
289
ĐỀ TÀI KHOA HỌC
SỐ: 2.2.14-CS06
NGHIÊN CỨU NỘI DUNG VÀ CƠ CHẾ TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ THỐNG KÊ
1. Cấp đề tài : Cơ sở
2. Thời gian nghiên cứu : 2006
3. Đơn vị chủ trì : Trung tâm Tƣ liệu Thống kê
4. Đơn vị quản lý : Viện Khoa học Thống kê
5. Chủ nhiệm đề tài : CN. Dƣơng Tiến Bích
6. Những ngƣời phối hợp nghiên cứu:
CN. Lê Thúy Quỳnh
CN. Ngô Thị Nhƣợng
CN. Trần Đức Tiến
CN. Lê Thị Phƣợng
CN. Nguyễn Thị Xuân Mai
CN. Nguyễn Thị Hồng Hải
CN. Hoàng Trung Việt
CN. Nguyễn Bá Khoáng
TS. Trần Kim Đồng
7. Điểm đánh giá nghiệm thu đề tài: 8,76 / Xếp loại: Khá

290
PHẦN I
SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU NỘI DUNG VÀ CƠ CHẾ TỔ
CHỨC HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ THỐNG KÊ, THỰC TRẠNG HOẠT
ĐỘNG DỊCH VỤ THỐNG KÊ VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG
DỊCH VỤ THỐNG KÊ
I. Sự cần thiết của việc “nghiên cứu nội dung và cơ chế tổ chức hoạt
động dịch vụ thống kê”
1. Xuất phát từ tầm quan trọng của thông tin nói chung và thông tin thống
kê nói riêng
Trong thời đại ngày nay thông tin đƣợc coi là năng lƣợng thiết yếu, là
sức mạnh của quyền lực và ngày càng trở thành một trong những yếu tố cấu
thành lực lƣợng sản xuất xã hội. Trong bối cảnh nhƣ vậy, nếu không muốn bị
xếp vào đội ngũ những ngƣời chậm, những nền kinh tế chậm và quốc gia
chậm thì trƣớc hết phải sở hữu và thƣờng xuyên cập nhật đƣợc khối lƣợng
lớn thông tin, trong đó có thông tin thống kê. Quá trình đổi mới và hội nhập
quốc tế, ngành Thống kê đang đứng trƣớc yêu cầu đòi hỏi khối lƣợng thông
tin thống kê phong phú và đa dạng phục vụ các đối tƣợng dùng tin.
2. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới hoạt động thống kê trong nền kinh tế thị trường
Hiện nay, chúng ta đang kiến tạo nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng
XHCN có sự quản lý của Nhà nƣớc, muốn có đƣợc một khối lƣợng lớn những
thông tin mới giúp cho việc nghiên cứu và triển khai thì ngƣời sản xuất và
ngƣời sử dụng thông tin đều phải có cách tiếp cận mới:
- Đối với ngƣời sản xuất thông tin thì phải nhận thức đầy đủ theo phƣơng
châm “hƣớng về khách hàng”, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin
thống kê của mọi đối tƣợng dùng tin, chứ không bó hẹp trong một số đối tƣợng
nhƣ thời kỳ bao cấp trƣớc đây.
- Đối với ngƣời sử dụng thông tin cũng không chỉ trông chờ vào việc
cung cấp thông tin miễn phí của các cơ quan thống kê, mà phải chấp nhận một
số thông tin thống kê đƣợc cung cấp theo các hình thức dịch vụ thống kê.
Nhƣ vậy, bên cạnh việc duy trì cơ chế cung cấp thông tin miễn phí ngành
Thống kê còn phải triển khai và mở rộng hình thức dịch vụ thống kê để tăng
cƣờng và đa dạng hoá lƣợng thông tin nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của ngƣời
dùng tin trong thời kỳ đổi mới.

291
3. Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của Tổng cục Thống kê và Trung tâm
Tư liệu Thống kê
- Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Tổng cục Thống kê
- Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm Tƣ liệu Thống kê.
4. Xuất phát từ vai trò to lớn của dịch vụ thống kê và tính phổ biến của
hoạt động này của các tổ chức thống kê quốc gia và quốc tế cũng như yêu
cầu thực tế ở Việt Nam hiện nay
- Trong những năm qua ngành Thống kê nƣớc ta đã có nhiều đổi mới về
phƣơng pháp nghiệp vụ nên đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin của các đối
tƣợng. Nhƣng với nguồn ngân sách Nhà nƣớc cấp hàng năm rất hạn hẹp thì
ngành Thống kê không thể thoả mãn mọi nhu cầu thông tin của tất cả các đối
tƣợng sử dụng trong nƣớc và quốc tế. Để bù đắp lỗ hổng này, giải pháp tốt
nhất là triển khai hoạt động dịch vụ thống kê.
- Trong một số nền kinh tế, dịch vụ này không chỉ tiến hành nhằm thu
thập thông tin chuyên sâu về một ngành, một lĩnh vực nào đó cho các doanh
nghiệp, các nhà đầu tƣ, các nhà nghiên cứu mà còn tiến hành theo đơn đặt
hàng của các cơ quan của Chính phủ, thậm chí của Chính phủ. Thí dụ, thống
kê Thái Lan, Úc, Philippin và thống kê của một số nƣớc khác. Nhiều tổ chức
quốc tế nhƣ UNDP, UNICEP, ILO, UNFPA, WB, IMF, ADB... đều tiến hành
hàng loạt các cuộc điều tra thống kê bằng hình thức dịch vụ/đơn đặt hàng
điều tra thống kê cho các cơ quan thống kê Nhà nƣớc.
- Ở Việt Nam, một bộ phận ngƣời sử dụng thông tin thống kê bƣớc đầu
cũng đã quen dần với khái niệm và hoạt động dịch vụ thống kê. Năm 2006,
Tổng cục Thống kê đã tiến hành điều tra nhu cầu thông tin của các đối tƣợng
sử dụng. Khi phỏng vấn 437 đối tƣợng về dịch vụ thống kê thì 351 đối tƣợng
cho rằng nên tổ chức dịch vụ thống kê, chiếm 80,3% tổng số ngƣời đƣợc hỏi
ý kiến; 51 đối tƣợng cho rằng không nên tổ chức, chiếm 11,7% tổng số và 35
đối tƣợng không trả lời, chiếm 8,0% tổng số. Nhƣ vậy là số người chấp nhận
dịch vụ thống kê chiếm tỷ lệ khá cao với mức trên 80%.
II. Thực trạng hoạt động dịch vụ thống kê hiện nay
1. Thực trạng hoạt động dịch vụ thông tin thống kê
*Những kết quả đạt đƣợc thể hiện trên ba mặt chủ yếu sau:
Một là, đối tượng thông tin mở rộng hơn: Hiện nay, ngoài những đối
tƣợng thông tin nhƣ trƣớc đây, thông tin thống kê còn đƣợc phổ biến đến một
số tổ chức và cá nhân khác trong nƣớc cũng nhƣ nƣớc ngoài.

292
Hai là, lượng thông tin phổ biến ngày một nhiều hơn: Trƣớc đây, hầu
hết các thông tin thống kê đƣợc thu thập qua báo cáo thống kê định kỳ, chủ
yếu phục vụ việc xây dựng và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch. Hiện
nay, ngoài việc duy trì chế độ báo cáo thống kê định kỳ, các cơ quan thống kê
còn thƣờng xuyên tổ chức các cuộc điều tra thống kê, nên lƣợng thông tin thu
thập, xử lý, tổng hợp và phổ biến đến các đối tƣợng dùng tin ngày càng tăng.
Ba là, hình thức phổ biến thông tin đa dạng hơn và đang từng bước
được đổi mới theo hướng ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin:
Ngoài hình thức phổ biến thông tin truyền thống là các ấn phẩm thông tin
thống kê đang từng bƣớc đƣợc phổ biến trên mạng máy vi tính và phổ biến
bằng các vật mang tin đọc qua máy vi tính.
* Những tồn tại:
- Dịch vụ thông tin thống kê chƣa đƣợc coi là nhiệm vụ trọng tâm và
chƣa đặt đúng với vị trí nhƣ nó cần phải có nên hiệu quả chƣa cao. Một phần
bắt nguồn từ tƣ tƣởng cục bộ, chƣa thực sự coi thông tin thống kê là tài sản
chung, ngƣời làm công tác thống kê chƣa nhận thức đƣợc trách nhiệm của
mình là phải phóng thích những thông tin thống kê một cách kịp thời và bình
đẳng đến mọi đối tƣợng, thực tế dịch vụ thông tin thống kê hiện đang tồn tại,
tản mạn ở những đơn vị lƣu giữ thông tin ở Tổng cục Thống kê
- Do tình trạng phổ biến thông tin nhƣ trên, nên nhiều ngƣời sử dụng
thông tin thống kê vẫn chƣa biết rõ các cơ quan thống hiện đang quản lý những
thông tin gì? Cơ chế cung cấp những thông tin đó ra sao? Liên hệ với bộ phận
nào để có đƣợc thông tin ấy? Để có thông tin, một số đối tƣợng dùng tin đã
phải khai thác từ các nguồn thông tin khác, dẫn tới tình trạng thiếu thống nhất,
thậm chí còn mâu thuẫn với số liệu hiện có của các cơ quan thống kê.
- Mặt khác Tổng cục Thống kê chƣa có cơ chế dịch vụ thông tin thích hợp
để tổ chức hoạt động dịch vụ về một đầu mối là Trung tâm Tƣ liệu thống kê.
2. Thực trạng hoạt động dịch vụ tư vấn về phương pháp thống kê
- Thông tin thống kê còn đƣợc coi là thiếu minh bạch, do ngƣời dùng tin
không đƣợc tƣ vấn, giải thích chu đáo về khái niệm, định nghĩa, phƣơng pháp
tính, phạm vi thu thập số liệu, các chỉ tiêu thống kê chƣa có giải thích rõ ràng
và cập nhật kịp thời dẫn đến nhầm lẫn khi sử dụng thông tin, một số cuộc
điều tra không phổ biến rộng rãi, minh bạch các thông tin chung.

293
- Viện Khoa học Thống kê đã cho xuất bản một số tài liệu về phƣơng
pháp thông kê nhƣ: Một số vấn đề phương pháp luận thống kê, Một số thuật
ngữ thống kê thông dụng - dƣới dạng ấn phẩm và đƣợc phổ biến công khai
trên Trang tin điện tử thống kê nên hỗ trợ rất nhiều cho khách hàng.
3. Thực trạng hoạt động dịch vụ điều tra thống kê
- Hiện nay, phƣơng pháp thu thập thông tin thống kê của Việt Nam cũng
chuyển mạnh sang điều tra thống kê. Đƣợc sự giúp đỡ có hiệu quả của các tổ
chức quốc tế nên Thống kê Việt Nam đã tiếp cận nhiều phƣơng pháp điều tra
thống kê tiến tiến cùng với sự hỗ trợ về công nghệ thông tin hiện đại;
- Công tác dự báo, phân tích đánh giá sau điều tra chƣa đáp ứng đƣợc nhƣ
mong muốn. Việc quảng bá năng lực điều tra thống kê còn yếu, nhiều khách
hàng có nhu cầu điều tra thống kê nhƣng chƣa đến đƣợc với cơ quan thống kê.
III. Cơ sở pháp lý cho hoạt động dịch vụ thống kê
1. Định hƣớng phát triển thống kê Việt Nam đến năm 2010
2. Nghị định số 101/2003/NĐ-CP: quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê
3. Quyết định 403/QĐ-TCTK: quy định chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm
Tƣ liệu Thống kê
4. Nghị định Số 43/2006/NĐ-CP: Qui định quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm
về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị
sự nghiệp công lập
PHẦN II
XÁC ĐỊNH ĐỐI TƢỢNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ THỐNG KÊ
Khái niệm dịch vụ thống kê: Hiểu một cách khái quát thì hoạt động dịch
vụ thống kê là những hoạt động phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu về
thông tin thống kê của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong và ngoài nƣớc.
Đƣợc cơ quan thống kê các cấp tổ chức thực hiện và thu phí theo cơ chế phù
hợp theo quy định của pháp luật, bao gồm: Dịch vụ thông tin thống kê, dịch
vụ tƣ vấn phƣơng pháp thống kê, dịch vụ điều tra thống kê.
Nhƣ vậy, trên ý nghĩa đó thì việc cung cấp thông tin thống kê cho các cơ
quan Đảng và Nhà nƣớc cũng đƣợc coi là hoạt động dịch vụ thống kê. Bởi vì,
Nhà nƣớc đóng vai trò là ngƣời dùng tin (Đảng - Nhà nước là người đặt

