111
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG Tập 11, Số 1 (2025): 111 - 120
*Email: h.ng.anh@gmail.com
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Tập 11, Số 1 (2025): 111 - 120
HUNG VUONG UNIVERSITY
JOURNAL OF SCIENCE AND TECHNOLOGY
Vol. 11, No. 1 (2025): 111 - 120
Email: tapchikhoahoc@hvu.edu.vn Website: www.jst.hvu.edu.vn
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN CHẾ PHẨM VI SINH
ĐỂ SẢN XUẤT PHÂN HỮU CƠ SINH HỌC TỪ PHÂN GÀ
PHỤC VỤ TRỒNG RỪNG NGUYÊN LIỆU GIẤY
Hà Ngọc Anh1*, Triệu Hoàng Sơn1, Nguyễn Văn Chinh1, Bùi Đức Giang1
1Viện Nghiên cứu Cây nguyên liệu giấy, Phú Thọ
Ngày nhận bài: 05/3/2025; Ngày chỉnh sửa: 15/3/2025; Ngày duyệt đăng: 18/3/2025
DOI: https://doi.org/10.59775/1859-3968.272
Tóm tắt
Sdụng phân bón hữu cơ không chỉ giúp cung cấp thêm dinh dưỡng cho cây mà còn cải thiện môi trường đất.
Hiện nay, các hoạt động chăn nuôi gia cầm ngày càng quy lớn và thường tập trung thành các trang trại,
nên tiềm năng rất lớn để cung cấp nguồn phân hữu cơ. Nghiên cứu này nhằm tìm ra loại chế phẩm vi sinh
phù hợp để xử lý phân gà thành phân hữu cơ sinh học phục vụ trồng rừng nguyên liệu giấy. Ba chế phẩm vi sinh
vật (Sagi Bio, EMIC, BIOADB) đã được sử dụng để so sánh hiệu quả. Kết quả cho thấy chế phẩm BIOADB
Sagi Bio phù hợp để ủ phân gà thành phân hữu cơ. Sau khi ủ 4 tuần, phân hữu cơ hàm lượng N tổng số,
P2O5 hữu hiệu và K2O hữu hiệu cao hơn so với các công thức còn lại, hạn chế sự phát triển của vi khuẩn E. coli,
phân có hàm lượng chất hữu cơ đạt yêu cầu. Sử dụng phân hữu cơ được xử lý bởi cả 3 loại chế phẩm trên với
liều lượng 700 g/cây cho kết quả sinh trưởng Keo lai đều cao hơn công thức đối chứng vượt xa công thức nền
(không bón phân). Kết quả nghiên cứu đã gợi mở tiềm năng sản xuất phân hữu từ nguồn nguyên liệu phân
gà nhằm phục vụ cho trồng rừng nguyên liệu giấy theo hướng bền vững.
Từ khóa: Chế phẩm vi sinh vật, phân gà, phân hữu cơ, rừng trồng.
1. Đặt vấn đề
Phân bón vật đóng vai trò quan trọng,
góp phần tăng năng suất, chất lượng rừng
trồng và duy trì độ phì của đất. Hiện nay, các
đơn vị trồng rừng chủ yếu sử dụng phân tổng
hợp NPK để bón cho cây [1]. Đây nguồn
bổ sung dinh dưỡng rất cần thiết, tuy nhiên
sẽ không thể áp dụng lâu dài nguy thoái
hoá đất trồng rừng là rất lớn, nhất là khi chu
kỳ kinh doanh rừng trồng xu hướng ngày
càng rút ngắn. Về lâu dài sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến năng suất, chất lượng rừng trồng.
Phát triển phân bón hữu cơ là hướng đi tất
yếu của nông nghiệp Việt Nam nói chung,
trồng rừng sản xuất nói riêng. Phân hữu
không chỉ giúp cung cấp thêm dinh dưỡng
cho cây mà còn cải thiện môi trường đất. Vì
thế, ngày 07 tháng 01 năm 2020, Bộ Nông
nghiệp Phát triển nông thôn đã ban hành
Chỉ thị số 117/CT-BNN-BVTV về tăng
112
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG Hà Ngọc Anh và ctv.
cường phát triển sử dụng phân bón hữu
[2]. Trong thời gian qua, các cấp, các
ngành, địa phương đã nhiều giải pháp
để phát triển phân bón hữu cơ. Tuy nhiên,
tình trạng sử dụng phân bón mất cân đối còn
phổ biến, việc sản xuất và sử dụng phân bón
hữu chưa tương xứng với nguồn nguyên
liệu sẵn trong nước. Trong ngành nông
lâm nghiệp, loại phân bón này chủ yếu được
nghiên cứu ứng dụng đối với cây trồng
nông nghiệp và cây ngắn ngày, trong khi cây
đối với lâm nghiệp còn rất hạn chế.
Nhận thấy lợi ích của sử dụng phân bón
hữu cơ, gần đây một số đơn vị đã sử dụng
phân gia cầm (phân gà) để bón cho rừng
trồng. So với các loại phân chuồng khác,
phân ưu điểm hàm lượng dinh dưỡng
cao, dễ sử dụng. Hơn thế nữa, hiện nay các
hoạt động chăn nuôi ngày càng quy
lớn hơn thường tập trung thành các trang
trại, nên tiềm năng rất lớn để cung cấp
nguồn phân hữu [3]. Tuy nhiên, việc sử
dụng phân chuồng chưa qua chế biến thể
mang đến một số nấm bệnh cho cây trồng,
nhất là trong điều kiện trồng rừng thuần loài
tập trung như hiện nay.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên,
nghiên cứu này nhằm tìm ra loại chế phẩm
vi sinh phù hợp để xử lý phân gà thành phân
hữu sinh học phục vụ trồng rừng nguyên
liệu giấy, góp phần nâng cao năng suất, chất
lượng rừng trồng, hướng tới nhiệm vụ
phát triển lâm nghiệp bền vững.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu nghiên cứu
- Phân gà: Được lấy từ trại đẻ trứng
thương phẩm, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Chế phẩm vi sinh vật: 3 chế phẩm vi sinh
vật được chọn để đưa vào thử nghiệm gồm:
có Sagi Bio, EMIC và BIOADB. Đây đều
các sản phẩm hiện đang được bán ngoài thị
trường. Thành phần chính của các chế phẩm
này như sau: (1) Sagi Bio: Vi khuẩn Bacillus
≥108 CFU/ml, Xạ khuẩn Streptomyces
≥108 CFU/ml; (2) EMIC: Bacillus sp. >108
CFU/g, Lactobacillus sp. >108 CFU/g,
Saccharomyces sp. (nấm men) >108 CFU/g;
(3) BIOADB: Streptomyces owasiensis
≥108 CFU/g, Bacillus polyfermenticus ≥108
CFU/g, Saccharomyces cerevisiae ≥108
CFU/g.
2.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm
2.2.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của loại chế
phẩm vi sinh thời gian đến hiệu quả
phân gà
- Thí nghiệm được tiến hành từ tháng
01/2022 đến 9/2022 tại Viện Nghiên cứu cây
nguyên liệu giấy Phù Ninh, huyện Phù
Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- Công thức thí nghiệm: Gồm 4 công thức
thí nghiệm, trong đó 3 công thức sử dụng
các chế phẩm vi sinh vật để ủ, 01 công thức
không sử dụng chế phẩm để làm đối chứng
(Bảng 1).
Bảng 1. Công thức thí nghiệm ủ phân gà
TT Công thức thí nghiệm Loại chế phẩm vi sinh vật Ghi chú
1 CT1 Sagi Bio
- Liều lượng sử dụng theo khuyến cáo của
nhà cung cấp sản phẩm
- Thời gian ủ 90 ngày.
2 CT2 EMIC
3 CT3 BIOADB
4 Đối chứng Không sử dụng
113
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG Tập 11, Số 1 (2025): 111 - 120
- Bố trí thí nghiệm: Mỗi công thức thí
nghiệm được bố trí thành một đống với
lượng nguyên liệu 1.000 kg lặp lại 03
lần. Các đống ủ được bố trí ngẫu nhiên hoàn
toàn bằng cách bốc thăm (Hình 1).
Lặp 3 Lặp 2 Lặp 1
CT2
(EMIC)
CT0
(Đối chứng)
CT1
(Sagi Bio)
CT3
(BIOADB)
CT1
(Sagi Bio)
CT3
(BIOADB)
CT1
(Sagi Bio)
CT2
(EMIC)
CT0
(Đối chứng)
CT0
(Đối chứng)
CT3
(BIOADB)
CT2
(EMIC)
Hình 1. Sơ đồ bố trí công thức ủ phân gà
- Biện pháp kỹ thuật:
+ Xử bộ phân gà: Phân sau khi
thu gom về được tập kết thành đống, đảo trộn
đều, điều chỉnh độ ẩm về mức 45-50%.
+ Phối trộn nguyên liệu ủ: Tại nơi ủ,
phân được trộn đều rồi rải thành lớp dày
30 cm trước khi rắc hoặc tưới dịch chế phẩm
vi sinh vật, làm liên tục cho đến khi hết khối
lượng nguyên liệu cần dùng cho một bể. Với
công thức đối chứng, tiến hành như các công
thức khác nhưng dùng nước sạch thay cho
chế phẩm vi sinh vật. Đống nguyên liệu sau
phối trộn cần độ ẩm đạt 50-55%. Nếu
nguyên liệu khô, cần bổ sung thêm nước.
Tiến hành tạo đống ủ có chiều cao từ 1,0-1,2
m, rộng 1,5-2,0 m chiều dài phù hợp với
lượng nguyên liệu đem ủ. Không nén chặt
đống ủ, đảm bảo độ xốp trong đống ủ. Che
kín bề mặt đống ủ bằng bạt.
+ Đảo trộn 3 lần, mỗi lần cách nhau 1 tuần
kể từ ngày ủ. Tưới bổ sung thêm nước nếu
đống ủ bị khô.
+ Kết thúc quá trình ủ: Sản phẩm được dỡ
ra và đảo trộn, đánh đống để nguyên từ 1
đến 2 tuần với mục đích ổn định chất lượng.
Bảo quản phân hữu trong điều kiện nhiệt
độ không khí bình thường, khô ráo, thoáng
mát tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng
mặt trời.
- Thu thập số liệu:
+ Hàng ngày, tiến hành đo nhiệt độ của
đống môi trường không khí tại cùng một
thời điểm. Nhiệt độ đống ủ được đo ở các độ
sâu 30 cm, 60 cm và 90 cm.
+ Độ ẩm đống ủ được thu thập tại các thời
điểm đảo trộn, sau đó cứ 1 tuần đo một lần.
+ Lấy mẫu để phân tích: Mẫu phân tích
gồm nguyên liệu (phân sau khi xử
bộ) mùn hữu trong quá trình ủ. Thời
điểm lấy mẫu: Trong 06 tuần đầu sau ủ, cứ
1 tuần lấy mẫu một lần. Lấy thêm mẫu
các thời điểm 60 ngày 90 ngày sau ủ. Số
lượng mẫu: Tại các thời điểm lấy mẫu, mỗi
công thức thí nghiệm lấy 01 mẫu để phân
tích; Mẫu này được lấy trên nguyên tắc trộn
đều từ mẫu được lấy các lặp các độ sâu
khác nhau (30 cm, 60 cm 90 cm); Tổng số
mẫu phân tích 33 mẫu, trong đó 01 mẫu
là nguyên liệu, 32 mẫu mùn hữu cơ được lấy
tại 08 thời điểm.
+ Chỉ tiêu đánh giá chất lượng mùn hữu
gồm: Hàm lượng chất hữu cơ (OM), Tỷ lệ
C/N, Hàm lượng Nts, P2O5 hữu hiệu, K2O hữu
hiệu, Vi khuẩn E. coli, Vi khuẩn Salmonella.
2.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng
phân bón hữu cơ đến sinh trưởng rừng trồng
nguyên liệu giấy
Hiệu quả của 3 loại phân sử dụng chế
phẩm vi sinh vật để ủ được tạo ra từ kết quả
trên được sử dụng để nghiên cứu. Giống Keo
lai BV10 được trồng thí nghiệm tại Công ty
Lâm nghiệp Xuân Đài, huyện Tân Sơn, Phú
Thọ. Phương pháp bố trí thí nghiệm (công
thức thí nghiệm, diện tích ô khảo nghiệm
bố trí ô khảo nghiệm) được thực hiện theo
tiêu chuẩn quốc gia TCVN 12720:2019 về
114
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG Hà Ngọc Anh và ctv.
Khảo nghiệm phân bón cho cây trồng lâu năm [4]. Công thức thí nghiệm cụ thể được mô tả
chi tiết tại bảng 2.
Bảng 2. Công thức thí nghiệm khảo nghiệm diện hẹp
TT Công thức thí nghiệm Loại phân Liều lượng (g/cây)
1 KNDH01
Phân hữu cơ 1 (Sagi Bio)
300
2KNDH02 500
3KNDH03 700
4KNDH04
Phân hữu cơ 2 (EMIC)
300
5KNDH05 500
6KNDH06 700
7KNDH07
Phân hữu cơ 3 (BIOADB)
300
8KNDH08 500
9KNDH09 700
10 Công thức nền Không sử dụng phân bón -
11 Công thức đối chứng* Phân hữu cơ đang được Tổng công ty sử dụng
(NEW ECO 02) 500
* Vận dụng theo Quy trình kỹ thuật trồng
rừng cung cấp gỗ nguyên liệu của Tổng công
ty Giấy Việt Nam ban hành kèm theo Quyết
định số 157/QĐ-GVN.HN ngày 25/01/2021
[5].
- Bố trí ô khảo nghiệm: Được bố trí theo
phương pháp thí nghiệm đồng ruộng kiểu
khối ngẫu nhiên đầy đủ, mỗi công thức thí
nghiệm khảo nghiệm được lặp lại 04 lần.
Diện tích mỗi ô khảo nghiệm 100 m2
(tương đương để trồng 20 cây mật độ 2.000
cây/ha, cự ly hàng cách hàng 2,5 m, cây cách
cây 2,0 m). Bố trí thí nghiệm khảo nghiệm
diện hẹp được mô phỏng như hình 2.
12345678910 11 Lặp 4
95624811 1 7 10 3Lặp 3
110 92534 6 8 7 11 Lặp 2
411 7356810 1 9 2Lặp 1
Hình 2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm khảo nghiệm diện hẹp
- Biện pháp kỹ thuật: Áp dụng Quy trình
kỹ thuật trồng rừng hiện hành của Tổng công
ty Giấy Việt Nam, đồng thời đảm bảo nguyên
tắc đồng nhất cho các công thức thí nghiệm
trong quá trình thiết lập chăm sóc rừng
trồng.
115
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG Tập 11, Số 1 (2025): 111 - 120
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Ảnh hưởng của loại chế phẩm vi sinh và thời gian ủ đến hiệu quả phân gà
3.1.1. Diễn biến nhiệt độ đống ủ
CT đối chứng CT1 (Sagi Bio)
CT2 (EMIC) CT3 (BIOADB)
Hình 3. Diễn biến nhiệt độ đống ủ trong 90 ngày ở các vị trí 30cm,
60cm và 90cm của 4 công thức thí nghiệm
Sau khi 3-5 ngày, nhiệt độ trong đống
ủ ở tất cả các công thức thí nghiệm đều tăng
mạnh đạt mức cao nhất ngay sau đó.
Trong khi nhiệt độ cao nhất công thức đối
chứng chỉ khoảng 45oC, các công thức sử
dụng chế phẩm vi sinh vật đạt nhiệt độ mức
trên dưới 60oC (Hình 3). Đây là sự khác biệt
ràng giữa các công thức sử dụng chế phẩm
với công thức đối chứng.
Quá trình kéo dài nhiệt độ cao nhất của
đống công thức CT1 CT3 diễn ra trong
khoảng 20 ngày, từ ngày thử 4 đến ngày 24,
dao động mức 60oC; CT2 từ ngày thứ
6-33 (gần 30 ngày), duy trì trong khoảng 58-
59oC. Trong khi đó, công thức đối chứng
quá trình này diễn ra chậm hơn, dài hơn (gần
50 ngày), nhiệt độ cao nhất cũng chỉ trong
khoảng 40-45oC.
Ngay sau giai đoạn duy trì mức cao nhất,
nhiệt độ đống các công thức bắt đầu giảm.
Quá trình giảm nhiệt độ đống sự khác
biệt lớn giữa các công thức. CT3 được xem