tương đối (75 và 90%) đến

hàm lượng polyphenol của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ ........ 142

Hình 3.29. Ảnh hưởng của nhiệt độ (40 và 60 oC) và độ ẩm tương đối (75 và 90%) đến khả

năng chống oxy hóa của sản phẩm cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ ................................. 144

Hình 3.30. Ảnh hưởng của nhiệt độ (40 và 60 oC) và độ ẩm tương đối (75 và 90%) đến khả

năng ức chế α-amylase và α-glucosidase của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ theo thời gian bảo quản .................................................................................... 145

xvii

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề/tính cấp thiết của đề tài

Tăng đường huyết mạn tính là đặc trưng cơ bản bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), là bệnh

rối loạn chuyển hóa phổ biến do thiếu hoặc suy giảm hoạt tính insulin. ĐTĐ có nhiều

biến chứng liên quan tới hầu hết các cơ quan trong cơ thể như suy thận, thoái hóa võng

mạc, thần kinh, tim mạch hay hoại tử chi [369]. ĐTĐ là gánh nặng kinh tế - xã hội toàn

cầu, nằm trong nhóm 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thế giới với chi phí điều trị

liên tục gia tăng [209, 332]. Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (International

Diabetes Federation, IDF, 2022), tỷ lệ người mắc ĐTĐ toàn cầu năm 2021 ước tính

10,5% dân số (tương đương 546,6 triệu người), dự đoán đến năm 2045 sẽ lên đến 12,2%

dân số (tương đương 783,2 triệu người) [366]. Theo báo cáo của Bộ Y tế, năm 1990 tỉ

lệ mắc bệnh ĐTĐ tại Việt Nam ở độ tuổi từ 20 - 79 là 1,2%, đến năm 2019, tỉ lệ này đã

tăng lên 5,7%. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 7 triệu người mắc đái tháo đường với tỷ

lệ biến chứng hơn 55%. Sự gia tăng nhanh chóng khiến Việt Nam trở thành một trong

những quốc gia có tỉ lệ người mắc bệnh ĐTĐ tăng nhanh nhất thế giới. Trong số bệnh

nhân ĐTĐ, có khoảng 90% là bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2. Tuy nhiên, chỉ có

khoảng 6% số bệnh nhân đạt được mục tiêu điều trị [366]. Theo các tài liệu y khoa, tăng

đường huyết kéo dài trong đái tháo đường là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các biến chứng

nguy hiểm của đái tháo đường [249]. Do đó, kiểm soát gia tăng đường huyết là mục tiêu

tiên quyết trong phòng trị đái tháo đường.

Hiện nay, nhiều loại thuốc giúp kiểm soát đường huyết được sử dụng rộng rãi trong

điều trị đái tháo đường và cho thấy những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, những loại

thuốc này lâu dài gây ra nhiều tác dụng phụ không mong muốn như nhiễm độc gan

(troglitazone), suy tim (rosiglitazone) [81] và chi phí điều trị cao [366]. Hợp chất tự

nhiên có hoạt tính sinh học đã khẳng định vai trò quan trọng trong nền y học cổ truyền

ở các nước phương Đông. Các loài cây thuốc được sử dụng để hạ đường huyết trong

nhiều bài thuốc cổ truyền ở nhiều nền văn hóa khác nhau. Nhiều dẫn liệu khoa học cho

thấy, hợp chất tự nhiên có nhiều lợi thế để phát triển các loại dược phẩm dựa trên nền

tảng cấu trúc của chúng như đa dạng sinh học các loài cây thuốc, sự đa dạng trong thành

phần hóa học và cấu trúc, tác dụng tương đương thuốc với độ an toàn tốt hơn, tính tương

hợp sinh học cao, tác động đa mục tiêu điều trị và đặc biệt là khả năng sản xuất với quy

mô lớn bằng cách tiếp cận công nghệ sinh học phù hợp [364]. Những hiểu biết về hợp

1

chất tự nhiên, cấu trúc, công dụng cung cấp các dẫn liệu khoa học quan trọng, làm cơ

sở cho việc phát triển các dược phẩm mới hoặc giải pháp mới cho điều trị/hỗ trợ điều trị

các bệnh lý rối loạn chuyển hóa, bao gồm kiểm soát đường huyết trong đái tháo đường

ngày càng được quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học [423]. Thực vật đóng góp

tới 25% vào nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh đái tháo đường với hơn 1.000 loài

thực vật, trong đó có đến 800 loài thực vật được ghi nhận từ tri thức bản địa của người

dân sinh sống tại vùng đệm [378]. Hiện nay, một số loại thuốc điều trị đái tháo đường

được tổng hợp dựa trên các khung cấu trúc các hoạt chất từ thực vật cho thấy hiệu lực

kiểm soát đường huyết cao như acarbose, androgrpholide, galegine, metformin [364].

Việt Nam đứng 16 trong nhóm 25 quốc gia có độ đa dạng sinh học lớn nhất thế giới

[144]. Trong đó, Tây Nguyên là khu vực có tài nguyên phong phú, quý hiếm với nhiều

vườn Quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên. Nguồn tài nguyên tri thức bản địa từ cộng đồng

dân tộc thiểu số sinh sống tại các vùng đệm, với nhiều bài thuốc chữa bệnh hay từ các

cây thuốc quý cần được bảo tồn và khai thác phù hợp. Theo cáo cáo của Mai et al. (2007),

Trâm vỏ đỏ (Syzygium zeylanicum (L.) DC.) là một trong những loài cây ăn được có

tiềm năng chống đái tháo đáo đường với khả năng ức chế α-glucosidase, chống oxy hóa

tốt và hàm lượng cao các hợp chất polyphenol [219]. Đáng chú ý, cao chiết vỏ thân cây

Trâm vỏ đỏ thu thập tại Tây Nguyên cho thấy tiềm năng ứng dụng hạ đường huyết thông

qua khả năng ức chế tốt các enzyme tiêu hóa tinh bột, làm chậm quá trình gia tăng đường

huyết sau ăn trên mô hình động vật thí nghiệm và an toàn ở nồng độ có hoạt tính [268].

Tuy nhiên, các thông tin về thành phần, cấu trúc các hợp chất hóa học, hoạt chất quyết

định đến khả năng hạ đường huyết của các loại cao chiết, và đặc biệt là khả năng bền

hóa hoạt tính của các hoạt chất bằng các vật liệu bao gói phù hợp nhằm nâng cao khả

năng ứng dụng thực tiễn còn chưa được công bố. Một nghiên cứu toàn diện về khả năng

vi bao cao chiết và đánh giá hiệu quả tác động trên cơ sở nghiên cứu thành phần hoạt

chất, cơ chế tác động phù hợp còn chưa được tiến hành. Trên cơ sở đó, tiến hành thực

hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng hạ đường huyết của sản phẩm vi bao cao chiết từ cây

Trâm vỏ đỏ (Syzygium zeylanicum (L.) DC.)”

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Xác định được thành phần các hợp chất chính trong cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ

đỏ và khả năng hạ đường huyết thông qua tác động đa mục tiêu của sản phẩm vi bao cao

2

chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ trên mô hình in vitro và in vivo, làm cơ sở nghiên cứu phát

triển các sản phẩm bảo vệ sức khoẻ trong kiểm soát đường huyết.

2.2. Mục tiêu cụ thể

− Xác định được ảnh hưởng của quá trình trích ly phân đoạn đến khả năng kiểm soát đường huyết đa mục tiêu của cao chiết phân đoạn vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ; từ đó xác định được cao chiết phân đoạn tiềm năng để phân lập và xác định cấu trúc của các hợp

chất chính có hoạt tính sinh học.

− Nâng cao tính sinh khả dụng và thời hạn bảo quản của cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ bằng kĩ thuật vi bao gói thông qua lựa chọn chất mang và điều kiện sấy phun phù hợp.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

− Đối tượng nghiên cứu: Vỏ thân Cây Trâm vỏ đỏ, thu thập tại Khu bảo tồn thiên

nhiên Easo, Ea Kar, Đắk Lắk.

− Phạm vi nghiên cứu:

+ Đề tài tiến hành nghiên cứu thành phần và hoạt tính sinh học trên cao chiết và sản phẩm vi bao cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (Syzygium zeylanicum (L.)

DC.) thu thập tại Khu bảo tồn thiên nhiên Easo, Eakar, Đắk Lắk.

+ Kết quả của nghiên cứu có thể sử dụng trong việc theo dõi kiểm soát chất lượng đầu vào nguyên liệu, phát triển các hướng ứng dụng của cao chiết trong hỗ trợ

phòng chống đái tháo đường.

4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

− Địa điểm nghiên cứu: Phòng công nghệ sinh học các hợp chất tự nhiên có hoạt tính

sinh học, Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường, Trường Đại học Tây Nguyên.

− Thời gian nghiên cứu: từ tháng 6/2021 đến tháng 12/2023.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

5.1. Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu cung cấp những dẫn liệu khoa học mới về khả năng hạ đường

huyết thông qua tác động đa mục tiêu của cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ; xác định

rõ các hoạt chất chính và tác động của cao chiết cũng như sản phẩm vi bao đến các gene

mục tiêu liên quan đến bệnh đái tháo đường, đồng thời bảo vệ hoạt tính của chúng bằng

phương pháp vi bao gói; góp phần quan trọng trong việc bảo tồn nguồn gene cây dược liệu

quý thông qua việc công bố các hoạt tính có giá trị.

3

5.2. Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu nhằm khai thác vỏ thân Trâm

vỏ đỏ làm nguyên liệu phát triển thực phẩm chức năng hoặc thực phẩm thuốc ứng dụng

trong phòng chống đái tháo đường, góp phần làm gia tăng chuỗi giá trị trong hoạt động

khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách an toàn và bền vững.

6. Những đóng góp mới của luận án

− Cung cấp những dữ liệu quan trọng về hiệu quả hạ đường huyết của cao chiết vỏ

thân cây Trâm vỏ đỏ và sản phẩm vi bao thông qua tác động đa mục tiêu gồm: Ổn định

đường huyết lúc đói, chống tăng đường huyết sau ăn, chống oxy hóa, kháng viêm, ổn

định hệ vi sinh vật đường ruột và điều hòa biểu hiện của các gene liên quan đến quá

trình tăng đường huyết ở mô hình cá ngựa vằn gây bệnh đái tháo đường. Cao chiết vỏ

thân cây Trâm vỏ đỏ và sản phẩm vi bao có khả năng điều hoà biểu hiện một số gene

liên quan đến kiểm soát quá trình sinh tổng hợp chất béo như SREBF1, ACC1, và FASN;

cải thiện kháng insulin thông qua gene insulin (INS), và thụ thể insulin (INSRA1 và

INSRB1); ức chế hấp thu glucose qua thành ruột thông qua gene SGLT1 và cải thiện

chuyển hóa glucose thông qua gene GLP1.

− Phân lập và xác định được cấu trúc của các hợp chất chính trong vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ thể hiện hoạt tính tiềm năng trong kiểm soát đường huyết. Trong đó, gallic acid,

catechin, epicatechin, ellagic acid, quercetin, caffeine và apigenin là các thành phần

chống oxy hóa quan trọng. Ethyl gallate và rutin là thành phần chính ức chế α-

glucosidase.

− Sử dụng maltodextrin kháng tiêu hóa làm chất mang vi bao gói cao chiết vỏ thân

cây Trâm vỏ đỏ bằng phương pháp sấy phun đã nâng cao được tính sinh khả dụng của

sản phẩm, nhờ vào sự tương tác phân tử giữa vật liệu bao gói và các hợp chất trong cao

chiết.

− Xây dựng được mô hình dự đoán thời hạn bảo quản của sản phẩm vi bao cao chiết

vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (Mô hình tuân theo quy luật hàm bậc nhất: Ct = C0. e−kt). Sản phẩm vi bao gói ổn định ở điều kiện nhiệt độ (40 °C) và độ ẩm môi trường bảo quản

(75%), với thời gian bán rã và suy thoái 90% hoạt tính lần lượt là 346,57 ngày và

1.151,29 ngày, so với cao chiết không vi bao lần lượt là 231,05 ngày và 767,53 ngày.

4

Chương 1. TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về bệnh đái tháo đường

1.1.1. Sự gia tăng đường huyết và bệnh đái tháo đường

Sự gia tăng đường huyết (hyperglycemia), dấu hiệu rối loạn chuyển hóa [351], là

yếu tố dự báo tử vong độc lập trong nhiều trường hợp cấp tính, bao gồm nhồi máu cơ

tim, chấn thương, chấn thương sọ não và đột quỵ, và là dấu hiệu đặc trưng của bệnh đái

tháo đường [52]. Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh lý rối loạn chuyển hóa rất phổ

biến ở loài người. Theo Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (International Diabetes

Federation, IDF, 2022), tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ toàn cầu năm 2021 ước tính 10,5%

dân số (tương đương 546,6 triệu người), dự đoán đến năm 2045 sẽ lên đến 12,2% dân

số (tương đương 783,2 triệu người) [366]. Theo các tài liệu y khoa, tăng đường huyết

kéo dài trong bệnh đái tháo đường là nguyên nhân cơ bản gây tổn thương mạch máu,

tim, thận, mắt và thần kinh, dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, còn được gọi là

các biến chứng do mắc bệnh đái tháo đường [249]. Do đó, kiểm soát gia tăng đường

huyết là mục tiêu tiên quyết trong phòng trị đái tháo đường.

ĐTĐ bao gồm rất nhiều loại (tuýp), tuy nhiên hai loại phổ biến nhất là ĐTĐ tuýp 1

và ĐTĐ tuýp 2. ĐTĐ tuýp 1, một bệnh lý tự miễn hiếm gặp, có nguyên nhân từ việc mất

khả năng sản sinh insulin do tế bào β bị tấn công bởi tế bào lympho T. Trong khi đó,

ĐTĐ tuýp 2 có đặc điểm là kháng hoặc suy giảm khả năng sản xuất insulin của tuyến

tụy. Người mắc ĐTĐ tuýp 1 thường có tuổi thọ rất thấp do có nguy cơ gặp phải các bệnh

lý tim mạch và rối loạn chuyển hóa nghiêm trọng, trong khi ĐTĐ tuýp 2 đe dọa sức

khỏe của hơn 95% số người mắc ĐTĐ toàn cầu [190]. Dù ở dạng nào thì điều đặc biệt

lưu ý là người mắc ĐTĐ cần được chẩn đoán và điều trị ở giai đoạn sớm nhằm hạn chế

và làm chậm lại các biến chứng nặng nề ở các mô và cơ quan [369].

1.1.2. Cơ chế tăng đường huyết trong bệnh đái tháo đường

1.1.2.1. Rối loạn chuyển hóa và chức năng hormone tuyến tụy

Tuyến tụy giữ vai trò quan trọng trong điều hòa quá trình tiêu hóa, giúp duy trì cân

bằng chuyển hóa và năng lượng thông qua xuất tiết các enzyme tiêu hóa và hormone

tuyến tụy [323]. Trong đó, các hormone được sản xuất bởi các tế bào nội tiết hợp thành

khối mô được gọi là đảo tụy Langerhans. Tế bào α và tế bào β là hai nhóm tế bào chính

của đảo tụy phụ trách sản xuất các hormone quan trọng tham gia vào quá trình ổn định

5

đường huyết, lần lượt là glucagon và insulin. Đặc điểm cấu trúc đảo tụy và thành phần

các hormone cũng như mối liên hệ tác động đến một số mô cơ quan quan trọng trong

chuyển hóa glucose được mô tả ở Hình 1.1 (theo Ruud et al., 2017) [331].

Hình 1.1. Các loại hormone tuyến tụy và mối liên hệ điều hòa các mô cơ quan trong quá trình chuyển hóa glucose (theo Ruud et al., 2017)

Ghi chú: : kích thích; ⊥: ức chế

Cơ chế điều hòa đường huyết của hormone tuyến tụy mô tả trong Hình 1.2 (theo

Singh et al., 2022) [353]. Một cách tổng quát, insulin giúp tăng cường hấp thu glucose

ở các tế bào/mô ngoại vi (tế bào cơ, tế bào mỡ, …), ức chế quá trình tân tạo đường

(gluconeogenesis) ở gan, quá trình chuyển các cơ chất như amino acid, glycerol, lactate,

pyruvate thành glucose [229], và phân giải mỡ ở mô mỡ, giúp ổn định đường huyết sau

ăn. Ở chiều ngược lại, glucagon kích thích quá trình phân giải mỡ và tân tạo đường cũng

như quá trình giải phóng glucose từ glycogen ở gan, làm tăng đường huyết, cung cấp

năng lượng cho cơ thể [90]. Sự cân bằng trong hoạt động giữa insulin và glucagon giúp

ổn định đường huyết ở người bình thường và sự rối loạn xuất tiết các hormone này, như

gia tăng glucagon và suy giảm insulin, có thể dẫn đến gia tăng đường huyết [176, 331].

6

Các bằng chứng khoa học cho thấy, sự tổn thương tế bào β dẫn đến mất khả năng sản

xuất insulin là cơ chế bệnh sinh cơ bản của đái tháo đường tuýp 1 [325]. Trong khi đó,

sự rối loạn trong xuất tiết insulin và glucagon dẫn đến mất khả năng kiểm soát đường

huyết là cơ chế bệnh sinh cơ bản của đái tháo đường tuýp 2 [176, 193].

Hình 1.2. Cơ chế điều hòa đường huyết của các hormone tuyến tụy (theo Singh et al., 2022) Ghi chú: : tăng cường/kích thích; : giảm/ức chế

1.1.2.2. Kháng insulin và các yếu tố liên quan trong kiểm soát đường huyết

Kháng insulin là đặc trưng cơ bản của đái tháo đường tuýp 2. Trạng thái này được

mô tả khi các tế bào trong cơ thể suy giảm hoặc mất khả năng nhận diện/đáp ứng với

insulin trong khi hàm lượng insulin lưu hành trong máu vẫn ở mức cao. Tế bào β liên

tục sản sinh insulin trong thời gian dài dẫn đến suy kiệt và mất khả năng kiểm soát hàm

lượng hormone này dẫn đến các rối loạn chuyển hóa nghiêm trọng trong kiểm soát

đường huyết, gây bệnh đái tháo đường tuýp 2 [193]. Các bằng chứng khoa học cho thấy,

tình trạng kháng insulin gây ảnh hưởng và tác động đến hầu hết các mô cơ quan trong

cơ thể, gây nên các rối loạn như suy giảm hiệu suất hấp thu glucose ở mô cơ, tăng sản

sinh glucose và triglyceride ở gan, tăng quá trình phân giải mỡ và tích lũy đại thực bào

ở mô mỡ. Các rối loạn chuyển hóa này càng làm nghiêm trọng thêm sự kháng insulin, gây

tăng đường huyết và bệnh đái tháo đường tuýp 2 [274].

7

Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng kháng insulin, trong đó các gốc tự do bao

gồm gốc oxy nguyên tử hoạt động (Reactive Oxygen Species - ROS) và gốc nitơ nguyên

tử hoạt động (Reactive Nitrogen Species - RNS) đóng vai trò quan trọng. Các gốc tự do

hình thành ở mức cao khi cơ thể sống ở trạng thái căng thẳng do các tác nhân môi trường

hoặc nội sinh, trong khi hệ thống chống oxy hóa tự nhiên của cơ thể suy giảm là nguyên

nhân cơ bản dẫn tới kháng insulin, mất chức năng tế bào β, giảm khả năng chuyển hóa

glucose và gây bệnh đái tháo đường tuýp 2. Bên cạnh đó, các gốc tự do thúc đẩy quá

trình glycosyl hóa các protein hoặc lipid trong điều kiện tăng đường huyết, hình thành

nên các sản phẩm glycate hoá bền vững (advanced glycated end-products, AGES) làm

nghiêm trọng thêm tình trạng bệnh [122].

Ngoài ra, tình trạng viêm mạn tính cấp độ thấp ở những người béo phì được xem là

yếu tố nguy cơ gây kháng insulin, thúc đẩy tình trạng tăng đường huyết trong đái tháo

đường [121]. Sự tích tụ mỡ thừa trong các mô mỡ ở người bệnh béo phì dẫn đến giải

phóng các phân tử gây viêm (cytokine) như các yếu tố hoại tử khối u alpha (TNF-α) và

interleukin-6 (IL-6), thúc đẩy quá trình viêm, cản trở quá trình truyền tín hiệu insulin,

cuối cùng dẫn đến kháng insulin [54]. Bên cạnh đó, tình trạng viêm toàn thân đặc trưng

bởi sự gia tăng hàm lượng các protein C phản ứng (C-reactive protein, CRP) và các

cytokine tiền viêm làm suy yếu chức năng sản xuất insulin của tuyến tụy, gây rối loạn

chức năng tế bào β, gây tăng đường huyết [101]. Các con đường truyền tín hiệu để đáp

ứng các yếu tố gây viêm như dư thừa dưỡng chất, acid béo tự do, các cytokine gây viêm

như yếu tố nhân-kappa B (Nuclear Factor-kappa B, NF- B) và c-Jun N-terminal kinase

(JNK), có thể cản trở quá trình truyền tín hiệu insulin và thúc đẩy tình trạng kháng insulin

[24, 426].

1.1.3. Hệ vi sinh đường ruột và nguy cơ tăng đường huyết

Nhiều bằng chứng khoa học cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa hệ vi sinh đường

ruột và đái tháo đường [204]. Hệ vi sinh đường ruột tác động đến sự cân bằng glucose

nội môi qua nhiều cơ chế khác nhau. Cụ thể, trong quá trình chuyển hóa thức ăn, các vi

sinh vật đường ruột tạo ra các tín hiệu trao đổi chất (metabolites) như các acid béo chuỗi

ngắn (short-chain fatty acids, SCFAs), amino acid chuỗi nhánh (branched-chain amino

acids, BCAAs) và các chất khác. Các tín hiệu này tác động đến quá trình chuyển hóa

glucose và lipid, quá trình tân tạo đường ở gan hay điều hòa các hormone incretin, gây

ảnh hưởng đến quá trình xuất tiết insulin ở tụy [75]. Bên cạnh đó, sự mất cân bằng hệ vi

8

sinh đường ruột liên hệ mật thiết đến tình trạng viêm mạn tính cấp độ thấp và kháng

insulin. Tình trạng này gây gián đoạn chức năng hàng rào ruột, chuyển vị các sản phẩm

bất lợi vào máu, thay đổi tính thấm thành ruột và gây viêm, làm giảm tín hiệu insulin

[336]. Khả năng điều hòa phản ứng viêm của một hệ vi sinh đường ruột cân bằng tác

động đến khả năng dung nạp glucose của tế bào [75]. Ngoài ra, hệ vi sinh đường ruột

giúp điều hòa nội tiết tố như glucagon-like peptide-1 (GLP-1) và peptide YY (YY) ở

ruột. Các nội tiết tố này có thể tác động lên não bộ giúp kiểm soát cảm giác no/đói, điều

chỉnh mức giải phóng insulin ở tụy và quá trình chuyển hóa glucose tổng thể [387]

Có thể thấy rằng, tăng đường huyết trong bệnh đái tháo đường là các rối loạn chuyển

hóa phức tạp liên quan đến nhiều cơ quan và chức phận trong cơ thể sống, gây ra nhiều

biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người bệnh. Do đó,

cần một phương thức tiếp cận toàn diện và có hệ thống nhằm tìm hiểu thấu đáo về cơ

chế kiểm soát đường huyết, từ đó đưa ra các phương thức tiếp cận phù hợp trong phòng

trị bệnh đái tháo đường.

1.2. Các phương pháp tiếp cận hiện đại nhằm kiểm soát đường huyết trong điều

trị bệnh đái tháo đường

1.2.1. Liệu pháp gene

Liệu pháp gene điều trị đái tháo đường dựa trên nguyên tắc tăng cường biểu hiện

gene insulin và glucokinase. Các kỹ thuật dùng vector chuyển gene sống như lentivirus,

adenovirus và vector tương đồng (adeno-asociated virus vector, AVV) [123] cũng như

các vector chuyển gene không sống khác như liposome và DNA trần, nhằm đưa gene

insulin đến các tế bào như tụy, gan, mỡ và cơ đã được nghiên cứu cho thấy những hiệu

quả nhất định trong việc kiểm soát đường huyết [369].

1.2.2. Tái tạo tế bào β tuyến tụy

Sự suy giảm số lượng và/hoặc chức năng của các tế bào β sản xuất insulin là một

trong những nguyên nhân gây tăng đường huyết. Do đó, bổ sung tế bào β chức năng

được xem là một chiến lược hiệu quả để chữa bệnh [419]. Phương pháp chuyển đổi tế

bào là liệu pháp tái tạo tế bào β thông qua việc kích thích biệt hóa từ các dòng tế bào

khác. Kỹ thuật này được mô tả là quá trình chuyển đổi từ tế bào này thành tế bào khác

thông qua việc lập trình lại quá trình biệt hóa tế bào [369]. Tuy nhiên, phương pháp này

có nhiều hạn chế liên quan đến tìm nguồn tế bào thay thế hoặc can thiệp vào giai đoạn

sớm của phôi, bị giới hạn bởi quy định đạo đức y sinh.

9

Phương pháp tế bào gốc được xem là cách tiếp cận thay thế hiệu quả cho phương

pháp lập trình biệt hóa tế bào. Nghiên cứu cho thấy tế bào gốc cảm ứng đa năng (induced

pluripotent stem cells, iPSCs), có khả năng tái lập trình nhân, tạo ra các phân tử nhỏ và

ribonucleic acid, vượt qua các phản ứng của hệ miễn dịch nhờ tính tương đồng di truyền,

có thể được sử dụng trong điều trị đái tháo đường [89]. Tế bào gốc trung mô

(Mesenchymal stem cells, MSCs), với khả năng điều hòa miễn dịch, sửa chữa và tái tạo

các mô bị hư hỏng, cũng cho thấy những hiệu quả nhất định trong điều trị [238].

Ngoài ra, phương pháp tác động vào quá trình tự tái tạo tế bào β nội sinh bằng cách

can thiệp vào các tín hiệu phân tử nhất định cũng được nghiên cứu như một chiến lược

bổ sung tế bào β. Tuy nhiên, liệu pháp này có những hạn chế nhất định về khả năng

kiểm soát chặt chẽ các quá trình phức tạp trong cơ thể và cần nghiên cứu sâu hơn để áp

dụng trên lâm sàng [438].

1.2.3. Liệu pháp insulin ngoại sinh

Thiếu hụt insulin được xem là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự gia tăng đường huyết

trong đái tháo đường. Do đó, bổ sung insulin ngoại sinh là giải pháp điều trị chính cho

bệnh nhân ĐTĐ tuýp 1 và là giải pháp ưu tiên sử dụng hoặc kết hợp với thuốc điều trị

khác đối với bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2, khi loại thuốc khác không còn phát huy tác dụng

kiểm soát đường huyết và HbA1c. Các minh chứng trên lâm sàng cho thấy, liệu pháp

insulin cho hiệu quả kiểm soát tốt đường huyết và làm giảm đáng kể các biến chứng liên

quan tới mạch máu. Tuy nhiên, liệu pháp này cần được hướng dẫn chi tiết và kiểm soát

chặt chẽ việc sử dụng vì các nguy cơ liên quan đến việc tiêm truyền hoặc khả năng gây

hạ đường huyết do quá liều [350, 377]

1.2.4. Thuốc điều trị bệnh đái tháo đường

Các bằng chứng khoa học cho thấy, đái tháo đường là bệnh lý có nguyên nhân đa

yếu tố, do đó các loại thuốc điều trị cũng có nhiều cơ chế và mục tiêu tác động nhằm

đạt được hiệu quả điều trị [117]. Hình 1.3 mô tả tổng quan các vị trí tác động và cơ chế

kiểm soát đường huyết trong điều trị đái tháo đường của các thuốc hiện đại.

Tuyến tụy là cơ quan phụ trách sản sinh các hormone nội sinh đảm bảo cân bằng

glucose nội môi. Cơ quan này có hai loại tế bào sản xuất hai loại hormon có chức năng

ngược nhau. Tế bào α sản sinh glucagon với chức năng kích thích giải phóng đường vào

máu, trong khi tế bào β sản sinh insulin làm tăng khả năng dung nạp đường của tế bào

10

và giảm lượng đường trong máu. Hoạt động phối hợp của hai hormon này giúp ổn định

đường huyết. Do đó, tuyến tụy là cơ quan mục tiêu hàng đầu trong tác động điều trị đái

tháo đường . Các thuốc tác động lên tuyến tụy theo hai cơ chế khác nhau. Các loại thuốc

như sulfonylureas, meglitinide có tác dụng tăng khả năng sản sinh insulin của tuyến tụy

[389]. Trong khi đó, incretin và amylin làm giảm khả năng xuất tiết glucagon [12, 59].

Hình 1.3. Các mục tiêu tác động kiểm soát đường huyết của thuốc điều trị đái tháo đường Ghi chú: : tăng cường/kích thích; : giảm/ức chế (theo Feingold, 2000)

Đường ruột giữ vai trò quan trọng trong kiểm soát lượng đường đi vào máu, từ đó

tác động lớn đến diễn tiến của đái tháo đường [142]. Các nhóm thuốc tác động lên quá

trình hấp thu đường ở ruột giúp ổn định đường huyết có hiệu quả. Incretin có tác dụng

làm giảm nhu động ruột và làm chậm quá trình tiêu hóa ở dạ dày [59] và amylin tác

động làm giảm giải phóng enzyme tiêu hóa và acid mật vào dạ dày [12]. Các thuốc ức

chế trực tiếp hoạt động của α-glucosidase như acarbose, viglibose, và miglitol có hiệu

quả đáng kể trong kiểm soát lượng đường vào trong máu từ ruột [389].

Gan giữ vai trò quan trọng để đảm bảo cân bằng glucose nội môi. Quá trình chuyển

hóa đường ở gan trong một số trường hợp có thể làm gia tăng đường huyết [143].

Metformin có thể ức chế quá trình tân tạo đường ở gan từ đó làm giảm lượng đường đi

vào máu. Trong khi đó, Thiazolidinediones (TZDs) hoạt hoá thụ thể γ kích hoạt

peroxisome (Peroxisome proliferators–activated receptor γ, PPARγ), giúp tăng độ nhạy

của insulin trong tế bào mỡ, cơ tim và gan [389].

Quá trình kháng insulin có thể làm ngăn chặn sự hấp thu và chuyển hóa glucose ở

cơ bắp, mô mỡ. Tác dụng cải thiện độ nhạy của tế bào với insulin của metformin và 11

TZDs có hiệu quả chống đái tháo đường thông qua tăng cường chuyển hóa glucose ở tế

bào. Ngoài ra, hai loại thuốc này có tác dụng lên quá trình chuyển hóa lipid, làm giảm

đáng kể tác dụng gây độc của các chất béo dư thừa, từ đó cải thiện hiệu quả điều trị tổng

thể [389].

Thận giữ vai trò ổn định đường huyết thông qua hoạt động tái hấp thu đường nhờ

hoạt động kênh đồng vận chuyển natri-glucose 2 (Sodium-glucose co-transporter-2,

SGLT2). Gliflozins ức chế SGLT2 giúp tăng cường loại thải glucose qua thận và giảm

nồng độ glucose trong máu. Ngoài ra, nhóm thuốc này có thể tăng cường chức năng của

tế bào β, tăng độ nhạy insulin và giảm độc tính glucose nhờ kiểm soát được glucose niệu

[120, 389].

Não bộ có vai trò cơ bản trong kiểm soát đường huyết, hiểu biết về mối liên hệ này

cung cấp góc nhìn toàn diện hơn về các cơ chế gây tăng đường huyết ở đái tháo đường

tuýp 2 [21]. Incretin có thể tác động đến não bộ làm giảm cảm giác thèm ăn [59], hoạt

tính tương tự được báo cáo với amylin [12]. Thuốc chủ vận thụ thể dopamine,

bromocriptine, hiện được dùng trong kiểm soát và điều trị đái tháo đường tuýp 2 liên

quan đến việc tăng hàm lượng dopamine trong não bộ vào buổi sáng, giúp cải thiện độ

nhạy insulin, giảm sản xuất glucose ở gan, tăng khả năng chuyển hóa glucose [282].

Quá trình này chứng minh khả năng kiểm soát đường huyết thông qua phương pháp tiếp

cận đa mục tiêu của các thuốc điều trị đái tháo đường hiện nay.

Phương pháp tiếp cận đa mục tiêu có thể thực hiện qua phương thức kết hợp phù

hợp các loại thuốc khác nhau trong kiểm soát đường huyết và điều trị đái tháo đường.

Liệu pháp này được chứng minh có hiệu quả nhanh và giảm liều cho bệnh nhân [164].

Insulin kết hợp với metformin hoặc TZDs làm tăng hiệu quả kiểm soát đường huyết

[405, 417]. Insulin kết hợp với chất chủ vận thụ thể của peptide giống glucagon

(Glucagon-like peptide 1 receptor agonists, GLP-1Ras) có hiệu quả cao và an toàn với

bệnh nhân đái tháo đường thừa cân [239]. Chất ức chế SGLT2 có thể kết hợp với

metformin hoặc chất ức chế DPP4 để tăng cường hiệu quả kiểm soát đường huyết và

giảm cân, không gây tụt đường huyết [105, 232]. Sự phối hợp metformin liều thấp và

các loại thuốc thuộc nhóm TZDs có tác dụng ngăn chặn sự diễn tiến từ tiền đái tháo

đường thành đái tháo đường [369]

Các phương pháp điều trị dùng thuốc cho thấy hiệu quả ổn định nhanh chỉ số đường

huyết. Tuy vậy, hầu hết bệnh nhân cần một liệu pháp kết hợp để mang lại hiệu quả điều

12

trị lâu dài. Mặt khác, việc sử dụng các tác nhân hóa dược cần được xem xét nhiều khía

cạnh bao gồm giá, tác dụng phụ tiềm ẩn, các tác dụng tiềm năng, hiệu quả giảm đường

huyết và liều sử dụng, đặc biệt với người có nhiều bệnh lý nền phức tạp hoặc gặp các

biến chứng do đái tháo đường [369, 389].

1.3. Tiềm năng phòng chống bệnh đái tháo đường thông qua khả năng kiểm soát

đường huyết của các polyphenol từ thực vật

1.3.1. Hợp chất tự nhiên từ thực vật trong hỗ trợ phòng chống bệnh đái tháo đường

Theo Colegate et al. (2007), hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học là các hợp chất

hóa học được sản sinh bởi các sinh vật có tác dụng sinh học đến các sinh vật khác. Các

tác động bao gồm khả năng gây độc đối với người và động vật, khả năng gây độc chọn

lọc để chống lại các tác nhân gây hại lên sinh vật. Trong một số trường hợp, các tác động

này bao gồm khả năng điều trị một số bệnh lý ở người và động vật. Ngoài ra, các hợp

chất có hoạt tính sinh học là các sản phẩm trao đổi chất thứ cấp, giúp sinh vật chống lại

các tác động bất lợi từ môi trường, hoặc là các chất thiết yếu cho hoạt động sống của

sinh vật và ngẫu nhiên thể hiện hoạt tính ở các hệ thống sinh học khác [69]. Các hợp

chất tự nhiên từ lâu đã đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc khám phá các loại

thuốc ứng dụng trong điều trị nhiều bệnh lý khác nhau ở con người [390]. Trên thực tế,

rất nhiều loại thuốc đã được phát triển dựa trên nền tảng cấu trúc hóa học và hoạt tính

sinh học của các hợp chất tự nhiên, điển hình như morphine, cocaine, quinine, penicillin,

artemisinin [202].

Hình 1.4. Phân nhóm các hợp chất tự nhiên từ thực vật có khả năng kiểm soát đường huyết và chống đái tháo đường

13

Các hợp chất tự nhiên có thể được tạo ra bởi thực vật, vi khuẩn, nấm và vi nấm,

động vật và các hệ thống sinh học khác. Trong đó, các hợp chất tự nhiên có nguồn gốc

từ thực vật, chủ yếu là cây thuốc, được quan tâm nhờ khả năng cung cấp đa dạng và

phong phú các hợp chất với nhiều giá trị dược học, hoạt tính sinh học chống lại nhiều

bệnh lý khác nhau, bao gồm bệnh đái tháo đường [14]. Nguồn tài nguyên thiên nhiên

này ngày càng được quan tâm nghiên cứu nhằm tìm ra các loại thuốc giúp kiểm soát

đường huyết hiệu quả hơn nhờ tính đa dạng trong thành phần hóa học và thuộc tính cấu

trúc [18]. Các nghiên cứu cho thấy, nhiều hợp chất tự nhiên từ thực vật có khả năng

kiểm soát đường huyết theo nhiều cơ chế đã được nghiên cứu và đánh giá ở các mô hình

nghiên cứu khác nhau. Hình 1.4 mô tả tổng hợp các nhóm hợp chất từ thực vật có khả

năng kiểm soát đường huyết và tiềm năng ứng dụng chống bệnh đái tháo đường

1.3.2. Khả năng kiểm soát đường huyết của các hợp chất polyphenol

Polyphenol là nhóm hợp chất chuyển hóa thứ cấp có nguồn gốc thực vật được tổng

hợp từ l-phenylalanine hoặc l-tyrosine thông qua con đường phenylpropanoid. Cấu trúc

phân tử polyphenol gồm ít nhất một gốc phenolic là khung phân tử chính và tạo nên sự

đa dạng bậc nhất trong cấu trúc của các hợp chất tự nhiên, từ các phenolic acid đơn giản

đến các tannin polymer hóa rất phức tạp. Ngoài ra, sự có mặt của các gốc đường đơn

phân hoặc oligomer giúp mở rộng thêm sự đa dạng về cấu trúc và hoạt tính sinh học của

nhóm hợp chất này [385].

Polyphenol có thể được phân loại thành hai nhóm cơ bản: (1) các flavonoid bao gồm

anthocyanin, flavanol, flavanone, flavonol, flavonone, và isoflavone và (2) nhóm non‐

flavonoid gồm các phenolic acid, xanthone, stilbene, lignan và tannin, đều được gọi

chung là các polyphenol. Polyphenol phổ biến trong các loại thực vật ăn được và có tác

dụng hữu ích đối với sức khỏe con người ở các khía cạnh khác nhau như cải thiện bệnh

lý tim mạch, cao huyết áp, rối loạn chuyển hóa, béo phì, ung thư và đặc biệt là bệnh đái

tháo đường [107].

Các hợp chất polyphenol trong chế độ ăn có khả năng kiểm soát đường huyết thông

qua nhiều phương thức khác nhau như bảo vệ tế bào β, giảm stress oxy hóa, kích hoạt

tín hiệu insulin, kích thích tuyến tụy tiết insulin, ức chế hấp thu glucose, ức chế enzyme

tiêu hóa tinh bột, điều hòa hệ vi sinh vật đường ruột, điều chỉnh phản ứng viêm và ức

chế hình thành các sản phẩm glycat hóa bền vững (Advanced glycation end products,

AGEs). Hơn nữa, các polyphenol giúp cải thiện các biến chứng do sự gia tăng đường

14

huyết kéo dài như rối loạn chức năng mạch máu, các bệnh thoái hóa võng mạc, thần

kinh, cơ tim, bệnh mạch vành, suy thận [364].

Phenolic acid: Phenolic acid là nhóm có cấu trúc đơn giản nhất trong các hợp chất

polyphenol, được tìm thấy tương đối phổ biến trong rau củ quả, ngũ cốc, các loại đậu

và rượu không chưng cất. Các hợp chất như salicylic acid, protocatechuic acid, gallic

acid, syringic acid, ellagic acid, cinamic acid, p-coumaric acid, caffeic acid, ferulic acid,

synapinic aid, eugenol, chlorogenic acid, và rosmarinic acid có hiệu quả kiểm soát

đường huyết thông qua các cơ chế tác động khác nhau như tăng hấp thu glucose của các

mô ngoại vi, tăng cường sinh tổng hợp glycogen, cải thiện thành phần mỡ máu [383]

Coumarin và các dẫn xuất: Courmarin là các sản phẩm trao đổi chất bậc hai được

tìm thấy phổ biến trong thực vật, thường được dùng trong chống đông máu và chống

huyết khối. Coumarin và các dẫn xuất có hiệu quả kiểm soát đường huyết nhờ khả năng

bảo vệ tế bào β, cải thiện tín hiệu insulin, chống oxy hóa, kháng viêm, ức chế α-

glucosidase, và khả năng cải thiện các biến chứng của đái tháo đường [315]

Stilbene: Các nghiên cứu cho thấy, stilbene có khả năng hạ đường huyết và chống

đái tháo đường nhờ khả năng kiểm soát lượng thức ăn tiêu thụ và hấp thụ dưỡng chất,

ức chế α-glucosidase, kháng viêm, duy trì cân bằng glucose nội môi, bảo vệ tế bào β

đảo tụy [292]. Trong đó, resveratrol là một stilbene được quan tâm nghiên cứu với khả

năng làm giảm các rối loạn chuyển hóa, giảm triệu chứng và các biến chứng liên quan

đái tháo đường tuýp 2 [245, 292].

Lignan: Lignan là nhóm hợp chất polyphenol liên kết chất xơ phổ biến trong nhiều

loài cây và thực phẩm phổ biến như ngũ cốc, quả hạch, rau, hạt và các thức uống như

trà, coffee, và rượu không chưng cất. Quá trình chuyển hóa lignan chịu tác động lớn của

hệ vi sinh đường ruột [425]. Lignan tự nhiên được tìm thấy nhiều nhất là

secoisolariciresinol diglucoside có trong hạt lanh, có khả năng cải thiện độ nhạy insulin

thông qua tăng biểu hiện gene mã hoá chất vận chuyển glucose 4 (Glucose transporter

type 4, GLUT4) [396]. Furofuran lignans có hiệu quả kiểm soát đường huyết thông qua

khả năng ức chế α-glucosidase, và chống stress oxy hóa [404]

Flavonoid: Flavonoid là nhóm các polyphenol hòa tan có cấu trúc đặc trưng với hai

vòng benzene được gắn bởi một chuỗi ba carbon ngắn (C6-C3-C6). Flavonoid trong tự

nhiên được phân loại thành bảy nhóm: (1) anthocyanidin (cyanidin, delphinidin,

malvidin, peonidin, petunidin); (2) flavan-3-ol (catechin, epicatechin, gallocatechin); 15

(3) flavonol (isorhamnetin, kaempferol, myricetin, quercetin); (4) flavone (apigenin,

luteolin, baicalein, chrysin); (5) flavanone (eriodictyol, hesperetin, naringenin), (6)

isoflavone (daidzein, genistein, glycitein, biochanin A); và (7) chalcone (flavokawin,

butein, xanthoangelol, 4-hydroxyderricin, cardamonin, 2′,4′-dihydroxychalcone,

isoliquiritigenin, isosalipurposide, và naringenin chalcone) [343]. Flavonoid có nhiều

hoạt tính sinh học quan trọng như kháng virus, kháng viêm, chống oxy hóa, chống ung

thư, bảo vệ hệ tim mạch, và chống đái tháo đường [394]. Các đặc tính chống đái tháo

đường của flavonoid một phần do khả năng chống oxy hóa và khả năng điều chỉnh một

số tín hiệu tế bào [1]. Các flavonoid có tác dụng kiểm soát đường huyết đa mục tiêu

thông qua khả năng chống oxy hóa, kháng viêm, ức chế enzyme tiêu hóa, kích thích quá

trình dự trữ glycogen, hoạt hóa tín hiệu insulin, ức chế hình thành các AGEs [409]. Tác

dụng đa mục tiêu trong kiểm soát đường huyết của quercetin, một flavonol, được báo

cáo gần đây với khả năng kích thích tế bào dung nạp glucose, ổn định đường huyết,

giảm stress oxy hóa, cải thiện tình trạng kháng insulin, điều hòa các tín hiệu trao đổi

chất cơ bản của quá trình chuyển hóa glucose [97].

Tannin: Tannin là nhóm hợp chất polyphenol phân tử lượng lớn có trong các sản

phẩm tự nhiên như quả mọng, quả hạch, các loại đậu, sô-cô-la, gia vị và thảo mộc.

Tannin có khả năng tạo phức với protein và các hợp chất khác gây nên hiện tượng kết

tủa. Nhóm hợp chất này có thể phân thành hai nhóm cơ bản: (1) tannin thủy phân

(hydrolysable tannin) như gallic acid, ellagic acid và (2) tannin ngưng tụ (condensed

tannin) như gallocatechin, epigallocatechin, proanthocyanidin, procynidin. Tác dụng

chống đái tháo đường và các biến chứng liên quan đến thận, hệ thần kinh, tim mạch và

mắt của các tannin đã được ghi nhận [195]. Tannic acid có khả năng kích thích vận

chuyển glucose, ức chế sự biệt hóa tế bào mỡ 3T3-L1 bằng cách phosphoryl hóa thụ thể

insulin và chuyển vị chất vận chuyển glucose 4 (GLUT4). Ngoài ra, tannic acid còn có

thể ức chế hoạt động của các gene quan trọng cho quá trình tạo mỡ [1]. Theo Kunyanga

et al. (2011), tannin ngưng tụ chiết xuất từ hạt α-amaranth, hạt kê ngón, hạt đậu, hạt

hướng dương, lá dùi trống và rau dền có tác dụng kiểm soát đường huyết chủ yếu bằng

cách ức chế hoạt động của α-amylase và α-glucosidase [182].

1.3.3. Các cơ chế kiểm soát đường huyết của các hợp chất polyphenol

Hợp chất tự nhiên có nhiều lợi thế để phát triển các liệu pháp chống đái tháo đường

mới nhờ tính đa dạng trong cấu trúc phân tử, hoạt tính sinh học, khả năng đáp ứng tốt

16

và tác dụng phụ thấp [18, 313]. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, các hợp chất polyphenol có

thể kiểm soát đường huyết bằng các cơ chế và cơ quan tác động mục tiêu tương tự như

các thuốc điều trị thương mại hiện nay. Hình 1.5 mô tả một số con đường và cơ chế tác

động kiểm soát đường huyết của polyphenol trong phòng chống đái tháo đường (dựa

trên báo cáo của Arulselvan et al. (2014) [30] và Xu et al. (2018) [414] và cập nhật từ

các tài liệu liên quan khác). Cụ thể, các polyphenol có thể: (1) điều hòa quá trình xuất

tiết các hormon và phục hồi chức năng tuyến tụy; (2) ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột

và giảm lượng đường hấp thu qua ruột; (3) cải thiện độ nhạy insulin ở các mô, cơ quan;

(4) giảm sản xuất glucose và sinh tổng hợp cholesterol ở gan; (5) tăng quá trình hấp thu

và chuyển hóa glucose ở cơ; (6) điều hòa quá trình sinh tổng hợp chất béo; (7) điều hòa

hoạt động não bộ và giảm cảm giác thèm ăn [414]. Ngoài ra, các hợp chất tự nhiên còn

thể hiện qua khả năng chống oxy hóa và kháng viêm, giúp bảo vệ mô/cơ quan trước các

quá trình lão hóa gây suy thoái chức năng và cân bằng chuyển hóa glucose [1, 104]. Đặc

biệt, một số hợp chất polyphenol còn có tác dụng kiểm soát đường huyết thông qua tác

động lên hệ vi sinh đường ruột [93, 365]

Hình 1.5. Các vị trí tác động kiểm soát đường huyết của polyphenol trong phòng trị đái tháo đường (theo Arulselvan et al. (2014) và Xu et al. (2018)) Ghi chú: : tăng cường/kích thích; : giảm/ức chế

17

1.3.3.1. Phương thức tiếp cận phụ thuộc insulin

Phương thức tiếp cận phụ thuộc insulin liên quan tới các quá trình thúc đẩy sản xuất

và tăng cường độ nhạy insulin [364]. Tuyến tụy là cơ quan nội tiết giúp sản xuất các

hormone quan trọng trong chuyển hóa đường glucose. Các vấn đề liên quan đến tuyến

tụy thường dẫn đến sự mất cân bằng glucose và là cơ chế bệnh sinh quan trọng của đái

tháo đường [193]. Do đó, tụy là cơ quan đích của nhiều liệu pháp điều trị bệnh đái tháo

đường.

Nhiều nhóm hợp chất tự nhiên có khả năng bảo vệ tế bào β tuyến tụy trước các tác

nhân phá hủy tế bào, từ đó giảm quá trình chết, thúc đẩy tăng sinh tế bào β, đảm bảo

lượng insulin được xuất tiết [338]. Các polyphenol có thể bảo vệ tế bào β bằng khả năng

chống stress oxy hóa, phục hồi chức năng ty thể, kháng viêm hay thay đổi tín hiệu của

con đường autophagy/mitophagy [126]. Hoạt động ổn định của tuyến tụy tác động tích

cực đến các quá trình sinh tổng hợp và thủy phân glycogen, quá trình tân tạo đường

(glyconeogenesis) ở gan, tăng cường hấp thu và chuyển hóa đường ở các tế bào ngoại

vi, từ đó ổn định được đường huyết [364].

1.3.3.2. Phương thức tiếp cận không phụ thuộc insulin

Các phương thức tiếp cận độc lập với insulin trong kiểm soát đường huyết rất đa

dạng, bao gồm ức chế hấp thu glucose vào máu, ức chế hệ enzyme tiêu hóa tinh bột,

điều chỉnh các phản ứng viêm, tăng cường các phản ứng chống oxy hóa nội sinh, ức chế

sự hình thành các AGEs, điều hòa hệ vi sinh đường ruột [364].

a. Ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột

Tinh bột từ thức ăn được thủy phân dưới tác dụng của các enzyme tiêu hóa tạo thành

glucose trước khi xâm nhập vào máu và làm gia tăng đường huyết sau ăn. Giảm lượng

đường xâm nhập vào máu và làm chậm quá trình giải phóng đường vào máu là giải pháp

cơ bản giúp kiểm soát sự gia tăng đường huyết sau ăn và có hiệu quả cao trong phòng

trị đái tháo đường [50].

α-amylase và α-glucosidase là hai enzyme tác động đến quá trình thủy phân tinh bột

trong đường tiêu hóa. α-amylase giúp cắt nhỏ các chuỗi polysacharide đường bột thành

những đoạn ngắn và đường đôi trước khi những phân tử này tiếp tục bị thủy phân bởi

α-glucosidase thành glucose đi vào máu. Ức chế α-amylase và α-glucosidase được xem

là giải pháp hiệu quả trong điều trị đái tháo đường [136] với một số loại thuốc được

thương mại hóa như acarbose, miglitol và voglibose [364]

18

Những hạn chế của thuốc điều trị thúc đẩy các nghiên cứu tìm kiếm các chất ức chế α-

amylase và α-glucosidase hiệu quả và an toàn hơn từ hợp chất tự nhiên. Các hợp chất tự

nhiên có hoạt tính ức chế α-amylase và α-glucosidase rất đa dạng bao gồm các polyphenol,

saponin, terpenoid, alkaloid, trong đó nhóm terpenonid và flavonoid có các hợp chất phong

phú nhất [102]. Các báo cáo khoa học cho thấy nhóm polysaccharide tự nhiên từ thực vật

cũng có tiềm năng ứng dụng như các chất ức chế enzyme tiêu hóa đường bột và làm chậm

quá trình gia tăng đường huyết sau ăn [83].

b. Ức chế/chuyển vận chất vận chuyển glucose liên hợp natri

Các chất vận chuyển glucose (Glucose transporter, GLUT) và chất đồng vận chuyển

glucose-natri (Sodium-glucose cotransporter, SGLT) đóng vai trò quan trọng nhằm duy

trì sự ổn định đường huyết thông qua kiểm soát hàm lượng glucose xâm nhập vào máu

qua thành ruột hay ở thận [255]. Ở ruột, các SGLT1 giúp hấp thụ glucose vào tế bào

biểu mô ruột trước khi chúng được chuyển vào máu bởi GLUT2. Ở thận, SGLT2 và

SGLT1 giúp tái hấp thu glucose được lọc từ nước tiểu vào tế bào biểu mô thận trước khi

GLUT2 và GLUT1 vận chuyển chúng từ các tế bào biểu mô trở lại máu [49]. Thuốc ức

chế SGLT có thể làm chậm tốc độ hấp thu glucose ở ruột và tăng đào thải glucose qua

thận vào nước tiểu ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2, được xem là liệu pháp điều trị

đái tháo đường hiệu quả [368]. Các nghiên cứu nhằm sàng lọc từ tự nhiên hoặc tổng hợp

hóa học các chất ức chế SGLT1/SGLT2 được quan tâm trong thời gian gần đây [280].

Phlorizin, một flavonoid được tìm thấy trong vỏ rễ, lá, chồi và quả cây táo, có thể gia

tăng đào thải glucose qua đường tiết niệu ở người khỏe mạnh thông qua khả năng ức

chế hoạt động của SGLT2 [321]. Do hạn chế về khả năng hòa tan của phlorizin, các hợp

chất tổng hợp hóa học được phát triển dựa trên gốc phlorizin với hoạt tính ức chế SGLT2

đã được chấp thuận trong điều trị đái tháo đường tuýp 2 bao gồm canagliflozin,

dapagliflozin, empagliflozin, ipragliflozin, ertugliflozin, bên cạnh rất nhiều hợp chất

khác đang được thử nghiệm trên lâm sàng [237]. Trong số đó, dapagliflozin là thuốc ức

chế SGLT2 đầu tiên được sử dụng trong điều trị đái tháo đường [20, 99]. Đáng chú ý,

sotagliflozin, hợp chất có khả năng ức chế đồng thời SGLT1 và SGLT2 được chấp thuận

trong điều trị bệnh tim mạch [66], có khả năng làm giảm đáng kể khả năng tử vong do

tim ở bệnh nhân đái tháo đường với tình trạng suy tim nặng [45]. Ngoài ra, các hợp chất

tự nhiên khác như chlorogenic acid, quercetin, kaempferol, kurarinone, và

sophoraflavanone cũng đang được nghiên cứu như các chất ức chế SGLT tiềm năng [237].

19

c. Chống oxy hóa và kháng viêm

Viêm và stress oxy hóa là các cơ chế bệnh sinh phổ biến ở nhiều bệnh lý rối loạn

chuyển hóa. Tình trạng viêm và stress oxy hóa mạn tính giữ vai trò quan trọng trong sự

khởi phát và diễn tiến, đặc biệt là các biến chứng nghiêm trọng của đái tháo đường [46].

Các phản ứng viêm mạn tính ở mức độ thấp sinh ra các gốc tự do hoạt động mạnh, các

gốc này tác động bất lợi đến các mô/tổ chức và gây tổn thương, phá hủy các cơ chế

chống oxy hóa tự nhiên của cơ thể, từ đó gây nên các rối loạn chuyển hóa, tình trạng

kháng insulin và bệnh đái tháo đường [273]. Do đó, chống oxy hóa và kháng viêm là một

trong những yêu cầu quan trọng trong kiểm soát đường huyết, giúp phòng chống đái

tháo đường hiệu quả.

Khả năng chống oxy hóa là đặc tính nổi bật của hầu hết các hợp chất tự nhiên ở thực

vật và giúp con người giảm nguy cơ mắc các bệnh lý chuyển hóa mạn tính thông qua

tiêu thụ các rau, củ, quả tươi giàu hợp chất chống oxy hóa [162]. Khả năng chống đái

tháo đường của các hợp chất flavonoid có liên hệ mật thiết với khả năng chống oxy hóa

của chúng [1]. Quercetin thể hiện khả năng giảm stress oxy hóa và cải thiện độ nhạy

insulin, là hợp chất có tiềm năng chống lại các biến chứng do đái tháo đường [97]. Hiệu

quả chống biến chứng đái tháo đường của resveratrol có đóng góp đáng kể của khả năng

kích hoạt các cơ chế chống oxy hóa nội sinh [157]. Berberine, hợp chất thuộc nhóm

alkaloid, chống stress oxy hóa và kháng viêm thông qua một số con đường phức tạp bao

gồm một số kinase và con đường truyền tín hiệu liên quan đến NF-κB (Nuclear factor-

κB) và AMPK (AMP-activated protein kinase), từ đó cải thiện đáng kể các triệu chứng

của bệnh đái tháo đường [217].

d. Ức chế sự hình thành các sản phẩm glycat hóa bền vững (AGEs)

Trong điều kiện đường huyết cao, rối loạn mỡ máu và stress oxy hóa kéo dài dẫn

đến sản sinh và tích luỹ các các AGEs. AGEs là sản phẩm cuối cùng của phản ứng tạo

liên kết ngang giữa đường và protein hoặc lipid hoặc peptides. Các phân tử này đóng

góp vào quá trình hình thành và diễn tiến đến các biến chứng do mắc bệnh đái tháo

đường [376]. Các lựa chọn liên quan tới lối sống như chế độ ăn uống, ít vận động, hút

thuốc lá, … có thể thúc đẩy hình thành các AGEs, gây nên trạng thái stress oxy hóa,

viêm và tiến triển các bệnh lý chuyển hóa, bao gồm đái tháo đường [304, 330]. Do đó,

ức chế sự hình thành các AGEs được xem là mục tiêu quan trọng trong các can thiệp

làm giảm các biến chứng do đái tháo đường [216].

20

Các nghiên cứu cho thấy một số hợp chất tự nhiên có khả năng ức chế sự hình thành

AGEs như polyphenol, polysaccharide, terpenoid, vitamin và alkaloid, trong đó nhiều

hợp chất có khả năng ứng dụng chống đái tháo đường như resveratrol, curcumin, ursolic

acid, berberine, ….. Các cơ chế ức chế bao gồm trung hòa gốc tự do, tạo phức kim loại

nặng, thu nhận các hợp chất carbonyl hoạt động, bảo vệ các vị trí có khả năng bị đường

hóa của protein, và giảm lượng đường trong máu [357]. Hoạt tính ức chế hình thành

AGEs cho thấy khả năng ứng dụng các hợp chất tự nhiên như một cách tiếp cận đa mục

tiêu, hiệu lực và hiệu quả trong phòng trị đái tháo đường.

1.3.3.3. Phương thức tiếp cận trung gian qua hệ vi sinh vật đường ruột

Sự thay đổi hệ vi sinh đường ruột giữ vai trò quan trọng trong sự khởi phát, tiến

triển của béo phì và bệnh đái tháo đường tuýp 2. Sự suy giảm đa dạng hệ vi sinh vật

đường ruột liên quan đến kháng insulin và rối loạn chuyển hóa năng lượng. Sự thay đổi

các hợp chất trao đổi đi kèm với rối loạn vi khuẩn đường ruột, kéo theo rò rỉ độc tố và

thay đổi tính thấm thành ruột, gây ảnh hưởng rõ rệt đến sự khởi phát và tiến triển của

bệnh đái tháo đường tuýp 2 [38, 406]. Do đó, hệ vi sinh đường ruột trở thành mục tiêu

tác động mới trong phòng trị đái tháo đường [145]. Cơ chế tác dụng kiểm soát đường

huyết thông qua hệ vi sinh đường ruột của các hợp chất tự nhiên được mô tả ở Hình 1.6

(theo Xia et al. (2021) [406] và các công bố khác có liên quan).

Hợp chất tự nhiên kiểm soát đường huyết thông qua hệ vi sinh đường ruột với nhiều

cơ chế tác động khác nhau bao gồm: (1) điều chỉnh thành phần và sự phong phú của hệ

vi sinh đường ruột; (2) giảm tính thấm thành ruột, ngăn chặn sự xâm nhập của các thành

phần bất lợi, giảm viêm; (3) tăng quá trình tổng hợp các acid béo chuỗi ngắn (short-

chain fatty acids, SCFAs); (4) tăng sinh tổng hợp và chuyển hóa các acid béo chuỗi

nhánh (branched-chain fatty acids); (5) giảm hàm lượng các lipopolysaccharide; (6) ức

chế quá trình viêm mạn tính mức độ thấp (Low-grade inflammation) [406]

Các flavonoid bao gồm epigallocatechin-3-gallate (EGCG), curcumin, allicin,

quercetin, genistein (GEN), capsaicin, rhein, betacyanin, pectin, vaccarin, hesperetin-7-

O-glucoside, prunin, và isoquercitrin đã được nghiên cứu về khả năng kiểm soát đường

huyết thông qua tác động đến hệ vi sinh vật đường ruột và cho thấy hiệu quả tích cực

[145, 288]. Nghiên cứu cho thấy, rutin giúp cải thiện tình trạng đái tháo đường thông

qua giảm nồng độ glucose máu, cải thiện các chỉ số mỡ máu, các tín hiệu viêm như yếu

tố hoại tử khối u-α (tumor necrosis factor-α, TNF- α), interleukin-6 (IL-6), hàm lượng

21

insulin. Đặc biệt, rutin giúp giảm bớt các tổn thương ở ruột kết và điều chỉnh hệ vi sinh

đường ruột ở chuột mắc đái tháo đường [57].

Hình 1.6. Tác dụng kiểm soát đường huyết và chống đái tháo đường của hợp chất tự nhiên thông qua hệ vi sinh đường ruột (theo Xia et al. (2021) và các công bố khác) Ghi chú: LPSs: Lipopolysaccharides; GLP-1: Glucagon-like peptide 1; PYY: Peptide YY ; Akt/mTOR: protein kinase B (AKT)/mammalian target of rapamycin (mTOR); ER: Endoplasmic Reticulum; PPAR-γ: Peroxisome proliferator-activated receptor gamma; UCP-1: Uncoupling Protein 1; BCAAs: Branched-chain amino acids; mTORC1/NF-B: Mammalian target of rapamycin complex 1 (mTORC1)/Nuclear factor kappa-light-chain-enhancer of activated B cells (NF-κB) ; ATP: Adenosine triphosphate; TCA: tricarboxylic acid cycle; : tăng cường/kích thích; : giảm/ức chế

Hiểu biết về mối liên hệ giữa đái tháo đường với hệ vi sinh đường ruột cung cấp

góc nhìn mở rộng hơn về tính hệ thống và tính đa dạng trong các cơ chế bệnh sinh của

đái tháo đường. Cách tiếp cận phòng trị thông qua điều chỉnh hệ vi sinh vật đường ruột

và các quá trình chuyển hóa liên quan bằng các hợp chất tự nhiên mang đến một giải

pháp toàn diện nhằm kiểm soát bệnh đái tháo đường có hiệu quả [290].

Có thể thấy sự đa dạng và phong phú của các hợp chất polyphenol từ thực vật cùng

với các hoạt tính sinh học quý của chúng là một nguồn tài nguyên lớn. Các báo cáo hiện

tại cho thấy, polyphenol là tác nhân phòng trị đái tháo đường độc lập hoặc cộng hợp thể

hiện qua khả năng kiểm soát đường huyết, đều ghi nhận những hiệu quả nhất định. Bên

cạnh đó, các tính chất liên quan đến độc tính, tác dụng phụ cần được tính đến. Do đó,

mặc dù có rất nhiều tiến bộ trong thời gian gần đây, nhưng vẫn cần rất nhiều các nghiên

cứu sâu hơn nhằm làm sáng tỏ cơ chế tác dụng, mối liên hệ giữa cấu trúc và chức năng

của các hợp chất polyphenol tiềm năng, từ đó khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên

phong phú này.

22

1.4. Chi Trâm (Syzygium sp.) và tiềm năng phòng chống bệnh đái tháo đường

1.4.1. Khả năng kiểm soát đường huyết của một số cây thuốc thuộc Chi Trâm

Trâm (Syzygium sp.) là chi có độ đa dạng cao với khoảng 1.200 đến 1.800 loài, hầu

hết là cây bụi và thường xanh. Những đặc điểm sinh học được ghi nhận như phần thân

thô ráp, bong tróc với lớp vỏ màu xám đen, càng lên cao càng mịn và nhạt màu. Gỗ có

khả năng chống nước. Lá thường xanh, hình elip có thể cùn hoặc thuôn với đỉnh nhọn,

có màu xanh đậm, bóng và có mùi như nhựa thông. Quả màu xanh lục hoặc nâu hình

thuôn dài, chứa một hạt đơn, hương vị thay đổi từ chua đến ngọt vừa. Hiện nay, các

nghiên cứu về hoạt tính sinh học của các cây thuốc chi Trâm được công bố khá nhiều,

đặc biệt là khả năng chống oxy hóa và hạ đường huyết trên các mô hình gây bệnh đái

tháo đường. Các loài thuộc chi Trâm có tiềm năng ứng dụng phòng chống đái tháo đường

bao gồm S. alternifolium, S. aqueum, S. aromaticum, S. calophyllifolium, S. cumini, S.

malaccense, S. polyanthum, và S. samarangense [442]. Bảng 1.1 tổng hợp các nghiên

cứu về khả năng kiểm soát đường huyết và phòng chống bệnh đái tháo đường của một

số loài cây thuốc thuộc chi Trâm.

Bảng 1.1. Khả năng kiểm soát đường huyết và phòng chống bệnh đái tháo đường của một số loài cây thuốc thuộc Chi Trâm

Tên loài

Chỉ tiêu đánh giá

Kết quả tác động chính

TLTK

[168]

Syzygium alternifoliu m

Giảm đáng kể đường huyết và chỉ số HbA1c; Chống lại sự gia tăng mỡ máu; Bảo vệ gan và thận

[223]

Syzygium aqueum

Đối tượng và mô hình nghiên cứu Chiết xuất từ hạt/Mô hình chuột mắc bệnh đái tháo đường do Streptozotocin Chiết xuất ethanol từ lá/Mô hình chống đái tháo đường in vitro

[103]

Syzygium aromaticum

tế bào

Chiết xuất vỏ thân/Mô hình tế bào SV40 MES13 và chuột mắc bệnh đái tháo đường do Streptozotocin

Đường huyết, HbA1c; Chỉ số lipid máu; Chỉ số men gan; Chỉ số chức năng thận: urea và creatinine chế năng ức Khả enzyme α-amylase, α- aldose glucosidase, trình reductase; Quá hình thành các sản phẩm glycate hóa bền vững Sự hình thành sản phẩm glycate hóa bền vững (AGEs); Khả năng gây độc tế bào; Chống oxy hóa; Đường huyết; khối thận; albumin lượng nước tiểu; Biểu hiện Nrf2/Glo1;

Ức chế hiệu quả α-amylase, α-glucosidase hơn so với acarbose; Ức chế aldose reductase và chống lại sự hình thành các sản phẩm glycate hóa bền vững; Cải thiện stress oxy hóa và trước bảo vệ methylglyoxal (MG); Giảm các chỉ thị (đường huyết, kích thước thận, albumin nước tiểu) ở chuột mắc bệnh đái tháo đường; ức chế sự hình thành AGEs do ngộ độc đường và stress oxy hóa thông qua con đường Nrf2/Glo1

23

Tên loài

Chỉ tiêu đánh giá

Kết quả tác động chính

TLTK

[77]

Syzygium calophyllifo lium

[17]

Syzygium cumini

Đối tượng và mô hình nghiên cứu Chiết xuất methanol từ vỏ thân/Mô hình chuột mắc bệnh đái tháo đường do Streptozotocin- Nicotinamide (STZ-NA) Chiết xuất giàu polyphenol từ lá/Mô hình chuột mắc bệnh đái tháo đường do alloxan

Giảm mức đường huyết ở chuột mắc bệnh đái tháo đường sau 15 ngày tác động; Chống suy giảm khối lượng cơ thể; Ổn định các chỉ số huyết học và chống oxy hóa in vivo; Bảo vệ cấu trúc gan, thận, tụy Giảm đường huyết lúc đói và HbA1c; tăng tích lũy tiết glycogen và xuất insulin; cải thiện chức năng tế bào β; giảm các chỉ số viêm.

[32]

Syzygium malaccense

xuất

Chiết xuất từ lá giàu Myricitrin/Mô hình chống đái tháo đường in vitro

PRKAG2,

Mức đường huyết; Chỉ số khối cơ thể; Chỉ số huyết học phản ánh chức năng gan, thận, tụy; Chỉ số chống oxy hóa in vivo bao gồm SOD, CAT, GST, GSH và GR Chống gia tăng đường huyết (đường huyết lúc đói, HbA1c, mức kháng insulin, nồng độ lipid bị oxy hóa, hoạt tính glucose-6-phosphatase) và các chỉ số kháng viêm Ức chế α-amylase và α- glucosidase; quá trình thu adiogenesis; hấp glucose; tiết adiponectin; biểu hiện gene trong quá trình biệt hóa tế bào tiền mô mỡ 3T3-L1

[76]

Syzygium mundagam

Các chiết xuất từ vỏ thân/Mô hình chuột mắc bệnh đái tháo đường do Streptozotocin

Ức chế hoạt động của enzyme tiêu hóa tinh bột; kích hoạt con đường tín hiệu insulin tăng cường hấp thu glucose và biệt hóa tế bào 3T3-L1. Điều hòa biểu hiện gene Akt1, PPARγ, Slc2a4, và adiponectin Chiết xuất methanol có khả năng chống oxy hóa tốt nhất; Cao chiết methanol chống lại sự gia tăng đường huyết sau ăn và có khả năng giảm mức đường huyết ở chuột mắc bệnh đái tháo đường

[400]

Syzygium polyanthum

Hiệu quả giảm đường huyết; Tác động đáng kể lên thành phần lipid máu; Tác dụng của chiết xuất thô là cao nhất thông qua tác động cộng gộp;

lượng phenolic, Hàm tannin, flavonoid; Khả năng chống oxy hóa in vitro (DPPH, ABTS, phospho-molybdenum, FRAP, Superoxide, Nitric oxide, tạo phức kim loại); Khả năng ổn định đường huyết trên chuột Chỉ số đường huyết; Hàm lượng insulin máu; Thành phần lipid máu; Hóa mô miễn dịch tế bào β; Phân tích ái lực với thụ thể protein trên mô hình in silico

[188]

Syzygium samarangen se

Chiết xuất methanol từ lá và các phân đoạn/Mô hình chuột mắc bệnh đái tháo đường do Streptozotocin và mô hình in silico Chiết xuất từ quả/Mô hình chuột mắc bệnh đái tháo đường do Streptozotocin

Giảm đường huyết; tăng khối lượng cơ thể, hàm lượng insulin huyết thanh và tuyến tụy, HOMA-B; Cải thiện chức năng tế bào β; Giảm stress oxy hóa; Giảm viêm;

insulin lượng Hàm huyết thanh, HOMA-B; Biểu hiện insulin tuyến tụy; Biểu hiện các quan liên protein apoptosis, chống oxy hóa và cytokine tiền viêm;

24

Tên loài

Chỉ tiêu đánh giá

Kết quả tác động chính

TLTK

Đối tượng và mô hình nghiên cứu

Ghi chú: Akt1 (protein kinase B), PPARγ (peroxisome proliferator activated receptor gamma), Slc2a4 (glucose transporter), PRKAG2 (protein kinase, AMP activated); Nrf2/Glo1 (nuclear factor erythroid 2-related factor 2/ glyoxalase 1), SOD (Superoxide dismutases), CAT (catalase), GST (Glutathione S- Transferases), GSH (Glutathione), GR (Glutathione reductase)

Các công bố cho thấy tiềm năng của các chiết xuất từ các bộ phận khác nhau của cây

bao gồm lá, hoa, quả và hạt từ các loài Syzygium sp. trong việc cải thiện đường huyết và

các chỉ số khác liên quan bệnh đái tháo đường trên mô hình động vật. Chiết xuất từ quả

và hạt của S. cumini cho hiệu quả hạ đường huyết và tăng hàm lượng insulin cao hơn đối

chứng, trong đó chiết xuất từ hạt cho hiệu quả cao hơn từ 2% đến 3% so với quả trên mô

hình chuột gây đái tháo đường bởi sucrose [317]. Chiết xuất lá của S. cumini giảm đường

huyết, chỉ số HbA1, nồng độ lipid bị oxy hóa, hoạt tính glucose-6-phosphatase và các chỉ

số kháng viêm trên mô hình chuột gây đái tháo đường bởi alloxan [17]. Cao chiết từ lá S.

polyanthum có khả năng hạ đường huyết trên mô hình chuột gây đái tháo đường bởi

alloxan, với liều hiệu quả là 5 mg/kg [388]. Tác dụng chống đái tháo đường của chiết

xuất lá S. polyanthum nhờ khả năng ức chế α-glucosidase và chống oxy hóa với giá trị

ức chế lần lượt 41,4% và 49,4% ở nồng độ 50 µg/ml [96]. Chiết xuất lá S. samarangense

cũng cho thấy khả năng hạ đường huyết trên mô hình chuột mắc bệnh đái tháo đường

[341]. Hoạt chất vescalagin từ quả S. samarangense giúp tăng cường khả năng hấp thụ

glucose ở gan, hạ đường huyết nhanh và gia tăng hàm lượng cholesterol tỷ trọng cao

trên mô hình chuột mắc bệnh đái tháo đường [344]. Chiết xuất từ hạt S. calophyllifolium

có tác dụng ngăn chặn đáng kể tổn thương mô do đái tháo đường, bảo vệ chống lại sự

ly giải lyzosome và sự giải phóng enzyme nhờ sự có mặt của các hợp chất thứ cấp [140].

Chiết xuất từ nụ hoa S. aromaticum thể hiện khả năng chống oxy hóa mạnh, ức chế α-

glucosidase và α-amylase trong thực nghiệm in vitro [11]. Cao chiết ethanol từ nụ hoa

S. aromaticum, với liều 0,5 g/100g chế độ ăn trong 3 tuần, có hiệu quả hạ đường huyết

trên chuột mắc bệnh đái tháo đường tốt hơn pioglitazone [183]. Chiết xuất từ hạt S.

alternifolium cũng cho thấy hiệu quả giảm đường huyết trên mô hình chuột mắc bệnh

đái tháo đường tương đương glibenclamide [319].

Một số báo cáo gần đây cho thấy các chiết xuất từ vỏ thân một số loài cây thuộc chi

Trâm cũng có tiềm năng chống đái tháo đường cao, dù các công bố còn chưa nhiều

[341]. Chiết xuất methanol từ vỏ thân S. mundagam chống oxy hóa mạnh, ổn định đường

huyết sau ăn lên đến 180 phút và khả năng hạ đường huyết mạnh trên mô hình chuột đái

25

tháo đường [76]. Chiết xuất từ vỏ thân S. aromaticum có khả năng giảm độc tính do đái

tháo đường gây nên qua con đường Nrf2/Glo1 [103]. Chiết xuất từ vỏ thân S.

calophyllifolium giúp hạ đường huyết trên mô hình chuột mắc bệnh đái tháo đường sau

15 ngày điều trị ở nồng độ 100 - 200 mg/kg khối lượng cơ thể, đồng thời đưa các chỉ

tiêu huyết học và lipid máu về mức bình thường [77].

Các báo cáo chỉ ra các hợp chất có tác dụng chống đái tháo đường chứa trong các

chiết xuất từ các một số loài cây thuộc Chi Trâm có tiềm năng ứng dụng cao và các cơ

chế tác dụng liên quan. Chiết xuất nước và ethanol từ vỏ cây S. malaccense chứa tannin,

triterpenoid, glycoside và flavonoid có tác dụng hạ đường huyết trên chuột đái tháo

đường tương đương glibenclamide [37]. Các dẫn xuất myricetin, myricitrin từ lá S.

malaccense có khả năng chống oxy hóa, ức chế α-glucosidase và α-amylase [31] và thể

hiện tác dụng tương tự insulin như tăng cường hấp thu glucose, tăng tiết adiponectin và

giảm tích tụ lipid bằng cách kích hoạt con đường truyền tín hiệu insulin [32]. Thành

phần hợp chất có tiềm năng ứng dụng trong phòng chống đái tháo đường của S.cumini

(L.) Skeels bao gồm anthocyanin, glucoside, ellagic acid, isoquercetin, kaemferol và

myrecetin [35]. Sáu hoạt chất flavonoid trong chiết xuất ethanol từ lá S. aqueum có hoạt

tính ức chế α-glucosidase bao gồm myrigalone-B, myrigalone-G, phloretin, europetin-

3-O-rhamnoside, myricetin-3-O-rhamnoside và 4-hydroxybenzaldehyde [223]. Các thử

nghiệm khác về tác dụng chống đái tháo đường của các chất từ S. aromaticum như

oleanolic acid (OA) và maslinic acid (MA) trên mô hình chuột đái tháo đường cho thấy

hiệu quả tác động ức chế hoạt động của các enzyme làm tăng nồng độ glycogen [258]

hay α-glucosidase, sucrase, α-amylase, chất vận chuyển glucose (GLUT2) và chất vận

chuyển liên hợp natri-glucose (SGLT1) [192].

1.4.2. Trâm vỏ đỏ (Syzygium zeylanicum (L.) DC.)

Giới: Plantae

Ngành: Angiosperms

Lớp: Eudicots

Bộ: Myrtales

Họ: Myrtaceae

Chi: Syzygium

Loài: Syzygium zeylanicum (L.) DC. (Eugenia zeylanica Wight., Myrtus zeylanica L.)

26

Trâm vỏ đỏ là cây gỗ có

kích thước trung bình, cành màu

cam, thường nứt vỏ. Lá xoan,

tròn hay tù ở gốc, đầu nhọn dài,

tù, dài 6-10 cm, rộng 25-40 mm,

sáng bóng và nhạt ở trên, nhạt

màu hơn và có khi có bột ở dưới.

Gân là phụ cách nhau cỡ 5 mm,

gân mép lá cách mép 2mm,

cuống lá rất ngắn. Cụm hoa ở

nách và ở ngọn, gần như dạng

bông gồm 3-5 hoa gần như

không cuống, lá đài cao 1 mm,

cánh hoa trắng dính nhau và

rụng một lượt. Quả hình cầu, có

sáp, màu trắng, đường kính 7

mm. Hạt đơn độc, dài 4-5 mm.

Trâm vỏ đỏ phân bố ở Trung

Hình 1.7. Trâm vỏ đỏ (Syzygium zeylanicum (L.) DC.) (©2023 Flora Fauna Web. All Rights Reserved.)

Quốc, Ấn Độ, Sri Lanka,

Bangladesh, Myanmar, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, và Madagascar. Ở Việt Nam chủ

yếu tập trung ở các tỉnh phía Nam, trong các quần xã thứ sinh ở độ cao thấp, dưới 1000

m so với mực nước biển, từ Kon Tum trở vào Nam (Trung tâm dữ liệu thực vật Việt

Nam). Theo kinh nghiệm dân gian, chiết xuất lá Trâm vỏ đỏ dùng để điều trị một số

bệnh lý như đau khớp, đau đầu, viêm khớp, sốt và có khả năng kháng khuẩn, kháng nấm

[94]. Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu khoa học được thực hiện trên Trâm vỏ đỏ . Các hoạt

tính sinh học quý liên quan đến những nhóm hoạt chất chứa trong chiết xuất lá Trâm vỏ

đỏ là khả năng kháng viêm [27] hay chống oxy hóa [254]. Bảng 1.2 tổng hợp các nghiên

cứu và công bố về thành phần hoạt chất và các hoạt tính sinh học của Trâm vỏ đỏ.

Bảng 1.2. Các nghiên cứu về thành phần hoạt chất và hoạt tính sinh học của Trâm vỏ đỏ

Chỉ tiêu đánh giá

Kết quả tác động chính

TLTK

Đối tượng và mô hình nghiên cứu Quả

[44]

Thành phần vi chất dinh dưỡng

Mục tiêu nghiên cứu Thành phần dinh dưỡng/hoạt chất

Quả chứa lượng vitamin A (78,445 ± 0,0123 IU/100g), vitamin K (0,291 ± 0,001µg/ 100g) và vitamin C (18,201 ±

27

Chỉ tiêu đánh giá

Kết quả tác động chính

TLTK

Mục tiêu nghiên cứu

Đối tượng và mô hình nghiên cứu

[219]

Khả năng chống oxy hóa/chống đái tháo đường

[254]

Chiết xuất nước và methanol từ 28 loài cây thuốc ở Nam/Mô Việt hình chế ức enzyme tiêu hóa tinh bột và chống oxy hóa in vitro

Ức α- chế glucosidase; Khả năng chống oxy thông quan hóa mức độ chống peroxide hóa lipid não chuột; Hàm lượng polyphenol

[26]

Nghiên cứu dược lý và hóa lý trên lá

0,003 mg/100g). Các vitamin B, vitamin D và vitamin E được tìm thấy ở dạng vết. Các loại trái cây đặc biệt giàu chất sắt; hàm lượng sắt là 1,67 ± 0,03 mg/100g. Chiết xuất lá Trâm vỏ đỏ có hoạt tính ức chế enzyme và chống oxy hóa tốt nhất trong số 4 loài cây có tiềm năng được sàng lọc; Khả năng chống oxy hóa của cao phân đoạn methanol 20% mạnh nhất; Chất chống oxy hóa tiềm năng zeylaniin A; Các chiết xuất lá Trâm vỏ đỏ giàu các hợp chất tự nhiên có giá trị dược học. Chiết xuất ethyl acetate thu nhận được nhiều hoạt chất nhất.

Thành phần hoạt chất/dược chất/phương pháp định chuẩn

Các tính thuộc dược học, vi hình thái lá, các chỉ tiêu hóa lý, thành phần các hợp chất tự nhiên

[191]

[94]

Khả năng kháng khuẩn

Thành phần tinh dầu gồm Bicyclogermacrene (25%), β- caryophyllene (20,14%), α- pinene (7,66%), α-humulene (4,25%), δ-cadinene (3,47%), (E,E)-α-farnesene (2,82%), (E)-β-ocimene (2,44%), (E,Z)- farnesol (2,25%), α-amorphene (2,05%), có khả năng kháng khuẩn, kháng nấm, chống côn trùng Chiết xuất ethyl acetate có khả năng ức chế Bacillus subitlis tốt nhất

Các chiết xuất từ lá/Mô hình kháng khuẩn in vitro

[27]

Khả năng chống oxy hóa và kháng viêm

Các chiết xuất từ lá/Mô hình chống oxy hóa và kháng viêm in vitro

Chiết xuất ethyl acetate và nước chứa hàm lượng cao các hợp chất phenolic; Chiết xuất ethyl acetate có khả năng chống oxy hóa và kháng viêm tốt nhất

[268]

Khả năng chống đái tháo đường

Chiết xuất vỏ thân/Enzyme tiêu hóa tinh bột và chuột

Ức chế tốt enzyme tiêu hóa tinh bột với độ bền hoạt tính cao với nhiệt và pH; Chống gia tăng đường huyết sau ăn và không ghi nhận tác dụng phụ

Khả năng ức chế vi khuẩn gram âm, gram dương và nấm trung Khả năng hòa gốc tự do Nitric oxide; Ức chế cyclooxygenase, 5-lipoxygenase, và khả năng chống biến tính protein Khả năng ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột và hạ đường huyết sau ăn

28

Chỉ tiêu đánh giá

Kết quả tác động chính

TLTK

[175]

Mục tiêu nghiên cứu Khả năng chống đái tháo đường

Ổn định đường huyết lúc đói và chỉ số men gan

Hạ đường huyết lúc đói ở chuột đái tháo đường ở nồng độ 400 mg/kg khối lượng cơ thể, giảm chỉ số men gan.

Đối tượng và mô hình nghiên cứu Chiết xuất vỏ hình thân/Mô chuột đái tháo đường do alloxan và streptozotocin

Về khả năng chống đái tháo đường, chiết xuất lá Trâm vỏ đỏ có hoạt tính ức chế α-

glucosidase cao nhất đạt 93% tương ứng với nồng độ cao chiết 0,8 mg /mL và khả năng

chống oxy hóa đạt 85% tương ứng nồng độ cao chiết 30 µg/mL, được đánh giá là tiềm

năng nhất trong 28 loại cây thuốc ở Việt Nam theo báo cáo của Mai et al. (2007) [219].

Chiết xuất từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ thể hiện hoạt tính ức chế α-glusodase dịch ruột của

chuột với giá trị IC50 109 µg/mL, thấp hơn đối chứng dương acarbose (IC50 540 µg/mL),

độ bền hoạt tính cao với sự thay đổi pH và nhiệt độ. Bên cạnh đó, cao chiết này còn làm

chậm quá trình tăng đường huyết sau ăn trên mô hình chuột với nồng độ 100 – 200 mg/kg

khối lượng cơ thể sau 1 – 1,5 giờ và không có tác dụng phụ [268]. Shilpa et al. (2023)

báo cáo rằng, chiết xuất methanol từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC)

thu thập tại Ấn Độ có hiệu quả hạ đường huyết trên mô hình chuột đái tháo đường do

alloxan và streptozotocin. Trong đó, tác giả công bố một số hợp chất phenolic acid gồm

ferulic acid/caffeic acid, gallic acid, vanillic acid, p-hydroxy benzoic acid, salicylic acid,

O-coumaric acid, 2,4-dihydroxy benzoic acid; và một số hợp chất flavonoid như

myricetin, catechin, naringenin, apigenin, umberliferon, luteolin được tìm thấy trong

chiết xuất vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ thu thập tại Ấn Độ bằng phân tích sắc ký lỏng cao áp

hiệu năng cao (UHPLC). Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đánh giá được mối liên hệ giữa

thành phần hoạt chất và hoạt tính sinh học của chiết xuất từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ.

Có thể thấy rằng, các nghiên cứu về khả năng chống đái tháo đường của vỏ thân cây

Trâm vỏ đỏ còn khá ít và chưa có tính hệ thống, đặc biệt hiệu quả chống đái tháo đường

trên các mô hình in vitro và in vivo còn hạn chế. Các dữ liệu về thành phần hóa học, cấu

trúc và hoạt tính sinh học cũng như mối liên hệ giữa cấu trúc – hoạt tính còn chưa được

công bố. Đồng thời, phương pháp bảo vệ các hoạt chất và nâng cao tính sinh khả dụng

của hoạt chất của cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ chưa được nghiên cứu. Vì vậy, các

nghiên cứu trong tương lai cần đánh giá toàn diện và có hệ thống về khả năng chống đái

tháo đường, thành phần hoạt chất chính và mối liên hệ với hoạt tính sinh học và khả năng

kiểm soát đường huyết, đồng thời các phương pháp nhằm nâng cao khả năng ứng dụng

cũng cần được quan tâm. Từ các nghiên cứu này, các dữ liệu khoa học về khả năng ứng 29

dụng chống đái tháo đường trong thực tiễn có thể được cung cấp đầy đủ hơn, làm nền tảng

khai thác hiệu quả giá trị dược liệu của Trâm vỏ đỏ.

1.5. Công nghệ vi bao gói các hợp chất tự nhiên ứng dụng trong phòng chống bệnh

đái tháo đường

1.5.1. Công nghệ vi bao gói các hợp chất tự nhiên

Hoạt tính sinh học của các hợp chất tự nhiên có thể bị ảnh hưởng trong quá trình

bảo quản và sử dụng do dễ bị phân hủy bởi ánh sáng, oxy, nhiệt độ, độ ẩm cũng như

những liên kết kém bền khác. Ngoài ra, khả năng hòa tan trong nước thấp, kém ổn định,

và tính thấm qua màng sinh học bị hạn chế nên tính sinh khả dụng của các hợp chất tự

nhiên không cao [284].

Sự bao gói (encapsulation), quá trình bao gói các hợp chất tự nhiên/thuốc bên trong

vật liệu bao gói, là một công nghệ được tiếp cận đáng tin cậy không chỉ cho công nghiệp

thực phẩm mà còn ở lĩnh vực dinh dưỡng và sức khỏe. Công nghệ này giúp bảo vệ các

hợp chất tự nhiên trước các tác nhân gây phân hủy từ môi trường ngoài và bên trong cơ

thể, giúp duy trì độ ổn định và nâng cao hoạt tính sinh học. Ngoài ra, công nghệ này

giúp tăng tính sinh khả dụng, khả năng hòa tan, tính thấm qua màng. Đặc biệt, chúng có

thể giúp kiểm soát giải phóng các hoạt chất phù hợp với mục đích sử dụng, nhờ đó phát

huy tác dụng của thành phần hoạt chất mà ở trạng thái tự do không thể thực hiện được

[100].

Công nghệ bao gói có thể được chia làm hai nhóm dựa trên sự phân bố kích thước

của sản phẩm bao gói bao gồm: vi bao gói (microencapsulation) và nano hóa

(nanoencapsulation). Kích thước hạt vi bao dao động từ 3 đến 8000 µm, trong khi đó

hạt nano dao động từ 10 đến 1000 nm (1 μm). Sản phẩm bao gói cần đáp ứng các mục

tiêu chính bao gồm: (1) Bao gói và giải phóng chậm hoạt chất theo định hướng; (2) Bảo

vệ/duy trì tính ổn định của hoạt chất; (3) Giải phóng có kiểm soát các hoạt chất theo

định hướng cụ thể; (4) Có khả năng cấu trúc/chức năng hóa theo mục tiêu [80]

Các kỹ thuật vi bao có thể được chia thành ba nhóm chính, bao gồm: (1) Các phương

pháp vật lý: sấy phun, sấy đông khô, kết tủa dung môi siêu tới hạn, và bay hơi dung môi;

(2) Các phương pháp lý hóa: đông tụ (coacevation), liposome hóa, niosome và tạo gel

ion; (3) Các phương pháp hóa học: trùng hợp bề mặt và tạo phức phân tử [88]

30

1.5.2. Công nghệ vi bao gói các hợp chất tự nhiên bằng kỹ thuật sấy phun

1.5.2.1. Nguyên lý chung

Nguyên lý cơ bản của kỹ thuật sấy phun dựa trên việc làm khô nhanh các hạt huyền

phù hoặc nhũ tương rất nhỏ bằng dòng khí nóng, các hạt này sau đó rơi xuống phần đáy

của buồng sấy và được thu hồi trong một hệ thống phù hợp (Hình 1.8) [132]. Quá trình

cơ bản gồm chuẩn bị dịch sấy phun và cấp mẫu vào hệ thống sấy, tán nhỏ tạo sương mù

(atomization) với đầu phun hoặc đĩa quay trong buồng sấy nhiệt độ cao. Các hạt sau khi

đi ra khỏi đầu phun gặp khí nóng sẽ bay hơi dung môi và được phân tách trước khi đi

vào buồng thu mẫu đã khử ẩm như cyclone hoặc túi lọc [116].

Hình 1.8. Nguyên lý cơ bản của kỹ thuật sấy phun (theo Sosnik & Seremeta, 2015)

Sản phẩm bao gói (bột/hạt vi bao) có thể có hình dạng khác nhau tùy điều kiện, với

kích thước hạt thay đổi từ rất mịn (10 – 50 µm) đến rất lớn (2 – 3 mm). Để tạo hạt có

kích thước bé hơn từ khoảng 0,3 đến 5 µm, hệ thống sấy phun BUCHI Nano Spray

Dryer B-90 có thể được sử dụng với lợi thế tạo các hạt có kích thước rất mịn. Thực tế,

trong điều kiện thiết lập phù hợp, phương pháp sấy phun có thể được sử dụng trong bao

gói các hợp chất ở cấp độ vi bao với sản phẩm có kích thước hạt 2 – 25 µm hoặc cấp độ

nano hóa với sản phẩm có kích thước hạt bé hơn 5 µm (Hình 1.9) [298]

31

Hình 1.9. Các quá trình bao gói hợp chất tự nhiên sử dụng kỹ thuật sấy phun (theo Piñón-Balderrama et al., 2020)

1.5.2.2. Các hợp chất polyphenol được vi bao gói bằng kỹ thuật sấy phun

Hầu hết polyphenol đều kém bền dưới tác dụng bất lợi của môi trường như nhiệt độ,

độ ẩm, ánh sáng, pH, oxy. Ngoài ra, các polyphenol còn dễ bị phân hủy dưới tác dụng

của các enzyme, tương tác với các thành phần phối trộn khác, dẫn đến mất hoạt tính

hoặc kém ổn định trong điều kiện tiêu hóa, suy giảm tính sinh khả dụng. Do đó, các

nghiên cứu tập trung vào các phương pháp bảo vệ polyphenol dưới các tác dụng bất lợi

trong điều kiện bảo quản, chế biến và nâng cao tính sinh khả dụng [61, 84]. Trong đó,

kỹ thuật sấy phun được quan tâm với giá thành thấp, hiệu quả bao gói tốt nhiều nhóm

hợp chất, kỹ thuật đơn giản và dễ thiết lập ở quy mô công nghiệp [84]. Một số hợp chất

polyphenol và dẫn xuất được bao gói bằng kỹ thuật sấy phun được tổng hợp ở Bảng 1.3.

Bảng 1.3. Các hợp chất polyphenol và dẫn xuất được vi bao gói bằng kỹ thuật sấy phun

Điều kiện bao gói

Hiệu quả bao gói TLTK

Tên hợp chất

Hoạt tính sinh học/ Công dụng

Curcumin

[291]

Nâng cao độ hòa tan và tính sinh khả dụng đường uống.

HI-CAP 100 (tinh bột kháng)/maltodextrin; nhiệt độ dòng khí 185 oC; tốc độ nạp liệu 6 mL/phút;

Vanillin

[256]

8,5% maltodextrin 0,36% vanilin, 184 oC

Nâng cao hiệu quả vi bao, giảm độ ẩm và kích thước hạt; Bảo

hóa, oxy Chống tháo đái chống đường, kháng viêm, chống ung thư, bảo vệ gan Chống hóa, oxy chống thoái hóa tế bào thần kinh, kháng khuẩn

32

Điều kiện bao gói

Hiệu quả bao gói TLTK

Tên hợp chất

Hoạt tính sinh học/ Công dụng

Gallic acid

[244]

vệ và lưu trữ hoạt chất tốt hơn. Bảo vệ và kiểm soát giải phóng tốt hoạt chất.

Catechin

[440]

hóa, oxy Chống kháng viêm, kháng khuẩn, chống ung thư, chống đái tháo đường hóa, oxy Chống tháo đái chống đường, kháng viêm, bảo vệ gan

Anthocyanin Chống

hóa,

[322]

oxy kháng khuẩn

Alginate và pectin 0,75 -3 % (w/v); Áp suất khí phun 0,2 MPa; Kích thước đầy phun 0,2 mm; Tốc độ nạp liệu 5 mL/phút; (0-100%, Maltodextrin (0- w/w), gum arabic 100%, w/w), Chitosan (0- 1%, w/w); Tốc độ dòng 15 mL/phút; Nhiệt độ 150 oC; Đầu phun 0,7 mm; 9% Maltodextrin và 9% Hi-maize; Nhiệt độ 40 oC

Resveratrol

[71]

tháo

Sấy phun dịch nhũ tương reveratrol được tạo thành bởi phương pháp từng giọt (drop-by-drop) và phương pháp siêu âm

Gia tăng độ ổn định của hoạt chất trong điều kiện bảo quản; Kiểm soát mức độ giải phóng hoạt chất ở dạ dày và ruột. Bảo vệ và tăng khả năng lưu trữ hoạt chất trong quá trình bảo quản. Tăng cường hiệu quả vận chuyển hoạt chất dưới tác động của điều kiện tiêu hóa. Bảo vệ hệ thống nhũ tương resveratrol, chống lại sự hao hụt và mở rộng khả năng ứng dụng.

hóa, oxy Chống kháng viêm, chống đái đường, chống béo phì, chống ung thư, bảo vệ tim mạch

1.5.2.3. Các lợi thế cơ bản của phương pháp vi bao gói sử dụng kỹ thuật sấy phun

Vi bao có thể cung cấp công cụ để bảo vệ các chiết xuất và hợp chất tự nhiên khỏi

tác động của các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, điều kiện chần, đóng gói, và tự phân hủy

trong quá trình chế biến, hay các yếu tố liên quan đến tính khả dụng sinh học như liên

kết phân tử, cấu trúc hóa học, hàm lượng hoạt chất, tính hòa tan. Công nghệ vi bao một

cách tiếp cận đáng tin cậy trong công nghiệp thực phẩm, dinh dưỡng và sức khỏe, giúp

duy trì tính ổn định, hiệu quả và sinh khả dụng của các chiết xuất/hợp chất tự nhiên.

Ngoài ra, yêu cầu cải thiện cảm quan về mùi và vị của các hoạt chất tự nhiên sau khi vi

bao cũng được quan tâm [100]. Mục tiêu cơ bản của vi bao gói các hợp chất tự nhiên

được mô tả ở Hình 1.10.

33

Hình 1.10. Mục tiêu bao gói các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học: bảo vệ cấu trúc và tăng sinh khả dụng

Trong công nghệ vi bao các hợp chất tự nhiên, kỹ thuật sấy phun được sử dụng

tương đối phổ biến vì có khả năng ứng dụng rộng rãi từ nghiên cứu quy mô phòng thí

nghiệm đến khả năng mở rộng đến quy mô sản xuất công nghiệp. Đồng thời, sấy phun

có khả năng vi bao gói phổ rộng các nhóm hợp chất, đặc biệt nhóm hợp chất nhạy cảm

với nhiệt độ do quá trình làm khô diễn ra ở nhiệt độ cao trong thời gian ngắn. Ngoài ra, hiệu

suất bao gói bằng kỹ thuật sấy phun cao hơn so với các kỹ thuật vi bao gói khác [359].

Nhiều bằng chứng khoa học chứng minh khả năng sử dụng phương pháp vi bao

bằng sấy phun trong bảo vệ, duy trì, và gia tăng sự ổn định của đa dạng các hoạt chất

được vi bao. Vi bao bằng sấy phun có thể giúp bảo vệ và ngăn ngừa sự suy thoái của

thành phần có hoạt tính sinh học nhờ giảm quá trình tương tác của chúng với môi trường,

tăng thời gian bảo quản và sử dụng sản phẩm. Bên cạnh đó, phương pháp này giúp giảm

khả năng tương tác giữa hoạt chất được bao gói với các thành phần khác trong thực

phẩm khi được kết hợp, từ đó có thể gia tăng tính sinh khả dụng. Ngoài ra, vi bao bằng

sấy phun giúp tăng khả năng hòa tan, phân tán và lưu chuyển của các hoạt chất được

bao gói [100, 215].

Khả năng kiểm soát giải phóng hoạt chất tốt là một yêu cầu quan trọng đối với hạt

vi bao khi ứng dụng trong các lĩnh vực như thực phẩm, mỹ phẩm và dược phẩm. Khả

năng này cho phép các thành phần hoạt chất phát huy tác dụng đúng thời điểm và vị trí

34

tác động đích. Ngoài khả năng bảo vệ tốt thành phần hoạt chất, kỹ thuật sấy phun còn

tạo ra các hạt vi bao có khả năng kiểm soát tốt sự giải phóng các hoạt chất. Khả năng

phối kết hợp các loại vật liệu vi bao với nhau, chức năng hóa các loại vật liệu vi bao

hiện có, tìm kiếm các loại vật liệu bao gói mới trong tự nhiên mở ra các hướng tiếp cận

mới, nhằm tạo ra các sản phẩm vi bao sấy phun có thuộc tính kiểm soát giải phóng hoạt

chất tốt hơn và hiệu quả hơn [5, 141, 215].

1.5.2.4. Khả năng ứng dụng các sản phẩm vi bao bằng sấy phun trong phòng chống đái

tháo đường

Các hợp chất tự nhiên có khả năng ứng dụng cao trong phòng chống đái tháo đường,

được minh chứng qua các thử nghiệm sàng lọc in vitro đến các tác động rõ ràng được

ghi nhận trên các mô hình in vivo. Tuy nhiên, các thử nghiệm cũng cho thấy sự khác

biệt đáng kể giữa hoạt tính in vitro và trên mô hình động vật cũng như con người. Trong

đó, sự suy giảm hoặc không thể hiện tính sinh khả dụng của các hợp chất tiềm năng là

một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt này. Tính khả dụng sinh học của các

hợp chất tự nhiên dưới tác động của các điều kiện môi trường sinh lý bệnh bị thay đổi

đáng kể, bên cạnh các chuyển hóa thông thường khác. Do đó, yêu cầu về nâng cao tính

sinh khả dụng của các hoạt chất được đặt ra và công nghệ vi bao bằng kỹ thuật sấy phun

được minh chứng có nhiều lợi thế trong mục tiêu này [84].

Trên thực tế, vi bao bằng kỹ thuật sấy phun là lựa chọn ưu tiên trong vi bao gói các

hợp chất tự nhiên có hoạt tính chống đái tháo đường, kết quả tóm tắt ở Bảng 1.3. Các

kết quả cho thấy, các hợp chất này có thể được vi bao gói tốt bằng kỹ thuật sấy phun,

sản phẩm có độ ổn định dưới các tác động môi trường, và đặc biệt là khả năng kiểm soát

giải phóng hoạt chất tốt trong điều kiện tiêu hóa. Các nghiên cứu này đề xuất rằng, các

sản phẩm sấy phun đều có tiềm năng ứng dụng trong các lĩnh vực liên quan, trong đó có

phòng chống đái tháo đường. Tuy nhiên, các nghiên cứu đề cập trực tiếp đến khả năng

kiểm soát đường huyết và chống đái tháo đường của các sản phẩm sau khi bao gói vẫn

còn hạn chế [84]. Điều này mở ra các hướng nghiên cứu mới về hoạt tính chống đái tháo

đường của sản phẩm vi bao bằng sấy phun, các cơ chế tác động mới có thể xảy ra do sự

kết hợp của các hoạt chất và vật liệu vi bao gói, các hiệu quả tác động dài hạn cũng như

khả năng kiểm soát các tác dụng phụ không mong muốn của các chiết xuất/hợp chất tự

nhiên cũng có thể được quan tâm.

35

1.6. Mô hình cá ngựa vằn trong nghiên cứu đái tháo đường

1.6.1. Các lợi thế của mô hình cá ngựa vằn

Mô hình cá ngựa vằn (Zebrafish, Danio rerio), đối tượng nghiên cứu hấp dẫn trong

lĩnh vực y sinh học trong thời gian gần đây, được sử dụng rộng rãi để đánh giá tính an

toàn và khả năng hạ đường huyết của các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học một

cách hiệu quả [149]. Cá ngựa vằn có chung một số lượng đáng kể đặc tính di truyền và

một số hệ thống cơ quan tương tự như ở người. Bộ gene của cá ngựa vằn được giải trình

tự đầy đủ, cung cấp nền tảng và cơ sở quan trọng để tìm hiểu, làm rõ cơ chế sinh học

[156]. Mức độ tương đồng gene liên quan đái tháo đường ở cá ngựa vằn và con người

là gần 70%. Đặc điểm bệnh học ĐTĐ có liên quan với hoạt động bất thường của nhiều

gene, và sự điều chỉnh của chúng cho thấy độ tương đồng cao giữa cá ngựa vằn, chuột

và con người [197].

Tuyến tụy của cá ngựa vằn có cấu trúc cơ bản và thành phần tế bào tương tự như

tuyến tụy của động vật có vú, quan trọng hơn là sự tương đồng về chức năng duy trì cân

bằng glucose [173]. Đặc điểm phát sinh hình thái và cấu trúc cơ bản của tụy cá ngựa

vằn khá giống với tụy động vật có vú ở cả thành phần nội tiết và ngoại tiết. Các thành

phần nội tiết bao gồm tế bào α tiết glucagon, tế bào β tiết insulin, tế bào δ tiết

somatostatin, tế bào ε tiết ghrelin, và tế bào tuyến tụy tiết polypeptide (Pancreatic

polypeptide cells, PPCs). Các tế bào này cũng được sắp xếp tương tự như ở chuột. Tín

hiệu phân tử và cơ chế phát triển tuyến tụy cá ngựa vằn rất tương đồng với các con

đường ở động vật có vú. Ngoài tuyến tụy, sự phát triển và chức năng của hệ cơ quan liên

quan đến cân bằng glucose nội môi gồm não, gan, mô mỡ, cơ vân cũng được bảo tồn.

Đáng chú ý, cá ngựa vằn có nhiều tương đồng về sinh lý và chức năng đường tiêu hóa

với con người, cho phép xây dựng mô hình nghiên cứu mối liên hệ giữa hệ vi sinh đường

ruột và vật chủ trong các con đường chuyển hóa liên quan [407]. Các đặc điểm nêu trên

khiến cá ngựa vằn trở thành một mô hình có hiệu quả để xác định các mục tiêu điều trị

liên quan đến tác động kiểm soát đường huyết đa mục tiêu đối với nhiều mô/cơ quan

khác nhau [429].

Các báo cáo khoa học cho thấy cá ngựa vằn sẽ tăng đường huyết nếu chế độ ăn/môi

trường dinh dưỡng có hàm lượng glucose cao [64] và đường huyết cao kéo dài có liên

quan đến bệnh võng mạc và các triệu chứng bệnh lý khác, tương tự như bệnh nhân mắc

bệnh đái tháo đường [134]. Ngoài ra, cá ngựa vằn cũng đáp ứng tốt với các thuốc điều

trị bệnh đái tháo đường như glipizide hay metformin [113]. Do đó, cá ngựa vằn là một 36

mô hình nghiên cứu tiềm năng, hiệu quả về cơ chế bệnh sinh cũng như phương pháp

tiếp cận điều trị bệnh đái tháo đường [339].

Bên cạnh đó, cá ngựa vằn tương đối rẻ tiền để duy trì gây nuôi trong phòng thí

nghiệm, có thể tạo ra số lượng lớn cá thể mới và tốc độ sinh trưởng nhanh, giúp giảm

thời gian và chi phí thực nghiệm. Trên thực tế, các nghiên cứu sử dụng mô hình cá ngựa

vằn đang mở rộng nhanh chóng, trong đó có nhiều nghiên cứu về cơ chế bệnh sinh của

một số bệnh phổ biến ở người như các bệnh về máu và phát sinh mạch máu, loạn dưỡng

cơ, thoái hóa thần kinh, rối loạn chuyển hóa lipid và đái tháo đường [328, 339].

1.6.2. Các nghiên cứu về rối loạn kiểm soát đường huyết và đái tháo đường trên cá

ngựa vằn

1.6.2.1. Các phương pháp gây tăng đường huyết và đái tháo đường

Các phương pháp khác nhau đã được phát triển để gây dựng các mô hình bệnh đái

tháo đường trên cá ngựa vằn bao gồm đái tháo đường tuýp 1, đái tháo đường tuýp 2

[62]. Hình 1.11 mô tả tổng quan các phương pháp gây mô hình bệnh đái tháo đường và

các nghiên cứu liên quan có thể được thực hiện trên cá ngựa vằn. Đái tháo đường tuýp

1, với đặc trưng về thoái hóa tuyến tụy, mất khả năng sản sinh insulin có thể được mô

phỏng trên cá ngựa vằn bằng các phương pháp phá hủy tế bào β sử dụng streptozotocin

hoặc alloxan, cắt bỏ hoặc chỉnh sửa các gene liên quan [62]. Trong khi đó, đái tháo

đường tuýp 2, liên quan đến các tác động của môi trường và gene gây kháng insulin,

được tạo thành bằng cách thực hiện các chế độ ăn giàu chất béo, nuôi trong môi trường

giàu glucose hoặc sử dụng công cụ chỉnh sửa gene hiện đại để mô phỏng tình trạng

kháng insulin. Trạng thái đái tháo đường dễ dàng được xác nhận bằng các công cụ phân

tích thường quy và tương đồng với các mô hình động vật khác, trong đó, sự gia tăng

đường huyết mạn tính là đặc trưng cơ bản dễ dàng được xác nhận [62].

1.6.2.2. Các nghiên cứu liên quan đái tháo đường trên cá ngựa vằn

Sự khởi phát, tiến triển và biến chứng của đái tháo đường: Phôi cá ngựa vằn phát

triển bên ngoài cơ thể, ấu trùng trong suốt cho phép theo dõi quá trình phát triển ở giai

đoạn sớm dễ dàng bằng các công nghệ hình ảnh hiện đại [170]. Động lực phát triển, sự

hình thành và phân hóa chức năng của tế bào β tuyến tụy, sự tương tác của chúng với

các mô cơ quan khác cũng được đánh giá trong thời gian thực, cung cấp các thông tin

quan trọng về sinh lý bệnh [213, 240]. Ngoài ra, tác động của đường huyết lên sự hình

thành và phát triển của các cơ quan ở giai đoạn sớm cũng có thể được quan sát dễ dàng,

từ đó có thể đánh giá được khả năng phát triển các biến chứng của đái tháo đường [198]. 37

Trên thực tế, các biến chứng do tăng đường huyết kéo dài có thể ghi nhận trên cá ngựa

vằn với tính tương đồng cao với người như mắt, thần kinh, tim mạch, thận, da, và chức

năng miễn dịch (Hình 1.11) [62].

Hình 1.11. Các phương pháp gây tăng đường huyết, đái tháo đường và mô hình nghiên cứu các biến chứng do đái tháo đường sử dụng cá ngựa vằn (theo Cao et al., 2023)

Tác động của các gene, các con đường chuyển hóa và chức năng của mô/cơ quan:

Hệ gene và các con đường trao đổi chất cá ngựa vằn có mức độ tương đồng khá cao với

động vật có vú và con người, đặc biệt là các gene liên quan đến kiểm soát đường huyết

trong đái tháo đường [156, 430]. Các nghiên cứu hiện đại có thể can thiệp vào hệ gene

của cá ngựa vằn để tạo ra mô hình đái tháo đường hoặc nghiên cứu ảnh hưởng của một

số gene nhất định lên quá trình chuyển hóa glucose và tín hiệu insulin [342]. Ngoài ra,

bằng phương pháp tác động vào chế độ ăn hoặc dùng các hợp chất tác động phù hợp có

thể tạo nên trạng thái tăng đường huyết hoặc kháng insulin, cho phép đánh giá tác động

giữa cân bằng glucose nội môi và các phương pháp điều trị mới [64, 429, 430].

Sàng lọc thuốc điều trị đái tháo đường: Mô hình cá ngựa vằn có thể giúp sàng lọc

quy mô lớn các loại thuốc điều trị bệnh lý chuyển hóa tiềm năng, trong đó có bệnh đái

tháo đường. Các loại thuốc được sàng lọc có thể liên quan đến sự chuyển hóa glucose,

sự phát triển tế bào β tụy, tín hiệu insulin, cung cấp nền tảng để xác định các loại thuốc

mới hoặc đánh giá thêm tác động mới của các loại thuốc hiện có [367, 391].

38

Các nghiên cứu về rối loạn hành vi liên quan đái tháo đường: Hành vi cá ngựa vằn

bị ảnh hưởng bởi nồng độ glucose và tín hiệu insulin [226]. Các nhà nghiên cứu có thể

tiến hành các thử nghiệm hành vi để nghiên cứu tác động của các yếu tố liên quan đến

bệnh đái tháo đường đối với hoạt động vận động, hành vi ăn uống và chức năng nhận

thức [128].

1.7. Thực trạng và hướng tiếp cận nghiên cứu

Vai trò quan trọng của các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học đã được khẳng

định trong các nền y học cổ truyền lâu đời cho đến y học hiện đại. Ngoài công dụng làm

thuốc chữa bệnh, chúng còn cung cấp các khuôn mẫu về cấu trúc, giúp thúc đẩy phát

triển sản phẩm dược phẩm mới bằng con đường tổng hợp hóa học [108]. Do đó, cây

thuốc và các hợp chất tự nhiên là nguồn cung cấp dồi dào các hướng tiếp cận mới trong

điều trị, thu hút ngày càng nhiều các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Thị trường

thuốc chữa bệnh đái tháo đường hiện nay trên thế giới có khoảng 25% được sản xuất từ

thực vật. Hiện nay, có hơn 1.000 loài thực vật có khả năng sử dụng trong điều trị bệnh

đái tháo đường tuýp 2 trên thế giới. Trong đó, có 800 loài thu được từ kiến thức bản địa

của người dân địa phương [378].

Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đứng thứ 16 trên thế

giới về đa dạng sinh học [144]. Nền y học dân tộc Việt Nam có lịch sử phát triển lâu đời

với các bài thuốc sử dụng dược liệu có giá trị đã được kiểm chứng trong điều trị bệnh

thông thường và nan y. Từ đó, một số cây thuốc ở Việt Nam đã được nghiên cứu như lá

ổi, lá vối, lá sen, bằng lăng nước, trà xanh, khổ qua, quế, giảo cổ lam…. Trong đó một

số loài đã được nghiên cứu kỹ về thành phần hóa học, cơ chế tác dụng, và tiến hành tiêu

chuẩn hóa trên các dữ liệu khoa học. Nghiên cứu phát triển sản phẩm theo hướng hỗ trợ

điều trị đái tháo đường tuýp 2 từ nguồn cây thuốc ở Việt Nam do PGS.TS. Vũ Đức Lợi,

Trường ĐH Y dược Hà Nội, chủ trì năm 2023 đã xác định 8 loài cây có khả năng ức chế

đái tháo đường gồm: cam thảo đất (Seoparia dulics L.), húng quế (Ocimum basilicum),

thài lài trắng (Commelina diffusa Burm F.), dâu tằm (Morus alba L.), xoài (Mangifera

indica L.), chặc chìu (Tetracera scandens (L.) Merr.), dứa thơm (Pandanus

amaryllifolius). Trong đó, cây thài lài trắng đã được nghiên cứu phát triển thành công

sản phẩm hỗ trợ điều trị đái tháo đường gồm viên nang cao chiết và viêm cốm, dựa trên

dữ liệu hoa học từ 10 hoạt chất đã được phân lập.

39

Tây Nguyên là khu vực có đa dạng sinh học lớn nhất Việt Nam và là nơi có nhiều

cộng đồng sinh sống tại vùng đệm với nhiều bài thuốc dân gian quý chưa được nghiên

cứu toàn diện và có tính hệ thống. Các nghiên cứu thực hiện tại Viện Công nghệ Sinh

học và Môi trường, Trường Đại học Tây Nguyên cho thấy các cây thuốc thu thập tại

Đắk Lắk có khả năng chống oxy hóa tốt và có tiềm năng phòng trị bệnh đái tháo đường.

Các nghiên cứu phát hiện một số cây thuốc thuộc Chi Chiêu Liêu (gồm Teminalia atala,

Terminalia corticosa, Terminalia bellirica), Chân Danh (Euonymus laxiflorus Champ.),

Ổi rừng (Psidium guava L.) và Trâm vỏ đỏ (Syzygium zeylanicum (L.) DC.) có khả năng

chống oxy hóa cao, làm chậm quá trình tăng đường huyết sau ăn và an toàn trên mô hình

động vật ở nồng độ có hoạt tính. Trong số đó, thành phần, cấu trúc hóa học và hoạt chất

của một số loài được nghiên cứu khá đầy đủ và đã được công bố trên các tạp chí khoa học

có uy tín [259, 262-264, 266, 269, 393].

Tác dụng chống đái tháo đường dựa trên tính an toàn cao và khả năng ứng dụng điều

trị trên lâm sàng cho bệnh nhân mắc đái tháo đường tuýp 1 và tuýp 2 của các loài thuộc

Chi Trâm đã được công bố. Tuy nhiên, các dữ liệu hiện có chủ yếu dựa trên chiết xuất

hoặc cao chiết phân đoạn, và có rất ít nghiên cứu về phân lập hoặc xác định các dẫn xuất

của hợp chất có hoạt tính sinh học [442]. Bên cạnh đó, các báo cáo chủ yếu tập trung ở

một số loài được ghi nhận hoạt tính chống đái tháo đường từ khá lâu, trong khi khả năng

này ở các loài khác cũng cần được quan tâm, khai thác thêm như S. densiflorum, S.

mundagam, và đặc biệt là S. zeylanicum (L.) DC., Trâm vỏ đỏ. Trâm vỏ đỏ thu thập tại

Đắk Lắk có tiềm năng ứng dụng hỗ trợ kiểm soát đường huyết và phòng trị đái tháo

đường cao, trong số nhiều cây thuốc được nghiên cứu và công bố trong thời gian gần

đây [259, 262-264, 266, 269, 393]. Tuy nhiên, khả năng ứng dụng của Trâm vỏ đỏ mới

chỉ được khảo sát và đánh giá bước đầu ở mức độ cao chiết/chiết xuất. Thông tin khoa

học về các hợp chất, dẫn xuất và cơ chế tác động cụ thể còn chưa được nghiên cứu đầy

đủ và có hệ thống. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về khả năng bảo vệ hoạt tính, tăng cường

khả năng tác động trên các mô hình in vivo, đánh giá độc tính và các đánh giá chuyên sâu

hơn nhằm đưa ra cách tiếp cận ứng dụng cụ thể còn chưa được tiến hành.

Vi bao gói các chiết xuất/cao chiết có hoạt tính sinh học từ các loài cây thuộc Chi

Trâm đã bước đầu được đề cập trong thời gian gần đây và dữ liệu cho thấy những kết quả

ứng dụng tiềm năng. Maia et al. (2019) nghiên cứu bao gói chiết xuất từ vỏ quả S.

malaccense (L.) bằng phương pháp sấy phun và sấy thăng hoa. Kết quả cho thấy, hiệu

40

suất bao gói cao ở cả hai phương pháp, trong đó phương pháp sấy phun cho hiệu quả cao

gói hoạt chất cao hơn và cho kích thước hạt bé hơn, phù hợp hơn trong việc ứng dụng bao

gói cao chiết [220]. Mohamed Abdin et al. (2020) đã báo cáo về khả năng sử dụng các

dẫn xuất alginate làm vật liệu bao gói cho chiết giàu polyphenol từ hạt S. cumini với hiệu

suất bao gói 75% và sản phẩm vi bao có độ bền nhiệt cao đến 180,36 °C. Nhóm nghiên

cứu chỉ ra rằng việc sử dụng vật liệu bao gói phù hợp có thể làm gia tăng khả năng giữ ổn

định các hoạt chất polyphenol trong môi trường acid dạ dày và giúp giải phóng các hợp

chất này ở ruột [5]. Trong một báo cáo khác, Mohamed Abdin et al. (2021) đã tiến hành

bền hóa anthocynin từ S. cumini với sodium alginate, maltodextrin, chitosan và gum

arabic qua hai bước bao gói nối tiếp, hiệu suất bao gói đạt 92,4% và giảm mức độ phân

hủy anthrocyanin 3,98% [4]. Kết quả này một lần nữa chứng minh khả năng bền hóa các

hợp chất tự nhiên bằng kỹ thuật vi bao để ứng dụng trong phát triển thực phẩm chức năng.

Tuy nhiên, hoạt tính sinh học của các sản phẩm vi bao và minh chứng về khả năng

ứng dụng trên các mô hình thực nghiệm còn hạn chế. Nurliana et al. (2020) bao gói tinh

dầu từ lá S. aromaticum bằng maltodextrin và đánh giá khả năng ức chế E.coli của sản

phẩm vi bao. Kết quả cho thấy, hoạt tính kháng khuẩn thay đổi theo tỷ lệ cơ chất và vật

liệu vi bao, dẫn đến yêu cầu tối ưu hóa điều kiện vi bao, trong đó tỷ lệ cơ chất và vật liệu

bao gói cần được chú ý để sản phẩm có hoạt tính cao nhất [257]. Birje et al. (2018) sử

dụng β-cyclodextrin vi bao cao chiết từ S. aromaticum và đánh giá hoạt tính ức chế α-

glucosidase, kết quả cho thấy quá trình vi bao gói làm gia tăng hoạt tính ức chế α-

glucosidase [48]. Nghiên cứu này mở ra khả năng ứng dụng công nghệ vi bao nhằm bền

hóa, thậm chí có thể gia tăng hoạt tính của các hoạt chất có hoạt tính sinh học cao trong

chi Trâm nhằm ứng dụng trong hỗ trợ kiểm soát đường huyết và phòng trị đái tháo đường.

41

Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu nghiên cứu

2.1.1. Vật liệu

Mẫu vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ được thu thập tại Khu bảo tồn thiên nhiên Easo, Ea

Kar, Đắk Lắk vào tháng 6/2020, trên các cây có độ tuổi từ 5 – 7 năm; Quá trình thu thập

và sơ chế theo tài liệu hướng dẫn của Institute of Materia Medica - HANOI -

WHO/WPRO WHO/WPRO (Medicinal Plants in Vietnam, 1990). Sau khi thu thập, mẫu

được loại phần vỏ bần, cắt lát nhỏ và làm khô ở nhiệt độ phòng (28 – 32 °C) trong điều

kiện thông gió tích cực đến khi đạt độ ẩm không quá 8%. Sau đó mẫu được nghiền nhỏ,

°C cho đến khi sử dụng. Đặc điểm mẫu vỏ thân và bột được mô tả ở Hình 2.1

rây qua lỗ kích thước 2 mm. Bột vỏ thân được bảo quản trong túi PE đen ở nhiệt độ –30

Hình 2.1. Mẫu vỏ thân và bột vỏ thân Trâm vỏ đỏ

Vật liệu bao gói chính là Maltodextrin kháng tiêu hóa (Digestion-resistant

maltodextrin, RMD, Fibersol-2) của hãng Matsutani Chemical Industry Co., Ltd. (Nhật

Bản) với hàm lượng chất xơ thực phẩm hòa tan ≥ 90%, đương lượng dextrose (Dextrose

Equivalence, DE: 8-12.5). RMD có cấu trúc hóa học phân nhánh phức tạp bao gồm các

liên kết α(1-4), α(1-6), α (1-2), và α(1-3) glucoside. Cấu trúc phân nhánh này có khả

năng chống lại các enzyme tiêu hóa của con người và không được hấp thụ ở ruột non

[276]. Các vật liệu bao gói phụ gồm: Gum Arabic, α-cyclodextrin, β-cyclodextrin và γ-

cyclodextrin của hãng Wacker Chemie AG (Đức).

2.1.2. Hóa chất và môi trường nuôi cấy

Hóa chất: Folin-Ciocalteu reagent được mua từ hãng Merck (Đức). Gallic acid,

catechin, epicatechin, caffeine, ethyl gallate, rutin, ellagic acid, quercetin, quercitrin, 42

apigenin, chlorogenic acid, 2,2-Diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH), 2,2′-azino-bis-(3-

ethylbenzothiazoline-6-sulfonic acid) (ABTS), 6-hydroxy-2,5,7,8-tetramethylchroman-

2-carboxylic acid (Trolox), acarbose, 3,5-Dinitrosalicylic acid, p–nitrophenyl-α-D-

Glucopyranoside, Potassium Sodium Tartrate Tetrahydrate (PSTT) và Dinitrosalicylic

acid (DNS), α-amylase tuyến tụy và α-glucosidase nấm men của hãng Sigma-Aldrich

(St Louis, MO, Hoa Kỳ). Maltodextrin (MD, MAX1000® series) của hãng Matsutani

Chemical Industry Co., Ltd. (Nhật Bản). Sodium carbonate, ethanol, methanol và acetic

acid của hãng Xilong Scientific Co. Ltd. (Trung Quốc). Các hóa chất và thuốc thử còn

lại đạt yêu cầu ở cấp độ phân tích.

Môi trường nuôi cấy: Môi trường nuôi cấy hại khuẩn, Mueller-Hinton Broth (MHB)

của hãng HiMedia Laboratories (Hoa Kỳ). Môi trường nuôi cấy lợi khuẩn MRS

(Lactobacillus Agar acc. to De Man, Rogosa and Sharpe) của hãng Sigma-Aldrich (St

Louis, MO, Hoa Kỳ)

2.1.3. Vi sinh vật

Echesteria coli ATCC25923 và Staphylococcus aureus ATCC25923 được cung cấp

bởi Trung tâm tài nguyên sinh vật toàn cầu (ATCC: American Type Culture Collection):

The Global Bioresource Center, Hoa Kỳ). Lactobacillus casei được cung cấp bởi Viện

Công nghệ Sinh học và Thực phẩm, Trường Đại học Cần Thơ, Việt Nam.

2.1.4. Cá ngựa vằn

Cá ngựa vằn được cung cấp bởi Trung tâm Công nghệ Sinh học Thành phố Hồ Chí

Minh. Thực nghiệm tiến hành trên cá ngựa vằn được tiến hành theo tuân theo “Nghị

định thư Cartagena về an toàn sinh học”, “Đạo luật về bảo tồn và sử dụng bền vững đa

dạng sinh học thông qua các quy định về sử dụng các sinh vật biến đổi gene” và “Hướng

dẫn chăm sóc và sử dụng động vật trong phòng thí nghiệm tại ngành Công nghệ sinh

học” được Trung tâm Công nghệ sinh học Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt vào tháng

1 năm 2013 theo quyết định số 02/QD-CNSH

43

2.2. Nội dung nghiên cứu

Hình 2.2. Sơ đồ tổng quan tiến trình nghiên cứu

Nội dung 1. Đánh giá ảnh hưởng của trích ly phân đoạn đến khả năng kiểm soát đường

huyết đa mục tiêu của cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

+ Trích ly phân đoạn cao chiết thô, xác định hàm lượng polyphenol và flavonoid

tổng số của cao chiết thô và các loại cao chiết phân đoạn;

+ Đánh giá khả năng chống oxy hóa, kháng viêm, ức chế α-glucosidase và α-

amylase, kháng khuẩn và kích thích sinh trưởng lợi khuẩn của các loại cao chiết;

+ Đánh giá độc tính của các loại cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ trên mô hình cá

ngựa vằn;

+ Đánh giá khả năng kiểm soát đường huyết của cao chiết phân đoạn trên mô hình cá

ngựa vằn;

44

+ Đánh giá ảnh hưởng của cao chiết tiềm năng đến hệ vi sinh đường ruột trên mô

hình in vivo;

+ Đánh giá tác động của cao chiết tiềm năng đến điều hòa biểu hiện gene liên quan

kiểm soát đường huyết trên mô hình cá ngựa vằn;

Nội dung 2. Phân lập các hợp chất, định lượng và đánh giá tương quan với hoạt tính

sinh học của các loại cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

+ Phân lập và xác định cấu trúc của các hợp chất có hoạt tính sinh học từ cao chiết

tiềm năng;

+ Định lượng các hợp chất có hoạt tính sinh học trong các loại cao chiết;

+ Đánh giá tương quan giữa thành phần hoạt chất và hoạt tính sinh học của các loại

cao chiết;

Nội dung 3. Vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ và đánh giá khả năng kiểm soát

đường huyết đa mục tiêu của sản phẩm vi bao

+ Xác định điều kiện vi bao phù hợp bằng phương pháp sấy phun;

+ Đánh giá hoạt tính hạ đường huyết của sản phẩm vi bao trong điều kiện in vitro;

+ Đánh giá tính an toàn của sản phẩm vi bao trên mô hình cá ngựa vằn;

+ Đánh giá khả năng hạ đường huyết của sản phẩm vi bao trên mô hình cá ngựa vằn;

+ Đánh giá khả năng điều hòa biểu hiện một số gene liên quan kiểm soát đường

huyết của sản phẩm vi bao trên mô hình cá ngựa vằn;

+ Đánh giá hoạt tính kháng viêm in vitro và in vivo của sản phẩm vi bao;

Nội dung 4. Nghiên cứu xây dựng mô hình dự đoán thời hạn bảo quản của sản phẩm vi bao

+ Đánh giá tác động của điều kiện kích thích đến sự thay đổi độ ẩm và hàm lượng

polyphenol của sản phẩm vi bao theo thời gian bảo quản;

+ Đánh giá tác động của điều kiện kích thích đến sự thay đổi hoạt tính chống oxy

hóa và ức chế enzyme của sản phẩm vi bao theo thời gian bảo quản;

+ Xây dựng mô hình dự đoán thời hạn bảo quản của sản phẩm vi bao;

45

2.3. Phương pháp nghiên cứu và chỉ tiêu đánh giá

Nội dung 1. Đánh giá ảnh hưởng của trích ly phân đoạn đến khả năng kiểm soát đường

huyết đa mục tiêu của cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

Hình 2.3. Sơ đồ tiến trình thí nghiệm nội dung nghiên cứu số 1

2.3.1. Phương pháp trích ly cao chiết thô và các loại cao chiết phân đoạn

2.3.1.1. Phương pháp ly trích thu cao chiết thô

Bột vỏ thân được trích ly bằng phương pháp ngâm kiệt với ethanol, định hướng ứng

dụng trong thực tiễn nhờ tính an toàn và hiệu quả trích ly cao các hợp chất của dung môi

này. Các điều kiện trích ly dựa trên các kết quả thí nghiệm thăm dò và được mô tả như

sau: Bột vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ được trích ly bằng dung môi ethanol 50% trong nước

cất với tỷ lệ bột:dung môi là 1:10 (w/v) trong 24 giờ. Quá trình lặp lại ít nhất 3 lần cho

đến khi dịch chiết thu được không còn màu đặc trưng. Các dịch trích ly được trộn đều,

lọc bỏ cặn qua giấy lọc Whatman No.1, thu dịch. Dịch thu nhận được loại bỏ dung môi

bằng thiết bị cô quay chân không IKA RV10 (IKA, Đức) ở 60 °C, sau đó làm khô hoàn

toàn bằng phương pháp sấy thăng hoa Operon (Operon FBD-5503, Hàn Quốc) ở điều

46

kiện – 56 °C, áp suất 0,001 Mbar. Cao chiết thô (hiệu suất trích ly đạt 15,67 %) được

bảo quản ở – 80 °C đến khi sử dụng.

Hình 2.4. Sơ đồ tiến trình tách phân đoạn cao chiết (theo Nguyen et al., 2021)

2.3.1.2. Phương pháp trích ly phân đoạn

Cao chiết thô được phân bố trong nước cất và tiến hành trích ly phân đoạn với các

dung môi có độ phân cực khác nhau theo phương pháp được mô tả bởi Nguyen et al.

(2021) [265]. Quy trình trích ly phân đoạn được mô tả trong Hình 2.4. Phân đoạn hexane

47

(HF) được thu nhận và phần dung dịch nước còn lại tiếp tục được chiết phân đoạn với

chloroform (CF), ethyl acetate (EAF) và n-butanol (BF). Quá trình lặp lại ít nhất 3 lần

cho mỗi phân đoạn đến khi dịch chiết thu được không còn màu đặc trưng. Các phân

đoạn được thu nhận và làm khô bằng phương pháp bay hơi trong chân không. Hiệu suất

trích ly cao phân đoạn ethyl acetate và n-butanol lần lượt là 1,544% và 3,847% (hiệu

suất trích ly của phân đoạn hexane và chloroform là không đáng kể). Dung dịch nước

cuối cùng (phân đoạn nước, WF) được lọc và làm khô hoàn toàn bằng phương pháp sấy

thăng hoa ở điều kiện – 56 °C, áp suất 0,001 Mbar (Operon FBD-5503, Hàn Quốc) (hiệu

suất trích ly đạt 10,324%). Các loại cao chiết được bảo quản ở – 80 °C đến khi sử dụng.

2.3.2. Phương pháp xác định hàm lượng polyphenol và flavonoid tổng số

2.3.2.1. Phương pháp xác định hàm lượng polyphenol tổng số

Hàm lượng polyphenol tổng số được xác định theo phương pháp Folin–Ciocalteu

[119] với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả lại bởi Nguyen và Eun (2011) [261]. Nguyên

tắc định lượng dựa trên phản ứng màu đặc trưng của các hợp chất polyphenol với thuốc

thử Folin-Ciocalteu. Hàm lượng polyphenol tổng số mô tả thông qua đường chuẩn gallic

acid, xây dựng bằng phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử ở bước sóng 765 nm. Chi

tiết phương pháp mô tả ở Phụ lục 1, P.1.1.

2.3.2.2. Phương pháp xác định hàm lượng flavonoid tổng số

Tổng hàm lượng flavonoid được xác định theo phương pháp so màu tiến hành bởi

Zhishen et al. (1999) [437] với một số thay đổi nhỏ được mô tả lại bởi Nguyen và Eun

(2011) [261]. Hàm lượng flavonoid được mô tả thông qua đường chuẩn quercetin, xây

dựng bằng phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử ở bước sóng 510 nm. Chi tiết

phương pháp mô tả ở Phụ lục 1, P.1.2.

2.3.3. Phương pháp đánh giá một số hoạt tính sinh học trên mô hình in vitro

2.3.3.1. Phương pháp đánh giá khả năng dập tắt gốc tự do DPPH• và ABTS•+

Khả năng chống oxy hóa được đánh giá dựa trên khả năng trung hòa gốc tự do

DPPH• và ABTS•+. Nguyên tắc phương pháp dựa trên sự suy giảm hàm lượng các gốc

tự do dưới tác dụng của các chất chống oxy hóa có trong mẫu. Trong đó, khả năng trung

hòa gốc tự do DPPH• được tiến hành bằng phương pháp so màu theo Brand-Williams et

al. (1995) [51] với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả lại bởi Nguyen et al. (2016) [262].

Khả năng trung hòa gốc tự do ABTS•+ được tiến hành theo phương pháp so màu tiến

48

hành bởi Re et al. (1999) [318] với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả bởi Nguyen et al.

(2022) [260]. Chi tiết phương pháp mô tả ở Phụ lục 1, P.1.3.

2.3.3.2. Phương pháp đánh giá khả năng kháng viêm in vitro

Hoạt tính kháng viêm in vitro của các loại cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ được

đánh giá thông qua khả năng ức chế biến tính albumin trứng tươi theo phương pháp

được mô tả bởi Dharmadeva et al. (2018) [98]. Chi tiết phương pháp mô tả ở Phụ lục 1,

P.1.4.

2.3.3.3. Xác định khả năng ức chế hoạt động các enzyme tiêu hóa tinh bột

Khả năng ức chế hoạt động của các enzyme tiêu hóa tinh bột, α-amylase và α-

glucosidase được xác định bằng các phương pháp được tiến hành bởi Kwon et al. (2016)

[185] với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả bởi Nguyen et al. (2016) [262]. Chi tiết

phương pháp mô tả ở Phụ lục 1, P.1.3.

2.3.3.4. Phương pháp đánh giá khả năng kháng khuẩn và kích thích sinh trưởng lợi

khuẩn trong điều kiện in vitro

a. Đánh giá khả năng đối kháng vi khuẩn gây bệnh

Khả năng đối kháng vi khuẩn gây bệnh của các loại cao chiết phân đoạn được đánh

giá bằng phương pháp khuếch tán đĩa thạch theo mô tả của Singh et al. (2016) [354]. Vi

khuẩn gram âm (Escherichia coli ATCC25922) và gram dương (Staphylococcus aureus

ATCC25923) được lựa chọn làm chủng vi khuẩn mục tiêu. Cụ thể, 100 µL dịch vi khuẩn

được phân tán đều trong môi trường Luria-Bertani (LB) rắn, giữ yên 30 phút để cố định.

Sau đó, các lỗ thạch đường kính 6 mm được chuẩn bị trước khi bổ sung 100 µL dung

dịch cao chiết với các nồng độ khác nhau. Tetracycline được chuẩn bị với nồng độ 0,1

mM làm đối chứng dương. Các đĩa nuôi cấy được ủ trong ở 37 °C trong 24h. Hoạt tính

đối kháng vi khuẩn gây bệnh của cao chiết phân đoạn được đánh giá thông qua kích

thước vùng ức chế (zone of inhibition, ZOI, mm), vùng không ghi nhận khuẩn lạc vi

khuẩn sau 24 giờ nuôi cấy.

b. Xác định giá trị nồng độ ức chế tối thiểu (Minimum Inhibitory Concentration - MIC)

đối với vi khuẩn gây bệnh

Nồng độ ức chế tối thiểu đối với E. coli và S. aureus được xác định dựa trên phương

pháp resazurin-based turbidometric (TB) được mô tả bởi Teh et al. (2017) [371]. Chi tiết

phương pháp mô tả ở Phụ lục 1, P.1.6.

49

c. Phương pháp đánh giá khả năng kích thích sinh trưởng lợi khuẩn trong điều kiện

tăng đường huyết in vitro

Hoạt tính kích thích sinh trưởng lợi khuẩn trong điều kiện tăng đường huyết in vitro

được thực hiện theo phương pháp mô tả bởi Xie et al. (2017) [410]. Mỗi giếng trên đĩa

96 giếng đáy tròn được bổ sung 255 µL môi trường nuôi cấy và 15 µL dung dịch cao

chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ ở các nồng độ khác nhau 0; 0,25; 0,50; 0,75; 1,00; 1,25;

1,50; 1,75, và 2,00 mg/mL. Tiếp theo, bổ sung 30 µL dịch huyền phù vi khuẩn (106 tế

bào/mL, độ đục tương đương 0,5 McFarland) trong môi trường thích hợp vào mỗi giếng,

sau đó ủ trong điều kiện kỵ khí 37 ± 0,5 °C (5 % CO2) trong 24 giờ. Thực nghiệm tương

tự được tiến hành với môi trường nuôi cấy chứa glucose (0,8 g/L) để đánh giá tác động

của điều kiện tăng đường huyết. Khả năng ức chế hay kích thích sự phát triển của lợi

khuẩn được đánh giá dựa trên sự khác biệt về độ đục của dịch nuôi cấy so với đối chứng

không bổ sung cao chiết. Sau 24 giờ, mật độ quang học (optical density, OD) của các

giếng được xác định ở bước sóng 600 nm sử dụng máy Microplate reader (Hidex, Turku,

Phần Lan). Sự khác biệt về OD600nm giữa các giếng bổ sung cao chiết vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ và đối chứng âm (đường cơ sở, không bổ sung cao chiết) cho biết cao chiết có khả

năng ức chế hay kích thích sinh trưởng lợi khuẩn.

2.3.4. Phương pháp đánh giá khả năng kiểm soát đường huyết trên mô hình cá

ngựa vằn

2.3.4.1. Chế độ nuôi dưỡng cá ngựa vằn trong thí nghiệm

Cá ngựa vằn (Zebrafish, Danio rerio) được nuôi trong điều kiện tiêu chuẩn phòng

thí nghiệm cá ngựa vằn theo hướng dẫn của Westerfield et al. (2000)

(https://zfin.org/zf_info/zfbook/zfbk.html) [399]. Nước sạch đạt chuẩn được khử chlor

trước khi cấp vào hệ thống nuôi. Cá được nuôi trong hệ thống tuần hoàn liên tục, trong

đó nước sau khi ra khỏi bể nuôi được dẫn qua hệ thống lọc ba cấp gồm lọc thô, lọc tinh,

lọc than hoạt tính và lọc UVC để giảm thiểu các tác nhân gây ô nhiễm trước khi cấp lại

vào bể nuôi. Cặn bẩn, chất thải của cá, thức ăn thừa được hút sạch hằng ngày bằng

siphon. Môi trường nuôi được giữ ở pH 6,8 – 7,0, nhiệt độ 28±1 °C, chu kỳ ánh sáng 14

giờ (sáng)/10 giờ (tối) và bơm không khí cung cấp đủ oxy. Mật độ cá được thiết lập ở

mức 12-15 con trưởng thành/4 L. Cá được cho ăn với lượng 20 mg/con/ngày thức ăn

tiêu chuẩn dành cho cá Otohime B2 (kích thước 360 – 650 µm; độ ẩm 6,3 %; hàm lượng

protein 56,3 %; béo 15,9 %; xơ 2,6 %; tro khoáng 13,5 %; Ca 2,5 %; P 2,3 %; Vit.A

50

10.000 IU/kg; Vit.D3 2.000 IU/kg; Vit.E (a-tocopherol) 1.250 mg/kg; Cu 7,0 mg/kg; Mn

31,8 mg/kg; được công bố bởi nhà sản xuất Marubeni Nisshin Feed Co., Ltd., Nhật Bản).

2.3.4.2. Phương pháp đánh giá tính an toàn của các cao chiết trên mô hình cá ngựa vằn

Đánh giá độc tính của các loại cao chiết trên mô hình cá ngựa vằn để xác định

ngưỡng an toàn khi xử lý trên mô hình đái tháo đường và hạ đường huyết sau ăn. Quá

trình tiến hành trên 2 phương pháp: Phương pháp ngâm cao chiết với dung dịch nuôi ở

cá con theo hướng dẫn của OECD 203 [272] đánh giá được độc tính của cao chiết qua

các con đường khác nhau gồm hô hấp, da, mắt và đường uống và phương pháp cho ăn

cưỡng bức theo hướng dẫn của OECD 423 [271] đánh giá độc tính cấp qua đường uống

của cao chiết. Tiến hành thử nghiệm trên cá trưởng thành 3-4 tháng tuổi, khối lượng 300

– 400 mg/con. Mỗi lô thí nghiệm được chuẩn bị với 7 con cá (3 đực và 4 cái), khối lượng

từ 0,3 - 0,6 g/con. Cá được cho ăn cao chiết với liều lượng 5.000 mg/kg cá bằng phương

pháp cho ăn cưỡng bức (force-feeding) được mô tả bởi Collymore et al. (2013) [70].

Tính an toàn của cao chiết được theo dõi tỷ lệ chết và tình trạng của cá trong 72 giờ và

tiếp tục theo dõi trong 7 ngày. Mức độ an toàn được xác định theo quy chuẩn

OECD/OCDE, 423.

Độc tính theo OECD 203 được tiến hành trên cá 5 ngày tuổi, mỗi lô thí nghiệm gồm

10 con, thí nghiệm được lặp lại 3 lần (tổng số cá là 30 con/1 nồng độ). Thí nghiệm được

tiến hành ở dãy nồng độ pha loãng nhị phân từ nồng độ giới hạn cho phép đánh giá theo

hướng dẫn là 100 mg/L dịch nuôi. Tỷ lệ cá chết sau 96 giờ ở các nồng độ khác nhau

được theo dõi và xác định giá trị 𝐿𝐷50 và nồng độ an toàn đối với cá ngựa vằn. 𝐿𝐷50 là

nồng độ gây chết 50% động vật nghiên cứu. 𝐿𝐷50 được xác định theo công thức của

Karbers như sau:

(2.1) 𝐿𝐷50 = 𝐿𝐷100 − ∑(𝑎 × 𝑏) /𝑁

trong đó, LD100 là liều thấp nhất gây chết 100% động vật thí nghiệm; N là số động vật

thí nghiệm trong 1 nhóm; a là sự khác biệt về liều giữa 2 liều liên tiếp; b là số cá thể tử

vong trung bình giữa 2 nhóm liên tiếp.

Sau khi xác định nồng độ an toàn đối với ấu trùng cá ngựa vằn, phương pháp tương

tự được tiến hành với cá ngựa vằn trưởng thành nhằm đánh giá mức độ an toàn trước

khi tiến hành các thực nghiệm tiếp theo. Cụ thể, 7 con cá ngựa vằn (3 đực, 4 cái) với

khối lượng trung bình 300-400 mg được chia vào các lô thực nghiệm ngâm cao chiết

51

với hai nồng độ: (1) Nồng độ an toàn được xác định trên ấu trùng cá và (2) nồng độ gấp

đôi nồng độ an toàn. Số lượng cá chết và các dấu hiệu bất thường khác được ghi nhận

sau 96 giờ quan sát.

2.3.4.3. Phương pháp đánh giá khả năng làm chậm gia tăng đường huyết sau ăn

Cá ngựa vằn trưởng thành (300 – 400 mg /con) được nhịn ăn trong 12 giờ trước khi

thử nghiệm. Cá sau thời gian nhịn ăn được cho vào nước lạnh ở 4 oC để hạ thân nhiệt và

gây mê. Giai đoạn gây mê được xác nhận khi cá mất thăng bằng cử động vây và không

có phản ứng. Cá gây mê được cho ăn theo phương pháp tiến hành bởi Collymore et al.

(2013) [70]. Cá được chia thành sáu nhóm thực nghiệm (10 con/nhóm) và được cho ăn

với maltodextrin, acarbose, các loại cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ theo mô tả dưới

đây:

Nhóm 1: Maltodextrin được dùng ở mức 1 mg/g khối lượng cá (MD, đối chứng âm);

Nhóm 2: Maltodextrin (1 mg/g khối lượng cá) có bổ sung cao chiết phân đoạn ethyl

acetate (75 mg/kg khối lượng cá) (Ethyl acetate fraction, EAF);

Nhóm 3: Maltodextrin (1 mg/g khối lượng cá) có bổ sung cao chiết phân đoạn n-

butanol (75 mg/kg khối lượng cá) (Butanol fraction, BF);

Nhóm 4: Maltodextrin (1 mg/g khối lượng cá) có bổ sung cao chiết phân đoạn nước

(75 mg/kg khối lượng cá) (Water fraction, WF)

Nhóm 5: Maltodextrin (1 mg/g khối lượng cá) có bổ sung cao chiết thô (75 mg/kg

khối lượng cá) (Crude extract, CE)

Nhóm 6: Maltodextrin (1 mg/g khối lượng cá) có bổ sung thuốc điều trị đái tháo

đường, acarbose (75 mg/kg khối lượng cá) (ACA, đối chứng dương);

Sau khi cho ăn 30, 60, 120 và 180 phút, máu được lấy ở tĩnh mạch đuôi bằng kim

nhỏ theo phương pháp được tiến hành bởi Zang et al. (2015) [432]. Mức đường huyết

sau ăn được xác định bằng máy đo đường huyết (MulticareIn, Biochemical Systems

International, Italia).

2.3.4.4. Phương pháp đánh giá hiệu quả hạ đường huyết trên mô hình cá ngựa vằn đái

tháo đường

Cá ngựa vằn được gây đái tháo đường bằng phương pháp cho ăn thừa (Over-feeding)

với thức ăn giàu chất béo trong vòng 8 tuần, mô tả bởi Zang et al. (2017) [430]. Cá gây

52

đái tháo đường được nuôi với khối lượng thức ăn là 120 mg/con/ngày (6 lần/ngày).

Nhóm đối chứng cho ăn theo tiêu chuẩn với khối lượng 20 mg/con/ngày (2 lần/ngày).

Trạng thái đái tháo đường được xác định bằng chỉ số đường huyết lúc đói của cá đái

tháo đường với cá đối chứng hàng tuần. Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index - BMI)

được xác định theo mô tả bởi Zang et al. (2017) [430] và đường huyết được xác định

bằng máy đo đường huyết Multicare-In (Biochemical Systems International, Italia). Cá

bị đái tháo đường khi chỉ số đường huyết và chỉ số BMI gấp ít nhất 1,5 lần cá bình

thường. Cá đái tháo đường được chia thành các lô thí nghiệm theo các nhóm, mỗi nhóm

10 con (5 đực, 5 cái) như sau:

Nhóm 1: Cá bình thường (NOR, chế độ ăn bình thường)

Nhóm 2: Cá đái tháo đường (DIA, đối chứng âm, chế độ ăn bình thường)

Nhóm 3: Cá đái tháo đường ngâm cao Ethyl acetate (10 mg/L) (EAF, chế độ ăn bình

thường)

Nhóm 4: Cá đái tháo đường ngâm cao n-Butanol (10 mg/L) (BF, chế độ ăn bình

thường)

Nhóm 5: Cá đái tháo đường ngâm cao nước (10 mg/L) (WF, chế độ ăn bình thường)

Nhóm 6: Cá đái tháo đường ngâm cao chiết thô (10 mg/L) (CE, chế độ ăn bình

thường)

Nhóm 7: Cá đái tháo đường ngâm Metformin 20 µM (MET, đối chứng dương, chế

độ ăn bình thường)

Các nhóm cá được theo dõi trong 20 ngày và máu tĩnh mạch đuôi được lấy tại các

thời điểm 5 ngày, 10 ngày, 15 ngày và 20 ngày theo phương pháp Zang et al. (2013)

[431]. Mức đường huyết được đo bằng máy đo nhanh đường huyết (Multicare-In,

Biochemical Systems International, Italia).

2.3.4.5. Phương pháp đánh giá tác động của cao chiết đến hệ vi sinh vật đường ruột

của cá đái tháo đường

Sau hai giờ cho ăn, cá ngựa vằn được gây chết bằng nước đá. Sau đó, cá được khử

trùng toàn bộ bề mặt bằng ethanol 70%, và toàn bộ đường ruột của cá được thu nhận

bằng cách cẩn thận mổ và phân tách từ bụng cá. Quá trình được thực hiện trong điều

kiện vô trùng và việc phân tách được tiến hành tỉ mĩ để không bỏ sót các thành phần

đường ruột. Mẫu ruột sau đó được lưu trữ trong điều kiện vô trùng và chuyển đến trung 53

tâm phân tích. Các vùng siêu biến động V3-V4 của 16S rRNA được xác định bằng

phương pháp giải trình tự đầu cặp (paired-end sequencing) trên hệ thống giải trình tự

Illumina MiSeq (Illumina, Inc., USA), thực hiện tại Công ty TNHH Ktest Scientific, Tp.

Hồ Chí Minh, Việt Nam. Các bộ chuyển đổi, đoạn mồi và trình tự có chất lượng thấp

được loại bỏ bằng Trimmomatic ver.0.39 và Cutadapt ver.2.10. Các lần đọc được kết

hợp và xử lý để tạo ra biến thể chuỗi khuếch đại (amplicon sequence variant, ASV)

thông qua plugin q2-DADA2 và phương pháp loại bỏ nhiễu trong phần mềm QIIME2

[58]. Các loài tương ứng với ASVs được tra cứu với QIIME2 trên cơ sở dữ liệu SILVA

ver.138 SSURef Nr99 [309], sử dụng plugin phân loại tính năng q2 (the q2-feature-

classifier plugin) và kỹ thuật phân loại đồng thuận blast (the classify-consensus-blast

technique). QIIME2 được sử dụng để phân tích thành phần, biểu đồ nhiệt, phân tích chỉ

số đa dạng alpha và beta. Khi cần thiết, LefSe sẽ giúp xác định các phân loài có mật độ

khác nhau đáng kể trong một nhóm so với nhóm khác [337]. Các dự đoán chức năng

được thực hiện bằng PICRUSt2 vers.2.30b [106] và cơ sở dữ liệu MetaCyc.

2.3.4.6. Phương pháp đánh giá hiệu quả kiểm soát đường huyết qua điều hòa biểu hiện

gene liên quan đái tháo đường

Sau 20 ngày điều trị, toàn bộ cơ thể các ngựa vằn được thu nhận và bảo quản ở -80

°C để tiến hành phân tích biểu hiện gene bằng phản ứng chuỗi polymerase định lượng

gene thời gian thực (a real-time quantitative polymerase chain reaction, qRT-PCR) nhằm

đánh giá tác động của cao chiết lên mức độ biểu hiện hiện gene liên quan đái tháo đường.

RNA tổng số được trích ly từ toàn bộ cơ thể cá ngựa vằn sử dụng dung dịch

TRIsureTM Reagent (Meridian Bioscience, Meridian Life Science Inc., USA) theo

hướng dẫn của nhà sản xuất. RNA được làm khô và hoàn nguyên trở lại trong 500 µL

nước cất không chứa RNase. Nồng độ RNA tổng số được xác định bằng máy phân tích

quang phổ SmartSpectTMPlus Spectrophotometer (Bio-rad) tại bước sóng A260/A280 nm.

RNA tổng số (5 µg) được phiên mã ngược thành cDNA chuỗi kép bằng Tetro™

Reverse Transcriptase kit và Random Hexamer primer (Meridian Bioscience, Meridian

Life Science Inc., USA) theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Sản phẩm cDNA được sử

dụng để đo mức độ biểu hiện gene liên quan đến đái tháo đường thuộc các nhóm gene

liên quan sinh tổng hợp chất béo (SREBF1, ACC1, FASN), insulin và thụ thể insulin

(INS, INSRA1, INSRB1), gene liên quan hấp thu và chuyển hóa glucose (SGLT1 và

GLP1) trong phản ứng chuỗi polymerase định lượng gene thời gian thực (a real-time

54

quantitative polymerase chain reaction, qRT-PCR). Mức độ biểu hiện các gene được

đánh giá, sử dụng gene tham chiếu (housekeeping gene) β-actin. Danh sách các đoạn

mồi cụ thể được mô tả trong Bảng 2.1.

Bảng 2.1. Trình tự mồi cho phản ứng chuỗi polymerase định lượng gene thời gian thực (a real- time quantitative polymerase chain reaction, qRT-PCR)

Tên gene

Chức năng/mã hóa cho

Trình tự mồi xuôi (F) và mồi ngược (R), 5′-3′

β-actin

Housekeeping gene

F: CTTCCCATCCATCGTGGGTC

(Gene tham chiếu)

R: AGCCTCATCACCAACGTAGC

SREBF1

Sterol regulatory element-

F: CATCCACATGGCTCTGAGTG

binding protein 1

R: CTCATCCACAAAGAAGCGGT

ACC1

Acetyl-CoA carboxylase

F: GCAAGTGTGGTTCCCTGATT

alpha

R: TCATGAAGGTCAGCGAACTG

FASN

Fatty acid synthase

F: GAGAAAGCTTGCCAAACAGG

R: GAGGGTCTTGCAGGAGACAG

INS

Insulin

F: TAAGCACTAACCCAGGCACA

R: GATTTAGGAGGAAGGAAACC

INSRA1

Insulin receptor alpha 1

F: CAACATGCCCCCTCACCACT

R: CGACACACATGTTGTTGTG

INSRB1

Insulin receptor beta 1

F: GACTGATTACTATCGCAAGGG

R: TCCAGGTATCCTCCGTCCAT

SGLT1

Sodium-dependent glucose

F: GGATTGACCTGGAGGCAGAC

cotransporters

R: GCGTTGACCACATTTCTCCA

GLP-1

Glucagon-like peptide 1

F: CAGAGGGAACTTTCTCCAACGA

R: AGTTCATACCCATTTCTCTTAGCG

qRT-PCR được thực hiện trên máy Rota-Gene Q MDx 5plex HRM (Plexus

Manufacturing Sdn Bhd, QIAGEN GmbH, Đức). Để đạt thể tích phản ứng 20 µL, 2 µL

khuôn cDNA được kết hợp với 1 µL của mỗi mồi xuôi và ngược (10 µM) và 10 µL dung

dịch 2x SensiFAST SYBR® No-ROX Kit (Meridian Bioscience, Meridian Life Science

Inc., USA). Điều kiện phản ứng được thực hiện ở 95 oC trong 2 phút, tiếp theo là 40 chu

kỳ 95 oC trong 5 giây và 65 oC trong 25 giây. Mỗi phản ứng tiến hành lặp ba lần. Ngưỡng

và đường cơ sở được xác định bằng phần mềm Rotor-Gene Q Series Software 2.3.4

(QIAGEN GmbH, Đức), và giá trị ngưỡng chu kỳ (the cycle threshold, CT) cho mỗi

mẫu được tính toán. Sau đó, mức độ biểu hiện gene được phân tích bằng phương pháp

55

2-CT theo Rao et al. (2013) [316]. Bố trí thí nghiệm được mô tả trong Bảng 2.2 và

phương pháp tính được mô tả như sau:

Bảng 2.2. Thiết kế thực nghiệm phân tích mức độ biểu hiện gene

Gene tham chiếu

Mẫu đối chứng (Cá bình thường) A

Mẫu thực nghiệm (Cá ĐTĐ & Cá ĐTĐ được điều trị) B

Gene mục tiêu

C

D

Ghi chú: A, B, C, D là các giá trị ngưỡng chu kỳ (the cycle threshold, CT) cho từng gene của

mỗi mẫu

Giá trị ΔCT mô tả sự giá biệt về giá trị ngưỡng chu kỳ giữa gene mục tiêu và gene

tham chiếu:

(2.2) ΔCT = CT(gene mục tiêu) − CT(gene tham chiếu)

theo ký hiệu mô tả ở Bảng 2.2, giá trị ΔCT của mẫu thực nghiệm là CTD −CTB, và giá

trị ΔCT của mẫu đối chứng là CTC −CTA. Giá trị ΔΔCT là sự khác biệt giữa giá trị ΔCT

được mô tả ở trên giữa mẫu thực nghiệm và mẫu đối chứng:

ΔΔCT = ΔCT(mẫu thực nghiệm) − ΔCT(mẫu đối chứng)

(2.3) = (CTD − CTB) − (CTC − CTA)

Kết quả cuối cùng được mô tả ở dạng mức độ biểu hiện mRNA tương đối so với

mẫu đối chứng, được chuẩn hóa bởi gene tham chiếu. Mức độ biểu hiện gene của mẫu

đối chứng được thiết lập nhận giá trị là 1 (ΔΔCT bằng 0 và do đó 20 bằng 1).

Nội dung 2: Phân lập các hợp chất, định lượng và đánh giá tương quan với hoạt

tính sinh học của các loại cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

2.3.5. Phương pháp phân lập các hợp chất tinh khiết

Cao chiết phân đoạn có tiềm năng nhất sẽ được tách qua sắc ký cột hở với pha tĩnh

là silica gel (cỡ hạt 400 – 630 nm) và pha động là dung môi thích hợp trên kết quả của

sắc ký bản mỏng TLC (Thin Layer Chromatography).

56

Hình 2.5. Sơ đồ phân lập các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học từ vỏ thân Trâm vỏ đỏ Ghi chú: SBE: Syzygium zeylanicum bark extract (chiết xuất vỏ thân Trâm vỏ đỏ); CC: column chromatography (cột sắc ký); H: Hexane; Ea: Ethyl acetate; C: Chloroform; M: Methanol

57

2.3.5.1. Sắc ký phân đoạn từ cao chiết phân đoạn ethyl acetate vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

Chuẩn bị mẫu: Mẫu vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ được sấy khô và xay thành bột (theo

mô tả ở mục 2.1.1. ), sau đó 5kg bột được ngâm chiết với ethanol:nước (50:50, v/v). Các

dịch thu được sau 3 lần ngâm chiết được loại bỏ dung môi, thu được 800g cao chiết thô.

Cao chiết thô sau đó được hòa tan trong nước, chiết phân đoạn lần lượt với dung môi

hexane (H), chloroform (C), ethyl acetate (Ea). Phân đoạn Ea giàu các thành phần các

hoạt chất có hoạt tính sinh học được thu nhận, loại bỏ dung môi, thu được cao chiết phân

đoạn ethyl acetate (56,04 g). Trộn mẫu cao chiết phân đoạn ethyl acetate với silica gel

theo tỉ lệ (1:1) bằng cối nghiền cho thật đều.

Chuẩn bị cột: Trương nở 120 g silica gel trong khoảng 500 mL n-hexane và khuấy

đều để loại hoàn toàn bọt khí. Chuẩn bị cột thủy tinh sạch, đường kính 8 cm, chiều cao

80 cm và gắn vào giá đỡ. Khuấy đều silica gel đã trương nở và rót vào cột, mở khóa cột

để ổn định trong khoảng 30 phút. Nạp mẫu vào đầu cột và tiến hành ly giải để tách phân

đoạn theo sơ đồ Hình 2.5

Cao ethyl acetate (SBE) (56,04 gam) được sắc ký cột (dcột x Lcột = 8x80 cm) silica

gel 400-630 nm với hệ dung môi rửa giải chloroform:methanol (C:M, 20:1; 15:1, 10:1)

thu được 13 phân đoạn (SBE01-SBE13). Phân đoạn SBE04 sắc ký cột silica gel 400-

630 nm, cột (dcột x Lcột = 3x60 cm), dung môi rửa giải, n-hexane:ethyl acetate (H:Ea,

30:1 – 1:1) thu được SBE4.1, SBE4.2, SBE4.3 và SBE4.4. Phân đoạn SBE4.1 tiếp tục

sắc ký cột silica gel 400-630 nm, cột (dcột x Lcột = 5x72 cm), dung môi rửa giải

hexane:ethyl acetate (H:Ea, 25:1) thu được hợp chất SBE1. Phân đoạn SBE4.2 tiếp tục

sắc ký cột silica gel 400-630 nm, cột (dcột x Lcột = 5x72 cm), dung môi rửa giải

hexane:ethyl acetate (H:Ea, 20:1) thu được hợp chất SBE2. Phân đoạn SBE4.3 tiếp tục

sắc ký cột silica gel 400-630 nm, cột (dcột x Lcột = 1x35 cm), dung môi rửa giải

chloroform:methanol (C:M, 15:1) thu được hợp chất SBE3. Phân đoạn SBE08 được sắc

ký cột (dcột x Lcột = 3x50 cm) silica gel 400-630 nm với dung môi rửa giải chloroform:

methanol (C:M, 20:1) thu được hợp chất SBE4 và SBE5. Phân đoạn SBE11 tiến hành

sắc ký cột (dcột x Lcột = 3x60 cm) silica gel 400-630 nm với hệ dung môi rửa giải

chloroform:methanol (C:M, 15:1) thu được 3 phân đoạn SBE11.1, SBE11.2, SBE11.3

và hợp chất SBE7. Phân đoạn SBE11.3 tiến hành sắc ký cột (dcột x Lcột = 3x60 cm) silica

gel với hệ dung môi rửa giải chloroform:methanol (C:M, 15:1) thu được SBE6. Phân

đoạn SBE12 tiến hành sắc ký cột (dcộtx Lcột = 3x60 cm) silica gel 400-630 nm với hệ

58

dung môi rửa giải chloroform:methanol (C:M, 10:1) thu được SBE8 và SBE9. Phân

đoạn SBE13 tiến hành sắc ký cột (dcộtx Lcột = 3x60 cm) silica gel 400-630 nm với hệ

dung môi rửa giải chloroform:methanol (C:M, 5:1) thu được SBE10

2.3.5.2. Xác định cấu trúc phân tử của các hợp chất

Các hợp chất tinh khiết sẽ được xác định bằng kỹ thuật cộng hưởng từ hạt nhân (1H-

NMR, 13C-NMR, HSQC, HMBC); phổ Noisy và Cosy để xác định cấu hình không gian,

phổ LC-MS để xác định công thức phân tử, cấu trúc phân tử và khối lượng phân tử.

2.3.6. Định lượng các hợp chất bằng sắc ký lỏng cao áp (UHPLC)

Các hợp chất polyphenol trong cao chiết được phân tích trên máy sắc kí lỏng cao áp

(Thermo-Ultimate 3000UPLC, Thermo Scientific, Waltham, MA, USA) dựa trên các

chất chuẩn. Quá trình phân tách chất được thực hiện bằng cột BDS Hypersil C18 với

kích thước cột 250 mm x 4,6 mm, hạt gel là 5 μm. Bộ bơm tự động được sử dụng để bơm

dung dịch cần phân tích vào hệ thống với thể tích tiêm mẫu là 5 μL, thực hiện ba lần lặp.

Các dung dịch phân tích được lọc qua màng 0,45 μm trước khi bơm vào hệ thống.

Quá trình tách chất qua cột bằng phương pháp gradient được thực hiện bằng hệ dung

môi nhị phân methanol (Merck, pha động A) và 0,1% orthophosphoric acid (Sigma-

Aldrich) trong nước Mili-Q (pha động B). Tốc độ dòng chảy pha động được thiết lập ở

1 mL/phút với gradient nồng độ thay đổi như sau: 97% B (0–0,5 phút); 97%–83% B

(0,5–8,0 phút); 83%–70% B (8,0–10,0 phút); 70%–55% B (10,0–15,0 phút); 55%–5%

B (15–20 phút); 5%–97% B (20–22 phút) và 97% B (22–23 phút). Nhiệt độ được kiểm

soát ở 30 oC và đầu dò UV ở bước sóng 265 nm. Mỗi hợp chất polyphenol được định

lượng từ phương trình đường chuẩn của các chất chuẩn dựa vào diện tích peak.

2.3.7. Phương pháp phân tích tương quan (Correlation analysis) và phân tích

thành phần chính (Principal Component Analysis, PCA)

Mối liên hệ tuyến tính giữa hàm lượng thành phần các hoạt chất với hoạt tính sinh

học và khả năng hạ đường huyết được phân tích bằng phương pháp phân tích tương

quan Pearson (Pearson’s correlation analysis). Hệ số tương quan Pearson (Pearson

correlation coefficient) (r), được sử dụng để mô tả mối liên hệ tuyến tính giữa các yếu

tố được phân tích. Giá trị r biến động trong khoảng -1, 0, và +1. Trong đó, r = -1 cho

thấy mối tương quan nghịch, r = +1 cho thấy mối tương quan thuận, r = 0 thể hiện không

có mối tương quan giữa hai yếu tố bất kỳ.

59

Thành phần tác động chính đối với các hoạt tính sinh học và mối liên hệ giữa các

các yếu tố phân tích được trực quan hóa bằng phân tích PCA. Thành phần chính (Princial

Components, PCs) được xác định dựa trên giá trị Eigen (Eigenvalues). Sự khác biệt về

giá trị phân bố trên ma trận eigenvector mô tả mối liên hệ giữa các yếu tố được phân

tích [165].

Nội dung 3: Vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ và đánh giá khả năng kiểm

soát đường huyết đa mục tiêu của sản phẩm vi bao

2.3.8. Chuẩn bị hỗn hợp sấy phun

Năm hỗn hợp khác nhau được chuẩn bị cho sấy phun theo công thức ở Bảng 2.3

được xây dựng dựa trên báo cáo của Navarro-Flores et al. (2020) [247]. Tất cả các hỗn

hợp được đồng nhất bằng máy VELP Scientifica OV5 (Ý) với tốc độ 10.000 vòng/phút

trong 10 phút và giữ ở nhiệt độ 5 °C trong 12 giờ để hòa tan hoàn toàn, đồng thời chống

lại quá trình lên men gây thoái hóa vật liệu. Nồng độ của vật liệu bao gói và cơ chất

được kiểm soát ở 20% (w:w), trong đó hàm lượng cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ là

1% (w:w).

Bảng 2.3. Các công thức sấy phun

Thành phần (g/100 g)

Công

thức

RMD

GA

αCD

βCD

γCD

SZE

19

-

-

-

-

1

T1

17

2

-

-

-

1

T2

17

-

2

-

-

1

T3

17

-

-

2

-

1

T4

17

-

-

-

2

1

T5

RMD: maltodextrin kháng tiêu hóa, GA: gum Arabic, αCD: α-cyclodextrin,

βCD: β-cyclodextrin, γCD: γ-cyclodextrin, SZE: cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ

đỏ, “-”: Không bổ sung

2.3.9. Phương pháp sấy phun

Hỗn hợp cao chiết và vật liệu vi bao được làm khô bằng máy sấy phun (Model YC-

015, ShangHai Pilotech, Trung Quốc) với thông số thiết lập bơm 10%, quạt hút 100%.

Nhiệt độ đầu vào và ra tương ứng là 140 °C và 97,3 °C. Tốc độ nạp mẫu là 120 mL/h.

Khấy từ được sử dụng trong suốt quá trình nạp để đảm bảo nguyên liệu luôn đồng nhất.

Sau khi sấy phun, sản phẩm bột vi bao được thu nhận, cân và đóng gói trong các túi hút

60

chân không PA/PE, 5 – 10 g bột/túi kích thước15 x 20 cm dày 90 µm, sau đó sử dụng

ngay hoặc được bảo quản ở nhiệt độ -80 °C đến khi đánh giá.

Hiệu suất sấy phun được xác định khối lượng sản phẩm thu nhận cuối cùng so với

tổng lượng chất rắn đầu vào ban đầu, tính bằng công thức:

𝐻𝑖ệ𝑢 𝑠𝑢ấ𝑡 (%) =

× 100

𝐾ℎố𝑖 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑏ộ𝑡 𝑣𝑖 𝑏𝑎𝑜 𝑡ℎ𝑢 đượ𝑐(𝑔) 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑘ℎố𝑖 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑐ℎấ𝑡 𝑟ắ𝑛 đầ𝑢 𝑣à𝑜 (𝑔)

(2.4)

2.3.10. Phương pháp đánh giá các tính chất hạt vi bao

2.3.10.1. Độ ẩm (Moister content, MC %) và hoạt độ nước (Water activity)

Độ ẩm của bột vi bao sau sấy phun được xác định bằng máy phân tích độ ẩm

OHAUS MB95 (OHAUS Instruments (Shanghai) Co., Ltd). Hoạt độ nước bột vi bao

được đo bằng máy phân tích HygroPalm HP23-AW-A (Rotronic AG).

2.3.10.2. Mật độ khối (Bulk density)

Mật độ khối của sản phẩm bột vi bao cao chiết được xác định theo phương pháp

được mô tả lại bởi Navarro-Flores et al. (2020) [247]. Cụ thể, 1 g bột vi bao được cân

chính xác vào ống đong 10 mL, độ chia nhỏ nhất 0,1 mL, và vortex trong 1 phút. Giá trị

mật độ khối được tính bằng tỷ lệ khối lượng trên thể tích của bột trong ống đong, đơn

vị g/cm3.

2.3.10.3. Khả năng phân tán (Dispersibility)

Khả năng phân tán của bột vi bao được đánh giá theo phương pháp được mô tả bởi

Shittu et al. (2007) [347]. Cụ thể, 10 g bột vi bao cao chiết được hòa tan trong 100 mL

nước cất ở 27 °C. Hỗn hợp được khuấy thủ công trong 1 phút và để lắng trong 30 phút

trước khi gạn lấy dịch nổi phía trên. Sau đó, mật độ của phần nổi lên trên được đánh giá

bằng cách cho dịch nổi vào bình định mức đến đủ 50 mL. Khối lượng của bình chứa

đầy dịch nổi được ghi nhận. Khối lượng của chất phân tán được xác định bằng hai lần

sự khác biệt giữa dịch nổi và lượng nước tinh khiết tương đương (50 mL). Tất cả các

phép đo được thực hiện 3 lần lặp lại bằng cân kỹ thuật số (độ chính xác 0,0001 g).

2.3.10.4. Độ hòa tan, tốc độ hấp thụ nước, và độ trương nước

Độ hòa tan (Water solubility index – WSI) được xác định theo phương pháp được

báo cáo bởi Navarro-Flores et al. (2020) [247]. Cụ thể, 1 g bột vi bao được hòa tan trong

12 mL nước cất, trộn đều và ủ trong tủ ấm trong 30 phút ở nhiệt độ 30 °C. Hỗn dịch sau

đó được ly tâm 3.500 vòng/phút trong 10 phút. Dịch nổi được thu nhận và sấy đến khối

lượng không đổi tại 105 °C. Độ hòa tan (Water solubility index – WSI), Tốc độ hấp thu 61

nước (Water absorption rate – WAR), Độ trương nước (Swelling capacity – SC) được

tính bởi công thức sau:

𝑊𝑆𝐼 =

× 100

𝐾ℎố𝑖 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑘ℎô 𝑐ủ𝑎 𝑑ị𝑐ℎ 𝑛ổ𝑖 𝐾ℎố𝑖 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑏𝑎𝑛 đầ𝑢 𝑏ộ𝑡 𝑣𝑖 𝑏𝑎𝑜

(2.5)

𝑊𝐴𝑅 =

𝐾ℎố𝑖 𝑙ượ𝑛𝑔 ướ𝑡 𝑐ặ𝑛 𝐾ℎố𝑖 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑏𝑎𝑛 đầ𝑢 𝑏ộ𝑡 𝑣𝑖 𝑏𝑎𝑜

(2.6)

𝑆𝐶 =

𝐾ℎố𝑖 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑘ℎô 𝑐ủ𝑎 𝑑ị𝑐ℎ 𝑛ổ𝑖 𝐾ℎố𝑖 𝑙ượ𝑛𝑔 𝑏𝑎𝑛 đầ𝑢 𝑏ộ𝑡 𝑣𝑖 𝑏𝑎𝑜 (100 − 𝑊𝑆𝐼)

(2.7)

2.3.10.5. Hiệu suất vi bao

Hiệu suất vi bao được tính dựa trên phương pháp được mô tả bởi Navarro-Flores et

al. (2020) [247]. Phương pháp tính dựa trên mức chênh lệch giữa hàm lượng polyphenol

trên bề mặt và hàm lượng polyphenol tổng số. Cụ thể, 150 mg bột vi bao được trộn với

1,5 mL hỗn dịch methanol:acetic acid:nước (50:8:42, v:v:v). Hỗn hợp đồng nhất bằng

máy vortex trong 1 phút, siêu âm 2 lần trong bể siêu âm tại 25 °C trong 20 phút, sau đó

ly tâm tại 4.000 vòng/phút trong 5 phút. Dịch nổi được thu nhận để xác định hàm lượng

polyphenol tổng số. Đối với hàm lượng polyphenol bề mặt, 150 mg bột vi bao được trộn

với 1,5 mL dung dịch ethanol:methanol (1:1, v:v) và đồng nhất bởi máy vortex trong 1

phút, sau đó ly tâm tốc độ 4.000 vòng/phút trong 5 phút, dịch nổi thu nhận để xác định

hàm lượng polyphenol bề mặt. Hàm lượng polyphenol được xác định theo phương pháp

của Folin-Ciocalteu (1927) với chất chuẩn là gallic acid [119]. Với 𝑃𝐶𝑇𝑆 là hàm lượng

polyphenol tổng số (mg GAE/g), 𝑃𝐶𝐵𝑀 là hàm lượng polyphenol bề mặt (mg GAE/g),

hiệu suất vi bao được tính bởi công thức:

𝑀𝐸 (%) =

× 100

𝑃𝐶𝑇𝑆 − 𝑃𝐶𝐵𝑀 𝑃𝐶 𝑇𝑆

(2.8)

2.3.10.6. Phương pháp đánh giá hình thái bột vi bao bằng kính hiển vi điện tử quét (a

scanning electron microscope, SEM)

Một lượng nhỏ bột vi bao thu được từ các công thức sấy phun khác nhau được bám

dính trên bề mặt giá đỡ mẫu. Hình thái của các hạt vi bao sau đó được quan sát bằng

kính hiển vi điện tử quét Phenom ProX (ThermoFisher Scientific, USA) ở mức điện áp

15 kV. Các ảnh thu được ở độ phóng đại từ 2800 đến 3500 được chọn để thể hiện kết

quả SEM.

62

2.3.10.7. Mô hình giải phóng hợp chất polyphenol

Mức độ giải phóng hợp chất polyphenol của hạt vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ được xác định theo phương pháp mô tả bởi Navarro-Flores et al. (2020) với một

ít cải tiến. 100 mg bột vi bao được chuẩn bị trong 25 mL nước cất, khuấy đều trên máy

khuấy từ với tốc độ không đổi (700 vòng/phút) tại nhiệt độ phòng. 5 mL hỗn dịch được

thu nhận và thay thế bằng thể tích nước cất tương đương tại các thời điểm cách nhau 5

phút. Các hỗn dịch này sau đó được ly tâm với tốc độ 9.000 vòng/phút trong 5 phút,

dịch nổi được thu nhận để định lượng polyphenol tổng số theo phương pháp của Folin-

Ciocalteu (1927) với chất chuẩn là gallic acid [119].

Động học giải phóng các hoạt chất polyphenol được tính toán dựa trên các mô hình

được báo cáo bởi Assadpour et al (2017) [33], bao gồm: 𝑄𝑡 = 𝑄0 + 𝑘0𝑡 (Bậc 0) ; 𝑙𝑜𝑔𝐶𝑡 = 𝑙𝑜𝑔𝐶0 + 𝑘1𝑡 (Bậc 1) ; 𝑄𝑡 = 𝑘ℎ𝑡1/2 (Higuchi) ; 𝐶𝑃𝐶𝑅 = 𝐾𝑡𝑛 (Korsmeyer- Peppas). Trong đó, 𝑘 là hằng số mô hình, 𝑡 là thời gian (phút), 𝑄𝑡 là hàm lượng

polyphenol giải phóng tại thời điểm 𝑡 (mg/g), 𝑄0 là hàm lượng polyphenol ban đầu trong

dung dịch (thông thường 𝑄0 = 0), 𝐶𝑡 là hàm lượng polyphenol trong hạt vi bao tại thời

điểm 𝑡 (mg/g), 𝐶0 là hàm lượng ban đầu của polyphenol trong hạt vi bao (mg/g). Trong

mô hình Korsmeyer-Peppas, CPCR (%) phản ánh sự giải phóng của hợp chất

polyphenol, 𝐾 là hằng số tốc độ, 𝑛 là hệ số được dùng để mô tả cơ chế và t là thời gian

(giây). Giá trị R2 được tính cho từng mô hình. Hằng số 𝑘, 𝐾, và 𝑛 được xác định bằng

phần mềm Microsoft Excel 2019 (Microsoft Inc., USA).

2.3.11. Phương pháp đánh giá hoạt tính sinh học của sản phẩm vi bao

2.3.11.1. Đánh giá khả năng chống oxy hóa của sản phẩm vi bao

Hoạt tính chống oxy hóa của của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

được đánh giá thông qua khả năng trung hòa gốc tự do DPPH• và ABTS•+. Trong đó,

khả năng trung hòa DPPH• được đánh giá bằng phương pháp so màu theo Brand-

Williams et al. (1995) [51] với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả lại bởi Nguyen et al.

(2016) [262] và khả năng năng trung hòa gốc tự do ABTS•+ tiến hành theo phương pháp

so màu của Re et al. (1999) [318] với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả bởi Nguyen et

al. (2022) [260] (Chi tiết mô tả ở phụ lục 1, P.1.3). Dịch gốc của sản phẩm vi bao được

chuẩn bị bằng cách hòa tan 10 mg bột trong 1 mL nước cất và siêu âm trong 5 phút trước

khi ly tâm ở tốc độ 3.500 vòng/phút trong 10 phút. Thử nghiệm trung hòa gốc tự do của

bột vi bao được tiến hành với các nồng độ khác nhau trong khoảng 0,125 – 2 mg/mL.

63

Sự khác nhau về hoạt tính chống oxy hóa của các mẫu sấy phun theo các công thức khác

nhau được so sánh thông qua giá trị trung hòa 50% gốc tự do DPPH• và ABTS•+ (IC50).

2.3.11.2. Đánh giá hoạt tính ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột của sản phẩm vi bao

Khả năng ức chế hoạt động của các enzyme tiêu hóa tinh bột, α-amylase và α-

glucosidase được xác định bằng các phương pháp được tiến hành bởi Kwon et al. (2016)

[185] với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả bởi Nguyen et al. (2016) [262] (Chi tiết mô

tả ở phụ lục 1, P.1.5). Trong đó, dung dịch gốc sản phẩm bột vi bao được chuẩn bị trong

nước cất ở nồng độ 10 mg/mL, siêu âm 5 phút trước khi ly tâm với tốc độ 3.500

vòng/phút trong 10 phút thu dịch thử nghiệm. Khả năng ức chế α-amylase được thử

nghiệm ở dãy nồng độ 6,25 – 100 µg/mL và ức chế α-glucosidase ở dãy nồng độ 10 –

50 µg/mL. Sự khác biệt hoạt tính của các sản phẩm vi bao sấy phun theo các công thức

khác nhau được so sánh thông qua giá trị IC50 (Half-maximal Inhibitory Concentration).

IC50 là nồng độ bột vi bao có khả năng ức chế 50% hoạt tính của enzyme.

2.3.12. Phương pháp đánh giá khả năng hạ đường huyết trên mô hình cá ngựa vằn

2.3.12.1. Đánh giá tính an toàn của sản phẩm vi bao cao chiết

Tính an toàn của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ được đánh giá

theo OECD 203 và OECD423 được mô tả ở Mục 2.3.4.2.

2.3.12.2. Đánh giá khả năng chống gia tăng đường huyết sau ăn của sản phẩm vi bao

cao chiết

Cá ngựa vằn được nuôi trong điều kiện tiêu chuẩn (Chi tiết mô tả Mục 2.3.4.1. ). Cá

ngựa vằn trưởng thành với trọng lượng cơ thể từ 300 đến 400 mg được nhịn đói 12 giờ

trước khi tiến hành thực nghiệm. Sau thời gian nhịn ăn, cá được gây mê trong nước lạnh

ở 4 °C. Trạng thái gây mê đạt được với dấu hiệu cá mất thăng bằng khi bơi, ngưng cử

động vây và không đáp ứng với kích thích. Cá ở trạng thái mê được phân thành 5 nhóm

thực nghiệm, 10 con/nhóm, và cho ăn cưỡng bức (force-feeding technique) theo phương

pháp mô tả bởi Collymore et al. (2013) [70] với maltodextrin (MD) là nguồn cung

đường, acarbose (ACA) thuốc chống gia tăng đường huyết là đối chứng dương, các công

thức so sánh bổ sung matodextrin kháng tiêu hóa (RMD), cao chiết thô từ vỏ thân cây

Trâm vỏ đỏ (CE) và bột vi bao cao chiết (MEP). Các công thức cho ăn được mô tả cụ

thể như sau:

64

Nhóm 1: Chỉ sử dụng Maltodextrin (1 mg/g khối lượng cá, khối lượng cá) (MD, đối

chứng âm)

Nhóm 2: Maltodextrin (1 mg/g khối lượng cá) bổ sung maltodextrin kháng tiêu hóa

(75 mg/kg khối lượng cá) (RMD)

Nhóm 3: Maltodextrin (1 mg/g khối lượng cá) bổ sung cao chiết thô Trâm vỏ đỏ (75

mg/kg khối lượng cá) (CE);

Nhóm 4: Maltodextrin (1 mg/g khối lượng cá) bổ sung bột vi bao cao chiết vỏ thân

cây Trâm vỏ đỏ (75 mg/kg khối lượng cá) (MEP)

Nhóm 5: Maltodextrin (1 mg/g khối lượng cá) bổ sung acarbose (75 mg/kg khối

lượng cá) (ACA, đối chứng dương)

Mẫu máu được thu nhận theo phương pháp được mô tả bởi Zang et al. (2015) [432]

sau 30, 60, 120 và 180 phút sau ăn. Mức đường huyết sau ăn (The postprandial blood

glucose level, PBGL) được xác định bằng máy đo nhanh đường huyết MulticareIn

(Biochemical Systems International, Italia).

2.3.12.3. Đánh giá khả năng hạ đường huyết trên mô hình cá ngựa vằn đái tháo đường

của sản phẩm vi bao

Cá ngựa vằn được gây đái tháo đường theo phương pháp cho ăn thừa kết hợp ngâm

đường theo mô tả của Zang et al. (2017) [430] và Capiotti et al. (2014) [64] (Chi tiết mô

tả ở Mục 2.3.4.4. ). Cá đái tháo đường được chia thành năm nhóm thực nghiệm, 10 con

(5 cái và 5 đực)/nhóm, trong các bể nuôi dung tích 2 L trong 20 ngày. Cá được cho ăn

chế độ tiêu chuẩn trong suốt thời gian theo dõi với 20 mg thức ăn khô/con/ngày. Các

nhóm thực nghiệm được mô tả cụ thể như sau:

Nhóm 1: Cá bình thường ngâm trong nước nuôi bình thường (NOR);

Nhóm 2: Cá đái tháo đường ngâm trong nước nuôi bình thường (DIA);

Nhóm 3: Cá đái tháo đường ngâm trong nước nuôi chứa Metformin, 20 µM (tương

3.3 mg/L) (METFO)

Nhóm 4: Cá đái tháo đường ngâm trong nước nuôi chứa cao chiết thô từ vỏ thân cây

Trâm vỏ đỏ, nồng độ 10 mg/L (CE)

Nhóm 5: Cá đái tháo đường được ngâm trong nước nuôi chứa bột vi bao cao chiết

vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ, nồng độ 20 mg/L (tương đương 0,75 mg/L cao chiết không vi

bao) (MEP)

65

Đường huyết lúc đói của cá ở các lô thực nghiệm được xác định tại các thời điểm 0,

5, 10, 15, và 20 ngày tác động sử dụng máy đo đường huyết nhanh Multicare-In

(Biochemical Systems International, Italia) theo phương pháp được mô tả bởi Zang et

al. (2015) [432].

2.3.13. Phương pháp đánh giá khả năng kiểm soát đường huyết thông qua điều hòa

biểu hiện gene của sản phẩm vi bao cao chiết.

Mức độ biểu hiện các gene liên quan đái tháo đường trên cá ngựa vằn dưới tác dụng

của bột vi bao cao chiết được đánh giá theo phương pháp được mô tả ở Mục 2.3.4.6.

2.3.14. Phương pháp đánh giá khả năng kháng viêm của sản phẩm vi bao cao chiết

2.3.14.1. Đánh giá khả năng kháng viêm trong điều kiện in vitro

Hoạt tính kháng viêm in vitro của bột vi bao cao chiết được đánh giá theo phương

pháp được mô tả bởi Dharmadeva et al. (2018) [98] (Trình bày chi tiết ở Mục 2.3.3.2. ).

Trong đó, dung dịch thử nghiệm của bột vi bao cao chiết được chuẩn bị ở các nồng độ

pha loãng nhị phân trong khoảng từ 31,3 đến 2.000 μg/mL, nồng độ tương đương với

cao chiết không được vi bao gói từ 1,6 đến 100 μg/mL, dãy nồng độ thuốc kháng viêm

ibuprofen trong khoảng từ 200 đến 1.000 μg/mL là đối chứng dương. Mức độ ức chế

biến tính albumin trứng được so sánh với mẫu chứng không bổ sung bột vi bao/thuốc

kháng viêm thông qua độ hấp thụ bước sóng 660 nm sử dụng máy đo quang phổ UV-

VIS V-630 (Jasco, Nhật Bản).

2.3.14.2. Đánh giá hoạt tính kháng viêm thông qua bảo vệ ấu trùng cá ngựa vằn

Hoạt tính kháng viêm in vivo của sản phẩm vi bao cao chiết được đánh giá thông

qua khả năng bảo vệ ấu trùng cá trước tác động gây viêm của CuSO4, dựa trên phương

pháp được mô tả bởi Nguyen et al. (2020) [267] với một số điều chỉnh nhỏ để phù hợp

với điều kiện thực tế. Quá trình tạo phôi được tiến hành theo hướng dẫn của Westerfield

et al. (2000) (https://zfin.org/zf_info/zfbook/zfbk.html) [399]. Phôi được thu nhận, rửa

sạch và loại bỏ các phôi hỏng bằng kính hiển vi trước khi phân phối vào các đĩa thực

nghiệm 6 giếng, mật độ 30 phôi/giếng. Phôi đạt chuẩn được duy trì ở nhiệt độ 28 ± 2 °C

trong môi trường nuôi phôi, thay mới mỗi 24 giờ để đảm bảo phôi nở hoàn toàn thành

ấu trùng sau 3 ngày thụ tinh (post-fertilization, dpf), sẵn sàng cho thực nghiệm.

Ấu trùng cá ngựa vằn 3 ngày tuổi (3 dpf) ở mật độ 30 con/giếng được kích hoạt quá

trình viêm bằng dung dịch nước nuôi chứa CuSO4 20 µM trong 2 giờ. Sau đó, ấu trùng

được ngâm với nước nuôi chứa bột vi bao cao chiết ở nồng độ 50, 100, 150 mg/L; cao

66

chiết thô không được vi bao (CE) ở nồng độ 2,5; 5,0 và 7,5 mg/L trong 24 giờ. Thực

nghiệm với nước nuôi chứa Ibuprofen 2 mg/L là đối chứng dương và nghiệm thức chỉ

sử dụng nước nuôi thông thường làm đối chứng âm. Các thực nghiệm được lặp lại 3 lần

trên các đĩa thực nghiệm 6 giếng (6-wells plate). Chỉ tiêu theo dõi là tỷ lệ ấu trùng viêm

(%) thông qua các dấu hiệu bất thường đặc trưng trạng thái viêm so với nghiệm thức đối

chứng tại các thời điểm 2, 4, 6, và 24 giờ tác động.

Bảng 2.4. Thiết kế thực nghiệm đánh giá khả năng kháng viêm của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC) trên mô hình ấu trùng cá ngựa vằn

Mẫu

Đối chứng âm (Nước nuôi)

Cao chiết (CE, mg/mL) 0

Bột vi bao cao chiết (MEP, mg/L) 0

Nồng độ 1

2,5

50

Nồng độ 2

5

100

Nồng độ 3

7,5

150

Đối chứng dương

2

2

(Ibuprofen)

Ghi chú: Mật độ ấu trùng 30 con/giếng. Chỉ tiêu theo dõi: tỷ lệ ấu trùng viêm theo thời gian 2, 4, 6, và 24 giờ tác động.

Nội dung 4. Nghiên cứu xây dựng mô hình dự đoán thời hạn bảo quản của sản phẩm

vi bao

2.3.15. Chuẩn bị mẫu bảo quản ở điều kiện cưỡng bức

Mẫu được bảo quản ở điều kiện cưỡng bức và xây dựng mô hình động học được

tiến hành theo Lago & Noreña (2017) [196] có cải tiến để phù hợp với điều kiện thực

tế. Bột sấy phun đựng trong bình thủy tinh, đặt trong hộp kín chứa dung dịch NaCl bão

hòa (tạo độ ẩm không khí khoảng 75 %) và BaCl2 bão hoà (để tạo độ ẩm không khí

khoảng 90 %). Các giá trị này được thiết lập dựa trên mức biến động trong thực tế về

độ ẩm không khí trung bình tại Việt Nam. Các hộp kín đặt trong tủ ấm với nhiệt độ

tương ứng 40 và 60 °C. Thời gian theo dõi trong 50 ngày, mẫu được thu nhận và phân

tích các chỉ tiêu theo dõi (độ ẩm bột, hàm lượng polyphenol tổng số, khả năng kháng

oxy hoá và ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột) 10 ngày/lần trong 50 ngày (Bảng 2.5).

Hàm lượng polyphenol tổng số được xác định theo phương pháp Folin–Ciocalteu

[119] với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả lại bởi Nguyen và Eun (2011) [261] (Chi tiết

mô tả ở phụ lục 1, P.1.1.). Kết quả dựa vào đường chuẩn gallic acid (mgGAE/g chất khô).

67

Hoạt tính chống oxy hóa của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

được đánh giá thông qua khả năng trung hòa gốc tự do DPPH• và ABTS•+. Trong đó,

khả năng trung hòa DPPH• tiến hành bằng phương pháp so màu theo Brand-Williams et

al. (1995) [51] với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả lại bởi Nguyen et al. (2016) [262]

và khả năng năng trung hòa gốc tự do ABTS•+ tiến hành theo phương pháp so màu của

Re et al. (1999) [318] với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả bởi Nguyen et al. (2022)

[260] (Chi tiết mô tả ở phụ lục 1, P.1.3.). Kết quả được tính theo mg Trolox tương đương

(mg TE/g chất khô) dựa vào đường chuẩn Trolox.

Khả năng ức chế hoạt động của các enzyme tiêu hóa tinh bột, α-amylase và α-

glucosidase được xác định bằng các phương pháp được tiến hành bởi Kwon et al. (2016)

[185] với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả bởi Nguyen et al. (2016) [262] (Chi tiết mô

tả ở phụ lục 1, P.1.5.). Khả năng ức chế hoạt tính α-amylase và α-glucosidase được tính

như sau:

(2.9) % Ứ 𝑐 𝑐ℎế = [(𝐴0 – 𝐴1)/𝐴0] × 100%

trong đó, 𝐴0 là độ hấp thụ của mẫu kiểm chứng (mẫu chỉ chứa dung môi hòa tan mẫu ở thời

điểm ban đầu, 𝐴1 là độ hấp thụ của mẫu thí nghiệm. Kết quả khả năng ức chế được thể hiện

thông qua IC50 là nồng độ sản phẩm vi bao có khả năng ức chế 50% hoạt tính của enzyme.

Bảng 2.5. Điều kiện bảo quản sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

Nhiệt độ

Độ ẩm không khí

Thời điểm lấy mẫu phân tích

Điều kiện

(°C)

(%H)

(ngày)

75

40

90

Cưỡng bức

0

10

20

30

40

50

75

60

90

2.3.16. Phương pháp xác định các thông số động học suy giảm hoạt chất và dự đoán

thời gian bảo quản

Động học suy giảm các hợp chất tự nhiên/hoạt tính sinh học được đánh giá bằng

phương trình bậc nhất như sau:

(2.10) Ct = C0. e−kt

trong đó Ct là hàm lượng hợp chất tự nhiên/hoạt tính sinh học tại thời điểm (t); k là hằng

số tốc độ và C0 là hàm lượng hợp chất tự nhiên/hoạt tính sinh học tại thời điểm bắt đầu.

68

Thời gian phân hủy 90% (𝐷), Chu kỳ bán rã (𝑡1/2) và hệ số nhiệt động (𝑄10) được

xác định theo công thức sau:

(2.11) 𝐷 = ln (10) 𝑘

10 𝑇2−𝑇1

(2.12) 𝑡1/2 = ln (2) 𝑘

(2.13) ) 𝑄10 = ( 𝑘𝑇2 𝑘𝑇1

trong đó, 𝐷 là thời gian để một đại lượng biến đổi với thời gian theo hàm số mũ suy

giảm đạt đến lượng hơn 90% lượng ban đầu; Chu kỳ bán rã (𝑡1/2) - chu kỳ nửa phân rã

hay thời gian bán rã là thời gian cần để một đại lượng biến đổi với thời gian theo hàm

số mũ suy giảm đạt đến lượng bằng một nửa lượng ban đầu. 𝑄10 là thước đo độ nhạy

nhiệt độ của tốc độ phản ứng hóa học hoặc quá trình sinh học được xác định từ các hằng

số suy giảm ở một nhiệt độ nhất định (T) và trên 10 °C (T + 10°C) (theo Lago & Noreña,

2017) [196] . Nhiệt độ cưỡng bức tại 40 và 60 °C được sử dụng trong nghiên cứu, do đó

đại lượng 𝑄10 được xác định theo công thức (2.13), trong đó 𝑘𝑇1và 𝑘𝑇2lần lượt là hằng số suy thoái tại 40 và 60 °C (theo Cassol & Noreña, 2021) [65].

Năng lượng kích hoạt (𝐸𝑎) được ước tính từ giá trị 𝑄10 như trong biểu thức:

(2.14) 𝐸𝑎 = 2,303𝑙𝑜𝑔10(𝑄10)𝑅𝑇(𝑇 + 10) 10

trong đó: 𝑅 là hằng số khí lý tưởng (𝑅=8,314 Jmol-1 K-1) và T là nhiệt độ tuyệt đối (°K).

2.3.17. Phân tích dữ liệu nghiên cứu

Các thí nghiệm trong nghiên cứu được lặp lại ít nhất 3 lần. Số liệu được xử lý thống

kê bằng phần mềm GraphPad Prism version 10.1.2 (324) (San Diego, CA, USA). Sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức p < 0,05 được xác định bằng thử nghiệm Fisher’s

Least Significant Differences (LSD). Các kết quả thực nghiệm được trình bày dạng trung

bình ± sai số chuẩn của giá trị trung bình (Standard Error of the Mean, SEM). Phân tích

tương quan (Pearson’s Correlation Analysis) và phân tích thành phần chính (Principal

Component Analysis, PCA) thực hiện bằng phần mềm R phiên bản 4.1.2 [311] với gói

FactoMineR [201].

69

Chương 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Ảnh hưởng của trích ly phân đoạn đến thành phần hoạt chất và khả năng hạ

đường huyết đa mục tiêu của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

Cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ có tiềm năng chống đái tháo đường cao [268].

Tuy nhiên, thông tin khoa học về thành phần các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học

từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ còn chưa được công bố. Các hợp chất tự nhiên từ thực vật rất

đa dạng về thành phần, cấu trúc và tính chất hóa lý nên việc phân lập các hợp chất trong

hỗn hợp cao chiết rất tốn thời gian và kinh phí [360]. Nghiên cứu này tiến hành phân

lập các nhóm hợp chất dựa vào khả năng hòa tan trong các dung môi có độ phân cực

khác nhau. Quá trình trích ly phân đoạn làm tập trung các hợp chất có hoạt tính sinh học

cao về phân đoạn với dung môi phù hợp. Từ đó, phân đoạn có hoạt tính cao được sử

dụng để phân lập và xác định cấu trúc các hoạt chất làm chất đánh dấu trong nghiên cứu

và kiểm soát dược liệu.

3.1.1. Ảnh hưởng của trích ly phân đoạn đến hàm lượng polyphenol và flavonoid

tổng số

Các nghiên cứu gần đây cho thấy, polyphenol và flavonoid là nhóm các hợp chất có

hoạt tính sinh học trong hỗ trợ điều trị các bệnh liên quan đến tim mạch, thần kinh, loãng

xương, ung thư, bệnh đường ruột và đái tháo đường [2, 56, 394]. Nhóm các hợp chất

này cũng được tìm thấy nhiều trong các loài cây thuốc thuộc chi Trâm (Syzygium sp.)

[11, 87]. Nghiên cứu này tiến hành trích ly phân đoạn cao chiết tổng từ vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ và xác định hàm lượng polyphenol và flavonoid tổng số của các loại cao chiết

phân đoạn, kết quả thể hiện ở Bảng 3.1. Trong đó, các phân đoạn n-hexane và

chloroform thu được lượng không đáng kể, điều đó cho thấy các hợp chất có trong cao

chiết hòa tan kém trong các dung môi không phân cực.

Kết quả ở Bảng 3.1 cho thấy, quá trình trích ly phân đoạn có khả năng tập trung cao

các hợp chất polyphenol và flavonoid trong các phân đoạn ethyl acetate và n-butanol

với giá trị hàm lượng tổng số lần lượt là 904,11 - 810,90 mg GAE/g và 897,66 - 710,21

mg QE/g so với cao chiết thô lần lượt là 531,64 mg GAE/g và 473,44 mg QE/g. Hàm

lượng cao của nhóm chất polyphenol trong cây Trâm vỏ đỏ cũng đã được công bố trước

đây. Nghiên cứu của Mai et al. (2007) cho thấy, tổng hàm lượng polyphenol trong lá

Trâm vỏ đỏ là cao nhất (đương lượng catechin là 251,7 mg/g chất khô) trong số bốn loài

cây có tiềm năng chống đái tháo đường gồm Trâm vỏ đỏ, Vối (Cleistocalyx operculatus),

70

Săng Máu (Horsfield amygdalina), và Vừng Quả Xoan (Careya arborea). Bốn loài cây

này được sàng lọc từ 28 loài cây thực phẩm và làm thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam

[219]. Nghiên cứu này lần đầu tiên công bố hàm lượng cao các hợp chất polyphenol và

flavonoid trong vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ. Ngoài ra, kết quả còn cho thấy rằng, nhóm chất

polyphenol và flavonoid trong vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ có khả năng hòa tan tốt trong

ethyl acetate và n-butanol. Do đó, phương pháp trích ly phân đoạn có thể làm giàu các

hợp chất này, đặc biệt là trong dung môi ethyl acetate.

Bảng 3.1. Hàm lượng polyphenol, flavonoid tổng số của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.)

Cao chiết

CE EAF BF WF

TPC (mg GAE/g CK) 531,64 ± 3,64c 904,11 ± 2,23a 810,90 ± 7,61b 482,42 ± 5,10d

TFC (mg QE/g CK) 473,44 ± 24,67c 897,66 ± 15,55a 710,21 ± 0,00b 427,30 ± 5,43cd

Ghi chú: Giá trị trung bình ± SEM (n = 3). Các ký tự khác nhau (a-d) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các loại cao chiết theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). CE: cao chiết thô; EAF: Cao chiết phân đoạn ethyl acetate; BF: cao chiết phân đoạn n-Butanol; WF: cao chiết phân đoạn nước; CK: Khối lượng khô của cao chiết; TPC: hàm lượng polyphenol tổng số; TFC: hàm lượng flavonoid tổng số; GAE: đương lượng gallic acid; QE: đương lượng quercetin;

3.1.2. Ảnh hưởng của trích ly phân đoạn đến khả năng kiểm soát đường huyết đa

mục tiêu trên mô hình in vitro của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

3.1.2.1. Hoạt tính chống oxy hóa

Các chất chống oxy hóa tự nhiên có vai trò quan trọng trong kiểm soát đường huyết

và phòng ngừa biến chứng do tăng đường huyết kéo dài nhờ khả năng bảo vệ tế bào β

tuyến tụy cũng như các tế bào thuộc mô/cơ quan khác nhau trước các tổn thương do

stress oxy hóa gây ra theo Kanwugu et al. (2022) [166]. Mối quan hệ tích cực giữa khả

năng chống oxy hóa, kháng viêm với khả năng ổn định đường huyết trong phòng chống

đái tháo đường của các loài cây thuộc chi Trâm đã được nhấn mạnh trong công bố khoa

học gần đây [31].

Kết quả Bảng 3.2 cho thấy, khả năng trung hòa gốc tự do DPPH• cũng như ABTS•+

có sự khác biệt đáng kể giữa các loại cao chiết (p < 0,05) và khả trung hòa gốc tự do

ABTS•+ cao hơn so với gốc tự do DPPH•. Khả năng trung hòa DPPH• của các loại cao

chiết EAF, CE, BF và WF lần lượt là 1,5; 1,26; 1,12 và 1,05 (g TE/g ck). Trong khi đó,

khả năng trung hòa ABTS•+ theo thứ tự giảm dần của các loại cao chiết EAF, WF, BF,

và CE lần lượt là 3,27; 1,70; 1,51 và 1,40 (g TE/g ck). 71

Bảng 3.2. Hoạt tính chống oxy hóa của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.)

Cao chiết

CE EAF

BF

WF

Hoạt tính chống oxy hóa (g TE/g CK) DPPH 1,26 ± 0,01b 1,50 ± 0,05a 1,13 ± 0,01c 1,04 ± 0,00c

ABTS 1,40 ± 0,04c 3,27 ± 0,06a 1,51 ± 0,04bc 1,70 ± 0,09b

Ghi chú: Giá trị trung bình ± SEM (n = 3). Các ký tự khác nhau (a-d) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các loại cao chiết theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). CE: Cao chiết thô; EAF: Cao chiết phân đoạn ethyl acetate; BF: Cao chiết phân đoạn n-Butanol; WF: Cao chiết phân đoạn nước; CK: Khối lượng khô của cao chiết; TE: Đương lượng Trolox;

Kết quả này cho thấy, các hợp chất có khả năng trung hòa DPPH• và ABTS•+ được

tập trung trong phân đoạn ethyl acetate. Kết quả này rất phù hợp với báo cáo của

Alawiyah et al. (2021) rằng, EAF từ thân gỗ S. cumini có hoạt tính chống oxy hóa cao

nhất, tiếp theo là cao chiết ethanol và cao phân đoạn hexane [19] hoặc báo cáo của Ruan

et al. (2008) rằng EAF từ lá S. cumini có hoạt tính chống oxy hóa cao hơn so với cao

chiết methanol hoặc các cao phân đoạn nước và n-hexane [327]. Sự khác nhau trong khả

năng trung hòa DPPH• và ABTS•+ giữa các loại cao chiết có liên quan đến hàm lượng và

thành phần của các chất chống oxy hóa có trong các phân đoạn. Trong đó, khả năng

phản ánh khả năng chống oxy hóa ở phổ rộng các hợp chất thông qua trung hòa ABTS•+

so với DPPH• [118, 408] có thể giải thích cho hoạt tính trung hòa ABTS•+ tốt hơn DPPH•

của các loại cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ. Kết quả này cho thấy, cao chiết phân

đoạn ethyl acetate có thể tập trung đa dạng các thành phần hợp chất chống oxy hóa so

với các loại cao chiết còn lại. Do đó, cần có các nghiên cứu sâu hơn về các thành phần

hóa học, các hoạt chất chính trong các loại cao chiết nhằm làm rõ về khả năng chống oxy

hóa cũng như sự tương tác của chúng đến hoạt tính chống oxy hóa.

3.1.2.2. Khả năng kháng viêm in vitro

Tình trạng viêm có mối liên hệ chặt chẽ với đái tháo đường [374], đặc biệt là đái

tháo đường tuýp 2, trong đó, viêm ở các mô/cơ quan gây nên các rối loạn trong kiểm

soát đường huyết, góp phần vào sự khởi phát và tiến triển của đái tháo đường và các

biến chứng phức tạp khác [300]. Bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 thể hiện tình trạng

viêm cận lâm sàng và có sự hiện hiện của hầu hết các chỉ thị sinh học phản ánh tình

trạng viêm toàn thân [112]. Các chỉ thị này trở thành mục tiêu của các thuốc điều trị đái

72

tháo đường, điển hình là các interleukin [374]. Các hợp chất tự nhiên từ thực vật có khả

năng kháng viêm, được chứng minh có thể ứng dụng trong điều trị đái tháo đường, góp

phần giảm các biểu hiện liên quan đến tình trạng viêm của người bệnh [178].

Sự biến tính protein tạo ra các kháng nguyên, gây nên phản ứng quá mẫn loại III và

viêm. Do đó, các nghiên cứu minh chứng rằng khả năng chống biến tính protein là cách

tiếp cận kháng viêm hiệu quả [233]. Nghiên cứu đánh giá khả năng kháng viêm của các

loại cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ thông qua khả năng bảo vệ albumin trứng trước

tác nhân gây biến tính bởi nhiệt theo phương pháp mô tả bởi Dharmadeva et al. (2018)

[98]. Kết quả ở Bảng 3.3 cho thấy, khả năng ức chế biến tính albumin của các loại cao

chiết tăng dần theo sự thay đổi nồng độ cao chiết từ 1,56 đến 50 µg/mL, sau đó giảm

xuống khi nồng độ tăng lên 100 µg/mL và có sự khác nhau đáng kể giữa các loại cao

chiết (p < 0,05). Giá trị ức chế biến tính cao nhất của các loại cao chiết EAF, BF, WF

và CE ghi nhận tại nồng độ 50 mg/mL với giá trị lần lượt là 54,43; 49,64; 36,39 và

34,61%. Trong đó, hoạt tính của EAF và BF cao hơn đáng kể so với Ibuprofen 1000

µg/mL (p < 0,01). Đáng chú ý, khi nồng độ các loại cao chiết tăng lên 100,00 µg/mL,

mức độ suy giảm hoạt tính ở các loại cao chiết khác nhau đáng kể giữa các loại cao

chiết. Trong đó, BF có sự suy giảm lớn nhất với giá trị bảo vệ chỉ còn 16,07% (giảm

33,57%), tiếp theo là WF đạt 22,39% (giảm 14%), EAF đạt 39,56% (14,87%), và CE có

mức độ giảm thấp nhất với giá trị ức chế đạt 31,85% (giảm 2,76%). Các nghiên cứu

chứng minh rằng polyphenol có hoạt tính kháng viêm thông qua khả năng bảo vệ chống

biến tính protein [98, 241, 248, 279]. Hoạt tính này đã được tìm thấy ở một số loài thuộc

chi Trâm, bao gồm S. caryophyllatum [146], S. cumini [307] và S. samarangense [154].

Theo Anopp và Bindu (2015), một số chiết xuất từ lá S. zeylanicum, có nguồn gốc từ Ấn

Độ, thể hiện hoạt tính chống biến tính protein đáng chú ý, trong đó cao chiết phân đoạn

ethyl acetate thể hiện hoạt tính cao nhất [27]. Nghiên cứu này lần đầu tiên chứng minh

tác dụng kháng viêm của chiết xuất từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ. Các kết quả cho thấy

quá trình trích ly phân đoạn ảnh hưởng đáng kể đến hoạt tính kháng viêm của cao chiết

vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ; sự tập trung hàm lượng cao của nhóm polyphenol trong phân

đoạn ethyl actetate nên thể hiện hoạt tính cao nhất trong số các loại cao chiết. Vì vậy,

mối tương quan giữa thành phần và hàm lượng các hoạt chất trong cao chiết đến khả

năng bảo vệ chống biến tính protein cần được làm rõ trong các nghiên cứu tiếp theo.

73

Bảng 3.3. Khả năng ức chế biến tính protein của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.)

Khả năng ức chế biến tính protein (%) theo nồng độ cao chiết (µg/mL)

Ibuprofen (1000 µg/mL)

Cao

chiết

1,56

3,13

6,25

12,50

25,00

50,00

100,00

CE

4,54±0,07cF

8,29±0,05dF

17,43±0,07cE

27,60±0,04dD 32,91±0,02dB

34,61±0,03dA

31,85±0,10bC

EAF

3,39±0,06dG

13,54±0,08bF 17,78±0,05cE

44,22±0,03aC

49,20±0,03aB

54,43±0,12aA

39,56±0,19aD

36,16±0,17*

BF

7,66±0,02aG

13,94±0,02aF

23,17±0,07aD

34,49±0,05bC

46,20±0,04bB

49,64±0,01bA

16,07±0,27dE

WF

6,18±0,02bG

12,30±0,61cF

21,94±0,08bE

31,98±0,05cC

33,99±0,04cB

36,39±0,05cA

22,39±0,10cD

Ghi chú: Giá trị trung bình ± SEM (n =3). Các ký tự khác nhau (a-d) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các loại cao chiết ở cùng nồng độ (cột)

và các ký tự khác nhau (A-G) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nồng độ trong cùng cao chiết (hàng) theo Fisher’s Least Significant Difference

(LSD) test ( = 0,05). CE: Cao chiết thô; EAF: Cao chiết phân đoạn ethyl acetate; BF: Cao chiết phân đoạn n-Butanol; WF: Cao chiết phân đoạn nước;

74

3.1.2.3. Khả năng ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột

Tinh bột trong thực phẩm được thủy phân thành các phân tử glucose dưới tác dụng

của các enzyme α-amylase và α-glucosidase trước khi các phân tử này được vận chuyển

vào máu và gây tăng đường huyết sau ăn [420]. Sự ức chế hoạt động của các enzyme

này có thể làm chậm quá trình tiêu hóa và hấp thu carbohydrate, dẫn đến giảm đường

huyết sau ăn, một trong những mục tiêu quan trọng trong kiểm soát đái tháo đường

[439]. Trên thực tế, các loại thuốc có tác dụng ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột như

acarbose và voglibose được sử dụng tương đối hiệu quả trong điều trị đái tháo đường

thông qua kiểm soát sự gia tăng đường huyết sau ăn [389].

a. Hoạt tính ức chế α-amylase

Các nghiên cứu cho thấy chiết xuất thực vật có khả năng kiểm soát đường huyết

thông qua ức chế hoạt động của α-amylase [218]. Khả năng ức chế α-amylase mô tả bởi

giá trị IC50 của các loại cao chiết được thể hiện ở Bảng 3.4. Kết quả cho thấy sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê giữa các loại cao chiết về khả năng ức chế α-amylase. Trong

đó, cao chiết thô (IC50 4,19 µg/mL) thể hiện hoạt tính ức α-amylase là cao nhất và cao

chiết ethyl acetate (IC50 12,32 µg/mL) là thấp nhất. Cao chiết thô và phân đoạn nước

WF có hoạt tính ức chế α-amylase cao hơn so với acarbose (IC50 5,91 µg/mL). Hoạt tính

ức chế α-amylase của BF không có khác biệt đáng kể với acarbose (p > 0,05). Trong khi

đó, EAF có hoạt tính ức chế α-amylase thấp nhất (12,32 μg/mL) mặc dù có giá trị TPC,

TFC và hoạt tính chống oxy hóa cao nhất. Kết quả này có thể do đồng tương tác của các

hợp chất trong cao chiết nên làm cho khả năng ức chế α-amylase cao trong chiết tổng

cao hơn so với các loại cao chiết phân đoạn.

Kết quả trên phù hợp với một số nghiên cứu cho thấy chiết xuất từ một số cây thuốc

thuộc chi Trâm thể hiện khả năng kiểm soát đường huyết thông qua ức chế α-amylase

[31, 223, 301]. Hoạt tính ức chế α-amylase của cao chiết thô và các cao phân đoạn từ vỏ

thân cây Trâm vỏ đỏ có thể so sánh với cao chiết từ lá Syzygium cumini (IC50 39,9

μg/mL) theo Poongunran et al. (2017) [301] hoặc cao chiết xuất từ lá Syzygium aqueum,

(IC50 8 μg/mL) theo Manaharan et al. (2012) [223]. Nghiên cứu của Cappetti et al.

(2020) cho thấy rằng hoạt tính ức chế α-amylase của các chiết xuất từ cây thuốc có thể

khác nhau phụ thuộc vào nhiều kiểu tương tác giữa các thành phần hoạt chất [63]. Sự

khác nhau về hoạt tính ức chế α-amylase giữa các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ

đỏ có thể do sự khác nhau trong thành phần hoạt chất cũng như tương tác giữa chúng

trong các loại cao chiết. Sultana et al. (2020) báo cáo rằng khi các hợp chất polyphenol 75

với độ phân cực tương đồng tập trung cao trong cao chiết có thể tương tác với nhau và

ngăn cản chúng tương tác với trung tâm hoạt động của enzyme, dẫn đến giảm hoạt tính

ức chế [363]. Kết quả tương tự được báo cáo bởi Grussu et al. (2011) rằng hàm lượng

cao các hợp chất polyphenol trong quả mâm xôi vàng không làm tăng hoạt tính ức chế

α-amylase [139]. Do đó, nghiên cứu sâu hơn về thành phần hoạt chất chính cũng như

các tương tác giữa chúng trong hoạt động ức chế α-amylase là cần thiết nhằm khai thác

hiệu quả ứng dụng chống đái tháo đường của cây thuốc này.

Bảng 3.4. Khả năng ức chế enzyme thủy phân tinh bột của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum L. (DC.))

Cao chiết

CE EAF BF WF Acarbose (Đối chứng dương)

Khả năng ức chế enzyme, IC50 (µg/mL) α-glucosidase α-amylase 0,41 ± 0,01b 4,19 ± 0,01d 0,43 ± 0,01b 12,32 ± 0,01a 0,37 ± 0,01c 5,88 ± 0,00b 0,69 ± 0,01a 4,52 ± 0,00c 16037,86 ± 5,08* 5,91 ± 0,09b Ghi chú: Giá trị trung bình ± SEM (n = 3). Các ký tự khác nhau (a-d) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các loại cao chiết theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). CE: Cao chiết thô; EAF: Cao chiết phân đoạn ethyl acetate; BF: Cao chiết phân đoạn n-Butanol; WF: Cao chiết phân đoạn nước;

b. Hoạt tính ức chế α-glucosidase

Khả năng kiểm soát đường huyết và chống đái tháo đường của các chất ức chế α-

glucosidase từ thực vật đã được minh chứng qua nhiều công bố khoa học cũng như trong

thực tiễn ứng dụng theo báo cáo phân tích tổng hợp của Dirir et al. (2022) [102]. Khả

năng ức chế α-glucosidase của các loại cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ mô tả bởi giá

trị IC50 được thể hiện trong Bảng 3.4. Kết quả cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê giữa các loại cao chiết phân đoạn về khả năng ức chế α-glucosidase. Trong đó, BF

có hoạt tính ức chế enzyme cao nhất (IC50 0,37 μg/mL) và thấp nhất là cao chiết phân

đoạn nước WF (IC50 0,69 μg/mL). Hoạt tính ức chế α-glucosidase của EAF và CE không

có sự khác biệt có ý nghĩa, với giá trị IC50 lần lượt là 0,43 và 0,41 μg/mL (p > 0,05). Tất

cả các loại cao chiết đều có hoạt tính ức chế α-glucosidase cao hơn rõ rệt so với acarbose

(p < 0,05). Kết quả này phù hợp với một số nghiên cứu cho thấy các loại cao chiết từ

cây thuốc thuộc chi Trâm có tiềm năng chống đái tháo đường thông qua ức chế α-

glucosidase [32, 192, 223]. Hoạt tính ức chế α-glucosidase của cao chiết thô và cao chiết

phân đoạn từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ có thể so sánh với cao chiết từ lá S. aqueum (EC50

11 μg/mL) theo Manaharan et al. (2012) [223], hay cao chiết từ lá S. malaccense (IC50

76

207,6 μg/mL) theo Arumugan et al. (2016) [32]. Tiềm năng chống đái tháo đường thông

qua ức chế α-glucosidase từ ruột chuột của Trâm vỏ đỏ đã được công bố trong nghiên

cứu của Mai et al. (2007), chiết xuất từ lá với IC50 là 0,1 mg/mL [219], và Nguyen et al.

(2019), chiết xuất vỏ thân với IC50 là 109 μg/mL [268]. Kết quả trong nghiên cứu này

cho thấy rằng, tiềm năng chống đái tháo đường đáng kể của các loại cao chiết từ vỏ thân

cây Trâm vỏ đỏ thông qua ức chế α-glucosidase và quá trình phân đoạn có thể tập trung

các chất ức chế α-glucosidase về một số phân đoạn nhất định, thuận lợi cho các nghiên

cứu phân tích chuyên sâu về thành phần hoạt chất cụ thể.

Theo công bố của Wang et al. (2012), hoạt chất sử dụng điều trị bệnh đái tháo đường

thông qua ức chế các enzyme thủy phân tinh bột đạt hiệu quả cao khi chúng có khả năng

ức chế α-amylase trung bình và ức chế α-glucosidase cao. Quá trình này có thể làm giảm

tác dụng phụ do giảm được quá trình lên men bất thường xảy ra trong ruột kết [397].

Các kết quả trong nghiên cứu này cho thấy, các hợp chất tiềm năng trong hỗ trợ giảm

đường huyết thông qua ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột tập trung cao ở hai phân đoạn

ethyl acetate và n-butanol. Tuy nhiên, để xác định cao chiết tiềm năng sử dụng trong kiểm

soát bệnh đái tháo đường cần có minh chứng trên các mô hình in vivo và trên lâm sàng.

3.1.2.4. Khả năng kháng hại khuẩn và kích thích sinh trưởng lợi khuẩn trong điều kiện

in vitro

a. Khả năng ức chế sinh trưởng của vi khuẩn gây bệnh

Các nghiên cứu gần đây cho thấy có mối tương quan chặt chẽ giữa đái tháo đường

và nhiễm trùng gây nên bởi E. coli và S. aureus. Wiwanitkit (2011) nhấn mạnh mối liên

hệ rõ ràng giữa đái tháo đường và nhiễm trùng do E. coli, đặc biệt là bệnh nhi mắc đái

tháo đường phụ thuộc insulin, trong khi các tài liệu nghiên cứu bổ sung cho thấy nhiễm

E. coli góp phần vào sự phát triểm viêm phúc mạc ở người mắc đái tháo đường [402].

Hơn nữa, Sonkoue et al. (2022) phát hiện ra rằng bệnh nhân đái tháo đường mất cân

bằng đường huyết dễ bị nhiễm E. coli đa kháng thuốc [355]. Trong khi đó, Butrico et al.

(2023) chứng minh rằng tăng đường huyết làm nghiêm trọng thêm tình trạng nhiễm

khuẩn S. aureus [55]. Ngoài ra, Liang et al. (2023) nhấn mạnh mối liên hệ giữa tỷ lệ lưu

hành toàn cầu của S. aureus trong thực phẩm với sự phát triển của đái tháo đường và

tóm tắt các cơ chế chính liên quan đến nhiễm khuẩn S. aureus và đái tháo đường tuýp 2

[206]. Do đó, khả năng ức chế E. coli and S. aureus có thể đóng vai trò quan trọng trong

việc nâng cao hiệu quả phòng trị đái tháo đường.

77

Hoạt tính ức chế vi khuẩn gây bệnh E. coli và S. aureus mô tả trên Bảng 3.5 cho

thấy, đường kính vùng kháng khuẩn tăng dần theo chiều tăng nồng độ ở tất cả các loại

cao chiết. Trong đó, hoạt tính của EAF cao hơn đáng kể so với các loại cao chiết còn lại

ở khả năng ức chế cả hai chủng vi khuẩn (p < 0,05). Đường kính vùng kháng khuẩn

trung bình của EAF đối với E. coli và S. aureus đạt lần lượt 21,0 và 23,0 mm trong khi

các loại cao chiết còn lại đạt giá trị từ 16,5 đến 17,5 mm tại nồng độ 100 mg/mL. Kết

quả xác định giá trị nồng độ tối thiểu ức chế (Minimun Inhibitory Concentration, MIC)

mô tả ở Bảng 3.6 cho thấy có sự khác biệt đáng kể trong hoạt tính ức chế của các loại

cao chiết khác nhau đối với từng loại vi khuẩn.

Cụ thể, đối với E. coli, EAF cho thấy khả năng ức chế mạnh nhất với giá trị MIC ở

mức 3,1 mg/mL trong khi các loại cao chiết còn lại không cho thấy sự khác biệt với giá

trị MIC là 12,5 mg/mL. Trong khi đó, S. aureus cho thấy sự nhạy cảm hơn E. coli dưới

tác động các loại cao chiết, đồng thời có sự khác biệt rõ rệt giữa các loại cao chiết với

nhau. Hoạt tính ức chế S. aureus cao nhất là EAF (0,8 mg/mL), thấp nhất là WF (3,1

mg/mL). BF và CE có tác dụng tương đương với giá trị MIC ở mức 1,6 mg/mL. Kết quả

này có thể so sánh với với báo cáo của Deepika et al. (2014) cho thấy chiết xuất EAF từ

lá S. zeylanicum (L.) DC. có khả năng kháng E. coli (kích thước vùng kháng khuẩn đạt

8.3±0.11 mm tại nồng độ 25 mg/mL) nhưng không ghi nhận khả năng kháng S. aureus

[94]. Nghiên cứu này cho thấy tác dụng kháng khuẩn tốt của EAF từ vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ đối với cả hai loại vi khuẩn, đồng thời cho thấy khả năng đối kháng S. aureus

(MIC là 0,78 mg/mL) tốt hơn so với E. coli (MIC là 1,56 mg/mL) (Bảng 3.6). Kết quả

này tương đồng với báo cáo của Nagwa et al. (2019) cho thấy các chiết xuất từ lá

Moringa oleifera (L.) và hoa của Matricaria recutita (L.) có khả năng đối kháng S.

aureus mạnh hơn so với E. coli [34].

78

Bảng 3.5. Khả năng ức chế Echesteria coli ATCC25923 và Staphylococcus aureus ATCC25923 của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.)

Đường kính vùng ức chế (mm) theo nồng độ cao chiết (mg/mL)

Chủng vi khuẩn

Tetracycline (0,1 mM)

EAF

1,0 8,3±0,3H

2,0 10,0±0,0aG

12,5 15,0±0,6aF

25,0 16,5±0,3aE

50,0 19,0±0,0aD

75,0 20,0±0,0aC

100,0 21,0±0,0aB

Echesteria coli

BF

-

7,7±0,3bG

11,5±0,3bF

14,0±0,0bE

15,0±0,0bD

16,0±0,0bC

17,0±0,0bB

27,0±0,6A

ATCC25923

WF

-

7,7±0,3bF

10,7±0,3bcE

11,8±0,1cD

14,8±0,1bC

15,5±0,0bcC

16,5±0,3bB

CE

-

7,7±0,3bG

10,5±0,3cF

12,0 ± 0,0cE

13,0 ± 0,6cD

15,0 ± 0,0cC

16,5 ± 0,3bB

EAF

8,3±0,3H

10,3±0,3aG

17,0±0,0aF

18,0±0,0aE

19,5±0,3aD

21,0±0,0aC

23,0±0,0aB

Staphylococcus

BF

-

7,7±0,3bF

12,7±0,3bE

13,5±0,3bE

14,5±0,3bD

15,5±0,3cC

17,0±0,3bB

aureus

31,3±0,7A

WF

-

7,7±0,3bF

11,3±0,3cE

13,5±0,3bD

15,5±03cC

17,0±0,0bB

17,5±0,3bB

ATCC25923

CE

-

7,7±0,3bF

10,7±0,3cE

12,0 ± 0,0cD

13,0 ± 0,0dC

16,5 ± 0,3bB

17,0 ± 0,0bB

Ghi chú: Giá trị trung bình ± SEM (n =3). Các ký tự khác nhau (a-c) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các loại cao chiết ở cùng nồng độ

(cột) và các ký tự khác nhau (A-E) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nồng độ trong cùng cao chiết (hàng) theo Fisher’s Least Significant

Difference (LSD) test ( = 0,05).

79

Bảng 3.6. Giá trị nồng độ tối thiểu ức chế sinh trưởng vi khuẩn (MIC) của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.)

Echesteria coli ATCC25923

Nồng độ cao chiết (mg/mL) 12,5

EAF -

BF -

WF -

CE -

Staphylococcus aureus ATCC25923 BF WF EAF - -

CE -

-

6,25 3,13

- -

+ +

+ +

+ +

- -

- -

- -

- -

1,56

+

+

+

+

-

-

+

-

0,78

+

+

+

+

-

+

+

+

0,39

+

+

+

+

+

+

+

+

MIC (mg/mL)

3,13

12,50

12,50

12,50

0,78

1,56

3,13

1,56

Ghi chú: CE: Cao chiết thô; EAF: Cao chiết phân đoạn ethyl acetate; BF: Cao chiết phân

đoạn n-Butanol; WF: Cao chiết phân đoạn nước; “-”, màu xanh: không ghi nhận sự phát

triển của vi khuẩn; “+”, màu đỏ: có ghi nhận sự phát triển của vi khuẩn;

Các hợp chất tự nhiên có thể đối kháng vi khuẩn gây bệnh với nhiều cơ chế khác

nhau và được xác định là nền tảng quan trọng để chống lại tình trạng kháng kháng sinh

đang gia tăng [189, 303, 326]. Một số công bố cho thấy, các hợp chất polyphenol và

flavonoid có thể ức chế vi khuẩn theo một số cơ chế như tương tác với protein màng

làm thay đổi cấu trúc và chức năng protein màng; thay đổi tính thấm của màng và cản

trở các chức năng màng gồm vận chuyển điện tử, hấp thu chất dinh dưỡng, sinh tổng

hợp nucleic acid và protein, chức năng enzyme [212]. Do đó, sự tập trung cao các hợp

chất polyphenol và flavonoid về cao chiết EAF (Bảng 3.1) có thể đã giúp nâng cao hoạt

tính kháng khuẩn của cao chiết này. Ngoài ra, mức độ nhạy cảm của S. aureus so với E.

coli có thể đến từ sự khác biệt trong cấu trúc thành tế bào [422], trong đó thành tế bào

nhiều lớp của E. coli có thể đã ngăn chặn sự xâm nhập của các hợp chất kháng khuẩn

tiềm năng từ đó giảm hiệu quả tác động của cao chiết so với S. aureus.

b. Khả năng kích thích sinh trưởng lợi khuẩn của cao chiết trong điều kiện in vitro

Theo các tài liệu khoa học, các lợi khuẩn (probiotic) có thể là một lựa chọn bổ trợ

trong điều trị đái tháo đường tuýp 2 để cải thiện tình trạng rối loạn lipid máu và thúc

đẩy cải thiện kiểm soát trao đổi chất [177]. Lactobacillus casei có thấy có những lợi ích

trong phòng chống đái tháo đường, như cải thiện khả năng đáp ứng đường huyết ở bệnh

nhân đái tháo đường tuýp 2 [187] và thay đổi thành phần hệ vi sinh đường ruột ở chuột

đái tháo đường [308].

80

Kết quả mô tả trong Bảng 3.7 cho thấy sự khác biệt đáng kể trong khả năng kích

thích sinh trưởng L. casei của các loại cao chiết và trong các điều kiện có/không bổ sung

glucose vào môi trường nuôi cấy (p < 0,05). Trong điều kiện nuôi cấy không bổ sung

glucose, khả năng kích thích sinh trưởng L. casei của EAF là lớn nhất, đạt 42,48%, thấp

nhất là CE với giá trị đạt 24,45%, WF có hoạt tính tốt hơn so với BF với giá trị lần lượt

đạt 39,66 và 26,48% tại nồng độ 2 mg/mL. Kết quả này cho thấy, khả năng kích thích

sinh trưởng L. casei của các loại cao chiết phụ thuộc vào thành phần hoạt chất và nồng

độ tác dụng, nồng độ cao có thể gây ức chế ngược.

Trong điều kiện môi trường nuôi cấy bổ sung glucose, hoạt tính kích thích sinh

trưởng L. casei của các loại cao chiết thay đổi đáng kể (p < 0,05). Cụ thể, hoạt tính của

EAF và CE tăng lên trong khi hoạt tính của BF và WF giảm đi. Hoạt tính của EAF tăng

mạnh nhất và đạt cực đại ở nồng độ 1,75 mg/mL (55,25%), trong khi đó hoạt tính của

CE tăng ở mức độ thấp hơn và đạt cực đại ở 2 mg/mL (23,56%). Ngược lại, BF và WF

giảm mạnh khả năng sinh trưởng của L. casei về mức 25,23 và 20,04% tại nồng độ 2

mg/mL. Kết quả này cho thấy, thành phần hoạt tính kích thích lợi khuẩn L. casei là một

nhóm chất nhất định được tách về phân đoạn ethyl acetate trong quá trình trích ly. Báo

cáo phân tích tổng hợp của Plamada et al (2021) cho thấy rằng các polyphenol có thể

đóng vai trò là prebiotic mới nhờ khả năng kích thích sinh trưởng của rất nhiều nhóm

lợi khuẩn trong điều kiện in vitro và in vivo [299]. Do đó, sự tập trung với hàm lượng

cao các hợp chất polyphenol về EAF (Bảng 3.1) có thể đóng vai trò quan trọng trong

việc nâng cao hiệu quả kích thích sinh trưởng lợi khuẩn của cao chiết. Ngoài ra, một

nhóm hoạt chất nhất định có thể có vai trò quan trọng hơn các nhóm khác. Do đó, việc

phân tách hoạt chất, đánh giá mối liên hệ giữa thành phần hoạt chất và hoạt tính là cần

thiết để bổ sung thêm các hiểu biết mới về cơ chế tác động kiểm soát đường huyết và

chống đái tháo đường của cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ.

81

Bảng 3.7. Khả năng kích thích sinh trưởng lợi khuẩn Lactobacillus casei của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) trong điều kiện tăng đường huyết in vitro

Mức độ tăng sinh trưởng (%) theo nồng độ cao chiết (mg/mL)

Cao

Điều kiện

chiết

0,25

0,50

0,75

1,00

1,25

1,50

1,75

2,00

Non-

3,31±0,14fB

7,80±0,43efC

11,59±1,39deBC 16,78±1,87dD

24,27±2,81cBC

32,75±2,74bA

43,86±1,08aB

42,48±1,44aB

EAF

glucose

Glucose

7,30±0,00eAB

14,97±1,39dAB

15,30±1,21dB

26,22±1,85cB

26,77±1,15cB

28,10±0,90cB

55,25±2,91aA

47,23±2,84bA

Non-

10,58±1,30cA

11,47±1,97cBC

12,67±1,45cBC

21,29±3,25bC

22,36±1,03abC

24,83±3,03abB

25,22±4,36abD

26,48±2,23aC

BF

glucose

Glucose

-

-

-

-

-

10,40±1,24bE

11,65±0,20bF

25,23±2,05aC

Non-

10,82±0,34eA

16,71±0,88dA

24,49±1,05cA

31,28±1,12bA

32,65±2,80bA

33,50±0,29bA

39,24±1,30aC

39,66±3,68aB

WF

glucose

Glucose

-

-

-

-

-

6,91±0,92bF

16,02±1,79aE

20,04±2,19aD

Non-

-

-

-

3,70±0,04dF

10,33±0,37cE

15,60±0,11bD

18,05±0,55bE

22,45±0,76aCD

CE

glucose

Glucose

-

7,89±0,02dC

9,89±0,06dC

11,16±0,22cdE

15,19±1,06cD

19,87±1,00abC

22,01±0,39abDE

23,56±0,32aCD

Ghi chú: Giá trị trung bình ± SEM (n =3). Dấu "-": không ghi nhận hoạt tính; Non-glucose: môi trường MRS không bổ sung glucose; Glucose: Môi trường

MRS bổ sung glucose (0,8 g/L). Các ký tự khác nhau (a-f) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nồng độ khác nhau của từng cao chiết (hàng) và các

ký tự khác nhau (A-F) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các loại cao chiết trong điều kiện bổ sung và không bổ sung glucose (cột) theo Fisher’s Least

Significant Difference (LSD) test ( = 0,05).

82

3.1.3. Khả năng kiểm soát đường huyết của cao chiết trên mô hình in vivo

3.1.3.1. Đánh giá độc tính của các loại cao chiết trên mô hình cá ngựa vằn

Tính an toàn của các loại cao chiết được đánh giá nhằm xác định ngưỡng an toàn

khi xử lý trên mô hình làm chậm sự gia tăng đường huyết sau ăn, hạ đường huyết trên

cá ngựa vằn đái tháo đường và khả năng kháng viêm trên ấu trùng. Phương pháp ngâm

ấu trùng cá ngựa vằn 5 ngày tuổi và cá trưởng thành với dung dịch nuôi chứa cao chiết

theo hướng dẫn của OECD 203 nhằm đánh giá độc tính qua các con đường khác nhau

gồm hô hấp, da, mắt. Phương pháp cho ăn cưỡng bức theo hướng dẫn của OECD 423

được sử dụng để đánh giá độc tính cao chiết qua đường uống. Kết quả thể hiện trên

Bảng P2.1, Bảng P2.2 và Bảng P2.3 (Phụ lục P.2.11)

Kết quả ở Bảng P2.1 cho thấy, độ an toàn của các loại cao chiết đối với ấu trùng cá

5 ngày tuổi là khác nhau giữa các loại cao chiết. Trong đó, cao chiết phân đoạn ethyl

acetate là an toàn nhất với giá trị LD50 là 29,69 mg/L dung dịch nuôi, tiếp theo là phân

đoạn n-Butanol (LD50 là 19,69 mg/L). Cao chiết thô và phân đoạn nước có độ an toàn

thấp hơn đối với ấu trùng cá, giá trị LD50 lần lượt là 18,44 và 17,81 mg/L dung dịch

nuôi. Trích ly phân đoạn với n-hexane và chloroform có thể đã tập trung các hợp chất

gây độc về hai phân đoạn nêu trên dù rất ít. Bên cạnh đó, một số hợp chất có khả năng

gây độc như kim loại nặng có thể đã tập trung về phân đoạn nước khiến phân đoạn này

ít an toàn hơn. Kết quả cũng xác định được nồng độ an toàn đối với ấu trùng cá của các

loại cao chiết phân đoạn nước, cao thô, phân đoạn n-butanol và ethyl acetate là 10, 10,

10 và 10 mg/L. Ở các nồng độ an toàn, cá bơi bình thường và không có dấu hiệu bất

thường trong thời gian khảo sát.

Bảng P2.2 mô tả độc tính cấp bằng đường uống của cao chiết thô và các loại cao

chiết phân đoạn. Kết quả cho thấy, tất cả cá thể tham gia thử nghiệm đều sống sót và

không có dấu hiệu bất thường trong suốt thời gian theo dõi ở nồng độ thử nghiệm 2.000

mg/kg. Kết quả thử nghiệm ở nồng độ tối đa cho phép (5.000 mg/kg) cho thấy giá trị

LD50 của các loại cao chiết trong khoảng 2.000 đến 5.000 mg/kg. Khoảng giá trị này

cho thấy cao chiết đều thuộc nhóm độc tính thấp theo phân loại của OECD 423.

Bảng P2.3 cho thấy các loại cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ an toàn với cá ngựa

vằn trưởng thành ở nồng độ 10 mg/L. Kết quả này cùng với kết quả đánh giá tính an

toàn bằng đường uống (Bảng P2.2) cho thấy nồng độ cao chiết 75 mg/kg khối lượng cá

(đối với đường uống) và nồng độ cao chiết 10 mg/L dịch nuôi (ngâm) là an toàn cho các

thử nghiệm tiếp theo.

83

3.1.3.2. Khả năng làm chậm gia tăng đường huyết sau ăn

Tăng đường huyết sau ăn (postprandial hyperglycemia) đặc trưng bởi sự gia tăng

lượng đường trong máu sau bữa ăn. Các bằng chứng khoa học cho thấy, tăng đường

huyết sau ăn đóng vai trò quan trọng trong sự khởi phát và tiến triển của các biến chứng

do đái tháo đường mạn tính [67, 147]. Shiraiwa et al. (2005) báo cáo rằng sự gia tăng

đường huyết sau ăn là chỉ thị tốt hơn so với HbA1c trong đánh giá quá trình biến chứng

võng mạc ở người mắc đái tháo đường [346]. Vì vậy, kiểm soát đường huyết sau ăn

được xem là liệu pháp dự phòng và quản lý có hiệu quả các biến chứng cho bệnh nhân

đái tháo đường tuýp 2 [67, 179]. Gần đây, cá ngựa vằn được mô tả là mô hình nhiều

triển vọng để đánh giá tiềm năng chống đái tháo đường của chiết xuất dược liệu [243,

295, 296, 429]. Theo dõi lượng đường trong máu ở cá ngựa vằn có thể mô tả chính xác

trạng thái cân bằng glucose nội môi [109]. Trong nghiên cứu này, cá ngựa vằn được cho

ăn maltodextrin làm nguồn cung cấp đường bột, các công thức thực nghiệm sử dụng

maltodextrin bổ sung cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ, công thức sử dụng maltodextrin

bổ sung acarbose được sử dụng làm đối chứng dương. Hiệu quả tác dụng làm chậm quá

trình tăng đường huyết sau ăn thể hiện ở sự khác biệt có ý nghĩa về mức đường huyết

sau ăn tại các thời điểm 0, 30, 60, 120, 180 phút sau ăn (p < 0,05).

Kết quả ở Hình 3.1 cho thấy, các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ làm chậm

đáng kể sự gia tăng đường huyết sau ăn trên cá ngựa vằn khoảng 12 đến 37% so với đối

chứng chỉ sử dụng maltodextrin (p < 0,05). Trong đó, đường huyết sau ăn của tất cả các

nhóm thực nghiệm đạt đỉnh cao nhất vào 60 phút sau khi ăn. Tuy nhiên, hiệu quả làm

chậm gia tăng đường huyết sau ăn là khác nhau đáng kể giữa các nhóm có bổ sung cao

chiết khác nhau theo thời gian (p < 0,05). Tác dụng làm chậm gia tăng đường huyết sau

ăn của các loại cao chiết được ghi nhận sau 30 phút cho ăn. Các loại cao chiết BF, CE và

EAF có tác dụng làm chậm đáng kể sự gia tăng đường huyết sau ăn từ 26 đến 33% (mức

đường huyết có giá trị tương ứng là 156,8; 143,6; và 141,6 mg/ L) so với đối chứng chỉ

sử dụng matodextrin (210,8 mg/dL), và tương đương với acarbose (149,8 mg/dL). Trong

khi đó, cao chiết WF có mức giảm không đáng kể (12%) so với đối chứng (p > 0,05).

Tác dụng làm chậm gia tăng đường huyết sau ăn rõ rệt nhất của các loại cao chiết

sau 60 phút cho ăn. Các nghiệm thức bổ sung WF, BF, CE và EAF làm giảm đáng kể

mức đường huyết, từ 29 đến 37 % (giá trị lần lượt là 252,0; 249,2; 248,0; 225,8 mg/dL),

so với đối chứng chỉ sử dụng maltodextrin (p < 0,05). Trong đó, các loại cao chiết BF,

CE và EAF có hoạt tính tương đương với acarbose (223,8 mg/dL) (p > 0,05) và cao

84

nước có hoạt tính thấp hơn acarbose (p > 0,05). Hiệu quả tích cực của các loại cao chiết

được duy trì sau 120 phút, với các mức đường huyết thấp hơn từ 20% (CE) đến 35%

(BF), dao động từ 130,6 đến 159,6 mg/dL, so với đối chứng sử dụng maltodextrin (199,6

mg/dL). Trong đó, hoạt tính của CE (159,6 mg/dL) thấp hơn so với BF, WF và EAF với

mức đường huyết lần lượt là 130,6, 133,8 và 133,8 mg/dL, các giá trị này cùng mức với

acarbose (138 mg/dL) (p > 0,05). Sau 180 phút, các loại cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ

đỏ vẫn thể hiện hoạt tính với mức đường huyết thấp hơn đáng kể, từ 13% (EAF) đến

19% (WF), so với đối chứng chỉ sử dụng maltodextrin (137,2 mg/dL) (p < 0,05).

Hình 3.1. Tác dụng của các loại cao chiết từ vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) và acarbose đối với đường huyết sau ăn ở cá ngựa vằn khỏe mạnh

Ghi chú: MD là nghiệm thức chỉ cho ăn matodextrin làm nguồn cung carbohydrate; Aca là nghiệm thức bổ sung thuốc điều trị, Acarbose; EAF, BF, WF, CE lần lượt là các nghiệm thức bổ sung cao chiết phân đoạn ethyl acetate, n-butanol, nước, và cao chiết thô. Mẫu máu được thu nhận tại các thời điểm 0, 30, 60, 120 và 180 phút sau ăn. Đồ thị mô tả dạng Box & Whichkers (min to max, n = 5). Các ký tự khác nhau (a-c) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm trong cùng một thời điểm theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các nghiên cứu trước đây về tác dụng chống

đái tháo đường của một số cây thuốc thuộc chi Trâm thông qua kiểm soát đường huyết

sau ăn được đề cập trong báo cáo dựa trên phân tích tổng hợp nhiều nghiên cứu của

Zulcafli et al. (2020)[442]. Khathi et al., (2013) báo cáo rằng, khả năng chống gia tăng

đường huyết sau ăn trên mô hình chuột gây đái tháo đường bởi streptozotocin của chiết

xuất từ S. aromaticum liên quan mật thiết đến khả năng ức chế α-amylase và α-

glucosidase [192]. Mối liên hệ này cũng được đề cập bởi Nguyen et al. (2019) cho thấy,

chiết xuất methanol của vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ có khả năng ức chế α-glucosidase và

85

có tác dụng hạ đường huyết sau ăn đáng kể ở chuột [268]. Kết quả trong nghiên cứu này

cho thấy, hoạt tính chống gia tăng đường huyết sau ăn của các loại cao chiết từ vỏ thân

cây Trâm vỏ đỏ có thể có mối liên hệ nhất định với khả năng ức chế các enzyme tiêu

hóa tinh bột đã thảo luận ở mục 3.1.2.3. Sự khác nhau về mức độ chống tăng đường

huyết sau ăn của các loại cao chiết có thể do quá trình trích ly phân đoạn làm thay đổi

nồng độ và thành phần các hợp chất có hoạt tính sinh học. Ngoài ra, các tác động phức

tạp khác trong điều kiện in vivo có thể thay đổi hoạt tính của các thành phần hoạt chất

có trong cao chiết [84, 135]. Do đó, cơ chế tác động cụ thể và thành phần hoạt chất có

hoạt tính sinh học này cần được làm rõ trong các nghiên cứu tiếp theo.

3.1.3.3. Hiệu quả hạ đường huyết trên mô hình cá ngựa vằn đái tháo đường

Tác dụng làm chậm gia tăng đường huyết sau ăn có ý nghĩa đối với bệnh nhân đái

tháo đường được kiểm soát tốt, trong khi đó mức đường huyết lúc đói dần tăng lên khi

bệnh diễn tiến xấu [236]. Do đó, ổn định mức đường huyết lúc đói ở bệnh nhân đái tháo

đường là một mục tiêu điều trị quan trọng [92]. Capiotti et al. (2014) chứng minh rằng

sự gia tăng đường huyết lúc đói cho thấy sự suy giảm trong chuyển hóa glucose ở cá

ngựa vằn [64]. Bên cạnh đó, đường huyết lúc đói được sử dụng như một chỉ thị sinh học

quan trọng cho các mô hình cá ngựa vằn đái tháo đường [430]. Điều này cho thấy đường

huyết lúc đói ở cá ngựa vằn có thể sử dụng hiệu quả nhằm sàng lọc các hoạt chất chống

đái tháo đường tiềm năng. Trong nghiên cứu này, cá ngựa vằn đái tháo đường được xử

lý với các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ và metformin (đối chứng dương).

Hiệu quả hạ đường huyết thể hiện ở sự khác biệt về giá trị trung bình mức đường huyết lúc

đói (fasting blood glucose level) ở các thời điểm 0, 5, 10, 15, và 20 ngày điều trị (p < 0,05).

Kết quả mô tả trên Hình 3.2 cho thấy mức độ tác động khác nhau đáng kể của các

loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ và metformin đối với mức đường huyết của cá

đái tháo đường theo thời gian trong 20 ngày điều trị. Các loại cao chiết EAF, WF, CE và

metformin cho hiệu quả giảm mức đường huyết rõ rệt so với đối chứng không điều trị

sau 5 ngày tác động, trong khi BF cho thấy hiệu quả sau 15 ngày. Trong đó, EAF cho

thấy hiệu quả giảm đường huyết nhanh nhất với giá trị 60,20 mg/dL, tương đương cá

bình thường (66,60 mg/dL) và metformin (63,60 mg/dL) sau 5 ngày tác động và duy trì

đến ngày thứ 20 (p > 0,05). BF cho thấy tác dụng chậm nhất với mức đường huyết chỉ

giảm rõ rệt sau 15 ngày, với giá trị 72,20 mg/dL. WF có hiệu quả hạ đường huyết thấp

hơn so với EAF và tốt hơn so với CE và BF sau 5 ngày tác động, tuy nhiên mức đường

huyết duy trì ổn định trong khoảng từ 71,80 mg/dL đến 76,60 mg/dLvà không giảm

86

thêm. CE cho thấy tác động ổn định hơn với mức đường huyết giảm dần đều về tương

đương với cá bình thường sau 20 ngày. Tại thời điểm 20 ngày, kết quả cho thấy EAF,

BF, CE và metformin có mức đường huyết tương đương (p > 0,05), trong khi đó WF có

giá trị cao hơn so với cá bình thường (p < 0,05). Các kết quả trên cho thấy rằng, các loại

cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ đều có tiềm năng ứng dụng như các tác nhân hạ đường

huyết hiệu quả trong điều trị đái tháo đường. Sự khác biệt về hoạt tính theo thời gian tác

động có thể phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau, trong đó, thành phần, hàm lượng hoạt

chất và các tương tác phức tạp của chúng trong cơ thể sống cần đánh giá sâu hơn trên

các mô hình khác và trên lâm sàng.

Hình 3.2. Tác dụng của các loại cao chiết từ vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) và metformin đối với đường huyết ở cá ngựa vằn đái tháo đường.

Ghi chú: NOR, DIA lần lượt là cá ngựa vằn khỏe mạnh và cá ngựa vằn đái tháo đường; MET là nghiệm thức xử lý với thuốc điều trị đái tháo đường, Metformin; EAF, BF, WF, CE lần lượt là nghiệm thức xử lý với các cao chiết phân đoạn ethyl acetate, n-butanol, nước, và cao chiết thô. Giá trị trung bình ± SEM (n = 5). Các ký tự khác nhau (a-c) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm trong cùng một thời điểm và các ký tự khác nhau (A-E) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong cùng một nhóm theo thời gian theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05).

Các kết quả nêu trên cho thấy, cao chiết phân đoạn ethyl acetate có tiềm năng chống

đái tháo đường cao nhất trong các loại cao chiết từ vỏ thân Trâm vỏ đỏ. Các thực nghiệm

tiếp theo được tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả tác động của cao chiết phân đoạn ethyl

acetate đối với sự thay đổi hệ vi sinh đường ruột trên cá đái tháo đường và mức độ biểu

hiện của các gene liên quan kiểm soát đường huyết trong đái tháo đường.

87

3.1.4. Tiềm năng chống đái tháo đường đa mục tiêu của cao chiết phân đoạn ethyl

acetate từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

3.1.4.1. Tác động phục hồi hệ vi sinh đường ruột cá ngựa vằn đái tháo đường

Nghiên cứu này đánh giá khả năng điều chỉnh hệ vi sinh đường ruột cá ngựa vằn

trong quá trình tác động chống đái tháo đường của cao chiết phân đoạn ethyl acetat từ

vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ. Hệ vi sinh đường ruột của cá ngựa vằn ở các nhóm được phân

tích ở thời điểm 20 ngày điều trị. Trong đó, nhóm đối chứng âm bao gồm cá bình thường

và cá đái tháo đường, nhóm điều trị với metformin là đối chứng dương. Kết quả mô tả

sự phong phú các loài vi sinh vật đường ruột của cá ngựa vằn ở ba cấp độ ngành (Hình

P2.2), chi (Hình P2.3) và loài (Hình P2.4) (Phụ lục P.2.14).

Các kết quả cung cấp bằng chứng mới về tác động điều hòa hệ vi sinh đường ruột

của cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ. Hình P2.2 cho thấy có sự khác biệt đáng kể

về hệ vi sinh đường ruột giữa cá đái tháo đường và cá khỏe mạnh, đặc trưng bởi sự gia

tăng nhóm vi khuẩn Proteobacteria, phù hợp với kết quả nghiên cứu được báo cáo bởi

Okazaki et al. (2019) [277]. Các nhóm điều trị với metformin và EAF cho thấy sự khác

biệt rõ rệt hệ vi sinh đường ruột. Cụ thể, metformin gia tăng đáng để nhóm

Proteobacteria và Fusobacteria, trong khi EAF làm giảm sự hiện diện của Proteobacteria

và tăng cường nhóm Actinobacteria. Ngoài ra, chi Acinetobacter được tìm thấy trong

nhóm điều trị với metformin, trong khi chi Mycobacterium được ghi nhận trong nhóm

điều trị với EAF (Hình P2.3).

Tác động của metformin và EAF đến sự phong phú của Acinetobacter sp. và

Mycobacterium abscessus được mô tả trong Hình P2.4. Kết quả cho thấy, EAF giúp

làm giảm sự hiện diện của Acinetobacter sp., trong khi metformin có tác động ngược

lại. Ngoài ra, so với nhóm đái tháo đường không được điều trị, EAF cho thấy khả năng

làm giảm sự hiện diện của Mycobacterium abscessus, vi khuẩn gây bệnh cơ hội phổ

biến trong môi trường nuôi cá, và metformin cũng ức chế vi khuẩn này. Đáng chú ý,

nghiên cứu này cho thấy nhóm cá mắc bệnh đái tháo đường có tỷ lệ lưu hành

Mycobacterium abscessus cao hơn cá bình thường, điều này cho thấy đái tháo đường

làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn gây hại và EAF có khả năng giúp ngăn ngừa sự xâm

nhiễm của các vi khuẩn cơ hội và vi khuẩn gây bệnh đối với cá ngựa vằn đái tháo đường.

Kết quả này phù hợp với báo cáo của Rahman et al (2017) cho thấy các chiết xuất từ

cây thuốc có hiệu quả tác động cao trong việc chống lại sự xâm nhiễm của các vi khuẩn

88

gây bệnh cơ hội đối với cá [312]. Ngoài ra, báo cáo phân tích tổng hợp của Plamada et

al (2021) cho thấy rằng các polyphenol, nhóm chất tập trung với nồng độ cao trong EAF

do quá trình trích ly phân đoạn (Bảng 3.1), có thể vừa kích thích sinh trưởng của lợi

khuẩn, đồng thời ức chế hoạt động của hại khuẩn trên các mô hình nghiên cứu in vitro

và in vivo [299].

Biểu đồ dạng cây (minh họa ở phía trên biểu đồ nhiệt) thể hiện tương quan giữa các

mẫu phân tích, cho thấy sự phân bố vi sinh vật của cá đái tháo đường điều trị với EAF

tương đồng với cá ngựa vằn bình thường hơn so với nhóm được điều trị với metformin.

Kết quả này được củng cố ở phân tích về các con đường chuyển hóa liên quan đến hệ vi

sinh đường ruột được mô tả ở Hình P2.5. Cụ thể, nhóm điều trị với EAF cho thấy các

con đường chuyển hóa có độ tương đồng cao so với cá bình thường, trong khi phương

pháp điều trị với metformin làm thay đổi đáng kể các quá trình trao đổi chất. Nghiên

cứu mới nhất của Ezzamouri et al. (2023) cho thấy metformin tác động điều chỉnh mạnh

mẽ hệ vi sinh đường ruột của bệnh nhân đái tháo đường trong quá trình điều trị [115].

Kết quả tương tự được báo cáo bởi Silamiķele et al. (2021) trên mô hình chuột mắc đái

tháo đường tuýp 2 do chế độ ăn giàu chất béo [349]. Mối liên hệ giữa metformin với các

rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột ở người khỏe mạnh được báo cáo bởi Elbere et al.

(2018) [110]. Điều này có thể liên quan đến các rối loạn tiêu hóa, tác dụng phụ thường

thấy của metformin trong quá trình điều trị đái tháo đường. Kết quả này cho thấy cao

chiết phân đoạn ethyl acetate từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ có tác dụng khôi phục hệ vi

sinh vật đường ruột cá ngựa vằn đái tháo đường về trạng thái khỏe mạnh thay vì tạo nên

sự thay đổi đáng kể như metformin. Điều này cũng minh chứng rằng, EAF có thể là tác

nhân phòng trị đái tháo đường hiệu quả với ít tác dụng phụ hơn.

Các nghiên cứu chỉ ra rằng, các chiết xuất từ thực vật giúp điều hòa vệ vi sinh vật

đường ruột một cách tự nhiên [294]. Trong đó, thành phần các hợp chất polyphenol có

tác động chống đái tháo đường thông qua tái lập cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột [29,

364]. Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng, thành phần các hợp chất polyphenol được tập

trung cao trong phân đoạn ethyl acetate có hiệu quả trong chống đái tháo đường thông

qua hệ vi sinh vật đường ruột. Do đó, việc phân lập các hợp chất là cần thiết nhằm đánh

giá các con đường tác động cụ thể trong các nghiên cứu tiếp theo.

89

3.1.4.2. Khả năng điều hòa biểu hiện gene liên quan kiểm soát đường huyết trên mô

hình cá ngựa vằn

Điều hòa biểu hiện gene đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh đái tháo

đường bằng cách tác động trực tiếp vào con đường truyền tín hiệu, làm giảm hoạt động

của insulin hay tác động gián tiếp thông qua những thay đổi về trao đổi chất và thể dịch

liên quan đến bệnh [361]. Nghiên cứu này tiến hành đánh giá tác động của cao chiết

phân đoạn ethyl acetate từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ đến biểu hiện các gene liên quan đến

quá trình sinh tổng hợp chất béo, insulin và thụ thể insulin, và các gene liên quan đến

hấp thu và con đường tín hiệu trong chuyển hóa glucose. Biểu hiện của các gene này

được đồng thời đánh giá trên các nhóm điều trị với metformin (đối chứng dương), nhóm

đái tháo đường không được điều trị (đối chứng âm), và nhóm cá bình thường (công thức

đối sánh).

a. Tác động điều hòa biểu hiện gene liên quan sinh tổng hợp chất béo

Các con đường tổng hợp chất béo (lipogenic pathways) đóng vai trò quan trọng

trong sự phát triển tình trạng kháng insulin và các rối loạn chuyển hóa liên quan đến

kháng insulin, bao gồm tăng đường huyết trong đái tháo đường [40, 281, 401]. Nghiên

cứu này tiến hành đánh giá ảnh hưởng của cao chiết phân đoạn ethyl acetate đến con

đường tổng hợp chất béo thông qua điều hòa biểu hiện gene SREBF1, ACC1 và FASN.

Gene SREBF1 mã hóa cho các yếu tố phiên mã liên kết với protein điều hòa sterol

1 (Sterol regulatory element-binding protein 1) bao gồm SREBP-1a và SREBP-1c, có

chức năng điều hòa tổng hợp acid béo, triglyceride và cholesterol [15]; sự thay đổi mức

độ biểu hiện gene SREBF1 có quan hệ mật thiết đến tình trạng trao đổi chất liên quan

đái tháo đường. Theo báo cáo của Soronen et al. (2012), bệnh nhân đái tháo đường tuýp

2 sẽ dẫn đến suy giảm mức độ biểu hiện gene SREBF1 [358]. Mức độ biểu hiện thấp

của SREBF1 từ mô mỡ và cơ của bệnh nhân đái tháo đường có thể giải thích về vai trò

của hàm lượng SREBP-1c thấp đối với tình trạng kháng insulin [15]. Việc bất hoạt cả

hai đồng phân của SREBF1 trên mô hình động vật béo phì mắc đái tháo đường tuýp 2

dẫn đến những thay đổi đáng kể trong chuyển hóa carbohydrate nhưng không cải thiện

tình trạng kháng insulin [329]. Do đó, điều hòa biểu hiện gene SREBF1 có vai trò quan

trọng trong việc cải thiện tình trạng kháng insulin cũng như các quá trình trao đổi chất

khác có liên quan.

90

Hình 3.3. Ảnh hưởng của cao chiết phân đoạn ethyl acetate từ vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) đến biểu hiện một số gene liên quan chuyển hóa chất béo

Ghi chú: NOR, và DIA lần lượt là nhóm cá bình thường và cá đái tháo đường. MET và EAF lần lượt là nhóm cá đái tháo đường được xử lý với metformin 20 µM và cao chiết phân đoạn ethyl acetate (10 mg/L). SREBF1: Sterol regulatory element-binding protein 1; ACC1: Acetyl- CoA carboxylase alpha; FASN: Fatty acid synthase. Khác biệt thống kê giữa các nhóm thực nghiệm thực hiện theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). p > 0,05 (ns), p < 0,05 (*), p < 0,01 (**), p < 0,001 (***), p < 0,0001 (****)

Kết quả ở Hình 3.3 cho thấy mức độ biểu hiện gene SREBF1 ở nhóm cá đái tháo

đường không điều trị giảm đáng kể so với nhóm đối chứng khỏe mạnh, thể hiện sự nhất

quán đối với các nghiên cứu đã phân tích ở trên. Đáng chú ý, các nhóm điều trị với

metformin (MET) và cao chiết phân đoạn ethyl acetate (EAF) đều cải thiện đáng kể mức

độ biểu hiện gene SREBF1 so với nhóm đối chứng không điều trị và cá khỏe mạnh (p <

0,05). Trong đó, nhóm điều trị với metformin có sự gia tăng mạnh nhất về mức độ biểu

hiện SREBF1 so với đối chứng (11,6 lần), trong khi đó EAF có mức độ điều chỉnh ổn

định hơn, ở mức 3,3 lần. Hiện tại, chưa có các công bố mô tả mối liên hệ trực tiếp của

metformin cũng như các chiết xuất giàu polyphenol từ thực vật đến biểu hiện gene

SREBF1. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này cho thấy tác động cải thiện tình trạng đái

tháo đường thông qua điều hòa biểu hiện gene SREBF1 của cao chiết giàu polyphenol

từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ.

Gene ACC1 mã hóa cho acetyl-CoA carboxylase 1, enzyme chứa biotin xúc tác cho

quá trình chuyển acetyl-CoA thành malonyl-CoA, bước giới hạn tốc độ kết hợp quá trình

chuyển hóa anaplerotic glucose với quá trình tân tạo chất béo (de novo lipogenesis)

[382]. ACC1 giữ vai trò quan trọng trong điều hòa xuất tiết glucagon, và một số bằng

chứng khoa học cho thấy có mối liên quan giữa mức độ biểu hiện gene ACC1 và đái

91

tháo đường [382]. Kirchner et al. (2016) báo cáo rằng mức độ biểu hiện mRNA của

ACC1 tăng lên ở cả bệnh nhân béo phì không mắc hoặc mắc đái tháo đường tuýp 2

[174]. Trong nghiên cứu này, mức độ biểu hiện gene ACC1 ở cá ngựa vằn đái tháo đường

tăng gấp 3,39 lần so với nhóm khỏe mạnh (p < 0,05, Hình 3.3). Trong khi đó, nhóm xử

lý bằng EAF và metformin đều làm giảm kể đến mức độ biểu hiện gene ACC1. Cụ thể,

mức độ biểu hiện gene ở nhóm đái tháo đường được điều trị với EAF và metformin

giảm xuống lần lượt ở mức 17% và 22% so với nhóm khỏe mạnh, và không có khác biệt

đáng kể giữa hai nhóm (p < 0,05). Kết quả ngày tương đồng với báo cáo trước đây cho

thấy metformin ngăn chặn biểu hiện gene ACC1, giúp giảm sự tích tụ chất béo và quá

trình viêm trong tế bào người [412]. Bên cạnh đó, các tài liệu khoa học cho thấy khả

năng làm giảm biểu hiện gene ACC1 của các chiết xuất từ cây thuốc. Báo cáo của Kim

et al. (2009) rằng chiết xuất từ lá tía tô có thể làm giảm biểu hiện gene ACC1, từ đó làm

giảm khối lượng cơ thể và cải thiện các chỉ số mỡ máu trên mô hình động vật [171]. Parl

et al. (2015) cũng báo cáo rằng raspberry ketone, một phenolic tự nhiên, ức chế biểu

hiện các gene liên quan đến quá trình trao đổi chất béo, bao gồm gene ACC1, trên mô

hình tế bào mỡ 3T3-L1 [289]. Do đó, kết quả này cho thấy tác động của metformin trên

mô hình cá ngựa vằn có thể có cơ chế tương tự trên tế bào người, đồng thời EAF có thể

tác động đến biểu hiện gene ACC1 tương tự như metformin và các chiết xuất từ thực vật

khác đã được báo cáo.

Fatty acid synthase (FASN) là enzyme trung tâm của quá trình tân tạo mỡ, xúc tác

cho quá trình chuyển malonyl-CoA thành palmitate. Mức độ biểu hiện gene FASN có

liên hệ chặt chẽ với béo phì và đái tháo đường tuýp 2 [43]. Nghiên cứu cho thấy, biểu

hiện gen FASN có mối liên hệ phức tạp với nhiều chỉ thị sinh học của béo phì và đái tháo

đường, và có thể đóng vai trò quan trọng phản ảnh mức độ của tình trạng kháng insulin

[225, 230]. Kết quả ở Hình 3.3 cho thấy mức độ biểu hiện gene FASN ở cá ngựa vằn đái

tháo đường thấp hơn đáng kể so với cá bình thường (p < 0,05). Sự suy giảm này có thể

liên quan đến sự giảm biểu hiện gene SREBF1, gene mã hóa cho yếu tố phiên mã tác

động đến sự biểu hiện gene của các quá trình chuyển hóa chất béo bao gồm FASN [253,

278]. Nogalska et al. (2015) báo báo rằng leptin, hormone sinh ra từ mô mỡ, có thể ức

chế biểu hiện gen SREBF1 và các gene mục tiêu điều hòa của nó bao gồm FASN trong

mô mỡ của chuột [253]. Tác động tương tự của các gốc oxy nguyên tử hoạt động từ mô

mỡ (fat reative oxygen species, fROS) đến biểu hiện gene SREBF1 và FASN cũng được

báo cáo bởi Okuno et al. (2018) [278]. Mayas et al. (2010) báo cáo rằng mức độ biểu

92

hiện gene FASN có thể thay đổi, phản ánh mức độ kháng insulin của người mắc đái tháo

đường [225]. Do đó, sự suy giảm mức độ biểu hiện gene của SREBF1 và FASN ở cá

ngựa vằn đái tháo đường có thể phản ánh các rối loạn chuyển hóa phức tạp liên quan

đến tình trạng kháng insulin. Kết quả trên Hình 3.3 cho thấy, cá đái tháo đường xử lý

bằng cao chiết phân đoạn ethyl acetate (EAF) và metformin làm tăng biểu hiện gene

FASN 8,4 và 16,6 lần so với đối chứng âm (cá đái tháo đường không xử lý); 1,7 và 3,3

lần so với cá bình thường. Nghiên cứu này phù hợp với báo cáo của Chen et al. (2018)

cho thấy mức độ biểu hiện gene FASN trên tế bào mô mỡ 3T3-L11 phụ thuộc vào sự

thay đổi nồng độ metformin. Cụ thể, ở nồng độ metformin thấp (1,25 đến 2,5 mM) tăng

mức độ biểu hiện, trong khi đó, ở nồng độ metformin cao (5 và 10 mM) ức chế biểu

hiện gene FASN [82]. Kết quả này cho thấy rằng EAF có khả năng chống đái tháo đường

hiệu quả thông qua cải thiện mức độ biểu hiện gene FASN tương tự cơ chế của metformin.

b. Tác động biểu hiện gene insulin và thụ thể insulin

Insulin (INS) và thụ thể insulin (INSR) đóng vai trò quyết định đến khả năng dung

nạp và chuyển hóa glucose trong tế bào. Sự kết hợp giữa insulin và thụ thể insulin là

khởi động cho chuỗi tín hiệu phân tử giúp mở cổng tế bào để dung nạp glucose. Sự thiếu

hụt insulin hoặc suy giảm khả năng đáp ứng của tế bào với insulin (kháng insulin) là cơ

Hình 3.4. Ảnh hưởng của cao chiết phân đoạn ethyl acetate từ vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) đến biểu hiện gene insulin và thụ thể sau 20 ngày tác động.

Ghi chú: NOR, và DIA lần lượt là nhóm cá bình thường và cá đái tháo đường. MET và EAF lần lượt là nhóm cá đái tháo đường được xử lý với metformin 20 µM và cao chiết phân đoạn ethyl acetate (10 mg/L). INS: insulin; INSRA1: insulin receptors-coding genes a1; INSRB1: insulin receptors-coding genes b1. Khác biệt thống kê giữa các nhóm thực nghiệm thực hiện theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). p > 0,05 (ns), p < 0,05 (*), p < 0,01 (**), p < 0,001 (***), p < 0,0001 (****)

93

chế bệnh sinh cơ bản của đái tháo đường [193, 297, 325]. Nghiên cứu này tiến hành

đánh giá tác động của cao chiết phân đoạn ethyl acetate lên biểu hiện gene mã hóa

insulin (INS) và gene mã hóa các thụ thể insulin bao gồm INSRA1 và INSRB1 trên mô

hình cá ngựa vằn.

Hình 3.4 cho thấy mức độ biểu hiện khác nhau của gene INS và nhóm gene thụ thể

(INSRA1 và INSRB1) trên nhóm cá ngựa vằn đái tháo đường. Trong đó, mức độ biểu

hiện gene INS và INSRA1 tăng lên đáng kể, lần lượt gấp 12,03 và 1,82 lần so với đối

chứng cá khỏe mạnh (p < 0,01), trong khi biểu hiện gene INSRB1 giảm đáng kể, mức

độ biểu hiện tương đương 60% so với đối chứng khỏe mạnh (p < 0,05). Biểu hiện gene

INS tương đồng với báo cáo của Zang et al. (2017) cho thấy sự gia tăng trong biểu hiện

insulin ở cá ngựa vằn gây đái tháo đường bằng phương pháp cho ăn thừa (overfeeding)

[430]. Kết quả tương tự cũng được báo cáo bởi Meng et al. (2017) rằng sự gia tăng biểu

hiện gene INS trên cá ngựa vằn đái tháo đường gây nên các rối loạn trong chuyển hóa

glycolipid [231]. Trong khi đó, biểu hiện gene INSRB1 phù hợp với báo cáo của Santos

et al. (2020) ghi nhận sự suy giảm biểu hiện gene INSRB1 ở cá ngựa vằn đường huyết

cao do tiếp xúc với glucose. Sự khác biệt trong biểu hiện gen INSRA1 và INSRB1 có thể

giải thích theo báo cáo của Gong et al. (2018) rằng hai thụ thể này giữ vai trò khác nhau

trong việc duy trì cân bằng nồng độ glucose nội môi của cá ngựa vằn [137]. Bên cạnh

đó, tỷ lệ cao INSRA/INSRB liên quan mật thiết đến tình trạng kháng insulin ở bệnh

nhân đái tháo đường tuýp 2 theo báo cáo của Malakar et al. (2016) [221]. Các kết quả

trên cùng với mức đường huyết cao ở cá ngựa vằn (Hình 3.2) cho thấy có sự rối loạn

nhất định trong hệ thống tín hiệu insulin, liên quan đến tình trạng kháng insulin, đặc

trưng bởi mức insulin lưu hành cao nhưng tế bào không dung nạp được glucose dẫn đến

sự gia tăng đường huyết.

Kết quả mô tả trên Hình 3.4 cho thấy tác động khác biệt giữa EAF và metformin

trong điều hòa biểu hiện gene mã hóa insulin và các thụ thể của chúng. Cụ thể,

metformin gia tăng mạnh mức độ biểu hiện gene INS, giảm biểu hiện gene INSRA1 về

mức tương đương với cá bình thường (p > 0,05), và gia tăng mạnh biểu hiện gene

INSRB1. Trong khi đó, EAF làm giảm đáng kể biểu hiện gene INS và INSRA1, và tăng

biểu hiện gene INSRB1 ở mức độ thấp hơn so với metformin (p < 0,01). Việc duy trì

biểu hiện gene INS và INSRA1 ở mức thấp, nâng cao biểu hiện INSRB1 ở mức độ thấp

hơn so với metformin, cùng với mức đường huyết ổn định (Hình 3.2), cho thấy EAF có

thể đã cải thiện tình trạng kháng insulin ở cá đái tháo đường.

94

c. Tác động biểu hiện gene liên quan hấp thu và chuyển hóa glucose

Sự hấp thu và chuyển hóa glucose giữ vai trò quan trọng trong duy trì mức đường

huyết ổn định và cung cấp năng lượng cho cơ thể/tế bào. Quá trình hấp thu glucose qua

thành ruột cùng với việc điều tiết tiến trình dung nạp thực phẩm (cảm giác thèm ăn) và

tiêu hóa thức ăn giúp kiểm soát trình trạng tăng đường huyết sau ăn [138]. Kết quả mô

tả trên Hình 3.5 cho thấy cao chiết phân đoạn ethyl acetate từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

có thể tác động lên biểu hiện gene các gene liên quan đến quá trình hấp thu glucose qua

thành ruột (SGLT1) và các con đường tín hiệu trong chuyển hóa glucose (GLP-1).

Hình 3.5. Ảnh hưởng của cao chiết phân đoạn ethyl acetate từ vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) đến biểu hiện gene liên quan hấp thu và chuyển hóa glucose sau 20 ngày tác động.

Ghi chú: NOR, và DIA lần lượt là nhóm cá bình thường và cá đái tháo đường. MET và EAF lần lượt là nhóm cá đái tháo đường được xử lý với metformin 20 µM và cao chiết phân đoạn ethyl acetate (10 mg/L). SGLT1: the sodium-dependent glucose co-transporter; GLP-1: glucagon-like peptide 1. Khác biệt thống kê giữa các nhóm thực nghiệm thực hiện theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). p > 0,05 (ns), p < 0,05 (*), p < 0,01 (**), p < 0,001 (***), p < 0,0001 (****)

Chất mang đồng vận chuyển natri-glucose (Sodium–glucose cotransporters), được

mã hóa bởi gene SGLT1, còn được gọi là SLC5A1, là một trong hai chất trung gian vận

chuyển glucose biểu mô. SGLT1 chủ yếu được tìm thấy ở tế bào biểu mô ruột, giúp hấp

thu glucose từ thức ăn [224, 321]. Sự gia tăng biểu hiện gene SGLT1 đường ruột được

ghi nhận ở nhiều mô hình bệnh đái tháo đường khác nhau như chuột nhắt và chuột cống

mắc đái tháo đường do STZ (STZ-induced diabetes), cũng như ở người mắc đái tháo

đường [199, 234, 356]. Do đó, SGLT1 là mục tiêu trong điều trị đái tháo đường nhờ tăng

cường cân bằng glucose nội môi thông qua giảm hấp thu glucose từ thức ăn qua thành

ruột [356]. Một số chất ức chế SGLT1, như Sotagliflozin và Dapagliflozin, đã được phát

95

triển thành thuốc điều trị đái tháo đường [252, 321]. Tuy nhiên, rất nhiều tác dụng phụ

khác nhau đã được ghi nhận bao gồm tiêu chảy, nguy cơ hạ đường huyết và nhiễm toang

ketone (ketoacidosis, DKA) [66]. Do đó, yêu cầu về các tác nhân kiểm soát SGLT1 hiệu

quả và an toàn hơn là cấp thiết. Kết quả trên Hình 3.5 cho thấy biểu hiện gen SGLT1 ở

nhóm cá đái tháo đường không điều trị tăng gấp 1,83 lần so với cá bình thường. Trong

khi đó, nhóm cá đái tháo đường được điều trị bằng metformin tăng mức độ biểu hiện

gene SGLT1 lên 3,76 lần, ngược lại nhóm cá điều trị với cao chiết phân đoạn ethyl

acetate (EAF) làm giảm biểu hiện gene SGLT1 và duy trì ở mức 32% so với nhóm cá

bình thường. Lenzen S. et al. (1996) báo cáo rằng điều trị bằng metformin (liều 125

mg/kg khối lượng cơ thể, hai lần mỗi ngày trong ba ngày) làm gia tăng đáng kể biểu

hiện gene SGLT1 đường ruột của chuột [200]. Kết quả trong nghiên cứu này phù hợp

với báo cáo của Horakowa et al. (2019) cho rằng metformin giúp giảm lượng glucose

vào máu bằng cách tăng hấp thu và tích lũy glucose vào tế bào biểu mô ruột [151].

Nghiên cứu này cho thấy EAF có thể kiểm soát lượng glucose xâm nhập vào máu bằng

cách trực tiếp ức chế biểu hiện gene SGLT1 thay vì cơ chế tác động của metformin. Kết

quả này có thể minh chứng rằng EAF có thể là nguồn cung cấp các chất ức chế SGLT1

mới. Do đó, nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kiểm soát hấp thu glucose thông qua ức chế

protein SGLT1 hay kiểm soát biểu hiện gene SGLT1, có thể cung cấp thông tin về cơ chế

chống đái tháo đường của Trâm vỏ đỏ.

Glucagon-like peptide-1 (GLP-1) giữ vai trò quan trọng trong kiểm soát quá trình

xuất tiết insulin phụ thuộc glucose (the glucose-dependent stimulation of insulin

secretion) [242]. Sự suy giảm xuất tiết GLP-1 ở người bệnh đái tháo đường có thể góp

phần vào sự gia tăng đường huyết [208]. Việc kích thích tăng mức độ biển hiện gene

GLP-1 trong điều trị đái tháo đường đã chứng minh được hiệu quả thông qua việc tăng

tiết insulin và giảm đường huyết [275]. Kết quả mô tả trên Hình 3.5 cho thấy biểu hiện

gene GLP-1 ở cá ngựa vằn mắc đái tháo đường giảm đáng kể (p < 0,05), duy trì ở mức

32% so với cá bình thường. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây cho thấy

sự gia tăng đường huyết mạn tính là giảm biểu hiện GLP-1, góp phần làm suy giảm tác

dụng của incretin [413]. Trong các nhóm cá được điều trị bằng metformin và cao chiết

ethyl acetate, sự biểu hiện gene GLP-1 gia tăng đáng kể. Trong đó, metformin và ethyl

acetate thể hiện khả năng kích thích tăng mức biểu hiện gene lên 3,85 và 1,66 lần so với

cá bình thường (p < 0,001, Hình 3.5). Kết quả này phù hợp với các báo cáo trước đây

về cơ chế tác dụng chống đái tháo đường của metformin thông qua tác động trực tiếp

96

lên khả năng xuất tiết GLP-1 trong tế bào L ở người [36] và gia tăng biểu hiện gene

GLP-1 ở hồi tràng và ruột kết của chuột [235]. Tuy nhiên, khi những bệnh nhân sử dụng

metformin lâu dài có biểu hiện tác dụng phụ như tiêu chảy và sụt cân được ghi nhận

[362]. Mizoguchi et al. (2023) cũng báo cáo rằng sự gia tăng biểu hiện gene GLP-1 được

điều hòa bởi metformin có thể góp phần gây ra các triệu chứng tiêu chảy ở chuột, tương

tự trường hợp ăn quá nhiều (overeating) [235]. Do đó, hoạt tính điều hòa tăng biểu hiện

gene GLP-1 ở mức độ thấp hơn metformin của EAF cho thấy cao chiết vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ có thể ứng dụng trong điều trị đái tháo đường với tác dụng phụ thấp hơn. Hơn

nữa, Wang et al. (2021) báo cáo rằng một số polyphenol từ cây thuốc thể hiện vai trò

nổi bật trong kiểm soát đái tháo đường tuýp 2 thông qua hệ thống tín hiệu GLP-1. Trong

đó, polyphenol có thể điều tiết sự bài tiết GLP-1 thông qua các thụ thể kết hợp G-protein

(GPCR) hoặc con đường tín hiệu cAMP, ngăn chặn hoạt động của dipeptidyl peptidase

IV (DPP-IV), hoặc điều chỉnh hệ vi sinh đường ruột [395]. Tuy nhiên, vai trò của các

chiết xuất giàu polyphenol hoặc các hoạt chất từ các cây thuốc thuộc chi Trâm trong

kiểm soát đái tháo đường thông qua các con đường nêu trên còn hạn chế [442]. Do đó,

những phát hiện của nghiên cứu này cung cấp các bằng chứng khoa học ban đầu cho

các nghiên cứu sâu hơn về cơ chế chống đái tháo đường của Trâm vỏ đỏ trong tương lai.

3.2. Phân lập các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học từ vỏ thân cây Trâm vỏ

đỏ

3.2.1. Các hợp chất có tiềm năng kiểm soát đường huyết

3.2.1.1. Đặc điểm cấu trúc các hợp chất cô lập được

Cấu trúc hợp chất SBE1

Ellagic acid (EA), màu vàng sáng, 1H-

NMR (600 MHz, DMSO): δ 7.46 (2H, s, H-

13, H-14), 10.58 (2H, s, OH-19, OH-20),

10.795 (2H, s, OH-21, OH-22). 13C-NMR

(150 MHz, DMSO): δ 107.7 (C-9, C-4);

110.3 (C-8, C-3); 112.3 (C-13, C-14); 136.4

(C-10, C-5); 139.6 (C-11, C-16); 148.1 (C-12,

C-15); 159.2 (C-2, C-7). High-resolution

Hình 3.6. Cấu trúc hợp chất SBE1 (Ellagic acid)

electrospray ionisation mass spectrometry

(HR-ESI-MS) (negative mode) m/z 300.9984 [M - H]-

97

Ellagic acid là polyphenol có hoạt tính chống oxy hóa mạnh được tìm thấy ở nhiều

loại rau quả, có nhiều lợi ích chống lại các bệnh lý mạn tính [95]. Các nghiên cứu cho

thấy ellagic acid có khả năng chống đái tháo đường và các biến chứng thông qua nhiều

cơ chế tác động khác nhau gồm cải thiện độ nhạy insulin, ức chế sự hình thành AGEs,

chống stress oxy hóa và kháng viêm [22, 129, 222]. Theo các thử nghiệm lâm sàng được

công bố gần đây, ellagic acid có hiệu quả cải thiện trao đổi chất tổng thể [130] và các

chỉ thị sinh học liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường [184]. Báo cáo phân tích tổng hợp

của Naraki et al. (2023) cho thấy, ellagic acid có khả năng điều hòa đường huyết lúc đói,

tăng tiết insulin và biểu hiện gene IRS1 (insulin receptor substrate protein 1), điều hòa

biểu hiện gene GLUT4 (glucose transporter 4), ức chế sự tích tụ lipid và tình trạng viêm

trong mô mỡ thông qua kiểm soát các tín hiệu adiponectin [246].

Cấu trúc hợp chất SBE2

Hợp chất SBE2 thu được dưới dạng tinh

thể hình kim màu trắng ngà, nhiệt độ nóng

chảy 240-242 °C (MeOH). SBE2 cho phản

ứng dương tính với thuốc thử FeCl3/EtOH,

chứng tỏ đây là một dẫn xuất phenol.

Phổ 1H-NMR xuất hiện tín hiệu các

Hình 3.7. Cấu trúc hợp chất SBE2 ((-)- epicatechin)

proton của vòng benzen 3 lần thế tại [H 6.71

(1H, d, 1.5 Hz); 6.68 (1H, d, 8.5 Hz); 6.58 (1H, dd, 1.5 Hz và 8.5 Hz)] và vòng benzen

4 lần thế tại [H 5.88 (1H, d, 2 Hz) và 5.68 (1H, d, 2 Hz)], hai proton oxymethin tại H

4.48 (1H, d, 7.8 Hz); 3.83 (1H, m giống t) gắn vào carbon mang oxy, nhóm methylene

[H 2.36 (1H, dd, 3.5 và 17.5 Hz) và 2.63 (1H, dd, 4.5 và 17.5 Hz)].

Phổ 13C-NMR kết hợp kỹ thuật DEPT cho thấy SBE2 có 15 carbon gồm 1 carbon

methylen sp3 tại C 27.8; 5 carbon sp2 bậc ba mang oxy [C 144.8; 144.8; 155.3; 156.1;

156.4]; 5 carbon sp2 bậc ba [C 93.8; 95.1; 114.5; 115.0; 118.4]; 2 carbon sp2 bậc bốn

[C 99.0 và 130.5] và 2 carbon bão hòa bậc ba mang oxy [C 81.0 và 66.3].

Dữ liệu phổ NMR xác nhận SBE2 là một flavanol. Phổ HMBC cho thấy proton H-2

H 4.48 và 2 proton của nhóm methylen tại [H 2.36 (1H, dd, 3.5 và 17.5 Hz) và 2.63 (1H,

dd, 4.5 và 17.5 Hz)] tương quan với carbon sp2 bậc ba mang oxy C 155.3 hẳn là C9 và 2

proton methylen là H2-4. Proton H-4 còn tương quan HMBC với C-10 tại C 99.0.

98

Vòng A của khung flavan là một vòng benzen 4 lần thế tại vị trí 1,2,3,5 ; tín hiệu

proton H 5.88 (1H, d, 2 Hz) cho tương quan HMBC với C-9, C-10 hẳn phải là H-8;

proton tại H 5.68 (1H, d, 2 Hz) ghép meta với H-8 phải là H-6. Kết hợp với phổ HSQC,

carbon C 93.8 là C-6, carbon C 95.1 là C-8. Ngoài ra proton H-8, H-6 cùng cho tương

quan với carbon mang oxy C 156.1 xác nhận đây là C-7. Tín hiệu C 156.4 chỉ tương

quan với H-6 khẳng định đây là C-5.

Trên phổ HMBC, proton H-2 tương quan với carbon sp2 bậc bốn C 130.5 hẳn là C-

1’. Hai proton H [6.71 (1H, d, 1.5 Hz); 6.59 (1H, dd, 1.5 Hz và 8.5 Hz)] cùng tương

quan với C-1’ và C-2 nên lần lượt là H-2’ và H-6’. Proton tại H 6.68 (1H, d, 8.5 Hz)

ghép ortho với H-6’ phải là H-5’. Ngoài ra, các proton H-6’, H-5’ và H-2’ cùng tương

quan với carbon C 144.4 hẳn phải là C-4’, tương quan giữa H-5’, H-2’ với carbon C

144.8 ắt hẳn là C-3’.

Phân tích kỹ tín hiệu của hai proton metylen gắn vào C-4 có dạng mũi đôi [H 2.36

(1H, dd, 3.5 và 17.5 Hz) và 2.63 (1H, dd, 4.5 và 17.5 Hz)] và proton H-3 H 3.83 (1H,

m giống t). Hằng số ghép spin của H-4 cao 17.5 Hz khẳng định H-3 nằm ở vị trí xích

đạo. Do vậy, carbon C-3 có cấu hình R.

1H-NMR, δ (ppm), J (Hz): 4.48 (1H, d, 7.8 Hz, H-2); 3.83 (1H, m, H-3); 2.36 (1H,

dd, 3.5 và 17.5 Hz; H-4a) và 2.63 (1H, dd, 4.50 và 17.50 Hz, H-4b); 5.88 (1H, d, 2 Hz,

H-8); 5.68 (1H, d, 2 Hz, H-6); 6.71 (1H, d, 1.5 Hz, H-2’); 6.68 (1H, d, 8.5 Hz, H-5’);

6.59 (1H, dd, 1.5 Hz và 8.5 Hz, H-6’).

13C-NMR, δ (ppm): 81.0 (C2); 66.3 (C3); 27.8 (C4); 156.4 (C5); 93.8 (C6); 156.1

(C7); 95.1 (C8); 155.3 (C9); 99.0 (C10); 130.5 (C1’); 114.5 (C2’); 144.4 (C3’); 144.4

(C4’); 115.0 (C5’); 118.4 (C6’).

Từ các nhận định phổ nghiệm nêu trên và kết hợp với tài liệu tham khảo, hợp chất

SBE2 được nhận danh là (-)-epicatechin. Epicatechin là một flanonoid được tìm thấy

trong trà xanh với hoạt tính chống oxy hóa cao và có tác dụng tích cực trong kiểm soát

nhiều loại bệnh khác nhau, bao gồm đái tháo đường [7]. Các nghiên cứu cho thấy,

epicatechin giúp cải thiện chức năng đảo tụy và tình trạng kháng insulin [72].

Epicatechin giúp duy trì cân bằng glucose nội môi và độ nhạy insulin thông qua khả

năng chống stress oxy hóa [73]. Ngoài ra, epicatechin có khả năng kết hợp với các

polyphenol khác như catechin và rutin, ngăn ngừa gia tăng đường huyết và nguy cơ hạ

đường huyết trên chuột đái tháo đường [227]. Thử nghiệm lâm sàng được báo cáo bởi

99

Esser et al. (2018) cho thấy, epicatechin điều hòa giảm biểu hiện gene liên quan quá

trình viêm, con đường tín hiệu PPAR và quá trình tạo mỡ [114]. Dù không đề cập trực

tiếp đến đái tháo đường, nghiên cứu này cho thấy vai trò của epicatechin trong cải thiện

trao đổi chất tổng thể, bao gồm các con đường chuyển hóa có liên quan đái tháo đường.

Đáng chú ý, nghiên cứu gần đây còn cho thấy rằng epicatechin có thể giúp cải thiện

thiện đái tháo đường tuýp 2 thông qua tái cấu trúc hệ vi sinh đường ruột cũng như các

con đường tín hiệu liên quan trục gan-ruột (Gut-Liver axis) trên mô hình chuột GK [433]

Cấu trúc hợp chất SBE3

1H-NMR (600 MHz, DMSO) thể hiện các tín hiệu

Hợp chất SBE3 là chất bột màu trắng. Phổ

bao gồm: δ 7.05 (2H, s, H-2, H-6); 4.27 (2H, q, J

= 24, CH2); 1.34 (3H, t, J = 12, CH3). Phổ HR-

ESI-MS (negative mode) xác định giá trị m/z

Hình 3.8. Cấu trúc hợp chất SBE3 (Ethyl gallate)

197.0450 [M–H]-. Căn cứ theo kết quả phổ NMR

và HR-ESI-MS xác định hợp chất SBE3 là Ethyl gallate (Hình 3.8)

Ethyl gallate là một ethyl ester của gallic acid, thường được bổ sung vào thực phẩm

với vai trò là chất chống oxy hóa. Tác dụng chống đái tháo đường và béo phì của ethyl

gallate được mô tả bởi Ahn et al. (2022), trong đó ethyl gallate tăng hấp thu glucose và

giảm tích trữ chất béo ở tế bào 3T3-L1 bằng tác động đồng thời lên con đường tín hiệu

PTPN6, AMPK và PPARγ thông hòa điều hòa biểu hiện các gene liên quan [16].

Cấu trúc hợp chất SBE4

vàng, cho phản ứng dương tính với thuốc thử

FeCl3/EtOH, chứng tỏ đây là một dẫn xuất

phenol.

Phổ 13C-NMR của SBE4 có tín hiệu của

15 carbon, bao gồm carbonyl có độ dịch

chuyển hóa học ở δC 177,34; 5 nhóm methine

Hợp chất SBE4 thu được ở dạng bột màu

Hình 3.9. Cấu trúc hợp chất SBE4 (Quercetin)

δC 99.3; 94.4; 116.0; 116.3 và 121.1 ppm cùng 9 carbon bậc 4. Dữ liệu phổ MS và 13C-

NMR cho thấy đây là hợp chất flavonoid.

Phổ 1H-NMR của hợp chất SBE4 cho thấy tín hiệu doublet của 2 proton ghép cặp

meta của proton vòng thơm tại δH 6.20 (1H; d; 2.0Hz) và 6.91 (1H; d; 2.0Hz) tương ứng

100

với C-6 và C-8 của vòng A. Ngoài ra còn xuất hiện doublet của proton thơm vòng B ở

δH 7.75 (1H; d; 2.0Hz); 6,91 (1H; d; 8.5 Hz) và δH 7.65 (1H; dd; 8.5; 2.5 Hz). Các dữ

liệu phổ 1H-NMR và 13C-NMR của hợp chất SBE4 tương tự như dữ liệu phổ NMR của

hợp chất quercetin [435]. Các vị trí proton và carbon của SBE4 đã được xác định dựa

trên cơ sở tương tác trên phổ HSQC và HMBC được đưa lên Hình 3.9. Các mối tương

quan chính trên phổ HMBC của hợp chất đã xác định nhận các vị trí của 5 nhóm

hydroxyl ở các vị trí 5, 7, 3, 3’, 4’ (Hình 3.9).

Trên cơ sở dữ liệu phổ 1D và 2D NMR, so sánh với dữ liệu phổ tham khảo được

công bố bởi Zhang et al. (2014) [435], SBE4 được nhận danh là quercetin. Quercetin là

hợp chất polyphenol thuộc nhóm flavonol được tìm thấy ở nhiều loài thực vật khác nhau.

Khả năng chống oxy hóa mạnh giúp quercetin có thể cải thiện nhiều bệnh lý phức tạp

liên quan đến stress oxy hóa, bao gồm đái tháo đường [23, 155]. Quercetin kích thích tế

bào tăng hấp thu glucose, điều hòa các tín hiệu quan trọng trong con đường chuyển hóa

glucose, cải thiện tình trạng kháng insulin và có hiệu quả chống lại các biến chứng của

đái tháo đường. Nghiên cứu cho thấy, quercetin điều hòa biểu hiện gene liên quan hấp

thu glucose (Glucose transporter-1,2,3,4) và tín hiệu insulin thông qua con đường

IRS1/PI3K/AKT, kháng viêm bằng cách kích hoạt eNOS ( Endothelial Nitric Oxide

Synthase) qua con đường AMPK/PI3K/AKT, chống quá trình glycate hóa qua con đường

TGFβ2/PI3K/AKT, do đó được xem là tác nhân kiểm soát đường huyết và chống đái

tháo đường đa mục tiêu [97, 131].

Cấu trúc hợp chất SBE5

Hợp chất SBE5 phân lập được dưới

dạng tinh thể hình kim màu vàng, nhiệt độ

nóng chảy 181-182 °C (MeOH). Hợp chất

này cho phản ứng dương tính với thuốc thử

FeCl3/EtOH, chứng tỏ đây là một dẫn xuất

phenol.

Phổ 1H-NMR xuất hiện tín hiệu của 1 vòng

Hình 3.10. Cấu trúc hợp chất SBE5 (Quercitrin)

benzen 4 lần thế tại [H 6.38 (1H, d, 1.8 Hz);

6.20 (1H, d, 1.8 Hz)]; 1 vòng benzen 3 lần thế tại [H 6.85 (1H, d, 8.4 Hz); 7.24 (1H, dd, 2

Hz và 8.4 Hz,) và 7.29 (1H, d, 2 Hz), một proton kiềm nối H 12.64 (1H, s); cùng các tín

hiệu proton của một phân tử đường với tín hiệu anomer đặc trưng tại H 5.25 (1H, s).

101

Phổ 13C-NMR cho thấy hợp chất có 21 carbon gồm 6 carbon của một phân tử đường

rhamnose và 15 carbon olefin thuộc 1 khung flavonoid. Kết hợp với kỹ thuật DEPT,

những tín hiệu carbon trên được phân loại thành 7 carbon sp2 bậc ba mang oxy [C 164.1;

161.3; 157.3; 156.4; 145.2; 148.4; 134.2]; 5 carbon olefin bậc ba [C 98.6; 93.6; 115.4;

121.1; 115.6]; 2 carbon sp2 bậc bốn [C 104.0; 120.7] và carbon carbonyl C 177.7.

Dữ kiện phổ NMR khẳng định hợp chất trên là một flavonol mang 1 phân tử đường.

Các tín hiệu proton anomer dưới dạng mũi đơn tại H 5.25 (1H, s) và tín hiệu nhóm

methyl ở trường cao tại H 0.80 (3H.,d, 6.6 Hz) trên phổ 1H NMR khẳng định phân tử

đường là rhamnose với cấu hình α. Phổ 1H NMR xuất hiện tín hiệu của một nhóm

hydroxyl kiềm nối chứng tỏ nhóm hydroxy phải gắn vào C-5. Trên phổ HMBC, tương

quan giữa proton kiềm nối với 1 carbon sp2 bậc ba C 98.6; 1 carbon sp2 bậc ba mang

oxy C 161.3; 1 carbon sp2 bậc bốn C 104.0, do đó ba carbon trên lần lượt là C-6; C-5

và C-10. Kết hợp với HSQC, proton H-6 có độ dịch chuyển hóa học H 6.20 (1H, d, 2

Hz). Proton ghép meta với proton H-6 phải là H-8 tại H 6.38 (1H, d, 2 Hz). Phổ HMBC

cũng cho thấy proton H-6 và H-8 cùng tương quan với C-10 và một carbon mang oxy

C 164.1 hẳn phải là C-7. Ngoài ra, proton H-8 còn cho tương quan HMBC với carbon

mang oxy C 156.4, điều này khẳng định tín hiệu tại C 156.4 là C-9.

Trên phổ HMBC, ba proton H 6.85 (1H, d, 8.4 Hz); H 7.29 (1H, d, 2 Hz) và H

7.24 (1H, dd, 2 Hz và 8.4 Hz) thuộc cùng một vòng benzene 3 lần thế tại vị trí 1,2,4-.

Cả 3 proton trên đều cho tương quan với carbon bậc bốn C 120.7 và carbon mang oxy

C 148.4. Do vậy hai carbon trên lần lượt là C-1’ và C-4’. Proton H 7.29 (1H, d, 2 Hz)

tương quan với C-2 và ghép meta với proton H 7.24 (1H, dd, 2 Hz và 8.4 Hz) hẳn là H-

2’, proton H 7.24 (1H, dd, 2 Hz và 8.4 Hz) tương quan với C-2 và ghép ortho với proton

H 6.85 (1H, d, 8.4 Hz) phải là H-6’, proton H 6.85 (1H, d, 8.4 Hz) còn lại là H-5’.

Phổ DEPT và 13C-NMR xác định C-6’’, C-1’’ lần lượt có độ dịch chuyển hóa học

C [17.4, 101.8]. Trên phổ HSQC, proton H [0.80 (3H, d, 6.6 Hz); 5.25(1H, s)] lần lượt

là H-6’’ và H-1’’. Ngoài ra, còn các tín hiệu proton H [3.97 (1H, s), 3.49 (1H, d, 8.4

Hz); 3.12-3.22 (1H, m); 3.12-3.16 (1H, m)] gắn với carbon có dịch chuyển hóa học

tương ứng C [69.9; 70.3; 70.5; 71.1]. Đây là tín hiệu proton và carbon của phân tử

đường α-L-rhamnose. Tương quan HMBC giũa proton anomer của đường với C-3 của

khung flavonoid khẳng định phân tử rhamnose gắn vào khung tại vị trí C-3 thông qua

liên kết O-glycoside.

102

1H-NMR, δ (ppm), J (Hz): 6.39 (1H, d, 2 Hz, H-8); 6.20 (1H, d, 2 Hz, H-6); 6.85

(1H, d, 8 Hz, H-5’); 7.24 (1H, dd, 2 Hz và 8.5 Hz, H-6’); 7.29 (1H, d, 2 Hz, H-2’); 5.25

(1H, s, H-1’’). 13C-NMR, δ (ppm): 157.3 (C-2); 134.2 (C-3); 177.7 (C-4); 161.3 (C-5);

98.6 (C-6); 164.2 (C-7); 93.6 (C-8); 156.4 (C-9); 104.0 (C-10); 120.7 (C-1’); 115.6 (C-

2’); 145.2 (C-3’); 148.4 (C-4’); 115.4 (C-5’); 121.1 (C-6’); 101.8 (C-1’’).

Từ các nhận định phổ nghiệm nêu trên kết hợp so sánh báo cáo của Zhang et al.

(2014) [435], SBE5 được nhận danh là quercitrin. Quercitrin là dạng glycosyl hóa của

quercetin được tìm thấy trong nhiều loại rau quả. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, chiết

xuất thực vật giàu quercitrin có khả năng chống đái tháo đường cao. Ansari et al. (2022)

báo cáo rằng quercitrin cô lập từ vỏ thân Heritiera fomes kích thích sản xuất insulin

trong điều kiện in vitro và cải thiện chống chịu glucose và đáp ứng insulin trên chuột

[28]. Lenh et al. (2022) cho thấy chiết xuất giàu quercitrin từ Merremia tridentata (L.)

ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột trong điều kiện in vitro và hạ đường huyết hiệu quả trên

chuột đái tháo đường do alloxan [384].

Cấu trúc hợp chất SBE6

Hợp chất SBE6 thu được

ở dạng bột màu vàng, có nhiệt

độ nóng chảy 189-192 °C

(MeOH). Hợp chất này cho

phản ứng dương tính với thuốc

thử FeCl3/EtOH, chứng tỏ đây

là một dẫn xuất phenol.

Phổ 13C-NMR của hợp

Hình 3.11. Cấu trúc hợp chất SBE6 (Rutin)

chất này cho tín hiệu của 15

carbon olefin thuộc khung flavonol và 12 tín hiệu carbon của 2 phân tử đường. Phổ 1H-

NMR xuất hiện hai tín hiệu doublet tại [δH 6.38 (1H, d, 2.0 Hz); 6.19 (1H, d, 2.0 Hz)]

đặc trưng cho hai proton của vòng benzen 1,2,3,5-thế. Hai proton này lần lượt là H-8 và

H-6 của vòng A. Ba tín hiệu proton của hệ ABX [H 7.54 (1H, d, 8.5 Hz); 7.52 (1H, d,

2.0 Hz); 6.84 (1H, d, 8.5 Hz)] được gán cho H-6’, H-2’ và H-5’ của vòng B. Mặt khác,

phổ 1H-NMR và 13C-NMR của SBE6 xuất hiện các tín hiệu đặc trưng của hai phân tử

đường β-D-glucose và -L-rhamnose. Phổ HMBC cho thấy proton anomer của đường

rhamnose δH 4.38 (1H, s) tương quan với C-6” của đường glucose δC 66.9, và proton

anomer của đường glucose [δH 5.34 (1H, d, 7.5 Hz)] tương quan với carbon C-3 δC 133.3

103

trên khung flavonol khẳng định phân tử đường rhamnose gắn vào đường glucose tại C-

1H-NMR, H, ppm: 7.55 (1H, dd, 8.5 và 2.0 Hz, H-6’); 7.53 (1H, d, 2.0 Hz, H-2’);

6’’ và phân tử đường glucose gắn vào phần khung flavonoid tại C-3.

6.85 (1H, d, 8.5 Hz, H-5’); 6.40 (1H, d, 2.0 Hz, H-8); 6.20 (1H, d, 2.0 Hz, H-6); 5.35

(1H, d, 7.5 Hz, H-1’’); 4.38 (1H, s, H-1’’’); 3.71 (1H, d, 10.0 Hz, H-6’’b); 3.37 (1H, m,

H-2’’’); 3.39 (1H, m, H-6’’a); 3.38 (1H, m, H-3’’’); 3.27 (1H, m, H-5’’’); 3.24 (1H, m,

H-5’’); 3.22 (1H, m, H-2’’); 3.21 (1H, m, H-3’’); 3.07 (1H, m, H-4’’’); 3.05 (1H, m, H-

13C-NMR, C, ppm: 177.3 (C-4); 164.0 (C-7); 161.1 (C-5); 156.5 (C-2); 156.3 (C-

4’’); 1.00 (3H, d, 6,0 Hz, H3-6’’’).

9); 148.3 (C-4’); 144.7 (C-3’); 133.2 (C-3); 121.5 (C-6’); 121.1 (C-1’); 116.2 (C-2’);

115.2 (C-5’); 103.9 (C-10); 101.1 (C-1’’); 100.6 (C-1’’’); 98.6 (C-6); 93.5 (C-8); 76.4

(C-3’’); 75.8 (C-5’’); 74.0 (C-2’’); 71.8 (C-4’’’); 70.5 (C-3’’’); 70.3 (C-2’’’); 69.9 (C-4”);

68.1 (C-5’’’); 66.9 (C-6’’); 17.6 (C-6’’’).

Qua phân tích các phổ thực nghiệm, kết hợp với so sánh dữ liệu của Zhang et al.

(2014) [435], SBE6 được nhận danh là Quercetin-3-O-rutinoside (Rutin). Rutin là một

flavonoid được tìm thấy trong nhiều loài thực vật, thể hiện nhiều hoạt tính sinh học quan

trọng như kháng viêm, chống oxy hóa, bảo vệ tế bào thần kinh, gan, thận. Các cơ chế

chống đái tháo đường của rutin bao gồm ức chế hấp thu glucose ở ruột, ức chế tân tạo

đường (gluconeogenesis), tăng hấp thu glucose vào mô, kích thích sản xuất insulin và

chống suy thoái đảo tụy [133]. Nghiên cứu của Ganesan et al. (2020) cho thấy rutin có

khả năng điều hòa biểu hiện gene liên quan đến quá trình chuyển hóa nhiễm toan

(metabolic acidosis) như AQP2, AQP3 và V2R, từ đó chống lại diễn tiến biến chứng ở

thận và cơ tim ở chuột gây đái tháo đường bởi alloxan [124]. Trước đó, Saklani et al.

(2016) đã cung cấp các minh chứng cho thấy rutin có thể giảm mức độ biểu hiện gene

của các tín hiệu viêm liên quan đến diễn tiến biến chứng cơ tim do đái tháo đường như

TNF-α và CRP [333]. Đáng chú ý, sự kết hợp của rutin với các polyphenol khác như

catechin và epicatechin có hiệu quả chống gia tăng đường huyết và nguy cơ hạ đường

huyết trên chuột đái tháo đường [227]. Nghiên cứu mới nhất cho thấy, rutin có khả năng

kết hợp tốt với metformin cải thiện đáng kể chức năng thành mạch bên cạnh hiệu quả

ổn định đường huyết và lipid máu trên chuột đái tháo đường [91]. Ngoài ra, rutin còn

chống đái tháo đường gián tiếp thông qua điều hòa hệ vi sinh đường ruột của chuột đái

tháo đường [57]. Thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 cho thấy,

104

liệu pháp bổ sung rutin cải thiện đáng kể các chỉ số trao đổi chất, kháng viêm và chống

oxy hóa [42].

Cấu trúc hợp chất SBE7

Phổ 1H-NMR cho 2 tín hiệu đặc trưng

của hệ vòng benzen đối xứng trên tại δH

8.03 (2H; d; J = 7.0 Hz; H-2’,H-6’) và δH

6.89 (2H; d; J = 7,0 Hz; H-3’, H-5’); 2 tín

hiệu proton dạng mũi đơn tại δH 6.27 (1H;

s) và δH 6.77 (1H; s) thuộc một khung

flavone; Ngoài ra còn 1 proton δH 4.69 (1H;

d; J = 8.0 Hz; H-1’’) tương ứng với proton

Hình 3.12. Cấu trúc hợp chất SBE7 (Vitexin)

anomer của nhóm glycoside.

Phổ 13C-NMR, kết hợp DEPT-90 và DEPT135, cho 19 tín hiệu cộng hưởng tương

ứng với 21 carbon (có 2 tín hiệu xuất hiện với cường độ gấp đôi), bao gồm 1 carbon

nhóm carbonyl thuộc khung flavone tại δC 182.1, 8 carbon bậc 4, 11 carbon methine và

1 carbon methylene tại δC 61.2. Trong số 21 tín hiệu carbon, có 6 tín hiệu thuộc 1 phân

tử đường và 15 carbon của khung flavone.

Tương quan HMBC giữa proton δH 6.77 với các tín hiệu carbon tại δC 121.6 (C-1’);

δC 163.9 (C-2); δC 104.0 (C-10) cho thấy đây là proton H-3. Tương tự, tương quan

HMBC giữa proton δH 6.27 với tín hiệu carbon tại δC 160.3 (C-5); δC 104.6 (C-8); δC

104.0 (C-10) cho thấy đây là proton H-6. Hằng số ghép J=8.0 Hz của proton anomer H-

1’’ cùng với độ dời hóa học trong vùng 60-80 ppm của 6 tín hiệu carbon (δC 73.3; 70.8;

78.6; 70.5; 81.8 và 61.3) cho thấy đây là 1 phân tử glucose cấu hình beta. Phổ HSQC

cho tương quan proton anomer tại δH 4.69 với tín hiệu carbon 73.3 khẳng định tín hiệu

trên là carbon anomer C-1’’. Do carbon anomer xuất hiện tại từ trường cao nên có thể

nhận thấy glucoside trong phân tử SBE7 có kiểu C-glucoside. Kết hợp tương quan

HMBC giữa proton anomer δH 4.69 (H-1’’) với tín hiệu carbon δC 104.6 (C-8) khẳng

định đây là một flavone gắn đường glucose tại C-8. Thêm vào đó, tương quan HMBC

giữa δH 8.03 (H-2’, H-6’) và 6.89 (H-3’, H-5’) với carbon δC 161.1 (C-4’) cho thấy

nhóm hydroxyl gắn vào vị trí C-4’ của vòng B.

So sánh với dữ liệu phổ được công bố bởi của Zhang et al. (2014) [435], SBE7 được

xác định là Vitexin. Vitexin là một flavonoid C-glycoside có khả năng chống đái tháo

105

đường. Nghiên cứu của Ganesan et al. (2020) cho thấy vitexin giúp phục hồi chức năng

tế bào β và tín hiệu insulin thông qua điều hòa các con đường Nrf2 và NF-B [125]. Ni

et al. (2020) báo cáo cơ chế tác động ức chế α-glucosidase của vitexin tốt hơn acarbose

[250]. Báo cáo phân tích tổng hợp của Abdulai et al. (2021) cho thấy vitexin và

isovitexin có hiệu quả chống đái tháo đường và các biến chứng thông qua tác động đa

mục tiêu [6]. Kết quả tương tự được mô tả trong nghiên cứu của Zhang et al. (2023) cho

thấy, vitexin có khả năng cải thiện biến chứng thận do đái tháo đường bằng cách ức chế

ferroptosis (quá trình tự chết của tế bào phụ thuộc sắt) qua điều hòa biểu hiện glutathione

peroxidase 4 (GPX4) [434]

Cấu trúc hợp chất SBE8

Gallic acid (GA) dạng bột màu trắng; 1H-NMR

(600 MHz, DMSO) δ 7.05 (2H, s, H-2, H-6). HR-

ESI-MS (negative mode) m/z 169.0138 [M - H]-.

Gallic acid (GA) có nhiều trong thực vật ăn được

và thảo dược, có tác dụng cải thiện các rối loạn chuyển

Hình 3.13. Cấu trúc hợp chất SBE8 (Gallic acid)

hóa nhờ hoạt tính chống oxy hóa và kháng viêm. Tác

dụng chống đái tháo đường và các biến chứng của GA liên quan chặt chẽ với khả năng

chống stress oxy hóa [415]. Hoạt tính kháng viêm của GA được chứng minh trong

nghiên cứu của Tanaka et al. (2020), trong đó đề cập đến khả năng ức chế phì đại tế bào

mỡ và viêm do quá trình này tạo ra, từ đó cải thiện kháng insulin [370]. Hiệu quả cải

thiện quá trình chuyển hóa chất béo và chống oxy hóa của GA được minh chứng qua

đánh giá biểu hiện gene liên quan trên mô hình chuột gây đái tháo đường được báo cáo

bởi Chao et al. (2021) [79]. Variya et al. (2020) báo cáo rằng GA từ Emblica officinalis

giúp cải thiện hiệu quả vận chuyển glucose và độ nhạy insulin qua điều hòa biểu hiện

các gene liên quan tín hiệu PPAR-γ và Akt [381]. GA còn kết hợp tốt với metformin giúp

cải thiện chuyển hóa glucose và stress oxy hóa tốt hơn chỉ sử dụng metformin hoặc GA

trên mô hình chuột đái tháo đường [270]. Hiệu quả kết hợp giữa GA và metformin được

minh chứng qua khả năng điều hòa biểu hiện các gene liên quan đến con đường tín hiệu

JAK/STAT theo báo cáo của Elekofehinti et al. (2022) [111]. Nghiên cứu của Bashar et

al. (2021) chứng minh rằng, gallic acid điều hòa tăng biểu hiện gene GLP-1, GLUT-4,

Wnt1 và β-catenin, đồng thời giảm biểu hiện gene ERK1/2/NF-κB, từ đó có khả năng

chống tổn thương gan do đái tháo đường tuýp 2 [41]

106

Cấu trúc hợp chất SBE9

Chlorogenic acid (ChA), chất bột

màu trắng. 1H-NMR (600 MHz,

CD3OD): δ 2.04 (H, m, H-3), 2.20

(H, m, H-5), 3.89 (1H, m, H-1), 4.28

(1H, m, H-6), 5.33 (1H, H-2), 6.28

(1H, J = 19.2, d, H-15), 6.89 (1H, J

= 9.6, d, H21), 7.03 (1H, J = 12, d,

Hình 3.14. Cấu trúc hợp chất SBE9 (Chlorogenic acid)

H-22), 7.06 (1H, s, H-18), 7.55 (1H,

J = 19.2, d, H16); 13C-NMR (150 MHz, CD3OD): δ 40.1 (C-5), 41.2 (C-3), 73.5

(C-2), 73.9 (C-6), 75.6 (C-1), 79.6 (C-4), 117.0 (C-15), 117.7 (C-18), 118.9 (C-

21), 125.5 (C-22), 129.4 (C-17), 147.0 (C-19), 148.8 (C-16), 150.2 (C-20), 171.9

(C-14), 183.7 (C-8). HR-ESI-MS (negative mode) m/z 353.0310 [M-H]-.

So sánh với dữ liệu phổ từ tài liệu đã được công bố bởi của Palierse et al. (2020)

[287], SBE9 được xác định là Chlorogenic acid (ChA). ChA là phenolic có nhiều giá trị

dược học chống đái tháo đường bao gồm hạ đường huyết, giảm mỡ máu, kháng viêm,

chống oxy hóa [418]. Jin et al. (2015) chỉ ra rằng ChlA có thể cải thiện đái tháo đường

thông qua tác động đến nhiều quá trình liên quan chuyển hóa glucose và chất béo trên

mô hình chuột db/db [163]. Tác động tương tự được báo cáo bởi Singh et al. (2021) mô

hình chuột đái tháo đường do streptozotocin [352]. Hiệu quả kiểm soát quá trình chuyển

hóa chất béo và các quá trình chống stress oxy hóa được minh chứng qua khả năng điều

hòa biểu hiện các gene như FASN (fatty acid synthase), ACC (acetyl-CoA carboxylase)

theo Huang et al. (2015)[158, 210], CEBPB và SREBP1 theo Peng et al. (2018) [293],

hay các gene liên quan con đường FXR/FGF15 theo Ye et al. (2022)[421]. Các kết quả

này có thể minh chứng cho các cơ chế chống đái tháo đường liên quan của ChlA.

Cấu trúc hợp chất SBE10

Catechin (Cat), bột màu nâu trắng, 1H-NMR (600 MHz, CD3OD): δ 2.49

(1H, J = 24, dd, H-3), 2.84 (1H, dd, J = 18, H-3), 3.97 (1H, m, J = 24, H-2), 4.55

(1H, d, J = 6, H-1), 5.85 (1H, s, H-6), 5.92 (1H, s, H-8), 6.71 (1H, dd, J = 6, H-

6’), 6.75 (1H, d, J = 12, H-5’), 6.83 (1H, s, H-2’); 13C-NMR (150 MHz, CD3OD):

δ 28.7 (C-3), 69.0 (C-2), 83.0 (C-1), 95.6 (C-8), 96.4 (C-6), 100.9 (C-4), 115.4

107

(C-2’), 116.2 (C-5’), 120.2 (C-6’), 132.4

(C-1’), 146.4 (C-4’), 146.4 (C-3’), 157.1

(C-9), 157.8 (C-7), 158.0 (C-5). HR-ESI-

MS (negative mode) m/z 289.0710 [M-H]-.

Catechin (Cat) có khả năng chống đái tháo

đường thông qua cải thiện kháng insulin, giảm

stress oxy hóa, điều chỉnh chức năng ty thể,

giảm căng thẳng lưới nội chất (ER), kháng

Hình 3.15. Cấu trúc hợp chất SBE10 (Catechin)

viêm, giảm hấp thu đường vào máu và điều hòa

chức năng đường ruột [398]. Nghiên cứu của Samarghandian et al. (2017) chỉ ra rằng

Cat cải thiện đái tháo đường và chống biến chứng bằng cách điều chỉnh stress oxy hóa

trên mô hình chuột đái tháo đường do streptozotocin [334]. Hiệu quả kiểm soát đường

huyết thông qua điều hòa biểu hiện các gene liên quan đến con đường chuyển hóa

glucose được báo cáo bởi Shin et al. (2020) [345], trong khi khả năng điều hòa biểu hiện

gene chống stress oxy hóa được minh chứng qua báo cáo của Zhao et al. (2022) [436].

Đáng chú ý, catechin còn cho thấy hiệu quả chống gia tăng đường huyết hiệu quả khi

kết hợp với các polyphenol khác như epicatechin và rutin trên mô hình chuột đái tháo

đường do alloxan theo Mechchate et al. (2021) [227]. Bên cạnh đó, catechin còn có tác

dụng cải thiện chuyển hóa glucose thông qua điều hòa hệ vi sinh đường ruột ở người

nghi mắc đái tháo đường tuýp 2 theo Ito et al. (2023) [159].

Trong các hợp chất cô lập được từ cao chiết phân đoạn ethyl acetate từ vỏ thân cây

Trâm vỏ đỏ, các hợp chất như gallic acid, chlorogenic acid, catechin, epicatechin,

quercetin, quercitrin, rutin, ellagic acid, ethyl gallate đã được tìm thấy trên một số loài

thuộc Chi Trâm ở các bộ phận thu hái khác nhau, tuy nhiên, vitexin rất ít phổ biến trong

Chi Trâm. Các hoạt tính liên quan đến các hoạt chất này đã được báo cáo gồm chống

oxy hóa, chống tăng sinh tế bào, kháng viêm, chống béo phì và ức chế enzyme tiêu hóa

tinh bột. Cụ thể, Vương et al. (2014) báo cáo rằng gallic acid, chlorogenic

acid, catechin và epicatechin trong quả S. paniculatum Gaertn ở Australia có khả năng

chống oxy hóa và chống tăng sinh tế bào ung thư tụy [386]. Cao chiết hạt S. cumini giàu

gallic acid, (−)-epicatechin, ellagic acid, quercetin có khả năng chống béo phì, tăng khả

năng chống chịu glucose, chống tăng lipid máu và stress oxy hóa trên mô hình chuột

gây béo phì bằng chế độ ăn giàu carbohydrate [379]. Chiết xuất hạt S. cumini với các

108

hợp chất chính là catechin, epicatechin, kaempferol, gallic, 5-caffeoylquinic, caffeic và

ferulic acid thể hiện khả năng chống oxy hóa và ức chế enzyme α-amylase và lipase

tuyến tụy [3]. Catechin hydrate và rutin hydrate là thành phần chính bên cạnh ellagic

acid và quercetin từ S. jambos ở Bangladesh có khả năng chống oxy hóa và kháng viêm

cao [152]. Quercitrin được tìm thấy trong chiết xuất lá S. attopeuense (Gagnep.) Merr.

& L.M.Perry với khả năng kháng viêm thông qua ức chế sản sinh NO do gây viêm bằng

lipopolysaccharide (LPS) trên tế bào RAW264.7 [380]. Chiết xuất nụ đinh hương (S.

aromaticum L.) gồm các hợp chất gallic acid, catechin, chlorogenic acid, caffeic acid,

ellagic acid, rutin, quercitrin, quercetin, kaempferol và luteolin có khả năng ức chế

enzyme tiêu hóa tinh bột và chống oxy hóa [10]. Chiết xuất lá S. brachythyrsum giàu

các thành phần polyphenol trong đó có ellagic acid, quercetin, gallic acid, ethyl gallate

có khả năng kháng viêm [85]. Đáng chú ý, các công bố về thành phần các hoạt chất nêu

trên trong các chiết xuất từ vỏ thân còn rất hạn chế. Shilpa et al. (2023) báo cáo rằng

chiết xuất methanol từ vỏ thân S. caryophyllatum (L.) Alston và Trâm vỏ đỏ (S.

zeylanicum (L.) DC) thu thập tại Ấn Độ có hiệu quả hạ đường huyết trên mô hình chuột

đái tháo đường do alloxan và streptozotocin. Trong đó, thành phần các hoạt chất được

phân tích có liên quan đến nghiên cứu này gồm gallic acid, cholorogenic acid, rutin,

catechin, quecetin. Tuy nhiên, chlorogenic acid, rutin, quercetin không tìm thấy trong

cao chiết methanol của Trâm vỏ đỏ trong nghiên cứu trên. Bên cạnh đó, mối liên hệ giữa

các hợp chất được tìm thấy với các hoạt tính sinh học của các chiết xuất này cũng không

được đề cập [175]. Do đó, các hợp chất bao gồm chlorogenic acid, epicatechin,

quercetin, quercitrin, rutin, ellagic acid, ethyl gallate từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ thu thập

tại Đắk Lắk là các ghi nhận mới trong nghiên cứu này. Ngoài ra, những phân tích về mối

liên hệ với hoạt tính sinh học của cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ trong nội dung

nghiên cứu tiếp theo sẽ cung cấp thêm các minh chứng mới về khả năng hạ đường huyết

đa mục tiêu của các hợp chất nêu trên.

3.2.2. Hàm lượng các hợp chất polyphenol trong các loại cao chiết vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ

Sau khi phân lập các hợp chất, nghiên cứu tiến hành định lượng hàm lượng các hợp

chất trong các loại cao chiết phân đoạn bằng sắc kí lỏng cao áp (UHPLC). Kết quả thể

hiện ở Bảng 3.8

109

Bảng 3.8. Thành phần và hàm lượng các hợp chất polyphenol trong cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum L. (DC.))

Cao chiết

CE

EAF

BF

WF

Hợp chất polyphenol (µg/g CK)

GA

Cat

E-Cat

Caf

EG

RT

EA

Querce

560,627 ± 0,30dJ 1.5454 ± 0,19cF 7.753,74 ± 0,23bE 5.879,54 ± 0,61cA 717,77 ± 0,28cH 1.257,84 ± 0,05bI 1.866,99 ± 0,19dE 4.167,87 ± 0,11bF 3.454,38 ±0,39dC 13.714,90 ± 0,23bB 761,42 ± 0,36dG 2.344,92 ± 0,23cG 604,5 ± 0,49dI 1.048,00 ± 0,16cJ

Ap

ChA

Querci

2.296,90 ± 0,32cH 47.476,10 ± 0,14aB 2.708,73 ± 0,01bF 11.079,70 ± 0,01dA 70.040,80 ± 0, 24aA 16.876,90 ± 0,11bA 43.851,00 ± 0,01aC 4.922,62 ± 0,23aI 5.215,96 ± 0,17aH 14.301,30 ± 0,41aG 23.183,90 ± 0,15aE 3.954,62 ± 0,24aJ 1.345,67 ±0,27aK 21.945,10 ± 0,14aF 25.237,70 ± 0,27aD

5.405,4 ± 0,01dE 493,46 ± 00dI 2.657,29 ± 00cG 7.230,78 ± 0,01cC 5.603,90 ± 0,01bD 2.460,51 ± 0,01bH 447,13 ± 00bJ 8.714,81 ± 0,01cB 3.514,38 ± 0,02cE

- 9.264,81 ± 0,15bD 10.845,7 ± 0,40bC

- 4.598,40 ± 0,26dB 2.630,44 ± 0,45dD

Ghi chú: Giá trị trung bình ± SEM (n = 5). Các ký tự khác nhau (a-d) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê hàm lượng hoạt chất giữa các loại cao chiết (theo hàng) và các ký tự khác nhau (A-E) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các hoạt chất trong cùng một cao chiết (cột) theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). CE: cao chiết thô; EAF: cao chiết phân đoạn ethyl acetate; BF: cao chiết phân đoạn n-Butanol; WF: Cao chiết phân đoạn nước; CK: Khối lượng khô của cao chiết; GA: gallic acid, Cat: catechin, E-Cat: epicatechin, Caf: Caffeine, EG: ethyl gallate, RT: rutin, EA: ellagic acid, Querce: quercetin, Querci: quercitrin, Ap: Apigenin, ChA: chlorogenic acid;

Kết quả phân tích đã xác định được sự có mặt của các hợp chất trong các loại cao

chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ gồm: Gallic acid, catechin, epicatechin, caffein, ethyl

gallate, rutin, ellagic acid, quercetin, quercitrin, apigenin và chlorogenic acid với hàm

lượng khác nhau (Bảng 3.8). Trong đó, Catechin có hàm lượng cao nhất trong CE

(11.079,7 μg/g), tiếp theo là chlorogenic acid, rutin, ellagic acid và epicatechin (5405,5

μg/g đến 8714,81 μg/g), trong khi gallic acid, ethyl gallate, quercetin và quercitrin có

hàm lượng thấp hơn (2708,73 đến 3514,38 μg/g). Caffeine và apigenin có hàm lượng

thấp nhất chiếm từ 447,13 đến 493,46 μg/g (Bảng 3.8). Hàm lượng của hầu hết các hợp

chất trong cao EAF đều cao hơn so với cao BF và cao WF. Trong đó, hàm lượng các

hợp chất trong EAF cao hơn từ 1,6 đến 17,5 lần so với cao chiết thô (CE), tuỳ theo từng

hợp chất. Gallic acid là cao nhất, tăng 17,5 lần, tiếp theo là caffeine, epicatechin,

quercitin và catechin tăng lần lượt là 9,98; 8,1; 7,2; 6,3 lần, và các hợp chất còn lại tăng

từ 1,9 đến 3,0 lần. Các hợp chất quercitrin, caffein, rutin, ethyl gallate, catechin,

epicatechin và chlorogenic acid được tập trung trong phân đoạn n-butanol (tăng từ 1,06

lần, chlorogenic acid, đến 3,1 lần, quercitrin, so với cao chiết thô). Caffeine, catechin và

110

epicatechin được tập trung chủ yếu ở phân đoạn nước (WF), tăng lần lượt là 1,45, 1,12

và 1,1 lần so với cao chiết thô (CE) (Bảng 3.8). Kết quả này cho thấy, các hợp chất có

mức độ tập trung cao trong phân đoạn ethyl acetate và chứa tất cả các thành phần được

phân tích trong cao chiết thô với hàm lượng cao.

3.2.3. Phân tích tương quan (Pearson correlation analysis) giữa các hoạt chất và

hoạt tính sinh học của cao chiết

Phân tích tương quan Pearson (r) giữa hàm lượng polyphenol và flavonoid tổng số

(TPC, TFC), khả năng trung hòa DPPH•, ABTS•+, hoạt tính ức chế α-glucosidase và α-

amylase với thành phần các hợp chất polyphenol được thể hiện ở Bảng 3.9. Kết quả cho

thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa thành phần và hàm lượng của các hợp chất tự nhiên

có hoạt tính sinh học với các hoạt tính sinh học của các loại cao chiết.

Bảng 3.9. Ma trận tương quan Pearson giữa hàm lượng polyphenol và flavonoid tổng số (TPC và TFC), các hoạt tính trung hòa DPPH• và ABTS•+ (DPPH &; ABTS), hoạt tính ức chế α- glucosidase và α-amylase (aAI & aGI), các hợp chất polyphenol của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum L. (DC.))

Mối tương quan rất chặt chẽ giữa TPC và TFC (r = 0,98, p < 0,001) cho thấy

flavonoid là thành phần chính của các hợp chất polyphenol chứa trong vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ. Các thành phần flavonoid cũng thể hiện mối quan hệ chặt chẽ hơn với khả năng

trung hòa gốc tự do DPPH• (r = 0,73, p < 0,001) và ABTS•+ (r = 0,78, p< 0,001) so với

TPC (với hệ số tương quan tương ứng là r = 0,62 và r = 0,67, p < 0,001). Kết quả này

111

tương đồng với các nghiên cứu trước đây cho thấy flavonoid là thành phần chính có hoạt

tính chống oxy hóa của các chiết xuất từ cây thuốc [223, 394]. Hơn nữa, mối tương quan

các hợp chất có thể giúp mô tả rõ ràng sự khác nhau trong khả năng chống oxy hóa giữa

các loại cao chiết. Khả năng trung hòa gốc tự do DPPH• cho thấy mối tương quan rất

chặt chẽ (p < 0,001) với chlorogenic acid (r = 0,93), ellagic acid (r = 0,94), quercetin (r

= 0,97), và apigenin (r = 0,96), trong khi khả năng trung hòa gốc tự do ABTS•+ thể hiện

tương quan lớn hơn với chlorogenic acid (r = 0,91), quercitrin (r = 0,91), ellagic acid (r

= 0,94), caffeine (r = 0,97), gallic acid (r = 0,98), catechin (r = 0,98), và epicatechin (r

= 0,98). Ethyl gallate và rutin thể hiện mối tương quan ở mức trung bình với khả năng

trung hòa gốc tự do DPPH• (hệ số tương quan tương ứng là r = 0,73 và r = 0,59, p <

0,001) và khả năng trung hòa gốc tự do ABTS•+ (r = 0,72 và r = 0,52, tương ứng) mặc

dù chúng được thể hiện là thành phần chính của TPC (hệ số tương quan tương ứng là r

= 0,99 và r = 0,97, p < 0,001) và TFC (hệ số tương quan tương ứng là r = 0,98 và r =

0,93; p < 0,001) (Bảng 3.9). Những kết quả này cho thấy hàm lượng ellagic acid,

quercetin và apigenin cao hơn trong CE có thể hỗ trợ khả năng trung hòa gốc tự do

DPPH• tốt hơn so với BF, WF với hàm lượng ellagic acid, quercetin thấp hơn và không

có apigenin (Bảng 3.8). Tương tự, hàm lượng catechin, epicatechin và caffeine cao hơn

so với CE cũng như hàm lượng thành phần ưa nước khác có thể làm cho khả năng trung

hòa gốc tự do ABTS•+ của WF tốt hơn so với CE và BF.

Hàm lượng polyphenol và flavonoid tổng số (TPC, TFC) và khả năng ức chế

enzyme thủy phân tinh bột thể hiện mối liên hệ không nhất quán (Bảng 3.9). TPC và

TFC có hệ số tương quan (r) nhận giá trị âm ở mức trung bình với giá trị IC50 của hoạt

tính ức chế α-glucosidase, giá trị lần lượt là r = - 0,61 (p < 0,0337), và r = - 0,63 (p <

0,0292), nhưng hệ số tương quan với giá trị IC50 của hoạt tính ức chế α-amylase cho giá

trị dương với mối liên hệ chặt chẽ lần lượt là r = 0,83 và r = 0,91 (p < 0,001). Kết quả

này cho thấy vai trò khác biệt của TPC và TFC đối với khả năng ức chế α-glucosidase

và α-amylase. Đáng chú ý, phân tích mô tả mối tương quan thuận chặt chẽ giữa tất cả

các hợp chất polyphenol được phân tích với giá trị IC50 của hoạt tính ức chế α-amylase.

Điều này giúp giải thích rằng sự tập trung nồng độ cao của các hợp chất này có thể làm

giảm hoạt tính ức chế α-amylase của EAF và BF so với WF và CE (Bảng 3.8). Một số

nghiên cứu mô tả mối tương quan thuận giữa hàm lượng polyphenol và khả năng ức chế

α-amylase [3, 11, 172], tuy nhiên, trong một số trường hợp, không tìm thấy mối tương

112

quan [13]. Sultana et al. (2020) báo cáo rằng, các hợp chất polyphenol có cùng độ phân

cực tập trung ở nồng độ cao có thể tương tác với nhau, làm giảm tương tác của chúng

với trung tâm hoạt động của enzyme [363]. Theo báo cáo của Grussu et al. (2011), mức

độ tập trung cao các thành phần hợp chất polyphenol trong quả mâm xôi vàng không

làm tăng khả năng ức chế α-amylase [139]. Do đó, kết quả trong nghiên cứu này cho

thấy khả năng ức chế α-amylase của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ có thể

bị ảnh hưởng bởi sự tương tác của các hợp chất polyphenol khi ở nồng độ cao trong mẫu.

Đối với hoạt tính ức chế α-glucosidase, phân tích tương quan cho thấy chỉ có ethyl

gallate và rutin có mối tương quan có ý nghĩa, với hệ số tương quan r = - 0,68 (p <

0,016) và r = - 0,78 (p < 0,0025), trong khi các hợp chất khác cho thấy mối tương quan

không đáng kể (Bảng 3.9). Kết quả này cho thấy, các hợp chất polyphenol tác động đến

α-glucosidase ít bị ảnh hưởng do sự tập trung nồng độ cao của các hợp chất polyphenol.

Hơn nữa, ethyl gallate và rutin có thể thể hiện các thuộc tính khác biệt so với các hợp

chất polyphenol khác. Giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ (r = 0,97, p < 0,001), nhưng

chỉ thể hiện mối tương quan ở mức trung bình với các hợp chất khác (không bao gồm

quercitrin trong trường hợp ethyl gallate) (Bảng 3.9). Các dữ liệu này chứng minh rằng

ethyl gallate và rutin có thể đã trở nên đan xen trong quá trình trích ly phân đoạn và

những thay đổi về mức độ tập trung của chúng trong các cao phân đoạn có thể ảnh hưởng

đến hoạt tính sinh học của các loại cao chiết này.

3.2.4. Phân tích thành phần chính (Principal component analysis, PCA) về thành

phần hoạt chất và hoạt tính sinh học của cao chiết

Các kết quả phân tích thành phần chính (PCA) của các loại cao chiết từ vỏ thân cây

Trâm vỏ đỏ được mô tả trong Hình 3.16. Hai chiều mô tả giá trị riêng khoảng 94%,

chiếm phương sai 83,1% bởi Dim. 1 và 11,1% bởi Dim. 2. Nhìn chung, các loại cao

chiết phân đoạn được mô tả với sự khác biệt đáng kể đối với cao chiết thô. Do các cực

khác nhau của chúng, EAF được phân tách rõ ràng bởi Dim. 1 với WF, BF và CE. Mặt

khác, BF khác biệt với WF ở vị trí đối diện bởi Dim 2 và cả hai đều tách biệt với CE.

Những phát hiện này chỉ ra rằng thành phần các chất chuyển hóa của các loại cao chiết hoàn

toàn khác biệt. Sự khác biệt này có thể có tác động đến hoạt tính sinh học của các loại cao

chiết, mô tả bởi hướng mũi tên chỉ hoạt tính chống oxy hóa và ức chế enzyme (Hình 3.16).

So với nước, n-butanol và ethyl acetate là dung môi tốt hơn để trích ly các

polyphenol và flavonoid từ cao chiết thô. Trong số đó, ethyl acetate tập hợp hầu hết các

113

thành phần có hoạt tính chống oxy hóa cao. Những khả năng này đã được thể hiện bằng

hướng đồ thị của DPPH và ABTS ở chiều dương của Dim. 1 và Dim. 2, là cùng phía với

EAF. Trong đó, gallic acid, catechin, epicatechin, ellagic acid, quercetin, caffeine và

apigenin cho thấy vai trò chống oxy hóa tốt hơn so với chlorogenic acid, quercitrin, và

đặc biệt là ethyl gallate và rutin, được tách ra ở phía đối diện của Dim. 2 (Hình 3.16).

WF

EAF

CE

BF

Hình 3.16. Phân tích thành phần chính (PCA) Biplot cho tổng hàm lượng polyphenol và flavonoid, khả năng chống oxy hóa, hoạt tính ức chế enzyme, các hợp chất polyphenol của cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum L. (DC.))

Ghi chú: CE: Cao chiết thô; EAF: Cao chiết phân đoạn ethyl acetate; BF: Cao chiết phân đoạn n-Butanol; WF: Cao chiết phân đoạn nước; GA: gallic acid, Cat: catechin, E-Cat: epicatechin, Caf: Caffeine, EG: ethyl gallate, RT: rutin, EA: ellagic acid, Querce: quercetin, Querci: quercitrin, Ap: Apigenin, ChA: chlorogenic acid; tổng hàm lượng polyphenol và flavonoid (TPC và TFC), các hoạt tính trung hòa gốc tự do DPPH• và ABTS•+ (DPPH & ABTS), các hoạt tính ức chế α-amylase và α-glucosidase (aAI & aGI)

Hướng của các hợp chất polyphenol trong Dim. 2 cũng cho thấy mức độ tập trung

và tương tác của gallic acid, catechin, epicatechin, ellagic acid, quercetin và apigenin

làm giảm hoạt tính ức chế α-amylase của EAF mạnh hơn so với ethyl gallate, rutin,

quercitrin và chlorogenic acid (Hình 3.16). Kết quả có thể giải thích rằng quá trình trích

ly phân đoạn đã làm giàu thành phần các hoạt chất và thay đổi tỷ lệ giữa chúng, do đó

ảnh hưởng đến hoạt tính ức chế α-amylase. Đối với khả năng ức chế α-glucosidase,

114

hướng ngược lại của giá trị IC50 của hoạt tính ức chế α-glucosidase cho thấy các thành

phần hoạt chất có hoạt tính này có thể được thu thập bởi phân đoạn n-butanol thay vì

phân đoạn ethyl acetate. Thật vậy, rutin và ethyl gallate tương quan với giá trị IC50 của

hoạt tính ức chế α-glucosidase theo hướng đối ngược (Hình 3.16), và chúng tương quan

rõ rệt với BF trong Dim. 2. Những phát hiện này cho thấy rằng tỷ lệ hàm lượng rutin và

ethyl gallate lớn hơn trong BF có thể làm tăng tác dụng ức chế α-glucosidase trái ngược

với EAF, có tỷ lệ rutin và ethyl gallate thấp hơn các hợp chất khác (Bảng 3.8).

Dù chưa đủ dữ liệu phân tích mối liên hệ giữa thành phần các hoạt chất trong cao

chiết với các hoạt tính trong điều kiện in vivo. Tuy nhiên, sự tập trung hàm lượng cao

các hoạt chất phân lập được về phân đoạn ethyl acetate phần nào minh chứng cho các

khả năng kiểm soát đường huyết trên cơ sở điều hòa biểu hiện gene liên quan cũng như

hệ vi sinh đường ruột của cao chiết này. Các nghiên cứu cho thấy, hầu hết các hợp chất

phân lập và phân tích được trong nghiên cứu này, đặc biệt là các phenolic như gallic

acid, chlorogenic acid, ellagic acid hay các flavonoid như quercetin, catechin, đã được

minh chứng về kiểm soát đường huyết thông qua điều hòa biểu hiện các gene liên quan

đến quá trình sinh tổng hợp chất béo, các con đường tín hiệu insulin, hấp thu và chuyển

hóa glucose (Mục 3.2.1.1. bên cạnh khả năng điều hòa hệ vi sinh đường ruột của rutin

hay epicatechin. Các nghiên cứu trong tương lai cần xác định, làm rõ hơn ảnh hưởng

của từng đơn chất cũng như những tác động liên hợp giữa các hợp chất này đối với khả

năng kiểm soát các con đường chuyển hóa thông qua biểu hiện các gene liên quan và

điều hòa hệ vi sinh đường ruột. Từ đó, đề xuất các cơ chế tác động cụ thể và các hướng

tiếp cận ứng dụng phù hợp trong thực tiễn.

Phương pháp trích ly phân đoạn có thể giúp giảm chi phí phân lập các hợp chất tinh

khiết dựa trên khả năng tập trung các hợp chất có hoạt tính cao về phân đoạn mục tiêu.

Tuy nhiên, trích ly phân đoạn sử dụng nhiều dung môi hữu cơ nên có thể ảnh hưởng đến

sức khỏe con người và ô nhiễm môi trường. Do đó, nghiên cứu phân đoạn chỉ nhằm xác

định thành phần chính thể hiện hoạt tính sinh học trong cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ

đỏ, làm chất đánh dấu trong kiểm soát dược liệu. Nghiên cứu tiếp theo ứng dụng kĩ thuật

vi bao bằng sấy phun đối với cao chiết thô Trâm vỏ đỏ nhằm nâng cao sinh khả dụng,

đồng thời giảm sử dụng các dung môi hữu cơ độc hại.

115

3.3. Vi bao gói cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

Hoạt tính sinh học của các hợp chất tự nhiên có thể bị suy giảm trong quá trình bảo

quản do tác động của ánh sáng, oxy, nhiệt độ, độ ẩm. Bên cạnh đó, tính khả dụng sinh

học thấp là giới hạn cơ bản trong ứng dụng thực tiễn của hợp chất tự nhiên [284]. Vi bao

gói giúp duy trì tính ổn định về cấu trúc hóa học, hoạt tính sinh học, tăng tính sinh khả

dụng, độ hòa tan và tính thấm qua màng tế bào của các chiết xuất/hợp chất tự nhiên. Đặc

biệt, công nghệ này giúp bảo vệ và kiểm soát giải phóng các hoạt chất giúp nâng cao

hiệu quả tác dụng của các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học [100]. Trong đó, sấy

phun là phương pháp phù hợp nhất hiệu suất vi bao gói cao [375], nâng cao tính sinh

khả dụng của các hoạt chất được vi bao gói [100, 215], và dễ ứng dụng vào sản xuất

công nghiệp nhờ chi phí thấp.

Vật liệu vi bao gói là yếu tố quan trọng liên quan hiệu quả và tính chất của sản phẩm

vi bao gói. Vì vậy, lựa chọn vật liệu vi bao gói phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau

như bản chất của thành phần hoạt chất được vi bao gói, khả năng giải phóng hoạt chất

theo mong muốn, các yêu cầu về độ ổn định và dự kiến ứng dụng của sản phẩm. Nghiên

cứu này sử dụng vật liệu vi bao chính là maltodextrin kháng tiêu hóa (Resistant-digested

maltodextrin, RMD) nhằm vi bao gói cao chiết thô từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ ứng dụng

trong kiểm soát đường huyết. Một số công bố gần đây cho thấy, RMD có hiệu quả bao

gói cao các hợp chất tự nhiên [285]. Đặc biệt, vật liệu này còn đóng vai trò như chất xơ

[8], có tác dụng bổ trợ cho cao chiết trong kiểm soát đường huyết [160], đồng thời tác

động có lợi đến hệ vi sinh đường ruột [427]. Ngoài ra, các vật liệu vi bao gói bổ trợ gồm

gum arabic và cyclodextrin cũng được sử dụng nhằm đánh giá khả năng giúp cải thiện

hiệu quả vi bao gói. Trong đó, gum arabic được chứng minh có thể kết hợp hiệu quả với

maltodextrin hay cyclodextrin trong vi bao gói các hợp chất polyphenol [53] và giúp

chống lại sự biến đổi của chúng dưới tác dụng của enzyme tiêu hóa trong điều kiện in

vitro [9]. Trong khi đó, cyclodextrin có khả năng giúp kiểm soát giải phóng hoạt chất từ

sản phẩm vi bao gói chậm hơn trong quá trình sử dụng [306], đồng thời giúp nâng cao

hiệu quả bao gói, các thuộc tính hóa lý và hoạt tính sinh học của sản phẩm [86].

3.3.1. Điều kiện và chất mang sử dụng vi bao gói cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

Cao chiết thô Trâm vỏ đỏ (CE) được đồng nhất với các vật liệu vi bao gói bao gồm

maltodextrin kháng tiêu hóa (RMD), gum arabic (GA), α-cyclodextrin (α-CD), β-

cyclodextrin (β-CD), và γ-cyclodextrin (γ-CD) theo các công thức khác nhau mô tả ở

Bảng 2.3. Hỗn dịch sau đó được làm khô nhanh bằng kỹ thuật sấy phun và thu được sản

116

phẩm dạng bột mịn, đồng nhất. Các tính chất vật lý, đặc điểm hình thái hạt vi bao được

phân tích. Đồng thời, các hoạt tính sinh học của sản phẩm vi bao đến khả năng kiểm

soát đường huyết như chống oxy hóa và ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột được đánh giá.

Từ đó, công thức vi bao có hoạt tính cao được lựa chọn cho các thử nghiệm trên mô

hình động vật.

3.3.1.1. Các tính chất vật lý và đặc điểm hình thái hạt vi bao

Các thuộc tính lý hóa cơ bản của sản phẩm vi bao gói bao gồm độ ẩm, hoạt độ nước,

mật độ khối, độ phân tán, độ hòa tan, tỷ lệ hấp thụ nước và khả năng trương nở của các

công thức vi bao khác nhau thể hiện trong Bảng 3.10. Trong số các công thức được khảo

sát, sự kết hợp giữa maltodextrin kháng tiêu hoá và gum arabic (T2) tạo sản phẩm vi

bao có độ ẩm và hoạt độ nước thấp nhất với giá trị lần lượt là 2,98% và 0,341. Mật độ

khối của bột dao động từ 0,40 đến 0,48 g/cm3, trong đó công thức T1 và T5 có giá trị

cao nhất. Độ phân tán trong nước, thực hiện theo phương pháp được mô tả bởi Shittu và

Lawal (2007) [347], ở tất cả các mẫu dao động trong khoảng 58,09% đến 62,83% và

không có sự khác biệt đáng kể giữa các công thức.

Tất cả các công thức thử nghiệm đều tạo sản phẩm có độ hòa tan cao (≥ 92,51%),

trong đó công thức T1 và T2 có giá trị cao nhất, lần lượt là 95,06% và 94,59%. Các giá

trị này tương đương với sản phẩm bột gấc được vi bao với hỗn hợp maltodextrin và gum

arabic (94,30%) theo báo cáo của Kha et al. (2014) [186], và cao hơn so với sản phẩm

vi bao các hợp chất polyphenol từ ô liu (dao động từ 79% đến 87%) trong nghiên cứu

của Paini et al. (2015) [286]. Kết quả này cho thấy, sản phẩm vi bao gói cao chiết vỏ

thân cây Trâm vỏ đỏ có khả năng hòa tan cao nên tiềm năng ứng dụng trong các lĩnh

vực khác nhau. Khả năng trương nở của sản phẩm vi bao có giá trị biến động tương ứng

với độ hòa tan. Cụ thể, độ trương nở của công thức T1 và T2 là cao nhất (lần lượt là

192,60 và 175,05 mg/g), tiếp theo là các mẫu T3, T5 và T4 có giá trị thấp nhất. Kết quả

này phù hợp với các nghiên cứu trước đây cho thấy mối tương quan cao giữa độ trương

nở và khả năng hòa tan của sản phẩm vi bao [186, 247, 286]. Tốc độ hấp thu nước có

xu hướng ngược lại với khả năng trương nở và độ hòa tan giữa các sản phẩm vi bao.

Trong khi khả năng trương nở và độ hòa tan của T1 và T2 là cao nhất thì giá trị độ hấp

thu nước của chúng thấp nhất so với công thức còn lại. Ngược lại, công thức T4 có tỷ lệ

hấp thụ nước cao nhất trong khi khả năng trương nở và độ hòa tan trong nước thấp nhất.

117

Bảng 3.10. Các thuộc tính lý hóa của sản phẩm vi bao gói cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

Công thức Vật liệu vi bao

Hoạt độ nước

Độ ẩm (%)

Mật độ khối (g/cm3)

Độ phân tán (%)

Độ hòa tan (%)

Độ hấp thu nước (mg/g)

Khả năng trương nở (mg/g)

T1

RMD

3,07±0,20bc

0,402±0,001a

0,47±0,01a

58,09±1,79a

95,06±0,09a

92,61±3,81c

192,60±3,67a

T2

RMD-GA

2,98±0,22c

0,341±0,001d

0,43±0,01b

59,82±1,43a

94,59±0,07a

93,17±0,84c

175,05±2,23b

T3

RMD-αCD

3,31±0,32b

0,344±0,001c

0,42±0,00 b

62,83±1,63a

94,00±0,20b

116,89±2,41b

157,23±5,62c

T4

RMD-βCD

T5

4,24±0,20ab 4,77±0,40a

0,354±0,001b 0,345±0,001c

0,40±0,01b 0,48±0,02a

59,01±1,49a 59,29±2,24a

92,51±0,23c 93,69±0,14b

148,37±3,25a 98,65±3,98c

123,71±3,97d 148,72±3,58c

RMD-CD

Ghi chú: Giá trị trung bình ± SEM (n = 3). Các ký tự khác nhau (a-d) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các công thức (theo cột) theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). RMD: maltodextrin kháng tiêu hóa, GA: gum Arabic, αCD: α-cyclodextrin, βCD: β-cyclodextrin, CD: - cyclodextrin.

118

Đặc điểm hình thái hạt vi bao được được mô tả trong Hình 3.17 cho thấy các hạt vi

bao (vi nang) ở các công thức đều có dạng hình cầu đường kính nhỏ hơn 10 μm. Sự

phân bố kích thước hạt và độ co (shinkage) của vi nang ở các công thức khác nhau có

sự thay đổi đáng kể. Công thức T1 cho vi nang lớn nhất và độ đồng nhất kích thước hạt

thấp nhất. Ngược lại, công thức T2 đến T5 cho thấy sự phân bố kích thước hạt đồng nhất

hơn nhưng độ co của các hạt cao hơn so với công thức T1. Ngoài ra, dạng hình cầu của

các vi nang rõ ràng hơn khi có sự kết hợp giữa maltodextrin kháng tiêu hoá và các vật

liệu bao gói khác. Sự khác biệt về đặc điểm hình thái của các vi nang trong nghiên cứu

này phù hợp nghiên cứu của Navarro-Flores et al. (2020). Tác giả báo cáo rằng, các vi

nang sử dụng hỗn hợp maltodextrin với gum arabic, pectin và protein đậu nành làm vật

liệu bao gói chiết xuất methanol chipilin (Crotalaria longirostrata) bằng cách sấy phun

cho sản phẩm có phân bố kích thước hạt đồng nhất hơn so với chỉ sử dụng maltodextrin

[247]. Kết quả tương tự được báo cáo bởi Yadav et al. (2020) với quá trình vi bao các

polyphenol chiết xuất từ hạt nho bằng cách sử dụng kết hợp maltodextrin với gum arabic

và whey protein cô đặc làm chất mang [416].

T1 T2

20 µm

30 µm

T4 T3 T5

20 µm

30 µm

20 µm

Hình 3.17. Đặc điểm hình thái sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ ghi nhận bằng

kính hiển vi điện tử quét (Scanning Electron Microscopes - SEM)

119

3.3.1.2. Hiệu suất sấy, hiệu quả vi bao, và thành phần hoạt chất của hạt vi bao

Bảng 3.11 cho thấy hiệu quả vi bao gói và hàm lượng polyphenol tổng số của các

vi nang không khác biệt đáng kể giữa các công thức. Hiệu quả vi bao gói của các công

thức đều cao hơn 97% chứng tỏ rằng maltodextrin kháng tiêu hoá hoặc hỗn hợp

maltodextrin với các vật liệu khác đều phù hợp. Kết quả này có thể được mô tả thêm

thông qua đặc điểm hình thái hạt, tất cả các công thức vi bao gói đều tạo thành các hạt

hình cầu nguyên vẹn với bề mặt nhẵn (Hình 3.17). Trong số các công thức, sự kết hợp

giữa RMD và GA (T2) cho hiệu suất sấy cao nhất (70,50%) trong khi công thức T3

(RMD-αCD) và T4 (RMD-βCD) cho hiệu suất sấy thấp nhất. Lớp vật chất khô đáng kể

bị kẹt trên thành buồng sấy trong quá trình sấy phun sử dụng T3 và T4 có thể giải thích

hiệu suất thu hồi bột thấp.

Bảng 3.11. Hiệu suất sấy, hiệu quả vi bao gói và hàm lượng polyphenol được bao gói

Công thức

Vật liệu vi bao

T1

RMD

T2

RMD-GA

Hiệu suất sấy (%) 66,70±0,98b 70,50±0,30a

Hiệu quả vi bao gói (%) 97,20 ± 0,31a 97,63 ± 0,44a

Hàm lượng polyphenol (mgGAE/g bột) 20,06 ± 0,75a 19,64 ± 0,41a

T3 RMD-αCD

58,33±0,69c

97,87 ± 0,31a

20,97 ± 0,64a

T4 RMD-βCD

60,00±0,96c

97,80 ± 0,18a

20,85 ± 0,13a

T5

68,00±0,77b

97,26 ± 0,32a

20,67 ± 0,50a

RMD-CD

Ghi chú: Giá trị trung bình ± SEM (n = 3). Các ký tự khác nhau (a-d) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các công thức (theo cột) theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). RMD: maltodextrin kháng tiêu hóa, GA: gum Arabic, αCD: α-cyclodextrin, βCD: β-cyclodextrin, CD: -cyclodextrin.

Các nghiên cứu về vi bao gói các phytochemical chỉ ra rằng, maltodextrin là một

trong những vật liệu bao gói được sử dụng phổ biến nhất. Chúng không chỉ mang lại

năng suất sấy và hiệu quả bao gói cao mà còn có chi phí hợp lý so với các vật liệu khác

[180, 283]. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu phối trộn maltodextrin với các vật liệu khác

nhằm cải thiện tính chất cơ lý của vật liệu vi bao đã chứng minh rằng, sự kết hợp phù

hợp của chúng có thể mang lại khả năng phục hồi, chất lượng sản phẩm và bảo vệ tốt

hơn các hợp chất hoạt tính sinh học được bao gói [214, 305, 320]. Trong nghiên cứu

này, hỗn hợp maltodextrin kháng tiêu hóa và gum arabic (T2) làm tăng hiệu suất sấy so

với các công thức khác. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây về vi bao

gói các polyphenol từ các nguồn tự nhiên như bã cà phê và cải ngựa (Horseradish,

Armoracia rusticana (L.)). Cụ thể, Ballesteros et al. (2017) chỉ ra rằng hỗn hợp

120

maltodextrin và gum Arabic (1:1) mang lại hiệu quả bao gói polyphenol từ bã cà phê

cao hơn so với sử dụng riêng lẻ [39]. Trong khi đó, Tomsone et al. (2020) cũng chứng

minh rằng việc đóng gói polyphenol từ nước ép cải ngựa bằng maltodextrin riêng lẻ và

trong hỗn hợp với gum arabic cho hiệu quả bao gói cao và sản phẩm có khả năng hòa

tan tốt nhất so với sử dụng protein đậu nành và tinh bột [372].

3.3.2. Động học giải phóng polyphenol từ hạt vi bao

Mặc dù hàm lượng polyphenol tổng số không khác biệt đáng kể (Bảng 3.11), các

công thức vi bao gói có khả năng giải phóng các hợp chất polyphenol vào nước khác

nhau. Sau 5 phút phân tán trong nước cất, công thức T1 giải phóng lượng polyphenol

cao nhất (6,023 mg GAE/g) (Hình 3.18),

trong khi không có sự khác biệt đáng kể giữa

các công thức còn lại. Kết quả này cho thấy,

phương pháp vi bao gói sử dụng công thức T1

có thể giúp phân tán tốt hơn các thành phần

hoạt chất vào dung dịch hoặc nền sản phẩm

khi ứng dụng thực tế trong thực phẩm hoặc

dược phẩm.

Khả năng giải phóng các hợp chất

polyphenol từ sản phẩm vi bao T1 cao hơn so

với các công thức khác có thể được giải thích

qua các đặc điểm hình thái hạt trong ảnh SEM

(Hình 3.17). Các công thức kết hợp của vật

liệu vi bao (T2 đến T5) tạo ra các vi nang hình

cầu với độ co đồng đều các mặt, thì công thức

chỉ sử dụng RMD (T1) độ co chủ yếu xuất

hiện ở một bên. Điều này cho thấy lớp thành

của các vi nang T1 ít cứng hơn so với các công

thức còn lại, do đó dễ phân tán hoạt chất hơn,

dẫn đến giải phóng nhiều polyphenol hơn.

Hình 3.18. Ảnh hưởng của chất mang đến mức độ giải phóng polyphenol của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ (Syzygium zeylanicum (L.) DC.) sau 5 phút phân tán trong nước cất

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của

Navarro-Flores et al. (2020) về đặc điểm giải

Ghi chú: Khác biệt thống kê giữa các nhóm thực nghiệm thực hiện theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). p > 0,05 (ns), p < 0,05 (*), p < 0,01 (**), p < 0,001(***)

phóng polyphenol của các vi nang sử dụng

121

maltodextrin 10 DE và hỗn hợp của nó với gum arabic, protein đậu nành và pectin.

Trong đó, maltodextrin và hỗn hợp của nó với gum arabic/protein đậu nành có khả năng

giải phóng polyphenol tốt hơn so với hỗn hợp của nó với pectin, protein hạt Cajanus

cajan [247]. Kết quả tương tự cũng được báo cáo bởi Ballesteros et al. (2017) trong

nghiên cứu sự kết hợp maltodextrin với các vật liệu khác nhau trong quá trình vi bao

polyphenol từ bã cà phê bằng phương pháp sấy phun và đông khô, cho thấy tốc độ giải

phóng polyphenol cao hơn từ vi nang sử dụng hỗn hợp maltodextrin và gum arabic (1:1)

thay vì sử dụng riêng lẻ [39]. Sự giải phóng tốt polyphenol từ các vi nang sử dụng hỗn

hợp maltodextrin và gum arabic có thể do kích thước hạt nhỏ, dẫn đến tổng diện tích

tiếp xúc bề mặt với dung môi lớn hơn [161].

Bảng 3.12. Các thông số mô hình động học giải phóng hoạt chất từ sản phẩm vi bao gói

Zero-order

First-order

Higuchi

Korsmeyer-Peppas

Công thức

Vật liệu bao gói

K

R2

k

R2

k

R2

n

R2

RMD

K-value (s-1) 0,956 0,961 0,953 0,917 0,963

0,616 0,997 0,609 0,997 0,562 0,996 0,570 0,987 0,588 0,997

0,6642 0,9701 - 0,0440 0,971 3,8286 0,976 T1 0,6078 0,9615 -0,0392 0,965 3,5257 0,980 T2 RMD-GA T3 RMD- αCD 0,4643 0,9633 -0,0164 0,999 2,6943 0,982 T4 RMD- βCD 0,5136 0,9817 -0,0194 0,997 2,9212 0,961 T5 RMD-CD 0,5680 0,9762 -0,0262 0,984 3,2562 0,972

Ghi chú: RMD: maltodextrin kháng tiêu hóa, GA: gum Arabic, αCD: α-cyclodextrin, βCD: β- cyclodextrin, CD: -cyclodextrin.

Để mô tả động học giải phóng polyphenol từ các sản phẩm vi nang khác nhau, sử

dụng các mô hình phân tích bậc 0, bậc 1, Higuchi và Korsmeyer-Peppas. Các thông số

mô hình động học mô tả thử nghiệm giải phóng polyphenol in vitro được trình bày trong

Bảng 3.12. Nhìn chung, các mô hình được chọn đều phù hợp để biểu thị động học giải

phóng hoạt chất của các vi nang, với giá trị R2 cao hơn 0,93. Mô hình Higuchi là phù

hợp nhất để mô tả động học giải phóng polyphenol từ các vi nang T1 và T2, trong khi

mô hình bậc nhất phù hợp hơn đối với các vi nang T3, T4 và T5.

3.3.3. Hoạt tính hạ đường huyết in vitro của sản phẩm vi bao

3.3.3.1. Khả năng chống oxy hóa

Khả năng chống oxy hóa của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

được đánh giá thông qua khả năng trung hòa gốc tự do DPPH• và ABTS•+ (Bảng 3.13).

Kết quả cho thấy khả năng chống oxy hóa của các sản phẩm vi bao gói có liên quan chặt

chẽ đến mức độ các polyphenol được giải phóng. Cụ thể, hoạt tính trung hòa gốc tự do

DPPH• và ABTS•+ của vi nang T1 là cao nhất và vi nang T2 là thấp nhất.

122

Bảng 3.13. Khả năng chống oxy hóa của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

Giá trị IC50 (mg/mL) của khả năng dập tắt gốc tự do

Công thức

Vật liệu bao gói

DPPH

ABTS

T1

RMD

1,28±0,02c

1,22 ± 0,01c

T2

RMD-GA

T3

RMD- αCD

T4

RMD- βCD

T5

1,46±0,03a 1,40±0,01a 1,31±0,03bc 1,42±0,04a

1,35 ± 0,03a 1,26 ± 0,01bc 1,26 ± 0,02bc 1,30 ± 0,03ab

RMD-CD

Ghi chú: Giá trị trung bình ± SEM (n = 3). Các ký tự khác nhau (a-c) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các công thức (theo cột) theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05).

Các nghiên cứu chỉ ra rằng, việc lựa chọn vật liệu thích hợp để bao gói các chiết

xuất từ thực vật đóng vai trò quan trọng trong việc lưu giữ các hoạt chất và hoạt tính

chống oxy hóa của sản phẩm [47, 194, 424]. Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng,

maltodextrin là một trong những vật liệu hiệu quả và tiết kiệm chi phí nhất để bao gói

các phytochemical có hoạt tính sinh học nhưng khả năng nhũ hóa kém là hạn chế cơ bản

trong bao gói các hợp chất kỵ nước và dễ bay hơi. Do đó, hỗn hợp maltodextrin với gum

arabic và cyclodextrin cho thấy tác dụng bảo vệ và khả năng chống oxy hóa của vi nang

tốt hơn [60, 320]. Tuy nhiên, trái ngược với các kết quả nghiên cứu trên, khả năng chống

oxy hóa của các vi nang sử dụng kết hợp maltodextrin kháng tiêu hoá với gum arabic

và cyclodextrin cho thấy khả năng chống oxy hóa thấp hơn so với sử dụng RMD làm

vật liệu bao gói duy nhất. Các nghiên cứu trước đây giải thích rằng việc phối trộn các

vật liệu khác nhau giúp bảo vệ các hoạt chất tốt hơn do sự hình thành các lớp thành dày

và cứng hơn [148]. Tuy nhiên, điều này có thể ngăn cản sự giải phóng các chất chống

oxy hóa của các công thức kết hợp khi hoàn nguyên và do đó làm giảm hoạt tính chống

oxy hóa của chúng.

3.3.3.2. Khả năng ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột

Khả năng hạ đường huyết in vitro của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ được đánh giá thông qua hoạt tính ức chế hoạt động của α-amylase và α-

glucosidase. Kết quả trình bày trong Bảng 3.14 cho thấy dịch phân tán từ các hạt vi bao

có tác dụng ức chế cao đối với hoạt động của cả hai enzyme. Giá trị IC50 của hoạt tính

ức chế α-amylase từ 48,78 đến 59,56 μg/ml và α-glucosidase từ 22,2 đến 31,0 μg/ml.

Các vi nang T1 và T3 thể hiện hoạt tính ức chế α-amylase tương đương, cao nhất so với

123

các công thức còn lại (p < 0,05). Đối với khả năng ức chế hoạt động của α-glucosidase,

vi nang T1 có hiệu quả cao nhất, thấp nhất là T2, và các công thức còn lại không có khác

biệt có ý nghĩa thống kê.

Bảng 3.14. Khả năng ức chế enzyme của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

Giá trị IC50 (mg/mL) của khả năng ức chế enzyme

Công thức Vật liệu bao gói

α-amylase

α-glucosidase

T1

RMD

T2

RMD-GA

T3

RMD- αCD

T4

RMD- βCD

T5

50,13±0,44c 56,03 ± 0,86b 48,78 ± 1,11c 58,55 ± 1,10ab 59,56 ± 1,33a

22,24 ± 0,53c 31,02 ± 0,50a 28,83 ± 0,53b 27,92 ± 0,34b 28,50 ± 0,34b

RMD-CD

Ghi chú: Giá trị trung bình ± SEM (n = 3). Các ký tự khác nhau (a-c) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các công thức (theo cột) theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05).

Các kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu mô tả ở mục 3.1.2.3. (Trang 75)

cho thấy, cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ thể hiện khả năng ức chế tốt đối với các

enzyme tiêu hóa tinh bột (Bảng 3.4), đồng thời, cũng cho thấy mối tương quan đáng kể

với hoạt tính chống oxy hóa của các sản phẩm vi bao được trình bày trong Bảng 3.13.

Các kết quả này nhất quán với các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng có mối tương quan

chặt chẽ giữa hoạt tính ức chế enzyme và chống oxy hóa của sản phẩm vi bao cao chiết

giàu polyphenol, thành phần thể hiện hoạt tính của sản phẩm [228, 314]. Ngoài ra, việc

sử dụng maltodextrin riêng lẻ hoặc kết hợp với các chất mang khác giúp duy trì hiệu quả

hoạt tính chống đái tháo đường của chiết xuất thực vật được bao gói [74, 392, 441]. Các

kết quả nghiên cứu này cho thấy maltodextrin kháng tiêu hóa rất phù hợp để vi bao gói

các thành phần hoạt chất từ cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ, tạo sản phẩm vi bao có

đặc tính chống oxy hóa và kiểm soát đường huyết cao trong điều kiện in vitro.

3.3.4. Khả năng kiểm soát đường huyết của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây

Trâm vỏ đỏ trên mô hình cá ngựa vằn

3.3.4.1. Tính an toàn của sản phẩm vi bao

Tính an toàn của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ được đánh giá

trên mô hình ấu trùng cá ngựa vằn và cá trưởng thành nhằm xác định ngưỡng nồng độ

an toàn cho các thử nghiệm về khả năng kiểm soát đường huyết trên mô hình in vivo.

Trong đó, khả năng gây độc trên ấu trùng cá ngựa vằn được đánh giá theo quy trình mô

124

tả bởi OECD 203 và độc tính cấp bằng đường uống được xác định dựa trên hướng dẫn

của OECD 423. Kết quả thể hiện trên Bảng P4.1 và Bảng P4.2 (Phụ lục P.4.2)

Bảng P4.1 cho thấy sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ thể hiện tính

an toàn đối với ấu trùng cá ngựa vằn ở nồng độ thử nghiệm từ 300 mg/L trở xuống. Từ

nồng độ 350 mg/L trở lên bắt đầu có tác dụng bất lợi và gây chết 100% cá thể ở nồng

độ 450 mg/L. Giá trị LD50 được xác định là 376,67 mg/L, tương đương nồng độ cao

chiết thô không được vi bao gói là 18,83 mg/L. Giá trị này tương đương với LD50 của

cao chiết thô được xác định ở mức 18,75 mg/L (Bảng P2.1). Có thể thấy, vi bao gói không

làm thay đổi đáng kể tính an toàn của cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ đối với ấu trùng

cá ngựa vằn.

Bảng P4.2 cho thấy các sản phẩm vi bao không thể hiện tính độc đối với cá ngựa

vằn trưởng thành ở nồng độ thử nghiệm giới hạn, 5.000 mg/kg theo OECD 423. Tất cả

cá thử nghiệm đều thể hiện trạng thái khỏe mạnh, không có bất kỳ bất thường nào được

ghi nhận ở nồng độ. Theo hướng dẫn của OECD 423, các sản phẩm vi bao cao chiết vỏ

thân cây Trâm vỏ đỏ được phân vào nhóm không xác định được tính độc ở nồng độ giới

hạn (Unclassified group), cho thấy các sản phẩm vi bao đều có tính an toàn cao đối với

cá ngựa vằn được thử nghiệm trong nghiên cứu này.

Kết quả này phù hợp với đánh giá về độc tính cấp của cao chiết vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ ở trạng thái không được vi bao gói (Bảng P2.1). Các kết quả này cũng cho thấy,

sản phẩm vi bao gói có tính an toàn cao, phù hợp trong các thử nghiệm trên cá ngựa vằn.

Trong đó, các nồng độ thực nghiệm cho ăn bằng đường uống (75 mg/kg khối lượng cá)

và tác động thông qua phương pháp ngâm (20 mg/L) là an toàn đối với cá ngựa vằn.

3.3.4.2. Khả năng chống gia tăng đường huyết sau ăn của sản phẩm vi bao

Mức độ kiểm soát đường huyết sau ăn của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây

Trâm vỏ đỏ theo công thức vi bao gói với maltodextrin kháng tiêu hóa (T1) trên cá ngựa

vằn được mô trả trên Hình 3.19. Kết quả cho thấy các nghiệm thức bổ sung cao chiết

vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (CE), maltodextrin kháng tiêu hóa (RMD), bột vi bao (MEP),

và acarbose đều làm chậm đáng kể sự gia tăng đường huyết sau ăn so với nghiệm thức

đối chứng chỉ sử dụng maltodextrin làm nguồn cung cấp đường bột (MD) (p < 0,0001).

Hơn nữa, có sự khác biệt đáng kể về thời gian mỗi nhóm đạt mức đường huyết cực đại

sau ăn (Hình 3.19). Cụ thể, ở các nghiệm thức bổ sung acarbose, RMD và CE cho thấy

125

mức đường huyết sau ăn đạt cao nhất sau 60 phút. Trong khi đó, nghiệm thức bổ sung

MEP đạt mức đường huyết cao nhất sau 30 phút.

Hình 3.19. Khả năng làm chậm quá trình gia tăng đường huyết sau ăn của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC) trên mô hình cá ngựa vằn.

Ghi chú: MD, RMD, ACA, CE, và MEP lần lượt là nghiệm thức chỉ sử dụng maltodextrin (đối chứng âm), nghiệm thức đối chứng bổ sung maltodextrin kháng tiêu hóa, acarbose, cao chiết thô, và sản phẩm vi bao cao chiết. Giá trị trung bình ± SEM (n = 5). Các ký tự khác nhau (a-d) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm trong cùng một thời điểm và các ký tự khác nhau (A-D) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong cùng một nhóm theo thời gian theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05).

Tác dụng rõ rệt của CE và acarbose đạt được sau 30 phút cho ăn với mức đường

huyết tương đương nhau và thấp hơn đáng kể so với các nghiệm thức còn lại. Tuy nhiên,

sau 60 phút, khác biệt đáng kể giữa hai nghiệm thức trên được quan sát, trong đó

acarbose cho hiệu quả cao hơn so với CE (p < 0,0001). Trong khi đó, nghiệm thức bổ

sung MEP thể hiện hoạt tính thấp hơn CE và acarbose ở thời điểm 30 phút (p < 0,0001).

Tuy nhiên, hiệu quả giảm đường huyết sau ăn thể hiện vượt trội hơn so với các nghiệm

thức còn lại sau 60 phút (p < 0,0001). Kết quả này phù hợp với mô hình động học giải

phóng polyphenol từ hạt vi bao cao chiết. Khả năng giải phóng dần dần các hoạt chất

trong 30 phút đầu tiên có thể đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các thành phần

hoạt tính trước tác động gây suy giảm hoạt tính của hệ thống tiêu hoá, từ đó nâng cao

hiệu quả kiểm soát đường huyết sau ăn. Khả năng chống lại tác động thủy phân do

enzyme tiêu hóa của maltodextrin kháng tiêu hoá đã được chứng minh có hiệu quả trong

126

việc kiểm soát đường huyết sau ăn [211, 251]. Nghiên cứu này cũng cho thấy RMD có

thể giúp chống lại sự gia tăng đường huyết sau ăn ở mức có thể so sánh với CE và

acarbose (Hình 3.19). Tuy nhiên, khác biệt đáng kể giữa MEP và RMD, cũng như CE,

chứng tỏ tác dụng bổ trợ của RMD đối với CE trong việc kiểm soát đường huyết sau ăn.

Trong đó, các tương tác giữa RMD và các polyphenol giải phóng chậm theo thời gian

đã góp phần nâng cao hoạt tính chống lại sự gia tăng đường huyết sau ăn đáng chú ý của

MEP so với thuốc kiểm soát đái tháo đường (acarbose).

3.3.4.3. Hiệu quả hạ đường huyết của sản phẩm vi bao trên mô hình cá ngựa vằn đái

tháo đường

Kết quả ở Hình 3.20 cho thấy sự giảm đáng kể mức đường huyết lúc đói ở cá ngựa

vằn đái tháo đường được điều trị với cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (CE) và sản phẩm

vi bao cao chiết (MEP). Hiệu quả tác động của CE và MEP được quan sát thấy sau 5

ngày tác động với mức đường huyết giảm đáng kể so với nhóm không điều trị (p <

0,0001) và mức đường huyết giảm đều về mức bình thường, tương đương cá khỏe mạnh

Hình 3.20. Tác động của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC) lên đường huyết lúc đói của cá ngựa vằn đái tháo đường sau 20 ngày điều trị.

Ghi chú: NOR, DIA, MET, CE, và MEP(T1) lần lượt là các nghiệm thức cá khỏe mạnh, các đái tháo đường không điều trị (đối chứng âm), cá đái tháo đường điều trị với metformin (đối chứng dương), cao chiết thô và sản phẩm vi bao cao chiết Trâm vỏ đỏ. Giá trị trung bình ± SEM (n = 5). Các ký tự khác nhau (a-d) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm trong cùng một thời điểm và các ký tự khác nhau (A-D) mô tả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong cùng một nhóm theo thời gian theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05).

127

sau 20 ngày tác động. Hiệu quả tác động của CE và MEP chậm hơn khi so sánh với

metformin (thuốc điều trị đái tháo đường thông dụng), với giá trị đường huyết về mức

ổn định chỉ sau 5 ngày tác động. Không có khác biệt đáng kể giữa nghiệm thức sử dụng

MEP so với CE, tuy nhiên, phương pháp điều trị với MEP cho hiệu quả điều trị ở nồng

độ tương đương thấp hơn so với CE. Cụ thể, liều dùng 20 mg/L của MEP có giá trị tương

đương liều dùng CE chỉ 1 mg/L. Kết quả này chỉ ra rằng, việc vi bao cao chiết vỏ thân

cây Trâm vỏ đỏ có thể giúp nâng cao hiệu quả kiểm soát đường huyết lúc đói trên mô

hình cá ngựa vằn đái tháo đường. Kết quả này phù hợp với các phân tích tổng hợp được

báo cáo bởi Chen et al. (2019) cho rằng, vi bao gói các hợp chất polyphenol bằng phương

pháp sấy phun có thể giúp nâng cao hiệu quả điều trị đái tháo đường tuýp 2 [84]. Hơn

nữa, việc vi bao gói các polyphenol trong các vật liệu phù hợp giúp bảo vệ các hoạt chất

này trước tác động suy thoái trong đường tiêu hóa và tạo điều kiện giải phóng hoạt chất

trong các điều kiện cụ thể giúp phát huy hiệu quả mà cao chiết ở trạng thái tự do không

thể đạt được [25].

3.3.5. Tác động của sản phẩm vi bao lên khả năng điều hòa biểu hiện gene liên quan

kiểm soát đường huyết trên mô hình cá ngựa vằn

3.3.5.1. Tác động điều hòa biểu hiện gene liên quan sinh tổng hợp chất béo

Hình 3.21 cho thấy sản phẩm vi bao cao chiết (MEP) có tác động đến điều hòa biểu

hiện các gene liên quan quá trình sinh tổng hợp chất béo ở cá đái tháo đường. Trong đó,

MEP gia tăng biểu hiện gene SREBF1, FASN và giảm biểu hiện gene ACC1. Mức độ tác

động có sự khác biệt đáng kể đối với metformin và cao chiết không được vi bao gói (CE).

Mức độ tác động đến biểu hiện gene SREBF1 của CE và MEP cao hơn đáng kể so

với metformin (p < 0,01), trái ngược với tác động của EAF (Hình 3.3). Trong đó, mức

độ tác động của MEP thấp hơn so với CE. Kết quả tương tự được quan sát đối với gene

FASN. Trong khi đó, mức độ điều hòa giảm biểu hiện gene ACC1 của MEP tương đương

với metformin và thấp hơn CE, ở mức tương đương cá bình thường (p > 0,05). Kết quả

này cho thấy sự khác biệt đáng kể trong điều hòa biểu hiện các gene liên quan đến quá

trình sinh tổng hợp chất béo của CE so với EAF, sự khác biệt có thể do tác động của quá

trình trích ly phân đoạn. Đáng chú ý, quá trình vi bao gói CE bằng maltodextrin kháng

tiêu hóa đã làm thay đổi đáng kể mức độ tác động biểu hiện gene. Sự tương đồng trong

chiều hướng kiểm soát biểu hiện gene giữa CE và MEP cho thấy hiệu quả tác động chủ

yếu đến từ thành phần hoạt chất CE được bao gói trong MEP. Tuy nhiên, sự khác biệt

128

trong mức độ cho thấy ảnh hưởng của các thành phần khác tham gia vào quá trình vi

bao gói CE, trong đó phải kể đến tương tác giữa vật liệu vi bao gói và khả năng kiểm

soát giải phóng hoạt chất.

Hình 3.21. Ảnh hưởng bột vi bao cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) đến biểu hiện một số gene liên quan chuyển hóa chất béo sau 20 ngày tác động.

Ghi chú: NOR, và DIA lần lượt là nhóm cá bình thường và cá đái tháo đường. MET, CE và MEP lần lượt là nhóm cá đái tháo đường được xử lý với metformin 20 µM, cao chiết thô (10 mg/L), và bột vi bao cao chiết (20 mg/L). SREBF1: Sterol regulatory element-binding protein 1; ACC1: Acetyl-CoA carboxylase alpha; FASN: Fatty acid synthase. Khác biệt thống kê giữa các nhóm thực nghiệm thực hiện theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). p > 0,05 (ns), p < 0,05 (*), p < 0,01 (**), p < 0,001 (***), p < 0,0001 (****)

3.3.5.2. Tác động biểu hiện gene insulin và thụ thể insulin

Hình 3.22 cho thấy tác dụng điều hòa khác nhau đối với biểu hiện gene insulin (INS)

và các thụ thể (INSRA1 và INSRB1) của sản phẩm vi bao cao chiết (MEP) sau 20 ngày

tác động. Sự khác biệt thể hiện trong mức độ điều hòa biểu hiện gene giữa các nhóm

điều trị và giữa các gene. Cụ thể, nhóm tác động MEP có mức điều hòa biểu hiện gene

INS tương đương với cao chiết (CE) và cá đối chứng khỏe mạnh (p > 0,05). Mức độ

điều hòa biểu hiện tương đương giữa MEP và CE cũng ghi nhận đối với gene INSRA1,

trong đó các nhóm điều trị với hai tác nhân này duy trì mức độ biểu hiện gene INSRA1

ở mức thấp hơn so với nhóm điều trị với metformin, mức độ biểu hiện tương đương cá

đối chứng bình thường (p > 0,05). Đáng chú ý, MEP và CE làm gia tăng đáng kể biểu

hiện gene INSRB1 so với đối chứng (p < 0,001), trong đó mức độ biểu hiện của nhóm

129

điều trị với MEP thấp hơn đáng kể so với CE (p < 0,01) nhưng duy trì mức độ tương

đương metformin (p > 0,05).

Hình 3.22. Ảnh hưởng bột vi bao cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) đến biểu hiện gene insulin và thụ thể sau 20 ngày tác động. Ghi chú: NOR, và DIA lần lượt là nhóm cá bình thường và cá đái tháo đường. MET, CE và MEP lần lượt là nhóm cá đái tháo đường được xử lý với metformin 20 µM, cao chiết thô (10 mg/L), và bột vi bao cao chiết (20 mg/L). INS: insulin; INSRA1: insulin receptors-coding genes a1; INSRB1: insulin receptors-coding genes b1. Khác biệt thống kê giữa các nhóm thực nghiệm thực hiện theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). p > 0,05 (ns), p < 0,05 (*), p < 0,01 (**), p < 0,001 (***), p < 0,0001 (****)

Các kết quả trên cho thấy tác động điều hòa biểu hiện gene INS và INSRA1 của MEP

và CE có quy luật tương đồng với tác động của EAF (mô tả ở Hình 3.4). Tuy nhiên,

MEP và CE có thể duy trì mức điều hòa INS ở mức tương đương cá bình thường trong

khi EAF có mức điều chỉnh thấp hơn đáng kể. Điều này cho thấy, sự thay đổi thành phần

hoạt chất do trích ly cũng tác động đáng kể đến điều hòa biểu hiện gene INS, hơn nữa

MEP và CE có thể kiểm soát tốt hơn nhằm duy trì mức insulin thuận lợi, tránh suy giảm

quá thấp. Mức điều hòa biểu hiện INSRA1 của MEP và CE tương đương so với EAF,

mức giảm tốt đường huyết của cá đái tháo đường (Hình 3.2 và Hình 3.20) cho thấy khả

năng gia tăng hiệu quả kết hợp giữa insulin và thụ thể của nó trong việc điều hòa đường

huyết ở cá đái tháo đường. Trong khi đó, sự gia tăng mức độ biểu hiện gene INSRB1 của

MEP và CE so với EAF có thể có nguyên nhân từ sự khác nhau trong thành phần hoạt

chất giữa CE và EAF (Bảng 3.8). Đáng chú ý, mức độ điều hòa gene INSRB1 của MEP

130

thấp hơn CE cho thấy khả năng chống lại sự gia tăng biểu hiện thái quá của CE và có

thể giúp điều chỉnh mức độ tác động của CE ở mức ổn định và an toàn hơn.

3.3.5.3. Tác động biểu hiện gene liên quan đến hấp thu và chuyển hóa glucose

Hình 3.23 cho thấy sản phẩm vi bao cao chiết (MEP) và cao chiết (CE) cho thấy

hiệu quả tác động biểu hiện gene SGLT1 và GLP-1 ở cá ngựa vằn. Trong đó, MEP và

CE điều hòa biểu hiện gene SGLT1 ở cá đái tháo đường tương đương với nhóm cá bình

thường (p > 0,05), ngược lại với metformin. MEP và CE đồng thời tăng mức độ biểu

hiện gene GLP-1 của cá đái tháo đường, ở mức thấp hơn metformin (p < 0,001). Trong

đó mức độ tác động của MEP thấp hơn đáng kể so với CE (p < 0,0001). Kết quả này

cho thấy khả năng điều hòa biểu hiện gene của MEP và CE tương đồng với khả năng

điều hòa của cao chiết phân đoạn ethyl acetate (Hình 3.5). Trong đó, mức độ điều hòa

SGLT1 của MEP ở mức tương đương với cá bình thường cho thấy hiệu quả trong khả

năng tái lập cân bằng hấp thu glucose vào máu thay vì ức chế quá mạnh hoạt động của

SGLT1. Bên cạnh đó, mức độ điều hòa tăng GLP-1 của MEP ở mức thấp hơn đáng kể

so với CE và metformin (p < 0,0001) cho thấy sản phẩm vi bao gói có thể giúp giảm bớt

Hình 3.23. Ảnh hưởng bột vi bao cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) đến biểu hiện gene liên quan hấp thu và chuyển hóa glucose sau 20 ngày tác động. Ghi chú: NOR, và DIA lần lượt là nhóm cá bình thường và cá đái tháo đường. MET, CE và MEP lần lượt là nhóm cá đái tháo đường được xử lý với metformin 20 µM, cao chiết thô (10 mg/L), và bột vi bao cao chiết (20 mg/L). SGLT1: the sodium-dependent glucose co-transporter; GLP-1: glucagon-like peptide 1. Khác biệt thống kê giữa các nhóm thực nghiệm thực hiện theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). p > 0,05 (ns), p < 0,05 (*), p < 0,01 (**), p < 0,001 (***), p < 0,0001 (****)

131

các tác dụng phụ tương tự metformin [235, 362], có thể có do sự tăng điều hòa biểu hiện

gene GLP-1 của CE.

Nhìn chung, sản phẩm vi bao cao chiết có khả năng điều hòa biểu hiện một số gene

liên quan đến quá trình tổng hợp chất béo, hoạt động của insulin, hấp thu và chuyển hóa

đường ở cá ngựa vằn đái tháo đường. Kết hợp với các kết quả về khả năng kiểm soát

đường huyết sau ăn (Hình 3.19) và giảm đường huyết ở cá đái tháo đường (Hình 3.20)

cho thấy hiệu quả trong cải thiện trao đổi chất và tái thiết lập ổn định đường huyết liên

quan đến điều hòa biểu hiện gene của MEP. Đáng chú ý, mức độ tác động biểu hiện một

số gene như SREBF1, FASN, INSRB1, và GLP-1 thấp hơn CE cho thấy MEP có thể giúp

kiểm soát tác động của cao chiết ổn định và an toàn hơn. Kết quả này phù hợp với các

nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa hiệu quả tác động của các hợp chất

polyphenol ở trạng thái tự do với trạng thái được vi bao gói đối với các quá trình trao

đổi chất nói chung và các hoạt tính chống đái tháo đường nói riêng [84]. Do đó, vi bao

gói bằng kỹ thuật sấy phun sử dụng maltodextrin kháng tiêu hóa có thể giúp kiểm soát

hiệu quả tác động chống đái tháo đường của cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ ở cấp độ

biểu hiện gene, từ đó có thể giúp phát triển các ứng dụng hiệu quả và an toàn hơn.

3.3.6. Khả năng kháng viêm của sản phẩm vi bao

3.3.6.1. Khả năng chống biến tính protein

Hình 3.24 cho thấy mối tương quan thuận giữa khả năng kháng viêm với nồng độ

của CE, MEP và Ibuprofen (p < 0,001). Trong đó, MEP có tỷ lệ ức chế biến tính tối đa

là 43% ở nồng độ 1,0 mg/mL, cao hơn đáng kể so với CE ở nồng độ tương đương 0,05

mg/mL (34,61 %, p < 0,01) và ibuprofen ở nồng độ 1,0 mg/L (36 %, p < 0,05). Tương

tự như CE, kết quả cho thấy cho sự suy giảm hoạt tính chống biến tính protein của MEP

khi nồng độ tăng lên 2 mg/mL, mức độ ức chế biến tính đạt 35,64%, cao hơn đáng kể

so với hoạt tính của CE tại nồng độ tương đương 0,1 mg/mL (31,85%).

Sự tương đồng trong mối tương quan thuận giữa hoạt tính và nồng độ của MEP và

CE cho thấy hiệu quả kháng viêm của sản phẩm vi bao chủ yếu do thành phần các hợp

chất polyphenol, có hoạt tính kháng viêm và chống biến tính protein cao đã được báo

cáo [98, 241, 248, 279]. Sự gia tăng hoạt tính chống biến tính protein của MEP so với

CE có thể liên quan đến khả năng kiểm soát giải phóng hoạt chất của hạt vi bao. Trong

đó, động học tương tác của polyphenol từ hạt vi bao với protein có thể được kiểm soát

tốt hơn với trạng thái tự do, dẫn đến gia tăng hoạt tính. Kết quả nghiên cứu này lần đầu

132

tiên cho thấy hiệu quả nâng cao hoạt tính kháng viêm của cao chiết vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ thông qua phương pháp vi bao gói và đây là kết quả rất đáng chú ý nhằm phát

triển liệu pháp thảo dược mới trong điều trị đái tháo đường thông qua kiểm soát quá

trình viêm.

Hình 3.24. Khả năng chống biến tính protein của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC) so với cao chiết không được vi bao và thuốc kháng viêm ibuprofen. Ghi chú: CE và MEP lần lượt là nhóm xử lý với Cao chiết thô Trâm vỏ đỏ và Sản phẩm vi bao cao chiết. Giá trị trung bình ± SEM (n = 3). Khác biệt thống kê giữa các nhóm thực nghiệm thực hiện theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). p > 0,05 (ns), p < 0,05 (*), p < 0,01 (**), p < 0,001 (***).

3.3.6.2. Khả năng bảo vệ ấu trùng cá ngựa vằn trước tác nhân gây viêm

Các bằng chứng khoa học cho thấy cá ngựa vằn là mô hình phù hợp để làm sáng tỏ

cơ chế phân tử của phản ứng viêm, đồng thời giúp sàng lọc hiệu quả các loại thuốc

kháng viêm mới. Việc ấu trùng cá ngựa vằn tiếp xúc với CuSO4 dẫn đến tăng stress oxy

hóa, di chuyển bạch cầu trung tính và tăng điều hòa các gene gây viêm, do đó, đây là tác

nhân gây viêm hiệu quả trên các mô hình ấu trùng cá ngựa vằn [411, 428]. Trong nghiên

cứu này, hoạt tính kháng viêm in vivo của cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (CE) và sản

phẩm vi bao cao chiết này (MEP) thể hiện qua khả năng bảo vệ ấu trùng cá ngựa vằn

trước tác nhân gây viêm bằng CuSO4 sau 2, 4, 6, và 24 giờ được mô tả trên Hình 3.25.

Ấu trùng sau khi xử lý với CuSO4 20 µM dẫn đến tình trạng viêm gia tăng rõ rệt từ

14% (sau 2 giờ) đến 56% sau 24 giờ. Thuốc kháng viêm không steroid (a nonsteroidal

anti-inflammatory drug, NSAID, ibuprofen), cho thấy hiệu quả kháng viêm sau 4 giờ

133

điều trị với liều 2 mg/L. Tỷ lệ viêm sau 24 giờ chỉ ở mức 24%, thấp hơn đáng kể so với

đối chứng không điều trị (p < 0,01). Kết quả này phù hợp với các báo cáo trước đây nêu

bật hiệu quả của ibuprofen trong việc giảm viêm do CuSO4 gây ra [207].

Hình 3.25. Khả năng kháng viêm của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC) trên mô hình ấu trùng cá ngựa vằn.

Ghi chú: CE và MEP lần lượt là nhóm cá xử lý với Cao chiết thô Trâm vỏ đỏ và Sản phẩm vi bao cao chiết. Giá trị trung bình ± SEM (n = 3). Khác biệt thống kê giữa các nhóm thực nghiệm thực hiện theo Fisher’s Least Significant Difference (LSD) test ( = 0,05). p > 0,05 (ns), p < 0,05 (*), p < 0,01 (**), p < 0,001 (***).

Hình 3.25 cho thấy có sự phụ thuộc giữa liều lượng và thời gian điều trị trong hoạt

động kháng viêm của CE. Tình trạng viêm của ấu trùng giảm đáng kể sau 2 giờ điều trị

ở liều 5 mg/L và 7,5 mg/L. Trong khi hoạt tính ở liều 7,5 mg/L giảm theo thời gian, các

134

liều còn lại có hoạt tính nhất quán với nghiệm thức đối chứng sử dụng Ibuprofen 2 mg/L

(p < 0,05) sau 24 giờ tác động. Kết quả này cho thấy việc sử dụng CE ở liều cao có thể

ảnh hưởng đến hiệu quả kháng viêm của cao chiết. Trong khi đó, các nghiệm thức điều

trị với MEP ở nồng độ tương đương CE ở 2 mg/L, 5 mg/L, 7,5 mg/L (lần lượt là 40

mg/L, 100 mg/L, và 150 mg/L) thể hiện mô hình tác động khác so với CE. Cụ thể, hoạt

tính kháng viêm thể hiện rõ rệt sau 4 giờ tác động (chậm hơn 2 giờ so với CE), nhưng

hiệu quả điều trị ở tất cả các liều duy trì ở mức tương tự Ibuprofen 2 mg/L trong toàn bộ

thời gian tác động đến 24 giờ (Hình 3.25). Kết quả này cho thấy việc kiểm soát giải

phóng các polyphenol từ hạt vi bao có thể giúp ổn định tác dụng kháng viêm của cao

chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ. Một số nghiên cứu chứng minh tiềm năng kháng viêm

của một số cây thuốc thuộc Chi Trâm [27, 78, 146, 153]. Tuy nhiên, giải pháp hiệu quả

nhằm nâng cao khả năng ứng dụng của chúng còn chưa được công bố nhiều. Do đó, kết

quả thu được trong nghiên cứu này không chỉ mở rộng các hiểu biết về khả năng kháng

viêm của cao chiết từ Trâm vỏ đỏ mà còn cho thấy tiềm năng cao của quá trình vi bao

gói trong việc nâng cao hiệu quả ứng dụng, giảm tác dụng phụ tiềm ẩn.

3.3.7. Sự khác biệt về liên kết hóa học trong sản phẩm vi bao cao chiết

Phân tích phổi hồng ngoại (Fourier transform infrared, FTIR) của maltodextrin

kháng tiêu hóa (RMD), cao chiết thô Trâm vỏ đỏ (CE) và sản phẩm vi bao cao chiết

(MEP) cho thấy sự khác biệt trong các liên kết trước và sau khi vi bao gói (Hình 3.26)

Đối với RMD, phổ có peak rộng tại 3309 cm-1 đến từ dao động O-H stretching liên

quan đến các đơn vị glucose và fructose trong khung phân tử polysaccharide. Peak trong

khoảng 2929 cm-1 tương ứng với dao động stretching C-H của nhóm -CH2- [203], và

peak 1647 cm-1 tương ứng với dao động O-H bending của hơi ẩm hấp thụ trên tinh bột

[167]. Peak hấp thu tại 1416,41 cm-1 là dao động stretching của liên kết C-H, và peak

1366,14 cm-1 là dao động bending của liên kết C-O. Các peak 1151,18; 1076,73; và

1031,33 cm-1 là các do động của C-O stretching [310]. Các peak 924,56; 859,20; và

765,56 cm-1 là các dao động của khung pyranoid [150, 167, 205, 348]. Các peak này

phù hợp với các báo cáo trước đây về các phân tử cấu thành chính của maltodextrin

kháng tiêu hóa [310].

Phổ của CE thể hiện các peak đơn tại 3679,07 và 3327,23 cm-1, biểu thị cho các dao

động stretching của các nhóm polymetric hydroxyl (O-H), và các liên kết H-, đặc trưng

của các hợp chất polyphenol [348, 403]. Peak rộng xung quanh 3077 cm-1 đại diện cho

135

dao động stetching của nhóm =C-H stretching trong các hydrocarbon thơm và không

bão hòa. Các peak tại 2881,17 và 2779,06 cm-1 biểu thị các CH đối xứng và bất đối xứng

trong dao động stretching của nhóm -CH3 và –CH2– trong các hợp chất aliphatic hoặc -

CH3 liên kết với O hoặc N [348]. Các peak 2279,40 và 1986,26 cm-1 lần lượt đại diện

cho các nhóm chứng năng aliphatic cyanide/nitrile và isothiocyanate (-NCS) [68, 348].

Peak 1714 cm-1 biểu thị cho dao động C=O stretching của nhóm -COOH. Peak nhọn của

1599,26 và 1529,79 cm-1 tương ứng với dao động C=C-stretching trong khi 824,87 và

767.23 cm-1 biểu thị cho dao động C-H bending của các vòng thơm [68, 348, 403]. Các

peak nhọn 1450,89 và 1371,39 cm-1 biểu thị các dao động C-H bending của CH3. Các

peak 1233,57; 1100,06 và 1037,39 lần lượt biểu thị cho các dao động C-O stretching

của các nhóm alkyl aryl ether, secondary alcohol, và primary alcohol, tất cả đều liên

quan đến các hợp chất polyphenol [68, 127, 348, 403].

Hình 3.26. Cấu hình quang phổ FTIR của maltodextrin kháng tiêu hóa (RMD), cao chiết thô Trâm vỏ đỏ (CE) và bột vi bao cao chiết (MEP).

So sánh phổ FT-IR của MEP với RMD cho thấy sự hiện diện của các peak mới tại

3733,07; 2365,06 và 2301,36 cm-1. Peak hấp thụ ở 3733,07 cm-1 có thể tương ứng với

dao động O-H stretching của các hợp chất polyphenol, chuyển dịch từ peak 3679 cm-1

trong phổ của CE. Khoảng hấp thụ từ 2365,05 đến 2301,36 cm-1 có thể biểu thị cho các

liên kết carbon dioxide, thường được tìm thấy ở các mẫu thu được từ điều kiện áp suất

cao với khoảng hấp thụ từ 2400 đến 2300 cm-1 [302, 335]. Đáng chú ý, sự biến mất của

peak 1647 cm-1 cho thấy quá trình vi bao gói bằng sấy phun có thể giúp giảm thêm độ

136

ẩm của mẫu. Ngoài ra, sự chuyển dịch dao động C-H stretching đến số sóng cao ở tại

2935,53 và 1422,19 cm-1, trong khi dao động -OH stretching chuyển dịch đến số sóng

thấp hơn tại 3306,65 cm-1, kết hợp với sự thay đổi đáng kể cường độ của các peak này

so với RMD. Các kết quả này cho thấy sự tương tác đáng chú ý giữa các polyphenol

trong CE với RMD trong quá trình vi bao gói bằng sấy phun. Các tương tác này có khả

năng đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát giải phóng các polyphenol từ hạt vi bao,

từ đó tác động đến sự gia tăng đáng chú ý hoạt tính chống oxy hóa, kháng viêm và khả

năng kiểm soát đường huyết in vitro và in vivo của cao chiết trong điều kiện vi bao gói

so với trạng thái tự do, thể hiện ở Bảng 3.15.

Bảng 3.15 cho thấy vi bao gói cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ bằng kỹ thuật sấy

phun giúp gia tăng hoạt tính sinh học và khả năng kiểm soát đường huyết so với cao

chiết không vi bao gói. Cụ thể, hoạt tính chống oxy hóa thể hiện qua khả năng trung hòa

gốc tự do DPPH• và ABTS•+ của sản phẩm vi bao tăng lên đáng kể so với cao chiết thô

(lần lượt 2,16 và 1,98 lần), trong đó hoạt tính trung hòa gốc tự do DPPH• sau khi vi bao

cao hơn cao chiết phân đoạn ethyl acetate 1,8 lần. Bên cạnh đó, khả năng kháng viêm

in vitro thể hiện qua khả năng chống biến tính protein tăng lên 8,75 % so với cao chiết

thô, tuy vẫn thấp hơn cao phân đoạn ethyl acetate 11,07%, nhưng đây vẫn là mức tăng

đáng kể sau khi vi bao gói. Khả năng ức chế α-amylase tăng lên đáng kể so với cao chiết

thô (2,23 lần) cho thấy vật liệu vi bao gói có thể đã thay đổi tác động của các polyphenol

với nhau và giữa polyphenol đối với α-amylase từ đó gia tăng hoạt tính ức chế. Đáng

chú ý, hiệu quả kiểm soát sự gia tăng đường huyết sau ăn của sản phẩm vi bao cao hơn

đáng kể so với cao chiết thô và cao chiết phân đoạn ethyl acetate, thể hiện ở mức độ gia

tăng đường huyết cũng như nồng độ tác động tương đương cao chiết. Mức độ gia tăng

đường huyết sau ăn 60 phút ở thực nghiệm sử dụng bột vi bao cao chiết ở chỉ ở mức

0,56 lần so với cao chiết thô và 0,61 lần so với cao phân đoạn ethyl acetate, trong khi

nồng độ tác động của bột vi bao chỉ tương đương cao chiết thô 2,81 mg /kg khối lượng

cá. Tương tự, hiệu quả kiểm soát đường huyết lúc đói ở cá ngựa vằn đái tháo đường sau

5 ngày tác động của bột vi bao là tốt hơn so với cao chiết thô trong khi nồng độ tác động

chỉ tương đương cao chiết thô 0,75 mg/L. Các kết quả trên cho thấy rằng, vi bao gói cao

chiết thô vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ bằng kỹ thuật sấy phun có thể giúp gia tăng hoạt tính

và sinh khả dụng của cao chiết thô một cách hiệu quả.

137

Bảng 3.15. Tổng hợp sự thay đổi hoạt tính sinh học và khả năng kiểm soát đường huyết của sản phẩm vi bao (MEP) so với cao chiết thô (CE) và cao phân đoạn ethyl acetate (EAF) từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.)

Hoạt tính

Cao chiết thô (CE)

Phân đoạn ethyl acetate (EAF)

Bột vi bao (MEP)

Thay đổi (so với cao chiết thô)

531,64 ± 3,64

904,11 ± 2,23

20,06 ± 0,75

Năng suất tải 75%

TPC (mgGAE/g)

1,26 ± 0,01

1,50 ± 0,05

Tăng

DPPH (gTE/g)

0,102 ± 0,001 (tương đương 2,72 gTE/g CE)

1,40 ± 0,04

3,27 ± 0,06

Tăng

ABTS (gTE/g)

0,104 ± 0,004 (tương đương 2,77 gTE/g CE)

34,61±0,03

54,43±0,12

43,36 ±0,62

Tăng

Chống biến tính protein (% ức chế)

4,19 ± 0,01

12,32 ± 0,01

Tăng

50,13±0,44 (tương đương CE 1,88 µg/mL)

Ức chế α-amylase (IC50, µg/mL)

0,41 ± 0,01

0,43 ± 0,01

Giảm

22,24 ± 0,53 (tương đương CE 0,834 µg/mL)

Ức chế α-glucosidase (IC50, µg/mL)

248,00 ± 7,93

225,80 ± 9,31

Tăng

Đường huyết sau ăn 60 phút (mg/dL)

138,20 ± 2,63 (tương đương CE 2,81 mg /kg)

88,00 ± 5,43

60,20 ± 2,63

Tăng

Đường huyết lúc đói 5 ngày (mg/dL)

79,60 ± 4,40 (tương đương CE 0,75 mg /L)

138

3.3.8. Các con đường tác động kiểm soát đường huyết trên mô hình cá ngựa vằn

của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

Kiểm soát đường huyết là một mục tiêu quan trọng trong phòng trị đái tháo đường,

trong đó, kiểm soát sự gia tăng đường huyết sau ăn và ổn định đường huyết lúc đói ở

mức an toàn là yêu cầu bắt buộc. Sự gia tăng đường huyết trong đái tháo đường là kết

quả của các rối loạn chuyển hóa phức tạp, liên quan đến nhiều quá trình và các cơ quan

khác nhau trong cơ thể sống. Để đánh giá khả năng kiểm soát đường huyết của sản phẩm

vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ, nghiên cứu này đã tiến hành đánh giá khả năng

tiếp cận đa mục tiêu dựa trên các hoạt tính chống oxy hóa, kháng viêm, ức chế enzyme

tiêu hóa tinh bột, và khả năng điều hòa biểu hiện các gene liên quan đến kiểm soát đường

huyết trên mô hình cá ngựa vằn của sản phẩm vi bao cao chiết, đồng thời minh chứng

bằng các hoạt tính của cao chiết không vi bao gói. Dựa trên các kết quả thực nghiệm thu

được, nghiên cứu này đề xuất một số con đường tác động của sản phẩm vi bao cao chiết

vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ trong kiểm soát đường huyết trên mô hình cá ngựa vằn, mô tả

trên Hình 3.27.

Hình 3.27 cho thấy sản phẩm vi bao cao chiết có thể giúp kiểm soát sự gia tăng

đường huyết sau ăn và ổn định đường huyết lúc đói ở mức an toàn nhờ tác động đa mục

tiêu dựa trên hoạt tính của sản phẩm vi bao và sự kiểm soát giải phóng hoạt chất. Cụ

thể, sản phẩm vi bao có thể kiểm soát lượng đường xâm nhập vào máu thông qua tác

động ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột (giảm mức độ chuyển hóa tinh bột thành đường

glucose), kiểm soát lượng đường xâm nhập vào máu qua việc giảm biểu hiện gene

SGLT1 (giảm lượng đường đi vào máu qua thành ruột), đồng thời tác động mức độ hấp

thu thức ăn thông qua cải thiện tín hiệu incretin bằng cách tăng biểu hiện gene GLP-1

(giảm cảm giác đói, giảm hấp thụ thức ăn). Bên cạnh đó, sản phẩm vi bao có thể cải

thiện hiệu quả chuyển hóa glucose thông qua việc tăng độ nhạy và giảm kháng insulin,

từ đó có thể cải thiện mức độ hấp thu và chuyển hóa glucose ở các mô/cơ quan. Mục

tiêu này có thể đạt được thông qua khả năng chống oxy hóa và kháng viêm, điều hòa

quá trình chuyển hóa giúp giảm tích lũy và giảm viêm do chất béo, hay tăng hiệu quả

kết hợp insulin và thụ thể thông qua điều hòa biểu hiện gene. Chi tiết cụ thể các con

đường tác động cần được xác định ở các nghiên cứu sâu hơn trên các mô hình phù hợp,

tuy nhiên, các dữ liệu từ nghiên cứu này có thể minh chứng cho các con đường nêu trên.

Do đó, vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ là con đường phù hợp nhằm phát triển

sản phẩm phòng chống đái tháo đường đa mục tiêu một cách an toàn và hiệu quả.

139

Hình 3.27. Sơ đồ mô tả con đường tác động kiểm soát đường huyết của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.) trên mô hình cá ngựa vằn

140

3.4. Xây dựng mô hình dự đoán thời hạn bảo quản của sản phẩm vi bao

Mối tương quan thuận giữa hoạt tính kháng oxy hoá và ức chế enzyme tiêu hoá tinh

bột với hàm lượng polyphenol tổng số đã được khẳng định trong các nghiên cứu trước

đây [219, 260]. Kết quả tương đồng cũng đã được mô tả trong nghiên cứu này đối với

Trâm vỏ đỏ (Mục 3.2.3. ). Các sản phẩm chứa các thành phần hoạt chất trong quá trình

bảo quản có sự hao hụt về khối lượng và hàm lượng các hợp chất có hoạt tính sinh học

như các hợp chất polyphenol, carotenoid, vitamin… do tác động của điều kiện môi

trường gồm ánh sáng, oxy, nhiệt độ, độ ẩm [284]. Vì vậy, các phương pháp bảo quản

nhằm ổn định các hợp chất trong cao chiết cần được nghiên cứu để dự đoán thời hạn

bảo quản của sản phẩm ở các điều kiện khác nhau.

Các nghiên cứu về thời hạn bảo quản của các sản phẩm có chứa các hoạt chất thường

kéo dài và tốn kém, nên thử nghiệm trong điều kiện cưỡng bức được sử dụng nhằm tiết

kiệm chi phí. Trong đó, sản phẩm chịu tác động của các điều kiện lưu trữ bất lợi của một

hoặc nhiều yếu tố cưỡng bức như nhiệt độ, độ ẩm tương đối của không khí cao hơn mức

bình thường để đẩy nhanh quá trình hư hỏng. Các thông số nhiệt động học như hằng số

tốc độ phản ứng, thời gian bán hủy, hệ số nhiệt độ Van’t Hoff (Q10) và năng lượng kích

hoạt sẽ được xác định để từ đó xây dựng mô hình dự đoán thời hạn bảo quản phù hợp

[169]. Các nghiên cứu sử dụng các điều kiện cưỡng bức cho thấy hiệu quả trong việc

xây dựng mô hình dự đoán sự phân huỷ của các hợp chất tự nhiên đã được công bố gần

đây. Trong đó, các mô hình được xây dựng có khả năng dự đoán cao trong điều kiện bảo

quản thực tế [196, 324] .

Vi bao gói cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ bằng chất mang maltodextrin kháng

tiêu hoá sử dụng kĩ thuật sấy phun cho thấy khả năng nâng cao hoạt tính sinh học và cải

thiện kiểm soát giải phóng các hợp chất polyphenol đã được phân tích ở Mục 3.3.

Nghiên cứu này tiến hành xây dựng mô hình động học phân hủy các hợp chất polyphenol

và hoạt tính sinh học của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ dưới điều

kiện cưỡng bức (Chi tiết mô tả ở Mục 2.3.15. ). Trong đó, ảnh hưởng của nhiệt độ và

độ ẩm tương đối của môi trường đến sự thay đổi hàm lượng các hợp chất polyphenol,

hoạt tính chống oxy hóa và ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột được đánh giá, từ đó xác

định mô hình dự đoán thời gian bảo quản của sản phẩm trong điều kiện phù hợp.

141

3.4.1. Sự suy giảm hàm lượng polyphenol theo thời gian bảo quản

Các yếu tố môi trường bao gồm nhiệt độ và độ ẩm có thể thúc đẩy các phản ứng hóa

học không mong muốn, dẫn đến suy giảm hàm lượng và hoạt tính sinh học của các hợp

chất tự nhiên trong quá trình bảo quản. Vì vậy, các nghiên cứu về độ nhạy cảm của các

hoạt chất dưới tác động của các điều kiện xử lý, yếu tố môi trường được quan tâm và từ

đó tìm ra giải pháp để lưu trữ lâu dài. Tác động của nhiệt độ và độ ẩm tương đối của

môi trường đến hàm lượng polyphenol của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ được tiến hành nhằm dự đoán điều kiện bảo quản phù hợp. Sự gia tăng độ ẩm bột,

suy thoái các hợp chất polyphenol được thể hiện trên Hình 3.28.

Hình 3.28. Ảnh hưởng của nhiệt độ (40 và 60oC) và độ ẩm tương đối (75 và 90%) đến hàm lượng polyphenol của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ

Ghi chú: (a) Sự thay đổi độ ẩm bột sấy phun (%); (b) Sự thay đổi hàm lượng polyphenol tổng số;* TPC (Total polyphenol content): Hàm lượng polyphenol tổng số, được tính tương đương với nồng độ mg gallic acid (GAE – Gallic acid equivalent) trên 1 đơn vị khối lượng khô của bột sấy phun

142

Kết quả cho thấy độ ẩm của bột có xu hướng tăng từ ngày 0 đến ngày 50, các

nghiệm thức ở 60°C độ ẩm tăng nhanh hơn so với nghiệm thức ở 40°C. Trong đó, điều

kiện 60°C với độ ẩm 90%, sản phẩm vi bao có tốc độ hút ẩm nhanh hơn nghiệm thức

75%, với độ ẩm tăng lên lần lượt là 11 lần và 4 lần so với thời điểm bắt đầu thực nghiệm

(độ ẩm bột là 2%). Tuy nhiên, tại 40°C mức độ hút ẩm của bột ở hai điều kiện cấp ẩm

khác nhau là tương đương nhau (p < 0,01). Có thể thấy, nhiệt độ và độ ẩm tương đối của

môi trường bảo quản có sự tương tác nhất định đến mức độ hút ẩm của bột trong điều

kiện thí nghiệm, điều này có thể dẫn đến sự thay đổi trong thành phần hoạt chất và hoạt

tính sinh học của bột sấy phun.

Sự suy giảm hàm lượng polyphenol được ghi nhận ở tất cả các điều kiện thực

nghiệm. Trong đó, hàm lượng polyphenol của mẫu bảo quản ở điều kiện 40°C – 75%,

40°C – 90% và 60°C – 75% giảm dần đều theo thời gian với mức độ 10 – 13% so với

ngày 0. Đối với mẫu bảo quản ở 60°C – 90%, hàm lượng polyphenol tổng số giảm nhanh

từ ngày thứ 10 và giảm 25% so với ngày ban đầu. Có thể thấy, hàm lượng polyphenol

tổng số ổn định hơn ở điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thấp. Kết quả này phù hợp với báo

cáo của Cassol & Noreña (2021), hàm lượng polyphenol ổn định hơn khi bảo quản ở

nhiệt độ 40°C và độ ẩm môi trường 75% [65]. Theo Tonon et al. (2010), yếu tố ảnh

hưởng đến sự suy giảm polyphenol là độ ẩm tương đối của môi trường, độ ẩm cao sẽ

gây ra sự suy giảm polyphenol cao bởi vì tính di động phân tử lớn hơn khi lượng nước

trong sản phẩm tăng lên, tạo điều kiện cho các phản ứng suy thoái diễn ra nhanh hơn [373].

3.4.2. Sự thay đổi hoạt tính chống oxy hóa của sản phẩm vi bao

Khả năng trung hòa gốc tự do DPPH• và ABTS•+ của bột sấy phun có xu hướng

giảm dần theo thời gian. Tuy nhiên, mức độ và đặc điểm suy giảm theo điều kiện lưu

trữ là khác nhau giữa hai hoạt tính này (Hình 3.29). Kết quả cho thấy, khả năng chống

oxy hóa của bột sấy phun độ ổn định cao hơn ở nhiệt độ và độ ẩm thấp; tuy nhiên, khả

năng trung hòa gốc tự do ABTS•+ của sản phẩm vi bao suy giảm nhanh hơn khả năng

trung hòa gốc tự do DPPH• khi nhiệt độ và độ ẩm thay đổi. Mức độ suy giảm hoạt tính

trung hòa gốc tự do DPPH• ở nhiệt độ thấp và độ ẩm thấp là 8% (lớn 10% ở độ ẩm cao),

trong khi đó, khả năng trung hòa gốc tự do ABTS•+ giảm từ 23 đến 27% ở ngày thứ 50

với cùng điều kiện. Ở nhiệt độ cao, quy luật tương tự được ghi nhận ở nhiệt độ thấp và

độ ẩm cao có mức độ suy giảm khả năng trung hòa gốc tự do DPPH• từ 26 đến 34% và

42 đến 53% đối với ABTS•+. Mối liên hệ giữa hàm lượng polyphenol và khả năng chống

143

oxy hóa của các hợp chất tự nhiên đã được chứng minh ở các kết quả nghiên cứu nêu ở

mục 3.2.3. và 3.2.4. Do đó, sự suy giảm hàm lượng polyphenol theo thời gian có thể tác

động đến khả năng chống oxy hóa của bột sấy phun.

Hình 3.29. Ảnh hưởng của nhiệt độ (40 và 60 oC) và độ ẩm tương đối (75 và 90%) đến khả năng chống oxy hóa của sản phẩm cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ Ghi chú: (a) Khả năng trung hòa gốc tự do DPPH•;(b) Khả năng trung hòa gốc tự do ABTS•+; * Khả năng trung hòa DPPH• và ABTS•+ được tính tương đương Trolox (TE – Trolox equivalent) trên 1 đơn vị khối lượng khô của bột sấy phun

Khả năng trung hòa gốc tự do DPPH• và ABTS•+ của bột sấy phun có xu hướng

giảm dần theo thời gian. Nghiên cứu của Kuck et al. (2017) cho thấy sự suy giảm

polyphenol trong quá trình bảo quản có liên quan đến sự tạo thành các hợp chất mới

thông qua thủy phân hoặc tạo liên kết mới dẫn đến làm mất một phần khả năng chống

oxy hóa [181]. Sự suy giảm khả năng trung hoà gốc tự do DPPH• và ABTS•+ ở 40°C

thấp hơn ở 60°C ở các điều kiện độ ẩm tương đối của môi trường khác nhau. Kết quả

này tương đồng với nghiên cứu của Cassol & Noreña (2021), khả năng trung hòa gốc tự

144

do DPPH• và ABTS•+ của bột sấy phun hoa bụp giấm ổn định hơn ở điều kiện bảo quản

40°C với độ ẩm 75% so với điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao hơn [65].

3.4.3. Sự thay đổi hoạt tính ức chế α-amylase và α-glucosidase

Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm tương đối đến khả năng ức chế α-amylase và α-

glucosidase có quy luật khá tương đồng với sự suy giảm polyphenol và hoạt tính chống

oxy hóa (Hình 3.30). Kết quả cho thấy độ ổn định hoạt tính ức chế α-amylase tốt hơn

so với α-glucosidase trong cùng điều kiện. Đồng thời, ở nhiệt độ và độ ẩm thấp, hoạt

tính ức chế α-amylase duy trì khá ổn định với mức độ suy giảm chỉ từ 26 đến 30%, trong

khi đó khả năng ức chế α-glucosidase suy giảm từ 82 đến 88% (Hình 3.30) sau 50 ngày

Hình 3.30. Ảnh hưởng của nhiệt độ (40 và 60 oC) và độ ẩm tương đối (75 và 90%) đến khả năng ức chế α-amylase và α-glucosidase của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ theo thời gian bảo quản

Ghi chú: a) Khả năng ức chế α-amylase (αAI: α-amylase inhibtion); b) Khả năng ức chế α- glucosidase (αGI: α-glucosidase inhibtion); * Khả năng ức chế enzyme được đánh giá thông qua nồng độ ức chế 50% hoạt tính của enzyme (IC50 : The half maximal inhibitory concentration, mg/mL)

145

bảo quản. Ở điều kiện nhiệt độ cao, khả năng ức chế α-amylase chỉ bắt đầu suy giảm

mạnh từ ngày thứ 30, trong đó, độ ẩm cao hoạt tính suy giảm nhanh hơn với mức độ suy

giảm lần lượt là 61% đến 76% sau 50 ngày. Trong khi đó, hoạt tính ức chế α-glucosidase

suy giảm nhanh chóng sau 10 ngày và duy trì tốc độ suy giảm cao trong suốt thời gian

bảo quản. Tuy nhiên, độ ẩm thấp hơn vẫn cho thấy sự ổn định hoạt tính ở cả hai loại

enzyme này.

3.4.4. Động học suy giảm hàm lượng polyphenol của sản phẩm vi bao cao chiết theo

điều kiện bảo quản

Việc sử dụng các loại thực phẩm có chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học, đặc

biệt là polyphenol, rất được quan tâm. Theo Kechinski et al. (2010), các yếu tố môi

trường như nhiệt độ và độ ẩm có thể thúc đẩy các phản ứng hóa học không mong muốn

trong quá trình lưu trữ do sự ổn định thấp của các hợp chất có hoạt tính sinh học [169].

Cassol & Noreña (2021) cho rằng để dự đoán được mô hình động học suy giảm của các

hợp chất có hoạt tính sinh học, việc xác định các thông số động học như hằng số tốc độ

phản ứng, thời gian bán hủy, hệ số nhiệt độ và năng lượng kích hoạt là rất quan trọng [65].

Mô hình suy giảm hàm lượng polyphenol được thể hiện trong Bảng 3.16. Kết quả

cho thấy quy luật suy giảm hàm lượng polyphenol của bột sấy phun tuân theo mô hình

động học bậc nhất (R2 > 0,8). Một số nghiên cứu công bố trước đây như Kenchinshi et

al. (2010) [169], Shaaruddin et al. (2017) [340], Cassol & Noreña (2021) [65] cũng chỉ

ra rằng, các phản ứng suy thoái thực phẩm liên quan đến sự suy giảm các hàm lượng

polyphenol và khả năng chống oxy hóa tuân theo mô hình bậc nhất. Hằng số suy thoái

(k) và giá trị bán rã theo thời gian t1/2 cho từng điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bảo quản

được thể hiện trong Bảng 3.16. Đối với bột vi bao cao chiết, nhiệt độ thấp, độ ẩm thấp

(40°C - 75%,) giá trị k thấp (0,002), nhiệt độ cao, độ ẩm cao (60°C - 90%,) giá trị k cao

(0,006). Tuy nhiên, ở nhiệt độ thấp và độ ẩm cao (40°C - 90%) giá trị k tương đương

với điều kiện ở nhiệt độ cao, độ ẩm thấp (60°C - 75%) (0,003). Hệ số R2 dao động từ

0,85 đến 0,94, R2 càng cao độ phù hợp của mô hình càng lớn. Mẫu bảo quản ở 40°C-

75% thể hiện giá trị k thấp và thời gian bán rã dài hơn (346 ngày) so với mẫu bảo quản

ở nhiệt độ 60°C-75% (231 ngày) và 60°C-90% (115 ngày). Tuy nhiên, ở nhiệt độ thấp

và độ ẩm cao (40°C - 90%), giá trị k và thời gian bán rã tương đương với mẫu bảo quản

ở nhiệt độ cao với độ ẩm thấp (40°C - 75%) (0,003, 231 ngày). Kết quả này cho thấy,

nhiệt độ và độ ẩm có tương tác lẫn nhau và giá trị k càng cao thì giá trị t1/2 càng thấp,

146

tương đồng với báo cáo của Lago & Noreña (2017) [196]. Đồng thời, thời gian suy giảm

90% hàm lượng polyphenol (D) và thời gian bán rã rút ngắn 3 lần khi tăng nhiệt độ và

độ ẩm bảo quản (Bảng 3.16). Mẫu bảo quản ở điều kiện 40°C - 75% có thời gian suy

giảm 90% hàm lượng polyphenol là 1.151,29 ngày; trong khi đó, ở điều kiện 60°C -

90% thì D giảm xuống còn 383,76 ngày. Có thể thấy nếu nhiệt độ và độ ẩm cao thì các

chất hợp chất polyphenol bị phá hủy lớn và số phản ứng trong điều kiện này cũng tăng

lên. Quy luật suy thoái tương tự được ghi nhận đối với cao chiết không vi bao gói, tuy

nhiên hằng số tốc độ (k) ở tất cả các điều kiện bảo quản đều cao hơn so với bột vi bao

cao chiết. Do đó, các giá trị dự đoán thời hạn bảo quản đều thấp hơn so với bột vi bao.

Cụ thể, thời gian suy thoái 90% và 50% hoạt tính ở điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thấp

(40°C - 75%) chỉ còn 767,53 và 231,05 ngày. Đáng chú ý, sự suy thoái nhanh chóng của

cao chiết không vi bao gói ở điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao (60°C-90%) với thời gian

suy thoái 90% và 50% hoạt tính chỉ còn 84,27 và 25,37 ngày cho thấy vi bao gói cao

chiết có hiệu quả tăng cường bảo vệ hoạt tính của cao chiết trước các tác động gây suy

thoái từ nhiệt và ẩm.

Bảng 3.16. Hằng số tốc độ (k), hệ số xác định (R2), chu kỳ bán rã (t1/2) và hệ số nhiệt độ Van’t Hoff (Q10) liên quan đến sự suy giảm hàm lượng polyphenol của bột vi bao cao chiết và cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (S. zeylanicum (L.) DC.)

Mẫu

R2

Q10

Ea (J mol-1)

1,2

17.562,7

Bột vi bao

1,4

30.023,6

1,15

12.460,9

Cao chiết

2,61

83.236,8

Độ ẩm % 75 75 90 90 75 75 90 90

Nhiệt độ (°C) 40 60 40 60 40 60 40 60

K (ngày-1) 0,002 0,003 0,003 0,006 0,003 0,004 0,004 0,027

D (ngày) 0,87 1151,29 767,53 0,90 767,53 0,94 383,76 0,85 767,53 0,82 575,65 0,83 575,65 0,75 84,27 0,88

t1/2 (ngày) 346,57 231,05 231,05 115,52 231,05 173.29 173,29 25,37

Năng lượng kích hoạt (Ea) và các giá trị Q10 phụ thuộc vào nhiệt độ bảo quản (Bảng

3.16); phản ứng xảy ra chậm ở nhiệt độ thấp và tăng lên ở nhiệt độ cao. Đối với bột vi

bao cao chiết, giá trị năng lượng kích hoạt ở điều kiện độ ẩm tương đối cao (90%) là

30.023,6 J mol-1, trong khi ở độ ẩm tương đối 75%, năng lượng kích hoạt (17.562,7 J

mol-1) thấp hơn 1,7 lần so với năng lượng kích hoạt ở độ ẩm tương đối 90%. Theo Kuck

et al. (2017), trong các phản ứng có năng lượng hoạt hóa cao, sự phụ thuộc của tốc độ

suy thoái hợp chất tự nhiên vào sự thay đổi của nhiệt độ là lớn hơn [181]. Do đó, kết

quả nghiên cứu này cho thấy sự phụ thuộc của tốc độ suy thoái hàm lượng polyphenol

147

trong bột sấy phun cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ vào sự thay đổi của nhiệt độ ở độ

ẩm tương đối 90% là cao hơn so với 75%. Điều này có thể giải thích cho sự suy giảm

nhanh về hàm lượng polyphenol trong bột sấy phun ở các điều kiện bảo quản có độ ẩm

cao. Khi so sánh năng lượng hoạt hóa của bột tại từng điều kiện bảo quản, kết quả này

tương đồng với báo cáo của Lago & Noreña (2017) [196]. Ngoài ra, điều này còn minh

chứng cho sự suy thoái nhanh của cao chiết không vi bao với giá trị năng lượng kích hoạt ở độ

ẩm cao (90%) là 83.236,8 J mol-1, cao gấp 6,7 lần so với điều kiện độ ẩm thấp (12.460,9 J mol-1).

Tham số Q10 là một cách để mô tả ảnh hưởng của nhiệt độ lên hằng số phản ứng và

biểu thị tốc độ suy giảm khi nhiệt độ tăng 10°C [169]. Giá trị Q10 cho thấy tầm quan

trọng của số lượng va chạm và liên kết phân tử; sự va chạm cung cấp nhiều năng lượng

có thể đưa các phân tử đến trạng thái kích hoạt và do đó làm tăng tốc độ suy thoái [196].

Q10 thấp và thời gian bán hủy dài trong nghiên cứu này cho thấy sự ổn định cao của bột

ở điều kiện độ ẩm tương đối và biến đổi nhiệt độ của môi trường bảo quản. Các giá trị

Q10 thu được cho thấy tại độ ẩm tương đối cao (90%) (1,4) nhạy cảm hơn so với độ ẩm

75% (1,2). Kết quả này tương đồng với báo cáo của Cassol & Noreña (2021), giá trị Q10

dao động từ 1,2 – 1,4 tại độ ẩm 75% và tại độ ẩm 90% là 1,3 – 2,1 khi bảo quản các hợp

chất từ hoa bụp giấm được sấy phun cùng với polydextrin và whey protein phân lập.

Báo cáo của Lago & Noreña (2017), khi sử dụng Gum Arabic cho thấy giá trị Q10 (1,11

– 1,12) thấp hơn và thời gian bán hủy lớn nhất điều kiện được nghiên cứu so với

polydextrin (1,15 – 1,18) [196]. Đối với cao chiết không vi bao, giá trị Q10 ở tăng lên

2,27 lần ở điều kiện độ ẩm cao so với độ ẩm thấp. Kết quả này cho thấy, cao chiết không

vi bao nhạy cảm với sự thay đổi độ ẩm hơn so với sự thay đổi nhiệt độ, đồng thời vi bao

gói có thể giảm tác động của độ ẩm đối với cao chiết.

Kết quả trong nghiên cứu này cho thấy mức độ thoái hóa hoạt chất polyphenol trong

sản phẩm vi bao tuân theo quy luật hàm bật nhất, trong đó điều kiện bảo quản ở 40 °C

và độ ẩm 75%, hạt vi bao giữ được các hoạt tính sinh học ổn định nhất. Trong đó, thời

gian bán rã và suy giảm 90% hoạt tính lần lượt là 346,57 ngày và 1.151,29 ngày, cao

hơn đáng kể so với cao chiết không vi bao là 231,05 ngày và 767, 53 ngày. Sự thay đổi

hệ số nhiệt động (Q10) năng lượng kích hoạt (Ea) trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thay

đổi cho thấy vi bao gói giúp bảo vệ cao chiết tốt hơn trước tác động gây thoái hóa bởi

độ ẩm môi trường. Do đó, vi bao gói tăng hiệu quả bảo vệ thành phần hoạt chất và kéo

dài thời gian bảo quản cao chiết.

148

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận

1. Phân đoạn ethyl acetate thu được nhiều hoạt chất giúp nâng cao khả năng kiểm soát

đường huyết đa mục tiêu. Khả năng này thể hiện qua hoạt tính chống oxy hóa, kháng

viêm, ức chế enzyme tiêu hóa tinh bột, chống gia tăng đường huyết sau ăn, ổn định

đường huyết lúc đói, khôi phục hệ vi sinh vật đường ruột và điều hòa biểu hiện gene

liên quan sinh tổng hợp chất béo (SREBF1, ACC1, FASN), insulin và thụ thể insulin

(INS, INSRA1, INSRB1), hấp thu và chuyển hóa glucose (SGLT1, GLP1). Các hợp

chất chính trong phân đoạn ethyl acetate gồm: ellagic acid, (-)-epicatechin, ethyl

gallate, quercetin, quercetrin, rutin, vitexin, gallic acid, chlorogenic acid, và

catechin. Trong đó, gallic acid, catechin, epicatechin, ellagic acid, quercetin,

caffeine và apigenin là các thành phần chống oxy hóa quan trọng. Ethyl gallate và

rutin là thành phần chính ức chế α-glucosidase. Tỷ lệ hàm lượng, và sự tương tác

giữa các thành phần có thể ảnh hưởng đến hoạt tính sinh học của cao chiết.

2. Vi bao gói cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ với maltodextrin kháng tiêu hóa

bằng phương pháp sấy phun giúp nâng cao hiệu quả kiểm soát đường huyết đa mục

tiêu của cao chiết trên mô hình in vitro và in vivo. Tương tác giữa vật liệu bao gói

và các hợp chất trong cao chiết có thể nâng cao tính sinh khả dụng của sản phẩm vi

bao gói. Trong đó, sản phẩm vi bao có khả năng kiểm soát tốt quá trình sinh tổng

hợp chất béo thông qua điều hòa biểu hiện gene SREBF1, ACC1, và FASN; cải thiện

kháng insulin thông qua gene insulin (INS), và thụ thể insulin (INSRA1 và INSRB1);

ức chế hấp thu glucose qua thành ruột thông qua gene SGLT1 và cải thiện chuyển

hóa glucose thông qua gene GLP1. Đồng thời, mô hình dự đoán thời hạn bảo quản

sản phẩm vi bao tuân theo quy luật hàm bậc nhất: Ct = C0. e−kt. Sản phẩm vi bao ổn định ở điều kiện nhiệt độ (40 °C) và độ ẩm môi trường bảo quản (75%), với thời

gian bán rã và suy thoái 90% hoạt tính lần lượt là 346,57 ngày và 1.151,29 ngày, so

với cao chiết không vi bao lần lượt là 231,05 ngày và 767,53 ngày.

149

Kiến nghị

+ Nghiên cứu tối ưu hóa điều kiện sơ chế, trích ly và vi bao cao chiết để nâng cao hiệu

quả khai thác các hợp chất cũng như nâng cao hoạt tính sinh học của các hợp chất tự

nhiên từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ.

+ Nghiên cứu đánh giá các tác động của cao chiết và sản phẩm vi bao trên các mô hình

nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng để có thể phát triển thành các dạng thực phẩm

thuốc cũng như thực phẩm chức năng trong phòng chống bệnh đái tháo đường.

+ Nghiên cứu thử nghiệm sản xuất một số sản phẩm thực phẩm có khả năng ổn định

đường huyết hỗ trợ phòng ngừa và điều trị đái tháo đường.

150

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

+ 03 (ba) bài báo đăng trên Tạp chí Khoa học quốc tế thuộc hệ thống SCIE

1. Minh-Trung Nguyen, Van-Chuyen Hoang, Minh-Dinh Tran, Quang-Vinh

Nguyen* (2022). Microencapsulation of Syzygium zeylanicum (L.) DC. extract using

spray drying: Effects of wall materials on physicochemical characteristics and biological

activities of the microcapsules. Journal of Food Processing and Preservation, 00,

e16647. https://doi.org/10.1111/jfpp.16647 (ISI – SCIE, Q2, IF 2,5)

2. Minh-Trung Nguyen, Bich Huyen Bui Thi, Shila Maskey, Minh-Dinh Tran,

Quang-Vinh Nguyen* (2023). In vitro and in vivo antioxidant and

antihyperglycemic potentials of phenolic fractions of Syzygium zeylanicum (L.)

DC trunk-bark. Food Science & Nutrition, 00, 1– 10. DOI: 10.1002/fsn3.3373.

(ISI – SCIE, Q1, IF 3,9)

3. Minh-Trung Nguyen, Thi-Bich-Huyen Bui, Van-Hung Pham, Minh-Dinh Tran,

Quang-Vinh Nguyen* (2023). Syzygium zeylanicum (L.) DC. polyphenols exhibit

anti-diabetic activity by modulation of ACC1, SGLT1, and GLP-1 genes and

restoration of gut microbiota in overfeeding and high glucose exposure-induced

diabetic zebrafish. Journal of functional foods, Volume 112, January 2024,

105921. DOI: 10.1016/j.jff.2023.105921. (ISI – SCIE, Q1, IF 5,6)

+ 02 (hai) bài báo đăng trên Tạp chí Khoa học trong nước thuộc hệ thống tính điểm

của Hội đồng Giáo sư Nhà nước

4. Nguyễn Minh Trung, Bùi Thị Bích Huyên, Nguyễn Quang Vinh* (2023). Nghiên

cứu động học suy giảm hàm lượng polyphenol và hoạt tính sinh học của bột sấy

phun cao chiết Trâm vỏ đỏ (Syzygium zeylanicum (L.) DC.) trong điều kiện cưỡng

bức. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 59(5). DOI:

10.22144/ctujos.2023.197

5. Nguyễn Minh Trung, Bùi Thị Bích Huyên, Mai Quốc Quân, Huỳnh Ngọc Phương

Dung, Nguyễn Ngọc Hà Giang, Lê Thị Thùy, Nguyễn Quang Vinh* (2023). Khả

năng hạ đường huyết, kháng oxy hóa, kháng khuẩn của cao chiết phân đoạn n-

butanol từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ (Syzygium zeylanicum L.). Tạp chí Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn, Số đặc biệt, Chất lượng và An toàn thực phẩm vì sức

khỏe cộng đồng, Tập I – Tháng 6/2023, tr. 335-343.

+ 01 (một) báo cáo toàn văn đăng trên Kỷ yếu Hội nghị Công nghệ Sinh học toàn

quốc 2022

151

6. Nguyễn Minh Trung, Bùi Thị Bích Huyên, Nguyễn Ngọc Hà Giang, Nguyễn Quang Vinh* (2022). Thành phần hợp chất phenolic, khả năng kháng oxy hóa, kháng khuẩn, kích thích sinh trưởng lợi khuẩn của cao chiết từ vỏ thân cây Trâm

vỏ đỏ (Syzygium zeylanicum (L.) DC.). Kỷ yếu Hội nghị Công nghệ Sinh học Toàn

quốc 2022, Đại học Tây Nguyên.

152

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Aba P.E. and Asuzu I.U. (2018), "Mechanisms of actions of some bioactive anti- diabetic principles from phytochemicals of medicinal plants: A review". [2]. Abbas M., Saeed F., Anjum F.M., Afzaal M., Tufail T., Bashir M.S., Ishtiaq A., Hussain S., and Suleria H.A.R. (2017), "Natural polyphenols: An overview", International Journal of Food Properties. 20(8), pp. 1689-1699.

[3]. Abdin M., Hamed Y.S., Akhtar H.M.S., Chen D., Mukhtar S., Wan P., Riaz A., and Zeng X. (2019), "Extraction optimisation, antioxidant activity and inhibition on α‐amylase and pancreatic lipase of polyphenols from the seeds of Syzygium cumini", International Journal of Food Science & Technology. 54(6), pp. 2084-2093.

[4]. Abdin M., Salama M.A., Gawad R., Fathi M.A., and Alnadari F. (2021), "Two‐Steps of Gelation System Enhanced the Stability of Syzygium cumini Anthocyanins by Encapsulation with Sodium Alginate, Maltodextrin, Chitosan and Gum Arabic", Journal of Polymers and the Environment, pp. 1-14. [5]. Abdin M., Salama M.A., Riaz A., Akhtar H.M.S., and Elsanat S.Y. (2021), "Enhanced the entrapment and controlled release of Syzygium cumini seeds polyphenols by modifying the surface and internal organization of Alginate‐ based microcapsules", Journal of Food Processing and Preservation. 45(1), pp. e15100.

[6]. Abdulai I.L., Kwofie S.K., Gbewonyo W.S., Boison D., Puplampu J.B., and Adinortey M.B. (2021), "Multitargeted Effects of Vitexin and Isovitexin on Diabetes Mellitus and Its Complications", ScientificWorldJournal. 2021 pp. 6641128.

[7]. Abdulkhaleq L.A., Assi M.A., Noor M.H.M., Abdullah R., Saad M.Z., and Taufiq-Yap Y.H. (2017), "Therapeutic uses of epicatechin in diabetes and cancer", Vet World. 10(8), pp. 869-872.

[8]. Abellán Ruiz M.S., Barnuevo Espinosa M.D., Contreras Fernández C.J., Luque Rubia A.J., Sánchez Ayllón F., Aldeguer García M., García Santamaría C., and López Román F.J. (2016), "Digestion-resistant maltodextrin effects on colonic transit time and stool weight: a randomized controlled clinical study", Eur J Nutr. 55(8), pp. 2389-2397.

[9]. Ada, Ujić, Ikolić, emanja, Tanisavljević, Atarína, avikin, Na, Alušević, Iktor, Edović, Ubravka, Igović, Eodora, and Anković (2018), Application of gum Arabic in the production of spray-dried chokeberry polyphenols , microparticles characterisation and in vitro digestion method.

[10]. Adefegha A., Oboh G., Oyeleye I., and Osunmo K. (2015), "Alteration of starch hydrolyzing enzyme inhibitory properties, antioxidant activities, and phenolic profile of clove buds (Syzygium aromaticum L.) by cooking duration", Food Science & Nutrition. 4.

[11]. Adefegha S.A. and Oboh G. (2012), "In vitro inhibition activity of polyphenol- rich extracts from Syzygium aromaticum (L.) Merr. & Perry (Clove) buds against carbohydrate hydrolyzing enzymes linked to type 2 diabetes and Fe2+-induced lipid peroxidation in rat pancreas", Asian Pacific journal of tropical biomedicine. 2(10), pp. 774-781.

[12]. Adeghate E. and Kalász H. (2011), "Amylin analogues in the treatment of diabetes mellitus: medicinal chemistry and structural basis of its function", Open Med Chem J. 5(Suppl 2), pp. 78-81.

153

[13]. Adisakwattana S., Lerdsuwankij O., Poputtachai U., Minipun A., and Suparpprom C. (2011), "Inhibitory activity of cinnamon bark species and their combination effect with acarbose against intestinal α-glucosidase and pancreatic α-amylase", Plant Foods for Human Nutrition. 66(2), pp. 143-148.

[14]. Ahmadu T. and Ahmad K. (2021), "An Introduction to Bioactive Natural Products and General Applications", in Bioactive Natural Products for Pharmaceutical Applications, Pal Dilipkumar and Nayak Amit Kumar, Editors, Springer International Publishing: Cham. p. 41-91.

[15]. Ahmed S.A.H., Ansari S.A., Mensah-Brown E.P.K., and Emerald B.S. (2020), "The role of DNA methylation in the pathogenesis of type 2 diabetes mellitus", Clinical Epigenetics. 12(1), pp. 104.

[16]. Ahn D., Kim J., Nam G., Zhao X., Kwon J., Hwang J.Y., Kim J.K., Yoon S.- Y., and Chung S.J. (2022), "Ethyl Gallate Dual-Targeting PTPN6 and PPARγ Shows Anti-Diabetic and Anti-Obese Effects", International Journal of Molecular Sciences. 23(9), pp. 5020.

[17]. Ajiboye B.O., Ojo O.A., Akuboh O.S., Abiola O.M., Idowu O., and Amuzat A.O. (2018), "Anti-Hyperglycemic and Anti-Inflammatory Activities of Polyphenolic-Rich Extract of Syzygium cumini Linn Leaves in Alloxan-Induced Diabetic Rats", J Evid Based Integr Med. 23 pp. 2515690X18770630.

[18]. Alam S., Sarker M.M.R., Sultana T.N., Chowdhury M.N.R., Rashid M.A., Chaity N.I., Zhao C., Xiao J., Hafez E.E., Khan S.A., and Mohamed I.N. (2022), "Antidiabetic Phytochemicals From Medicinal Plants: Prospective Candidates for New Drug Discovery and Development", Frontiers in Endocrinology. 13.

[19]. Alawiyah A.L. and Senania A. (2021), "Antioxidant Activity and Bioactive Compounds of Ethyl Acetate Fractions from Syzygium cumini Wood Stem", ALKIMIA: Jurnal Ilmu Kimia dan Terapan. 5(1), pp. 93-101.

[20]. Albarrán O.G. and Ampudia-Blasco F.J. (2013), "[Dapagliflozin, the first SGLT-2 inhibitor in the treatment of type 2 diabetes]", Med Clin (Barc). 141 Suppl 2 pp. 36-43.

[21]. Alonge K.M., D'Alessio D.A., and Schwartz M.W. (2021), "Brain control of blood glucose levels: implications for the pathogenesis of type 2 diabetes", Diabetologia. 64(1), pp. 5-14.

[22]. Amor A.J., Gómez-Guerrero C., Ortega E., Sala-Vila A., and Lázaro I. (2020), "Ellagic Acid as a Tool to Limit the Diabetes Burden: Updated Evidence", Antioxidants. 9(12), pp. 1226.

[23]. Anand David A.V., Arulmoli R., and Parasuraman S. (2016), "Overviews of Biological Importance of Quercetin: A Bioactive Flavonoid", Pharmacogn Rev. 10(20), pp. 84-89.

[24]. Andreasen A.S., Kelly M., Berg R.M.G., Møller K., and Pedersen B.K. (2011), "Type 2 Diabetes Is Associated with Altered NF-κB DNA Binding Activity, JNK Phosphorylation, and AMPK Phosphorylation in Skeletal Muscle after LPS", Plos One. 6(9), pp. e23999.

[25]. Annunziata G., Jimenez-Garcia M., Capo X., Moranta D., Arnone A., Tenore G.C., Sureda A., and Tejada S. (2020), "Microencapsulation as a tool to counteract the typical low bioavailability of polyphenols in the management of diabetes", Food Chem Toxicol. 139 pp. 111248.

154

[26]. Anoop M. and Bindu A. (2014), "Pharmacognostic and physico-chemical studies on leaves of Syzygium zeylanicum (L.) DC", International Journal of Pharmacognosy and Phytochemical Research. 6(4), pp. 685-689.

[27]. Anoop M. and Bindu A. (2015), "In-vitro anti-inflammatory activity studies on Syzygium zeylanicum (L) DC leaves", International Journal of Pharma Research & Review. 4(8), pp. 18-27.

[28]. Ansari P., Flatt P.R., Harriott P., and Abdel-Wahab Y.H.A. (2022), "Insulin secretory and antidiabetic actions of Heritiera fomes bark together with isolation of active phytomolecules", Plos One. 17(3), pp. e0264632.

[29]. Anhê F.F., Desjardins Y., Pilon G., Dudonné S., Genovese M.I., Lajolo F.M., and Marette A. (2013), "Polyphenols and type 2 diabetes: A prospective review", PharmaNutrition. 1(4), pp. 105-114.

[30]. Arulselvan P., Ghofar H.A.A., Karthivashan G., Halim M.F.A., Ghafar M.S.A., and Fakurazi S. (2014), "Antidiabetic therapeutics from natural source: A systematic review", Biomedicine & Preventive Nutrition. 4(4), pp. 607-617.

[31]. Arumugam B., Manaharan T., Heng C.K., Kuppusamy U.R., and Palanisamy U.D. (2014), "Antioxidant and antiglycemic potentials of a standardized extract of Syzygium malaccense", LWT - Food Science and Technology. 59(2), pp. 707-712.

[32]. Arumugam B., Palanisamy U.D., Chua K.H., and Kuppusamy U.R. (2016), "Potential antihyperglycaemic effect of myricetin derivatives from Syzygium malaccense", Journal of Functional Foods. 22 pp. 325-336.

[33]. Assadpour E., Jafari S.-M., and Maghsoudlou Y. (2017), "Evaluation of folic acid release from spray dried powder particles of pectin-whey protein nano- capsules", International Journal of Biological Macromolecules. 95 pp. 238-247. [34]. Atef N.M., Shanab S.M., Negm S.I., and Abbas Y.A. (2019), "Evaluation of antimicrobial activity of some plant extracts against antibiotic susceptible and resistant bacterial strains causing wound infection", Bulletin of the National Research Centre. 43(1), pp. 144.

[35]. Ayyanar M. and Subash-Babu P. (2012), "Syzygium cumini (L.) Skeels: a review of its phytochemical constituents and traditional uses", Asian Pac J Trop Biomed. 2(3), pp. 240-246.

[36]. Bahne E., Sun E.W.L., Young R.L., Hansen M., Sonne D.P., Hansen J.S., Rohde U., Liou A.P., Jackson M.L., de Fontgalland D., Rabbitt P., Hollington P., Sposato L., Due S., Wattchow D.A., Rehfeld J.F., Holst J.J., Keating D.J., Vilsboll T., and Knop F.K. (2018), "Metformin-induced glucagon-like peptide- 1 secretion contributes to the actions of metformin in type 2 diabetes", JCI Insight. 3(23).

[37]. Bairy K., Sharma A., and Shalini A. (2005), "Evaluation of the hypoglycemic, hypolipidemic and hepatic glycogen raising effects of Syzygium malaccense upon streptozotocin induced diabetic rats", Journal of Natural remedies. 5(1), pp. 46-51.

[38]. Bajinka O., Tan Y., Darboe A., Ighaede-Edwards I.G., and Abdelhalim K.A. (2023), "The gut microbiota pathway mechanisms of diabetes", Amb Express. 13(1), pp. 16.

[39]. Ballesteros L.F., Ramirez M.J., Orrego C.E., Teixeira J.A., and Mussatto S.I. (2017), "Encapsulation of antioxidant phenolic compounds extracted from spent coffee grounds by freeze-drying and spray-drying using different coating materials", Food Chemistry. 237 pp. 623-631.

155

[40]. Basciano H., Federico L., and Adeli K. (2005), "Fructose, insulin resistance,

and metabolic dyslipidemia", Nutrition & metabolism. 2(1), pp. 5.

[41]. Bashar S.M., Elhadidy M.G., Mostafa A.F., Hamed B., Helmy S., and Abd- Elmoniem H.A. (2021), "Hepatoprotective effect of gallic acid against type 2- induced diabetic liver injury in male rats through modulation of fetuin-A and GLP-1 with involvement of ERK1/2/NF-κB and Wnt1/β-catenin signaling pathways", Gen Physiol Biophys. 40(3), pp. 221-234.

[42]. Bazyar H., Moradi L., Zaman F., and Zare Javid A. (2023), "The effects of rutin flavonoid supplement on glycemic status, lipid profile, atherogenic index of plasma, brain-derived neurotrophic factor (BDNF), some serum inflammatory, and oxidative stress factors in patients with type 2 diabetes mellitus: A double- blind, placebo-controlled trial", Phytother Res. 37(1), pp. 271-284.

[43]. Berndt J., Kovacs P., Ruschke K., Klöting N., Fasshauer M., Schön M.R., Körner A., Stumvoll M., and Blüher M. (2007), "Fatty acid synthase gene expression in human adipose tissue: association with obesity and type 2 diabetes", Diabetologia. 50(7), pp. 1472-1480. [44]. Bhanu D.R. and Sabu K. "Analysis of micronutrients in Syzygium zeylanicum var. Zeylanicum fruits", Magnesium (Mg). 14 pp. 0.12.

[45]. Bhatt D.L., Szarek M., Steg P.G., Cannon C.P., Leiter L.A., McGuire D.K., Lewis J.B., Riddle M.C., Voors A.A., Metra M., Lund L.H., Komajda M., Testani J.M., Wilcox C.S., Ponikowski P., Lopes R.D., Verma S., Lapuerta P., and Pitt B. (2020), "Sotagliflozin in Patients with Diabetes and Recent Worsening Heart Failure", New England Journal of Medicine. 384(2), pp. 117- 128.

in

[46]. Bhatti J.S., Sehrawat A., Mishra J., Sidhu I.S., Navik U., Khullar N., Kumar S., Bhatti G.K., and Reddy P.H. (2022), "Oxidative stress the pathophysiology of type 2 diabetes and related complications: Current therapeutics strategies and future perspectives", Free Radical Biology and Medicine. 184 pp. 114-134.

[47]. Bilušić T., Drvenica I., Kalušević A., Marijanović Z., Jerković I., Mužek M.N., Bratanić A., Skroza D., Zorić Z., Pedisić S., Nedović V., and Režek Jambrak A. (2021), "Influences of freeze- and spray-drying vs. encapsulation with soy and whey proteins on gastrointestinal stability and antioxidant activity of Mediterranean aromatic herbs", International Journal of Food Science & Technology. 56(4), pp. 1582-1596.

[48]. Birje S. and Mehrotra N. (2018), "Study of in-vitro α-glucosidase inhibitory activity of Syzigium aromaticum and its herb drug interaction with acarbose and metformin".

[49]. Blaschek W. (2017), "Natural Products as Lead Compounds for Sodium Glucose Cotransporter (SGLT) Inhibitors", Planta Med. 83(12-13), pp. 985-993. [50]. Blonde L. (2010), "Current Antihyperglycemic Treatment Guidelines and Algorithms for Patients with Type 2 Diabetes Mellitus", The American Journal of Medicine. 123(3, Supplement), pp. S12-S18.

[51]. Brand-Williams W., Cuvelier M.E., and Berset C. (1995), "Use of a free radical method to evaluate antioxidant activity", LWT - Food Science and Technology. 28(1), pp. 25-30. [52]. Brealey D. and Singer M. (2009), "Hyperglycemia in Critical Illness: A Review", Journal of Diabetes Science and Technology. 3(6), pp. 1250-1260.

156

[53]. Buljeta I., Pichler A., Šimunović J., and Kopjar M. (2022), "Polysaccharides as Carriers of Polyphenols: Comparison of Freeze-Drying and Spray-Drying as Encapsulation Techniques", Molecules. 27(16).

[54]. Burhans M.S., Hagman D.K., Kuzma J.N., Schmidt K.A., and Kratz M. (2018), "Contribution of Adipose Tissue Inflammation to the Development of Type 2 Diabetes Mellitus", Compr Physiol. 9(1), pp. 1-58.

[55]. Butrico C.E., Klopfenstein N., Green E.R., Johnson J.R., Peck S.H., Ibberson C.B., Serezani C.H., and Cassat J.E. (2023), "Hyperglycemia Increases Severity of Staphylococcus aureus Osteomyelitis and Influences Bacterial Genes Required for Survival in Bone", Infection and Immunity. 91(4), pp. e00529-00522.

[56]. Caban M. and Lewandowska U. (2022), "Polyphenols and the potential mechanisms of their therapeutic benefits against inflammatory bowel diseases", Journal of Functional Foods. 95 pp. 105181.

[57]. Cai C., Cheng W., Shi T., Liao Y., Zhou M., and Liao Z. (2023), "Rutin alleviates colon lesions and regulates gut microbiota in diabetic mice", Scientific Reports. 13(1), pp. 4897.

[58]. Callahan B.J., McMurdie P.J., Rosen M.J., Han A.W., Johnson A.J.A., and Holmes S.P. (2016), "DADA2: High-resolution sample inference from Illumina amplicon data", Nature Methods. 13(7), pp. 581-583.

[59]. Campbell Jonathan E. and Drucker Daniel J. (2013), "Pharmacology, Physiology, and Mechanisms of Incretin Hormone Action", Cell Metabolism. 17(6), pp. 819-837. and Telis V.R.N. [60]. Cano-Higuita D.M., Vélez H.A.V.,

(2015), "Microencapsulation of turmeric oleoresin in binary and ternary blends of gum arabic, maltodextrin and modified starch", Ciência e Agrotecnologia. 39. [61]. Cao H., Saroglu O., Karadag A., Diaconeasa Z., Zoccatelli G., Conte-Junior C.A., Gonzalez-Aguilar G.A., Ou J., Bai W., Zamarioli C.M., de Freitas L.A.P., Shpigelman A., Campelo P.H., Capanoglu E., Hii C.L., Jafari S.M., Qi Y., Liao P., Wang M., Zou L., Bourke P., Simal-Gandara J., and Xiao J. (2021), "Available technologies on improving the stability of polyphenols in food processing", Food Frontiers. 2(2), pp. 109-139.

[62]. Cao Y., Chen Q., Liu Y., Jin L., and Peng R. (2023), "Research Progress on the Construction and Application of a Diabetic Zebrafish Model", International Journal of Molecular Sciences. 24(6), pp. 5195.

[63]. Capetti F., Cagliero C., Marengo A., Bicchi C., Rubiolo P., and Sgorbini B. (2020), "Bio-Guided Fractionation Driven by In Vitro α-Amylase Inhibition Assays of Essential Oils Bearing Specialized Metabolites with Potential Hypoglycemic Activity", Plants (Basel, Switzerland). 9(9).

[64]. Capiotti K.M., Antonioli R., Jr., Kist L.W., Bogo M.R., Bonan C.D., and Da Silva R.S. (2014), "Persistent impaired glucose metabolism in a zebrafish hyperglycemia model", Comp Biochem Physiol B Biochem Mol Biol. 171 pp. 58- 65.

[65]. Cassol L. and Noreña C.P.Z. (2021), "Microencapsulation and accelerated stability testing of bioactive compounds of Hibiscus sabdariffa", Journal of Food Measurement and Characterization. 15(2), pp. 1599-1610.

[66]. Cefalo C.M.A., Cinti F., Moffa S., Impronta F., Sorice G.P., Mezza T., Pontecorvi A., and Giaccari A. (2019), "Sotagliflozin, the first dual SGLT

157

inhibitor: current outlook and perspectives", Cardiovascular Diabetology. 18(1), pp. 20. [67]. Ceriello A. (2005), "Postprandial Hyperglycemia and Diabetes Complications: Is It Time to Treat?", Diabetes. 54(1), pp. 1-7. [68]. Coates J. (2000), "Interpretation of Infrared Spectra, A Practical Approach", in Encyclopedia of Analytical Chemistry. [69]. Colegate S.M. and Molyneux R.J. (2007), Bioactive natural products: detection, isolation, and structural determination. CRC press. [70]. Collymore C., Rasmussen S., and Tolwani R.J. (2013), "Gavaging adult zebrafish", Journal of visualized experiments : JoVE,(78), pp. e50691.

[71]. Consoli L., Hubinger M.D., and Dragosavac M.M. (2023), "Encapsulation of resveratrol via spray-drying of oil-in-water emulsions produced by ultrasound or membrane emulsification", Journal of Food Engineering. 350 pp. 111488. [72]. Cremonini E., Bettaieb A., Haj F.G., Fraga C.G., and Oteiza P.I. (2016), "(- )-Epicatechin improves insulin sensitivity in high fat diet-fed mice", Arch Biochem Biophys. 599 pp. 13-21.

[73]. Cremonini E., Fraga C.G., and Oteiza P.I. (2019), "(–)-Epicatechin in the control of glucose homeostasis: Involvement of redox-regulated mechanisms", Free Radical Biology and Medicine. 130 pp. 478-488.

[74]. Ćujić-Nikolić N., Stanisavljević N., Šavikin K., Kalušević A., Nedović V., Samardžić J., and Janković T. (2019), "Chokeberry polyphenols preservation using spray drying: effect of encapsulation using maltodextrin and skimmed milk on their recovery following in vitro digestion", Journal of Microencapsulation. 36(8), pp. 693-703.

[75]. Cunningham A.L., Stephens J.W., and Harris D.A. (2021), "Gut microbiota influence in type 2 diabetes mellitus (T2DM)", Gut Pathogens. 13(1), pp. 50. [76]. Chandran R., Parimelazhagan T., and George B.P.

(2017), "Antihyperglycemic activity of the bark methanolic extract of Syzygium mundagam in diabetic rats", Alexandria Journal of Medicine. 53(4), pp. 317-324. [77]. Chandran R., Parimelazhagan T., Shanmugam S., and Thankarajan S. (2016), "Antidiabetic activity of Syzygium calophyllifolium in Streptozotocin- Nicotinamide induced Type-2 diabetic rats", Biomed Pharmacother. 82 pp. 547- 554.

[78]. Chanudom L. and Tangpong J. (2015), "Anti-Inflammation Property of Syzygium cumini (L.) Skeels on Indomethacin-Induced Acute Gastric Ulceration", Gastroenterol Res Pract. 2015 pp. 343642.

[79]. Chao J., Cheng H.-Y., Chang M.-L., Huang S.-S., Liao J.-W., Cheng Y.-C., Peng W.-H., and Pao L.-H. (2021), "Gallic Acid Ameliorated Impaired Lipid Homeostasis in a Mouse Model of High-Fat Diet—and Streptozotocin-Induced NAFLD and Diabetes through Improvement of β-oxidation and Ketogenesis", Frontiers in Pharmacology. 11.

[80]. Chaudhary V., Thakur N., Kajla P., Thakur S., and Punia S. (2021), "Application of Encapsulation Technology in Edible Films: Carrier of Bioactive Compounds", Frontiers in Sustainable Food Systems. 5(374).

[81]. Chaudhury A., Duvoor C., Reddy Dendi V.S., Kraleti S., Chada A., Ravilla R., Marco A., Shekhawat N.S., Montales M.T., Kuriakose K., Sasapu A., Beebe A., Patil N., Musham C.K., Lohani G.P., and Mirza W. (2017), "Clinical Review of Antidiabetic Drugs: Implications for Type 2 Diabetes Mellitus Management", Front Endocrinol (Lausanne). 8(6), pp. 6.

158

[82]. Chen D., Wang Y., Wu K., and Wang X. (2018), "Dual Effects of Metformin on Adipogenic Differentiation of 3T3-L1 Preadipocyte in AMPK-Dependent and Independent Manners", Int J Mol Sci. 19(6).

[83]. Chen H., Jia Y., and Guo Q. (2020), "Chapter 6 - Polysaccharides and polysaccharide complexes as potential sources of antidiabetic compounds: A review", in Studies in Natural Products Chemistry, Atta ur Rahman, Editor Elsevier. p. 199-220.

[84]. Chen L., Gnanaraj C., Arulselvan P., El-Seedi H., and Teng H. (2019), "A review on advanced microencapsulation technology to enhance bioavailability of phenolic compounds: Based on its activity in the treatment of Type 2 Diabetes", Trends in Food Science & Technology. 85 pp. 149-162.

[85]. Chen X.L., Liang P.L., Gong M.J., Xu Y., Zhang L., Qiu X.H., Zhang J., Huang Z.H., and Xu W. (2022), "Polyphenolics from Syzygium brachythyrsum Inhibits Oxidized Low-Density Lipoprotein-Induced Macrophage-Derived Foam Cell Formation and Inflammation", Foods. 11(21).

[86]. Chew S.C., Tan C.P., and Nyam K.L. (2018), "Microencapsulation of refined kenaf (Hibiscus cannabinus L.) seed oil by spray drying using β- cyclodextrin/gum arabic/sodium caseinate", Journal of Food Engineering. 237 pp. 78-85.

[87]. Chhikara N., Kaur R., Jaglan S., Sharma P., Gat Y., and Panghal A. (2018), "Bioactive compounds and pharmacological and food applications of Syzygium cumini–a review", Food & Function. 9(12), pp. 6096-6115.

[88]. Choudhury N., Meghwal M., and Das K. (2021), "Microencapsulation: An overview on concepts, methods, properties and applications in foods", Food Frontiers. 2(4), pp. 426-442.

[89]. Dadheech N. and Shapiro A.J. (2018), "Human induced pluripotent stem cells in the curative treatment of diabetes and potential impediments ahead", Cell Biology and Translational Medicine, Volume 5, pp. 25-35.

[90]. Daghlas S.A. and Mohiuddin S.S. (2023), "Biochemistry, Glycogen", in StatPearlsStatPearls Publishing Copyright © 2023, StatPearls Publishing LLC.: Treasure Island (FL) ineligible companies. Disclosure: Shamim Mohiuddin declares no relevant financial relationships with ineligible companies.

[91]. David S.R., Lai P.P.N., Chellian J., Chakravarthi S., and Rajabalaya R. (2023), "Influence of rutin and its combination with metformin on vascular functions in type 1 diabetes", Scientific Reports. 13(1), pp. 12423.

[92]. Davies M.J., D'Alessio D.A., Fradkin J., Kernan W.N., Mathieu C., Mingrone G., Rossing P., Tsapas A., Wexler D.J., and Buse J.B. (2018), "Management of Hyperglycemia in Type 2 Diabetes, 2018. A Consensus Report by the American Diabetes Association (ADA) and the European Association for the Study of Diabetes (EASD)", Diabetes Care. 41(12), pp. 2669-2701. [93]. de Paulo Farias D., de Araújo F.F., Neri-Numa I.A., and Pastore G.M. (2021), "Antidiabetic potential of dietary polyphenols: A mechanistic review", Food Research International. 145 pp. 110383.

[94]. Deepika N., Saranya J., Eganathan P., and Sujanapal P. (2014), "Antimicrobial Activity of Syzygium zeylanicum (L.) DC. and Syzygium hemisphericum (Walp.) Alston", Journal of Biologically Active Products from Nature. 4(2), pp. 120-124. [95]. Derosa G., Maffioli P., and Sahebkar A. (2016), "Ellagic Acid and Its Role in Chronic Diseases", Adv Exp Med Biol. 928 pp. 473-479.

159

[96]. Dewijanti I.D., Artanti N., Mangunwardoyo W., Hanafi M., Abbas J., Megawati M., Minarti M., Musdalifah D., and Meilawati L. (2018), Bioactivities of Syzygium polyanthum (Wight) Walp leaf extract for decreasing diabetic risk. in AIP Conference Proceedings. AIP Publishing LLC.

[97]. Dhanya R. (2022), "Quercetin for managing type 2 diabetes and its therapy", Biomedicine & into multitarget insight complications, an Pharmacotherapy. 146 pp. 112560.

[98]. Dharmadeva S., Galgamuwa L.S., Prasadinie C., and Kumarasinghe N. (2018), "In vitro anti-inflammatory activity of Ficus racemosa L. bark using albumin denaturation method", Ayu. 39(4), pp. 239-242. [99]. Dhillon S. (2019), "Dapagliflozin: A Review in Type 2 Diabetes", Drugs. 79(10), pp. 1135-1146.

[100]. Dias M.I., Ferreira I.C., and Barreiro M.F. (2015), "Microencapsulation of bioactives for food applications", Food & Function. 6(4), pp. 1035-1052. [101]. Diedisheim M., Carcarino E., Vandiedonck C., Roussel R., Gautier J.-F., and Venteclef N. (2020), "Regulation of inflammation in diabetes: From genetics to epigenomics evidence", Molecular metabolism. 41 pp. 101041.

[102]. Dirir A.M., Daou M., Yousef A.F., and Yousef L.F. (2022), "A review of alpha- glucosidase inhibitors from plants as potential candidates for the treatment of type-2 diabetes", Phytochemistry Reviews. 21(4), pp. 1049-1079.

[103]. Do M.H., Choi J., Kim Y., Ha S.K., Yoo G., and Hur J. (2020), "Syzygium aromaticum Reduces Diabetes-induced Glucotoxicity via the NRF2/Glo1 Pathway", Planta Med. 86(12), pp. 876-883.

[104]. Dominguez Avila J.A., Rodrigo Garcia J., Gonzalez Aguilar G.A., and de la Rosa L.A. (2017), "The Antidiabetic Mechanisms of Polyphenols Related to Increased Glucagon-Like Peptide-1 (GLP1) and Insulin Signaling", Molecules. 22(6), pp. 903.

[105]. Donnan K. and Segar L. (2019), "SGLT2 inhibitors and metformin: Dual antihyperglycemic therapy and the risk of metabolic acidosis in type 2 diabetes", Eur J Pharmacol. 846 pp. 23-29.

[106]. Douglas G.M., Maffei V.J., Zaneveld J.R., Yurgel S.N., Brown J.R., Taylor C.M., Huttenhower C., and Langille M.G.I. (2020), "PICRUSt2 for prediction of metagenome functions", Nature Biotechnology. 38(6), pp. 685-688.

[107]. Durazzo A., Lucarini M., Souto E.B., Cicala C., Caiazzo E., Izzo A.A., Novellino E., and Santini A. (2019), "Polyphenols: A concise overview on the chemistry, occurrence, and human health", Phytotherapy Research. 33(9), pp. 2221-2243.

[108]. Dzobo K. (2022), The Role of Natural Products as Sources of Therapeutic for Innovative Drug Discovery. Comprehensive Pharmacology. Agents 2022:408-22. doi: 10.1016/B978-0-12-820472-6.00041-4. Epub 2022 Jun 9.

[109]. Eames S.C., Philipson L.H., Prince V.E., and Kinkel M.D. (2010), "Blood sugar measurement in zebrafish reveals dynamics of glucose homeostasis", Zebrafish. 7(2), pp. 205-213.

[110]. Elbere I., Kalnina I., Silamikelis I., Konrade I., Zaharenko L., Sekace K., Radovica-Spalvina I., Fridmanis D., Gudra D., Pirags V., and Klovins J. (2018), "Association of metformin administration with gut microbiome dysbiosis in healthy volunteers", Plos One. 13(9), pp. e0204317.

[111]. Elekofehinti O.O., Ariyo E.O., Iwaloye O., and Obafemi T.O. (2022), "Co- administration of metformin and gallic acid modulates JAK/STAT signaling

160

pathway and glutathione metabolism in fructose-fed streptozotocin diabetic Rats", Phytomedicine Plus. 2(1), pp. 100181.

[112]. Elimam H., Abdulla A.M., and Taha I.M. (2019), "Inflammatory markers and control of type 2 diabetes mellitus", Diabetes Metab Syndr. 13(1), pp. 800-804. [113]. Elo B., Villano C., Govorko D., and White L. (2007), "Larval zebrafish as a model for glucose metabolism: expression of phosphoenolpyruvate carboxykinase as a marker for exposure to anti-diabetic compounds", Journal of molecular endocrinology. 38(4), pp. 433-440.

[114]. Esser D., Geleijnse J.M., Matualatupauw J.C., Dower J.I., Kromhout D., Hollman P.C.H., and Afman L.A. (2018), "Pure flavonoid epicatechin and whole genome gene expression profiles in circulating immune cells in adults with elevated blood pressure: A randomised double-blind, placebo-controlled, crossover trial", Plos One. 13(4), pp. e0194229.

[115]. Ezzamouri B., Rosario D., Bidkhori G., Lee S., Uhlen M., and Shoaie S. (2023), "Metabolic modelling of the human gut microbiome in type 2 diabetes patients in response to metformin treatment", npj Systems Biology and Applications. 9(1), pp. 2.

[116]. Fang Z. and Bhandari B. (2017), "Spray Drying of Bioactives", in Engineering Foods for Bioactives Stability and Delivery, Roos Yrjö H. and Livney Yoav D., Editors, Springer New York: New York, NY. p. 261-284.

[117]. Feingold K.R. (2000), "Oral and Injectable (Non-Insulin) Pharmacological Agents for the Treatment of Type 2 Diabetes", in Endotext, Feingold K. R., Anawalt B., Blackman M. R., Boyce A., Chrousos G., Corpas E., de Herder W. W., Dhatariya K., Dungan K., Hofland J., Kalra S., Kaltsas G., Kapoor N., Koch C., Kopp P., Korbonits M., Kovacs C. S., Kuohung W., Laferrère B., Levy M., McGee E. A., McLachlan R., New M., Purnell J., Sahay R., Shah A. S., Singer F., Sperling M. A., Stratakis C. A., Trence D. L., and Wilson D. P., Editors, MDText.com, Inc. Copyright © 2000-2023, MDText.com, Inc.: South Dartmouth (MA).

[118]. Floegel A., Kim D.-O., Chung S.-J., Koo S.I., and Chun O.K. (2011), "Comparison of ABTS/DPPH assays to measure antioxidant capacity in popular antioxidant-rich US foods", Journal of Food Composition and Analysis. 24(7), pp. 1043-1048. [119]. Folin O. and Ciocalteu V. (1927), "On tyrosine and tryptophane determinations in proteins", Journal of Biological Chemistry. 73(2), pp. 627-650.

[120]. Fonseca-Correa J.I. and Correa-Rotter R. (2021), "Sodium-Glucose Cotransporter 2 Inhibitors Mechanisms of Action: A Review", Front Med (Lausanne). 8 pp. 777861.

[121]. Furman D., Campisi J., Verdin E., Carrera-Bastos P., Targ S., Franceschi C., Ferrucci L., Gilroy D.W., Fasano A., Miller G.W., Miller A.H., Mantovani A., Weyand C.M., Barzilai N., Goronzy J.J., Rando T.A., Effros R.B., Lucia A., Kleinstreuer N., and Slavich G.M. (2019), "Chronic inflammation in the etiology of disease across the life span", Nature Medicine. 25(12), pp. 1822-1832.

[122]. Galicia-Garcia U., Benito-Vicente A., Jebari S., Larrea-Sebal A., Siddiqi H., Uribe K.B., Ostolaza H., and Martin C. (2020), "Pathophysiology of Type 2 Diabetes Mellitus", Int J Mol Sci. 21(17), pp. 6275.

161

[123]. Gan S.U., Fu Z., Sia K.C., Kon O.L., Calne R., and Lee K.O. (2019), "Development of a liver-specific Tet-off AAV8 vector for improved safety of insulin gene therapy for diabetes", J Gene Med. 21(1), pp. e3067.

[124]. Ganesan D., Albert A., Paul E., Ananthapadmanabhan K., Andiappan R., and Sadasivam S.G. (2020), "Rutin ameliorates metabolic acidosis and fibrosis in alloxan induced diabetic nephropathy and cardiomyopathy in experimental rats", Molecular and Cellular Biochemistry. 471(1), pp. 41-50.

[125]. Ganesan K., Ramkumar K.M., and Xu B. (2020), "Vitexin restores pancreatic β-cell function and insulin signaling through Nrf2 and NF-κB signaling pathways", European Journal of Pharmacology. 888 pp. 173606. [126]. García-Aguilar A. and Guillén C. (2022), "Targeting pancreatic beta cell death in type 2 diabetes by polyphenols", Frontiers in Endocrinology. 13.

[127]. García D.E., Delgado N., Aranda F.L., Toledo M.A., Cabrera-Barjas G., Sintjago E.M., Escobar-Avello D., and Paczkowski S. (2018), "Synthesis of maleilated polyflavonoids and lignin as functional bio-based building-blocks", Industrial Crops and Products. 123 pp. 154-163. [128]. Ghaddar B. and Diotel N. (2022), "Zebrafish: A New Promise to Study the Impact of Metabolic Disorders on the Brain", Int J Mol Sci. 23(10).

[129]. Ghadimi M., Foroughi F., Hashemipour S., Nooshabadi M.R., Ahmadi M.H., Yari M.G., Kavianpour M., and Haghighian H.K. (2021), "Decreased insulin resistance in diabetic patients by influencing Sirtuin1 and Fetuin-A following supplementation with ellagic acid: a randomized controlled trial", Diabetology & Metabolic Syndrome. 13(1), pp. 16.

[130]. Ghadimi M., Hashemipour S., Nooshabadi M.R., Kavianpour M., and Haghighian H.K. (2021), "The effect of Ellagic acid on sleep quality in patients with type 2 diabetes: a randomized double blind clinical trial", International Journal of Diabetes in Developing Countries. 41(1), pp. 29-36.

[131]. Ghafouri-Fard S., Shoorei H., Khanbabapour Sasi A., Taheri M., and Ayatollahi S.A. (2021), "The impact of the phytotherapeutic agent quercetin on expression of genes and activity of signaling pathways", Biomedicine & Pharmacotherapy. 141 pp. 111847.

[132]. Gharsallaoui A., Roudaut G., Chambin O., Voilley A., and Saurel R. (2007), "Applications of spray-drying in microencapsulation of food ingredients: An overview", Food Research International. 40(9), pp. 1107-1121. [133]. Ghorbani A. (2017), "Mechanisms of antidiabetic effects of flavonoid rutin", Biomed Pharmacother. 96 pp. 305-312.

[134]. Gleeson M., Connaughton V., and Arneson L.S. (2007), "Induction of hyperglycaemia in zebrafish (Danio rerio) leads to morphological changes in the retina", Acta Diabetol. 44(3), pp. 157-163.

[135]. Golovinskaia O. and Wang C.-K. (2023), "The hypoglycemic potential of phenolics from functional foods and their mechanisms", Food Science and Human Wellness. 12(4), pp. 986-1007.

[136]. Gong L., Feng D., Wang T., Ren Y., Liu Y., and Wang J. (2020), "Inhibitors of α-amylase and α-glucosidase: Potential linkage for whole cereal foods on prevention of hyperglycemia", Food Sci Nutr. 8(12), pp. 6320-6337.

[137]. Gong Y., Zhai G., Su J., Yang B., Jin J., Liu H., Yin Z., Xie S., and Han D. (2018), "Different roles of insulin receptor a and b in maintaining blood glucose homeostasis in zebrafish", General and Comparative Endocrinology. 269 pp. 33- 45.

162

[138]. Gromova L.V., Fetissov S.O., and Gruzdkov A.A. (2021), "Mechanisms of Glucose Absorption in the Small Intestine in Health and Metabolic Diseases and Their Role in Appetite Regulation", Nutrients. 13(7).

[139]. Grussu D., Stewart D., and McDougall G.J. (2011), "Berry Polyphenols Inhibit α-Amylase in Vitro: Identifying Active Components in Rowanberry and Raspberry", Journal of Agricultural and Food Chemistry. 59(6), pp. 2324-2331. [140]. Gurusamy K., Kokilavani R., and Teepa K.S. (2007), "Effect of Syzygium calophyllifolium Walp. seed extract on transaminases and phosphatases in alloxan induced diabetic rats", Ancient science of life. 27(2), pp. 28-33. [141]. Halahlah A., Piironen V., Mikkonen K.S., and Ho T.M. (2022), "Polysaccharides as wall materials in spray-dried microencapsulation of bioactive compounds: Physicochemical properties and characterization", Critical Reviews in Food Science and Nutrition, pp. 1-33.

[142]. Haluzík M., Kratochvílová H., Haluzíková D., and Mráz M. (2018), "Gut as an emerging organ for the treatment of diabetes: focus on mechanism of action of bariatric and endoscopic interventions", Journal of Endocrinology. 237(1), pp. R1-R17.

[143]. Han H.S., Kang G., Kim J.S., Choi B.H., and Koo S.H. (2016), "Regulation of glucose metabolism from a liver-centric perspective", Exp Mol Med. 48(3), pp. e218. [144]. Handa S., Rakesh D., and Vasisht K. (2006), "Compendium of medicinal and aromatic plants Asia", ICS UNIDO Asia. 2 pp. 305.

[145]. He L., Yang F.Q., Tang P., Gao T.H., Yang C.X., Tan L., Yue P., Hua Y.N., Liu S.J., and Guo J.L. (2022), "Regulation of the intestinal flora: A potential mechanism of natural medicines in the treatment of type 2 diabetes mellitus", Biomed Pharmacother. 151 pp. 113091.

[146]. Heendeniya S., Ratnasooriya W., and Pathirana R. (2018), "In vitro investigation of anti-inflammatory activity and evaluation of phytochemical profile of Syzygium caryophyllatum", Journal of Pharmacognosy and Phytochemistry. 7(1), pp. 1759-1763.

[147]. Hiyoshi T., Fujiwara M., and Yao Z. (2017), "Postprandial hyperglycemia and postprandial hypertriglyceridemia in type 2 diabetes", J Biomed Res. 33(1), pp. 1-16.

and microencapsulation properties of

[148]. Hogan S.A., McNamee B.F., O’Riordan E.D., and O’Sullivan M. (2001), sodium "Emulsification caseinate/carbohydrate blends", International Dairy Journal. 11(3), pp. 137-144. [149]. Holtta-Vuori M., Salo V.T., Nyberg L., Brackmann C., Enejder A., Panula P., and Ikonen E. (2010), "Zebrafish: gaining popularity in lipid research", Biochem J. 429(2), pp. 235-242.

[150]. Hong T., Yin J.Y., Nie S.P., and Xie M.Y. (2021), "Applications of infrared spectroscopy in polysaccharide structural analysis: Progress, challenge and perspective", Food Chem X. 12 pp. 100168.

[151]. Horakova O., Kroupova P., Bardova K., Buresova J., Janovska P., Kopecky J., and Rossmeisl M. (2019), "Metformin acutely lowers blood glucose levels by inhibition of intestinal glucose transport", Sci Rep. 9(1), pp. 6156.

[152]. Hossain H., Rahman S.E., Akbar P.N., Khan T.A., Rahman M.M., and Jahan I.A. (2016), "HPLC profiling, antioxidant and in vivo anti-inflammatory activity of the ethanol extract of Syzygium jambos available in Bangladesh", BMC Research Notes. 9(1), pp. 191.

163

[153]. Hossain H., Rahman S.E., Akbar P.N., Khan T.A., Rahman M.M., and Jahan I.A. (2016), "HPLC profiling, antioxidant and in vivo anti-inflammatory activity of the ethanol extract of Syzygium jambos available in Bangladesh", BMC Res Notes. 9(1), pp. 191.

[154]. Hossain R., Rahman M.A., Rafi M.K.J., Siddique T.A., Noman A.A., Makki A., Alelwani W., Hajjar D., and Tangpong J. (2020), "Pharmacological and ADMET-based pharmacokinetic properties of Syzygium samarangense var. parviflorum leaf extract in in vitro, in vivo and in silico models", Notulae Botanicae Horti Agrobotanici Cluj-Napoca. 48(3), pp. 1155-1175.

[155]. Hosseini A., Razavi B.M., Banach M., and Hosseinzadeh H. (2021), "Quercetin and metabolic syndrome: A review", Phytotherapy Research. 35(10), pp. 5352-5364.

[156]. Howe K., Clark M.D., Torroja C.F., Torrance J., Berthelot C., Muffato M., Collins J.E., Humphray S., McLaren K., Matthews L., McLaren S., Sealy I., Caccamo M., Churcher C., Scott C., Barrett J.C., Koch R., Rauch G.J., White S., Chow W., Kilian B., Quintais L.T., Guerra-Assuncao J.A., Zhou Y., Gu Y., Yen J., Vogel J.H., Eyre T., Redmond S., Banerjee R., Chi J., Fu B., Langley E., Maguire S.F., Laird G.K., Lloyd D., Kenyon E., Donaldson S., Sehra H., Almeida-King J., Loveland J., Trevanion S., Jones M., Quail M., Willey D., Hunt A., Burton J., Sims S., McLay K., Plumb B., Davis J., Clee C., Oliver K., Clark R., Riddle C., Elliot D., Threadgold G., Harden G., Ware D., Begum S., Mortimore B., Kerry G., Heath P., Phillimore B., Tracey A., Corby N., Dunn M., Johnson C., Wood J., Clark S., Pelan S., Griffiths G., Smith M., Glithero R., Howden P., Barker N., Lloyd C., Stevens C., Harley J., Holt K., Panagiotidis G., Lovell J., Beasley H., Henderson C., Gordon D., Auger K., Wright D., Collins J., Raisen C., Dyer L., Leung K., Robertson L., Ambridge K., Leongamornlert D., McGuire S., Gilderthorp R., Griffiths C., Manthravadi D., Nichol S., Barker G., Whitehead S., Kay M., Brown J., Murnane C., Gray E., Humphries M., Sycamore N., Barker D., Saunders D., Wallis J., Babbage A., Hammond S., Mashreghi- Mohammadi M., Barr L., Martin S., Wray P., Ellington A., Matthews N., Ellwood M., Woodmansey R., Clark G., Cooper J., Tromans A., Grafham D., Skuce C., Pandian R., Andrews R., Harrison E., Kimberley A., Garnett J., Fosker N., Hall R., Garner P., Kelly D., Bird C., Palmer S., Gehring I., Berger A., Dooley C.M., Ersan-Urun Z., Eser C., Geiger H., Geisler M., Karotki L., Kirn A., Konantz J., Konantz M., Oberlander M., Rudolph- Geiger S., Teucke M., Lanz C., Raddatz G., Osoegawa K., Zhu B., Rapp A., Widaa S., Langford C., Yang F., Schuster S.C., Carter N.P., Harrow J., Ning Z., Herrero J., Searle S.M., Enright A., Geisler R., Plasterk R.H., Lee C., Westerfield M., de Jong P.J., Zon L.I., Postlethwait J.H., Nusslein-Volhard C., Hubbard T.J., Roest Crollius H., Rogers J. and Stemple D.L. (2013), "The zebrafish reference genome sequence and its relationship to the human genome", Nature. 496(7446), pp. 498-503.

[157]. Huang D.-D., Shi G., Jiang Y., Yao C., and Zhu C. (2020), "A review on the potential of Resveratrol in prevention and therapy of diabetes and diabetic complications", Biomedicine & Pharmacotherapy. 125 pp. 109767.

[158]. Huang K., Liang X.-c., Zhong Y.-l., He W.-y., and Wang Z. (2015), "5- Caffeoylquinic acid decreases diet-induced obesity in rats by modulating PPARα

164

and LXRα transcription", Journal of the Science of Food and Agriculture. 95(9), pp. 1903-1910.

[159]. Ito A., Matsui Y., Takeshita M., Katashima M., Goto C., and Kuriki K. (2023), "Gut microbiota-mediated associations of green tea and catechin intakes with glucose metabolism in individuals without type 2 diabetes mellitus: a four- season observational study with mediation analysis", Archives of Microbiology. 205(5), pp. 191.

[160]. Janaswamy S. (2014), "Encapsulation altered starch digestion: Toward developing starch-based delivery systems", Carbohydrate Polymers. 101 pp. 600-605.

[161]. Janiszewska-Turak E., Hornowska Ł., Pobiega K., Gniewosz M., and Witrowa-Rajchert D. (2021), "The influence of Lactobacillus bacteria type and kind of carrier on the properties of spray-dried microencapsules of fermented beetroot powders", International Journal of Food Science & Technology. 56(5), pp. 2166-2174.

[162]. Jideani A.I.O., Silungwe H., Takalani T.K., Omolola A.O., Udeh H.O., and Anyasi T.A. (2021), "Antioxidant-rich natural fruit and vegetable products and human health", International Journal of Food Properties. 24 pp. 41 - 67. [163]. Jin S., Chang C., Zhang L., Liu Y., Huang X., and Chen Z. (2015), "Chlorogenic Acid Improves Late Diabetes through Adiponectin Receptor Signaling Pathways in db/db Mice", Plos One. 10(4), pp. e0120842. [164]. John M., Gopinath D., and Kalra S. (2015), "Triple fixed drug combinations in type 2 diabetes", Indian J Endocrinol Metab. 19(3), pp. 311-313.

[165]. Jolliffe I.T. and Cadima J. (2016), "Principal component analysis: a review and recent developments", Philosophical Transactions of the Royal Society A: Mathematical, Physical and Engineering Sciences. 374(2065), pp. 20150202.

[166]. Kanwugu O.N., Glukhareva T.V., Danilova I.G., and Kovaleva E.G. (2022), "Natural antioxidants in diabetes treatment and management: prospects of astaxanthin", Crit Rev Food Sci Nutr. 62(18), pp. 5005-5028.

[167]. Karwasra B.L., Gill B.S., and Kaur M. (2017), "Rheological and structural properties of starches from different Indian wheat cultivars and their relationships", International Journal of Food Properties. 20(sup1), pp. S1093- S1106.

[168]. Kasetti R.B., Rajasekhar M.D., Kondeti V.K., Fatima S.S., Kumar E.G., Swapna S., Ramesh B., and Rao C.A. (2010), "Antihyperglycemic and antihyperlipidemic activities of methanol:water (4:1) fraction isolated from aqueous extract of Syzygium alternifolium seeds in streptozotocin induced diabetic rats", Food Chem Toxicol. 48(4), pp. 1078-1084.

[169]. Kechinski C.P., Guimarães P.V.R., Noreña C.P.Z., Tessaro I.C., and Marczak L.D.F. (2010), "Degradation Kinetics of Anthocyanin in Blueberry Juice during Thermal Treatment", Journal of Food Science. 75(2), pp. C173-C176. [170]. Keller P.J. (2013), "In vivo imaging of zebrafish embryogenesis", Methods. 62(3), pp. 268-278. [171]. Kim M.J. and Kim H.K. (2009), "Perilla leaf extract ameliorates obesity and dyslipidemia induced by high-fat diet", Phytother Res. 23(12), pp. 1685-1690.

[172]. Kim S., Semple S.J., Simpson B.S., and Deo P. (2020), "Antioxidant and Antiglycation Activities of Syzygium paniculatum Gaertn and Inhibition of Digestive Enzymes Relevant to Type 2 Diabetes Mellitus", Plant Foods Hum Nutr. 75(4), pp. 621-627.

165

[173]. Kinkel M.D. and Prince V.E. (2009), "On the diabetic menu: zebrafish as a

model for pancreas development and function", Bioessays. 31(2), pp. 139-152.

[174]. Kirchner H., Sinha I., Gao H., Ruby M.A., Schönke M., Lindvall J.M., Barrès R., Krook A., Näslund E., Dahlman-Wright K., and Zierath J.R. (2016), "Altered DNA methylation of glycolytic and lipogenic genes in liver from obese and type 2 diabetic patients". Molecular metabolism. 5, 171-183 DOI: 10.1016/j.molmet.2015.12.004.

[175]. Kj S., Krishnakumar G., and Hegde K. (2023), "Comparative study on the Antidiabetic activity of the bark extracts of Syzygium caryophyllatum (L.) Alston and Syzygium zeylanicum (L.) DC", The Journal of Phytopharmacology. 12 pp. 326-333.

[176]. Knudsen J.G., Hamilton A., Ramracheya R., Tarasov A.I., Brereton M., Haythorne E., Chibalina M.V., Spégel P., Mulder H., Zhang Q., Ashcroft F.M., Adam J., and Rorsman P. (2019), "Dysregulation of Glucagon Secretion by Hyperglycemia-Induced Sodium-Dependent Reduction of ATP Production", Cell Metab. 29(2), pp. 430-442.e434.

[177]. Kocsis T., Molnár B., Németh D., Hegyi P., Szakács Z., Bálint A., Garami A., Soós A., Márta K., and Solymár M. (2020), "Probiotics have beneficial metabolic effects in patients with type 2 diabetes mellitus: a meta-analysis of randomized clinical trials", Scientific Reports. 10(1), pp. 11787.

[178]. Kong M., Xie K., Lv M., Li J., Yao J., Yan K., Wu X., Xu Y., and Ye D. (2021), "Anti-inflammatory phytochemicals for the treatment of diabetes and its complications: Lessons learned and future promise", Biomed Pharmacother. 133 pp. 110975.

[179]. Krentz A. and Bailey C. (2005), "Oral antidiabetic agents: Current role in type 2 diabetes mellitus", Drugs. 65 pp. 385-411.

[180]. Kuang S.S., Oliveira J.C., and Crean A.M. (2010), "Microencapsulation as a tool for incorporating bioactive ingredients into food", Crit Rev Food Sci Nutr. 50(10), pp. 951-968.

[181]. Kuck L.S., Wesolowski J.L., and Noreña C.P.Z. (2017), "Effect of temperature and relative humidity on stability following simulated gastro-intestinal digestion of microcapsules of Bordo grape skin phenolic extract produced with different carrier agents", Food Chemistry. 230 pp. 257-264.

[182]. Kunyanga C.N., Imungi J.K., Okoth M., Momanyi C., Biesalski H.K., and Vadivel V. (2011), "Antioxidant and antidiabetic properties of condensed tannins in acetonic extract of selected raw and processed indigenous food ingredients from Kenya", J Food Sci. 76(4), pp. C560-567.

[183]. Kuroda M., Mimaki Y., Ohtomo T., Yamada J., Nishiyama T., Mae T., Kishida H., and Kawada T. (2012), "Hypoglycemic effects of clove (Syzygium aromaticum flower buds) on genetically diabetic KK-Ay mice and identification of the active ingredients", J Nat Med. 66(2), pp. 394-399.

[184]. Kwok A.L.X., Balasooriya H., and Ng K. (2023), "Efficacy of ellagic acid and ellagitannins on diabetes mellitus: A meta-analysis of preclinical and clinical trials", Food Bioscience. 53 pp. 102573.

[185]. Kwon Y.-I.I., Vattem D.A., and Shetty K. (2006), "Evaluation of clonal herbs of Lamiaceae species for management of diabetes and hypertension", Asia pacific journal of clinical nutrition. 15(1), pp. 107-118.

166

[186]. Kha T.C., Nguyen M.H., Roach P.D., and Stathopoulos C.E. (2014), "Microencapsulation of Gac oil: Optimisation of spray drying conditions using response surface methodology", Powder Technology. 264 pp. 298-309. [187]. Khalili L., Alipour B., Asghari Jafar-Abadi M., Faraji I., Hassanalilou T., Mesgari Abbasi M., Vaghef-Mehrabany E., and Alizadeh Sani M. (2019), "The Effects of Lactobacillus casei on Glycemic Response, Serum Sirtuin1 and Fetuin-A Levels in Patients with Type 2 Diabetes Mellitus: A Randomized Controlled Trial", Iran Biomed J. 23(1), pp. 68-77.

[188]. Khamchan A., Paseephol T., and Hanchang W. (2018), "Protective effect of wax apple (Syzygium samarangense (Blume) Merr. & L.M. Perry) against streptozotocin-induced pancreatic ß-cell damage in diabetic rats", Biomedicine & Pharmacotherapy. 108 pp. 634-645.

[189]. Khameneh B., Iranshahy M., Soheili V., and Fazly Bazzaz B.S. (2019), "Review on plant antimicrobials: a mechanistic viewpoint", Antimicrobial Resistance & Infection Control. 8(1), pp. 118.

[190]. Khan M.A.B., Hashim M.J., King J.K., Govender R.D., Mustafa H., and Al Kaabi J. (2020), "Epidemiology of Type 2 Diabetes - Global Burden of Disease and Forecasted Trends", J Epidemiol Glob Health. 10(1), pp. 107-111.

[191]. Khanh T.H., Ban P.H., and Hợi T.M. (2020), "Thành phần hóa học tinh dầu loài Tiểu sim (Rhodamnia dumetorum (Poir.) Merr. & Perry) và Trâm tích lan (Syzygium zeylanicum (L.) DC.)", Bản B của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam. 62(11).

[192]. Khathi A., Serumula M.R., Myburg R.B., Van Heerden F.R., and Musabayane C.T. (2013), "Effects of Syzygium aromaticum-derived triterpenes on postprandial blood glucose in streptozotocin-induced diabetic rats following carbohydrate challenge", Plos One. 8(11), pp. e81632.

[193]. Khin P.P., Lee J.H., and Jun H.-S. (2023), "Pancreatic Beta-cell Dysfunction Inflammation. 21 pp. in Type 2 Diabetes", European Journal of 1721727X231154152. [194]. Labuschagne P.

(2018), "Impact of wall material physicochemical characteristics on the stability of encapsulated phytochemicals: A review", Food Research International. 107 pp. 227-247. [195]. Laddha A.P. and Kulkarni Y.A. (2019), "Tannins and vascular complications of Diabetes: An update", Phytomedicine. 56 pp. 229-245.

[196]. Lago C.C. and Noreña C.P.Z. (2017), "Thermodynamic and kinetics study of phenolics degradation and color of yacon (Smallanthus sonchifolius) microparticles under accelerated storage conditions", Journal of Food Science and Technology. 54(13), pp. 4197-4204.

[197]. Lakstygal A.M., de Abreu M.S., Lifanov D.A., Wappler-Guzzetta E.A., Serikuly N., Alpsyshov E.T., Wang D., Wang M., Tang Z., Yan D., Demin K.A., Volgin A.D., Amstislavskaya T.G., Wang J., Song C., Alekseeva P., and Kalueff A.V. (2019), "Zebrafish models of diabetes-related CNS pathogenesis", Prog Neuropsychopharmacol Biol Psychiatry. 92 pp. 48-58.

[198]. Lee Y. and Yang J. (2021), "Development of a zebrafish screening model for diabetic retinopathy induced by hyperglycemia: Reproducibility verification in animal model", Biomedicine & Pharmacotherapy. 135 pp. 111201. [199]. Lehmann A. and Hornby P.J. (2016), "Intestinal SGLT1 in metabolic health and disease", Am J Physiol Gastrointest Liver Physiol. 310(11), pp. G887-898.

167

[200]. Lenzen S., Lortz S., and Tiedge M. (1996), "Effect of metformin on SGLT1, GLUT2, and GLUT5 hexose transporter gene expression in small intestine from rats", Biochem Pharmacol. 51(7), pp. 893-896. [201]. Lê S., Josse J., and Husson F. (2008), "FactoMineR: an R package for multivariate analysis", Journal of Statistical Software. 25 pp. 1-18.

[202]. Li G., Lou M., and Qi X. (2022), "A brief overview of classical natural product drug synthesis and bioactivity", Organic Chemistry Frontiers. 9(2), pp. 517-571. [203]. Li S., Lei D., Zhu Z., Cai J., Manzoli M., Jicsinszky L., Grillo G., and Cravotto G. (2021), "Complexation of maltodextrin-based inulin and green tea polyphenols via different ultrasonic pretreatment", Ultrason Sonochem. 74 pp. 105568.

[204]. Li W.Z., Stirling K., Yang J.J., and Zhang L. (2020), "Gut microbiota and diabetes: From correlation to causality and mechanism", World J Diabetes. 11(7), pp. 293-308.

[205]. Li X., Zhang Z.H., Qiao J., Qu W., Wang M.S., Gao X., Zhang C., Brennan C.S., and Qi X. (2022), "Improvement of betalains stability extracted from red dragon fruit peel by ultrasound-assisted microencapsulation with maltodextrin", Ultrason Sonochem. 82 pp. 105897.

[206]. Liang T., Liang Z., Wu S., Ding Y., Wu Q., and Gu B. (2023), "Global prevalence of Staphylococcus aureus in food products and its relationship with the occurrence and development of diabetes mellitus", Medicine Advances. 1(1), pp. 53-78.

[207]. Lieke T., Steinberg C.E.W., Meinelt T., Knopf K., and Kloas W. (2022), "Modification of the chemically induced inflammation assay reveals the Janus face of a phenol rich fulvic acid", Sci Rep. 12(1), pp. 5886. [208]. Lim G.E. and Brubaker P.L. (2006), "Glucagon-Like Peptide 1 Secretion by the L-Cell", Diabetes. 55(Supplement_2), pp. S70-S77.

[209]. Lin X., Xu Y., Pan X., Xu J., Ding Y., Sun X., Song X., Ren Y., and Shan P.F. (2020), "Global, regional, and national burden and trend of diabetes in 195 countries and territories: an analysis from 1990 to 2025", Sci Rep. 10(1), pp. 14790.

[210]. Liu L., Zhang C., Zhai M., Yu T., Pei M., Du P., Li A., Yan J., Li C., and Zhang G. (2023), "Effect of chlorogenic acid on lipid metabolism in 3T3-L1 cells induced by oxidative stress", Food Bioscience. 51 pp. 102330.

to carbohydrate foods with a

[211]. Livesey G. and Tagami H. (2009), "Interventions to lower the glycemic response low-viscosity fiber (resistant maltodextrin): meta-analysis of randomized controlled trials", The American Journal of Clinical Nutrition. 89(1), pp. 114-125.

[212]. Lobiuc A., Pavăl N.-E., Mangalagiu I.I., Gheorghiță R., Teliban G.-C., Amăriucăi-Mantu D., and Stoleru V. (2023), "Future Antimicrobials: Natural and Functionalized Phenolics", Molecules. 28(3), pp. 1114.

[213]. Lorincz R., Emfinger C.H., Walcher A., Giolai M., Krautgasser C., Remedi M.S., Nichols C.G., and Meyer D. (2018), "In vivo monitoring of intracellular Ca(2+) dynamics in the pancreatic β-cells of zebrafish embryos", Islets. 10(6), pp. 221-238. [214]. Lourenço S.C., Moldão-Martins M., and Alves V.D.

(2020), "Microencapsulation of Pineapple Peel Extract by Spray Drying Using Maltodextrin, Inulin, and Arabic Gum as Wall Matrices", Foods. 9(6).

168

[215]. Lu W., Yang X., Shen J., Li Z., Tan S., Liu W., and Cheng Z. (2021), "Choosing the appropriate wall materials for spray-drying microencapsulation of natural bioactive ingredients: Taking phenolic compounds as examples", Powder Technology. 394 pp. 562-574.

[216]. M V. and Wang K. (2021), "Dietary natural products as a potential inhibitor towards advanced glycation end products and hyperglycemic complications: A phytotherapy approaches", Biomedicine & Pharmacotherapy. 144 pp. 112336.

[217]. Ma X., Chen Z., Wang L., Wang G., Wang Z., Dong X., Wen B., and Zhang Z. (2018), "The Pathogenesis of Diabetes Mellitus by Oxidative Stress and Inflammation: Its Inhibition by Berberine", Front Pharmacol. 9 pp. 782. [218]. Mahmood N. (2014), "A review of α-amylase inhibitors on weight loss and glycemic control in pathological state such as obesity and diabetes", Comparative Clinical Pathology. 25(6), pp. 1253-1264.

[219]. Mai T.T., Thu N.N., Tien P.G., and Van Chuyen N. (2007), "Alpha-glucosidase inhibitory and antioxidant activities of Vietnamese edible plants and their relationships with polyphenol contents", J Nutr Sci Vitaminol (Tokyo). 53(3), pp. 267-276.

[220]. Maia J.L., Dantas T.N.P., Neto B.P.d.C., Borges K.C., Lima E.C., da Mata A.L.d.M.L., de Medeiros M.d.F.D., and Pereira C.G. (2019), "Extract of spray‐dried Malay apple (Syzygium malaccense L.) skin", Journal of Food Process Engineering. 42(8), pp. e13275.

[221]. Malakar P., Chartarifsky L., Hija A., Leibowitz G., Glaser B., Dor Y., and Karni R. (2016), "Insulin receptor alternative splicing is regulated by insulin signaling and modulates beta cell survival", Scientific Reports. 6(1), pp. 31222. [222]. Maleki V., Abbaszadeh S., Seyyed Shoura S.M., Sohrabnavi A., Sepandi M., and Taghdir M. (2023), "Potential roles of ellagic acid on metabolic variables in diabetes mellitus: A systematic review", Clinical and Experimental Pharmacology and Physiology. 50(2), pp. 121-131.

[223]. Manaharan T., Appleton D., Cheng H.M., and Palanisamy U.D. (2012), leaf extract as potential isolated from Syzygium aqueum "Flavonoids antihyperglycaemic agents", Food Chemistry. 132(4), pp. 1802-1807. [224]. Mather A. and Pollock C. (2011), "Glucose handling by the kidney", Kidney Int Suppl. 79(120), pp. S1-6.

[225]. Mayas M.D., Ortega F.J., Macías-González M., Bernal R., Gómez-Huelgas R., Fernández-Real J.M., and Tinahones F.J. (2010), "Inverse relation between FASN expression in human adipose tissue and the insulin resistance level", Nutr Metab (Lond). 7 pp. 3.

[226]. Md Razip N.N., Mohd Noor S., Norazit A., Nordin N., Sakeh N.M., and Khaza'ai H. (2022), "An Association between Insulin Resistance and Neurodegeneration in Zebrafish Larval Model (Danio rerio)", Int J Mol Sci. 23(15).

[227]. Mechchate H., Es-safi I., Haddad H., Bekkari H., Grafov A., and Bousta D. (2021), "Combination of Catechin, Epicatechin, and Rutin: Optimization of a novel complete antidiabetic formulation using a mixture design approach", The Journal of Nutritional Biochemistry. 88 pp. 108520.

[228]. Medina-Pérez G., Estefes-Duarte J.A., Afanador-Barajas L.N., Fernández- Luqueño F., Zepeda-Velásquez A.P., Franco-Fernández M.J., Peláez-Acero A., and Campos-Montiel R.G. (2020), "Encapsulation Preserves Antioxidant

169

and Antidiabetic Activities of Cactus Acid Fruit Bioactive Compounds under Simulated Digestion Conditions", Molecules. 25(23).

[229]. Melkonian E.A., Asuka E., and Schury M.P. (2023), "Physiology, Gluconeogenesis", in StatPearlsStatPearls Publishing Copyright © 2023, StatPearls Publishing LLC.: Treasure Island (FL) ineligible companies. Disclosure: Edinen Asuka declares no relevant financial relationships with ineligible companies. Disclosure: Mark Schury declares no relevant financial relationships with ineligible companies.

[230]. Menendez J.A., Vazquez-Martin A., Ortega F.J., and Fernandez-Real J.M. (2009), "Fatty Acid Synthase: Association with Insulin Resistance, Type 2 Diabetes, and Cancer", Clinical Chemistry. 55(3), pp. 425-438.

[231]. Meng X.-H., Chen B., and Zhang J.-P. (2017), "Intracellular Insulin and Impaired Autophagy in a Zebrafish model and a Cell Model of Type 2 diabetes", International Journal of Biological Sciences. 13(8), pp. 985-995.

[232]. Min S.H., Yoon J.-H., Moon S.J., Hahn S., and Cho Y.M. (2018), "Combination of sodium-glucose cotransporter 2 inhibitor and dipeptidyl peptidase-4 inhibitor in type 2 diabetes: a systematic review with meta-analysis", Scientific Reports. 8(1), pp. 4466.

[233]. Mirke N.B., Shelke P.S., Malavdkar P.R., and Jagtap P.N. (2020), "In vitro protein denaturation inhibition assay of Eucalyptus globulus and Glycine max for potential anti-inflammatory activity", Innov. Pharm. Pharmacother. 8 pp. 28-31. [234]. Miyamoto K., Hase K., Taketani Y., Minami H., Oka T., Nakabou Y., and Hagihira H. (1991), "Diabetes and glucose transporter gene expression in rat small intestine", Biochem Biophys Res Commun. 181(3), pp. 1110-1117. [235]. Mizoguchi M., Takemori H., Furukawa S., Ito M., Asai M., Morino H., Miura T., Yabe D., and Shibata T. (2023), "Increased expression of glucagon- like peptide-1 and cystic fibrosis transmembrane conductance regulator in the ileum and colon in mouse treated with metformin", Endocr J. 70(2), pp. 149-159. [236]. Monnier L., Lapinski H., and Colette C. (2003), "Contributions of fasting and postprandial plasma glucose increments to the overall diurnal hyperglycemia of type 2 diabetic patients: variations with increasing levels of HbA(1c)", Diabetes Care. 26(3), pp. 881-885.

[237]. Moradi-Marjaneh R., Paseban M., and Sahebkar A. (2019), "Natural products with SGLT2 inhibitory activity: Possibilities of application for the treatment of diabetes", Phytotherapy Research. 33(10), pp. 2518-2530. [238]. Moreira A., Kahlenberg S., and Hornsby P. (2017), "Therapeutic potential of mesenchymal stem cells for diabetes", J Mol Endocrinol. 59(3), pp. R109-R120. [239]. Moreira R.O., Cobas R., and Lopes Assis Coelho R.C. (2018), "Combination of basal insulin and GLP-1 receptor agonist: is this the end of basal insulin alone in the treatment of type 2 diabetes?", Diabetol Metab Syndr. 10 pp. 26. [240]. Moss L.G., Caplan T.V., and Moss J.B. (2013), "Imaging beta cell regeneration and interactions with islet vasculature in transparent adult zebrafish", Zebrafish. 10(2), pp. 249-257.

[241]. Moualek I., Iratni Aiche G., Mestar Guechaoui N., Lahcene S., and Houali K. (2016), "Antioxidant and anti-inflammatory activities of Arbutus unedo aqueous extract", Asian Pacific journal of tropical biomedicine. 6(11), pp. 937- 944.

[242]. Muller T.D., Finan B., Bloom S.R., D'Alessio D., Drucker D.J., Flatt P.R., Fritsche A., Gribble F., Grill H.J., Habener J.F., Holst J.J., Langhans W.,

170

Meier J.J., Nauck M.A., Perez-Tilve D., Pocai A., Reimann F., Sandoval D.A., Schwartz T.W., Seeley R.J., Stemmer K., Tang-Christensen M., Woods S.C., DiMarchi R.D., and Tschop M.H. (2019), "Glucagon-like peptide 1 (GLP-1)", Mol Metab. 30 pp. 72-130.

[243]. Muniz-Ramirez A., Garcia-Campoy A.H., Perez Gutierrez R.M., Garcia Baez E.V., and Mota Flores J.M. (2021), "Evaluation of the Antidiabetic and Antihyperlipidemic Activity of Spondias purpurea Seeds in a Diabetic Zebrafish Model", Plants (Basel, Switzerland). 10(7), pp. 1417.

[244]. Nájera-Martínez E.F., Flores-Contreras E.A., Araújo R.G., Iñiguez-Moreno M., Sosa-Hernández J.E., Iqbal H.M.N., Pastrana L.M., Melchor-Martínez E.M., and Parra-Saldívar R. (2023), "Microencapsulation of Gallic Acid Based on a Polymeric and pH-Sensitive Matrix of Pectin/Alginate", Polymers (Basel). 15(14). [245]. Nanjan M.J. and Betz J. (2014), "Resveratrol for the Management of Diabetes and its Downstream Pathologies", Eur Endocrinol. 10(1), pp. 31-35.

[246]. Naraki K., Ghasemzadeh Rahbardar M., Ajiboye B.O., and Hosseinzadeh H. (2023), "The effect of ellagic acid on the metabolic syndrome: A review article", Heliyon. 9(11).

[247]. Navarro-Flores M.J., Ventura-Canseco L.M.C., Meza-Gordillo R., Ayora- Talavera T.D.R., and Abud-Archila M. (2020), "Spray drying encapsulation of a native plant extract rich in phenolic compounds with combinations of maltodextrin and non-conventional wall materials", J Food Sci Technol. 57(11), pp. 4111-4122.

[248]. Naz R., Ayub H., Nawaz S., Islam Z.U., Yasmin T., Bano A., Wakeel A., Zia S., and Roberts T.H. (2017), "Antimicrobial activity, toxicity and anti- inflammatory potential of methanolic extracts of four ethnomedicinal plant species from Punjab, Pakistan", BMC Complement Altern Med. 17(1), pp. 302.

[249]. Negre-Salvayre A., Salvayre R., Auge N., Pamplona R., and Portero-Otin M. (2009), "Hyperglycemia and glycation in diabetic complications", Antioxid Redox Signal. 11(12), pp. 3071-3109.

[250]. Ni M., Hu X., Gong D., and Zhang G. (2020), "Inhibitory mechanism of vitexin on α-glucosidase and its synergy with acarbose", Food Hydrocolloids. 105 pp. 105824.

[251]. Nishimoto Y., Mizuguchi Y., Mori Y., Ito M., Miyazato S., Kishimoto Y., Yamada T., and Fukuda S. (2022), "Resistant Maltodextrin Intake Reduces Virulent Metabolites in the Gut Environment: A Randomized Control Study in a Japanese Cohort", Front Microbiol. 13 pp. 644146. [252]. Niu Y., Cui W., Liu R., Wang S., Ke H., Lei X., and Chen L. (2022), "Structural mechanism of SGLT1 inhibitors", Nat Commun. 13(1), pp. 6440.

[253]. Nogalska A., Sucajtys-Szulc E., and Swierczynski J. (2005), "Leptin decreases lipogenic enzyme gene expression through modification of SREBP-1c gene expression in white adipose tissue of aging rats", Metabolism. 54(8), pp. 1041- 1047.

[254]. Nomi Y., Shimizu S., Sone Y., Tuyet M.T., Gia T.P., Kamiyama M., Shibamoto T., Shindo K., and Otsuka Y. (2012), "Isolation and antioxidant activity of zeylaniin A, a new macrocyclic ellagitannin from Syzygium zeylanicum leaves", J Agric Food Chem. 60(41), pp. 10263-10269.

[255]. Norton L., Shannon C.E., Fourcaudot M., Hu C., Wang N., Ren W., Song J., Abdul-Ghani M., DeFronzo R.A., Ren J., and Jia W. (2017), "Sodium-glucose

171

co-transporter (SGLT) and glucose transporter (GLUT) expression in the kidney of type 2 diabetic subjects", Diabetes, Obesity and Metabolism. 19(9), pp. 1322- 1326. [256]. Noshad M., Mohebbi M., Koocheki A., and Shahidi F.

(2015), "Microencapsulation of vanillin by spray drying using soy protein isolate– maltodextrin as wall material", Flavour and Fragrance Journal. 30(5), pp. 387- 391.

[257]. Nurliana L., Kurniawati D., Kadir L., Dewi F., and Musta R. (2020), Effectiveness of Maltodextrin as a Coating in Microencapsulation of Clove Leaves Oil (Syzygium aromaticum) for Antibacterial Applications. in IOP Conference Series: Earth and Environmental Science. IOP Publishing.

[258]. Ngubane P.S., Masola B., and Musabayane C.T. (2011), "The effects of Syzygium aromaticum-derived oleanolic acid on glycogenic enzymes in streptozotocin-induced diabetic rats", Ren Fail. 33(4), pp. 434-439.

[259]. Nguyen A.D., Nguyen Q.V., and Wang S.-L. (2017), "Porcine pancreatic α- amylase inhibitors from Euonymus laxiflorus Champ", Research on Chemical Intermediates. 43(1), pp. 259-269.

[260]. Nguyen Q.-V., Doan M.-D., Bui Thi B.-H., Nguyen M.-T., Tran Minh D., Nguyen A.-D., Le T.-M., Nguyen T.-H., Nguyen T.-D., Tran V.-C., and Hoang V.-C. (2022), "The effect of drying methods on chlorophyll, polyphenol, flavonoids, phenolic compounds contents, color and sensory properties, and in vitro antioxidant and anti-diabetic activities of dried wild guava leaves", Drying technology, pp. 1-12.

[261]. Nguyen Q.-V. and Eun J.-B. (2011), "Antioxidant activity of solvent extracts from Vietnamese medicinal plants", Journal of Medicinal Plants Research. 5(13), pp. 2798-2811.

[262]. Nguyen Q.-V., Eun J.-B., Wang S.-L., Nguyen D.H., Tran T.N., and Nguyen A.D. (2016), "Anti-oxidant and antidiabetic effect of some medicinal plants belong to Terminalia species collected in Dak Lak Province, Vietnam", Research on Chemical Intermediates. 42(6), pp. 5859-5871.

[263]. Nguyen Q.-V., Nguyen N.-H., Wang S.-L., and Nguyen A.D. (2017), "Free radical scavenging and antidiabetic activities of Euonymus laxiflorus Champ. extract", Research on Chemical Intermediates. 43(10), pp. 5615-5624.

[264]. Nguyen Q.V., Nguyen A.D., and Wang S.-L. (2017), "Screening and evaluation of α-glucosidase inhibitors from indigenous medicinal plants in Dak Lak Province, Vietnam", Research on Chemical Intermediates. 43(6), pp. 3599-3612. [265]. Nguyen Q.V., Pham V.H., and Nguyen A.D. (2021), "Antioxidant and hypoglycemic activities of various solvent fractions of methanol extract of Terminalia alata Heyne ex Roth trunk-bark", Nova Biotechnologica et Chimica. 20(1), pp. 748.

[266]. Nguyen Q.V., Wang S.-L., and Nguyen A.D. (2018), "In vitro α-glucosidase and α-amylase inhibition, and in vivo anti-hyperglycemic effects of Psidium littorale Raddi leaf extract", Research on Chemical Intermediates. 44(3), pp. 1745-1753. [267]. Nguyen T.H., Le H.D., Kim T.N.T., The H.P., Nguyen T.M., Cornet V., Lambert J., and Kestemont P. (2020), "Anti-Inflammatory and Antioxidant Properties of the Ethanol Extract of Clerodendrum cyrtophyllum Turcz in Copper Sulfate-Induced Inflammation in Zebrafish", Antioxidants (Basel). 9(3). [268]. Nguyen V.B., Wang S.-L., Nguyen T.H., Doan C.T., Tran T.N., Kuo Y.-H., Nguyen Q.V., and Nguyen A.D. (2019), "New indications of potential rat

172

intestinal α-glucosidase inhibition by Syzygium zeylanicum (L.) and its hypoglycemic effect in mice", Research on Chemical Intermediates. 45(12), pp. 6061-6071.

[269]. Nguyen V.B., Wang S.-L., Nguyen T.H., Nguyen M.T., Doan C.T., Tran T.N., Lin Z.-H., Nguyen Q.V., Kuo Y.-H., and Nguyen A.D. (2018), "Novel potent hypoglycemic compounds from Euonymus laxiflorus Champ. and their effect on reducing plasma glucose in an ICR mouse model", Molecules. 23(8), pp. 1928.

[270]. Obafemi T.O., Jaiyesimi K.F., Olomola A.A., Olasehinde O.R., Olaoye O.A., Adewumi F.D., Afolabi B.A., Adewale O.B., Akintayo C.O., and Ojo O.A. (2021), "Combined effect of metformin and gallic acid on inflammation, antioxidant status, endoplasmic reticulum (ER) stress and glucose metabolism in fructose-fed streptozotocin-induced diabetic rats", Toxicology Reports. 8 pp. 1419-1427.

[271]. OECD (2002), Test No. 423: Acute Oral toxicity - Acute Toxic Class Method. [272]. OECD (2019), Test No. 203: Fish, Acute Toxicity Test. [273]. Oguntibeju O.O. (2019), "Type 2 diabetes mellitus, oxidative stress and inflammation: examining the links", Int J Physiol Pathophysiol Pharmacol. 11(3), pp. 45-63.

[274]. Oh D.Y. and Olefsky J.M. (2016), "G protein-coupled receptors as targets for anti-diabetic therapeutics", Nature Reviews Drug Discovery. 15(3), pp. 161-172. [275]. Oh S., Lee M., Ko K.S., Choi S., and Kim S.W. (2003), "GLP-1 gene delivery for the treatment of type 2 diabetes", Mol Ther. 7(4), pp. 478-483. [276]. Ohkuma K. and Wakabayashi S. (2008), Fibersol‐2: A Soluble, Non‐ Digestible, Starch‐Derived Dietary Fibre.

[277]. Okazaki F., Zang L., Nakayama H., Chen Z., Gao Z.-J., Chiba H., Hui S.-P., Aoki T., Nishimura N., and Shimada Y. (2019), "Microbiome Alteration in Type 2 Diabetes Mellitus Model of Zebrafish", Scientific Reports. 9(1), pp. 867. [278]. Okuno Y., Fukuhara A., Hashimoto E., Kobayashi H., Kobayashi S., Otsuki M., and Shimomura I. (2018), "Oxidative Stress Inhibits Healthy Adipose Expansion Through Suppression of SREBF1-Mediated Lipogenic Pathway", Diabetes. 67(6), pp. 1113-1127.

[279]. Omojokun O.S., Oboh G., Ademiluyi A.O., Oladele J.O., and Boligon A.A. (2021), "Impact of drying processes on Bryophyllum pinnatum phenolic constituents and its anti-inflammatory and antioxidative activities in human erythrocytes", J Food Biochem. 45(3), pp. e13298.

[280]. Oranje P., Gouka R., Burggraaff L., Vermeer M.A., Chalet C., Duchateau G., van der Pijl P.C., Geldof M., de Roo N., Clauwaert F., Vanpaeschen T., Nicolaï J., De Bruyn T., Annaert P., IJzerman A.P., and Westen G.V.v. (2019), "Novel natural and synthetic inhibitors of solute carriers SGLT1 and SGLT2", Pharmacology Research & Perspectives. 7.

[281]. Ormazabal V., Nair S., Elfeky O., Aguayo C., Salomon C., and Zuñiga F.A. (2018), "Association between insulin resistance and the development of cardiovascular disease", Cardiovascular Diabetology. 17(1), pp. 122.

[282]. Ozery M. and Wadhwa R. (2023), "Bromocriptine", in StatPearlsStatPearls Publishing Copyright © 2023, StatPearls Publishing LLC.: Treasure Island (FL) ineligible companies. Disclosure: Roopma Wadhwa declares no relevant financial relationships with ineligible companies. [283]. Ozkan G. and Bilek S.E. (2014), "Microencapsulation of natural food colourants", International Journal of Nutrition and Food Sciences. 3 pp. 145.

173

[284]. Ozkan G., Franco P., De Marco I., Xiao J., and Capanoglu E. (2019), "A review of microencapsulation methods for food antioxidants: Principles, advantages, drawbacks and applications", Food Chem. 272 pp. 494-506. [285]. Pai D.A., Vangala V.R., Ng J.W., Ng W.K., and Tan R.B.H. (2015), "Resistant maltodextrin as a shell material for encapsulation of naringin: Production and physicochemical characterization", Journal of Food Engineering. 161 pp. 68-74. [286]. Paini M., Aliakbarian B., Casazza A.A., Lagazzo A., Botter R., and Perego P. (2015), "Microencapsulation of phenolic compounds from olive pomace using spray drying: A study of operative parameters", LWT - Food Science and Technology. 62(1, Part 1), pp. 177-186.

[287]. Palierse E., Przybylski C., Brouri D., Jolivalt C., and Coradin T. (2020), "Interactions of Calcium with Chlorogenic and Rosmarinic Acids: An Experimental and Theoretical Approach", International Journal of Molecular Sciences. 21 pp. 4948.

[288]. Pan L., Ye H., Pi X., Liu W., Wang Z., Zhang Y., and Zheng J. (2023), "Effects of several flavonoids on human gut microbiota and its metabolism by in vitro simulated fermentation", Frontiers in Microbiology. 14.

[289]. Park K.S. (2015), "Raspberry ketone, a naturally occurring phenolic compound, inhibits adipogenic and lipogenic gene expression in 3T3-L1 adipocytes", Pharm Biol. 53(6), pp. 870-875.

[290]. Patel B.K., Patel K.H., and Moochhala S.M. (2023), "Gut microbiota intervention strategies using active components from medicinal herbs to evaluate clinical efficacy of type 2 diabetes – A review", Clinical and Translational Discovery. 3(1), pp. e170.

[291]. Patel S.S., Pushpadass H.A., Franklin M.E.E., Battula S.N., and Vellingiri P. (2022), "Microencapsulation of curcumin by spray drying: Characterization and fortification of milk", J Food Sci Technol. 59(4), pp. 1326-1340.

[292]. Peng J., Lu C., Luo Y., Su X., Li S., and Ho C.T. (2024), "Hypoglycemic effects and associated mechanisms of resveratrol and related stilbenes in diet", Food Funct. 15(5), pp. 2381-2405.

[293]. Peng S.-g., Pang Y.-l., Zhu Q., Kang J.-h., Liu M.-x., and Wang Z. (2018), "Chlorogenic Acid Functions as a Novel Agonist of PPARγ2 during the Differentiation of Mouse 3T3-L1 Preadipocytes", Biomed Research International. 2018(1), pp. 8594767.

[294]. Pérez-Burillo S., Hinojosa-Nogueira D., Pastoriza S., and Rufián-Henares J.A. (2020), "Plant extracts as natural modulators of gut microbiota community structure and functionality", Heliyon. 6(11), pp. e05474.

[295]. Pérez Gutiérrez R.M., Martínez Jerónimo F.F., Contreras Soto J.G., Muñiz Ramírez A., and Estrella Mendoza M.F. (2021), "Optimization of ultrasonic- assisted extraction of polyphenols from the polyherbal formulation of Cinnamomum verum, Origanum majorana, and Origanum vulgare and their anti- diabetic capacity in zebrafish (Danio rerio)", Heliyon, pp. e08682.

[296]. Perez Gutierrez R.M., Muniz-Ramirez A., Garcia-Campoy A.H., and Mota Flores J.M. (2021), "Evaluation of the Antidiabetic Potential of Extracts of Urtica dioica, Apium graveolens, and Zingiber officinale in Mice, Zebrafish, and Pancreatic beta-Cell", Plants (Basel, Switzerland). 10(7), pp. 1438. [297]. Petersen M.C. and Shulman G.I. (2018), "Mechanisms of Insulin Action and Insulin Resistance", Physiol Rev. 98(4), pp. 2133-2223.

174

[298]. Piñón-Balderrama C.I., Leyva-Porras C., Terán-Figueroa Y., Espinosa-Solís V., Álvarez-Salas C., and Saavedra-Leos M.Z. (2020), "Encapsulation of Active Ingredients in Food Industry by Spray-Drying and Nano Spray-Drying Technologies", Processes. 8(8), pp. 889.

[299]. Plamada D. and Vodnar D.C. (2021), "Polyphenols-Gut Microbiota Interrelationship: A Transition to a New Generation of Prebiotics", Nutrients. 14(1).

in [300]. Pollack R.M., Donath M.Y., LeRoith D., and Leibowitz G. (2016), "Anti- the Treatment of Diabetes and Its Vascular

inflammatory Agents Complications", Diabetes Care. 39 Suppl 2(Supplement_2), pp. S244-252. [301]. Poongunran J., Perera H.K., Jayasinghe L., Fernando I.T., Sivakanesan R., Araya H., and Fujimoto Y. (2017), "Bioassay-guided fractionation and identification of alpha-amylase inhibitors from Syzygium cumini leaves", Pharm Biol. 55(1), pp. 206-211.

[302]. Popa R.M., Fetea F., and Socaciu C. (2021), "ATR-FTIR-MIR Spectrometry and Pattern Recognition of Bioactive Volatiles in Oily versus Microencapsulated Food Supplements: Authenticity, Quality, and Stability", Molecules. 26(16), pp. 4837.

[303]. Porras G., Chassagne F., Lyles J.T., Marquez L., Dettweiler M., Salam A.M., Samarakoon T., Shabih S., Farrokhi D.R., and Quave C.L. (2021), "Ethnobotany and the Role of Plant Natural Products in Antibiotic Drug Discovery", Chemical Reviews. 121(6), pp. 3495-3560.

[304]. Prasad C., Davis K.E., Imrhan V., Juma S., and Vijayagopal P. (2019), "Advanced Glycation End Products and Risks for Chronic Diseases: Intervening Through Lifestyle Modification", Am J Lifestyle Med. 13(4), pp. 384-404. [305]. Pudziuvelyte L., Marksa M., Jakstas V., Ivanauskas L., Kopustinskiene D.M., and Bernatoniene J. (2019), "Microencapsulation of Elsholtzia ciliata Herb Ethanolic Extract by Spray-Drying: Impact of Resistant-Maltodextrin Complemented with Sodium Caseinate, Skim Milk, and Beta-Cyclodextrin on the Quality of Spray-Dried Powders", Molecules. 24(8).

[306]. Phunpee S., Ruktanonchai U.R., Yoshii H., Assabumrungrat S., and Soottitantawat A. (2017), "Encapsulation of lemongrass oil with cyclodextrins by spray drying and its controlled release characteristics", Bioscience, Biotechnology, and Biochemistry. 81(4), pp. 718-723.

[307]. Qamar M., Akhtar S., Ismail T., Yuan Y., Ahmad N., Tawab A., Ismail A., Barnard R.T., Cooper M.A., Blaskovich M.A.T., and Ziora Z.M. (2021), "Syzygium cumini (L.),Skeels fruit extracts: In vitro and in vivo anti- inflammatory properties", J Ethnopharmacol. 271 pp. 113805.

[308]. Qu L., Ren J., Huang L., Pang B., Liu X., Liu X., Li B., and Shan Y. (2018), "Antidiabetic Effects of Lactobacillus casei Fermented Yogurt through Reshaping Gut Microbiota Structure in Type 2 Diabetic Rats", Journal of Agricultural and Food Chemistry. 66(48), pp. 12696-12705.

[309]. Quast C., Pruesse E., Yilmaz P., Gerken J., Schweer T., Yarza P., Peplies J., and Glöckner F.O. (2013), "The SILVA ribosomal RNA gene database project: improved data processing and web-based tools", Nucleic Acids Res. 41(Database issue), pp. D590-596.

[310]. Queiroz M.B., Sousa F.R., Silva L.B.d., Alves R.M.V., and Alvim I.D. (2022), "Co-crystallized sucrose-soluble fiber matrix: Physicochemical and structural characterization", LWT. 154 pp. 112685.

175

[311]. R Core Team (2021), R: A language and environment for statistical computing.

. Vienna, Austria.: R Foundation for Statistical Computing.

[312]. Rahman M., Rahman M.M., Deb S.C., Alam M.S., Alam M.J., and Islam M.T. (2017), "Molecular Identification of Multiple Antibiotic Resistant Fish Pathogenic Enterococcus faecalis and their Control by Medicinal Herbs", Scientific Reports. 7(1), pp. 3747.

[313]. Rahman M.M., Dhar P.S., Sumaia, Anika F., Ahmed L., Islam M.R., Sultana N.A., Cavalu S., Pop O., and Rauf A. (2022), "Exploring the plant-derived bioactive substances as antidiabetic agent: An extensive review", Biomedicine & Pharmacotherapy. 152 pp. 113217. [314]. Rambaran T.F. (2020), "Nanopolyphenols: a review of their encapsulation and anti-diabetic effects", SN Applied Sciences. 2(8), pp. 1335.

[315]. Ranđelović S. and Bipat R. (2021), "A Review of Coumarins and Coumarin- Related Compounds for Their Potential Antidiabetic Effect", Clin Med Insights Endocrinol Diabetes. 14 pp. 11795514211042023.

[316]. Rao X., Huang X., Zhou Z., and Lin X. (2013), "An improvement of the 2^(- delta delta CT) method for quantitative real-time polymerase chain reaction data analysis", Biostat Bioinforma Biomath. 3(3), pp. 71-85.

[317]. Raza A., Butt M.S., and Suleria H.A.R. (2017), "Jamun (Syzygium cumini) seed and fruit extract attenuate hyperglycemia in diabetic rats", Asian Pacific journal of tropical biomedicine. 7(8), pp. 750-754.

[318]. Re R., Pellegrini N., Proteggente A., Pannala A., Yang M., and Rice-Evans C. (1999), "Antioxidant activity applying an improved ABTS radical cation decolorization assay", Free Radic Biol Med. 26(9-10), pp. 1231-1237.

[319]. Resurreccion-Magno M.H., Villasenor I.M., Harada N., and Monde K. (2005), "Antihyperglycaemic flavonoids from Syzygium samarangense (Blume) Merr. and Perry", Phytother Res. 19(3), pp. 246-251.

[320]. Ribeiro A.M., Shahgol M., Estevinho B.N., and Rocha F. (2020), "Microencapsulation of Vitamin A by spray-drying, using binary and ternary blends of gum arabic, starch and maltodextrin", Food Hydrocolloids. 108 pp. 106029. [321]. Rieg T. and Vallon V. (2018), "Development of SGLT1 and SGLT2 inhibitors", Diabetologia. 61(10), pp. 2079-2086.

[322]. Righi da Rosa J., Nunes G.L., Motta M.H., Fortes J.P., Cezimbra Weis G.C., Rychecki Hecktheuer L.H., Muller E.I., Ragagnin de Menezes C., and Severo da Rosa C. (2019), "Microencapsulation of anthocyanin compounds extracted from blueberry (Vaccinium spp.) by spray drying: Characterization, stability and simulated gastrointestinal conditions", Food Hydrocolloids. 89 pp. 742-748. [323]. Röder P.V., Wu B., Liu Y., and Han W. (2016), "Pancreatic regulation of glucose homeostasis", Exp Mol Med. 48(3), pp. e219.

[324]. Rodríguez-Mena A., Ochoa-Martínez L.A., González- Herrera S.M., Rutiaga-Quiñones O.M., and Morales-Castro J. (2021), "Degradation kinetics and thermodynamic analysis of betalains on microencapsulated beetroot juice using maltodextrin and sweet potato starch", Scientia Agropecuaria. 12(3), pp. 311-317.

[325]. Roep B.O., Thomaidou S., van Tienhoven R., and Zaldumbide A. (2021), "Type 1 diabetes mellitus as a disease of the β-cell (do not blame the immune system?)", Nat Rev Endocrinol. 17(3), pp. 150-161.

176

[326]. Rossiter S.E., Fletcher M.H., and Wuest W.M. (2017), "Natural Products as Platforms To Overcome Antibiotic Resistance", Chemical Reviews. 117(19), pp. 12415-12474.

[327]. Ruan Z.P., Zhang L.L., and Lin Y.M. (2008), "Evaluation of the Antioxidant Activity of Syzygium cumini Leaves", Molecules. 13(10), pp. 2545-2556. [328]. Rubinstein A.L. (2003), "Zebrafish: from disease modeling to drug discovery", Curr Opin Drug Discov Devel. 6(2), pp. 218-223.

[329]. Ruiz R., Jideonwo V., Ahn M., Surendran S., Tagliabracci V.S., Hou Y., Gamble A., Kerner J., Irimia-Dominguez J.M., Puchowicz M.A., DePaoli- Roach A., Hoppel C., Roach P., and Morral N. (2014), "Sterol regulatory element-binding protein-1 (SREBP-1) is required to regulate glycogen synthesis and gluconeogenic gene expression in mouse liver", J Biol Chem. 289(9), pp. 5510-5517.

[330]. Rungratanawanich W., Qu Y., Wang X., Essa M.M., and Song B.-J. (2021), "Advanced glycation end products (AGEs) and other adducts in aging-related diseases and alcohol-mediated tissue injury", Experimental & molecular medicine. 53(2), pp. 168-188.

[331]. Ruud J., Steculorum S.M., and Brüning J.C. (2017), "Neuronal control of peripheral insulin sensitivity and glucose metabolism", Nature Communications. 8(1), pp. 15259.

[332]. Saeedi P., Petersohn I., Salpea P., Malanda B., Karuranga S., Unwin N., Colagiuri S., Guariguata L., Motala A.A., Ogurtsova K., Shaw J.E., Bright D., Williams R., and Committee I.D.F.D.A. (2019), "Global and regional diabetes prevalence estimates for 2019 and projections for 2030 and 2045: Results from the International Diabetes Federation Diabetes Atlas, 9(th) edition", Diabetes Res Clin Pract. 157 pp. 107843.

[333]. Saklani R., Gupta S.K., Mohanty I.R., Kumar B., Srivastava S., and Mathur R. (2016), "Cardioprotective effects of rutin via alteration in TNF-α, CRP, and BNP levels coupled with antioxidant effect in STZ-induced diabetic rats", Molecular and Cellular Biochemistry. 420(1), pp. 65-72.

[334]. Samarghandian S., Azimi-Nezhad M., and Farkhondeh T. (2017), "Catechin Treatment Ameliorates Diabetes and Its Complications in Streptozotocin- Induced Diabetic Rats", Dose Response. 15(1), pp. 1559325817691158. [335]. Schädle T., Pejcic B., and Mizaikoff B. (2016), "Monitoring dissolved carbon dioxide and methane in brine environments at high pressure using IR-ATR spectroscopy", Analytical Methods. 8(4), pp. 756-762.

[336]. Scheithauer T.P.M., Rampanelli E., Nieuwdorp M., Vallance B.A., Verchere C.B., van Raalte D.H., and Herrema H. (2020), "Gut Microbiota as a Trigger for Metabolic Inflammation in Obesity and Type 2 Diabetes", Front Immunol. 11 pp. 571731.

[337]. Segata N., Izard J., Waldron L., Gevers D., Miropolsky L., Garrett W.S., and Huttenhower C. (2011), "Metagenomic biomarker discovery and explanation", Genome Biol. 12(6), pp. R60.

restoring [338]. Semwal D.K., Kumar A., Aswal S., Chauhan A., and Semwal R.B. (2021), "Protective and therapeutic effects of natural products against diabetes mellitus via their dysfunction", regenerating pancreatic β-cells and Phytotherapy Research. 35(3), pp. 1218-1229. [339]. Seth A., Stemple D.L., and Barroso I. (2013), "The emerging use of zebrafish to model metabolic disease", Dis Model Mech. 6(5), pp. 1080-1088.

177

[340]. Shaaruddin S., Ghazali H.M., Hamed Mirhosseini S., and Muhammad K. (2017), "Stability of betanin in pitaya powder and confection as affected by resistant maltodextrin", LWT. 84 pp. 129-134.

[341]. Shahreen S., Banik J., Hafiz A., Rahman S., Zaman A.T., Shoyeb M.A., Chowdhury M.H., and Rahmatullah M. (2012), "Antihyperglycemic activities of leaves of three edible fruit plants (Averrhoa carambola, Ficus hispida and Syzygium samarangense) of Bangladesh", Afr J Tradit Complement Altern Med. 9(2), pp. 287-291.

[342]. Sharchil C., Vijay A., Ramachandran V., Bhagavatheeswaran S., Devarajan R., Koul B., Yadav D., and Balakrishnan A. (2022), "Zebrafish: A Model to Study and Understand the Diabetic Nephropathy and Other Microvascular Complications of Type 2 Diabetes Mellitus", Vet Sci. 9(7).

[343]. Shen N., Wang T., Gan Q., Liu S., Wang L., and Jin B. (2022), "Plant flavonoids: Classification, distribution, biosynthesis, and antioxidant activity", Food Chemistry. 383 pp. 132531.

[344]. Shen S.C. and Chang W.C. (2013), "Hypotriglyceridemic and hypoglycemic effects of vescalagin from Pink wax apple [Syzygium samarangense (Blume) Merrill and Perry cv. Pink] in high-fructose diet-induced diabetic rats", Food Chem. 136(2), pp. 858-863.

[345]. Shin B.C., Chung J.H., and Kim H.L. (2020), "Protective effects of catechin on gene expression of glucose metabolism in Streptozotocin-induced diabetic nephropathy in rats", Nephrology Dialysis Transplantation. 35(Supplement_3). [346]. Shiraiwa T., Kaneto H., Miyatsuka T., Kato K., Yamamoto K., Kawashima A., Kanda T., Suzuki M., Imano E., Matsuhisa M., Hori M., and Yamasaki Y. (2005), "Postprandial Hyperglycemia Is a Better Predictor of the Progression of Diabetic Retinopathy Than HbA1c in Japanese Type 2 Diabetic Patients", Diabetes Care. 28 pp. 2806-2807. [347]. Shittu T. and Lawal M. (2007), "Factors affecting instant properties of powdered cocoa beverages", Food Chemistry. 100(1), pp. 91-98. [348]. Shurvell H.F. and Chalmers J.M. (2001), "Spectra– Structure Correlations in the Mid‐ and Far‐Infrared", in Handbook of Vibrational Spectroscopy.

[349]. Silamiķele L., Silamiķelis I., Ustinova M., Kalniņa Z., Elbere I., Petrovska R., Kalniņa I., and Kloviņš J. (2021), "Metformin Strongly Affects Gut Microbiome Composition in High-Fat Diet-Induced Type 2 Diabetes Mouse Model of Both Sexes", Frontiers in Endocrinology. 12.

[350]. Silver B., Ramaiya K., Andrew S.B., Fredrick O., Bajaj S., Kalra S., Charlotte B.M., Claudine K., and Makhoba A. (2018), "EADSG Guidelines: Insulin Therapy in Diabetes", Diabetes Ther. 9(2), pp. 449-492. [351]. Simon K. and Wittmann I. (2019), "Can blood glucose value really be referred to as a metabolic parameter?", Rev Endocr Metab Disord. 20(2), pp. 151-160.

[352]. Singh A.K., Rana H.K., Singh V., Chand Yadav T., Varadwaj P., and Pandey A.K. (2021), "Evaluation of antidiabetic activity of dietary phenolic compound chlorogenic acid in streptozotocin induced diabetic rats: Molecular docking, molecular dynamics, in silico toxicity, in vitro and in vivo studies", Computers in Biology and Medicine. 134 pp. 104462.

[353]. Singh D., Shati A., Alfaifi M., Elbehairi S., Han I., and Choi E.-H. (2022), "Development of Dementia in Type 2 Diabetes Patients: Mechanisms of Insulin Resistance and Antidiabetic Drug Development", Cells. 11 pp. 3767.

178

[354]. Singh J.P., Kaur A., Singh N., Nim L., Shevkani K., Kaur H., and Arora D.S. (2016), "In vitro antioxidant and antimicrobial properties of jambolan (Syzygium cumini) fruit polyphenols", LWT - Food Science and Technology. 65 pp. 1025- 1030.

[355]. Sonkoue Lambou J.C., Noubom M., Djoumsie Gomseu B.E., Takougoum Marbou W.J., Tamokou J.D., and Gatsing D. (2022), "Multidrug-Resistant Escherichia coli Causing Urinary Tract Infections among Controlled and Uncontrolled Type 2 Diabetic Patients at Laquintinie Hospital in Douala, Cameroon", Can J Infect Dis Med Microbiol. 2022 pp. 1250264.

[356]. Song P.-a., Onishi A., Koepsell H., and Vallon V. (2016), "Sodium glucose cotransporter SGLT1 as a therapeutic target in diabetes mellitus", Expert Opinion on Therapeutic Targets. 20 pp. 1109 - 1125.

[357]. Song Q., Liu J., Dong L., Wang X., and Zhang X. (2021), "Novel advances in inhibiting advanced glycation end product formation using natural compounds", Biomedicine & Pharmacotherapy. 140 pp. 111750.

[358]. Soronen J., Laurila P.-P., Naukkarinen J., Surakka I., Ripatti S., Jauhiainen M., Olkkonen V.M., and Yki-Järvinen H. (2012), "Adipose tissue gene expression analysis reveals changes in inflammatory, mitochondrial respiratory and lipid metabolic pathways in obese insulin-resistant subjects", BMC Medical Genomics. 5(1), pp. 9.

[359]. Sosnik A. and Seremeta K.P. (2015), "Advantages and challenges of the spray- drying technology for the production of pure drug particles and drug-loaded polymeric carriers", Advances in Colloid and Interface Science. 223 pp. 40-54. [360]. Sruthi D., Dhanalakshmi M., Yashavantha Rao H.C., Parthasarathy R., and Jayabaskaran C. (2023), "Chapter 1 - Extraction, isolation, and characterization of phytochemicals, the bioactive compounds of plants", in Recent Frontiers of Phytochemicals, Pati Siddhartha, Sarkar Tanmay, and Lahiri Dibyajit, Editors, Elsevier. p. 1-8.

[361]. Suarez-Sanchez F. and Gomez-Zamudio J. (2019), "Gene Expression Modifications in Type 2 Diabetes", in The Diabetes Textbook, Rodriguez-Saldana Joel, Editor Springer International Publishing: Cham. p. 127-144.

[362]. Subramaniam K., Joseph M.P., and Babu L.A. (2021), "A Common Drug Causing a Common Side Effect at an Uncommon Time: Metformin-Induced Chronic Diarrhea and Weight Loss After Years of Treatment", Clin Diabetes. 39(2), pp. 237-240.

[363]. Sultana R., Alashi A.M., Islam K., Saifullah M., Haque C.E., and Aluko R.E. (2020), "Inhibitory Activities of Polyphenolic Extracts of Bangladeshi Vegetables against alpha-Amylase, alpha-Glucosidase, Pancreatic Lipase, Renin, and Angiotensin-Converting Enzyme", Foods. 9(7), pp. 844.

[364]. Sun C., Zhao C., Guven E.C., Paoli P., Simal-Gandara J., Ramkumar K.M., Wang S., Buleu F., Pah A., Turi V., Damian G., Dragan S., Tomas M., Khan W., Wang M., Delmas D., Portillo M.P., Dar P., Chen L., and Xiao J. (2020), "Dietary polyphenols as antidiabetic agents: Advances and opportunities", Food Frontiers. 1(1), pp. 18-44.

[365]. Sun C., Zhao C., Guven E.C., Paoli P., Simal‐Gandara J., Ramkumar K.M., Wang S., Buleu F., Pah A., and Turi V. (2020), "Dietary polyphenols as antidiabetic agents: Advances and opportunities", Food Frontiers. 1(1), pp. 18- 44.

179

[366]. Sun H., Saeedi P., Karuranga S., Pinkepank M., Ogurtsova K., Duncan B.B., Stein C., Basit A., Chan J.C.N., Mbanya J.C., Pavkov M.E., Ramachandaran A., Wild S.H., James S., Herman W.H., Zhang P., Bommer C., Kuo S., Boyko E.J., and Magliano D.J. (2022), "IDF Diabetes Atlas: Global, regional and country-level diabetes prevalence estimates for 2021 and projections for 2045", Diabetes Res Clin Pract. 183 pp. 109119.

[367]. Tabassum N., Tai H., Jung D.-W., and Williams D.R. (2015), "Fishing for Nature’s Hits: Establishment of the Zebrafish as a Model for Screening Antidiabetic Natural Products", Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine. 2015 pp. 287847.

[368]. Tahrani A.A., Barnett A.H., and Bailey C.J. (2013), "SGLT inhibitors in management of diabetes", Lancet Diabetes Endocrinol. 1(2), pp. 140-151. [369]. Tan S.Y., Wong J.L.M., Sim Y.J., Wong S.S., Elhassan S.A.M., Tan S.H., Lim G.P.L., Tay N.W.R., Annan N.C., and Bhattamisra S.K. (2019), "Type 1 and 2 diabetes mellitus: A review on current treatment approach and gene therapy as potential intervention", Diabetes & Metabolic Syndrome: Clinical Research & Reviews. 13(1), pp. 364-372.

[370]. Tanaka M., Sugama A., Sumi K., Shimizu K., Kishimoto Y., Kondo K., and Iida K. (2020), "Gallic acid regulates adipocyte hypertrophy and suppresses inflammatory gene expression induced by the paracrine interaction between adipocytes and macrophages in vitro and in vivo", Nutrition Research. 73 pp. 58- 66.

[371]. Teh C.H., Nazni W.A., Nurulhusna A.H., Norazah A., and Lee H.L. (2017), "Determination of antibacterial activity and minimum inhibitory concentration of larval extract of fly via resazurin-based turbidometric assay", BMC Microbiology. 17(1), pp. 36.

[372]. Tomsone L., Galoburda R., Kruma Z., Durrieu V., and Cinkmanis I. (2020), "Microencapsulation of Horseradish (Armoracia rusticana L.) Juice Using Spray-Drying", Foods. 9(9), pp. 1332.

[373]. Tonon R.V., Brabet C., and Hubinger M.D. (2010), "Anthocyanin stability and antioxidant activity of spray-dried açai (Euterpe oleracea Mart.) juice produced with different carrier agents", Food Research International. 43(3), pp. 907-914. [374]. Tsalamandris S., Antonopoulos A.S., Oikonomou E., Papamikroulis G.A., Vogiatzi G., Papaioannou S., Deftereos S., and Tousoulis D. (2019), "The Role of Inflammation in Diabetes: Current Concepts and Future Perspectives", Eur Cardiol. 14(1), pp. 50-59.

[375]. Tuyen C.K., Nguyen M.H., Roach P.D., and Stathopoulos C.E. (2014), "Microencapsulation of Gac oil: Optimisation of spray drying conditions using response surface methodology", Powder Technology. 264 pp. 298-309. [376]. Thomas M.C., Baynes J.W., Thorpe S.R., and Cooper M.E. (2005), "The role of AGEs and AGE inhibitors in diabetic cardiovascular disease", Curr Drug Targets. 6(4), pp. 453-474.

[377]. Thota S. and Akbar A. (2023), "Insulin", in StatPearlsStatPearls Publishing Copyright © 2023, StatPearls Publishing LLC.: Treasure Island (FL) ineligible companies. Disclosure: Aelia Akbar declares no relevant financial relationships with ineligible companies.

[378]. Trojan-Rodrigues M., Alves T., Soares G., and Ritter M. (2012), "Plants used as antidiabetics in popular medicine in Rio Grande do Sul, southern Brazil", Journal of Ethnopharmacology. 139(1), pp. 155-163.

180

[379]. Ulla A., Alam M.A., Sikder B., Sumi F.A., Rahman M.M., Habib Z.F., Mohammed M.K., Subhan N., Hossain H., and Reza H.M. (2017), "Supplementation of Syzygium cumini seed powder prevented obesity, glucose intolerance, hyperlipidemia and oxidative stress in high carbohydrate high fat diet induced obese rats", BMC Complement Altern Med. 17(1), pp. 289. [380]. Van Kiem P., Hai Ninh B., Huu Tai B., Xuan Nhiem N., Hai Yen P., Huy Hoang N., Thi Trang D., Thi Dung D., Van Tuyen N., and Tuan Anh L. (2023), "Undescribed Phenolic Glycosides from Syzygium attopeuense and Their Inhibition of Nitric Oxide Production", Chem Biodivers. 20(9), pp. e202301037. [381]. Variya B.C., Bakrania A.K., and Patel S.S. (2020), "Antidiabetic potential of gallic acid from Emblica officinalis: Improved glucose transporters and insulin sensitivity through PPAR-γ and Akt signaling", Phytomedicine. 73 pp. 152906. [382]. Veprik A., Denwood G., Liu D., Bany Bakar R., Morfin V., McHugh K., Tebeka N.N., Vetterli L., Yonova-Doing E., Gribble F., Reimann F., Hoehn K.L., Hemsley P.A., Ahnfelt-Ronne J., Rorsman P., Zhang Q., de Wet H., and Cantley J. (2022), "Acetyl-CoA-carboxylase 1 (ACC1) plays a critical role in glucagon secretion", Commun Biol. 5(1), pp. 238.

[383]. Vinayagam R., Jayachandran M., and Xu B. (2016), "Antidiabetic Effects of Simple Phenolic Acids: A Comprehensive Review", Phytotherapy Research. 30(2), pp. 184-199.

[384]. Vo Van L., Pham E.C., Nguyen C.V., Duong N.T.N., Vi Le Thi T., and Truong T.N. (2022), "In vitro and in vivo antidiabetic activity, isolation of flavonoids, and in silico molecular docking of stem extract of Merremia tridentata (L.)", Biomed Pharmacother. 146 pp. 112611.

[385]. Vogt T. (2010), "Phenylpropanoid Biosynthesis", Molecular Plant. 3(1), pp. 2- 20.

[386]. Vuong Q.V., Hirun S., Chuen T.L.K., Goldsmith C.D., Bowyer M.C., Chalmers A.C., Phillips P.A., and Scarlett C.J. (2014), "Physicochemical composition, antioxidant and anti-proliferative capacity of a lilly pilly (Syzygium paniculatum) extract", Journal of Herbal Medicine. 4(3), pp. 134-140. [387]. Wachsmuth H.R., Weninger S.N., and Duca F.A. (2022), "Role of the gut– brain axis in energy and glucose metabolism", Experimental & molecular medicine. 54(4), pp. 377-392.

[388]. Wahjuni S. and Wita I.W. (2017), "Hypoglycemic and antioxidant effects of Syzygium polyanthum leaves extract on alloxan induced hyperglycemic Wistar Rats", Bali Med J. 3(3), pp. 113-116.

[389]. Waller D.G. and Sampson A.P. (2018), "40 - Diabetes mellitus", in Medical Pharmacology and Therapeutics (Fifth Edition), Waller Derek G. and Sampson Anthony P., Editors, Elsevier. p. 459-473.

[390]. Waltenberger B., Mocan A., Šmejkal K., Heiss E.H., and Atanasov A.G. (2016), "Natural Products to Counteract the Epidemic of Cardiovascular and Metabolic Disorders", Molecules. 21(6), pp. 807.

[391]. Wang G., Rajpurohit S.K., Delaspre F., Walker S.L., White D.T., Ceasrine A., Kuruvilla R., Li R.J., Shim J.S., Liu J.O., Parsons M.J., and Mumm J.S. (2015), "First quantitative high-throughput screen in zebrafish identifies novel pathways for increasing pancreatic β-cell mass", Elife. 4.

[392]. Wang L., Clardy A., Hui D., and Wu Y. (2021), "Physiochemical properties of encapsulated bitter melon juice using spray drying", Bioactive Carbohydrates and Dietary Fibre. 26 pp. 100278.

181

[393]. Wang S.-L., Nguyen A.D., Vo T.P.K., Zhang L.-J., Nguyen Q.V., and Kuo Y.- H. (2018), "Isolation and identification of novel α-amylase inhibitors from Euonymus laxiflorus Champ", Research on Chemical Intermediates. 44(2), pp. 1411-1424. [394]. Wang T.Y., Li Q., and Bi K.S. (2018), "Bioactive flavonoids in medicinal plants: Structure, activity and biological fate", Asian J Pharm Sci. 13(1), pp. 12-23. [395]. Wang Y., Alkhalidy H., and Liu D. (2021), "The Emerging Role of Polyphenols in the Management of Type 2 Diabetes", Molecules. 26(3).

[396]. Wang Y., Fofana B., Roy M., Ghose K., Yao X.-H., Nixon M.-S., Nair S., and Nyomba G.B.L. (2015), "Flaxseed lignan secoisolariciresinol diglucoside improves insulin sensitivity through upregulation of GLUT4 expression in diet- induced obese mice", Journal of Functional Foods. 18 pp. 1-9.

[397]. Wang Y., Huang S., Shao S., Qian L., and Xu P. (2012), "Studies on bioactivities of tea (Camellia sinensis L.) fruit peel extracts: Antioxidant activity and inhibitory potential against α-glucosidase and α-amylase in vitro", Industrial Crops and Products. 37(1), pp. 520-526.

[398]. Wen L., Wu D., Tan X., Zhong M., Xing J., Li W., Li D., and Cao F. (2022), "The Role of Catechins in Regulating Diabetes: An Update Review", Nutrients. 14(21). [399]. Westerfield M. (2000), "The zebrafish book: a guide for the laboratory use of zebrafish", http://zfin.org/zf_info/zfbook/zfbk.html.

[400]. Widyawati T., Yusoff N.A., Bello I., Asmawi M.Z., and Ahmad M. (2022), "Bioactivity-Guided Fractionation and Identification of Antidiabetic Compound of Syzygium polyanthum (Wight.)'s Leaf Extract in Streptozotocin-Induced Diabetic Rat Model", Molecules. 27(20). [401]. Wilcox G. (2005), "Insulin and insulin resistance", The Clinical biochemist. Reviews. 26(2), pp. 19-39. [402]. Wiwanitkit V. (2011), "Outbreak of Escherichia coli and diabetes mellitus", Indian J Endocrinol Metab. 15(Suppl 1), pp. S70-71.

[403]. Wongsa P., Phatikulrungsun P., and Prathumthong S. (2022), "FT-IR characteristics, phenolic profiles and inhibitory potential against digestive enzymes of 25 herbal infusions", Sci Rep. 12(1), pp. 6631.

[404]. Worawalai W., Doungwichitrkul T., Rangubpit W., Taweechat P., Sompornpisut P., and Phuwapraisirisan P. (2019), "Furofuran lignans as a new series of antidiabetic agents exerting α-glucosidase inhibition and radical scarvenging: Semisynthesis, kinetic study and molecular modeling", Bioorganic Chemistry. 87 pp. 783-793.

[405]. Wulffelé M.G., Kooy A., Lehert P., Bets D., Ogterop J.C., Borger van der Burg B., Donker A.J.M., and Stehouwer C.D.A. (2002), "Combination of Insulin and Metformin in the Treatment of Type 2 Diabetes", Diabetes Care. 25(12), pp. 2133-2140.

[406]. Xia F., Wen L.P., Ge B.C., Li Y.X., Li F.P., and Zhou B.J. (2021), "Gut microbiota as a target for prevention and treatment of type 2 diabetes: Mechanisms and dietary natural products", World J Diabetes. 12(8), pp. 1146- 1163.

[407]. Xia H., Chen H., Cheng X., Yin M., Yao X., Ma J., Huang M., Chen G., and Liu H. (2022), "Zebrafish: an efficient vertebrate model for understanding role of gut microbiota", Molecular Medicine. 28(1), pp. 161.

182

[408]. Xiao F., Xu T., Lu B., and Liu R. (2020), "Guidelines for antioxidant assays for

food components", Food Frontiers. 1(1), pp. 60-69.

[409]. Xiao J., Capanoglu E., Jassbi A.R., and Miron A. (2016), "Advance on the Flavonoid C-glycosides and Health Benefits", Critical Reviews in Food Science and Nutrition. 56(sup1), pp. S29-S45.

[410]. Xie Y., Chen J., Xiao A., and Liu L. (2017), "Antibacterial Activity of Polyphenols: Structure-Activity Relationship and Influence of Hyperglycemic Condition", Molecules. 22(11), pp. 1913.

[411]. Xie Y., Meijer A.H., and Schaaf M.J.M. (2020), "Modeling Inflammation in Zebrafish for the Development of Anti-inflammatory Drugs", Front Cell Dev Biol. 8 pp. 620984.

[412]. Xiong W., Sun K.-Y., Zhu Y., Zhang X., Zhou Y.-H., and Zou X. (2021), "Metformin alleviates inflammation through suppressing FASN-dependent palmitoylation of Akt", Cell Death & Disease. 12(10), pp. 934.

[413]. Xu G., Kaneto H., Laybutt D.R., Duvivier-Kali V.F., Trivedi N., Suzuma K., King G.L., Weir G.C., and Bonner-Weir S. (2007), "Downregulation of GLP- 1 and GIP receptor expression by hyperglycemia: possible contribution to impaired incretin effects in diabetes", Diabetes. 56(6), pp. 1551-1558.

[414]. Xu L., Li Y., Dai Y., and Peng J. (2018), "Natural products for the treatment of type 2 diabetes mellitus: Pharmacology and mechanisms", Pharmacological research. 130 pp. 451-465.

[415]. Xu Y., Tang G., Zhang C., Wang N., and Feng Y. (2021), "Gallic Acid and Diabetes Mellitus: Its Association with Oxidative Stress", Molecules. 26(23), pp. 7115.

[416]. Yadav K., Bajaj R.K., Mandal S., and Mann B. (2020), "Encapsulation of grape seed extract phenolics using whey protein concentrate, maltodextrin and gum arabica blends", Journal of Food Science and Technology. 57(2), pp. 426- 434.

[417]. Yamanouchi T. (2010), "Concomitant therapy with pioglitazone and insulin for the treatment of type 2 diabetes", Vasc Health Risk Manag. 6 pp. 189-197. [418]. Yan Y., Zhou X., Guo K., Zhou F., and Yang H. (2020), "Use of Chlorogenic Acid against Diabetes Mellitus and Its Complications", Journal of immunology research. 2020 pp. 9680508. [419]. Yang B., Covington B.A., and Chen W. (2020), "In vivo generation and regeneration of beta cells in zebrafish", Cell Regen. 9(1), pp. 9.

[420]. Yang C.-Y., Yen Y.-Y., Hung K.-C., Hsu S.-W., Lan S.-J., and Lin H.-C. (2019), "Inhibitory effects of pu-erh tea on alpha glucosidase and alpha amylase: a systemic review", Nutrition & Diabetes. 9(1), pp. 23.

[421]. Ye X., Li J., Gao Z., Wang D., Wang H., and Wu J. (2022), "Chlorogenic Acid Inhibits Lipid Deposition by Regulating the Enterohepatic FXR-FGF15 Pathway", Biomed Research International. 2022(1), pp. 4919153.

[422]. Yen L.-T., Weng C.-H., Than N.A.T., Tzeng J.-H., Jacobson A.R., Iamsaard K., Dang V.D., and Lin Y.-T. (2022), "Mode of inactivation of Staphylococcus aureus and Escherichia coli by heated oyster-shell powder", Chemical Engineering Journal. 432 pp. 134386.

[423]. Yeung A.W.K., Tzvetkov N.T., Durazzo A., Lucarini M., Souto E.B., Santini A., Gan R.Y., Jozwik A., Grzybek W., Horbanczuk J.O., Mocan A., Echeverria J., Wang D., and Atanasov A.G. (2020), "Natural products in diabetes research: quantitative literature analysis", Nat Prod Res, pp. 1-15.

183

[424]. Yilmaz M.T., Akman P.K., Bozkurt F., and Karasu S. (2021), "An effective polydopamine coating to improve stability and bioactivity of carvacrol-loaded zein nanoparticles", International Journal of Food Science & Technology. 56(11), pp. 6011-6024.

[425]. Yoder S.C., Lancaster S.M., Hullar M.A.J., and Lampe J.W. (2015), "Chapter 7 - Gut Microbial Metabolism of Plant Lignans: Influence on Human Health", in Diet-Microbe Interactions in the Gut, Tuohy Kieran and Del Rio Daniele, Editors, Academic Press: San Diego. p. 103-117. [426]. Yung J.H.M. and Giacca A. (2020), "Role of c-Jun N-terminal Kinase (JNK) in Obesity and Type 2 Diabetes", Cells. 9(3). [427]. Yusof N. (2013), Powder properties and prebiotic activity of white dragon fruit (Hylocereus undatus) juice spray-dried using resistant maltodextrin.

[428]. Zanandrea R., Bonan C.D., and Campos M.M. (2020), "Zebrafish as a model for inflammation and drug discovery", Drug Discov Today. 25(12), pp. 2201- 2211. [429]. Zang L., Maddison L.A., and Chen W. (2018), "Zebrafish as a model for obesity and diabetes", Frontiers in cell and developmental biology. 6 pp. 91.

[430]. Zang L., Shimada Y., and Nishimura N. (2017), "Development of a Novel Zebrafish Model for Type 2 Diabetes Mellitus", Sci Rep. 7(1), pp. 1461. [431]. Zang L., Shimada Y., Nishimura Y., Tanaka T., and Nishimura N. (2013), "A novel, reliable method for repeated blood collection from aquarium fish", Zebrafish. 10(3), pp. 425-432.

[432]. Zang L., Shimada Y., Nishimura Y., Tanaka T., and Nishimura N. (2015), "Repeated Blood Collection for Blood Tests in Adult Zebrafish", Journal of visualized experiments : JoVE,(102), pp. e53272.

[433]. Zeng H., Liu C., Wan L., Peng L., Wen S., Fang W., Chen H., Wang K., Yang X., Huang J., and Liu Z. (2024), "(-)-Epicatechin ameliorates type 2 diabetes mellitus by reshaping the gut microbiota and Gut-Liver axis in GK rats", Food Chem. 447 pp. 138916.

[434]. Zhang S., Zhang S., Wang H., and Chen Y. (2023), "Vitexin ameliorated diabetic nephropathy via suppressing GPX4-mediated ferroptosis", Eur J Pharmacol. 951 pp. 175787.

[435]. Zhang Y., Wang D., Yang L., Zhou D., and Zhang J. (2014), "Purification and Characterization of Flavonoids from the Leaves of Zanthoxylum bungeanum and Correlation between Their Structure and Antioxidant Activity", Plos One. 9(8), pp. e105725.

[436]. Zhao Y., Fang C., Jin C., Bao Z., Yang G., and Jin Y. (2022), "Catechin from green tea had the potential to decrease the chlorpyrifos induced oxidative stress in larval zebrafish (Danio rerio)", Pesticide Biochemistry and Physiology. 182 pp. 105028.

[437]. Zhishen J., Mengcheng T., and Jianming W. (1999), "The determination of flavonoid contents in mulberry and their scavenging effects on superoxide radicals", Food Chemistry. 64(4), pp. 555-559.

[438]. Zhong F. and Jiang Y. (2019), "Endogenous Pancreatic beta Cell Regeneration: A Potential Strategy for the Recovery of beta Cell Deficiency in Diabetes", Front Endocrinol (Lausanne). 10(101), pp. 101.

[439]. Zhu S., Li J., Li W., Li S., Yang X., Liu X., and Sun L. (2022), "Enzymic catalyzing affinity to substrate affects inhibitor-enzyme binding interactions:

184

Inhibition behaviors of EGCG against starch digestion by individual and co- existing α-amylase and amyloglucosidase", Food Chemistry. 388 pp. 133047.

[440]. Zokti J.A., Sham Baharin B., Mohammed A.S., and Abas F. (2016), "Green Tea Leaves Extract: Microencapsulation, Physicochemical and Storage Stability Study", Molecules. 21(8).

[441]. Zorzenon M.R.T., Formigoni M., da Silva S.B., Hodas F., Piovan S., Ciotta S.R., Jansen C.A., Dacome A.S., Pilau E.J., Mareze-Costa C.E., Milani P.G., and Costa S.C. (2020), "Spray drying encapsulation of stevia extract with maltodextrin and evaluation of the physicochemical and functional properties of produced powders", Journal of Food Science. 85(10), pp. 3590-3600.

[442]. Zulcafli A.S., Lim C., Ling A.P., Chye S., and Koh R. (2020), "Antidiabetic Potential of Syzygium sp.: An Overview", The Yale journal of biology and medicine. 93(2), pp. 307-325.

185

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Các phương pháp đánh giá hoạt tính P.1.1. Phương pháp xác định hàm lượng polyphenol tổng số

Hàm lượng polyphenol tổng số được xác định theo phương pháp Folin–Ciocalteu [117] với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả lại bởi Quang Vinh Nguyen và Jongbang Eun (2011) [264]. Đường chuẩn gallic được xây dựng bằng cách lấy 1 mL dung dịch gallic acid được chuẩn bị trong methanol với các nồng độ: 0,0078, 0,0156; 0,03125; 0,0625 và 0,125 mg/mL trộn với 5 mL Folin-Ciocalteu reagent (được pha loãng 10 lần) và 4 mL Na2CO3 (75 g/L), lắc đều. Độ hấp thu của dung dịch được xác định sau 30 phút ở bước sóng 765 nm bằng máy UV-VIS (V-630, Jasco, Nhật Bản). Xây dựng đường chuẩn và phương trình tương quan nồng độ gallic và độ hấp thụ. Sau đó, độ hấp thụ của các mẫu cao chiết được xác đinh theo trình tự như gallic acid, thay bằng 1 mL dịch cao chiết. Tổng hàm lượng polyphenol của cao chiết được xác định qua giá trị đương lượng gallic acid (gallic acid equivalents - GAE) dựa vào phương trình đường chuẩn đã được xây dựng. Tổng hàm lượng polyphenol được tính theo công thức:

𝐶 = 𝑐 × 𝑉/𝑚

trong đó, 𝐶 là hàm lượng polyphenol tổng số (mgGAE/g chất khô), 𝑐 là nồng độ gallic acid được xác định từ phương trình đường chuẩn (mg/mL), 𝑉 là thể tích mẫu (mL), 𝑚 là khối lượng dịch mẫu (g). P.1.2. Phương pháp xác định hàm lượng flavonoid tổng số

Tổng hàm lượng flavonoid được xác định theo phương pháp so màu tiến hành bởi Zhishen et al. (1999) [442] với một số thay đổi nhỏ được mô tả lại bởi Nguyen và Eun (2011) [264]. Đường chuẩn quercetin được xây dựng bằng cách lấy 0,5 mL dung dịch quercetin trong methanol (nồng độ 0,02; 0,04; 0,06; 0,08 và 0,1 mg/mL) trộn với 2,5 mL nước cất và 0,15 mL NaNO2 5% lắc đều. Sau 5 phút, bổ sung 0,3 ml AlCl3 10%. Sau 6 phút bổ sung 1mL NaOH 1M và 0,55 ml nước cất. Mật độ quang học của dịch phản ứng được xác định ở bước sóng 510 nm bằng máy quang phổ UV-VIS (V-630, Jasco, Nhật Bản). Xây dựng đường chuẩn và phương trình tương quan giữa nồng độ quercetin và độ hấp thụ. Sau đó, độ hấp thụ của các mẫu cao chiết được xác định tương tự như trên với 0,5 mL dung dịch mẫu cao chiết. Tổng hàm lượng flavonoid của cao chiết được xác định thông qua giá trị đương lượng quercetin (quercetin equivalent – QE) dựa vào đường chuẩn và xác định theo công thức:

𝐹 = 𝑓 × 𝑉/𝑚

trong đó, 𝐹 là hàm lượng favonoid tổng (mgQE/g chất khô), 𝑓 là nồng độ quercetin được xác định từ phương trình đường chuẩn (mg/mL), 𝑉 là thể tích mẫu (mL), 𝑚 là khối lượng mẫu (g). P.1.3. Phương pháp đánh giá khả năng chống oxy hóa

Khả năng chống oxy hóa được đánh giá dựa trên khả năng trung hòa gốc tự do DPPH• và ABTS•+

bằng cách sử dụng các phương pháp mô tả lại bởi Nguyen et al. (2016) và Nguyen et al. (2022)

Khả năng khả năng trung hòa gốc tự do DPPH• được tiến hành theo phương pháp so màu theo Brand-Williams et al. (1995) với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả lại bởi Nguyen et al. (2016). Dung dịch DPPH• làm việc được chuẩn bị bằng cách pha loãng dung dịch DPPH• gốc với methanol (0,24 g/L) để thu được mật độ quang học 1,1 ± 0,02 ở bước sóng 515 nm. Sau đó hút 0,1 mL dung dịch cao chiết Trâm vỏ đỏ bổ sung vào 3,9 mL dung dịch làm việc DPPH• trong ống nghiệm, để trong 30 phút ở nhiệt độ phòng trong phòng tối. Mật độ quang học của dung dịch phản ứng sau đó được xác định ở bước sóng 515 nm bằng máy quang phổ UV-VIS (V-630, Jasco, Nhật Bản). Mật độ quang học của mẫu trắng chứa cùng một lượng methanol và dung dịch DPPH• (đối chứng âm). Trolox được sử dụng làm chất đối chứng dương.

Khả năng năng trung hòa gốc tự do ABTS•+ được tiến hành theo phương pháp so màu tiến hành bởi Re et al. (1999) với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả bởi Nguyen et al. (2022). Chuẩn bị dung dịch ABTS•+ làm việc gồm hỗn hợp ABTS•+ 7,4 mM và kali persulfate 2,6 mM và bảo quản 12 giờ trong bình tối để tạo ABTS•+ nồng độ làm việc, độ hấp thụ 1,1 ± 0,02 ở bước sóng 734 nm. Cho 1,8 mL dung dịch ABTS•+ làm việc vào ống nghiệm chứa 0,2 mL dung dịch cao chiết. Lắc đều, để phản ứng 2 giờ trong bóng tối. Độ hấp thụ được xác định bước sóng 734 nm sử dụng máy quang phổ UV-VIS (V-630, Jasco, Nhật Bản). Trolox được sử dụng làm đối chứng dương. Hoạt tính chống oxy hóa được tính theo công thức:

% 𝐶ℎố𝑛𝑔 𝑜𝑥𝑦 ℎó𝑎 = [(𝐴𝐵 – 𝐴𝐴)/𝐴𝐵] × 100% trong đó, 𝐴𝐵 và 𝐴𝐴 lần lượt là độ hấp thụ ở bước sóng xác định trước của mẫu kiểm chứng (mẫu chỉ chứa dung môi) và dung dịch phản ứng chứa dịch cao chiết sau thời gian phản ứng. Khả năng trung hòa gốc tự do DPPH• và ABTS•+ được tính theo đương lượng Trolox (Trolox equivalent) (mg TE/g chất khô) dựa trên đường chuẩn. P.1.4. Phương pháp đánh giá khả năng kháng viêm in vitro

Hoạt tính kháng viêm in vitro của các cao chiết Trâm vỏ đỏ được đánh giá thông qua khả năng ức chế biến tính albumin trứng gà theo phương pháp được mô tả bởi Dharmadeva et al. (2018). Các cao

P-1

chiết được chuẩn bị bằng cách pha loãng nhị phân tạo thành dãy các nồng độ thay đổi trong khoảng 1,56-100 μg/mL, ibuprofen (1000 μg/mL) được sử dụng làm đối chứng dương. Ống nghiệm chứa tổng thể tích 5 mL hỗn dịch phản ứng, bao gồm 0,2 mL albumin trứng gà, 2,8 mL phosphate-buffered saline (PBS, pH 6,4), và 2 mL dung dịch cao chiết/ibuprofen đã được chuẩn bị trong nước cất hai lần. Nghiệm thức chứng âm (control) sử dụng 2 mL nước cất hai lần thay cho dịch cao chiết/ibuprofen. Hỗn hợp phản ứng được trộn đều bằng cách lắc nhẹ ống nghiệm, sau đó ủ 37±2 ℃ trong 15 phút trước khi chuyển vào bể ổn nhiệt, ủ ở 70℃ trong 5 phút. Hỗn hợp sau đó được để nguội đến nhiệt độ phòng trong 15 phút trước khi xác định giá trị độ hấp thu (abs) ở bước sóng 660 nm sử dụng máy quang phổ UV-VIS (V- 630, Jasco, Nhật Bản). Phép tính dựa trên tỷ lệ ức chế biến tính dùng để mô tả mức độ bảo vệ của các cao chiết đối với albumin được xác định theo công thức:

%Ứ 𝑐 𝑐ℎế = [(𝐴0 – 𝐴1)/𝐴0] × 100% trong đó, 𝐴0 là độ hấp thụ của mẫu đối chứng (mẫu chỉ chứa nước cất), 𝐴1 là độ hấp thụ của mẫu thí nghiệm bao gồm cao chiết và đối chứng dương (ibubrofen). P.1.5. Xác định khả năng ức chế hoạt động các enzyme tiêu hóa tinh bột

Khả năng ức chế hoạt động của các enzyme tiêu hóa tinh bột, α-amylase và α-glucosidase được xác định bằng các phương pháp được tiến hành bởi Kwon et al. (2016) với một số điều chỉnh nhỏ được mô tả bởi Nguyen et al. (2016).

Khả năng ức chế α-amylase: Hút 200 μL của dung dịch được chuẩn bị từ dịch cao chiết với nồng độ khác nhau và 300 μL dung dịch α-amylase (2 μg/mL), ủ ở nhiệt độ 37°C trong 10 phút. Bổ sung 400 μL dung dịch tinh bột 1% trong đệm phosphate. Tiếp tục ủ ở 37°C trong 20 phút. Phản ứng kết thúc bằng cách bổ sung 2 mL 3,5-dinitrosalicylic acid. Sau đó, dung dịch phản ứng ủ thêm 10 phút trong nước sôi và làm nguội đến nhiệt độ phòng. Kết quả được so sánh với mẫu đối chứng chỉ chứa 500 μL dung dịch đệm, 400 μL dung dịch tinh bột và 2 mL 3,5-dinitrosalicylic acid (đối chứng âm). Độ hấp thụ của dịch sau phản ứng được xác định ở bước sóng 540 nm sử dụng máy quang phổ UV-VIS (V-630, Jasco, Nhật Bản). Khả năng ức chế α-glucosidase: Hút 50 μL của dung dịch được chuẩn bị từ dịch cao chiết hòa tan trong đệm phosphate 0,1 M (pH 6,9) với nồng độ khác nhau có chứa 50 μL dung dịch α-glucosidase 2 µg/mL, ủ ở nhiệt độ 37°C trong 20 phút. Bổ sung 50 μL dung dịch p–nitrophenyl-α-D-Glucopyranoside 2,5 mM trong đệm phosphate 0,1M (pH 6,9). Tiếp tục ủ ở 37°C trong 30 phút. Sau đó, tiến hành đo độ hấp thụ của dịch phản ứng ở bước sóng 405 nm bằng máy ELISA (BIO-RAD iMARK microplate reader). Kết quả được so sánh với mẫu đối chứng âm chỉ chứa 150 μL dung môi để hòa tan cao chiết.

Khả năng ức chế hoạt động của α-amylase và α-glucosidase được tính theo công thức:

% Ứ 𝑐 𝑐ℎế = [(𝐴0 – 𝐴1)/𝐴0] × 100% trong đó, 𝐴0 là độ hấp thụ của mẫu đối chứng (mẫu chỉ chứa dung môi hòa tan cao chiết) ở thời điểm ban đầu, 𝐴1 là độ hấp thụ của mẫu thí nghiệm. Hoạt tính ức chế enzyme được mô tả thông qua giá trị IC50 (Half-maximal Inhibitory Concentration). IC50 là nồng độ dịch cao chiết có khả năng ức chế 50% hoạt tính của enzyme. P.1.6. Xác định giá trị nồng độ ức chế tối thiểu (Minimum Inhibitory Concentration - MIC) đối với vi khuẩn gây bệnh (phương pháp resazurin-based turbidometric (TB))

Nồng độ ức chế tối thiểu đối với E. coli và S. aureus được xác định dựa trên phương pháp resazurin- based turbidometric (TB) được mô tả bởi Teh et al. (2017). Cụ thể, đĩa 96-well đáy tròn được sử dụng, các cao chiết được đánh giá hoạt tính trên mỗi chủng vi khuẩn được bố trí riêng. Cách bố trí này bao gồm một hàng dọc dùng để đánh giá độ vô trùng của môi trường nuôi cấy (đối chứng âm), một hàng dọc để kiểm tra độ vô trùng của các dịch cao chiết, một hàng dọc để kiểm tra hoạt tính của kháng sinh (đối chứng dương), và cuối cùng là một hàng dọc cho mẫu thử nghiệm (các cao chiết). Thêm 100 µL canh trường nuôi cấy vi khuẩn, Mueller-Hinton (MHB), vào các giếng theo chiều dọc. Giếng đầu tiên trong mỗi hàng dọc được bổ sung 100 µL nước cất vô trùng. Các giếng tiếp theo chứa dung dịch cao chiết ở nồng độ 256 mg/mL, nước cất vô trùng, chloramphenicol (đối với S. aureus) hoặc gentamicin (đối với E. coli) ở nồng độ 100 mg/ml và dung dịch cao chiết ở nồng độ 256 mg/ml tương ứng cho các mẫu kiểm soát độ vô trùng của môi trường nuôi cấy, các mẫu kiểm soát độ vô trùng của cao chiết, đối chứng âm (nước cất), đối chứng dương (kháng sinh), và các mẫu thử nghiệm của cao chiết.

Các giếng ban đầu được trộn đều trước khi chuyển 100 µL từ hỗn hợp này sang giếng thứ hai (2-2), trộn đều. Tiếp theo, 100 µL từ giếng thứ hai được cẩn thận chuyển qua giếng thứ ba (2-3), trộn đều. Quá trình pha loãng nối tiếp đến giếng thứ tám (2-8). Cuối cùng, 100 µL được loại bỏ khỏi giếng thứ tám. Sau đó, 5 µL huyền phù vi khuẩn pha loãng ở mật độ 1,5 x 106 tế bào/mL được đưa vào từng giếng, trừ cột kiểm soát độ vô trùng của môi trường nuôi cấy và cột kiểm soát độ vô trùng của các cao chiết. Các hỗn dịch được trộn đều. Quá trình lặp lại 3 lần cho từng cao chiết đối với từng loài vi khuẩn. Sau khi ủ 24 giờ ở 37 °C, 5 µL dung dịch resazurin (6,75 mg/ml) được cho vào các giếng, trộn đều và tiếp tục ủ thêm 4 giờ ở 37 °C. Sự thay đổi màu sắc của các giếng được quan sát và ghi nhận cẩn thận. Nồng độ thấp nhất của các cao chiết ở giếng liền trước giếng đổi màu được xác định là nồng độ ức chế tối thiểu (Minimum Inhibitory Concentration, MIC).

P-2

TPC

1676 <0.0001 **** Yes 0.9984

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes Yes

0.05 Mean Diff. -93.22 -421.7 -372.5 -328.5 -279.3 49.23

95.00% CI of diff. -109.7 to -76.74 -438.2 to -405.2 -388.9 to -356.0 -345.0 to -312.0 -295.7 to -262.8 32.75 to 65.71

Summary **** **** **** **** **** ***

Individual P Value <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0001

A B C D

TFC

217.6 <0.0001 **** Yes 0.9879

95.00% CI of diff. -235.8 to -139.1 -518.7 to -422.0 -472.6 to -375.8 -331.3 to -234.5 -285.1 to -188.4 -2.234 to 94.51

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes No

Mean Diff. -187.4 -470.4 -424.2 -282.9 -236.8 46.14

Summary **** **** **** **** **** ns

Individual P Value <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0590

A B C C

Phụ lục 2. Dữ liệu nội dung nghiên cứu số 1 P.2.1. Hàm lượng polyphenol tổng số của các cao chiết Table Analyzed ANOVA summary F P value P value summary Significant diff. among means (P < 0.05)? R squared Alpha Fisher's LSD BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF Compact letter display EAF BF CE WF P.2.2. Hàm lượng flavonoid tổng số của các cao chiết Table Analyzed ANOVA summary F P value P value summary Significant diff. among means (P < 0.05)? R squared Fisher's LSD BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF Compact letter display EAF BF CE WF P.2.3. Khả năng dập tắt gốc tự do DPPH của các cao chiết Table Analyzed DPPH ANOVA summary F P value P value summary Significant diff. among means (P < 0.05)? R squared

58.43 <0.0001 **** Yes 0.9564

Mean Diff. 0.3733 0.4567 0.2400 0.08333 -0.1333 -0.2167

95.00% CI of diff. 0.2883 to 0.4584 0.3716 to 0.5417 0.1549 to 0.3251 -0.001743 to 0.1684 -0.2184 to -0.04826 -0.3017 to -0.1316

Below threshold? Yes Yes Yes No Yes Yes

Summary **** **** *** ns ** ***

Individual P Value <0.0001 <0.0001 0.0002 0.0538 0.0068 0.0004

Fisher's LSD EAF vs. BF EAF vs. WF EAF vs. CE BF vs. WF BF vs. CE WF vs. CE Compact letter display EAF CE BF WF

A B C C

P-3

211.1 <0.0001 **** Yes 0.9875

Mean Diff. 1.760 1.567 1.863 -0.1933 0.1033 0.2967

Below threshold? Yes Yes Yes No No Yes

95.00% CI of diff. 1.564 to 1.956 1.371 to 1.763 1.667 to 2.059 -0.3895 to 0.002790 -0.09279 to 0.2995 0.1005 to 0.4928

Summary **** **** **** ns ns **

Individual P Value <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0526 0.2590 0.0082

A B B C C

Matching: Stacked Yes 0.05

SS

DF

MS

F (DFn, DFd)

P value

F (18, 42) = 2340 F (3, 42) = 7927 F (6, 14) = 24784 F (14, 42) = 2.184

P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.0258

108.7 368.0 2513 0.1014 0.04642

18 3 6 14 42

1956 1104 15078 1.420 1.950 Mean Diff.

95.00% CI of diff. Below threshold?

Summary Individual P Value

P.2.4. Khả năng dập tắt gốc tự do ABTS của các cao chiết Table Analyzed ABTS ANOVA summary F P value P value summary Significant diff. among means (P < 0.05)? R squared Fisher's LSD EAF vs. BF EAF vs. WF EAF vs. CE BF vs. WF BF vs. CE WF vs. CE Compact letter display EAF WF BF CE P.2.5. Khả năng kháng viêm in vitro của các cao chiết phân đoạn Two-way RM ANOVA Assume sphericity? Alpha ANOVA table Row Factor x Column Factor Row Factor Column Factor Subject Residual Fisher's LSD EAF 0.003125 vs. 0.0015625 0.00625 vs. 0.0015625 0.0125 vs. 0.0015625 0.025 vs. 0.0015625 0.05 vs. 0.0015625 0.1 vs. 0.0015625 0.00625 vs. 0.003125 0.0125 vs. 0.003125 0.025 vs. 0.003125 0.05 vs. 0.003125 0.1 vs. 0.003125 0.0125 vs. 0.00625 0.025 vs. 0.00625 0.05 vs. 0.00625 0.1 vs. 0.00625 0.025 vs. 0.0125 0.05 vs. 0.0125 0.1 vs. 0.0125 0.05 vs. 0.025 0.1 vs. 0.025 0.1 vs. 0.05 BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF

9.745 to 10.55 13.99 to 14.79 40.43 to 41.23 45.41 to 46.21 50.64 to 51.44 35.77 to 36.57 3.839 to 4.641 30.29 to 31.09 35.26 to 36.06 40.49 to 41.29 25.62 to 26.42 26.05 to 26.85 31.02 to 31.82 36.25 to 37.05 21.38 to 22.18 4.575 to 5.378 9.802 to 10.60 -5.068 to -4.265 4.825 to 5.628 -10.04 to -9.242 -15.27 to -14.47 -5.142 to -4.432 -18.40 to -17.68 -20.17 to -19.46 -13.61 to -12.90 -15.39 to -14.67 -2.132 to -1.422

10.15 14.39 40.83 45.81 51.04 36.17 4.240 30.69 35.66 40.89 26.02 26.45 31.42 36.65 21.78 4.977 10.20 -4.667 5.227 -9.643 -14.87 -4.787 -18.04 -19.82 -13.25 -15.03 -1.777

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

P-4

alpha-amylase-inhibition

7355 <0.0001 **** Yes 0.9997

Mean Diff. -6.443 -7.803 -8.127 -6.409 -1.360 -1.683 0.03467 -0.3233 1.395 1.718

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes Yes No Yes Yes Yes

95.00% CI of diff. -6.565 to -6.322 -7.925 to -7.682 -8.248 to -8.005 -6.530 to -6.287 -1.482 to -1.238 -1.805 to -1.562 -0.08698 to 0.1563 -0.4450 to -0.2017 1.273 to 1.516 1.596 to 1.840

Summary **** **** **** **** **** **** ns *** **** ****

Individual P Value <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.5397 0.0001 <0.0001 <0.0001

A B B C D

alpha-glucosidase-inhibition

282.5 <0.0001 **** Yes 0.9906

95.00% CI of diff. Below threshold? Yes Yes No Yes Yes Yes

-0.08158 to -0.02509 0.2351 to 0.2916 -0.04824 to 0.008243 0.2884 to 0.3449 0.005091 to 0.06158 -0.3116 to -0.2551

Mean Diff. -0.05333 0.2633 -0.02000 0.3167 0.03333 -0.2833

Summary Individual P Value 0.0024 <0.0001 0.1411 <0.0001 0.0262 <0.0001

** **** ns **** * ****

A B B C

P.2.6. Khả năng ức chế α-amylase của các cao chiết phân đoạn Table Analyzed ANOVA summary F P value P value summary Significant diff. among means (P < 0.05)? R squared Fisher's LSD BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF Acarbose vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF Acarbose vs. BF CE vs. WF Acarbose vs. WF Acarbose vs. CE Compact letter display EAF Acarbose BF WF CE P.2.7. Khả năng ức chế α-glucosidase của các cao chiết phân đoạn Table Analyzed ANOVA summary F P value P value summary Significant diff. among means (P < 0.05)? R squared Fisher's LSD BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF Compact letter display WF EAF CE BF P.2.8. Khả năng ức chế Escherichia coli của cao chiết

F (DFn, DFd) F (21, 56) = 9.613 F (7, 56) = 1831 F (3, 8) = 161.9 F (8, 56) = 1.582

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.1511

Table Analyzed Two-way RM ANOVA Assume sphericity? Alpha ANOVA table Time x Column Factor Time Column Factor Subject Residual

Zone-of- inhibition_E.coli Matching: Stacked Yes 0.05 DF 21 7 3 8 56

SS 53.17 3376 202.4 3.333 14.75

MS 2.532 482.3 67.47 0.4167 0.2634

Mean Diff. 95.00% CI of diff.

Below threshold?

Summary Individual P Value

Fisher's LSD EAF 1 mg/mL vs. 2 mg/mL 1 mg/mL vs. 12.5 mg/mL 1 mg/mL vs. 25 mg/mL 1 mg/mL vs. 50 mg/mL 1 mg/mL vs. 75 mg/mL 1 mg/mL vs. 100 mg/mL

-1.667 -6.667 -8.167 -10.67 -11.67 -12.67

-2.506 to -0.8272 -7.506 to -5.827 -9.006 to -7.327 -11.51 to -9.827 -12.51 to -10.83 -13.51 to -11.83

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

*** **** **** **** **** ****

0.0002 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

P-5

1 mg/mL vs. Tetracyline 0.1 mM 2 mg/mL vs. 12.5 mg/mL 2 mg/mL vs. 25 mg/mL 2 mg/mL vs. 50 mg/mL 2 mg/mL vs. 75 mg/mL 2 mg/mL vs. 100 mg/mL 2 mg/mL vs. Tetracyline 0.1 mM 12.5 mg/mL vs. 25 mg/mL 12.5 mg/mL vs. 50 mg/mL 12.5 mg/mL vs. 75 mg/mL 12.5 mg/mL vs. 100 mg/mL 12.5 mg/mL vs. Tetracyline 0.1 mM 25 mg/mL vs. 50 mg/mL 25 mg/mL vs. 75 mg/mL 25 mg/mL vs. 100 mg/mL 25 mg/mL vs. Tetracyline 0.1 mM 50 mg/mL vs. 75 mg/mL 50 mg/mL vs. 100 mg/mL 50 mg/mL vs. Tetracyline 0.1 mM 75 mg/mL vs. 100 mg/mL 75 mg/mL vs. Tetracyline 0.1 mM 100 mg/mL vs. Tetracyline 0.1 mM

-18.67 -5.000 -6.500 -9.000 -10.00 -11.00 -17.00 -1.500 -4.000 -5.000 -6.000 -12.00 -2.500 -3.500 -4.500 -10.50 -1.000 -2.000 -8.000 -1.000 -7.000 -6.000

-19.51 to -17.83 -5.839 to -4.161 -7.339 to -5.661 -9.839 to -8.161 -10.84 to -9.161 -11.84 to -10.16 -17.84 to -16.16 -2.339 to -0.6606 -4.839 to -3.161 -5.839 to -4.161 -6.839 to -5.161 -12.84 to -11.16 -3.339 to -1.661 -4.339 to -2.661 -5.339 to -3.661 -11.34 to -9.661 -1.839 to -0.1606 -2.839 to -1.161 -8.839 to -7.161 -1.839 to -0.1606 -7.839 to -6.161 -6.839 to -5.161

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** **** **** **** **** *** **** **** **** **** **** **** **** **** * **** **** * **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0007 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0204 <0.0001 <0.0001 0.0204 <0.0001 <0.0001

Hình P2.1. Thực nghiệm xác định giá trị MIC đối với E. coli và S. aureus của các cao chiết Trâm vỏ đỏ

F (DFn, DFd) F (21, 56) = 13.23 F (7, 56) = 2329 F (3, 8) = 220.1 F (8, 56) = 1.421

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.2081

P.2.9. Khả năng ức chế Staphyloccocus aureus của cao chiết Table Analyzed Two-way RM ANOVA Assume sphericity? Alpha ANOVA table Time x Column Factor Time Column Factor Subject Residual

Zone-of-inhibition_S.aureus Matching: Stacked Yes 0.05 DF 21 7 3 8 56

MS 3.927 691.6 92.86 0.4219 0.2969

SS 82.46 4841 278.6 3.375 16.63

Mean Diff.

95.00% CI of diff.

Below threshold?

Summary

Individual P Value

Fisher's LSD EAF 2 mg/mL vs. 1 mg/mL 12.5 mg/mL vs. 1 mg/mL 25 mg/mL vs. 1 mg/mL

2.000 8.667 9.667

1.109 to 2.891 7.775 to 9.558 8.775 to 10.56

Yes Yes Yes

**** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001

P-6

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes

10.28 to 12.06 11.78 to 13.56 13.78 to 15.56 22.11 to 23.89 5.775 to 7.558 6.775 to 8.558 8.275 to 10.06 9.775 to 11.56 11.78 to 13.56 20.11 to 21.89 0.1088 to 1.891 1.609 to 3.391 3.109 to 4.891 5.109 to 6.891 13.44 to 15.22 0.6088 to 2.391 2.109 to 3.891 4.109 to 5.891 12.44 to 14.22 0.6088 to 2.391 2.609 to 4.391 10.94 to 12.72 1.109 to 2.891 9.442 to 11.22 7.442 to 9.225

**** **** **** **** **** **** **** **** **** **** * **** **** **** **** ** **** **** **** ** **** **** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0285 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0014 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0014 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

F (DFn, DFd) F (49, 112) = 12.18 F (7, 16) = 200.1 F (7, 112) = 371.3 F (16, 112) = 1.681

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.0604

50 mg/mL vs. 1 mg/mL 11.17 75 mg/mL vs. 1 mg/mL 12.67 100 mg/mL vs. 1 mg/mL 14.67 Tetracyline 0.1 mM vs. 1 mg/mL 23.00 12.5 mg/mL vs. 2 mg/mL 6.667 25 mg/mL vs. 2 mg/mL 7.667 50 mg/mL vs. 2 mg/mL 9.167 75 mg/mL vs. 2 mg/mL 10.67 100 mg/mL vs. 2 mg/mL 12.67 Tetracyline 0.1 mM vs. 2 mg/mL 21.00 25 mg/mL vs. 12.5 mg/mL 1.000 50 mg/mL vs. 12.5 mg/mL 2.500 75 mg/mL vs. 12.5 mg/mL 4.000 100 mg/mL vs. 12.5 mg/mL 6.000 Tetracyline 0.1 mM vs. 12.5 mg/mL 14.33 50 mg/mL vs. 25 mg/mL 1.500 75 mg/mL vs. 25 mg/mL 3.000 100 mg/mL vs. 25 mg/mL 5.000 Tetracyline 0.1 mM vs. 25 mg/mL 13.33 75 mg/mL vs. 50 mg/mL 1.500 100 mg/mL vs. 50 mg/mL 3.500 Tetracyline 0.1 mM vs. 50 mg/mL 11.83 100 mg/mL vs. 75 mg/mL 2.000 Tetracyline 0.1 mM vs. 75 mg/mL 10.33 Tetracyline 0.1 mM vs. 100 mg/mL 8.333 P.2.10. Khả năng kích thích sinh trưởng của lợi khuẩn Lactobacillus casei Table Analyzed Two-way RM ANOVA Assume sphericity? Alpha ANOVA table Row Factor x Concentration Row Factor Concentration Subject Residual

L.casei-promotion_SZL Matching: Across row Yes 0.05 DF 49 7 7 16 112

SS 3781 14914 16461 170.4 709.4

MS 77.15 2131 2352 10.65 6.334

Below

Mean Diff.

95.00% CI of diff.

threshold? Summary

Individual P Value

Fisher's LSD EAF_Non-glucose 0.25 mg/mL vs. 0.5 mg/mL 0.25 mg/mL vs. 0.75 mg/mL 0.25 mg/mL vs. 1 mg/mL 0.25 mg/mL vs. 1.25 mg/mL 0.25 mg/mL vs. 1.5 mg/mL 0.25 mg/mL vs. 1.75 mg/mL 0.25 mg/mL vs. 2 mg/mL 0.5 mg/mL vs. 0.75 mg/mL 0.5 mg/mL vs. 1 mg/mL 0.5 mg/mL vs. 1.25 mg/mL 0.5 mg/mL vs. 1.5 mg/mL 0.5 mg/mL vs. 1.75 mg/mL 0.5 mg/mL vs. 2 mg/mL 0.75 mg/mL vs. 1 mg/mL 0.75 mg/mL vs. 1.25 mg/mL 0.75 mg/mL vs. 1.5 mg/mL 0.75 mg/mL vs. 1.75 mg/mL 0.75 mg/mL vs. 2 mg/mL 1 mg/mL vs. 1.25 mg/mL 1 mg/mL vs. 1.5 mg/mL 1 mg/mL vs. 1.75 mg/mL 1 mg/mL vs. 2 mg/mL 1.25 mg/mL vs. 1.5 mg/mL 1.25 mg/mL vs. 1.75 mg/mL 1.25 mg/mL vs. 2 mg/mL 1.5 mg/mL vs. 1.75 mg/mL 1.5 mg/mL vs. 2 mg/mL

-4.490 -8.280 -13.47 -20.96 -29.44 -40.55 -39.17 -3.790 -8.980 -16.47 -24.95 -36.06 -34.68 -5.190 -12.68 -21.16 -32.27 -30.89 -7.487 -15.97 -27.08 -25.70 -8.483 -19.59 -18.22 -11.11 -9.733

-8.561 to -0.4185 -12.35 to -4.209 -17.54 to -9.399 -25.03 to -16.89 -33.51 to -25.37 -44.62 to -36.48 -43.24 to -35.10 -7.861 to 0.2815 -13.05 to -4.909 -20.54 to -12.40 -29.02 to -20.88 -40.13 to -31.99 -38.75 to -30.61 -9.261 to -1.119 -16.75 to -8.605 -25.23 to -17.09 -36.34 to -28.20 -34.96 to -26.82 -11.56 to -3.415 -20.04 to -11.90 -31.15 to -23.01 -29.77 to -21.63 -12.55 to -4.412 -23.66 to -15.52 -22.29 to -14.15 -15.18 to -7.035 -13.80 to -5.662

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes

* *** **** **** **** **** **** ns **** **** **** **** **** * **** **** **** **** *** **** **** **** **** **** **** **** ****

0.0310 0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0678 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0129 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0004 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

P-7

1.373

-2.698 to 5.445

No

ns

0.5053

1.75 mg/mL vs. 2 mg/mL EAF_Glucose 0.25 mg/mL vs. 0.5 mg/mL 0.25 mg/mL vs. 0.75 mg/mL 0.25 mg/mL vs. 1 mg/mL 0.25 mg/mL vs. 1.25 mg/mL 0.25 mg/mL vs. 1.5 mg/mL 0.25 mg/mL vs. 1.75 mg/mL 0.25 mg/mL vs. 2 mg/mL 0.5 mg/mL vs. 0.75 mg/mL 0.5 mg/mL vs. 1 mg/mL 0.5 mg/mL vs. 1.25 mg/mL 0.5 mg/mL vs. 1.5 mg/mL 0.5 mg/mL vs. 1.75 mg/mL 0.5 mg/mL vs. 2 mg/mL 0.75 mg/mL vs. 1 mg/mL 0.75 mg/mL vs. 1.25 mg/mL 0.75 mg/mL vs. 1.5 mg/mL 0.75 mg/mL vs. 1.75 mg/mL 0.75 mg/mL vs. 2 mg/mL 1 mg/mL vs. 1.25 mg/mL 1 mg/mL vs. 1.5 mg/mL 1 mg/mL vs. 1.75 mg/mL 1 mg/mL vs. 2 mg/mL 1.25 mg/mL vs. 1.5 mg/mL 1.25 mg/mL vs. 1.75 mg/mL 1.25 mg/mL vs. 2 mg/mL 1.5 mg/mL vs. 1.75 mg/mL 1.5 mg/mL vs. 2 mg/mL 1.75 mg/mL vs. 2 mg/mL

-7.667 -8.003 -18.92 -19.47 -20.80 -47.95 -39.93 -0.3367 -11.25 -11.80 -13.13 -40.28 -32.26 -10.91 -11.47 -12.80 -39.95 -31.92 -0.5533 -1.883 -29.03 -21.01 -1.330 -28.48 -20.46 -27.15 -19.13 8.023

-11.74 to -3.595 -12.07 to -3.932 -22.99 to -14.85 -23.54 to -15.40 -24.87 to -16.73 -52.02 to -43.88 -44.00 to -35.86 -4.408 to 3.735 -15.32 to -7.179 -15.87 to -7.732 -17.20 to -9.062 -44.35 to -36.21 -36.33 to -28.19 -14.98 to -6.842 -15.54 to -7.395 -16.87 to -8.725 -44.02 to -35.88 -35.99 to -27.85 -4.625 to 3.518 -5.955 to 2.188 -33.10 to -24.96 -25.08 to -16.94 -5.401 to 2.741 -32.55 to -24.41 -24.53 to -16.39 -31.22 to -23.08 -23.20 to -15.06 3.952 to 12.09

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No No Yes Yes No Yes Yes Yes Yes Yes

*** *** **** **** **** **** **** ns **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** ns ns **** **** ns **** **** **** **** ***

0.0003 0.0002 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.8702 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.7882 0.3614 <0.0001 <0.0001 0.5188 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0002

P-8

P.2.11. Độc tính của các cao chiết Trâm vỏ đỏ trên mô hình cá ngựa vằn

Bảng P2.1. Tính an toàn đường ngâm của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ trên ấu trùng cá ngựa vằn

EAF 29,69

BF 19,69

WF 18,13

CE 18,75

Chỉ tiêu LD50 (mg/L)

Nồng độ an toàn (mg/L)

10

10

10

10

Ghi chú: Quy trình đánh giá theo OECD 203 trên ấu trùng cá ngựa vằn (5 ngày tuổi), t = 120 (giờ), n = 10 (cá thể).

Bảng P2.2. Tính an toàn đường uống của các loại cao chiết từ vỏ thân Trâm vỏ đỏ trên cá ngựa vằn trưởng thành

Số cá chết/số cá sống

Ngày theo dõi

Nồng độ 2.000 mg/kg thể trọng cá

Nồng độ 5.000 mg/kg thể trọng cá CE

WF

BF

EAF

EAF

BF

WF

CE

Ngày 1

3/3

3/3

3/3

3/3

0/7

0/7

0/7

0/7

Ngày 2

-

-

-

-

0/7

0/7

0/7

0/7

Ngày 3

-

-

-

-

0/7

0/7

0/7

0/7

Ngày 4

-

-

-

-

0/7

0/7

0/7

0/7

Ngày 5

-

-

-

-

0/7

0/7

0/7

0/7

Ngày 6

-

-

-

-

0/7

0/7

0/7

0/7

Ngày 7

-

-

-

-

0/7

0/7

0/7

0/7

Tổng cá chết

3

3

3

3

0

0

0

0

<5.000 <5.000

<5.000

<5.000

>2.000

>2.000

>2.000

>2.000

Nồng độ an toàn (mg/kg)

2.000 mg/kg < LD50 < 5.000 mg/kg

LD50 (mg/kg) Ghi chú: Quy trình đánh giá theo OECD 432 trên cá ngựa vằn trưởng thành (3,5 đến 4 tháng tuổi), t = 7 (ngày), n = 7 (cá thể).

Bảng P2.3. Tính an toàn đường ngâm của các loại cao chiết từ vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ trên cá ngựa vằn trưởng thành

Số cá chết/số cá sống

Ngày theo dõi

Nồng độ 10 mg/L

EAF

BF

WF

CE

EAF

Nồng độ 20 mg/L BF

WF

CE

Ngày 1

0/7

0/7

0/7

0/7

0/7

1/7

1/7

1/7

Ngày 2

0/7

0/7

0/7

0/7

0/7

0/6

0/6

0/6

Ngày 3

0/7

0/7

0/7

0/7

0/7

0/6

0/6

0/6

Ngày 4

0/7

0/7

0/7

0/7

0/7

0/6

0/6

0/6

Ngày 5

0/7

0/7

0/7

0/7

0/7

0/6

0/6

0/6

Ngày 6

0/7

0/7

0/7

0/7

0/7

0/6

0/6

0/6

Ngày 7

0/7

0/7

0/7

0/7

0/7

0/6

0/6

0/6

0

1

1

0

1

0

0

Tổng cá chết 0 Ghi chú: Quy trình đánh giá theo OECD 203 trên cá ngựa vằn trưởng thành (3,5 đến 4 tháng tuổi), t = 7 (ngày), n = 7 (cá thể).

P-9

P.2.12. Khả năng làm chậm gia tăng đường huyết sau ăn của các cao chiết CE BF

EAF

WF

Time (Minutes)

Mean

SEM N Mean

SEM N Mean

SEM N Mean

SEM N

0

83.00

2.81

5

86.20

4.14

5

86.20

4.14

5

83.00

2.81

5

30

141.60

5.24

5

156.80

8.91

5

185.00

13.75

5

143.60

9.54

5

60

225.80

9.31

5

249.20

3.71

5

252.00

9.32

5

248.00

7.93

5

120

133.80

9.38

5

130.60

5.92

5

133.80

7.07

5

159.60

12.04

5

180

120.00

5.54

5

119.60

5.64

5

110.80

5.42

5

114.40

5.07

5

Aca

MD

Time (Minutes)

Mean

SEM N Mean

SEM N

0

82.60

1.89

5

85.40

2.86

5

30

149.80

7.94

5

210.80

5.30

5

60

223.80

9.88

5

356.40

13.63

5

120

138.00

3.78

5

199.60

4.92

5

180

114.60

8.75

5

9.65

137.20

F (DFn, DFd) F (20, 96) = 7.433 F (4, 96) = 451.4 F (5, 24) = 40.04 F (24, 96) = 0.9973

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.4775

DF 20 4 5 24 96

5 Posprandial Blood Glucose Level Matching: Stacked Yes 0.05 SS 42558 516951 57153 6852 27483

Summary

Mean Diff.

95.00% CI of diff.

MS 2128 129238 11431 285.5 286.3 Below threshold?

Individual P Value

2.219 to 44.58 5.019 to 47.38 1.019 to 43.38 109.4 to 151.8 -46.58 to -4.219 86.02 to 128.4 -49.38 to -7.019 83.22 to 125.6 -45.38 to -3.019 87.22 to 129.6 111.4 to 153.8

23.40 26.20 22.20 130.6 -25.40 107.2 -28.20 104.4 -24.20 108.4 132.6

* * * **** * **** ** **** * **** ****

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes

0.0307 0.0158 0.0401 <0.0001 0.0192 <0.0001 0.0095 <0.0001 0.0255 <0.0001 <0.0001

58.60 142.8 50.80 37.00 84.20 -21.60 -92.00 -105.8 -13.80

**** **** **** *** **** * **** **** ns

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No

<0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0008 <0.0001 0.0463 <0.0001 <0.0001 0.2003

Table Analyzed Two-way RM ANOVA Assume sphericity? Alpha ANOVA table Time x Group Time Group Subject Residual Fisher's LSD 60 BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF MD vs. EAF Aca vs. BF MD vs. BF Aca vs. WF MD vs. WF Aca vs. CE MD vs. CE MD vs. Aca EAF 37.36 to 79.84 30 vs. 0 121.6 to 164.0 60 vs. 0 29.56 to 72.04 120 vs. 0 15.76 to 58.24 180 vs. 0 62.96 to 105.4 60 vs. 30 -42.84 to -0.3587 180 vs. 30 -113.2 to -70.76 120 vs. 60 -127.0 to -84.56 180 vs. 60 180 vs. 120 -35.04 to 7.441 P.2.13. Hiệu quả hạ đường huyết trên mô hình cá ngựa vằn đái tháo đường

NOR

DIA

MET

Time (Days)

Mean

SEM N Mean

SEM N Mean

SEM N

0

65.80

3.40

5

113.20

6.72

5

113.20

6.72

5

5

66.60

3.59

5

112.80

7.07

5

63.60

3.52

5

10

62.20

4.42

5

102.60

6.23

5

62.40

3.60

5

15

60.40

2.42

5

99.20

1.69

5

57.20

1.66

5

20

53.40

3.47

5

99.20

4.73

5

58.40

2.86

5

EAF

BF

WF

CE

Time (Days)

Mean

SEM N Mean

SEM N Mean

SEM

N

SEM N Mean P-10

0

113.20

6.72

5

113.20

6.72

5

113.20

6.72

5

113.20

6.72

5

5

60.20

2.63

5

107.40

5.30

5

76.60

4.06

5

88.00

5.43

5

10

52.20

4.10

5

99.80

3.62

5

71.80

3.99

5

76.20

4.45

5

15

57.20

1.98

5

72.20

4.63

5

73.60

5.72

5

69.80

4.55

5

2.99

63.40

1.91

5

73.00

3.16

5

62.40

3.75

5

47.60

5 Fasting Blood Glucose Level

F (DFn, DFd) F (24, 112) = 5.745 F (4, 112) = 85.45 F (6, 28) = 54.59 F (28, 112) = 0.9938

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.4844

Matching: Stacked Yes 0.05 SS 14698 36435 34698 2966 11939

DF 24 4 6 28 112

MS 612.4 9109 5783 105.9 106.6 95.00% CI of diff. Below threshold?

Mean Diff.

Summary

Individual P Value

46.20 40.80 21.40 -49.20 -52.60 -36.20 -24.80 43.80 13.00 24.40 47.20 16.40 27.80 -30.80 -19.40

33.30 to 59.10 27.90 to 53.70 8.498 to 34.30 -62.10 to -36.30 -65.50 to -39.70 -49.10 to -23.30 -37.70 to -11.90 30.90 to 56.70 0.09794 to 25.90 11.50 to 37.30 34.30 to 60.10 3.498 to 29.30 14.90 to 40.70 -43.70 to -17.90 -32.30 to -6.498

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** ** **** **** **** *** **** * *** **** * **** **** **

<0.0001 <0.0001 0.0013 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0002 <0.0001 0.0483 0.0003 <0.0001 0.0131 <0.0001 <0.0001 0.0035

-53.00 -61.00 -56.00 -65.60

-65.94 to -40.06 -73.94 to -48.06 -68.94 to -43.06 -78.54 to -52.66

Yes Yes Yes Yes

**** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

-13.40 -41.00 -49.80 -35.20 -44.00 -27.60 -36.40

-26.34 to -0.4617 -53.94 to -28.06 -62.74 to -36.86 -48.14 to -22.26 -56.94 to -31.06 -40.54 to -14.66 -49.34 to -23.46

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes

* **** **** **** **** **** ****

0.0425 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

-36.60 -41.40 -39.60 -40.20

-49.54 to -23.66 -54.34 to -28.46 -52.54 to -26.66 -53.14 to -27.26

Yes Yes Yes Yes

**** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

20 Table Analyzed Two-way RM ANOVA Assume sphericity? Alpha ANOVA table Time x Group Time Group Subject Residual Fisher's LSD 5 DIA vs. NOR BF vs. NOR CE vs. NOR MET vs. DIA EAF vs. DIA WF vs. DIA CE vs. DIA BF vs. MET WF vs. MET CE vs. MET BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF EAF 5 vs. 0 10 vs. 0 15 vs. 0 20 vs. 0 BF 10 vs. 0 15 vs. 0 20 vs. 0 15 vs. 5 20 vs. 5 15 vs. 10 20 vs. 10 WF 5 vs. 0 10 vs. 0 15 vs. 0 20 vs. 0 CE 5 vs. 0 10 vs. 0 15 vs. 0 20 vs. 0 15 vs. 5 20 vs. 5 20 vs. 10

-25.20 -37.00 -43.40 -50.80 -18.20 -25.60 -13.80

-38.14 to -12.26 -49.94 to -24.06 -56.34 to -30.46 -63.74 to -37.86 -31.14 to -5.262 -38.54 to -12.66 -26.74 to -0.8617

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes

*** **** **** **** ** *** *

0.0002 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0062 0.0002 0.0368

P-11

P.2.14. Tác động phục hồi hệ vi sinh đường ruột cá ngựa vằn đái tháo đường

Hình P2.2. Biểu đồ nhiệt mô tả sự phong phú của các nhóm vi sinh vật đường ruột ở cấp Ngành.

Hình P2.3. Biểu đồ nhiệt mô tả sự phong phú của các nhóm vi sinh vật đường ruột ở cấp Chi

Hình P2.4. Bản đồ nhiệt mô tả sự phong phú của các nhóm vi sinh vật đường ruột ở cấp Loài

Ghi chú: NORMA, và DIABE lần lượt là nhóm cá bình thường và cá đái tháo đường. METFO và SZL_EAF lần lượt là nhóm cá đái tháo đường được xử lý với metformin 20 µM và cao chiết phân đoạn ethyl acetate (10 mg/L). Mỗi cột đại diện cho một mẫu duy nhất, mỗi hàng đại diện cho một nhóm vi sinh vật duy nhất. Thang sắc độ cho biết số lượng trung bình của từng nhóm có trong một mẫu, từ cao (đỏ) đến thấp (xanh lam). Sơ đồ cây ở trên hiển thị sự giống nhau của các nhóm mẫu theo mức độ phân bố vi sinh vật. Sơ đồ cây bên trái hiển thị mối quan hệ di truyền của các nhóm vi sinh vật. Ở đầu mỗi cột, các khối hình chữ nhật có nhiều màu sắc biểu thị các nhóm mẫu khác nhau.

P-12

Hình P2.5. Biểu đồ nhiệt mô tả các con đường chuyển hóa sinh học ước tính ở cấp độ 1.

Ghi chú: NORMA, và DIABE lần lượt là nhóm cá bình thường và cá đái tháo đường. METFO và SZL_EAF lần lượt là nhóm cá đái tháo đường được xử lý với metformin 20 µM và cao chiết phân đoạn ethyl acetate (10 mg/L). Các mẫu tương quan với các cột tương ứng với các con đường chuyển hóa sinh học. Mức độ thang màu biểu thị khả năng có các con đường trao đổi chất trong mẫu, từ cao (màu đỏ) đến thấp (màu xanh, màu xanh lá cây). Sơ đồ cây phía trên việc phân nhóm các mẫu dựa trên sự tương đồng về con đường trao đổi chất. Sơ đồ cây ở bên trái mô tả mối liên hệ giữa các con đường chuyển hóa. Ở đầu mỗi cột, các khối hình chữ nhật có nhiều màu sắc biểu thị các nhóm mẫu khác nhau.

P.2.15. Khả năng điều hòa biểu hiện gene liên quan đái tháo đường trên mô hình cá ngựa vằn của cao chiết phân đoạn ethyl acetate

P.2.15.1. Điều hòa biểu hiện gene SREBF1 DIA

NOR

MET

EAF

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean

3 1.020 0.2476 0.1429

3 0.4533 0.08083 0.04667

3 11.79 0.1443 0.08333

3 3.250 0.5671 0.3274

P-13

F (DFn, DFd) F (1.045, 2.090) = 716.7 F (2, 6) = 0.5559

P value P=0.0011 P=0.6005

MS 82.69 0.06413 0.1154

SREBF1 SS 248.1 0.1283 0.6923 248.9

DF 3 2 6 11 95.00% CI of diff. -0.9855 to -0.1478 10.50 to 11.05 0.4289 to 4.031 11.15 to 11.53 1.306 to 4.287 -10.21 to -6.872

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes Yes

Summary * **** * **** * **

Individual P Value 0.0283 <0.0001 0.0335 <0.0001 0.0150 0.0021

Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR EAF vs. NOR MET vs. DIA EAF vs. DIA EAF vs. MET MET EAF NOR DIA

Mean Diff. -0.5667 10.77 2.230 11.34 2.797 -8.543 A B C D

P.2.15.2. Điều hòa biểu hiện gene ACC1

NOR

DIA

MET

EAF

3 1.013 0.2013 0.1162

3 3.393 0.2739 0.1581

3 0.2200 0.04583 0.02646

3 0.1700 0.01732 0.01000

ACC1

F (DFn, DFd) F (1.041, 2.082) = 177.3 F (2, 6) = 0.04670

P value P=0.0048 P=0.9547

MS 6.867 0.001808 0.03872

SS DF 3 2 6 11

20.60 0.003617 0.2323 20.84

Mean Diff. 2.380 -0.7933 -0.8433 -3.173 -3.223 -0.05000

95.00% CI of diff. 1.200 to 3.560 -1.330 to -0.2569 -1.350 to -0.3365 -3.845 to -2.502 -3.898 to -2.549 -0.2051 to 0.1051

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes No

Summary * * * ** ** ns

Individual P Value 0.0130 0.0238 0.0190 0.0024 0.0024 0.2999

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR EAF vs. NOR MET vs. DIA EAF vs. DIA EAF vs. MET Compact letter display DIA NOR MET EAF

A B C C

P.2.15.3. Điều hòa biểu hiện gene FASN

NOR

DIA

MET

EAF

3 1.010 0.1929 0.1114

3 3.273 0.1155 0.06667

3 1.657 0.3204 0.1850

F (DFn, DFd) F (1.503, 3.006) = 129.8 F (2, 6) = 0.9181

P value P=0.0013 P=0.4489

MS 5.103 0.03611 0.03933

3 0.1967 0.03055 0.01764 FASN SS 15.31 0.07222 0.2360 15.62

DF 3 2 6 11

Mean Diff. -0.8133 2.263 0.6467 3.077 1.460 -1.617

95.00% CI of diff. -1.218 to -0.4087 1.500 to 3.027 0.006389 to 1.287 2.717 to 3.436 0.6947 to 2.225 -2.637 to -0.5966

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes Yes

Summary * ** * *** * *

Individual P Value 0.0131 0.0061 0.0491 0.0007 0.0145 0.0208

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR EAF vs. NOR MET vs. DIA EAF vs. DIA EAF vs. MET Compact letter display MET EAF NOR DIA

A B C D

P-14

P.2.15.4. Điều hòa biểu hiện gene INS DIA

NOR

MET

EAF

3 1.023 0.2836 0.1637

3 12.03 0.7108 0.4104

3 17.74 1.647 0.9508

3 0.1500 0.04000 0.02309

F (DFn, DFd) F (1.308, 2.617) = 233.4 F (2, 6) = 0.4812

P value P=0.0012 P=0.6400

MS 221.2 0.4561 0.9478

INSULIN SS 663.6 0.9122 5.687 670.2

DF 3 2 6 11

95.00% CI of diff. 8.599 to 13.41 12.55 to 20.89 -1.668 to -0.07828 0.5616 to 10.87 -13.55 to -10.21 -21.73 to -13.46

Below threshold? Summary ** ** * * ** **

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

Individual P Value 0.0026 0.0033 0.0420 0.0412 0.0011 0.0030

Mean Diff. 11.01 16.72 -0.8733 5.713 -11.88 -17.59

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR EAF vs. NOR MET vs. DIA EAF vs. DIA EAF vs. MET Compact letter display MET DIA NOR EAF

A B C D

P.2.15.5. Điều hòa biểu hiện gene IRSRA1

NOR

DIA

MET

EAF

3 0.9933 0.2335 0.1348

3 1.013 0.1877 0.1084

3 0.3433 0.1595 0.09207

F (DFn, DFd) F (3, 6) = 40.22 F (2, 6) = 1.324

P value P=0.0002 P=0.3340

MS 1.097 0.03610 0.02727

0.8067 -0.02000

3 1.820 0.05196 0.03000 INSRA1 DF SS 3 3.290 2 0.07220 6 0.1636 11 3.526 Mean Diff. 95.00% CI of diff. 0.4768 to 1.137 -0.3499 to 0.3099 -0.6700 -0.9999 to -0.3401 -1.157 to -0.4968 -0.8267 -1.807 to -1.147 -1.477 -0.6500 -0.9799 to -0.3201

Below threshold? Summary *** ns ** *** **** **

Yes No Yes Yes Yes Yes

Individual P Value 0.0010 0.8869 0.0025 0.0009 <0.0001 0.0029

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR EAF vs. NOR MET vs. DIA EAF vs. DIA EAF vs. MET Compact letter display DIA NOR MET EAF

A B B C

P.2.15.6. Điều hòa biểu hiện gene INSRB1

NOR

DIA

MET

EAF

3 1.017 0.2194 0.1267

3 15.91 0.9632 0.5561

3 3.117 0.6879 0.3972

F (DFn, DFd) F (1.421, 2.842) = 512.4 F (2, 6) = 1.727

P value P=0.0002 P=0.2557

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total

3 0.5967 0.07638 0.04410 INSRB1 SS 473.2 1.063 1.847 476.1

MS DF 3 157.7 2 0.5315 6 0.3078 11

Fisher's LSD

Mean Diff.

Below threshold?

Summary

Individual P Value

DIA vs. NOR MET vs. NOR

-0.4200 14.89

95.00% CI of diff. -0.7910 to - 0.04904 12.84 to 16.95

Yes Yes

* **

0.0396 0.0010

P-15

2.100 0.7229 to 3.477 15.31 12.99 to 17.63 2.520 0.9798 to 4.060 -12.79 -15.76 to -9.829

Yes Yes Yes Yes

* ** * **

0.0224 0.0012 0.0196 0.0029

EAF vs. NOR MET vs. DIA EAF vs. DIA EAF vs. MET Compact letter display MET EAF NOR DIA

A B C D

P.2.15.7. Điều hòa biểu hiện gene SGLT1

NOR

DIA

MET

EAF

3 1.000 0.03606 0.02082

3 3.763 0.5852 0.3379

3 0.3167 0.1185 0.06839

F (DFn, DFd) F (3, 6) = 71.48 F (2, 6) = 0.8827

P value P<0.0001 P=0.4613

MS 6.675 0.08243 0.09338

3 1.830 0.06928 0.04000 SGLT1 SS 20.02 0.1649 0.5603 20.75

DF 3 2 6 11

0.8300 2.763

Mean Diff. 95.00% CI of diff. 0.2195 to 1.441 2.153 to 3.374 -0.6833 -1.294 to -0.07281 1.933 1.323 to 2.544 -1.513 -2.124 to -0.9028 -4.057 to -2.836 -3.447

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes Yes

Summary * **** * *** *** ****

Individual P Value 0.0159 <0.0001 0.0338 0.0002 0.0009 <0.0001

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR EAF vs. NOR MET vs. DIA EAF vs. DIA EAF vs. MET Compact letter display MET DIA NOR EAF

A B C D

P.2.15.8. Điều hòa biểu hiện gene GLP1

NOR

DIA

MET

EAF

3 1.007 0.1457 0.08413

3 0.3133 0.05132 0.02963

3 3.847 0.1436 0.08293

3 1.663 0.1343 0.07753

F (DFn, DFd) F (3, 6) = 443.3 F (2, 6) = 0.9529

P value P<0.0001 P=0.4371

MS 7.013 0.01508 0.01582

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total

GLP-1 SS 21.04 0.03015 0.09492 21.16

DF 3 2 6 11

Mean Diff. -0.6933 2.840 0.6567 3.533 1.350 -2.183

95.00% CI of diff. -0.9446 to -0.4420 2.589 to 3.091 0.4054 to 0.9080 3.282 to 3.785 1.099 to 1.601 -2.435 to -1.932

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes Yes

Summary Individual P Value 0.0005 <0.0001 0.0007 <0.0001 <0.0001 <0.0001

*** **** *** **** **** ****

Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR EAF vs. NOR MET vs. DIA EAF vs. DIA EAF vs. MET Compact letter display MET EAF NOR DIA

A B C D

P-16

Phụ lục 3. Dữ liệu nội dung nghiên cứu số 2 Dữ liệu phổ của SBE1 (Ellagic acid)

SBE1-DMSO-1H NMR

Solv

13, 14

Solv

*

19, 20

21, 22

*

*

SBE1-DMSO-13C NMR

Solv

11, 16

4, 9

12, 15

2, 7

5, 10

13, 14 8, 3

SBE1-LC-ESI-MS (negative) spectrum

[M-H]-

P-17

Dữ liệu phổ của SBE2 ((-)-epicatechin)

SBE2-DMSO-1H NMR

SBE2-DMSO-13C NMR

SBE2-DMSO-HMBC

SBE2-DMSO-HSQC

P-18

Dữ liệu phổ của SBE3 (Ethyl gallate)

SBE3-DMSO-1H NMR

2, 6

CH

3

CH2

Water

SBE3-LC-ESI-MS (negative) spectrum

[M-H]-

P-19

Dữ liệu phổ của SBE4 (Quercetin)

SBE4-DMSO-13C

SBE4-DMSO-1H

SBE4-HBMC

SBE4-HSQC

P-20

Dữ liệu phổ của SBE5 (Quercitrin)

SBE5-DMSO-13C NMR

SBE5-DMSO-1H NMR

SBE5-HBMC

SBE5-COSY

P-21

Dữ liệu phổ của SBE6 (Rutin)

SBE6-DMSO-13C NMR

SBE6-DMSO-1H NMR

SBE6-COSY

SBE6-HSQC

SBE6-HBMC

P-22

Dữ liệu phổ của SBE7 (Vitexin )

SBE7-DMSO-1H NMR

SBE7-DMSO-13C NMR

SBE7-DEPT90&DEPT135

P-23

SBE7-COSY

SBE7-HBMC

SBE7-HSQC

Dữ liệu phổ của SBE8 (Gallic acid)

SBE8-DMSO-1H NMR

2, 6

SBE8-LC-ESI-MS (negative) spectrum

[M- H]-

Solv

Water

P-24

Dữ liệu phổ của SEE9 (Chlorogenic acid)

SBE9-DMSO-1H NMR

SBE9-DMSO-13C NMR

SBE9-DMSO-DEPT

P-25

Dữ liệu phổ của SBE10 (Catechin)

SBE10-DMSO-1H NMR

SBE10-DMSO-13C NMR

SBE10-LC-ESI-MS (negative) spectrum

[M-H]-

P-26

Sắc ký đồ UPLC của các mẫu cao chiết từ vỏ thân Trâm vỏ đỏ

Cao chiết thô (CE)

Cao chiết phân đoạn ethyl acetate (EAF)

P-27

Cao chiết phân đoạn n-butanol (BF)

Cao chiết phân đoạn nước (WF)

P-28

F (DFn, DFd) F (30, 88) = 1717965821 F (10, 88) = 4417696174 F (3, 88) = 18268365639

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001

DF 30 10 3 88

MS 289229958 743745925 3075590073 0.1684

Phenolic-compound SS 8676898737 7437459248 9226770218 14.82

Summary Individual P Value

Mean Diff.

95.00% CI of diff. Below threshold?

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

-45179 -46916 -44767 -1736 411.8 2148

-45180 to -45179 -46916 to -46915 -44768 to -44767 -1737 to -1736 411.2 to 412.5 2147 to 2149

**** **** **** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

-53164 -57586 -58961 -4422 -5797 -1375

-53165 to -53163 -57587 to -57585 -58962 to -58960 -4423 to -4421 -5798 to -5796 -1376 to -1374

**** **** **** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

-36097 -37972 -38446 -1874 -2348 -474.1

-36098 to -36097 -37972 to -37971 -38446 to -38445 -1875 to -1874 -2349 to -2348 -474.8 to -473.5

**** **** **** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

-3665 to -3664 -4206 to -4204 -4430 to -4428 -540.7 to -539.4 -765.0 to -763.7 -225.0 to -223.6

-3665 -4205 -4429 -540.1 -764.4 -224.3

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

-1049 to -1047 -3350 to -3348 -2559 to -2558 -2302 to -2300 -1511 to -1510 789.6 to 791.0

-1048 -3349 -2559 -2301 -1511 790.3

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

-587.1 to -585.8 -10848 to -10846 -7071 to -7070 -10261 to -10260 -6485 to -6483 3776 to 3777

-586.5 -10847 -7071 -10260 -6484 3776

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

-20840 to -20838 -22423 to -22422 -17581 to -17579 -1584 to -1583 3258 to 3260 4842 to 4843

-20839 -22422 -17580 -1584 3259 4842

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

-2907 to -2906 -3351 to -3349 -1495 to -1493 -444.2 to -442.8 1412 to 1413 1855 to 1857

-2907 -3350 -1494 -443.5 1413 1856

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

Dữ liệu so sánh hàm lượng các hợp chất polyphenol trong các cao chiết Table Analyzed ANOVA table Interaction Row Factor Column Factor Residual Fisher's LSD GA BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF Cat BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF E-Cat BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF Caf BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF EG BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF RT BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF EA BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF Querce BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF Ap BF vs. EAF

-1346 to -1345

-1346

Yes

****

<0.0001

P-29

-1346 -898.5 0.000 447.1 447.1

-1346 to -1345 -899.2 to -897.9 -0.6658 to 0.6658 446.5 to 447.8 446.5 to 447.8

Yes Yes No Yes Yes

**** **** ns **** ****

<0.0001 <0.0001 >0.9999 <0.0001 <0.0001

-12680 -17347 -13230 -4666 -550.0 4116

-12681 to -12680 -17347 to -17346 -13231 to -13230 -4667 to -4666 -550.7 to -549.3 4116 to 4117

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF ChA BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF Querci BF vs. EAF WF vs. EAF CE vs. EAF WF vs. BF CE vs. BF CE vs. WF

-14392 -22607 -21723 -8215 -7331 883.9

-14393 to -14391 -22608 to -22607 -21724 to -21723 -8216 to -8215 -7332 to -7331 883.3 to 884.6

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

Dữ liệu phân tích tương quan Pearson’s và phân tích thành phần chính (PCA)

> dimdesc(res.pca) $Dim.1 $quanti correlation p.value ChA 0.9963262 5.238081e-12 Querci 0.9825308 1.244314e-08 a_AI 0.9797474 2.593784e-08 Caf 0.9757334 6.362819e-08 Cat 0.9737675 9.362025e-08 E-Cat 0.9706076 1.644483e-07 GA 0.9705181 1.669414e-07 EA 0.9662657 3.251122e-07 TFC 0.9250652 1.639241e-05 ABTS 0.9202556 2.218896e-05 Ap 0.9177896 2.572939e-05 EG 0.9080183 4.435978e-05 DPPH 0.9023898 5.911953e-05 Querce 0.8684730 2.475520e-04 TPC 0.8543950 4.015326e-04 RT 0.7780888 2.879961e-03 $quali R2 p.value Treatment 0.9994586 2.113449e-13

$category Estimate p.value Treatment=EAF 6.263191 5.765108e-07

attr(,"class") [1] "condes" "list"

$Dim.2 $quanti correlation p.value a_GI 0.7435118 0.005576066 RT -0.6230424 0.030446061

$quali R2 p.value Treatment 0.9992969 6.010695e-13

P-30

F (DFn, DFd) F (4, 18) = 8.121

P value P=0.0006

MS 2.993 0.3686

Phụ lục 4. Dữ liệu nội dung nghiên cứu số 3 P.4.1. Các tính chất lý hóa và hoạt tính sinh học của các sản phẩm vi bao gói theo các công thức khác nhau Độ ẩm (MC%) Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total

MC(%) SS 11.97 6.635 18.61

DF 4 18 22

95.00% CI of diff. -0.9200 to 0.7267 -0.5900 to 1.057 0.3425 to 1.989 0.9280 to 2.473 -0.5719 to 1.232 0.3606 to 2.164 0.9414 to 2.653 0.03058 to 1.834 0.6114 to 2.323 -0.3211 to 1.390

Below threshold? No No Yes Yes No Yes Yes Yes Yes No

Summary ns ns ** *** ns ** *** * ** ns

Individual P Value 0.8080 0.5590 0.0081 0.0002 0.4520 0.0087 0.0003 0.0434 0.0020 0.2059

Mean Diff. -0.09667 0.2333 1.166 1.700 0.3300 1.263 1.797 0.9325 1.467 0.5345

A A B B B

Water-activity A-E

F (DFn, DFd)

P value F (4, 10) = 1952 P<0.0001

MS 0.001952 1.000e-006

SS DF 4 10 14

Mean Diff. -0.06100 -0.05800 -0.04800 -0.05700 0.003000 0.01300 0.004000 0.01000 0.001000 -0.009000

0.007808 1.000e-005 0.007818 95.00% CI of diff. -0.06282 to -0.05918 -0.05982 to -0.05618 -0.04982 to -0.04618 -0.05882 to -0.05518 0.001181 to 0.004819 0.01118 to 0.01482 0.002181 to 0.005819 0.008181 to 0.01182 -0.0008193 to 0.002819 -0.01082 to -0.007181

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No Yes

Summary **** **** **** **** ** **** *** **** ns ****

Individual P Value <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0043 <0.0001 0.0006 <0.0001 0.2487 <0.0001

A B C C D

F (DFn, DFd) F (4, 10) = 9.750

P value P=0.0018

MS 0.003510 0.0003600

Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1 T3 vs. T2 T4 vs. T2 T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Compact letter display T5 T4 T3 T1 T2 Hoạt độ nước (Water-activity) Table Analyzed Data sets analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1 T3 vs. T2 T4 vs. T2 T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Compact letter display T1 T4 T5 T3 T2 Độ rỗng (Bulk-density) Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total

Bulk-density SS 0.01404 0.003600 0.01764

DF 4 10 14

Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1 T3 vs. T2 T4 vs. T2

Mean Diff. -0.03667 -0.04667 -0.07000 0.01333 -0.01000 -0.03333

95.00% CI of diff. -0.07118 to -0.002148 -0.08118 to -0.01215 -0.1045 to -0.03548 -0.02118 to 0.04785 -0.04452 to 0.02452 -0.06785 to 0.001185

Below threshold? Yes Yes Yes No No No

Summary * * ** ns ns ns

Individual P Value 0.0395 0.0131 0.0011 0.4096 0.5331 0.0569

P-31

0.05000 -0.02333 0.06000 0.08333

0.01548 to 0.08452 -0.05785 to 0.01118 0.02548 to 0.09452 0.04882 to 0.1179

Yes No Yes Yes

** ns ** ***

0.0091 0.1629 0.0031 0.0003

A A B B B

F (DFn, DFd) F (4, 10) = 1.075

P value P=0.4187

MS 9.738 9.060

T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Compact letter display T5 T1 T2 T3 T4 Độ phân tán (Dispersibility) Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total

Dispersibility SS 38.95 90.60 129.6

DF 4 10 14

Mean Diff. 1.730 4.740 0.9233 1.200 3.010 -0.8067 -0.5300 -3.817 -3.540 0.2767

95.00% CI of diff. Below threshold? No No No No No No No No No No

-3.746 to 7.206 -0.7360 to 10.22 -4.553 to 6.399 -4.276 to 6.676 -2.466 to 8.486 -6.283 to 4.669 -6.006 to 4.946 -9.293 to 1.659 -9.016 to 1.936 -5.199 to 5.753

Summary ns ns ns ns ns ns ns ns ns ns

Individual P Value 0.4975 0.0826 0.7150 0.6359 0.2487 0.7495 0.8336 0.1515 0.1803 0.9126

F (DFn, DFd) F (4, 10) = 37.82

P value P<0.0001

MS 2.852 0.07541

Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1 T3 vs. T2 T4 vs. T2 T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Chỉ số hòa tan trong nước (Water solubility index, WSI, %) Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total

WSI(%) SS 11.41 0.7541 12.16

DF 4 10 14

95.00% CI of diff. Below threshold? No -0.9696 to 0.02960 Yes -1.560 to -0.5604 Yes -3.056 to -2.057 Yes -1.870 to -0.8704 Yes -1.090 to -0.09040 Yes -2.586 to -1.587 Yes -1.400 to -0.4004 Yes -1.996 to -0.9971 No -0.8096 to 0.1896 Yes 0.6871 to 1.686

Mean Diff. -0.4700 -1.060 -2.557 -1.370 -0.5900 -2.087 -0.9000 -1.497 -0.3100 1.187

Summary ns *** **** *** * **** ** **** ns ***

Individual P Value 0.0625 0.0008 <0.0001 0.0001 0.0251 <0.0001 0.0025 <0.0001 0.1969 0.0004

A A B B C

WAR(mg/g)

SS DF

MS

F (DFn, DFd)

P value

F (4, 10) = 58.93

P<0.0001

1676 28.44

6702 284.4 6987

4 10 14

Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1 T3 vs. T2 T4 vs. T2 T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Compact letter display T1 T2 T3 T5 T4 Tốc độ hấp thu nước (Water absorption rate, WAR, mg/g) Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1 T3 vs. T2

95.00% CI of diff. -9.145 to 10.26 14.58 to 33.98 46.06 to 65.46 -3.665 to 15.74 14.02 to 33.42

Below threshold? No Yes Yes No Yes

Mean Diff. 0.5567 24.28 55.76 6.037 23.72

Summary Individual P Value 0.9008 0.0002 <0.0001 0.1957 0.0003

ns *** **** ns ***

P-32

55.20 5.480 31.48 -18.24 -49.72

45.50 to 64.90 -4.221 to 15.18 21.78 to 41.18 -27.94 to -8.542 -59.42 to -40.02

Yes No Yes Yes Yes

**** ns **** ** ****

<0.0001 0.2368 <0.0001 0.0019 <0.0001

A B C C C

F (DFn, DFd) F (4, 10) = 43.60

P value P<0.0001

MS 2055 47.13

T4 vs. T2 T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Compact letter display T4 T3 T5 T2 T1 Độ trương nước (Swelling capacity, SC, mg/g) Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total

SC(mg/g) SS 8220 471.3 8691

DF 4 10 14

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No Yes

Mean Diff. -17.56 -35.37 -68.89 -43.89 -17.82 -51.34 -26.33 -33.52 -8.513 25.01

95.00% CI of diff. -30.05 to -5.067 -47.86 to -22.88 -81.38 to -56.40 -56.38 to -31.40 -30.31 to -5.327 -63.83 to -38.85 -38.82 to -13.84 -46.01 to -21.03 -21.00 to 3.977 12.52 to 37.50

Summary * **** **** **** ** **** *** *** ns **

Individual P Value 0.0107 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0098 <0.0001 0.0008 0.0001 0.1598 0.0012

A B C C D

F (DFn, DFd) F (4, 10) = 45.60

P value P<0.0001

MS 83.37 1.828

Drying-yield(%) SS 333.5 18.28 351.7

DF 4 10 14

95.00% CI of diff. 1.340 to 6.260 -10.83 to -5.907 -9.160 to -4.240 -1.160 to 3.760 -14.63 to -9.707 -12.96 to -8.040 -4.960 to -0.04028 -0.7931 to 4.126 7.207 to 12.13 5.540 to 10.46

Mean Diff. 3.800 -8.367 -6.700 1.300 -12.17 -10.50 -2.500 1.667 9.667 8.000

Below threshold? Yes Yes Yes No Yes Yes Yes No Yes Yes

Summary Individual P Value 0.0063 <0.0001 0.0001 0.2662 <0.0001 <0.0001 0.0470 0.1620 <0.0001 <0.0001

** **** *** ns **** **** * ns **** ****

A B B C C

F (DFn, DFd) F (4, 10) = 0.9184

P value P=0.4902

MS 0.2837 0.3089

Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1 T3 vs. T2 T4 vs. T2 T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Compact letter display T1 T2 T3 T5 T4 Hiệu suất sấy (Drying-yield, %) Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1 T3 vs. T2 T4 vs. T2 T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Compact letter display T2 T5 T1 T4 T3 Hiệu suất vi bao gói (Microencapsulated efficiency, ME, %) Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total

ME(%) SS 1.135 3.089 4.224

DF 4 10 14

P-33

Mean Diff. 0.4333 0.6733 0.6033 0.06667 0.2400 0.1700 -0.3667 -0.07000 -0.6067 -0.5367

95.00% CI of diff. -0.5778 to 1.445 -0.3378 to 1.685 -0.4078 to 1.615 -0.9445 to 1.078 -0.7712 to 1.251 -0.8412 to 1.181 -1.378 to 0.6445 -1.081 to 0.9412 -1.618 to 0.4045 -1.548 to 0.4745

Below threshold? No No No No No No No No No No

Summary ns ns ns ns ns ns ns ns ns ns

Individual P Value 0.3622 0.1687 0.2132 0.8861 0.6085 0.7158 0.4379 0.8805 0.2109 0.2643

F (DFn, DFd) F (4, 10) = 6.488

P value P=0.0077

MS 0.9200 0.1418

Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1 T3 vs. T2 T4 vs. T2 T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Mức độ giải phóng hoạt chất sau 5 phút (PC5min) Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total

PC5min(mgGAE/g) SS 3.680 1.418 5.098

DF 4 10 14

Mean Diff. -1.250 -1.057 -0.9267 -1.423 0.1933 0.3233 -0.1733 0.1300 -0.3667 -0.4967

95.00% CI of diff. -1.935 to -0.5649 -1.742 to -0.3716 -1.612 to -0.2416 -2.108 to -0.7383 -0.4917 to 0.8784 -0.3617 to 1.008 -0.8584 to 0.5117 -0.5551 to 0.8151 -1.052 to 0.3184 -1.182 to 0.1884

Below threshold? Yes Yes Yes Yes No No No No No No

Summary ** ** * *** ns ns ns ns ns ns

Individual P Value 0.0023 0.0064 0.0130 0.0009 0.5436 0.3177 0.5853 0.6814 0.2606 0.1373

A B B B B

F (DFn, DFd) F (4, 10) = 1.134

P value P=0.3943

MS 0.9586 0.8450

Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1 T3 vs. T2 T4 vs. T2 T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Compact letter display T1 T4 T3 T2 T5 Hàm lượng polyphenol tổng số (TPC, mgGAE/g) Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total

TPC(mgGAE/g) SS 3.834 8.450 12.28

DF 4 10 14

Mean Diff. -0.4156 0.9081 0.7878 0.6157 1.324 1.203 1.031 -0.1203 -0.2924 -0.1721

95.00% CI of diff. -2.088 to 1.257 -0.7643 to 2.580 -0.8845 to 2.460 -1.057 to 2.288 -0.3487 to 2.996 -0.4690 to 2.876 -0.6410 to 2.704 -1.793 to 1.552 -1.965 to 1.380 -1.844 to 1.500

Below threshold? No No No No No No No No No No

Summary ns ns ns ns ns ns ns ns ns ns

Individual P Value 0.5920 0.2541 0.3186 0.4311 0.1083 0.1399 0.1994 0.8759 0.7051 0.8233

F (DFn, DFd) F (4, 10) = 7.992

P value P=0.0037

MS 0.01769 0.002213

Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1 T3 vs. T2 T4 vs. T2 T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Khả năng dập tắt gốc tự do DPPH của sản phẩm vi bao Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total

DPPH_IC50(mg/mL) SS 0.07076 0.02213 0.09289

DF 4 10 14

Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1

Mean Diff. 0.1833 0.1200 0.03333 0.1433

95.00% CI of diff. 0.09774 to 0.2689 0.03441 to 0.2056 -0.05226 to 0.1189 0.05774 to 0.2289

Below threshold? Yes Yes No Yes

Summary *** * ns **

Individual P Value 0.0008 0.0108 0.4059 0.0039

P-34

-0.06333 -0.1500 -0.04000 -0.08667 0.02333 0.1100

-0.1489 to 0.02226 -0.2356 to -0.06441 -0.1256 to 0.04559 -0.1723 to -0.001077 -0.06226 to 0.1089 0.02441 to 0.1956

No Yes No Yes No Yes

ns ** ns * ns *

0.1302 0.0029 0.3223 0.0477 0.5571 0.0169

A A A B B

F (DFn, DFd) F (4, 10) = 6.796

P value P=0.0065

MS 0.007340 0.001080

T3 vs. T2 T4 vs. T2 T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Compact letter display T2 T5 T3 T4 T1 Khả năng dập tắt gốc tự do ABTS của sản phẩm vi bao Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total

ABTS_IC50(mg/mL) DF 4 10 14

SS 0.02936 0.01080 0.04016

Mean Diff. 0.1300 0.03667 0.03667 0.07667 -0.09333 -0.09333 -0.05333 0.000 0.04000 0.04000

95.00% CI of diff. 0.07021 to 0.1898 -0.02312 to 0.09645 -0.02312 to 0.09645 0.01688 to 0.1365 -0.1531 to -0.03355 -0.1531 to -0.03355 -0.1131 to 0.006454 -0.05979 to 0.05979 -0.01979 to 0.09979 -0.01979 to 0.09979

Below threshold? Yes No No Yes Yes Yes No No No No

Summary *** ns ns * ** ** ns ns ns ns

Individual P Value 0.0007 0.2017 0.2017 0.0170 0.0059 0.0059 0.0749 >0.9999 0.1669 0.1669

A A B B C B C C

aAI_IC50(ug/mL)

F (DFn, DFd) F (4, 10) = 23.34

P value P<0.0001

MS 72.14 3.091

Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1 T3 vs. T2 T4 vs. T2 T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Compact letter display T2 T5 T3 T4 T1 Khả năng ức chế α-amylase của sản phẩm vi bao Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total

SS DF 4 10 14

288.6 30.91 319.5

Mean Diff. 5.897 -1.353 8.423 9.433 -7.250 2.527 3.537 9.777 10.79 1.010

95.00% CI of diff. 2.698 to 9.095 -4.552 to 1.845 5.225 to 11.62 6.235 to 12.63 -10.45 to -4.052 -0.6717 to 5.725 0.3383 to 6.735 6.578 to 12.98 7.588 to 13.99 -2.188 to 4.208

Below threshold? Yes No Yes Yes Yes No Yes Yes Yes No

Summary ** ns *** **** *** ns * **** **** ns

Individual P Value 0.0021 0.3680 0.0002 <0.0001 0.0005 0.1089 0.0335 <0.0001 <0.0001 0.4977

A A B B C C

aGI_IC50(ug/mL)

F (DFn, DFd) F (4, 10) = 50.96

P value P<0.0001

Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1 T3 vs. T2 T4 vs. T2 T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Compact letter display T5 T4 T2 T1 T3 Khả năng ức chế α-glucosidase của sản phẩm vi bao Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns)

SS DF 4 10

128.5 6.302

MS 32.12 0.6302

P-35

134.8

14

95.00% CI of diff. Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No No No

7.336 to 10.22 5.152 to 8.041 4.239 to 7.128 4.819 to 7.708 -3.628 to -0.7391 -4.541 to -1.652 -3.961 to -1.072 -2.358 to 0.5309 -1.778 to 1.111 -0.8643 to 2.024

Mean Diff. 8.780 6.597 5.683 6.263 -2.183 -3.097 -2.517 -0.9133 -0.3333 0.5800

Summary Individual P Value <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0071 0.0007 0.0030 0.1892 0.6183 0.3919

**** **** **** **** ** *** ** ns ns ns

A B B B C

Total Fisher's LSD T2 vs. T1 T3 vs. T1 T4 vs. T1 T5 vs. T1 T3 vs. T2 T4 vs. T2 T5 vs. T2 T4 vs. T3 T5 vs. T3 T5 vs. T4 Compact letter display T2 T3 T5 T4 T1 P.4.2. Tính an toàn của sản phẩm vi bao

Bảng P4.1. Tính an toàn đường ngâm của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân cây Trâm vỏ đỏ trên ấu trùng cá ngựa vằn

Nồng độ bột vi bao (mg/L)

Số cá chết/số cá sống

Thời gian theo dõi (giờ)

250

300

350

400

450

24

0/30

0/30

1/30

10/30

30/30

48

0/30

0/30

1/29

10/20

-

7/10

72

0/30

0/30

0/28

-

0/3

0/30 0/30

0/30 0/30

0/28 2/30

27/30

- 30/30

96 Tổng cá chết LD50 (mg/L)

376,67

Ghi chú: Quy trình đánh giá theo OECD 203 trên ấu trùng cá ngựa vằn (3-5 ngày tuổi), t = 96 (giờ), n = 30 (cá thể).

Bảng P4.2. Tính an toàn qua đường uống của sản phẩm vi bao cao chiết vỏ thân Trâm vỏ đỏ trên cá ngựa vằn trưởng thành

Nồng độ 5.000 mg/kg khối lượng cá

Ngày theo dõi

Số cá chết/số cá sống

Ngày 1

0/7

Ngày 2

0/7

Ngày 3

0/7

Ngày 4

0/7

Ngày 5

0/7

Ngày 6

0/7

Ngày 7

0/7

0/7 Không xác định

5.000

Tổng cá chết LD50 (mg/kg) Nồng độ an toàn (mg/kg)

Ghi chú: Quy trình đánh giá theo OECD 432 trên cá ngựa vằn trưởng thành (3,5 đến 4 tháng tuổi), t = 7 (ngày), n = 7 (cá thể).

P-36

SZLCE 83.00 137.8 246.6 159.6 114.4 148.3

ACAR 72.60 139.8 211.8 128.0 104.6 131.4

SZLMEP Row means 79.24 170.7 232.5 153.2 118.9 150.9

83.40 179.0 138.2 138.2 108.6 129.5

F (DFn, DFd) F (16, 80) = 154.9 F (4, 80) = 2249 F (4, 20) = 499.4 F (20, 80) = 0.6837

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.8307

P.4.3. Khả năng chống tăng đường huyết sau ăn của sản phẩm vi bao MD RMD Means 70.40 86.80 0 195.8 201.2 30 341.4 224.4 60 184.6 155.4 120 122.2 144.8 180 Column means 162.5 182.9 Table Analyzed PBGL (MG/DL) ANOVA table Time x Group Time Group Subject Residual

SS 91000 330278 50131 501.9 2936

DF 16 4 4 20 80

MS 5687 82569 12533 25.10 36.71 Below threshold?

Summary

Mean Diff.

Individual P Value

95.00% CI of diff.

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0010 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** **** *** **** **** **** **** ****

-117.0 -129.6 -94.80 -203.2 -12.60 22.20 -86.20 34.80 -73.60 -108.4

-124.4 to -109.6 -137.0 to -122.2 -102.2 to -87.44 -210.6 to -195.8 -19.96 to -5.242 14.84 to 29.56 -93.56 to -78.84 27.44 to 42.16 -80.96 to -66.24 -115.8 to -101.0

87.97 to 103.2 47.17 to 62.43 47.17 to 62.43 17.57 to 32.83 -48.43 to -33.17 -48.43 to -33.17 -78.03 to -62.77 -7.625 to 7.625 -37.23 to -21.97 -37.23 to -21.97

95.60 54.80 54.80 25.20 -40.80 -40.80 -70.40 0.000 -29.60 -29.60

**** **** **** **** **** **** **** ns **** ****

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No Yes Yes

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 >0.9999 <0.0001 <0.0001

Fisher's LSD 60 RMD vs. MD ACAR vs. MD SZLCE vs. MD SZLMEP vs. MD ACAR vs. RMD SZLCE vs. RMD SZLMEP vs. RMD SZLCE vs. ACAR SZLMEP vs. ACAR SZLMEP vs. SZLCE SZLMEP 30 vs. 0 60 vs. 0 120 vs. 0 180 vs. 0 60 vs. 30 120 vs. 30 180 vs. 30 120 vs. 60 180 vs. 60 180 vs. 120 P.4.4. Khả năng hạ đường huyết trên cá ngựa vằn đái tháo đường của sản phẩm vi bao Means 0 5 10 15 20 Column means

Row means 103.7 82.12 76.24 72.00 67.52 80.32

SZLMEP 113.2 79.60 77.80 73.40 64.20 81.64

METFO 113.2 63.60 62.40 57.20 58.40 70.96

DIABE 113.2 112.8 102.6 99.20 99.20 105.4

SZLCE 113.2 88.00 76.20 69.80 62.40 81.92

NORM 65.80 66.60 62.20 60.40 53.40 61.68

F (DFn, DFd) F (16, 80) = 4.552 F (4, 80) = 47.60 F (4, 20) = 64.33 F (20, 80) = 0.9875

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.4858

Table Analyzed ANOVA table Time x Group Time Group Subject Residual

DIABETIC TREATMENT FBGL (MG/DL) SS 7656 20013 26709 2076 8409

DF 16 4 4 20 80

MS 478.5 5003 6677 103.8 105.1

Mean Diff.

95.00% CI of diff.

Below threshold?

Summary

Individual P Value

Fisher's LSD 5 DIABE vs. NORM METFO vs. NORM SZLCE vs. NORM SZLMEP vs. NORM METFO vs. DIABE SZLCE vs. DIABE SZLMEP vs. DIABE SZLCE vs. METFO

46.20 -3.000 21.40 13.00 -49.20 -24.80 -33.20 24.40

33.35 to 59.05 -15.85 to 9.849 8.551 to 34.25 0.1515 to 25.85 -62.05 to -36.35 -37.65 to -11.95 -46.05 to -20.35 11.55 to 37.25

Yes No Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** ns ** * **** *** **** ***

<0.0001 0.6442 0.0013 0.0474 <0.0001 0.0002 <0.0001 0.0003

P-37

* ns

Yes No

16.00 -8.400

0.0152 0.1976

3.151 to 28.85 -21.25 to 4.449

32.95 to 58.65 -7.849 to 17.85 -3.849 to 21.85 -2.049 to 23.65 -53.65 to -27.95 -49.65 to -23.95 -47.85 to -22.15 -8.849 to 16.85 -7.049 to 18.65 -11.05 to 14.65

<0.0001 0.4419 0.1677 0.0985 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.5382 0.3726 0.7816

45.80 5.000 9.000 10.80 -40.80 -36.80 -35.00 4.000 5.800 1.800

**** ns ns ns **** **** **** ns ns ns

Yes No No No Yes Yes Yes No No No

SZLMEP vs. METFO SZLMEP vs. SZLCE 20 DIABE vs. NORM METFO vs. NORM SZLCE vs. NORM SZLMEP vs. NORM METFO vs. DIABE SZLCE vs. DIABE SZLMEP vs. DIABE SZLCE vs. METFO SZLMEP vs. METFO SZLMEP vs. SZLCE P.4.5. Tác động điều hòa biểu hiện gene liên quan đái tháo đường của sản phẩm vi bao cao chiết (MEP)

P.4.5.1. Điều hòa biểu hiện gene SREBF1

NOR

DIA

MET

CE

MEP

3 1.020 0.2476 0.1429

3 0.4533 0.08083 0.04667

3 11.79 0.1443 0.08333

3 23.30 0.9808 0.5663

3 14.45 0.1443 0.08333

F (DFn, DFd) F (1.007, 2.013) = 1160 F (2, 8) = 0.4591

P value P=0.0008 P=0.6475

MS 278.7 0.1103 0.2403

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total

SREBF1 SS 1115 0.2207 1.922 1117

DF 4 2 8 14

95.00% CI of diff. -0.9855 to -0.1478 10.50 to 11.05 19.28 to 25.29 12.54 to 14.33 11.15 to 11.53 20.22 to 25.48 13.47 to 14.53 8.776 to 14.24 2.039 to 3.281 -10.96 to -6.737

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes

Summary * **** *** *** **** *** **** ** ** **

Individual P Value 0.0283 <0.0001 0.0010 0.0002 <0.0001 0.0007 <0.0001 0.0030 0.0029 0.0031

Mean Diff. -0.5667 10.77 22.28 13.43 11.34 22.85 14.00 11.51 2.660 -8.850

Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR CE vs. NOR MEP vs. NOR MET vs. DIA CE vs. DIA MEP vs. DIA CE vs. MET MEP vs. MET MEP vs. CE Compact letter display CE MEP MET NOR DIA

A B C D E

P.4.5.2.Điều hòa biểu hiện gene ACC1 DIA

NOR

MET

CE

MEP

3 1.013 0.2013 0.1162

3 3.393 0.2739 0.1581

3 0.2200 0.04583 0.02646

3 1.013 0.4283 0.2473

3 0.3100 0.05292 0.03055

F (DFn, DFd) F (4, 8) = 74.03 F (2, 8) = 0.5227

P value P<0.0001 P=0.6119

MS 4.974 0.03512 0.06720

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total

ACC1 SS 19.90 0.07024 0.5376 20.51

DF 4 2 8 14

Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR CE vs. NOR MEP vs. NOR MET vs. DIA

Mean Diff. 2.380 -0.7933 0.000 -0.7033 -3.173

95.00% CI of diff. 1.892 to 2.868 -1.281 to -0.3053 -0.4881 to 0.4881 -1.191 to -0.2153 -3.661 to -2.685

Below threshold? Yes Yes No Yes Yes

Summary **** ** ns * ****

Individual P Value <0.0001 0.0056 >0.9999 0.0105 <0.0001

P-38

-2.380 -3.083 0.7933 0.09000 -0.7033

-2.868 to -1.892 -3.571 to -2.595 0.3053 to 1.281 -0.3981 to 0.5781 -1.191 to -0.2153

Yes Yes Yes No Yes

**** **** ** ns *

<0.0001 <0.0001 0.0056 0.6819 0.0105

CE vs. DIA MEP vs. DIA CE vs. MET MEP vs. MET MEP vs. CE Compact letter display DIA NOR CE MEP MET

A B B C C

P.4.5.3. Điều hòa biểu hiện gene FASN

NOR

DIA

MET

CE

MEP

3 1.010 0.1929 0.1114

3 0.1967 0.03055 0.01764

3 3.273 0.1155 0.06667

3 4.123 0.2829 0.1633

3 2.563 0.1504 0.08686

F (DFn, DFd) F (1.400, 2.801) = 204.1 F (2, 8) = 0.02998

P value P=0.0010 P=0.9706

MS 7.805 0.001147 0.03825

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total

SS 31.22 0.002293 0.3060 31.53

FASN DF 4 2 8 14

95.00% CI of diff. -1.218 to -0.4087 1.500 to 3.027 2.042 to 4.184 1.149 to 1.957 2.717 to 3.436 3.165 to 4.688 2.042 to 2.691 0.2380 to 1.462 -1.273 to -0.1474 -2.636 to -0.4841

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes

Summary * ** ** ** *** ** ** * * *

Individual P Value 0.0131 0.0061 0.0063 0.0036 0.0007 0.0020 0.0010 0.0269 0.0323 0.0247

Mean Diff. -0.8133 2.263 3.113 1.553 3.077 3.927 2.367 0.8500 -0.7100 -1.560

Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR CE vs. NOR MEP vs. NOR MET vs. DIA CE vs. DIA MEP vs. DIA CE vs. MET MEP vs. MET MEP vs. CE Compact letter display CE MET MEP NOR DIA

A B C D E

P.4.5.4. Điều hòa biểu hiện gene INS

NOR

DIA

MET

CE

MEP

3 1.023 0.2836 0.1637

3 17.74 1.647 0.9508

3 0.2333 0.06028 0.03480

3 0.4533 0.2371 0.1369

SS

3 12.03 0.7108 0.4104 INSULIN DF

MS

F (DFn, DFd)

P value

F (1.302, 2.605) = 271.7 F (2, 8) = 0.6312

P=0.0010 P=0.5565

197.0 0.4576 0.7250

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total

787.8 0.9153 5.800 794.6

4 2 8 14

Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR CE vs. NOR MEP vs. NOR MET vs. DIA CE vs. DIA MEP vs. DIA CE vs. MET MEP vs. MET

Mean Diff. 11.01 16.72 -0.7900 -0.5700 5.713 -11.80 -11.58 -17.51 -17.29

95.00% CI of diff. 8.599 to 13.41 12.55 to 20.89 -1.636 to 0.05643 -1.844 to 0.7042 0.5616 to 10.87 -13.41 to -10.18 -13.02 to -10.13 -21.65 to -13.37 -21.21 to -13.37

Below threshold? Yes Yes No No Yes Yes Yes Yes Yes

Summary ** ** ns ns * ** *** ** **

Individual P Value 0.0026 0.0033 0.0568 0.1941 0.0412 0.0010 0.0008 0.0030 0.0028

P-39

0.2200

-0.2649 to 0.7049

No

ns

0.1902

MEP vs. CE Compact letter display MET DIA NOR MEP CE

A B C C C

P.4.5.5. Điều hòa biểu hiện gene INSRA1

NOR

DIA

MET

CE

MEP

3 1.013 0.1877 0.1084

3 1.820 0.05196 0.03000

3 0.9933 0.2335 0.1348

3 0.5100 0.08888 0.05132

3 0.3233 0.1150 0.06642

F (DFn, DFd) F (4, 8) = 41.87 F (2, 8) = 0.7069

P value P<0.0001 P=0.5216

MS 1.011 0.01706 0.02414

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total

SS 4.042 0.03412 0.1931 4.270

INSRA1 DF 4 2 8 14

Mean Diff. 0.8067 -0.02000 -0.5033 -0.6900 -0.8267 -1.310 -1.497 -0.4833 -0.6700 -0.1867

95.00% CI of diff. 0.5142 to 1.099 -0.3125 to 0.2725 -0.7958 to -0.2108 -0.9825 to -0.3975 -1.119 to -0.5342 -1.603 to -1.017 -1.789 to -1.204 -0.7758 to -0.1908 -0.9625 to -0.3775 -0.4792 to 0.1058

Below threshold? Yes No Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No

Summary *** ns ** *** *** **** **** ** *** ns

Individual P Value 0.0002 0.8786 0.0041 0.0006 0.0002 <0.0001 <0.0001 0.0052 0.0007 0.1793

Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR CE vs. NOR MEP vs. NOR MET vs. DIA CE vs. DIA MEP vs. DIA CE vs. MET MEP vs. MET MEP vs. CE Compact letter display DIA NOR MET CE MEP

A B B C C

P.4.5.6.Điều hòa biểu hiện gene INSRB1

NOR

DIA

MET

CE

MEP

3 1.017 0.2194 0.1267

3 0.5967 0.07638 0.04410

3 15.91 0.9632 0.5561

3 22.02 0.5312 0.3067

3 16.70 0.2606 0.1504

F (DFn, DFd) F (1.588, 3.177) = 1059 F (2, 8) = 0.8768

P value P<0.0001 P=0.4526

MS 289.2 0.2394 0.2731

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total

INSRB1 SS 1157 0.4788 2.185 1159

DF 4 2 8 14

Mean Diff. -0.4200 14.89 21.00 15.68 15.31 21.42 16.10 6.107 0.7900 -5.317

95.00% CI of diff. -0.7910 to -0.04904 12.84 to 16.95 19.34 to 22.66 14.54 to 16.82 12.99 to 17.63 19.95 to 22.89 15.33 to 16.88 3.718 to 8.495 -2.238 to 3.818 -6.825 to -3.809

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No Yes

Summary * ** *** *** ** *** *** ** ns **

Individual P Value 0.0396 0.0010 0.0003 0.0003 0.0012 0.0003 0.0001 0.0082 0.3783 0.0043

Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR CE vs. NOR MEP vs. NOR MET vs. DIA CE vs. DIA MEP vs. DIA CE vs. MET MEP vs. MET MEP vs. CE Compact letter display CE MEP MET

A B B

P-40

NOR DIA

C D

P.4.5.7. Điều hòa biểu hiện gene SGLT1

MEP

NOR

DIA

MET

CE

3 0.3567 0.09074 0.05239

3 0.5567 0.02309 0.01333

3 1.000 0.03606 0.02082

3 1.830 0.06928 0.04000

3 3.763 0.5852 0.3379

F (DFn, DFd) F (4, 8) = 72.72 F (2, 8) = 0.5115

P value P<0.0001 P=0.6180

MS 5.759 0.04051 0.07920

Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total

SS 23.04 0.08101 0.6336 23.75

SGLT1 DF 4 2 8 14

Below threshold? Yes Yes Yes No Yes Yes Yes Yes Yes No

Summary ** **** * ns **** *** *** **** **** ns

Individual P Value 0.0069 <0.0001 0.0232 0.0898 <0.0001 0.0002 0.0005 <0.0001 <0.0001 0.4094

95.00% CI of diff. 0.3001 to 1.360 2.233 to 3.293 -1.173 to -0.1135 -0.9732 to 0.08654 1.403 to 2.463 -2.003 to -0.9435 -1.803 to -0.7435 -3.937 to -2.877 -3.737 to -2.677 -0.3299 to 0.7299

Mean Diff. 0.8300 2.763 -0.6433 -0.4433 1.933 -1.473 -1.273 -3.407 -3.207 0.2000

Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR CE vs. NOR MEP vs. NOR MET vs. DIA CE vs. DIA MEP vs. DIA CE vs. MET MEP vs. MET MEP vs. CE Compact letter display MET DIA NOR MEP CE

A B C C D D

3 3.847 0.1436 0.08293

3 3.310 0.2100 0.1212

3 2.217 0.1620 0.09351

3 1.007 0.1457 0.08413

3 0.3133 0.05132 0.02963

F (DFn, DFd) F (4, 8) = 236.0 F (2, 8) = 0.05676

P value P<0.0001 P=0.9452

MS 6.681 0.001607 0.02831

P.4.5.8. Điều hòa biểu hiện gene GLP1 Number of values Mean Std. Deviation Std. Error of Mean Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Individual (between rows) Residual (random) Total

SS 26.73 0.003213 0.2265 26.96

GLP-1 DF 4 2 8 14

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes

Summary *** **** **** **** **** **** **** ** **** ****

Individual P Value 0.0010 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0045 <0.0001 <0.0001

Mean Diff. -0.6933 2.840 2.303 1.210 3.533 2.997 1.903 -0.5367 -1.630 -1.093

95.00% CI of diff. -1.010 to -0.3766 2.523 to 3.157 1.987 to 2.620 0.8932 to 1.527 3.217 to 3.850 2.680 to 3.313 1.587 to 2.220 -0.8534 to -0.2199 -1.947 to -1.313 -1.410 to -0.7766

Fisher's LSD DIA vs. NOR MET vs. NOR CE vs. NOR MEP vs. NOR MET vs. DIA CE vs. DIA MEP vs. DIA CE vs. MET MEP vs. MET MEP vs. CE Compact letter display MET CE MEP NOR DIA

A B C D E

P-41

P.4.6. Khả năng kháng viêm của bột vi bao cao chiết

P.4.6.1. Hoạt tính kháng viêm in vitro

Ibuprofen

Conc. (mg/mL)

Mean

SEM

N

0.20

28.10

0.48

3

0.40

31.27

0.34

3

0.60

33.08

0.24

3

0.80

33.77

0.84

3

1.00

36.16

0.17

3

SZLCE

SZLMEP

Conc. (mg/mL)

Mean

SEM

N

Conc. (mg/mL)

Mean

SEM

N

0.001563

4.54

0.06

3

0.03125

8.29

0.01

3

0.003125

8.29

0.05

3

0.0625

14.99

0.03

3

0.00625

17.43

0.07

3

0.125

20.71

0.04

3

0.0125

27.60

0.04

3

0.25

31.75

0.02

3

0.025

32.91

0.02

3

0.5

36.30

0.11

3

0.05

34.61

0.03

3

1

43.36

0.62

3

0.1

31.85

0.10

3

2

35.64

0.58

3

F (DFn, DFd) F (6, 21) = 17.25

P value P<0.0001

MS 837.7 48.57

Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total

SZLCE SS 5026 1020 6046

DF 6 21 27

Fisher's LSD 0.003125 vs. 0.0015625 0.00625 vs. 0.0015625 0.0125 vs. 0.0015625 0.025 vs. 0.0015625 0.05 vs. 0.0015625 0.1 vs. 0.0015625 0.00625 vs. 0.003125 0.0125 vs. 0.003125 0.025 vs. 0.003125 0.05 vs. 0.003125 0.1 vs. 0.003125 0.0125 vs. 0.00625 0.025 vs. 0.00625 0.05 vs. 0.00625 0.1 vs. 0.00625 0.025 vs. 0.0125 0.05 vs. 0.0125 0.1 vs. 0.0125 0.05 vs. 0.025 0.1 vs. 0.025 0.1 vs. 0.05

Mean Diff. 6.577 14.64 29.13 35.14 38.33 22.03 8.060 22.56 28.56 31.75 15.45 14.50 20.50 23.69 7.388 6.003 9.194 -7.107 3.191 -13.11 -16.30

95.00% CI of diff. -3.671 to 16.82 4.389 to 24.88 18.88 to 39.38 24.89 to 45.38 28.08 to 48.57 11.78 to 32.27 -2.188 to 18.31 12.31 to 32.80 18.31 to 38.81 21.50 to 42.00 5.200 to 25.70 4.247 to 24.74 10.25 to 30.75 13.44 to 33.94 -2.860 to 17.64 -4.245 to 16.25 -1.054 to 19.44 -17.35 to 3.141 -7.057 to 13.44 -23.36 to -2.862 -26.55 to -6.053

Below threshold? No Yes Yes Yes Yes Yes No Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No No No No No Yes Yes

Summary ns ** **** **** **** *** ns *** **** **** ** ** *** **** ns ns ns ns ns * **

Individual P Value 0.1963 0.0073 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0002 0.1168 0.0002 <0.0001 <0.0001 0.0050 0.0078 0.0004 <0.0001 0.1487 0.2366 0.0761 0.1640 0.5243 0.0146 0.0033

F (DFn, DFd) F (6, 14) = 1550

P value P<0.0001

MS 492.3 0.3176

Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total

MEP SS 2954 4.447 2958

DF 6 14 20

Fisher's LSD 0.0625 vs. 0.03125 0.125 vs. 0.03125 0.25 vs. 0.03125 0.5 vs. 0.03125 1 vs. 0.03125

Mean Diff. 6.698 12.42 23.46 28.01 35.07

95.00% CI of diff. 5.711 to 7.685 11.44 to 13.41 22.47 to 24.45 27.02 to 28.99 34.08 to 36.06

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes

Summary Individual P Value <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

**** **** **** **** ****

P-42

2 vs. 0.03125 0.125 vs. 0.0625 0.25 vs. 0.0625 0.5 vs. 0.0625 1 vs. 0.0625 2 vs. 0.0625 0.25 vs. 0.125 0.5 vs. 0.125 1 vs. 0.125 2 vs. 0.125 0.5 vs. 0.25 1 vs. 0.25 2 vs. 0.25 1 vs. 0.5 2 vs. 0.5 2 vs. 1

27.35 5.727 16.76 21.31 28.37 20.65 11.04 15.58 22.65 14.92 4.547 11.61 3.887 7.063 -0.6600 -7.723

26.36 to 28.33 4.740 to 6.714 15.78 to 17.75 20.32 to 22.30 27.39 to 29.36 19.66 to 21.64 10.05 to 12.02 14.60 to 16.57 21.66 to 23.63 13.94 to 15.91 3.560 to 5.534 10.62 to 12.60 2.900 to 4.874 6.076 to 8.050 -1.647 to 0.3270 -8.710 to -6.736

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No Yes

**** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** **** ns ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.1735 <0.0001

F (DFn, DFd) F (4, 10) = 39.95

P value P<0.0001

MS 27.19 0.6806

Table Analyzed ANOVA table Treatment (between columns) Residual (within columns) Total

Ibuprofen SS 108.7 6.806 115.5

DF 4 10 14

Mean Diff. 3.177 4.980 5.670 8.067 1.803 2.493 4.890 0.6900 3.087 2.397

95.00% CI of diff. 1.676 to 4.678 3.479 to 6.481 4.169 to 7.171 6.566 to 9.568 0.3025 to 3.304 0.9925 to 3.994 3.389 to 6.391 -0.8108 to 2.191 1.586 to 4.588 0.8958 to 3.898

Below threshold? Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No Yes Yes

Summary *** **** **** **** * ** **** ns ** **

Individual P Value 0.0008 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0232 0.0041 <0.0001 0.3298 0.0010 0.0052

F (DFn, DFd) F (8, 24) = 200.4 F (4, 24) = 1758 F (2, 6) = 3597 F (6, 24) = 0.1996

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.9736

Fisher's LSD 0.4 mg/mL vs. 0.2 mg/mL 0.6 mg/mL vs. 0.2 mg/mL 0.8 mg/mL vs. 0.2 mg/mL 1.0 mg/mL vs. 0.2 mg/mL 0.6 mg/mL vs. 0.4 mg/mL 0.8 mg/mL vs. 0.4 mg/mL 1.0 mg/mL vs. 0.4 mg/mL 0.8 mg/mL vs. 0.6 mg/mL 1.0 mg/mL vs. 0.6 mg/mL 1.0 mg/mL vs. 0.8 mg/mL Table Analyzed ANOVA table Time x Column Factor Time Column Factor Subject Residual

MEP&CE&Ibuprofen SS 591.6 2595 529.9 0.4419 8.855

DF 8 4 2 6 24

MS 73.95 648.7 264.9 0.07365 0.3690

Mean Diff.

95.00% CI of diff. Below threshold?

Summary

Individual P Value

Yes Yes Yes

**** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001

-6.697 13.11 19.81

-7.625 to -5.768 12.18 to 14.04 18.88 to 20.73

Yes Yes Yes

**** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001

-3.287 10.56 13.85

-4.215 to -2.358 9.632 to 11.49 12.92 to 14.77

Yes Yes Yes

**** ** ****

<0.0001 0.0066 <0.0001

-4.153 1.327 5.480

-5.082 to -3.225 0.3984 to 2.255 4.552 to 6.408

Yes Yes No

**** **** ns

<0.0001 <0.0001 0.0692

-3.387 -2.530 0.8567

-4.315 to -2.458 -3.458 to -1.602 -0.07163 to 1.785

Fisher's LSD Row 1 SZLCE vs. SZLMEP Ibuprofen vs. SZLMEP Ibuprofen vs. SZLCE Row 2 SZLCE vs. SZLMEP Ibuprofen vs. SZLMEP Ibuprofen vs. SZLCE Row 3 SZLCE vs. SZLMEP Ibuprofen vs. SZLMEP Ibuprofen vs. SZLCE Row 4 SZLCE vs. SZLMEP Ibuprofen vs. SZLMEP Ibuprofen vs. SZLCE Row 5 SZLCE vs. SZLMEP Ibuprofen vs. SZLMEP Ibuprofen vs. SZLCE

Yes Yes Yes

**** **** **

<0.0001 <0.0001 0.0018

-8.750 -7.197 1.553

-9.678 to -7.822 -8.125 to -6.268 0.6250 to 2.482

P-43

P.4.6.2.Hoạt tính kháng viêm trên mô hình ấu trùng cá ngựa vằn

Control(-) 14.43 24.43 44.47 46.67 55.57 37.11

SZLCE 2 mg/L 13.33 13.33 13.33 23.33 22.23 17.11

SZLCE 5 mg/L 14.47 10.00 21.10 20.00 14.43 16.00

SZLCE 7.5 mg/L 12.20 12.20 20.00 25.57 41.10 22.21

Row means 14.22 17.55 26.00 29.11 31.56 23.69

Means 0 2 4 6 24 Column means

Ibuprofen 2 mg/L 16.67 27.78 31.11 30.00 24.45 26.00 Comparison-of- SZLCE&Ibuprofen

F (DFn, DFd) F (16, 40) = 12.18 F (4, 40) = 58.07 F (4, 10) = 34.91 F (10, 40) = 2.154

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.0421

Table Analyzed ANOVA table Time x Column Factor Time Column Factor Subject Residual

SS 2819 3360 4351 311.6 578.6

DF 16 4 4 10 40

MS 176.2 840.1 1088 31.16 14.47

Mean Diff.

95.00% CI of diff.

Below threshold?

Summary

Individual P Value

Fisher's LSD 24 Ibuprofen 2 mg/L vs. Control(-) SZLCE 2 mg/L vs. Control(-) SZLCE 5 mg/L vs. Control(-) SZLCE 7.5 mg/L vs. Control(-) SZLCE 2 mg/L vs. Ibuprofen 2 mg/L SZLCE 5 mg/L vs. Ibuprofen 2 mg/L SZLCE 7.5 mg/L vs. Ibuprofen 2 mg/L SZLCE 5 mg/L vs. SZLCE 2 mg/L SZLCE 7.5 mg/L vs. SZLCE 2 mg/L SZLCE 7.5 mg/L vs. SZLCE 5 mg/L

-31.12 -33.33 -41.13 -14.47 -2.213 -10.01 16.65 -7.800 18.87 26.67

-38.04 to -24.20 -40.25 to -26.41 -48.05 to -34.21 -21.39 to -7.546 -9.134 to 4.707 -16.93 to -3.093 9.733 to 23.57 -14.72 to -0.8798 11.95 to 25.79 19.75 to 33.59

Yes Yes Yes Yes No Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** *** ns ** **** * **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0001 0.5235 0.0054 <0.0001 0.0279 <0.0001 <0.0001

Means 0 2 4 6 24 Column means

Control(-) 14.43 24.43 44.47 46.67 55.57 37.11

Ibuprofen 2 mg/L 16.67 27.78 31.11 30.00 24.45 26.00

SZLMEP 40 mg/L 15.53 21.10 24.47 27.80 30.00 23.78

SZLMEP 100 mg/L 16.67 24.43 25.57 17.80 15.57 20.01

SZLMEP 150 mg/L 14.43 22.20 24.47 18.90 18.90 19.78

Row means 15.55 23.99 30.02 28.23 28.90 25.34

F (DFn, DFd)

P value F (16, 40) = 16.85 P<0.0001 F (4, 40) = 54.63 P<0.0001 F (4, 10) = 52.69 P<0.0001 F (10, 40) = 1.481 P=0.1825

Table Analyzed ANOVA table Time x Column Factor Time Column Factor Subject Residual

Comparison-of- SZLMEP&Ibuprofen SS 2602 2109 3013 142.9 386.1

DF 16 4 4 10 40

MS 162.7 527.3 753.1 14.29 9.652

Mean Diff.

95.00% CI of diff.

Below threshold?

Summary

Individual P Value

Fisher's LSD 24 Ibuprofen 2 mg/L vs. Control(-) SZLMEP 40 mg/L vs. Control(-) SZLMEP 100 mg/L vs. Control(-) SZLMEP 150 mg/L vs. Control(-) SZLMEP 40 mg/L vs. Ibuprofen 2 mg/L SZLMEP 100 mg/L vs. Ibuprofen 2 mg/L SZLMEP 150 mg/L vs. Ibuprofen 2 mg/L SZLMEP 100 mg/L vs. SZLMEP 40 mg/L SZLMEP 150 mg/L vs. SZLMEP 40 mg/L SZLMEP 150 mg/L vs. SZLMEP 100 mg/L

-31.12 -25.57 -40.00 -36.67 5.553 -8.880 -5.547 -14.43 -11.10 3.333

-36.45 to -25.79 -30.90 to -20.23 -45.33 to -34.67 -42.00 to -31.33 0.2189 to 10.89 -14.21 to -3.546 -10.88 to -0.2122 -19.77 to -9.099 -16.43 to -5.766 -2.001 to 8.668

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No

**** **** **** **** * ** * **** *** ns

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0416 0.0016 0.0419 <0.0001 0.0001 0.2153

P-44

Phụ lục 5. Dữ liệu nghiên cứu nội dung số 4

TPC (mgGAE/g ck)

40oC-75%

40oC-90%

60oC-75%

60oC-90%

Thời gian (Ngày)

Mean

SEM

N

Mean

SEM

N

Mean

SEM N Mean

SEM N

0

32.05

0.01

3

32.05

0.01

3

32.05

0.01

3

32.05

0.01

3

10

30.47

0.22

3

30.71

0.38

3

31.11

0.01

3

30.77

0.00

3

20

30.44

0.05

3

29.59

0.26

3

29.71

0.18

3

26.21

0.20

3

30

29.10

0.16

3

28.17

0.09

3

29.58

0.02

3

24.51

0.13

3

40

29.00

0.05

3

27.53

0.01

3

28.90

0.15

3

24.41

0.17

3

50

28.76

0.12

0.03

3

27.66

0.02

3

24.06

0.10

3

F (DFn, DFd) F (15, 40) = 72.57 F (5, 40) = 917.2 F (3, 8) = 386.6 F (8, 40) = 1.704

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.1274

Table Analyzed ANOVA table Time x Column Factor Time Column Factor Subject Residual

3 27.73 Storage_TPC (mgGAE/g)* SS 56.65 238.7 102.9 0.7095 2.082

DF 15 5 3 8 40

MS 3.777 47.73 34.29 0.08869 0.05204

Mean Diff.

95.00% CI of diff. Below threshold?

Summary

Individual P Value

0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000

-0.3959 to 0.3959 -0.3959 to 0.3959 -0.3959 to 0.3959 -0.3959 to 0.3959 -0.3959 to 0.3959 -0.3959 to 0.3959

No No No No No No

ns ns ns ns ns ns

>0.9999 >0.9999 >0.9999 >0.9999 >0.9999 >0.9999

-1.026 -1.095 -4.701 -0.06835 -3.675 -3.607

-1.422 to -0.6305 -1.491 to -0.6989 -5.097 to -4.306 -0.4642 to 0.3275 -4.071 to -3.279 -4.003 to -3.211

Yes Yes Yes No Yes Yes

**** **** **** ns **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 0.7300 <0.0001 <0.0001

Fisher's LSD 0 40oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-75% 60oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 60oC-75% 50 40oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-75% 60oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 60oC-75% 40oC-75% 10 vs. 0 20 vs. 0 30 vs. 0 40 vs. 0 50 vs. 0 20 vs. 10 30 vs. 10 40 vs. 10 50 vs. 10 30 vs. 20 40 vs. 20 50 vs. 20 40 vs. 30 50 vs. 30 50 vs. 40

-1.580 -1.607 -2.945 -3.048 -3.287 -0.02663 -1.365 -1.468 -1.707 -1.339 -1.441 -1.681 -0.1021 -0.3417 -0.2397

-1.956 to -1.204 -1.983 to -1.230 -3.322 to -2.569 -3.424 to -2.671 -3.664 to -2.911 -0.4031 to 0.3498 -1.742 to -0.9890 -1.844 to -1.091 -2.084 to -1.331 -1.715 to -0.9624 -1.817 to -1.064 -2.057 to -1.304 -0.4785 to 0.2744 -0.7182 to 0.03473 -0.6161 to 0.1368

Yes Yes Yes Yes Yes No Yes Yes Yes Yes Yes Yes No No No

**** **** **** **** **** ns **** **** **** **** **** **** ns ns ns

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.8870 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.5867 0.0740 0.2056

DPPH (mgTE/g ck)

40oC-75%

40oC-90%

60oC-75%

60oC-90%

Thời gian (Ngày)

Mean

SEM

N Mean

SEM

N

Mean

SEM

N Mean

SEM N

0

98.99

0.33

3

98.99

0.33

3

98.99

0.33

3

98.99

0.33

3

10

92.12

0.27

3

91.15

0.09

3

90.61

0.10

3

88.16

0.44

3

20

91.80

0.35

3

91.56

0.36

3

85.53

1.18

3

81.86

0.18

3

30

91.44

0.37

3

91.56

0.37

3

86.39

0.41

3

80.83

1.53

3

40

91.59

0.47

3

91.64

0.93

3

73.63

2.23

3

68.90

0.97

3

50

89.09

0.13

3

90.66

0.46

3

72.46

0.42

3

65.25

0.72

3

P-45

F (DFn, DFd) F (15, 40) = 49.02 F (5, 40) = 346.1 F (3, 8) = 459.5 F (8, 40) = 0.8182

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.5911

Table Analyzed ANOVA table Time x Column Factor Time Column Factor Subject Residual

Storage_DPPH (mgTE/g)* SS 1245 2929 1909 11.08 67.71

DF 15 5 3 8 40

MS 82.98 585.8 636.4 1.385 1.693

Mean Diff.

95.00% CI of diff.

Below threshold?

Summary

Individual P Value

0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000

-2.103 to 2.103 -2.103 to 2.103 -2.103 to 2.103 -2.103 to 2.103 -2.103 to 2.103 -2.103 to 2.103

No No No No No No

ns ns ns ns ns ns

>0.9999 >0.9999 >0.9999 >0.9999 >0.9999 >0.9999

1.577 -16.63 -23.84 -18.20 -25.42 -7.214

-0.5266 to 3.680 -18.73 to -14.52 -25.94 to -21.74 -20.31 to -16.10 -27.52 to -23.31 -9.318 to -5.111

No Yes Yes Yes Yes Yes

ns **** **** **** **** ****

0.1383 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

Fisher's LSD 0 40oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-75% 60oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 60oC-75% 50 40oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-75% 60oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 60oC-75% 40oC-75% 10 vs. 0 20 vs. 0 30 vs. 0 40 vs. 0 50 vs. 0 20 vs. 10 30 vs. 10 40 vs. 10 50 vs. 10 30 vs. 20 40 vs. 20 50 vs. 20 40 vs. 30 50 vs. 30 50 vs. 40

-6.872 -7.195 -7.555 -7.399 -9.907 -0.3224 -0.6824 -0.5267 -3.035 -0.3600 -0.2043 -2.713 0.1557 -2.353 -2.508

-9.019 to -4.725 -9.341 to -5.048 -9.701 to -5.408 -9.546 to -5.252 -12.05 to -7.760 -2.469 to 1.825 -2.829 to 1.465 -2.674 to 1.620 -5.182 to -0.8881 -2.507 to 1.787 -2.351 to 1.943 -4.860 to -0.5658 -1.991 to 2.303 -4.500 to -0.2057 -4.655 to -0.3615

Yes Yes Yes Yes Yes No No No Yes No No Yes No Yes Yes

**** **** **** **** **** ns ns ns ** ns ns * ns * *

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.7631 0.5243 0.6228 0.0068 0.7364 0.8485 0.0146 0.8842 0.0325 0.0232

ABTS (mgTE/g ck)

40oC-75%

40oC-90%

60oC-75%

60oC-90%

Thời gian (Ngày)

Mean

SEM

N

Mean

SEM

N

Mean

SEM N Mean

SEM N

0

107.44

1.04

3

107.44

1.04

3

107.44

1.04

3

107.44

1.04

3

10

100.61

0.65

3

93.35

1.44

3

92.30

0.27

3

92.15

0.98

3

20

98.88

0.35

3

92.33

4.32

3

91.57

1.69

3

88.04

0.70

3

30

93.35

0.37

3

87.69

1.25

3

74.15

0.90

3

65.75

1.61

3

40

91.92

0.40

3

88.26

0.26

3

75.81

0.49

3

61.47

0.60

3

50

83.40

0.90

3

77.65

1.67

3

61.93

1.95

3

49.51

1.38

3

F (DFn, DFd) F (15, 40) = 25.09 F (5, 40) = 435.3 F (3, 8) = 164.3 F (8, 40) = 1.360

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.2435

Table Analyzed ANOVA table Time x Column Factor Time Column Factor Subject Residual

Storage_ABTS (mgTE/g)* SS 2010 11623 3579 58.10 213.6

DF 15 5 3 8 40

MS 134.0 2325 1193 7.262 5.340

Mean Diff.

95.00% CI of diff.

Below threshold?

Summary

Individual P Value

Fisher's LSD 0 40oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-75% 60oC-90% vs. 40oC-75%

0.000 0.000 0.000

-3.906 to 3.906 -3.906 to 3.906 -3.906 to 3.906

No No No

ns ns ns

>0.9999 >0.9999 >0.9999

P-46

0.000 0.000 0.000

-3.906 to 3.906 -3.906 to 3.906 -3.906 to 3.906

No No No

ns ns ns

>0.9999 >0.9999 >0.9999

-5.747 -21.47 -33.88 -15.72 -28.14 -12.42

-9.653 to -1.841 -25.38 to -17.56 -37.79 to -29.98 -19.63 to -11.82 -32.04 to -24.23 -16.32 to -8.509

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

** **** **** **** **** ****

0.0048 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

60oC-75% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 60oC-75% 50 40oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-75% 60oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 60oC-75% 40oC-75% 10 vs. 0 20 vs. 0 30 vs. 0 40 vs. 0 50 vs. 0 20 vs. 10 30 vs. 10 40 vs. 10 50 vs. 10 30 vs. 20 40 vs. 20 50 vs. 20 40 vs. 30 50 vs. 30 50 vs. 40

-6.831 -8.557 -14.09 -15.52 -24.04 -1.725 -7.262 -8.690 -17.21 -5.537 -6.965 -15.49 -1.428 -9.950 -8.522

-10.64 to -3.018 -12.37 to -4.743 -17.91 to -10.28 -19.33 to -11.71 -27.86 to -20.23 -5.539 to 2.088 -11.08 to -3.449 -12.50 to -4.877 -21.03 to -13.40 -9.350 to -1.723 -10.78 to -3.152 -19.30 to -11.67 -5.241 to 2.385 -13.76 to -6.137 -12.34 to -4.708

Yes Yes Yes Yes Yes No Yes Yes Yes Yes Yes Yes No Yes Yes

*** **** **** **** **** ns *** **** **** ** *** **** ns **** ****

0.0008 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.3659 0.0004 <0.0001 <0.0001 0.0055 0.0007 <0.0001 0.4535 <0.0001 <0.0001

αAI (mg/mL)

40oC-75%

40oC-90%

60oC-75%

60oC-90%

Thời gian (Ngày)

Mean

SEM

N

Mean

SEM

N

Mean

SEM N Mean

SEM N

0

0.192

0.003

3

0.192

0.003

3

0.192

0.003

3

0.192

0.003

3

10

0.144

0.000

3

0.150

0.000

3

0.172

0.002

3

0.201

0.000

3

20

0.205

0.001

3

0.208

0.001

3

0.229

0.001

3

0.221

0.002

3

30

0.164

0.000

3

0.194

0.003

3

0.230

0.004

3

0.278

0.001

3

0.004

0.184

3

0.220

0.001

3

0.415

0.001

3

0.679

0.000

3

F (DFn, DFd) F (15, 40) = 2945 F (5, 40) = 12052 F (3, 8) = 8001 F (8, 40) = 1.438

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.2110

40 Table Analyzed ANOVA table Time x Column Factor Time Column Factor Subject Residual

Storage_aAI (mg/mL)* SS 0.6347 0.8659 0.4960 0.0001653 0.0005748

DF 15 5 3 8 40

MS 0.04232 0.1732 0.1653 2.066e-005 1.437e-005

Mean Diff.

95.00% CI of diff.

Below threshold?

Summary

Individual P Value

0.000 0.000 0.000 0.000 0.000 0.000

-0.006446 to 0.006446 -0.006446 to 0.006446 -0.006446 to 0.006446 -0.006446 to 0.006446 -0.006446 to 0.006446 -0.006446 to 0.006446

No No No No No No

ns ns ns ns ns ns

>0.9999 >0.9999 >0.9999 >0.9999 >0.9999 >0.9999

0.01568 0.2396 0.5708 0.2239 0.5551 0.3312

0.009238 to 0.02213 0.2332 to 0.2461 0.5644 to 0.5773 0.2175 to 0.2304 0.5487 to 0.5616 0.3248 to 0.3377

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

Fisher's LSD 0 40oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-75% 60oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 60oC-75% 50 40oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-75% 60oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 60oC-75% 40oC-75% 10 vs. 0 20 vs. 0 30 vs. 0

-0.05397 to -0.04146 0.006249 to 0.01876 -0.03410 to -0.02159

Yes Yes Yes

**** *** ****

<0.0001 0.0002 <0.0001

40 vs. 0 50 vs. 0

-0.04771 0.01250 -0.02785 - 0.007930 0.06829

-0.01419 to -0.001675 0.06204 to 0.07455

Yes Yes

* ****

0.0143 <0.0001

P-47

20 vs. 10 30 vs. 10 40 vs. 10 50 vs. 10 30 vs. 20 40 vs. 20 50 vs. 20 40 vs. 30 50 vs. 30 50 vs. 40

0.06022 0.01987 0.03978 0.1160 -0.04035 -0.02043 0.05579 0.01992 0.09614 0.07622

0.05396 to 0.06647 0.01361 to 0.02612 0.03353 to 0.04604 0.1098 to 0.1223 -0.04661 to -0.03410 -0.02669 to -0.01418 0.04953 to 0.06204 0.01366 to 0.02617 0.08989 to 0.1024 0.06997 to 0.08248

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** **** **** **** **** **** **** ****

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

αGI (mg/mL)

40oC-75%

40oC-90%

60oC-75%

60oC-90%

Thời gian (Ngày)

Mean

SEM

N

Mean

SEM

N

Mean

SEM N Mean

SEM N

3

0

0.009

0.000

3

0.009

0.000

0.009

0.000

3

0.009

0.000

3

3

10

0.033

0.000

3

0.031

0.000

0.026

0.000

3

0.028

0.000

3

3

20

0.031

0.000

3

0.030

0.000

0.034

0.000

3

0.033

0.001

3

3

30

0.031

0.001

3

0.033

0.000

0.038

0.000

3

0.048

0.001

3

3

40

0.040

0.001

3

0.041

0.001

0.054

0.000

3

0.070

0.000

3

3

0.001

3

0.060

0.000

0.062

0.001

3

0.075

0.001

3

0.050

F (DFn, DFd) F (15, 40) = 135.2 F (5, 40) = 4346 F (3, 8) = 302.7 F (8, 40) = 1.615

P value P<0.0001 P<0.0001 P<0.0001 P=0.1512

DF 15 5 3 8 40

50 Table Analyzed ANOVA table Time x Column Factor Time Column Factor Subject Residual

Storage_aGI (mg/mL)* SS 0.001873 0.02008 0.001355 1.194e-005 3.696e-005

MS 0.0001249 0.004016 0.0004517 1.492e-006 9.241e-007

Below

Mean Diff.

95.00% CI of diff.

threshold? Summary

Individual P Value

No No No No No No

ns ns ns ns ns ns

0.000 6.939e-018 0.000 0.000 0.000 -6.939e-018

-0.001657 to 0.001657 -0.001657 to 0.001657 -0.001657 to 0.001657 -0.001657 to 0.001657 -0.001657 to 0.001657 -0.001657 to 0.001657

>0.9999 >0.9999 >0.9999 >0.9999 >0.9999 >0.9999

Yes Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** ** **** ****

0.009620 0.01209 0.02474 0.002467 0.01512 0.01265

0.007963 to 0.01128 0.01043 to 0.01374 0.02308 to 0.02640 0.0008103 to 0.004124 0.01346 to 0.01678 0.01099 to 0.01431

<0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0043 <0.0001 <0.0001

Fisher's LSD 0 40oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-75% 60oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 60oC-75% 50 40oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-75% 60oC-90% vs. 40oC-75% 60oC-75% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 40oC-90% 60oC-90% vs. 60oC-75% 40oC-75% 10 vs. 0 20 vs. 0 30 vs. 0 40 vs. 0 50 vs. 0 20 vs. 10 30 vs. 10 40 vs. 10 50 vs. 10 30 vs. 20 40 vs. 20 50 vs. 20 40 vs. 30 50 vs. 30 50 vs. 40

Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes Yes No Yes Yes Yes Yes Yes

**** **** **** **** **** * * **** **** ns **** **** **** **** ****

0.02420 0.02219 0.02225 0.03156 0.04111 -0.002017 -0.001954 0.007356 0.01691 6.233e-005 0.009373 0.01893 0.009311 0.01887 0.009554

0.02262 to 0.02579 0.02060 to 0.02377 0.02066 to 0.02383 0.02997 to 0.03314 0.03953 to 0.04270 -0.003603 to -0.0004304 -0.003541 to -0.0003680 0.005770 to 0.008943 0.01532 to 0.01850 -0.001524 to 0.001649 0.007787 to 0.01096 0.01734 to 0.02051 0.007724 to 0.01090 0.01728 to 0.02045 0.007968 to 0.01114

<0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 0.0140 0.0170 <0.0001 <0.0001 0.9371 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001 <0.0001

P-48