NGHIÊN CU:
QUYỀN ĐƯỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG TRONG PHÁP LUẬT
QUỐC TẾ
Tuân thnghiêm túc các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, trong đó
các điều ước về bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự, là một
đòi hỏi tất yếu của quá trình hội nhập. Quyền được t xử công bằng, một trong
những quyền n s- chính trcăn bản của mọi nhân, đã được cộng đồng nhân
loại quan tâm và bo vệ bằng các quy phạm pháp luật quốc tế và khu vực. Trong
bối cảnh Bluật tố tụng hình sViệt Nam năm 2003 (BLTTHS) đang được xem
xét để sửa đổi, việc hiểu rõ các chuẩn mực quốc tế liên quan đến lĩnh vực pháp
hình snói chung, đến các quyền của người người bị buộc tội (bị can, bị cáo) nói
riêng, càng trnên cần thiết.
Trong i viết này, c gicố gắng làm các nội dung căn bản của quyền
được xét xử công bằng trong pháp luật quốc tế về nhân quyền, được ghi nhận
trong ng ước quốc tế về các quyền dân sự và chính tr(1966), trong c Bình
luận chung của quan giám sát Công ước này, cũng như trong một số hướng
dẫn, nguyên tắc đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận liên quan. Đồng thời một số
thoả thuận khu vực (châu Âu, châu Mỹ, châu Phi) liên quan đến lĩnh vực này cũng
được xem xét, phân tích để so sánh, đối chiếu.
1. Khái quát vquyền được xét xử công bằng
1.1. Khái niệm “quyền được xét xử công bằng”
“Quyền được xét xử công bằng” (right to a fair trial) là một nhân quyền bản và
tính phquát cao, tồn tại trong cả các vụ án hình svà phi hình sự. Pháp luật
nhiều quốc gia quy định quyền này với quan niệm rằng là quyền thiết yếu
(essential) trong mọi quốc gia pháp trị. [1] Việc đối xử với một người khi họ bị
buộc tội phản ánh rõ nhà nước tôn trọng nhân quyền đến mức nào, bởi vậy, quyền
được xét xử công bằng đã được coi là một hòn đá tảng (a cornerstone) của các xã
hội dân chủ. [2] Giống như đặc tính của mọi nhân quyền là phthuộc lẫn nhau,
quyền được xét xử công bằng với các quyền khác mối quan hệ hai chiều. Một
phiên toà công bng là yếu tthiết yếu để bảo đảm các quyền cơ bản khác của con
người như quyền sống, quyền được an toàn vthân thể, tự do ngôn luận... Ngược
lại, trong một xã hội không n chủ, các quyền bản của con người không được
tôn trọng thì khó có thể có chuyện mọi người đều được xét xử công bằng. Quan hệ
chặt chẽ giữa quyền được xét xử công bằng với pháp trị và dân chcũng đã được
khẳng định chính thức trong Tuyên ngôn Dakar vquyền được xét xử công bằng
tại châu Phi.
Phạm vi của quyền được xét xử công bằng được hiểu tương đối khác nhau trong
lập pháp và trong nhiều tài liệu nghiên cứu, hướng dẫn áp dụng. Nếu dịch sát
nghĩa “right to a fair trial” được hiểu là quyn đối với (quyền một) phiên x
công bằng. Tức là không phải bị xét xử bởi một phiên toà không công bằng (unfair
trial), dù là hình sự hay phi hình sự. Về mặt lập pháp, ngoài hệ thông pháp luật của
các quốc gia, quyền được xét xử công bằng được ghi nhận trong nhiều điều ước
quốc tế và khu vực. Trước hết phải kể đến Công ước quốc tế về các quyền dân sự
chính tr (ICCPR), đã được đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16
tháng 12 m 1966. Tuy nhiên, theo nhiều quan điểm thì quyền được xét xử công
bằng không chỉ gồm các quy định liên quan đến giai đoạn xét xử, được quy định
tại Điều 14 mà c nhiều điều luật khác (Điều 7, 9, 15...) của ICCPR. Về thời
điểm phát sinh, nhiu luật gia cho rằng ngay từ khi một nhân bị bắt họ đã có
quyền này. [3] Bi lẽ các quyền trước, trong và sau khi xét xử đều có quan hệ chặt
ch với nhau. Tuy nhiên, trong bài viết này, tác gichủ yếu tập trung vào giai
đoạn xét xử của toà án, đây cũng là phạm vi các quy định của pháp luật quốc tế
tập trung điều chỉnh và được đề cập rộng rãi khi tìm hiểu về quyền này.
Tnhững phân tích trên, th nêu khái nim khoa học pháp về quyền được
xét xcông bằng như sau: Quyền được xét xcông bằng là quyền bản của
người bị buộc tội trong vụ án hình s và của các bên trong vviệc phi hình s
trước quan pháp (công an, công t tán), được pháp luật quốc gia và
quốc tế ghi nhận và bảo vệ, bao gồm nhiều quyền cụ thể (như được bảo đảm
quyền bào chữa, được xét xử nhanh chóng, công khai bởi toà án độc lập, không
thiên vị...) nhằm bảo đảm cho việc xét xử được công bằng, cũng như các quyền và
lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân.
1.2. Quy định trong các văn kiện mang tính ràng buộc và không mang tính ràng
buộc pháp
Quyền được xét xử công bằng, như đã đề cập, được ghi nhận trong nhiều điều ước
quốc tế và khu vực. Trước hết phải kể đến Công ước quốc tế về các quyền dân sự
chính tr(ICCPR), Việt Nam đã gia nhp từ năm 1982, là văn kiện quốc tế
giá trcao trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người. Trong Công
ước nay, quyền được xét xử công bằng được ghi nhận một cách trang trọng tại
Điều 14 và một số điều luật kc. Mặc dù Điều 14 không gọi trực tiếp bằng tên
“quyền được xét xử công bằng” nhưng quyền này đã được Uỷ ban Nhân quyền
(Human rights Committee), quan được thiết lập nhằm giám sát việc thi hành
ICCPR, sdụng khi phân tích các nội dung của điều luật. Đồng thời, nội hàm của
Điều 14 cũng trùng với các quy định v “quyền được xét xử công bằng” trong
nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948)
(Tuyên ngôn) cũng đã bảo vệ quyền này khi khẳng định tại Điều 10 rằng mọi
người đều được hưởng quyền bình đẳng hoàn toàn trong việc xem xét công khai
và công bằng bởi một tòa án “có năng lực, độc lập và không thiên vị”.
Trong ICCPR, bên cạnh quyền được sống, tự do thân thể, tự do ngôn luận... quyền
được xét xử công bằng là một trong các quyền dân sự cơ bản của con người được
đề cao bởi cộng đồng quốc tế được quy định tập trung nhất tại Điều 14. Cạnh
đó, các quyền không bị tra tấn, đối xử tàn bo (Điều 7), quyền được bảo đảm an
toàn vthân thể (Điều 9, Điều 10), nguyên tắc không áp dụng hồi tố (Điều 15)
cũng được coi hướng tới đảm bảo quyền được xét xcông bằng. Điều 14
phạm vi tương đối rộng và nhiều nội dung, bao gồm 7 khoản. Các nội dung cơ bản
của điều luật khẳng định các quyền: 1) bình đẳng trước tòa án, được xét xử bởi tòa
án độc lập, không thiên vvà việc xét xử công khai trừ các trường hợp đặc biệt; 2)
được suy đoán tội; 3) được bảo đảm tối thiểu liên quan đến quyền được biết
do buộc tội, quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý, được xét xử nhanh chóng,
được đối chất vi người làm chứng; 4) đối với người chưa thành niên dược áp
dụng thủ tục áp dụng riêng; 5) được xét xử phúc thẩm; 6) được bồi thường khi bị
kết án oan; 7) không bị xét xử hai lần về cùng một tội danh. Liên quan đến Điều
14, Uỷ ban Nhân quyền đã có một Bình luận chung (General Comment) s13 (21)
ra đời m 1984. Bình luận chung nêu một shướng dẫn cho c quốc gia trong
việc thực thi các nghĩa vụ liên quan đến điều luật này. Ngoài ra, các bản án của Uỷ
ban Nhân quyền cũng được coi là nguồn án lệ” (case law) quan trọng, dựa trên
các án lệ này mà Uỷ ban hệ thống hoá lại thành các Bình luận chung. [4]
Đối chiếu với quy định về quyền này trong ICCPR với Công ước về nhân quyền
của một số khu vực (châu Âu, châu Mỹ, châu Phi) cũng thấy rất nhiều điểm tương
đồng. Công ước châu Âu về bảo vệ nhân quyền và tdo căn bản (ECHR) năm
1950 tại Điều 6, cũng như Công ước châu Mỹ về nhân quyền (1969) tại Điều 8,
đều quy định với tiêu đề “quyền được xét xử công bằng” (Right to a fair trial),
khẳng định quyền được xét xbởi “toà án độc lập và không thiên vị, được thiết
lập theo luật pháp” trong các vụ việc dân shay hình sự, quyền được suy đoán
tội và các quyền tối thiểu liên quan đến việc bbuộc tội. Tại các điều ước khu vực
khác, có th không gọi trực tiếp tên quyền này, như Điều 7 của Hiến chương châu
Phi v nhân quyền quyền của các dân tộc, nhưng cũng quy định về một s
quyền như được kháng cáo, được suy đoán tội, được bào chữa, được xét xử bởi
“một toà án không thiên vị”. ng cần lưu ý là châu Phi đã riêng một văn kiện
vquyền được xét xử ng bằng là Tun ngôn Dakar v quyền được xét xcông
bằng tại châu Phi (2000), như đã nhắc đến trên. Hiến chương nhân quyền -rập
(1994), không điều nào đề cập trực tiếp đến toà án, nhưng cũng có quy định
vquyền được suy đoán tội (Điều 7), quyền không bị t xhai lần, được bồi
thường nếu bị giam giữ oan iều 16). [5] Các điều ước khu vực hiển nhiên chỉ có
giá trbắt buộc đối với các quốc gia tham gia điều ước, nhưng rõ ràng quyền được
xét xcông bằng mang tính phổ quát cao được quan tâm bảo vệ trên khắp thế
giới.
Bên cạnh các văn kiện mang tính ràng buộc pháp (công ước, điều ước), nhiều
văn kiện không mang tính ràng buộc pháp lý như Hướng dẫn, Nguyên tắc, Quy tắc
liên quan đến bảo vệ quyền được t xcông bằng. Chẳng hạn như liên quan
đến người tiến hành ttụng và các nghĩa vụ của họ Các nguyên tắc bản về
tính độc lập của Tòa án (1985), Quy ước đạo đức của quan chức thi hành pháp
luật (1979), Hướng dẫn về vai trò của công tviên (1990) … Liên quan đến người
tham gia ttụng có Các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay tù
dưới bất kỳ hình thức nào (1988), Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc
vtư pháp người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) (1985), Quy tắc của Liên