
308
ĐỀ TÀI KHOA HỌC
SỐ: 07-CS-2005
NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH VAI TRÕ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM
TRONG MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ XÃ HỘI QUA SỐ LIỆU
THỐNG KÊ
1. Cấp đề tài : Cơ sở
2. Thời gian nghiên cứu : Năm 2005
3. Đơn vị chủ trì : Viện Khoa học Thống kê
4. Đơn vị quản lý : Viện Khoa học Thống kê
5. Chủ nhiệm đề tài : CN. Nguyễn Thị Thái Hà
6. Những ngƣời phối hợp nghiên cứu:
CN. Vũ Thị Mai
CN. Phan Thị Ngọc Trâm
CN. Trần Thị Thanh Hƣơng

309
PHẦN I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
Lịch sử phát triển của phụ nữ Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển
của dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ
của dân tộc ta, phụ nữ có mặt trên khắp các mặt trận, ở tiền tuyến cũng nhƣ
hậu phƣơng. Thời kỳ chống Mỹ cứu nƣớc đã xuất hiện những ngƣời phụ nữ
Việt Nam anh hùng, anh hùng trong sản xuất, anh hùng trong chiến đấu.
Trong thời đại công nghiệp hoá và hiện đại hóa phụ nữ Việt Nam tham gia
đông đảo vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, văn hoá, chính trị, kinh tế, xã
hội và ngày càng thể hiện đƣợc vị thế của giới mình trong sự bình đẳng với
nam giới.
Thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa, phụ nữ là lực lƣợng lao động to
lớn làm việc trong tất cả các ngành, các lĩnh vực. Phụ nữ Việt nam đã thích
ứng nhanh với cơ chế mới, chủ động tiếp cận ngành nghề mới, bồi dƣỡng kỹ
năng lao động, kiến thức, năng lực quản lý, áp dụng khoa học kỹ thuật, công
nghệ tiên tiến vào sản xuất.
Số cán bộ công chức nữ tham gia quản lý nhà nƣớc trong hệ thống chính
quyền các cấp hiện nay nhiều hơn so với trƣớc: Một Phó chủ tịch nƣớc, ba bộ
trƣởng, 26 thứ trƣởng và tƣơng đƣơng, 2 chủ tịch uỷ ban nhân dân, 22 phó
chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh.
Theo kỷ yếu Hội nghị đánh giá giữa kỳ thực hiện Kế hoạch hành động
vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2005. Trong 17 bộ/ngành là thành
viên của Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ thì có 4 bộ/ ngành có cán
bộ nữ là bộ trƣởng hoặc tƣơng đƣơng, 4 bộ/ngành có cán bộ nữ là thứ trƣởng
hoặc tƣơng đƣơng, còn 7 trong số 17 bộ/ngành chƣa có lãnh đạo chủ chốt.
Hai mƣơi bộ/ngành khác chỉ có 2 bộ trƣởng, 2 thứ trƣởng là nữ, 16 bộ/ngành
còn lại chƣa có cán bộ chủ chốt là nữ.
Tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội của nƣớc ta cao so với nhiều nƣớc trên thế
giới và đứng đầu trong khu vực châu Á. Số đại biểu nữ trong hội đồng nhân

310
dân các cấp qua các khoá đều tăng. Khóa 1999-2004, số nữ là đại biểu hội
đồng nhân dân cấp tỉnh chiếm 22,5%, cấp huyện chiếm 20,7%, cấp xã chiếm
17%20.
Tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp uỷ từ Trung ƣơng đến cơ sở chiếm khoảng
10-11%. Tỷ lệ nữ cán bộ công chức ở vị trí chủ chốt nhƣ bí thƣ, phó bí thƣ,
uỷ viên thƣờng vụ các cấp chỉ khoảng 3-8%.
Với tỷ lệ nữ chiếm 70% lực lƣợng lao động trong ngành, cán bộ nữ
ngành giáo dục đã dần khẳng định vị trí của mình trong xã hội.
Trong 5 năm qua tỷ lệ nữ có học hàm giáo sƣ tăng từ 3,5% lên 4,3%,
phó giáo sƣ tăng từ 5,9% lên 7,0%, tiến sĩ khoa học và tiến sĩ tăng từ 12,1%
lên 14,9%.
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học phụ nữ Việt nam giữ vai trò quan
trọng có 6,3% cán bộ phụ trách là nữ, 10% đề tài nghiên cứu khoa học cấp
nhà nƣớc do phụ nữ làm chủ nhiệm21. Các cán bộ khoa học nữ đã có nhiều
công trình nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào
quá trình sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, góp phần làm thay đổi công nghệ sản xuất, chăm sóc sức khoẻ,
sử dụng năng lƣợng mới, bảo vệ môi trƣờng…
Trong lĩnh vực văn hoá thể thao nhiều nữ vận động viên đã vƣợt khó
khăn, miệt mài luyện tập đạt nhiều huy chƣơng, lập nhiều kỷ lục tại các kỳ thi
đấu thể thao quốc gia và đã đạt thành tích cao trong các cuộc thi quốc tế.
Không chỉ giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, chính trị, xã
hội, trong thời đại ngày nay, phụ nữ còn có vai trò quan trọng là ngƣời duy trì
và phát triển những giá trị văn hoá gia đình, giữ gìn bản sắc dân tộc, giữ vai
trò chủ yếu trong tổ chức cuộc sống gia đình, chăm sóc, nuôi dạy con.
Chính vì vai trò quan trọng của phụ nữ Việt Nam mà trong nhiều năm
qua, Đảng và Nhà đã xây dựng những chiến lƣợc, chính sách tạo điều kiện
cho phụ nữ Việt Nam phát huy đƣợc vai trò và khả năng của mình.
20 Nguồn: Báo cáo vai trò phụ nữ tham gia quản lý nhà nƣớc ngày 2 tháng 3 năm 2004
21 Bài phát biểu của Bà Hà Thị Khiết: “Vai trò của phụ nữ Việt Nam thế kỷ 21”.

311
II. THỰC HIỆN KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG QUỐC GIA VÌ SỰ TIẾN BỘ
CỦA PHỤ NỮ
Ngày 21 tháng 1 năm 2002 Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 19/2002/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lƣợc hành động quốc gia vì sự tiến
bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010. Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của
phụ nữ Việt Nam đã phối hợp với các bộ, ngành hữu quan xây dựng Kế
hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2005 với mục tiêu tổng
quát là: ổn định và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ. Tạo
mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò
của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống văn hoá, chính trị, xã hội”.
Theo Báo cáo quốc gia lần thứ 5 và 6 về tình hình thực hiện công ƣớc
Liên hợp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ thì đã
có 40/40 bộ/ngành ở trung ƣơng và 64/64 tỉnh thành phố trực thuộc trung
ƣơng phê duyệt và triển khai thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia vì sự
tiến bộ của phụ nữ đến năm 2005 của Ngành hoặc địa phƣơng mình.
Chƣơng trình hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ gồm có 5
mục tiêu22, cụ thể là:
- Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực việc làm;
- Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực giáo dục và
đào tạo;
- Thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chăm sóc sức
khoẻ;
- Nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của phụ nữ trên các lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội để tăng số phụ nữ đƣợc giới thiệu và bầu tham gia
lãnh đạo các cấp, các ngành;
- Tăng cƣờng năng lực hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Trong từng mục tiêu đều có các chỉ tiêu và các biện pháp thực hiện cụ
thể. Trong phần nội dung đề tài có tóm tắt kết quả thực hiện các mục tiêu
Chƣơng trình hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ .
22 Các mục tiêu cụ thể xem phần Phụ lục Báo cáo Tổng hợp kết quả nghiên cứu.

312
Kết quả đánh giá thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ
của phụ nữ đƣợc tổng hợp trên cơ sở báo cáo của các bộ/ban/ngành và các
đoàn thể tổ chức chính trị xã hội mà nền tảng của nó là số liệu tổng kết các
chƣơng trình hành động và số liệu thống kê đƣợc phân loại theo giới. Vậy
thực trạng số liệu thống kê ở nƣớc ta ra sao.
PHẦN II
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM QUA
PHÂN TÍCH SỐ LIỆU THỐNG KÊ
A. THỐNG KÊ GIỚI
Để tiện cho việc phân tích thực trạng số liệu thống kê giới ở nƣớc ta. Ở
đây chúng tôi sẽ điểm qua tình hình thống kê giới trên thế giới trên cơ sở Báo
cáo đánh giá về thống kê giới của Liên Hợp Quốc của các quốc gia và khu
vực cho thời kỳ 1975-2003.
I. Thống kê giới trên thế giới
Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện cƣơng lĩnh Bắc Kinh tổ chức từ
ngày 28/2-11/3/2005 tại NewYork, Mỹ đã xác định việc thiếu số liệu thống kê
đƣợc phân theo giới là một thách thức trong quá trình thực hiện các mục tiêu
bình đẳng giới.
Báo cáo đánh giá về thống kê giới 2005 của Liên Hợp Quốc thời kỳ
1975-2003 cho thấy số liệu thống kê đƣợc phân theo giới tập trung vào các
lĩnh vực: dân số, y tế, giáo dục và việc làm. Báo cáo cũng có đề cập đến về
tình hình thống kê hiện nay liên quan đến các lĩnh vực mới hơn nhƣ tình
trạng bạo lực chống lại phụ nữ, nghèo đói, ra quyết định và quyền con ngƣời.
Phạm vi thống kê giới của chính phủ tập trung giải quyết các vấn đề liên
quan đến giới ở các quốc gia rất khác nhau. Báo cáo đánh giá sự tiến bộ, tìm
ra sự thiếu hụt về số liệu thống kê giới và lập kế hoạch để cải thiện việc thu
thập và công bố thống kê về giới cho mục tiêu hoạch định chính sách, lập kế
hoạch và đánh giá chƣơng trình.
Việc đánh giá về năng lực thống kê của các quốc gia về sản xuất các chỉ
tiêu của Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ phân đƣợc phân theo giới ở cấp
quốc gia, và cũng giúp cho việc hỗ trợ về kỹ thuật. Các chuyên gia thống kê

