ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --------------
VÀNG SẢO HAI
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA SỬ DỤNG CÂY THUỐC
TẠI XÃ LÊ LAI, HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : ST&BTĐDSH
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2016 - 2020
Thái Nguyên – Năm 2020
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --------------
VÀNG SẢO HAI
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA SỬ DỤNG CÂY THUỐC
TẠI XÃ LÊ LAI, HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : ST&BTĐDSH
Lớp : K48 - ST&BTĐDSH
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2016 – 2020
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Thu Hiền
Thái Nguyên – Năm 2020
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài: “Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây
thuốc tại xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng” là một công trình
nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn: TS.
Nguyễn Thị Thu Hiền, số liệu được trình bày trong đề tài không có sự sao chép
từ bất kì công trình nào, hoàn toàn là do bản thân tôi thực hiện điều tra nghiên
cứu một cách trung thực. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước khoa và nhà
trường về sự cam đoan này.
Thái Nguyên, ngày 29 tháng 6 năm 2020
XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thu Hiền Vàng Sảo Hai
Xác nhận của giáo viên chấm phản biện
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót
sau khi hội đồng chấm yêu cầu.
(Ký, ghi rõ họ tên)
ii
LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã Lê Lai,
huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng” là nội dung tôi chọn để nghiên cứu và
làm đề tài tốt nghiệp sau 4 năm theo học chương trình đai học, chuyên
nghành Sinh thái và Bảo tồn đa dạng sinh học tại trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên.
Để hoàn thành và hoàn thiện đề tài khóa luận này, lời đầu tiên tôi xin
chân thành cảm ơn sâu sắc đến cô: Nguyễn Thị Thu Hiền thuộc khoa Lâm
nghiệp Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình chỉ bảo và hướng
dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để kiến thức của tôi ngày càng hoàn
thiện hơn. Ngoài ra, tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Khoa Lâm nghiệp,
Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên những người đã truyền đạt kiến thức
quý báu cho tôi suốt trong thời gian học tập vừa qua.
Nhân dịp này, tôi cũng xin cảm ơn Khoa lâm nghiệp Trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên, lãnh đạo và các anh chị đang công tác tại UBND xã
Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đã tạo điều kiện cho tôi trong trong
suốt quá trình nghiên cứu về đề tài. Mặc dù đã nỗ lực cố gắng, tuy nhiên do hạn
chế về kinh nghiệm cũng như thời gian và trình độ nghiên cứu nên khóa luận
không thể tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến
góp ý, chỉ bảo của thầy cô cũng như bạn đọc khác để khoá luận được hoàn thiện
hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, ngày 09 tháng 7 năm 2020
Sinh viên
Vàng Sảo Hai
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Mẫu bảng điều tra cây thuốc được các cộng đồng dân tộc ở khu vực
nghiên cứu ..................................................................................... 19
Bảng 4.1. Phân bố các ngành thực vật làm thuốc ở xã Lê Lai, huyện Thạch An
....................................................................................................... 23
Bảng 4.2. Số lượng họ, chi, loài thuộc 2 lớp trong ngành Ngọc lan............... 24
Bảng 4.3. Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ ........................... 26
Bảng 4.4. Các họ đa dạng nhất ở khu vực nghiên cứu.................................... 28
Bảng 4.5. So sánh các họ giầu loài ở KVNC (1) với số loài của từng họ trong
hệ thực vật Việt Nam (2). ............................................................. 29
Bảng 4.6. Đa dạng về dạng sống của nguồn cây thuốc ở KVNC ................... 30
Bảng 4.7. Sự phân bố nguồn cây thuốc theo môi trường sống ở KVNC ....... 32
Bảng 4.8. Danh lục cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ghi nhận ở xã Lê Lai,
huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng ................................................... 34
Bảng 4.9. Bộ phận sử dụng của cây thuốc theo kinh nghiệm sử dụng trong cộng
đồng dân tộc ở KVNC. ................................................................. 38
Bảng 4.10. Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể ............... 39
Bảng 4.11. Danh sách cây thuốc được cả 3 dân tộc ở KVNC sử dụng .......... 43
Bảng 4.12. Danh sách cây thuốc các dân tộc cùng sử dụng chữa bệnh về xương
khớp .............................................................................................. 45
Bảng 4.13. Danh sách cây thuốc các dân tộc cùng sử dụng chữa bệnh về gan,
dạ dày. ........................................................................................... 46
Bảng 4.14. Số lượng thầy thuốc được phỏng vấn theo từng dân tộc ở KVNC
....................................................................................................... 47
Bảng 4.15. Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ cây sói rừng và cây Khoan
cân đằng ........................................................................................ 50
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài .......................... 20
Hình 4.1. Hình ảnh một số loài cây thuốc ở KVNC ....................................... 25
Hình 4.2. Tỷ lệ nhóm bệnh chữa trị từ nguồn cây thuốc theo kinh nghiệm sử
dụng trong cộng đồng dân tộc Tày, Nùng, Dao tại xã Lê Lai ........................ 41
Hình 4.3. Tỷ lệ về độ tuổi của các thầy thuốc ở KVNC ................................. 48
Hình 4.4. Hoạt tính ức chế e. Coli và s. Aureus của cây sói rừng và cây Khoan
cân đằng ........................................................................................................... 51
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắ/ký hiệu Cụm từ đầy đủ
DLĐCT Danh lục đỏ cây thuốc
EN Nguy cấp
IA Nghiêm cấm khai thác sử dụng vì
mục đích thương mại
IIA Hạn chế khai thác sử dụng vì mục
đích thương mại
KVNC Khu vực nghiên cứu
SĐVN - 2007 Sách đỏ Việt Nam 2007
VU Sắp nguy cấp
UBND Ủy Ban nhân dân
SL Số lượng
HTKK Hoạt tính kháng khuẩn
vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. I
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................. iii
DANH MỤC CÁC HÌNH .............................................................................. iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................ v
MỤC LỤC ....................................................................................................... vi
PHẦN 1:MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1.1 Đặt vấn đề ................................................................................................................. 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài............................................................................... 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ................................................................................................... 3
1.3.1. Ý nghĩa về mặt khoa học ......................................................................... 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ...................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu ................................................................ 4
2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trong nước và trên Thế giới 5
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên Thế giới ........................................................ 5
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam .......................................................... 9
2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu ........................................................................... 14
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu ................................................ 14
2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu ..................................... 16
PHẦN 317 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 17
3.1. Đối tượng, phạm vi thời gian và địa điểm nghiên cứu ...................................... 17
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 17
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 17
vii
3.2. Nội dung nghiên cứu ............................................................................................ 17
3.3. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 18
3.3.1. Phương pháp kế thừa ............................................................................. 18
3.3.2. Phương pháp điều tra cộng đồng .......................................................... 18
3.3.3. Phương pháp thu thập mẫu.................................................................... 20
3.3.4. Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ........ 20
3.3.5. Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp .............................................. 21
3.3.6. Phương pháp nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn .................................. 21
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................... 23
4.1. Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng các dân
tộc thiểu số ở xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng ...................................... 23
4.1.1 Đa dạng về các bậc Taxon ..................................................................... 23
4.1.2. Đa dạng về dạng cây của nguồn tài nguyên cây thuốc ......................... 29
4.1.3. Đa dạng về nơi sống của nguồn tài nguyên cây thuốc .......................... 31
4.2. Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận được ở khu
vực nghiên cứu. ............................................................................................................ 33
4.3. Vốn tri thức trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu số ở xã
Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng ................................................................... 36
4.3.1. Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu
số ở xã Lê Lai. ................................................................................................. 36
4.3.2. Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu số ở
xã Lê Lai. ......................................................................................................... 39
4.3.3. Ảnh hưởng của sự giao thoa giữa các dân tộc đến vốn tri thức bản địa
trong việc sử dụng cây thuốc .......................................................................... 42
4.3.4. Vấn đề truyền thụ kiến thức về cây thuốc trong cộng đồng các dân tộc ở
xã Lê Lai .......................................................................................................... 47
viii
4.4. Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử dụng trong
cộng đồng các dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu ............................................. 49
PHẦN 552 KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ ....................................................... 52
5.1. Kết luận .................................................................................................................. 52
5.2. Kiến nghị ............................................................................................................... 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 54
PHỤ LỤC ......................................................................................................... 1
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một quốc gia có 3/4 diện tích đồi núi, là nơi có nguồn tài
nguyên cây thuốc đa dạng và là nơi cư trú của 54 dân tộc mà phần lớn là dân
tộc thiểu số với khoảng 24 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số quốc gia (Trần
Thúy và cs., 2005)[35]. Chính sự đa dạng về dân tộc người cùng với sự khác
biệt về điều kiện, thổ nhưỡng, khí hậu, phong tục tập quán, văn hóa từng cộng
đồng dân tộc thiểu số đã tạo nên sự đa dạng và phong phú trong vốn tri thức
dân gian về kinh nghiệm sử dụng cây cỏ xung quanh mình làm cây thuốc chữa
bệnh.
Đối với mỗi dân tộc đều có những kinh nghiệm dân gian, những tri thức
về thuốc được truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Cùng với thời gian những bài thuốc ngày càng trở nên có tính độc đáo và thông
dụng trong việc chăm sóc sức khỏe cho người dân và cộng đồng xung quanh.
Trong tri thức chăm sóc sức khỏe dân gian, các tộc người phần lớn sử
dụng các loại cây cỏ có trong địa bàn cư trú của mình, trở thành cây thuốc
để chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe. Cây cỏ là kết quả của quá trình tiến hóa
lâu dài dưới tác động của tự nhiên, còn tri thức là kết quả từ quá trình đấu
tranh sinh tồn của con người được đúc kết bằng kinh nghiệm, tích lũy và lưu
truyền qua nhiều thế hệ. Đặc biệt những tri thức bản địa về chăm sóc sức
khỏe, là những tri thức luôn cần thiết cho sự sinh tồn không chỉ của một tộc
người mà của cả nhân loại. Do đó, việc phục dựng và bảo tồn những tri thức
bản địa về chăm sóc sức khỏe có cả giá trị trong việc bảo tồn bản sắc văn
hóa tộc người mà còn có giá trị thiết thực trong đời sống (Nguyễn Thị Thanh
Vân, 2015) [42]
2
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quá trình đô
thị hóa… Hiện nay nhiều loài cây thuốc có giá trị quý đang có nguy cơ bị tàn
phá đến tuyệt chủng, lạm dụng khai thác quá mức. Cùng với đó, những bài
thuốc và những kinh nghiệm quý bấu của cộng đồng dân tộc cũng ngày càng bị
mai một đi. Đặc biệt hơn, những thế hệ trẻ ít tiếp thu những kiến thức mang
tính bản địa mà lại thích học theo những cái hiện đại, cái mới khiến cho những
bài thuốc và cây thuốc quý bị lãng quên đi.
Huyện Thạch An có diện tích tự nhiên là 690,79km² là một trong những
huyện có nguồn tài nguyên khá là phong phú và đa dạng, đặc biệt là nguồn tài
nguyên rừng và đất rừng chiếm 90% diện tích đất canh tác của huyện. Huyện
Thạch An có 16 đơn vị hành chính, bao gồm 01 thị trấn và 15 xã. Đồng bào dân
tộc ở nơi đây chủ yếu là Tày, Nùng, Mông, Dao, Kinh, Hoa. Mỗi dân tộc lại
mang bản sắc và những kinh nghiệm chữa bệnh bằng thực vật làm thuốc khác
nhau và đa dạng. Trong đó, xã Lê Lai là một trong 15 xã có nhiều cộng đồng
dân tộc có nhiều kinh nghiệm trong việc điều trị bệnh bằng thực vật làm thuốc.
Đồng thời tại xã Lê Lai hiện chưa có một công trình nghiên cứu nào về tri thức
bản địa sử dụng cây thuốc. Do vậy, để góp phần bảo tồn, phát triển và giữ gìn
những kinh nghiệm quý của bà con nơi đây và tránh khai thác nguồn tài nguyên
cây thuốc một cách bừa bãi, và đồng thời để cung cấp cơ sở khoa học góp phần
bảo vệ nguồn gen cây thuốc và phát triển các bài thuốc của cộng đồng dân tộc
thiểu số tại xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, tôi tiến hành lựa chọn
đề tài “Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã Lê Lai, huyện
Thạch An, tỉnh Cao Bằng”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong
các cộng đồng dân tộc thiểu số tại xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
3
- Xác định những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam, hiện có ở
khu vực nghiên cứu.
- Xác định vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của các cộng
đồng dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa về mặt khoa học
- Xác định tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của các cộng đồng
dân tộc thiểu số tại xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả thu được sẽ là cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất công tác bảo tồn
và phát triển nguồn gen cây thuốc của các cộng đồng dân tộc tại xã Lê Lai,
huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Rất nhiều dân tộc trên thế giới, nhất là những nước nghèo, dựa vào những
loại cây thu hái hoang dại để làm thức ăn, vật liệu xây dựng, chất đốt, thuốc
chữa bệnh và cho nhiều mục đích khác. Đặc biệt hiện nay, tri thức bản địa về
cách dùng thuốc đã và đang phát triển ở một số nước trên thế giới.
Tại Việt Nam, nguồn tài nguyên thực vật đang đứng trước nguy cơ bị
mai một, do tác động của nhiều nguyên nhân như: tăng dân số, hậu quả của việc
tranh nhau các hình thức sử dụng đất để canh tác, xây dựng, khai thác, tàn phá
một cách vô ý thức. Bên cạnh đó, do nhiều nguyên nhân, kho tàng tri thức dân
gian quý báu của các dân tộc thiểu số đang bị mai một dần, đặc biệt là tri thức
y học bản địa (Nguyễn Thị Thanh Vân, 2005) [41]. Việt Nam là quốc gia có
nhiều loại dược liệu quý, hiếm và vốn tri thức y học truyền thống dân tộc với
nhiều bài thuốc có giá trị, thực sự là một kho tàng vô giá để tạo ra các sản phẩm
thuốc, dược liệu để phát triển nền y dược cổ truyền (Hải Yến, 2019) [65].
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), có đến 80% dân số ở các nước đang
phát triển vẫn dựa vào thuốc thảo dược để chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Còn
tại Việt Nam, theo báo cáo của Cục Quản lý Dược-Bộ Y tế, mỗi năm nước ta
tiêu thụ khoảng 50-60 nghìn tấn các loại dược liệu khác nhau, sử dụng vào việc
chế biến vị thuốc y học cổ truyền, nguyên liệu ngành công nghiệp dược hoặc
xuất khẩu (Phùng Tuấn Giang, 2016) [64]. Việc bảo tồn cây thuốc dân tộc khác
với việc bảo tồn các loại cây khác, vì nó gắn liền với tri thức sử dụng của dân
tộc thiểu số, nếu yếu tố tri thức mất đi thì cây thuốc trở thành cây hoang dại,
phi tác dụng (Nguyễn Thị Thanh Vân, 2005) [41]. Vì vậy, nghiên cứu về các
5
loài cây thuốc là hết sức cần thiết cho việc bảo tồn và phát triển các loài cây
thuốc và bài thuốc cho thế hệ hôm nay và mai sau.
2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trong nước và trên Thế giới
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên Thế giới
Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc cho
mục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia được
các nhà khoa học thực hiện trên khắp các châu lục trên Thế giới:
Ở Châu Á: Có thể nói đây là châu lục có nhiều dân tộc bản địa sinh sống,
với vốn tri thức bản địa về việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc phong phú
và đa dạng, đã có những nghiên cứu cụ thể ở các cộng đồng người, các khu vực
khác nhau như:
Manju Panghal và cs. (2010) công trình nghiên cứu kiến thức bản địa về
cây thuốc được sử dụng ở cộng đồng Saperas của làng Khetawas, quận Jhajjar,
Haryana, Ấn Độ đã tìm thấy 57 loài thực vật thuộc 51 chi và 35 họ được người
dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau, theo nghiên cứu này cây thuốc
được cộng đồng Saperas sử dụng nhiều nhất là các cây thuộc họ Fabaceae [54].
Arshad Abbasi và cs. (2013) khi thẩm định về thực vật học và các giá trị
văn hóa của các loại rau ăn được hoang dã quan trọng trong y học của Lesser
dãy Hymalaya đã ghi nhận 45 loại rau ăn được hoang dã thuộc 38 chi và 24 họ
đã được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau và tiêu thụ [44].
Mi-Jang Song và cs. (2013) khảo sát cây thuốc ở đảo Jeju, Hàn Quốc đã
tìm thấy 171 loài thực vật thuộc 141 chi và 68 họ, 777 cách sử dụng các loài
cây thuốc của người dân bản địa được ghi lại [57].
Auemporn Junsongduang và cs. (2013) nghiên cứu về cây thuốc từ
nương rẫy và rừng thiêng của dân tộc Karen và Lawa ở Thái Lan đã chỉ ra 365
loài thực vật thuộc 244 chi và 82 họ được sử dụng làm thuốc, trong đó các cây
thuộc họ Euphorbiaceae và Lauraceae được người dân sử dụng nhiều nhất [45].
6
Mi-Jang Song và cs. (2014) khi điều tra và phân tích các kiến thức truyền
thống về cây thuốc được sử dụng bởi các cư dân tại Vườn quốc gia (VQG)
Gayasan, Hàn Quốc đã điều tra và thống kê 200 loài thực vật thuộc 168 chi và
87 họ được các cư dân sử dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau như: rối loạn
cơ xương, đau nhức, rối loạn hệ hô hấp, bệnh gan và các vết cắt vết thương [58].
Ở Châu Âu: Đây là một Châu lục có lịch sử y học dân gian lâu dài, những
tri thức dân gian bản địa được truyền lại cho các thế hệ sau bằng việc ghi chép
lại và thông qua truyền miệng qua nhiều thế kỉ (Cassandra L. Quave và cs.,
2012) [48]. Những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
về việc sử dụng các loài thực vật để điều trị các loại bệnh của người dân bản
địa được thực hiện:
Maria Leporatti và cs. (2007) thực hiện nghiên cứu về một số công
dụng của cây thuốc trong khu vực Alto Tirreno Cosentino, Calabria, miền
Nam nước Ý đã chỉ ra 52 loài thực vật thuộc 35 họ được người dân sử dụng
để điều trị các loại bệnh chủ yếu như: bệnh ngoài da, bệnh về đường hô hấp,
đau răng, sâu răng và đau thấp khớp [55].
Montse Parada và cs. (2009) nghiên cứu thực vật dân tộc của khu vực
Alt Empordaf, Catalonia, bán đảo Iberia đã tìm thấy trên 518 loài thực vật thuộc
335 chi và 80 họ được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau [59].
Behxhet Mustafa và cs. (2012) nghiên cứu về các loài thực vật được sử
dụng làm thuốc của dãy núi Alps Albania ở Kosovo đã ghi nhận 98 loài thực
vật thuộc 39 họ được người dân sử dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau, trong
đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc các họ Rosaceae, Asteraceae
và Lamiaceae [46].
Ở Châu Mĩ: Việc nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc của người dân
bản địa cũng được thực hiện:
7
Rainer W Bussmann và Douglas Sharon (2006) kết quả nghiên cứu về
sử dụng cây thuốc cổ truyền ở miền Bắc Peru đã ghi nhận 510 loài thực vật
được người dân địa phương sử dụng để điều trị bệnh, các cây thuộc các họ được
sử dụng nhiều nhất là: Asteraceae, Fabaceae, Lamiaceae, Solanaceae,
Euphorbiaceae và Poaceae [60].
Cecilia Almeida và cs. (2006) nghiên cứu cây thuốc phổ biến được sử
dụng trong các khu vực Xingo – một khu vực khô hạn ở Đông Bắc Brazil đã
tìm thấy 187 loài thực vật thuộc 128 chi và 64 họ được người dân sử dụng để
điều trị các bệnh: cảm lạnh thông thường, viêm phế quản, bệnh tim mạch, bệnh
thận, viêm và an thần [49].
Gabriele Volpato và cs. (2009) kết quả nghiên cứu sử dụng cây thuốc của
người nhập cư Haiti và con cháu của họ ở tỉnh Camaguey, Cuba đã chỉ ra 123 loài
thực vật thuộc 112 chi và 63 họ được người nhập cư Haiti sử dụng để điều trị các bệnh
khác nhau [51].
Gaia Luziatelli và cs. (2010) khi nghiên cứu cây thuốc của cộng đồng
Ashaninka, một nghiên cứu từ các cộng đồng bản địa của Bajo Quimiriki, Junin,
Peru đã tìm thấy 402 loài thực vật được cộng đồng sử dụng để điều trị các loại
bệnh, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc các họ: Asteraceae,
Araceae, Rubiaceae, Euphorbiaceae, Solanaceae và Piperaceae [52].
Yadav Uprety và cs. (2012) nghiên cứu sử dụng cây thuốc trong rừng
phương Bắc của Canada đã điều tra và thống kê 546 loài cây thuốc được sử
dụng bởi những người thổ dân của rừng phương bắc Canada, các loại cây thuốc
này được sử dụng để điều trị 28 bệnh và triệu chứng rối loạn khác nhau, trong
đó các cây thuốc được sử dụng để chữa bệnh rối loạn dạ dày – ruột, rối loạn cơ
xương là chủ yếu [63].
Theo nghiên cứu “Thực vật dân tộc của người dân Rayones, Nuevo León,
Mexico” năm 2014, đã ghi nhận 252 loài thực vật thuộc 228 chi và 91 họ được
8
người dân Rayones sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó các họ được sử dụng
chủ yếu là: Asteraceae và Fabaceae (Eduardo Estrada-Castillón và cs., 2014) [50].
Nghiên cứu “Cây thuốc trong bối cảnh văn hóa của một cộng đồng
Mapuche – Tehuelche trong thảo nguyên Datagonia Argentina” đã chỉ ra 121
loài thực vật được cộng đồng sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến tiêu
hóa, hô hấp, tim mạch, giảm đau, chống viêm, sản khoa, phụ khoa và sinh dục
(Soledad Molares và Ana Ladio, 2014) [61].
Ở Châu Phi: Đây là khu vực mà từ lâu nay người dân đã biết sử dụng cây
thuốc bản địa hàng nghìn năm nay để bảo vệ sức khỏe của họ, những nghiên
cứu gần đây cho thấy việc sử dụng cây thuốc của những người dân bản địa ở
châu Phi rất đa dạng và phong phú:
Tilahun Teklehaymanot và Mirutse Giday (2007) nghiên cứu về thực vật
học của cây thuốc được sử dụng bởi người dân ở Zegie Peninsula, Tây Bắc
Ethiopia đã ghi nhận 67 loài cây thuốc thuộc 64 chi và 42 họ được người dân
sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến rối loạn tiên hóa, kí sinh trùng và
nhiễm trùng [62].
“Nghiên cứu về thực vật học và kiến thức bản địa về sử dụng cây thuốc
của các thầy lang trong khu vực Oshikoto, Namibia”, đã tìm thấy 61 loài cây
thuốc thuộc 25 họ được các thầy lang trong khu vực sử dụng để điều trị các
bệnh khác nhau như: Tâm thần, nhiễm trùng da, vết thương ngoài da, rắn cắn
và các vấn đề tim mạch (Ahmad Cheikhyoussef và cs., 2011) [43].
Nghiên cứu “cây thuốc được sử dụng bởi phụ nữ từ rừng ven biển
Agnalazaha Đông Nam Madagascar”, đã thống kê được 152 loài cây thuốc được
sử dụng bởi người dân địa phương để điều trị các bệnh, trong đó ghi nhận 8 loài
được sử dụng bởi những người phụ nữ để điều trị các biến chứng trong khi sinh,
các bệnh nhiệt đới như: sốt rét, giun chỉ và các bệnh liên quan đến tình dục như
bệnh lậu và giang mai (Mendrika Razafindraibe và cs., 2013) [56].
9
Nghiên cứu về “sử dụng và quản lý cây thuốc truyền thống của cộng
đồng dân tộc Maale và Ari, ở miền nam Ethiopia”, đã ghi nhận 128 loài cây
thuốc thuộc 111 chi và 49 họ được cộng đồng người Maale và Ari sử dụng để
điều trị các loại bệnh khác nhau (Berhane Kidane và cs., 2014) [47].
Ở Châu Úc: Những nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc bản địa được
thực hiện ở châu Úc còn rất ít. Một nghiên cứu về các loài cây thuốc được
sử dụng bởi cộng đồng thổ dân Yaegl ở miền Bắc New South Wales,
Australia, đã ghi nhận 32 loài cây thuốc thuộc 21 họ được thổ dân Yaegl sử
dụng để điều trị các bệnh (Joanne Packera và cs., 2012) [53].
Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc đã để lại những
công trình mang tính khoa học, tính dân tộc sâu sắc, cho thấy vốn tri thức dân
gian bản địa về sử dụng cây thuốc trên thế giới là vô cùng đa dạng và phong phú.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam tập quán sử dụng cây thuốc đã có từ lâu đời, có thể nói nó
xuất hiện từ buổi đầu sơ khai, khi con người còn sống theo lối nguyên thủy.
Trong quá trình tìm kiếm thức ăn, tổ tiên chúng ta đã ngẫu nhiên phát hiện ra
công dụng của nhiều loại cây. Suốt một thời gian dài như vậy tổ tiên chúng ta
đã dần dần tích lũy được nhiều kinh nghiệm, biết lợi dụng tính chất của cây
rừng để làm thức ăn và làm thuốc chữa bệnh.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngày càng có nhiều công trình
nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc Việt Nam. Năm 1976, để phục vụ cho công
tác giảng dạy và nghiên cứu cây thuốc, dược sĩ Vũ Văn Chuyên đã cho ra đời
cuốn sách “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” (Vũ Văn Chuyên, 1967) [11].
Năm 1980, Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương đã giới thiệu “Sổ tay cây thuốc
Việt Nam” giới thiệu 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới được phát
hiện (Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương, 1980) [1]. Viện dược liệu đã cho xuất
bản cuốn “Dược điển Việt Nam” tập I, II đã tổng kết các công trình nghiên cứu
10
về cây thuốc trong nhiều năm, cuốn “Danh lục cây thuốc miền Bắc Việt Nam”;
“Danh lục cây thuốc Việt Nam”; “Atlas – Bản đồ cây thuốc”, đã thống kê và
công bố một danh sách về cây thuốc từ năm 1961 – 1972 ở miền Bắc là 1.114
loài, từ năm 1977 – 1985 ở miền Nam là 1.119 loài (Dẫn theo Viện Dược Liệu,
1993) [40].
Viện Dược liệu (1993) [40], trong quá trình thu thập và nghiên cứu về
cây thuốc cho thấy, các cây thuốc hiện nay ở Việt Nam biết đến chủ yếu được
sử dụng theo kinh nghiệm dân gian và trong số trên 2000 loài và dưới loài cây
thuốc có tới gần 90% cây thuốc là các cây mọc tự nhiên và được phân bố chủ
yếu trong các quần thể rừng với trữ lượng lớn, khoảng 10% là cây thuốc được
đem về trồng ngay tại nhà.
Trong những năm này, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa
học đã được xuất bản thành các tập sách như: “Tài Nguyên cây thuốc Việt
Nam” (1993) của Viện Dược liệu, với khoảng 300 loài cây thuốc (Dẫn theo
Viện Dược Liệu, 1993) [40].
Công trình “1900 loài cây có ích” của Trần Đình Lý (1995) [25], đã
thống kê ở Việt Nam có khoảng 76 loài cho nhựa thơm, 260 loài cho dầu béo,
160 loài có tinh dầu, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây. Lương y lão thành, thầy
thuốc ưu tú Lê Trần Đức với công trình “Cây thuốc Việt Nam” (1995) đã giới
thiệu hơn 830 loài cây thuốc chính, phụ (Lê Trần Đức,1997) [14].
Võ Văn Chi là một nhà thực vật lớn của Việt Nam, đã đóng góp rất nhiều
trong quá trình nghiên cứu về các loài thực vật ở Việt Nam và ông đã biên soạn
cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, trong đó ông mô tả rất tỷ mỷ về các cây
được sử dụng làm thuốc ở Việt Nam bao gồm 3.200 cây (1996) (Võ Văn Chi,
1996) [8]. Ngoài ra, cuốn “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” tập I, II đề cập đến rất nhiều
cây cỏ có ích như làm gỗ, làm lương thực, làm thuốc (Võ Văn Chi, 2012) [9].
11
Trong những năm từ 2000 đến nay, đã có nhiều cuốn sách và các tài liệu
về cây thuốc được xuất bản nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều người quan tâm
tới cây thuốc trên khắp đất nước Việt Nam như: “577 bài thuốc dân gian gia
truyền” (Âu Anh Khâm, 2001) [21]; “Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phương
thang chữa bệnh” (Tào Duy Cần, 2001) [4] và cuốn “Thuốc bệnh 24 chuyên
khoa” (Tào Duy Cần, 2006) [5].
“Nghiên cứu cây thuốc từ thảo dược” (Nguyễn Thượng Dong, 2006) [13];
“Cây có vị thuốc ở Việt Nam” do Phạm Hoàng Hộ nghiên cứu và tập hợp (Phạm
Hoàng Hộ, 2006) [17]; “Cây thuốc, bài thuốc và biệt dược” của Phạm Thiệp và
cs. (2000) [33] đề cập tới 327 cây thuốc phổ biến,… Đồng thời, có nhiều công
trình nghiên cứu về cây thuốc trên cả nước công bố trên các tạp chí về cây thuốc
như: Đặng Quang Châu đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái
ở huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149 chi, thuộc 71 họ khác
nhau (Đặng Quang Châu, 2011) [6]. Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải khi điều
tra các loài cây của dân tộc Thái ở huyện Quỳ Châu (Nghệ An) đã thu được 93
loài thuộc 7 chi, 42 họ (Đặng Quang Châu và Bùi Hồng Hải, 2003) [7]. Các tác
giả đã phân loại cây được sử dụng theo các nhóm bệnh: bệnh ngoài da, bệnh về
đường tiêu hóa, bệnh về gan, bệnh về xương… Lưu Đàm Cư, Hà Tuấn Anh,
Trương Anh Thư khi điều tra các loài cây có ích của dân tộc H’mông ở vùng núi
cao phía Bắc đã phân loại được 4 nhóm theo công dụng: cây lương thực – thực
phẩm, cây làm thuốc, cây có độc, cây để nhuộm màu, cây ăn quả. Trong nhóm
này cây làm thuốc,các tác giả đã thống kê được 657 loài thuộc 118 họ mà người
H’mông sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc (Lưu Đàm Cư và cs.,
2004) [12]. Nguyễn Thị Thủy và Phạm Văn Thỉnh (2004) [36] đã xây dựng các
mô hình vườn bảo tồn cây thuốc ở vùng cao Sa Pa, như vườn rừng, trang trại,
vườn các hộ gia đình. Bước đầu đã bảo tồn được 52 loài cây thuốc thuộc 28 họ,
trong đó có nhiều loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.
12
Điều tra các loài cây thuốc và giá trị sử dụng của chúng ở một số xã thuộc
huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp” của tác giả Võ Thị Phượng và Ngô Trực
Nhã (2011) [27] đã điều tra và thống kê 232 loài cây được sử dụng làm thuốc
thuộc 186 chi, 90 họ tại các xã của huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Kết quả nghiên cứu về đa dạng tài nguyên cây thuốc của người Hmong
huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái của Hờ A Bình đã xác định được 86 loài
cây thực vật làm thuốc và xác định tương đối về tên địa phương, tên phổ thông,
tên khoa học, gồm 53 họ thực vật và 3 ngành thực vật đó là: Ngành Ngọc lan
(Magnoliophyta), ngành Dương xỉ (Pteridophyta) và ngành Dây gắm
(Gnetophyta) (Hờ A Bình, 2019) [2].
Nông Thái Hòa (2018) [19] khi nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt
tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên xác định được 137 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc ngành
Ngọc lan thuộc 129 chi và 72 họ có công dụng làm thuốc. Số họ thực vật làm
thuốc là 72 họ, Trong đó, họ nhiều loài nhất là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)
với 10 loài; họ Cúc (Asteraceae) và họ Hòa thảo (Poaceae) với 7 loài. Trong
129 chi, có tới 13 chi có 2 loài được sử dụng làm thuốc.
Nguyễn Minh Hiếu (2019) [16] kết quả nghiên cứu tri thức bản địa sử
dụng cây thuốc tại xã Nặm Pung, Bát Xát, tỉnh Lào Cai của đồng bào dân tộc
Dao đã ghi nhận được 75 loài thực vật thuộc 3 ngành: Ngành Ngọc lan
(Magnoliophyta), ngành Dương xỉ (Pteridophyta) và ngành Thạch tùng
(Lycopodiophyta) được đồng bào dân tộc Dao ở đây sử dụng lamg thuốc thuộc
73 chi và 42 họ.
Nông Thu Hằng (2019) [15] công trình nghiên cứu kiến thức bản địa về
khai thác và sử dụng một số cây dược liệu (lâm sản ngoài gỗ) tại vườn quốc gia
Phia Oắc-Phia Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng đã thống kê được 70
loài cây thuốc trong tổng số 42 loài, đã xác định được tên địa phương, tên phổ
thông và tên khoa học của các loài thực vật.
13
Hoàng Thị Thanh (2019) [32] thực hiện nghiên cứu tri thức bản địa sử
dụng cây thuốc tại xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai của đồng bào dân tộc
Hà Nhì đã ghi nhận được 102 loài thực vật bậc cao được cộng đồng Hà Nhì sử
dụng làm thuốc thuộc 90 chi, 52 họ.
Kết quả nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc của cộng đông
dân tộc Hmông tại xã Trung Lèng Hồ, huyên Bát Xát, tỉnh Lào Cai đã nghiên
cứu tim ra được 90 loài thực vật bậc cao có mạch được cộng đồng Hmong sử
dụng làm thuốc thuộc 81 chi, 53 họ (Vàng Văn Trung, 2019) [37].
Quàng Văn Kiêm (2019) [22] kết quả nghiên cứu về tri thức bản địa sử
dụng cây thuốc tại xã Kim Đồng, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đã xác định
được 102 loài thực vật bậc cao có mạch được cộng đồng dân tộc Nùng và Tày
sử dụng làm thuốc thuộc 94 chi, 57 họ.
Một nghiên cứu về cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một
số loài cây thuốc tại xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã thu
được 149 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc ngành Thông có 1 loài thuộc 1
chi và 1 họ, thuộc ngành Dương xỉ có 3 loài thuộc 3 chi và 3 họ, thuộc ngành
Mộc lan có 145 loài thuộc 133 chi và 70 họ có công dụng làm thuốc (Dương
Văn Hưng, 2018) [20]
Cùng với một nghiên cứu khác về cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng
khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái
Nguyên của Vàng A Lả cũng đã xác định được 183 loài thực vật bậc cao có
mạch, thuộc ngành Dương xỉ có 2 loài thuộc 2 họ và 2 chi. Thuộc ngành Nấm
có 1 loài thuộc 1 chi và 1 họ, Thuộc ngành Mộc Lan có 180 loài thuộc 156 chi
và 87 họ có công dụng làm thuốc chữa bệnh (Vàng A Lả, 2018) [23]
Lục Thanh Sắc (2018) [29] khi nghiên cứu về tri thức bản địa trong sử
dụng, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại
xã Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã thống kê được 85 loài
14
cây thực vật làm thuốc tại cộng đồng dân tộc Dao và đã xác định được tương
đối về tên địa phương, tên phổ thông, tên khoa học. Ngoài ra, Tác giả còn phát
hiện ra 22 bài thuốc trong tổng số hơn 57 loài cây được sử dụng trong bài thuốc,
xác định được bộ phận cây thuốc mà người dân thường dùng và cách pha chế
của mỗi bài thuốc.
Lương Minh Ngọc (2018) [26] công trình đã nghiên cứu tính đa dạng
nguồn cây thuốc được sử dụng trong đồng bào dân tộc Bru – Vân Kiều ở xã
Thượng Trạch, huyện Bổ Trạch, tỉnh Quàng Bình đã phát hiện được 52 loài cây
thực vật được dùng làm thuốc, thuộc 60 chi và 41 họ.
Với kết quả nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc được sử dụng trong
một số dân tộc thiểu số tại xã Chiềng Đông, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên
của Lò Thị Quý đã ghi nhận được 80 loài thực vật bậc cao thuộc 73 chi và 47
họ, được cộng đồng dân tộc sử dụng làm thuốc (Lò Thị Quý, 2018) [28]
Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc, các bài thuốc
không những mang lại những giá trị khoa học, giá trị thực tiễn sâu sắc mà còn
đóng góp và công tác bảo tồn nguồn dược liệu nước nhà, bảo tồn những bài
thuốc hay. Nhằm góp phần, bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam.
2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
* Vị trí địa lý
Xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng nằm ở phía Bắc của huyện
Thạch An, cách trung tâm huyện khoảng 2 km, địa giới hành chính xã được xác
định như sau:
+ Phía Đông giáp xã Thụy Hùng, xã Danh Sỹ
+ Phía Tây giáp xã Trọng Con, xã Thái Cường
+ Phía Nam giáp xã thị trấn Đông Khê, xã Đức Xuân
15
+ Phía Bắc giáp xã Vân Trình, xã Thị Ngân
- Diện tích tự nhiên: 3238,51 ha
Hệ thống giao thông: Xã Lê Lai có vị trí rất thuận lợi, giáp với trung tâm
huyện (Thị trấn Đông Khê) có 02 tuyến đường quốc lộ 4A cũ và 4A mới chạy
qua, và tỉnh lộ 208 nối huyện Thạch An với huyện Phục Hòa, đường tỉnh lộ 209
nối huyện Thạch An với Cửa Khẩu xã Đức Long. Giao thông đi lại với các xã
lân cận thuận lợi, tạo điều kiện rất lớn trong việc giao lưu thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội, học hỏi tiếp thu các ứng dụng khoa học kỹ thuật phục vụ cho
sản xuất, đời sống nhân dân.
* Điều kiện địa hình, địa mạo
Địa hình xã Lê Lai khá phức tạp bị chia cắt bởi những dãy núi đá vôi và
núi đất nằm rải rác và xen kẽ lẫn nhau nằm ở giữa các núi đá vôi và núi đất là
thung lũng đất đai ở đây phù hợp cho sản xuất nông nghiệp. Do địa hình của xã
không bằng phẳng nên việc bố trí sản xuất, tưới tiêu, giao thông gặp rất nhiều
khó khăn.
* Địa chất, thổ những
Theo báo cáo thống kê đất đai tính đến ngày 31/12/2019 của UBND xã
Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng [40] đã thống kê được như sau:
Tổng diện tích tự nhiên: 3238,51 ha
Diện tích đất nông nghiệp: 2913,3757ha
Diện tích đất phi nông nghiệp: 207,4943ha
Diện tích đất chưa sử dụng: 117,64ha
* Đặc điểm khí hậu
Xã Lê Lai có điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa: Nằm trong vùng khí
hậu nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm mưa nhiều, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió
mùa, Thời tiết trong năm chia thành hai mùa (mùa mưa và mùa khô) rõ rệt:
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm, lượng mưa khá lớn (chiếm
80% lượng mưa cả năm). Cá biệt có những trận mưa rào có cường độ lớn kèm
16
theo gió bão từ 2 đến 4 ngày; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng
mưa ít, có thời kỳ hanh khô kéo dài từ 15 đến 25 ngày, nhiều diện tích canh tác,
ao, hồ bị khô cạn. Nhiệt độ trung bình năm 23,40 C, (tháng 7 cao nhất là 28,90
C, tháng 01 thấp nhất là 15,80 C), sự chênh lệch giữa tháng cao nhất và tháng
thấp nhất là 13,10C. Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.530 – 1.776
giờ, trong tháng có nhiều giờ nắng trong năm là tháng 7, tháng có ít giờ nắng
trong năm là tháng 1. Lượng mưa dao động từ 1400 – 1500 mm/năm. Mưa tập
trung chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8. Lượng mưa lớn nhất lên tới 2.000 mm. Do
mưa Lớn tập trung nên có năm có hiện tượng ngập úng, kéo dài.
* Chế độ thủy văn
Hiện xã có 02 hồ chứa nước (hồ Nà Danh, hồ Khuổi Vàng), 02 đập chắn
nước ở (xóm Nà Cốc, xóm Nà Vàng) và một số tuyến kênh mương để điều
chỉnh nước phục vụ tưới tiêu cho đồng ruộng nhưng do địa hình phức tạp nên
hệ thống này chưa phát huy được nhiều, mà chỉ cung cấp một phần nào đó cho
sản xuất nông nghiệp.
2.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
Xã Lê Lai có 14 xóm với tổng số hộ là 759 hộ, tổng số nhân khẩu là
2.950 người, nhân khẩu lao động là 1.322 người (lao động nam là 793, nữ là
529) trong đó lao động nông nghiệp có 1.256 người chiếm 95% tổng lao động
toàn xã. Tỷ lệ tăng dân số trung bình là 1%.
Lao động đã qua đào tạo 238 người (chiếm 18% tổng số lao động), trong
đó lao động nông nghiệp là 1071 người chiếm 81%, lao động phi nông nghiệp
là 26 người (chiếm 0,02%).
Trên địa bàn xã chủ yếu có 4 dân tộc anh em sinh sống trong đó là: Kinh
có 22 người (chiếm 0,76%), Nùng có 1443 người (chiếm 49,66%), Tày với
1347 người (chiếm 46,35%), Dao với 94 người (chiếm 3%)
17
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, phạm vi thời gian và địa điểm nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Các loài thực vật được được các cộng đồng dân tộc thiểu số tại xã Lê Lai
sử dụng làm chuốc chữa bệnh; kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các cộng
đồng dân tộc thiểu số tại xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Công tác điều tra thực địa được tiến hành tại xã
Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 đến tháng 5/2020
- Nghiên cứu tri thức về kinh nghiệm sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc
của các cộng đồng dân tộc thiểu số gồm: dân tộc Nùng, Tày và Dao.
3.2. Nội dung nghiên cứu
* Đánh giá đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong các
cộng đồng dân tộc tại xã Lê Lai, huyện Thạch an, tỉnh Cao Bằng:
- Đánh giá đa dạng các bậc taxon của nguồn tài nguyên cây thuốc: đa
dạng bậc họ; đa dạng bậc chi.
- Đánh giá đa dạng về dạng sống của thực vật làm thuốc.
- Đánh giá về môi trường sống của thực vật làm thuốc.
* Xác định những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn: Đánh giá ở mức độ
quý hiếm của các loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu.
* Vốn tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc của các cộng đồng
dân tộc thiểu số ở xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
- Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu
số ở xã Lê Lai.
18
- Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu số ở
xã Lê Lai.
- Ảnh hưởng của sự giao thoa giữa các dân tộc đến vốn tri thức bản địa
trong việc sử dụng cây thuốc.
- Vấn đề truyền thụ kiến thức về cây thuốc trong cộng đồng dân tộc thiểu
số ở xã Lê Lai.
* Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá trị
cao được các cộng đồng dân tộc thiểu số sử dụng tại xã Lê Lai.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài thực hiện tại xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Để đạt
được các kết quả gắn với các nội dung nghiên cứu trên, cách thức và giải pháp
thực hiện ý tưởng bao gồm như sau:
3.3.1. Phương pháp kế thừa
- Kế thừa những những tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở khu
vực nghiên cứu và các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
- Kế thừa kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các ông lang, bà mế người
dân tộc ở khu vực nghiên cứu.
3.3.2. Phương pháp điều tra cộng đồng
- Điều tra phỏng vấn thu thập cây thuốc: Tại khu vực nghiên cứu, phỏng
vấn các ông lang, bà mế, người dân có kinh nghiệm sử dụng cây thuốc và sử
dụng các bài thuốc gia truyền của các cộng đồng dân tộc tại địa bàn nghiên cứu.
Mẫu phiếu điều tra dựa theo: phiếu điều tra cây thuốc trong cộng đồng và phiếu
điều tra bài thuốc gian dân (Viện Dược liệu, 1993) [40].
Thu thập đầy đủ các thông tin cây thuốc gồm: Tên phổ thông, tên địa
phương; số hiệu mẫu/ảnh cây thuốc; dạng sống; môi trường sống; bộ phận sử
dụng làm thuốc (thân, rễ, hoa, quả, hạt, nhựa, vỏ); công dụng. Đồng thời ghi
19
chép những đặc điểm dễ nhận biết của cây ngoài thiên nhiên, ghi rõ thời gian,
địa điểm và người thu thập thông tin.
- Định danh tên cây: định danh loài cây theo các bước: (i) định danh tại
thực địa; (ii) sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia và nguồn tài
liệu tin cậy đã công bố giám định lại.
+ Bước 1: xác định sơ bộ tên địa phương, tên thường gọi được thực hiện
ngay ở lần điều tra đầu tiên. Đối với những loài chưa chắc chắn thì chú thích
để kiểm định lại ở bước sau. Các loài không biết tên cần phải lấy mẫu (lá, hoa,
quả...) và ghi vào biểu điều tra bằng ký hiệu sp1, sp2... để giám định.
+ Bước 2: tất cả các cây được thẩm định lại tên cây, lập danh mục cây thuốc
bằng sử dụng kiến thức kinh nghiệm của các chuyên gia về thực vật và nguồn tài
liệu tin cậy đã công bố gồm: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 2000) [18], Từ
điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 2012) [8], Những cây thuốc và vị thuốc
Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2005) [24], Danh lục các loài thực vật Việt Nam (Trung
tâm NCTN&MT – Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện ST&TNSV, 2006) [38].
Danh sách tên cây thuốc sẽ được hoàn thiện ở bước này.
Bảng 3.1. Mẫu bảng điều tra cây thuốc được các cộng đồng dân tộc ở khu vực nghiên cứu Thời gian điều tra: Người điều tra:
Người được phỏng vấn
Stt
Dạng cây
Công dụng
Tên phổng thông
Tên địa phươn g
Môi trường sống
Cách sử dụng
Số hiệu ảnh chụp
Bộ phận sử dụng
Họ tên, điện thoại
Địa chỉ liên hệ
(1)
(2)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
(9)
(10)
(11)
Địa điểm điều tra: Địa chỉ điều tra:
20
3.3.3. Phương pháp thu thập mẫu
Đối với loài cây chưa xác định được tên ở ngoài thực địa và loài cần giám
định lại tên.
- Tiến hành thu mẫu ở thực địa: Mỗi cây thuốc thu từ 3 đến 10 mẫu và
được gắn nhãn ghi rõ các thông tin về ký hiệu mẫu, địa điểm,thời gian và người
thu mẫu (các mẫu cùng cây đánh số cùng số hiệu mẫu).
- Dụng cụ thu mẫu: bản gỗ ép mẫu, túi đựng mẫu, bao tải dứa, kéo cắt
cây, giấy báo , dây buộc, etyket, bút chữ A, sổ ghi chép, máy ảnh (Nguyễn
Nghĩa Thìn, 1997) [34].
Hình 3.1. Các dụng cụ sử dụng cho nghiên cứu trong đề tài
3.3.4. Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc
Đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của các cộng đồng
dân tộc ở xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, đề tài sử dụng phương
pháp đánh giá của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [34]:
- Đa dạng về bậc phân loại: ngành, lớp, họ, chi, loài.
- Đa dạng về dạng sống: kí sinh, dây leo, gỗ trung bình, gỗ nhỏ, thảo, bụi.
- Đa dạng về môi trường sống: rừng, đồi, vườn, ven suối hoặc nơi ẩm ướt.
- Đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc: thân, rễ, lá, hoa, quả, hạt,
nhựa, cả cây.
21
- Đa dạng về cách chế biến cây thuốc: khô và tươi.
- Đa dạng về các nhóm bệnh chữa trị: bệnh về khớp, tim, dạ dày, gan,
giải độc, xương,…
3.3.5. Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp
Đánh giá mức độ nguy cấp của các loài cây thuốc, xác định những cây
thuốc thuộc diện bảo tồn ở khu vực nghiên cứu theo: Sách đỏ Việt Nam, phần
thực vật rừng (Bộ KH&CN, 2007) [3], Nghị định 06/2019/NĐ-CP (Chính phủ
nước Việt Nam, 2019) [10], Danh sách đỏ cây thuốc Việt Nam trong Cẩm nang
cây thuốc cần được bảo vệ ở Việt Nam (Nguyễn Tập, 2007) [31].
3.3.6. Phương pháp nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn
- Bước 1: Chuẩn bị nguyên liệu
Nguyên liệu lá, thân, rễ cây thuốc sau khi thu hái được rửa sạch, để ráo
nước sau đó đem sấy khô ở 900C đến khối lượng không đổi.
- Nguyên liệu sau khi sấy khô được nghiền trong máy xay đa năng loại
nhỏ thành bột dạng mịn, bảo quản nơi khô ráo để sử dụng trong các nghiên cứu
tiếp theo.
- Bước 2: Tạo cao chiết
Nguyên liệu được tách chiết theo phương pháp ngâm nóng. Nguyên liệu
dạng bột khô được đem đi chiết với tỷ lệ 10 g/100 ml bằng dung môi methanol,
sau đó cho vào máy lắc với tần số 200 vòng/phút (để các chất có hoạt tính sinh
học tan đều trong dung môi) ở các điều kiện thời gian 24 giờ, sau đó tiến hành
lọc qua giấy lọc, 80 ml dịch lọc được đem đi cô đặc bằng máy cô quay (hoặc
sấy khô) đến khi có khối lượng khô không đổi và được bảo quản ở 40C để sử
dụng trong các nghiên cứu về khả năng kháng khuẩn.
- Bước 3: Chuẩn bị giống vi khuẩn
Sử dụng 2 chủng vi khuẩn gồm 1 chủng gram dương là S.a (Staphylococcus
aureus) và 1 chủng gram âm là E.coli (Escherichia coli), lấy từ phòng thí
nghiệm Vi sinh - Trường Đại học Khoa học Thái Nguyên. Bảo quản giống trên
22
môi trường thạch nghiêng: vi sinh vật được hoạt hóa trong môi trường LB, sau
đó được cấy chuyển sang môi trường thạch nghiêng, nuôi 24 giờ ở 370C, giữ
trong tủ lạnh để thực hiện các nghiên cứu tiếp theo.
- Bước 4: Thử khả năng kháng khuẩn
Kiểm tra khả năng kháng khuẩn của cao chiết bằng phương pháp khuếch
tán trên đĩa thạch, thí nhiệm được bố trí 3 lần nhắc lại trên một chủng vi khuẩn
3 đĩa petri trên 1 lần nhắc lại.
Pha cao chiết của toàn thân cây thuốc với nước ở nồng độ 100 mg/ml sau
đó dùng cao đã pha để thử hoạt tính kháng khuẩn.
Các thao tác được thực hiện trong tủ cấy vô trùng. Khi mật độ vi khuẩn
đạt đến nồng độ 106 tế bào/ml, lắc đều ống nghiệm chứa vi khuẩn. Môi
trường LB đã được hóa lỏng trong lò vi sóng, khi còn lỏng đổ đều môi trường
vào các đĩa Petri, sau đó để nguội để môi trường đông đặc lại tạo thành mặt
phẳng. Dùng micropipet hút 100μl dịch vi khuẩn vào giữa đĩa thạch chứa
môi trường LB (Thành phần của môi trường LB là như sau (g/l): Peptone -
10; Cao nấm men - 5; NaCl -10; pH: 7,0), dùng que cấy tam giác trang đều
cho đến khi mặt thạch khô. Sau 15 phút đục giếng trên môi trường thạch với
đường kính 6 mm, đục 2 giếng, mỗi giếng cách nhau 2 – 3 cm. Mỗi giếng
thạch nhỏ 100μl dịch cao chiết cần nghiên cứu bằng micropipet, sử dụng đối
chứng dương là kháng sinh Kanamycin và Akamicin với nồng độ 5mg/ml để
so sánh, để các đĩa thạch trong tủ lạnh 30 phút để dịch cao chiết khuếch tán
ra môi trường nuôi cấy vi khuẩn, sau đó nuôi cấy trong tủ ấm 370C, sau 24h
mang ra đo kích thước vòng kháng khuẩn. Hoạt tính kháng khuẩn được xác
định bằng cách đo kích thước vùng kháng khuẩn (BK) bằng công thức: BK
= D - d, trong đó D là đường kính vòng kháng khuẩn, d là đường kính giếng
thạch.
23
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng trong cộng đồng
các dân tộc thiểu số ở xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng
4.1.1 Đa dạng về các bậc Taxon
4.1.1.1. Đa dạng ở bậc ngành
Nghiên cứu cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm của cộng đồng các
dân tộc Nùng, Tày và Dao tại xã Lê Lai đã xác định được sự phong phú về
thành phần loài cây thuốc, cụ thể có 107 loài thực vật bậc cao có mạch được sử
dụng làm thuốc thuộc 102 chi và 70 họ. Kết quả được tổng hợp tại Bảng 4.1.
Bảng 4.1. Phân bố các ngành thực vật làm thuốc ở xã Lê Lai,
huyện Thạch An
Họ
Chi
Loài
Tỉ lệ
Tỉ lệ
Tỉ lệ
Stt
Ngành thực vật
SL
SL
SL
%
%
%
1 Ngành dương xỉ Pteridophyta
5
7,14
5,88
6
6
5,61
2 Ngành dây gắm Gnetophyta
1
1,43
0,98
1
1
0,94
3 Ngành ngọc lan Magnoliophyta 64
91,43
95 93,14 100 93,46
Tổng
70
100
102 100
107
100
Qua dữ liệu cho chúng ta thấy, các loài cây thuốc được sử dụng theo kinh
nghiệm của cộng đồng dân tộc Nùng, Tày, Dao ở xã Lê Lai,huyện Thạch An tập
trung chủ yếu vào ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), đây là ngành đa dạng nhất
với 100 loài (chiếm 93,46%); 95 chi (chiếm 93,14%) và 64 họ (chiếm 91,43%).
Tiếp theo là ngành Dương xỉ (Pteridophyta) có 6 loài (chiếm 5,61%); 6 chi
(chiếm 5,88%) và 5 họ (chiếm 7,14%). Thấp nhất là ngành Dây gắm
(Gnetophyta) chỉ có 1 loài, 1 chi, 1 họ. Sự phân bố không đồng đều n hau của
các taxon không chỉ được thể hiện giữa các ngành mà còn thể hiện qua sự chiếm
ưu thế của các lớp trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) như sau:
24
Bảng 4.2. Số lượng họ, chi, loài thuộc 2 lớp trong ngành Ngọc lan
Họ
Chi
Loài
Lớp
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
SL
SL
SL
%
%
%
Lớp Ngọc lan - Magnoliopsida
79,69
80
84,21
84
84,00
Lớp Hành - Liliopsida
20,31
15
15,79
16
16,00
51
95
100
100
100
100
Ngành Ngọc lan - Magnoliophyta 64
Tỉ lệ lớp Ngọc lan/lớp Hành
3,92
5,33
5,25
13
Kết quả cho thấy, lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) chiếm ưu thế với 51 họ,
chiếm 79,69% số họ trong ngành Ngọc lan (Magnoliophyta); số chi là 80, chiếm
84,21%; và số loài là 84 loài chiếm 84%. Một số loài thuộc lớp Ngọc lan có thể
kể đến như: loài Sói rừng - Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai được sử dụng để
chữa viêm khớp; loài Xạ đen - Celastrus hindsii Benth được bà con dân tộc
Nùng ở khu vực nghiên cứu sử dụng để điều trị ung thư gan; Tơ hồng vàng -
Cuscuta chinensis Lamk dùng để chữa tiểu đường; loài Giảo cổ lam -
Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino được sử dụng làm thuốc bổ điều
trị huyết áp, thận…
Lớp Hành (Liliopsida) chiếm tỉ trọng thấp hơn với 16 loài, 15 chi và 13
họ. Có thể kể đến một số loài thuộc lớp Hành là: Bách bộ - Stemona tuberosa
Lour được sử dụng để điều trị rối loạn tiền đình và chứng rậm lông ở phụ nữ;
loài Bảy lá một hoa - Paris chinensis Franch được dùng để điều trị rắn cắn, gãy
xương; loài Khúc khắc - Heterosmilax gaudichaudiana (Kunth) Maxim được
dùng làm thuốc bổ như mát tim, gan và là thuốc điều trị ỉa chảy; loài Lan kim
tuyến - Anoectochilus setaceus Blume được sử điều trị bệnh máu trắng và làm
thuốc bổ; …
Tỉ lệ họ giữa lớp Ngọc lan với lớp Hành là 3,92 nghĩa là trung bình cứ 3
họ thuộc lớp Ngọc lan thì sẽ có 1 họ thuộc lớp Hành; tương tự tỉ lệ các bậc chi
và bậc loài lần lượt là 5,33 và 5,25 có nghĩa là trung bình cứ 5 chi và 5 loài
thuộc lớp Ngọc lan sẽ có 1 chi và 1 loài thuộc lớp Hành.
Dưới đây là một số hình ảnh về một số loài cây thuốc ở khu vực nghiên cứu:
25
Ké hoa đào - Urena lobata L.
Bầu đất - Gynura procumbens (Lour.) Merr
Cốt cắn - Nephrolepis cordifolia (L.) Presl. Sa nhân tím - Amomum longiligulare T. L. Wu
Xạ đen - Celastrus hindsii Benth
Mật gấu – Vernonia amygdalina Del.
Hình 4.1. Hình ảnh một số loài cây thuốc ở KVNC
26
4.1.1.2. Số lượng phâns bố các loài cây trong từng họ.
Số lượng họ cây thuốc thu được ở khu vực nghiên cứu bao gồm 70 họ và
sự phân bố số lượng các loài cây thuốc trong các họ được thể hiện qua Bảng
4.3 như sau:
Bảng 4.3. Sự phân bố số lượng loài cây thuốc trong các họ
> 10
Ngành
1
2
4
5
6
7
8
9
loài và
3 loài
thực vật
loài
loài
loài
loài
loài
loài
loài
loài
< 15
loài
0
0
0
0
Pteridophyta
4
1
0
0
0
0
Polypodiopsida -
0
0
0
0
4
1
0
0
0
0
Lớp Dương xỉ
0
0
0
0
Gnetophyta
1
0
0
0
0
0
Gnetopsida - Lớp
0
0
0
0
1
0
0
0
0
0
dây gắm
0
0
1
0
Magnoliophyta
45
11
5
1
0
1
Liliopsida - Lớp
0
0
0
0
11
1
1
0
0
0
Một lá mầm
Magnoliopsida -
0
0
1
0
34
10
4
1
0
1
Lớp Hai lá mầm
0
0
1
0
Tổng số họ
50
12
5
1
0
1
Tỷ lệ số họ/ Tổng
0
0
0
71,43 17,14 7,14 1,43
0
1,43
1,43
số họ (%)
0
0
8
0
Số Loài
50
24
15
4
0
6
Tỷ lệ số loài/ Tổng
0
0
0
46,73 22,43 14,02 3,74
0
5,61
7,48
số loài (%)
(Nguồn số liệu được tổng hợp từ bảng Phụ lục 3)
Từ kết quả Bảng 4.3 trên số liệu cho thấy, có 1 họ có 8 loài đó là họ
Asteraceae (họ Cúc) thuộc lớp Hai lá mầm, chiếm 1,43% so với tổng số họ và
7,48% so với tổng số loài. Có 1 họ có 6 loài là họ Moraceae (họ Dâu tằm) thuộc
27
lớp Hai lá mầm trong ngành Ngọc lan, chiếm 1,43% so với tổng số họ và 5,61%
so với tổng số loài. Có 1 họ có 4 loài là họ Euphorbiaceae (họ Thầu dầu) chiếm
1,43% trên tổng số họ và 3,74% so với tổng số loài. Tiếp theo là có 5 họ có 3
loài trong đó họ Smilacaceae (họ Khúc khắc) thuộc lớp Một lá mầm còn lại họ
Araliaceae (họ Ngũ gia bì), Rutaceae (họ Cam), Polygonaceae (họ Rau răm) và
họ Menispermaceae (họ Tiết dê) thuộc lớp Hai lá mầm, chiếm 7,14% trên tổng
số họ và chiếm 14,02% so với tổng số loài. Số họ có số lượng là 2 loài có 13
họ trong đó có 1 họ tập trung ở lớp Một lá mầm của ngành Ngọc lan đó là họ
Zingiberaceae (họ Nghệ) và 1 họ tập trung trong lớp Dương xỉ (Polypodiopsida)
trong ngành Dương xỉ (Pteridophyta) còn lại là tập trung ở lớp Hai lá mầm của
ngành Ngọc lan, chiếm 17,14% so với tổng số họ và 22,43% so với tổng số loài
điều tra được.
Nhận định với số họ có số lượng loài cây thuốc là 1 loài chiếm số lượng
lớn nhất là 50 họ, chiếm 71,43% so với tổng số họ và chiếm 46,73% so với tổng
số loài, đa số các họ trung chủ yếu trong lớp Hai la mầm của ngành Ngọc lan.
4.1.1.3. Các họ đa dạng nhất
Kết quả đánh giá có 8 họ đa dạng nhất của nguồn tài nguyên cây thuốc
được sử dụng theo kinh nghiệm của cộng đồng các dân tộc thiểu số Nùng, Tày
và Dao ở xã Lê Lai của huyện Thạch An được ghi nhận tại Bảng 4.4:
Các họ đa dạng nhất ở khu vực nghiên cứu bao gồm: họ Cúc (Asteraceae) có
8 chi và 8 loài, họ Dâu tằm (Moraceae) có 2 chi và 6 loài, họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae) có 4 chi và 4 loài và họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Cam
(Rutaceae), họ Rau răm (Polygonaceae), họ Tiết dê (Menispermaceae) đều có 3
loài và 3 chi, họ Khúc khắc (Smilacaceae) có 3 loài và 2 chi.
28
Bảng 4.4. Các họ đa dạng nhất ở khu vực nghiên cứu
Tên họ
Loài
Chi
Stt
Tên Việt Nam
Tên khoa học
Số loài Tỉ lệ % Số chi Tỉ lệ %
1
Cúc
Asteraceae
8
7,48
8
7,84
2
Dâu tằm
Moraceae
6
5,61
2
1,96
3
Thầu dầu
Euphorbiaceae
4
3,74
4
3,92
4
Ngũ gia bì
Araliaceae
3
2,80
3
2,94
5
Cam
Rutaceae
3
2,80
3
2,94
6
Rau răm
Polygonaceae
3
2,80
3
2,94
7
Tiết dê
Menispermaceae
3
2,80
3
2,94
8 Khúc khắc
Smilacaceae
3
2,80
2
1,96
8 họ đa dạng nhất (11,43%)
33
30,84
28
27,45
107
102
Tổng số
Trong 8 họ giàu loài được xác định ở xã Lê Lai thì phần lớn cũng được
gặp ở các họ giàu loài của hệ thực vật Việt Nam. Các họ cây thuốc giàu loài tại
khu vực nghiên cứu có 2 họ nằm trong 10 họ đa dạng nhất của hệ thực vật Việt
Nam là: họ Cúc (Asteraceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae); 6 họ còn lại không
nằm trong 10 họ lớn nhất ở Việt nam đó là họ Cam, họ Tiết dê, họ Râu răm, ho
Ngũ gia bì, họ Khúc khắc, họ Dâu tằm. Điều này chứng minh rằng nguồn cây
thuốc ở xã Lê Lai tuy phong phú nhưng vẫn có nét khác biệt so với tính đa dạng
chung của hệ thực vật Việt Nam.
Kết quả so sánh các họ giàu loài của nguồn cây thuốc tại xã Lê Lai với
họ giàu loài của hệ thực vật Việt Nam (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005) được ghi
nhận tại Bảng 4.5 như sau:
29
Bảng 4.5. So sánh các họ giầu loài ở KVNC (1) với số loài của từng họ trong hệ thực vật Việt Nam (2).
Stt
Họ nhiều loài
KVNC (1)
DLTV VN (2)
Tỷ lệ % giữa (1) và (2)
1 Asteraceae - Họ Cúc
8
380
2,11
2 Moraceae - Họ dâu tằm
6
179
3,35
3 Euphorbiaceae - Họ thầu dầu
4
477
0,84
4 Rutaceae - Họ cam
3
128
2,34
5 Menispermaceae - Họ tiết dê
3
51
5,88
6 Polygonaceae - Họ rau răm
3
57
5,26
7 Araliaceae - Họ ngũ gia bì
3
158
1,90
8 Smilacaceae - Họ khúc khắc
3
36
8,33
Chú thích: (1) số loài cây thuốc của các họ trong KVNC. (2) theo Danh lục các loài thực vật Việt Nam (Trung tâm NCTN&MT – Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện
ST&TNSV, 2006)
Từ Bảng kết quả cho thấy, họ Cúc – Asteraceae của nguồn cây thuốc ở
xã Lê Lai có tới 8 loài chiếm tỉ lệ 2,105% tổng số loài trong họ Cúc của hệ thực
vật Việt Nam; họ Dâu tằm - Moraceae ở KVNC có 6 loài chiếm 3,352% tổng
số loài trong họ Dâu tằm của hệ thực vật Việt Nam; họ Thầu dầu –
Euphorbiaceae có 4 loài chiếm 0,839% tổng số loài trong họ Thầu dầu của hệ
thực vật Việt Nam, họ Cam có 3 loài chiếm 2,344% tổng số loài trong họ Cam
của hệ thực vật Việt Nam… Điều đó chứng tỏ xã Lê Lai là môi trường thuận
lợi, thích hợp cho các loài thuộc các họ này phát triển. Từ đó, có thể dự đoán
còn có khả năng phát hiện thêm những loài cây thuốc trong các họ trên ở xã Lê Lai.
4.1.2. Đa dạng về dạng sống của nguồn tài nguyên cây thuốc
Nghiên cứu kinh nghiện sử dụng cây thuốc ở xa Lê Lai, huyện Thạch
An, tỉnh Cao Bằng, tôi đã điều tra được 107 loài cây thuốc khác nhau được bà
30
con nơi đây sử dụng làm thuốc với sự đa dạng về các dạng sống khác nhau. Kết
quả được thể hiện ở Bảng 4.6 dưới đây:
Bảng 4.6. Đa dạng về dạng sống của nguồn cây thuốc ở KVNC
Stt Dạng sống Số lượng Tỷ lệ
1 Thân thảo 39 36,45
2 Bụi 26 24,30
3 Dây leo 22 20,56
4 Gỗ nhỏ 7 6,54
5 Gỗ trung bình 7 6,54
6 Gỗ lớn 4 3,74
7 Ký sinh và bán ký sinh 2 1,87
Từ bảng kết quả trên cho thấy, nguồn tài nguyên cây thuốc được sử dụng
theo kinh nghiệm của 3 cộng đồng dân tộc Nùng, Tày, Dao tại KVNC tập trung
vào 7 dạng sống, trong đó tập trung nhiều nhất vào 4 dạng sống cây thân thảo,
cây bụi và dây leo.
Thân thảo là dạng sống có số lượng loài nhiều nhất với 39/107 so với
tổng số loài (chiếm 36,45% so với tổng số loài). Các cây thuộc nhóm này tập
trung chủ yếu vào họ Gừng (Zingiberaceae) được dùng để chữa các bệnh như
dạ dày, hen suyễn, rắn cắn; họ Cúc (Asteraceae) một số cây như Bầu đất, Cứt
lợn, ké đầu ngựa...Được dùng để chữa các bệnh vô sinh, cầm máu, tiêu chảy…
Đứng thứ hai là dạng sống cây bụi với số lượng 26/107 loài được sử dụng
làm thuốc (chiếm 24,30%) dạng cây này tập trung chủ yếu ở các họ Khúc khắc
(Smilacaceae), họ Tiết dê (Menispermaceae), họ Cà phê (Rubiaceae)…Có thể
kể đến một số loài như: Cẩu tích - Cibotium barometz J. Sm. được cộng đồng
dân tộc Nùng sử dụng làm thuốc bổ và chữa đau lưng; Vú bò - Ficus
simplicissima Lour được cộng đồng dân tộc Dao sử dụng để điều trị tiểu đường
31
và thận yếu; Xuyên tiêu - Zanthoxylym nitidum (Roxb.) DC có tác dụng điều
trị đau răng và viêm vụ phụ khoa; …
Đứng thứ ba dạng dây leo với 22/107 loài được sử dụng làm thuốc (chiếm
20,56%), dạng cây này tập trung chủ yếu ở các họ Dâu tằm (Moraceae), họ Ô
rô (Acanthaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)… Một số loài cây thuốc thuộc
nhóm này như sau: Bòng bong - Lygodium flexuosum Sw. được cộng đồng dân
tộc Dao sử dụng để tắm chữa xương khớp; Bình vôi - Stephania rotunda Lour
được cộng đồng dân tộc Nùng sử dụng làm thuốc bổ; Tiết dê - Cissampelos
var. hirsuta (Buch. -Ham. ex DC.) Forman được cộng đồng người Nùng sử
dụng điều trị sỏi thận...
Thấp nhất là dạng cây ký sinh với 2/107 loài (chiếm 1,87% so với tổng
số loài) đó là 2 loài Tầm gửi gạo - Taxillus chinensis (DC.) Dans thuộc họ Tầm
gửi (Loranthaceae) được dân tộc Nùng sử dụng làm thuốc giải độc gan và loài
Tơ hồng vàng - Cuscuta chinensis Lamk thuộc họ Tơ hồng (Cuscutaceae) được
dân tộc Nùng dùng để điều trị bệnh tiểu đường.
Nhìn chung, vấn đề sử dụng các dạng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh của
3 dân tộc Nùng, Tày và Dao tại khu vực nghiên cứu khá đa dạng và phong
phú.
4.1.3. Đa dạng về nơi sống của nguồn tài nguyên cây thuốc
Để thuận lợi cho công tác bảo tồn các loài cây thuốc ở khu vực nghiên
cứu, Tôi đã tiến hành đánh giá sự đa dạng về môi trường sống của các loài cây
thuốc. Việc phân chia các loại môi trường sống, căn cứ vào địa hình, đất đai,
khí hậu, nơi mà cây thuốc đó phát triển. Có các dạng môi trường sau:
- Làng xóm, làm bản, vườn.
- Rừng (trồng, tái sinh, tự nhiên).
- Đồi cây bụi, đồi trọc, trảng cỏ
- Ven sông.
32
Bảng 4.7. Sự phân bố nguồn cây thuốc theo môi trường sống ở KVNC
Nơi sống Số loài Tỷ lệ % Stt
1 Rừng (trồng, tái sinh, tự nhiên) 79 73,83
2 Làng xóm, làng bản, vườn 44 41,12
3 Ven sông 14 13,08
4 Đồi cây bụi, đồi trọc, trảng cỏ 9 8,41
Tổng 146 136,45
Chú thích: Tỉ lệ % trong Bảng hơn 100% do một số loài có thể sống ở nhiều môi trường khác nhau
Tổng số loài 107
Qua Bảng 4.7 cho thấy, số lượng loài cây thuốc phân bố trên các sinh
cảnh là rất khác nhau:
Đối với môi trường ở rừng có số lượng cây thuốc nhiều nhất với 79/107
loài, chiếm 73,83% so với tổng số loài điều tra được, trong đó phải kể đến một
số loài sống ở rừng được bà con sử dụng nhiều như: Khoan cân đằng -
Tinospora sinensis (Lour.) Merr (1. Bét phạ) được bà con dân tộc Nùng sử dựng
để chữa đau xương khớp, thoái hóa cột sống; Bồ kết - Gleditsia australis Hemsl.
ex Forbes & Hemsl (1. Pác pít) được dân tộc Nùng sử dụng điều trị ngữa đầu,
đau đầu; loài Đa búp đỏ - Ficus elastica Roxb. ex Horn (1. Mảy lùng đen) được
cộng đồng dân tộc Nùng sử dụng để điều trị khớp và thần kinh tọa...
Đứng thứ hai là các loài cây thuốc được sống ở xung quanh nhà, trong
vườn, làng xóm có 44/107 loài và chiếm tỷ lệ 41,12% so với tổng số loài điều
tra được. Điều này cũng được minh chứng qua nghiên cứu của tác giả Quàng
Văn Kiêm (2019) khi điều tra về tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã Kim
Đồng, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng [22] cũng cho thấy môi trường sống ở
vườn chiếm số lượng nhiều nhất với 59 loài chiếm 57,84% so với tổng số loài.
Như vây, có thể thấy người dân ở KVNC đã từng bước có những biện pháp bảo
tồn nguồn tài nguyên cây thuốc cho tương lai.
33
Đứng thứ ba là những loài cây thuốc phân bố những nơi ẩm ướt, ven suối
với 14/107 loài, chiếm 12,96% so với tổng số loài, chủ yếu là những loài ưa ẩm
như: Mã đề - Plantago major L. (1. Péac đản) được dân tộc Nùng dùng để chữa
thận; Rau má - Centella asiatica (L.) Urb. in Mart (2. Péac chèn, 3. Péac chèn
pi) được cộng đồng dân tộc Tày dùng để giải độc và giúp tiêu hóa tốt, ngoài ra
cộng đồng dân tộc Dao còn dùng để chữa viêm họng; Rau bợ - Marsilea
quadrifolia L. (1. Péac trắng) được cộng đồng dân tộc Nùng dùng để điều trị
rắn cắn, …
Thấp nhất là những cây thuốc phân bố ở những khu vực đồi cây bụi, đồi
trọc trảng cỏ chỉ có 9 loài, chiếm 8,41% so với tổng số loài đó là những loài:
Chè - Camellia sinensis (L.) Kuntze; (2. Chè), được cộng đồng dân tộc Tày sử
dụng điều trị huyết áp; Ổi - Psidium guajava L. (1. Mác ổi) được cộng đồng
dân tộc Nùng sử dụng điều trị tiêu chảy, đau bụng đi ngoài; Trầu cổ - Ficus
pumila L. (1,3. Mác cúm thương) được cộng đồng dân tộc Nùng dùng để điều
trị tiểu đường và vô sinh còn cộng đồng dân tộc Dao dùng để làm thuốc bồi bổ
cơ thể…
Nhìn chung, đánh giá về nơi sống của từng loài cây thuốc được sử dụng
theo kinh nghiệm của cộng đồng các dân tộc Nùng, Tày, Dao ở khu vực nghiên
cứu là một việc rất quan trọng, điều này có ý nghĩa trong việc cung cấp cơ sở
khoa học cho công tác bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn nguyên liệu làm
thuốc chữa bệnh.
4.2. Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã ghi nhận được
ở khu vực nghiên cứu.
Căn cứ vào các tài liệu bảo tồn như Sách đỏ Việt Nam - Phần II Thực vật
(2007); Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam trong “Cẩm nang cây thuốc cần bảo
vệ ở Việt Nam” của Nguyễn Tập (2007) và Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của
34
Chính phủ ngày 22 tháng 01 năm 2019, tôi tiến hành xác định các loài cây thuốc
thuộc diện cần bảo tồn và kết quả được thể hiện Bảng 4.8 như sau:
Bảng 4.8. Danh lục cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ghi nhận ở xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng
Cấp quy định
Stt
Tên khoa học
Thuộc họ
SĐVN 2007
06/NĐ -CP
DLĐCT VN 2006
1
EN
IA
Lan - Orchidaceae
2
VU
VU
IIA
3
IIA
Dương xỉ - Polypodiaceae Kim mao - Dicksoniaceae
4
VU
IIA
EN
Hoa chuông - Campanulaceae
5
IIA
Tiết dê - Menispermaceae
6
IIA
Ngũ gia bì - Schisandraceae
7
IIA
Mạch môn đông -Convallariaceae
8
IIA
EN
9
VU
10
VU
EN
Trọng lâu - Trilliaceae Đơn nem - Myrsinaceae Rau răm - Polygonaceae
11
EN
Vu
Bầu bí - Cucurbitaceae
Lan kim tuyến - Anoectochilus setaceus Blume Tắc kè đá - Drynaria bonii Christ Cẩu tích - Cibotium barometz Đảng sâm - Codonopsis javanica (Blume) Hook. f. & Thoms Bình vôi - Stephania rotunda Lour Na rừng - Kadsura coccinea (Lem.) A. C. Smith Hoàng tinh hoa trắng - Disporopsis longifolia Craib Bảy lá một hoa - Paris chinensis Franch Khôi tía - Ardisia silvestris Pitard Hà thủ ô đỏ - Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson Giảo cổ lam - Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino
Chú thích: SĐVN: Sách đỏ Việt Nam; NĐ 06/2019/NĐ-CP: Nghị định 06 của Chính phủ; DLĐCTVN: Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam 2006; VU: Sắp nguy cấp – Vulnerable; EN: Nguy cấp - Endangered; IA: Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại; IIA: Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại
35
Từ bảng kết quả trên, có thể thấy có 11 loài cây thuốc đang thuộc diện
cần bảo tồn, chiếm 10,28% so với tổng số loài điều tra được, thuộc 12 họ và 12
chi được cộng đồng dân Nùng, Tày và Dao ở xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh
Cao Bằng sử dụng chữa bệnh. Cụ thể:
Số loài có tên trong Nghị định số 06/2019/NĐ-CP là 8 loài, trong đó có
1 loài ở mức IA - Nghiêm cấm khai thác sử dụng đó là loài Lan kim tuyến -
Anoectochilus setaceus Blume được cộng đồng dân tộc Nùng ở KVNC sử dụng
để chữa bệnh tim và bệnh máu trắng. Ở mức IIA - Hạn chế khai thác sử dụng
có 7 loài như: Tắc kè đá - Drynaria bonii Christ; Cẩu tích - Cibotium barometz;
Bình vôi - Stephania rotunda Lour; Na rừng - Kadsura coccinea (Lem) A. C.
Smith; Hoàng tinh hoa trắng - Disporopsis longifolia Craib; Bảy lá một hoa -
Paris chinensis Franch chiếm 58,33% tổng số loài thuộc diện cần bảo tồn đã
phát hiện được ở KVNC.
Số loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007) là 6 loài, trong đó có 2 loài
ở mức độ đang nguy cấp (EN) chiếm 16,67% tổng số loài cây thuốc thuộc diện
cần bảo tồn đã phát hiện được ở KVNC đó là loài Lan kim tuyến -
Anoectochilus setaceus Blume và Giảo cổ lam - Gynostemma pentaphyllum
(Thunb.) Makin; Có 4 loài ở mức độ sắp nguy cấp (VU) chiếm 33,33% tổng số
loài cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn đã phát hiện được ở KVNC đó là các loài:
Tắc kè đá - Drynaria bonii Christ; Đảng sâm - Codonopsis javanica (Blume)
Hook. f. & Thoms; Khôi tía - Ardisia silvestris Pitard và Hà thổ ô đỏ - Fallopia
multiflora (Thunb.) Haraldson.
Theo Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam (2006) có 5 loài, trong đó có 3
loài ở mức độ nguy cấp (EN) chiếm 25,00% tổng số loài cây thuốc thuộc diện
cần bảo tồn và có 2 loài thuộc mức đang nguy cấp (VU) đó là Giảo cổ lam -
Gynostemma pentaphyllum (Thunb.) Makino và Tắc kè đá - Drynaria bonii
Christ.
36
Ngoài ra, trong số 11 loài cây thuốc này có 2 loài là: Tắc kè đá -
Drynaria bonii Christ; Đảng sâm - Codonopsis javanica (Blume) Hook. f &
Thoms được ghi nhận ở cả 3 nguồn tài liệu bảo tồn là Nghị định số
06/2019/NĐ-CP của Chính phủ, Sách đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ cây
thuốc Việt Nam (2006). Vì vậy, cần có biện pháp sử dụng và khai thác hợp lý
các loài cây thuốc này để phục vụ cho công tác chữa bệnh lâu dài của cộng
đồng dân tộc thiểu số khu vực nghiên cứu nói riêng và của Việt Nam nói
chung.
4.3. Vốn tri thức trong việc sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu
số ở xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng
4.3.1. Kinh nghiệm sử dụng bộ phận làm thuốc của cộng đồng dân tộc thiểu
số ở xã Lê Lai Nghiên cứu về bộ phận sử dụng của các loài cây thuốc không chỉ cho
thấy tính chất phong phú và đa dạng trong khả năng chữa bệnh của các bộ phận
đó, mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với công tác bảo tồn. Đồng thời, việc nghiên
cứu các bộ phận sử dụng làm thuốc của cây phần nào đánh giá được tính bền
vững trong thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc trong cộng
đồng các dân tộc thiểu số. Kết quả thống kê về các bộ phận được sử dụng làm
thuốc theo kinh nghiệm của dân tộc Nùng, Tày và Dao ở xã Lê Lai, huyện
Thạch An, tỉnh Cao Bằng được trình bày tại Bảng 4.9.
Kết quả thống kê ở Bảng 4.9 cho thấy việc sử dụng bộ phận loài cây làm
thuốc của 3 cộng đồng dân tộc Nùng, Tày và Dao rất phong phú với 9 bộ phận
được sử dụng. Trong đó bộ phận cả cây, lá, củ, rễ được sử dụng nhiều hơn so
với các bộ phận khác. Cụ thể:
- Bộ phận sử dụng cả cây: Đây là bộ phận được cả 3 dân tộc sử dụng
nhiều nhất trong đó dân tộc Nùng có số lượng nhiều nhất với 30/62 loài, chiếm
48,39% so với tổng số loài điều tra được từ dân tộc Nùng, bên cạnh đó dân tộc
37
Tày và Nùng đều biết sử dụng với số lượng và tỷ lệ lần lượt là 14/32 (43,75%)
và 14/30 loài (46,67%) so với tổng số loài điều tra được từ cộng đồng dân tộc
Tày và Dao. Trong đó phải kể đến những loài cây có giá trị như: cây Si- Ficus
benjamina L. (1. Mạy hlai chèn, 3. Si) được cộng đồng dân tộc Nùng sử dụng
để ngâm rượu xoa bóp chấm thương làm thuốc bổ, ngoài ra cộng đồng dân tộc
Dao cũng dùng để điều trị bệnh xương khớp về đau lưng; Quế- Cinnamomum
bejolghota (Buch. -Ham. ex Nees) Sweet (2. Quể) được cộng đồng dân tộc Tày
sử dụng để điều trị lưu thông huyết mạch; Bòn bọt - Glochidion eriocarpum
Champ (3. Ản mật khôn) được cộng đồng dân tộc Dao sử dụng điều trị lợi tiểu...
- Đối với bộ phận lá: Dân tộc Nùng biết sử dụng với số lượng nhiều nhất
với 20/62 loài, chiếm 32,26% so với tổng số loài điều tra được từ dân tộc Nùng,
còn dân tộc Tày và Dao có số lượng ít hơn với số lượng và tỷ lệ lần lượt là
11/32 loài (chiếm 34,38%) và 5/30 loài (chiếm 16,67%) so với tổng số loài điều
tra được từ 2 cộng đồng Tày và Dao. Trong nhóm này có thể kể đến một số loài
như sau: Cốt khí củ - Reynoutria japonica Houtt (1. Mèn kèm) được cộng đồng
dân tộc Nùng sử điều hắc lào lang beng đồng thời dùng để ngâm rượu để điều
trị xương khớp; Sữa - Alstonia scholaris (L.) R. Br (1. Tin pét đeng) cộng đồng
dân tộc Nùng sử dụng điều trị hắc lang beng, đau xương khớp; Cỏ lào -
Chromolaena odorata (l.) r.m. king & h.rob (1. Cách mang) được cộng đồng
dân tộc Nùng sử dụng để cầm máu; Đơn buốt - Bidens pilosa L. (1. Kim pu)
được cộng đồng dân tộc Nùng dùng để điều trị đau răng…
- Đối với bộ phận củ: Cộng đồng dân tộc Nùng đã biết sử dụng 12/62
loài (chiếm 19,35%), còn cộng đồng Tày và Dao lần lượt biết sử dụng 4/32 loài
và 3/30 loài dùng làm thuốc (chiếm 12,50% và 10%). Trong nhóm này có thể
kể đến một số loài như: Thạch vĩ - Pyrrhosia lingua (Thunb.) Farwell (1. Thạch
vĩ) được cộng đồng dân tộc Nùng sử dụng làm thuốc bổ thận; Tắc kè đá -
Drynaria bonii Christ (1,3. Cáy pùng, 2. Mờ lình) cây được cộng đồng dân tộc
Nùng và Tày sử dụng để chữa nhức xương khớp ở đầu gối chân và lưng, ngoài
38
ra cộng đồng dân tộc Tày cũng sử dụng để điều trị chấn thương; Cốt cắn -
Nephrolepis cordifolia (L.) Presl. (2,3. Cốt cắn) được cộng đồng dân tộc Tày
sử dụng điều trị huyết áp, ngoài ra cộng đồng dân tộc Dao còn sử dụng để điều
trị rắn, rết cắn…
- Đối với bộ phận rễ: Cộng đồng dân tộc Nùng đã biết sử dụng 11/62 loài
(chiếm 17,74% so với tổng số loài điều tra được từ dân tộc Nùng), cộng đồng
dân tộc Tày và Dao biết sử dụng lần lượt là 3/32 và 8/30 loài cây thuốc (chiếm
9,38% và 26,67%) và có thể kể đến một số loài như: Ngũ gia bì - Acanthopanax
lasiogyne Harms (1. Mảy tảng) được cộng đồng dân tộc Nùng dùng làm thuốc
bồi bổ cơ thể; Thôi ba - Alangium chinense (Lour.) Harms (3. Mạy đa) được
cộng đồng dân tộc Dao sử dụng để điều trị đái rát; Màng tang - Litsea cubeba
(Lour.) Pers (1. Khẩu khinh) được cộng đồng dân tộc Nùng sử dụng để điều trị
bệnh đau thần kinh tọa và rắn căn…
Bảng 4.9. Bộ phận sử dụng của cây thuốc theo kinh nghiệm sử dụng trong cộng đồng dân tộc ở KVNC
Nùng
Tày
Dao
Stt
Bộ phận sử dụng
SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ % SL Tỷ lệ %
Cả cây
43,75
14
46,67
30
48,39
14
1
Lá
20
32,26
11
16,67
34,38
5
2
Củ
12
19,35
4
10,00
12,50
3
3
Rễ
11
17,74
3
26,67
9,38
8
4
Thân
7
11,29
0
13,33
0,00
4
6
Quả
3
4,84
0
3,33
0,00
1
5
Vỏ
2
3,23
3
10,00
9,38
3
7
Hoa
1
1,61
0
0,00
0,00
0
8
Nhựa
0
0,00
1
3,33
3,13
1
9
36
39
Tổng
86
138,71
112,50
130,00
32
30
Tổng số loài phát hiện của mỗi dt 62
Chú thích: Tỷ lệ % trong bảng lớn hơn 100% do một số loài có thể sử dụng nhiều bộ phận khác nhau làm thuốc
39
Nhìn chung kết quả nghiên cứu đã chứng minh được rằng: các bộ phận
của cây được sử dụng làm thuốc của cả 3 cộng đồng Tày, Nùng và Dao ở khu
vực nghiên cứu rất đa dạng và phong phú, đặc biệt đối với kinh nghiệm sử dụng
cây thuốc của cộng đồng dân tộc Nùng. Mặt khác kết quả cũng cho thấy việc
sử dụng bộ phận cả cây hoặc thân hoặc rễ hoặc củ làm thuốc sẽ rất bất lợi trong
việc bảo tồn nguồn gen của cây thuốc, vì vậy chúng ta cần phát triển và thực
hiện các phương pháp trồng cây thuốc có bộ phận được sử dụng là cả cây hoặc
thân hoặc rễ, để bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên cây dược liệu trong
khu vực nghiên cứu nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
4.3.2. Kinh nghiệm về nhóm bệnh chữa trị của cộng đồng dân tộc thiểu số ở
xã Lê Lai. Thông qua quá trình điều tra thu thập những kinh nghiệm sử dụng cây
thuốc trong điều trị bệnh, tôi nhận thấy rằng cộng đồng dân tộc Nùng, Tày và
Dao đều có những kiến thức sử dụng cây thuốc rất đa dạng và phong phú và
mang tính gia truyền trong điều trị các nhóm bệnh khác nhau. Kết quả đó được
thể hiện ở Bảng 4.10 và Hình 4.1 dưới đây.
Bảng 4.10. Tỷ lệ số loài có công dụng chữa các nhóm bệnh cụ thể
Nùng
Tày
Dao
Stt
Nhóm bệnh cụ thể
Số loài
Tỉ lệ %
Số loài
Tỉ lệ %
Số loài
Tỉ lệ %
1
20
32,26
5
15,63
2
6,67
2
13
20,97
5
15,63
6
20,00
3
9
14,5
4
12,50
3
10,00
4
9
14,52
2
6,25
6
20,00
Nhóm thuốc bổ (bổ gan, mát gan tim và thận, bổ máu, bổ tim..) Nhóm bệnh xương khớp, hệ vận động (gẫy xương, đau xương khớp khủy tay, đau đầu gối, teo cơ…) Nhóm bệnh đường tiêu hóa (đau bụng, tiêu chảy, táo bón, kiết lỵ, đau bụng đi ngoài...) Nhóm bệnh đường tiết niệu (lợi tiểu, sỏi thận, Sỏi thận bàng quang, tiểu đường…)
40
Nùng
Tày
Dao
Stt
Nhóm bệnh cụ thể
Số loài
Tỉ lệ %
Số loài
Tỉ lệ %
Số loài
Tỉ lệ %
Nhóm bệnh ngoài da (ghẻ lở, hắc
7
11,29
5
15,63
3
10,00
5
lào lang beng, dị ứng, da khô, lở ngữa, bỏng...)
Nhóm bệnh về thần kinh (rối loạn
tiền đình, thần kinh tọa, tê bì chân
5
8,06
2
6,25
0
0,00
6
tay…)
Nhóm bệnh do động vật cắn(rắn
5
8,06
6,25
1
3,33
2
7
cắn, rết cắn)
Nhóm bệnh về tim mạch (huyết áp
4
6,45
9,38
1
3,33
3
8
cao, huyết áp thấp)
Nhóm bệnh đường hô hấp (ho gió,
3
4,84
7
21,88
2
6,67
9
ho đờm, viêm họng, hen suyễn,..)
Nhóm bệnh phụ nữ, sinh sản, sinh
dục, sinh lý (vô sinh, điều kinh,
2
3,23
2
6,25
2
6,67
10
viêm phụ khoa...)
Nhóm bệnh trẻ em (hen trẻ em, tắm
2
3,23
0,00
0
0,00
0
11
cho trẻ bị ngứa dị ứng...)
Nhóm bệnh về gan (giải độc gan,
2
3,23
6,25
0
0,00
2
12
xơ gan cổ trướng, viêm gan.)
Nhóm bệnh về ung bướu (ung thư
2
3,23
0,00
0
0,00
0
13
gan, bệnh máu trắng)
2
3,23
3,13
1
3,33
1
14 Cầm máu
Nhóm bệnh về răng miệng (nhiệt
1
1,61
0,00
2
6,67
0
15
miệng, đau răng)
0
0,00
6,25
1
3,33
2
16
Nhóm bệnh về ngộ độc (giải độc, giải độc rượu.)
86 138,71 42 131,25 30
100
Tổng
62
32
30
Tổng số loài phát hiện theo mỗi dt
Chú thích: Tỉ lệ % ở bảng lớn hơn 100 do một số loài có thể sử dụng chữa nhiều
nhóm bệnh khác nhau
41
Hình 4.2. Tỷ lệ nhóm bệnh chữa trị từ nguồn cây thuốc theo kinh nghiệm sử dụng trong cộng đồng dân tộc Tày, Nùng, Dao tại xã Lê Lai
Từ kết quả Bảng 4.10 cho thấy có 16 nhóm bệnh khác nhau được cộng
đồng 3 dân tộc Nùng, Tày và Dao sử dụng các loài cây thuốc để điều trị, trong
đó người Nùng biết sử dụng thuốc để điều trị 15 nhóm bệnh, người Tày biết sử
dụng cây thuốc để điều trị 13 nhóm bệnh và người Dao biết điều trị 12 nhóm
bệnh. Trong đó có nhũng căn bệnh nan y như: ung thư gan, tim mạch, thận,
gan… Cụ thể:
Với cộng đồng dân tộc Nùng: Số lượng cây thuốc được sử dụng để chữa
trị tập trung lớn vào 5 nhóm bệnh là nhóm làm thuốc bổ với 20/62 loài cây
(chiếm 32,26% so với tổng số loài điều tra được từ Nùng); nhóm bệnh xương
khớp, hệ vận động với 13/62 loài cây (chiếm 20,97%), nhóm bệnh về tiêu hóa
và nhóm bệnh tiết niệu đều có 9/62 loài (chiếm 14,52%); tiếp là nhóm bệnh
ngoài da với 7/62 loài (chiếm 11,29%)
42
Tiếp theo, với dân tộc Tày: Số lượng cây thuốc được sử dụng để chữa trị
tập trung vào 4 nhóm bệnh là nhóm bệnh đường hô hấp với 7/32 loài (chiếm
21,88% so với tổng số loài điều tra được từ dân tộc Tày); tiếp là nhóm làm
thuốc bổ, xương khớp hệ vận động, nhóm bệnh ngoài da đều có 5/32 loài (chiếm
15,63%).
Với cộng đồng dân tộc Dao: Những nhóm bệnh được cộng đồng dân tộc
Dao sử dụng các loài cây thuốc điều trị tập trung vào 2 nhóm bệnh chính đó là
nhóm bệnh xương khớp, hệ vận động và nhóm bệnh về đường tiết niệu với 6/30
loài cây (chiếm 20% so với tổng số loài điều tra được từ dân tộc Dao).
Nhìn chung, kinh nghiệm sử dụng nguồn tài nguyên cây cỏ làm thuốc
các dân tộc thiểu số Nùng, Tày và Dao ở xã Lê Lai rất đa dạng và phong phú.
Trong đó, dân tộc Nùng thể hiện tính nổi bật hơn về kinh nghiệm sử dụng cây
thuốc thông qua số lượng loài cây thuốc biết cách sử dụng và số lượng nhóm
bệnh chữa trị cho người dân. Sở dĩ dân tộc Nùng chiếm số lượng loài cây thuốc
nổi bật hơn là bởi vì dân tộc Nùng là cộng đồn dân tộc chiếm tỷ đông nhất so
dân tộc Tày, Dao, Kinh tại KVNC.
4.3.3. Ảnh hưởng của sự giao thoa giữa các dân tộc đến vốn tri thức bản địa
trong việc sử dụng cây thuốc
Trải qua quá trình sinh sống lâu dài, mỗi cộng đồng dân tộc đều thể hiện
sự sáng tạo của riêng mình trong việc đấu tranh chóng chọi lại với bệnh tật,
chính sự đấu tranh đó đã giúp cho họ tìm ra được những phương pháp trong
việc điều trị các bệnh tật cũng như chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng mình từ
việc sử dụng các loại cây cỏ có sẵn trong tự nhiên. Cho đến ngày nay những
kinh nghiệm đó đã được người dân ở xã Lê Lai huyện Thạch An tỉnh Cao Bằng
đúc kết và học hỏi qua nhiều thế hệ, đã trở thành những kinh nghiệm quý báu.
Chính sự học hỏi qua lại giữa các dân tộc đã tạo nên sự giao thoa giữa các dân
tộc với nhau trong việc sử dụng các loài cây cỏ trong điều trị và phòng chống
43
bệnh. Trong quá trình điều tra, nghiên cứu tôi nhận thấy giữa các dân tộc ở xã
Lê Lai có sự giao thoa trong việc sử dụng cùng một cây thuốc để điều trị các
bệnh, kết quả được thể hiện ở Bảng 4.11 sau:
Bảng 4.11. Danh sách cây thuốc được cả 3 dân tộc ở KVNC sử dụng
Stt Tên khoa học Tên phổ thông
Tên dân tộc
Công dụng
Drynaria bonii
Tắc kè đá
1,3. Cáy pùng
1,2. Nhức xương khớp
2. Mờ lình
ở đầu gối chân và
Christ
1
lưng.
3. Chấn thương
Paris chinensis
Bảy lá một hoa 1,2,3. Cản lượng 1. Gãy xương, rắn cắn
Franch
2. Chấn thương, rắn cắn, gẫy xương.
2
3. Chấn thương, gẫy
xương.
Gynostemma
Giảo cổ lam
1. Dần tòong
1,3. Huyết áp
2. Booc đạ
2. Mát gan thận
pentaphyllum
3
3. Diềng tòng
(Thunb.)
Makino
Oroxylum
Núc nác
1,2,3. Ka liệng
1. Lở ngữa, kháng
sinh
indicum
(L.)
4
2. Lở ngữa, dạ dày.
Kurz
3.Mát gan
Choerospondias
Xoan nhừ
1,2,3. Mác nhừ
1,2. Chữa bỏng, dạ
dày
axillaris
5
3. Dạ dày
(Roxb.) Burtt. & Hill
Chú thích: Tên dân tộc: 1. Nùng, 2. Tày, 3. Dao
Qua những dẫn liệu trên cũng như từ quá trình điều tra nghiên cứu tại
KVNC tôi đã thống kê được 5 loài cây thuốc được cả 3 cộng đồng dân tộc
Nùng, Tày và Dao cùng sử dụng chung để phòng và điều trị bệnh. Trong đó có
những cây đươc cả 3 dân tộc cùng sử dụng để điều trị một nhóm bệnh đó là
44
loài: Xoan nhừ - Choerospondias axillaris (Roxb.) Burtt. & Hill, theo kinh
nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng Nùng, Tày và Dao ở xã Lê Lai, huyện
Thạch An thì cây Xoan nhừ có tác dụng điều trị dạ dày, ngoài ra cộng đồng dân
tộc Nùng và Tày còn sử dụng loại cây này để điều trị bỏng ngoài da. Ngoài ra
loài Bảy lá một hoa - Paris chinensis Franch cũng được cả 3 cộng đồng dân tộc
cùng sử dụng điều trị bệnh xương khớp, đây là một nhóm bệnh hay gặp đối với
người dân nông nghiệp, điều kiện đi lại khó khăn, ngoài bệnh xương khớp ra
các cộng đồng dân tộc Nùng và Dao còn sử dụng loài cây này vào việc điều trị
các bệnh do rắn cắn. Tuy nhiên do loài cây này có giá trị lớn nên hiện nay đang
đứng trước nguy cơ biến mất khỏi tự nhiên, do hành động buôn bán sang Trung
Quốc và các nguyên nhân khác như chặt phá rừng, cháy rừng, biến đổi khí
hậu...Do đó chúng ta cần có biện pháp bảo tồn và phát triển loài cây này.
Từ dẫn liệu trên cũng cho thấy nguồn tri thức sử dụng cây thuốc của cộng
đồng dân tộc Nùng, Tày và Dao ở KVNC tương đối phong phú, tuy nhiên
những kiến thức đó chỉ được truyền trong một phạm vi cộng đồng cùng với đặc
trưng truyền miệng từ đời này sang đời khá do đó có nguy cơ mai một đi, do
đó chúng ta cần có những biện pháp tiếp thu những nguồn tri thức quý đó để
tránh mai một đi.
So sánh với nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Sinh (2020), nghiên cứu
tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã Đức Thông, huyện Thạch An, tỉnh Cao
Bằng cho thấy cộng đồng dân tộc Nùng, Tày và Dao ở xã Đức thông, huyện
Thạch An có sự giao thoa về kinh nghiệm sử dụng cây thuốc đa dạng hơn so
với cộng đồng dân tộc Nùng, Tày và Dao ở xã Lê Lai, cụ thể ở xã Đức Thông
có 8 loài được cả 3 dân tộc cùng sử dụng, còn ở xã Lê Lai chỉ có 5 loài được 3
cộng đồng cùng sử dụng.
Mặc dù, ngôn ngữ của các dân tộc thuộc nhiều nhóm khác nhau: Dân tộc
Nùng, Tày thuộc nhóm Tày – Thái; dân tộc Dao thuộc nhóm Mông – Dao, tuy
45
nhiên do các dân tộc sống xen kẽ nhau trong một cộng đồng nên có sự ảnh
hưởng giao thoa nhất định về mặt ngôn ngữ cũng như tri thức bản địa trong
việc sử dụng cây cỏ để chữa bệnh. Do vậy mà đa số các loài cây đều cùng có
chung một tên gọi.
Bên cạnh ngoài việc giao thoa trong cách gọi tên của các cây thuốc giữa
các dân tộc còn có sự giao thoa trong cách sử dụng cây cỏ để chữa bệnh. Trong
quá trình điều tra nghiên cứu, nhận thấy có nhiều loài cây được cả 3 cộng
đồng dân tộc Nùng, Tày và Dao sử dụng để chữa một nhóm bệnh. Đặc biệt,
hiện nay nhóm bệnh về xương khớp đang là một trong những nhóm bệnh mà
tỉ lệ người mắc phải rất cao, đặc biệt là những già hoặc trung niên, thận chí là
những người làm việc trong văn phòng. Mặc dù, bệnh về xương khớp tỷ lệ tử
vong không cao, nhưng lại gây ra những ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh.
Bảng 4.12. Danh sách cây thuốc các dân tộc cùng sử dụng chữa bệnh về xương khớp
Tên
Stt
Tên khoa học
Tên dân tộc
Công dụng
phổ thông
1. Gẫy xương, rắn cắn
1.Cản lượng
2. Chấn thương, rắn cắn,
Paris
chinensis
Bảy lá
1
2.Cản lượng
gẫy xương.
Franch
một hoa
3.Cản lượng
3. Chấn thương, gẫy
xương.
1. Ngâm rượu uống, xoa
bóp chấm thương làm
2 Ficus benjamina L
Si
1. Mạy hlai chèn
thuốc bổ, bệnh khớp.
3. Khớp, đau lưng.
bonii
3
Tắc kè đá
Drynaria christ
1,3. Cáy pùng 2. Mờ lình
1-2. Nhức xương khớp ở đầu gối chân và lưng. 3. Chấn thương
Từ Bảng 4.12 cho thấy số lượng cây thuốc được cả 3 cộng đồng dân tộc
Nùng, Tày và Dao sử dụng để điều trị nhóm bệnh về xương khớp còn ít, chỉ có
46
3 loài chỉ chiếm 2,80% so với tổng số loài điều tra được tại KVNC, trong khi
nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Sinh (2020) [30] tại xã Đức Thông, huyện
Thạch An, tỉnh Cao Bằng đã thống kê được 5/112 loài được 3 cộng đồng dân
tộc Nùng, Tày và Dao sử dụng chiếm 4,46%.
Đồng thời có thể thấy rằng giữa ba loài cây trên thì có 2 loài đã được
được đưa vào danh sách những loài cần bảo tồn tại Nghị định 06/2019/NĐ –
CP, sách đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam 2006 đó là 2
loài Bảy lá một hoa - Paris chinensis Franch và loài Tắc kè đá - Drynaria bonii
christ. Do đó, mỗi chúng ta cần có ý thức trách nhiệm bảo tồn và gây trồng các
loài cây dược liệu quý hiếm này tại KVNC.
Trong quá trinh điều tra, nghiên cứu không chỉ thống kê được những loài
được sử dụng chung để điều trị bệnh xương khớp mà những những nhóm bệnh
liên quan đến gan, dạ dày cũng được các cộng đồng quan tâm.
Bảng 4.13. Danh sách cây thuốc các dân tộc cùng sử dụng chữa bệnh về gan, dạ dày
Stt
Tên khoa học
Tên Việt
Tên dân tộc
Công dụng
Nam
I
Chữa bệnh gan
Gynostemma
1. Dần tòong
1,3. Huyết áp,
1
pentaphyllum
(Thunb.)
Giảo cổ lam
2. Booc đạ
mát gan.
Makino
3. Diềng tòng
2. Mát gan thận
II Chữa bệnh dạ dày
Choerospondias axillaris
1,2,3. Mác nhừ 1,2. Chữa
2
(Roxb.) Burtt. & Hill
Xoan nhừ
bỏng, dạ dày 3. Dạ dày
Như vậy có thể thấy được rằng, những loài cây thuốc được cả 3 dân tộc
cùng sử dụng để điều trị các nhóm bệnh về gan, dạ dày còn rất ít chỉ có 2 loài
chỉ chiếm 1,87% so với tổng số loài điều tra được ở KVNC, trong đó cây được
dùng để chữa gan là cây Giảo cổ lam - Gynostemma pentaphyllum (Thunb.)
47
Makino, chủ yếu là dùng làm thuốc bổ làm mát gan, bên cạnh đó dân tộc Tày
còn dùng làm mát thận. Nhóm bệnh về dạ dày có cây Xoan nhừ -
Choerospondias axillaris (Roxb.) Burtt. & Hill, được cả 3 cộng đồng đồng làm
thuốc chữa dạ dày, bên cạnh làm thuốc chữa dạ dày Nùng và Tày còn dùng để
chữa bỏng ngoài da.
Số lượng những loài cây được các cộng đồng sử dụng chung để chữa
nhóm bệnh dạ dày và gan còn thấp, điều đó cũng cho thấy được rằng sự giao
thoa về kinh nghiệm giữa các dân tộc về các nhóm bệnh này còn hạn chế. Do
vậy, việc giữ gìn và phát huy những nguồn tri thức này hết sức cần thiết cho
thế hệ mai sau.
4.3.4. Vấn đề truyền thụ kiến thức về cây thuốc trong cộng đồng các dân tộc
ở xã Lê Lai
Để biết được những vấn đề truyền thụ kiến thức trong cộng đồng các dân
tộc ở xã Lê Lai, huyện Thạch An, chúng tôi đã tiến hành điều tra phỏng vấn 8
thầy thuốc đã từng sử dụng các bài thuốc chữa bệnh trong các cộng đồng. Khi
tiến hành phỏng vấn và thống kê số liệu liên quan đến việc truyền thụ kiến trong
cộng đồng dân tộc Nùng, Tày và Dao tại KVNC thì tôi nhận thấy rằng có tới 6
người là nam giới chiếm 75,00% và 2 người là nữ giới chỉ chiếm 25,00%. Đều
này có thể giải thích bởi theo phong tục phổ biến ở các dân tộc đó là nam giới
thường là chủ gia đình mà bên cạnh đó có những dân tộc chỉ truyền nghề thuốc
cho nam giới. Bên cạnh đó, việc đi rừng tìm kiếm thuốc thường gặp nhiều khó
khăn, nguy hiểm nên nam giới phù hợp hơn nữ giới. Kết quả điều tra được thể
hiện trong Bảng 4.14 và Hình 4.2 như sau:
Bảng 4.14. Số lượng thầy thuốc được phỏng vấn theo từng dân tộc ở KVNC
Stt Dân tộc Số thầy thuốc phỏng vấn Tỉ lệ %
1 Nùng 4 50
2 Tày 2 25
3 Dao 2 25
Tổng 8 100
48
Kết quả Bảng 4.14 cho thấy, tại KVNC số thầy lang tập trung chủ yếu ở
cộng đồng dân tộc Nùng, chiếm 50,00% so với tổng số thầy lang, bà mé đã điều
tra được, bởi lễ dân tộc Nùng chiếm số lượng nhiều hơn là bởi vì dân tộc Nùng
là dân tộc chiếm phần lớn các dân tộc ở khu vực nghiêm cứu, là dân tộc đã cư
trú từ lâu đời nên vấn đề truyền thụ kiến thức phòng chữa bệnh được truyền tải
tốt hơn. Còn dân tộc Tày và Dao chỉ chiếm 25,00% so với tổng số thầy lang bà
mé được điều tra.
2
5 7 - 0 5
4
i ổ u t
Nữ
Nam
0
m ó h N
9 4 - 5 2
2
0
4
1
3
2 Số người điều tra được
Hình 4.3. Tỷ lệ về độ tuổi của các thầy thuốc ở KVNC
Kết quả nghiên cứu ở Hình 4.4 cho thấy, người làm nghề thầy thuốc ở
Khu vực nghiên cứu chủ yếu là người nam giới và thuộc độ tuổi 50 -75 nghề
làm thầy lang chủ yếu là nam giới và thuộc nhóm tuổi từ 50-75 tuổi. Điều này
dễ giải thích theo truyền thống nghề này đa số được truyền thụ theo huyết thống
gia đình, nếu khi bố mẹ còn sống họ sẽ giữ vai trò chính trong việc bốc thuốc
và dạy lại cho con cái mình qua quá trình tích lũy dần dần. Khi bố mẹ già yếu
không thể tiếp tục làm nghề nữa mới chính thức truyền lại cho con cái, lúc đó
độ tuổi thông thường của con cái họ giao động khoảng 40 tuổi. Sau một số năm
kinh nghiệm làm nghề thì độ tuổi của các ông lang bà mế nhiều nhất là khoảng
50 - 75 tuổi.
49
Nhóm tuổi từ 25 – 49 thì đây được coi nhóm người lao động chính trong
gia đình, họ thường tập trung vào trong lao động sản xuất, chăn nuôi, kinh
doanh để đáp ứng nhu cầu cuộc sống gia đình họ, do vậy họ hầu như chưa có
thời gian được tiếp thu những bài thuốc từ những người lớn tuổi, do đó trong
quá trình điều tra nghiên cứu chỉ có 2 người có độ tuổi từ 25 – 49 có kiến thức
trong việc sử dụng các loài cây thuốc để phòng và chữa bệnh, chiếm 25,00%
và cả 2 người đều la dân tộc Nùng. Chúng ta có thể thấy những người trẻ dưới
25 tuổi hầu như không tham gia vào việc thu thập cây thuốc, điều này có thể lí
giải là ở độ tuổi này chủ yếu là độ tuổi còn đang đi học, tham gia các hoạt động
xã hội, chưa tích lũy được nhiều kinh nghiệm, vốn sống và những kiến thức
bản địa của ông cha truyền lại.
Tóm lại, những thầy lang có kinh nghiệm trong việc sử dụng các loài cây
thuốc chủ yếu tập trung độ tuổi từ 50 trở lên. Do đó, việc phát giữ gìn và tiếp
thu những giá trị truyền thống tốt đẹp đó là hết sức cần thiết.
4.4. Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc được sử
dụng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở khu vực nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng
một số dân tộc ở khu vực nghiên cứu trong việc phòng và điều trị một số bệnh
nhiễm khuẩn, tôi tiến hành lựa chọn cây Sói rừng - Sarcandra glabra (Thunb.)
Nakai và cây Khoan cân đằng - Tinospora sinensis (Lour.) Merr để tiến hành
đánh giá hoạt tính kháng khuẩn (HTKK) của cây. Kết quả thể hiện ở Bảng 4.15
và Hình 4.3.
50
Bảng 4.15. Hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết từ cây Sói rừng và cây Khoan cân đằng
Đơn vị tính: mm
Cao chiết
Đối chứng
Khoan
Đối chứng
Đối chứng
Sói rừng
dương –
cân đằng
dương – K2
âm (Dung
(SR)
K1
(KCĐ)
(Kanamicin)
môi)
Vi khuẩn
(Amikacin)
S. aureus
21,1±0,3
20,5±0,7
19,2±1,2
24,3±1,1
0
E. coli
24,2±0,5
23,7±0,8
21±0,5
20,2±0,9
0
Qua dữ liệu trên cho thấy, hai loài khảo sát (Sói rừng và Khoan cân đằng)
đều có hoạt tính ức chế đối với vi khuẩn gây bệnh. Cả 2 loài Sói rừng và Khoan
cân đằng đều có hoạt tính cao ức chế với cả 2 vi khuẩn gây bệnh Gram dương (S.
Aureus) và Gram âm (E. coli) với vòng ức chế đạt được với loài Sói rừng là 21,1
mm với vi khuẩn Gram dương (S. aureus) và 24,2 mm với vi khuẩn Gram âm (E.
Coli). Trương tự với cây Khoan cân đằng là 20,5 mm với vi khuẩn Gram dương
(S. aureus) và 23,7 mm với vi khuẩn Gram âm (E. Coli).
So sánh giữa 2 loài cho thấy loài Sói rừng có hoạt tính kháng khuẩn
mạnh hơn loài Khoan cân đằng. Cả 2 loài này có hoạt tính kháng khuẩn khá
mạnh, và cao hơn so với kháng sinh Amikacin ở cả 2 thí nghiệm thử 2 chủng
vi khuẩn Gram dương – Gram âm, và cao hơn so với kháng sinh Kanamicin ở
thí nghiệm thử với chủng vi khuẩn Gram âm. So với đối chứng âm (dung môi)
thì cả 2 loài cây mẫu đều có tính kháng khuẩn, ngược lại đối chứng âm (dung
môi) không có tính kháng khuẩn đối với 2 vi khuẩn gây bệnh Gram dương (S.
Aureus) và Gram âm (E. coli).
Từ kết quả phân tích hoạt tính kháng khuẩn tôi đề xuất, có thể sử dụng
cây Sói rừng và Khoan cân đằng để phòng ngừa và kiểm soát một số bệnh
nhiễm khuẩn do S. aureus (Tụ cầu vàng) và E. coli gây ra. Kết quả này là một
bằng chứng khoa học chứng minh kinh nghiệm sử dụng các cây thuốc này trong
51
việc phòng chống một số bệnh nhiễm khuẩn của cộng đồng các dân tộc thiểu
số ở xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
SR: Sói rừng; KCĐ: Khoan cân đằng
Hình 4.4. Hoạt tính ức chế E. coli và S. aureus của cây Sói rừng và cây Khoan cân đằng Chú thích: TVC: Staphylococus aureus; E. coli: Escherichia coli; ĐC: Đối chứng âm (Dung môi); K1: Đối chứng dương (Amikacin); K2: Đối chứng dương (Kanamicin);
52
PHẦN 5
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
Quá trình điều tra, nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã
Lê Lai huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, chúng tôi đã thu được những kết quả
như sau:
- Quá trình điều tra nghiên cứu đã điều tra được 107 loài thực vật bậc cao
có mạch, thuộc 102 chi và 70 họ, trong ngành ngọc lan chiến ưu thế nhất với
100 loài thuộc 95 chi và 64 họ. Có 8 họ nhiều loài nhất, trong đó họ cúc
(Asteraceae) có 8 loài, họ Dâu tằm (Moraceae) có 6 loài, họ thầu dầu
(Euphorbiaceae) có 4 loài còn lại là 3 loài. Trong 102 chi có 2 chi nhiều loài
nhất là chi Ficus và chi Smilax.
- Đề tài xác định 7 dạng sống trong đó dạng sống là thân thảo được sử
dụng nhiều nhất với 39 loài, bụi 26 loài, dây leo 22 loài, gỗ nhỏ và gỗ trung
bình 7 loài, gỗ lớn 4 loài, kí sinh và bán kí sinh 2 loài.
- Đã tìm hiểu được môi trường sống chủ yếu của các loài cây thuốc là ở
rừng với 79 loài, ở vườn làng xóm 44 loài, ven sông 14 loài và đồi cây bụi,
trảng cỏ là 9 loài.
-Đã thống kê được 11 loài cần bảo tồn, trong đó có 6 loài có tên trong
sách đỏ Việt Nam 2007, 8 loài có tên trong Nghị Định 06/2019/NĐ – CP và 5
loài có tên trong Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam 2006
- Đã xác định được có 9 bộ phận khác nhau được sử dụng theo kinh
nghiệm của các cộng đồng dân tộc Tày, Nùng, Dao tại xã Xã Lê Lai, trong đó
bộ phận cả cây, lá, củ, rễ là 4 bộ phận có tần số được sử dụng nhiều nhất trong
chữa trị bệnh cho người dân nơi đây.
- Đã thống kê được 16 nhóm bệnh khác nhau được chữa trị bằng kinh
nghiệm sử dụng cây thuốc trong cộng đồng dân tộc Tày, Nùng, Dao tại khu vực
53
nghiên cứu. Trong đó số lượng cây thuốc được sử dụng để chữa trị tập trung
phần lớp vào các nhóm bệnh là: Nhóm làm thuốc bổ; bệnh về xương khớp, hệ
vận động; bệnh về tiêu hóa; bệnh về đường tiết niệu; bệnh ngoài da; và nhóm
bệnh hô hấp.
- Qua kết quả điều tra về kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của 3 cộng đồng
Nùng, Tày và Dao đã xác định được có 5 loài cây cỏ được cả 3 cộng đồng dùng
trong phòng và chữa bệnh đó là các loài Bảy lá một hoa - Paris chinensis
Franch; tắc kè đá - Drynaria bonii Christ; Giảo cổ lam - Gynostemma
pentaphyllum (Thunb.) Makino; …
- Qua kết quả phân tích hoạt tính kháng khuẩn, cho thấy có thể sử dụng
cây Sói rừng và Khoan cân đằng để phòng ngừa và kiểm soát một số bệnh
nhiễm khuẩn do S. aureus (Tụ cầu vàng) và kiểm soát một số bệnh nhiễm khuẩn
do E. coli gây ra.
5.2. Kiến nghị
- Cần tiếp tục mở rộng khu vực điều tra và nghiên cứu về tài nguyên cây
thuốc để có kế hoạch bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu cho tương lai.
- Tiếp tục nghiên cứu và đánh giá tính hiệu quả của các loài cây thuốc
mà cộng đồng dân tộc tại xã Lê Lai, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng sử dụng.
- Xây dựng những vườn thuốc trong gia đình cho những gia đình lương y hay
những gia đình có những người biết sử dụng thuốc ở các thôn bản để bảo vệ
nguồn gen quý và hướng dẫn cách trồng hái, chế biến cho phù hợp.
- Với những loài cây thuốc thuộc dạng quý hiếm cần hướng dẫn nhân
dân nhận biết và tiến hành bảo vệ rừng, hạn chế khai thác một cách cạn kiệt các
loài cây thuốc để bán sang Trung Quốc.
54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Tiếng việt
1. Đỗ Huy Bích (2004), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, Nxb
2. Hờ A Bình (2019) “Nghiên cứu về đa dạng tài nguyên cây thuốc của người
Hmong, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Sách đỏ Việt Nam, phần Thực vật. Nxb
Khoa học Tự nhiên và Công nghệ.
4. Tào Duy Cần (2001), Thuốc Nam, thuốc Bắc và các phương thang chữa
bệnh, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật.
5. Tào Duy Cần (2006), Thuốc bệnh 24 chuyên khoa, Nxb Y học.
6. Đặng Quang Châu (2011), “Một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái
ở huyện Nghĩa Đàn – Nghệ An”. Tạp chí Sinh học, tập 23.
7. Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải (2003), “Điều tra cây thuốc của đồng bào
dân tộc Thái, xã Xuân Hạnh, huyện Quỳ Châu – Nghệ An”, Báo cáo Khoa
học Hội nghị toàn quốc lần 2. Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong Khoa
học Sự sống, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội.
8. Võ Văn Chi (1996), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội.
9. Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb Hà Nội, tập 1-2.
10. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2019), Nghị định
06/2019/NĐ-CP về nghiêm cấm, hạn chế khai thác và sử dụng các loài động
thực vật hoang dã.
11. Vũ Văn Chuyên (1976), Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc, Nxb Y học Hà
Nội.
12. Lưu Đàm Cư, Hà Tuấn Anh, Trương Anh Thư (2004), “Các cây có ích của
dân tộc H’mông và khả năng ứng dụng trong phát triển kinh tế”, Báo cáo Khoa
học Hội nghị toàn quốc lần 3. Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong Khoa
học Sự sống, Thái Nguyên, Nxb Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội.
55
13. Nguyễn Thượng Dong (2006), “Nghiên cứu thuốc từ thảo dược” (Giáo
Trình sau đại học). Nxb Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội.
14. Lê Trần Đức (1997), Cây thuốc Việt Nam, trồng hái chế biến và trị bệnh
ban đầu. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
15. Nông Thu Hằng (2019) “Nghiên cứu kiến thức bản địa về khai thác và sử
dụng một số cây dược liệu (lâm sản ngoài gỗ) tại vườn quốc gia Phia Oắc-
Phia Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”, Khóa luận tốt nghiệp Đại
học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
16. Nguyễn Minh Hiếu (2019) “Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại
xã Nặm Pung, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai của đồng bào dân tộc Dao”, Khóa
luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
17. Phạm Hoàng Hộ (1999 – 2000), Cây cỏ Việt Nam, Nxb trẻ, Tp Hồ Chí
Minh. Tập 1 – 3.
18. Phạm Hoàng Hộ (2000), "Cây cỏ Việt Nam”, Nhà xuất bản trẻ, Tp. Hồ Chí
Minh
19. Nông Thái Hòa (2018) “Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng
khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Hoàng Nông, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên.
20. Dương Văn Hưng (2018) “Nghiên cứu tri thức sử dụng cây thuốc tại xã
Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”, Khóa luận tốt nghiệp Đại
học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
21. Âu Anh Khâm (2001), 577 bài thuốc dân gian gia truyền (sách dịch), Nxb
Thanh niên.
22. Quàng Văn Kiêm (2019), “Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc
tại xã Kim Đồng, huyện Thạnh An, tỉnh Cao Bằng”, Khóa luận tốt nghiệp
Đại học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.
23. Vàng A Lả (2018) “Nghiên cứu cây thuốc và đánh giá hoạt tính kháng
khuẩn của một số loài cây thuốc tại xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh
56
Thái Nguyên”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên.
24. Đỗ Tất Lợi (2005), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Hà Nội,
Hà Nội.
25. Trần Đình Lý (1995), 1900 loài cây có ích, Nxb Thế giới, Hà Nội.
26. Lương Minh Ngọc (2018) “Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc được
sử dụng trong đồng bào dân tộc Bru – Việt Kiều ở Xã Thượng Trạch, huyện
Bổ Trạch, tỉnh Quảng Nam”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên.
27. Võ Thị Phượng và Ngô Trực Nhã (2011), Điều tra các loài cây thuốc và giá
trị sử dụng của chúng ở một số xã thuộc huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Hội nghị Khoa học toàn quốc lần thứ 4 (2011), Báo cáo Khoa học về Sinh
thái và Tài nguyên sinh vật, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
28. Lò Thị Quý (2018) “Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc được sử
dụng trong một số dân tộc thiểu số tại xã Chiềng Đông, huyện Tuần Giáo,
tỉnh Điện Biên”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên.
29. Lục Thanh Sắc (2018) “Tri thức bản địa trong sử dụng, bảo tồn và phát triển
tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao tại xã Hà Lang, huyện
Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”, Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên.
30. Hoàng Văn Sinh (2020) “Nghiên Cứu Tri Thức Bản Địa Sử Dụng Cây
Thuốc Tại Xã Đức Thông, Huyện Thạnh An, Tỉnh Cao Bằng”, Khóa luận
tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
31. Nguyễn Tập (2007), Cẩm nang cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam, Nxb
Mạng lưới lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, Hà Nội.
32. Hoàng Thị Thanh (2019), “Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc
tại xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai của đồng bào dân tộc Hà Nhì”,
Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
57
33. Phạm Thiệp, Lê Văn Thuần, Bùi Xuân Chương (2000), Cây thuốc, bài
thuốc và biệt dược, Nxb. Y học, Hà Nội.
34. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, Nxb
Nông nghiệp, Hà nội.
35. Trần Thúy, Vũ Nam, Nguyễn Văn Toại (2005), Lý luận Y học cổ truyền,
Nxb Y học, Hà Nội.
36. Nguyễn Thị Thủy, Phạm Văn Thỉnh (2004), “Nghiên cứu xây dựng và bảo
tồn cây thuốc ở Sa Pa”, Báo cáo Khoa học Hội nghị toàn quốc lần 3 - Những
vấn đề cơ bản trong Khoa học Sự sống, Thái Nguyên, Nxb Khoa học và Kỹ
thuật, Hà Nội.
37. Vàng Văn Trung (2019), “Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc của
cộng đồng dân tộc Hmông tại xã Trung Lèng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai”,
Khóa luận tốt nghiệp Đại Học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
38. Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội
(2006). Danh lục các loài thực vật Việt nam. Nxb Nông nghiệp, Hà nội, tập
2 – 3.
39. UBND xã Lê Lai (2019), Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội xã Lê
Lai năm 2019 phương hướng nhiệm vụ năm 2020.
40. Viện Dược Liệu (1993), Tài Nguyên cây thuốc Việt Nam – Chương Trình tạo
nguồn nguyên liệu làm thuốc (KV.02), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
41. Nguyễn Thị Thanh Vân (2005), Bước đầu tìm hiểu cây thuốc của đồng bào
dân tộc thiểu số ở việt nam, sách Nam Bộ Dân tộc và tôn giáo, 165-190.
42. Nguyễn Thị Thanh Vân (2015), Tìm hiểu tri thức sử dụng cây cỏ trong
chăm sóc sức khỏe của người H’Mông, Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, 4,
53-58.
B. Tiếng nước ngoài
43. Ahmad Cheikhyoussef, Martin Shapi, Kenneth Matengu và Hina Mu
Ashekele (2011), “Research on the botany of indigenous knowledge of
medicinal plants used by traditional healers in the area Oshikoto, Namibia”,
58
Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine, 7(10):10, DOI:
10.1186/1746-4269-7-10
44. Arshad Abbasi, Mir Khan, Munir H Shah, Mohammad Shah, Arshad
Pervez, Mushtaq Ahmad (2013), “Ethnobotanical appraisal and cultural
values of medicinally important wild edible vegetables of Lesser Himalayas
- Pakistan”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine, 66,
DOI:10.1186/1746-4269-9-66
45. Auemporn Junsongduang, Henrik Balslev, Angkhana Inta, Arunothai
Jampeetong, Prasit Wangpakapattanawong (2013), “Medicinal plants from
swidden fallows and sacred forest of the Karen and the Lawa in Thailand”,
Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine, 9(1):44, DOI: 10.1186/1746-
4269-9-44
46. Behxhet Mustafa, Avni Hajdari, Feriz Krasniqi, Esat Hoxha, Hatixhe
Ademi, Cassandra L Quave và Andrea Pieroni (2012), “Medical
ethnobotany of the Albanian Alps in Kosovo”, Journal of Ethnobiology and
Ethnomedicine, 8(1):6, DOI: 10.1186/1746-4269-8-6
47. Berhane Kidane, Tinde van Andel, Laurentius van der Maesen, Zemede
Asfaw (2014), “Use and management of traditional medicinal plants by Maale
and Ari ethnic communities in southern Ethiopia”, Journal of Ethnobiology
and Ethnomedicine, 10(1):46, DOI: 10.1186/1746-4269-10-46
48. Cassandra L. Quave, Manuel Pardo-de-Santayana, and Andrea Pieroni
(2012), “Medical Ethnobotany in Europe: From Field Ethnography to a
More Culturally Sensitive Evidence-Based CAM?”. Evidence-Based
Complementary and Alternative Medicine. Volume 2012, Article ID
156846, 17 pages, DOI: 10.1155/2012/156846
49. Cecilia Almeida, Elba de Amorim, Ulysses de Albuquerque, Maria Maia
(2006), “Medicinal plants commonly used in the area Xingo - a place in
the semi - arid northeastern Brazil”, Journal of Ethnobiology and
Ethnomedicine, 2:15, DOI:10.1186/1746-4269-2-15
59
50. Eduardo Estrada-Castillón, Miriam Garza-López, José Villarreal-
Quintanilla, María Salinas-Rodríguez, Brianda Soto-Mata, Humberto
González-Rodríguez, Dino González-Uribe, Israel Cantú-Silva, Artemio
Carrillo-Parra, César CantúAyala (2014), “Ethnobotany in Rayones, Nuevo
León, México”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine, 10:62pp
51. Gabriele Volpato, Daimy Godínez, Angela Beyra, Adelaida Barreto (2009),
“Use of medicinal plants of Haitian immigrants and their descendants in the
province of Camagüey, Cuba”, Journal of Ethnobiology and
Ethnomedicine, 5(1):16, DOI: 10.1186/1746-4269-5-16
52. Gaia Luziatelli, Marten Sørensen, Ida Theilade, Per Mølgaard (2010),
“Ashaninka medicinal plants: a case study from the indigenous
communities of the Bajo Quimiriki, Junín, Peru”, Journal of Ethnobiology
and Ethnomedicine, 6(1):21, DOI: 10.1186/1746-4269-6-21
53. Joanne Packera, Nynke Brouwera, David Harringtona, Jitendra Gaikwada,
Ronald Heronb, Shoba Ranganathana, Subramanyam Vemulpada, Joanne
Jamiea (2012), “An ethnobotanical study of medicinal plants used by
indigenous communities Yaegl in northern New South Wales, Australia”,
Journal of Ethnopharmacology, 139(1):244-55, DOI:
10.1016/j.jep.2011.11.008
54. Manju Panghal, Vedpriya Arya, Sanjay Yadav, Sunil Kumar, Jaya Yadav
(2010), “Indigenous knowledge of medicinal plants used by the community
Saperas Khetawas, District Jhajjar, Haryana, India”, Journal of
Ethnobiology and Ethnomedicine, 6:4, DOI: 10.1186/1746-4269-6-4
55. Maria Leporatti and Massimo Impieri (2007), “Ethnobotanical notes about
some uses of medicinal plants in Alto Tirreno Cosentino area (Calabria,
Southern Italy)”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine, 3(1):34,
DOI: 10.1186/1746-4269-3-34
56. Mendrika Razafindraibe, Alyse R Kuhlman, Harison Rabarison, Vonjison
Rakotoarimanana, Charlotte Rajeriarison, Nivo Rakotoarivelo, Tabita
60
Randrianarivony, Fortunat Rakotoarivony, Reza Ludovic, Armand
Randrianasolo, Rainer W Bussmann (2013), “Medicinal plants used by
women from Agnalazaha coastal forests (Southeast Madagascar)”, Journal
of Ethnobiology and Ethnomedicine, 9:73, DOI: 10.1186/1746-4269-9-73.
57. Mi-Jang Song, Hyun Kim, Brian Heldenbrand, Jongwook Jeon, Sanghun
Lee (2013), “Ethnopharmacological survey of medicinal plants in Jeju
Island, Korea”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine, 9(1):48,
DOI: 10.1186/1746-4269-9-48.
58. Mi-Jang Song, Hyun Kim, Byoung-Yoon Lee, Heldenbrand Brian, Chan-
Ho Park, Chang-Woo Hyun (2014), “Analysis of traditional knowledge of
medicinal plants from residents in Gayasan National Park (Korea)”,
Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine, 10(1):74, DOI:
10.1186/1746-4269-10-74
59. Montse Parada, Esperança Carrió, Maria Bonet, Joan Valles (2009),
“Ethnobotany of the Alt Empordà region (Catalonia, Iberian Peninsula):
Plants used in traditional medicine man”, Journal of Ethnopharmacology,
124,3,609-618, DOI: 10.1016/j.jep.2009.04.050
60. Rainer W Bussmann, Douglas Sharon (2006), “Use of traditional medicinal
plants in northern Peru: tracking two thousand years of healthy culture”,
Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine, 2:47, DOI:10.1186/1746-
4269-2-4
61. Soledad Molares, Ana Ladio (2014), “Medicinal plants in the cultural
landscape of a Mapuche-Tehuelche community in arid Argentine
Patagonia: an eco-sensorial approach”, Journal of Ethnobiology and
Ethnomedicine, 10(1):61, DOI: 10.1186/1746-4269-10-61
62. Tilahun Teklehaymanot, Mirutse Giday (2007), “Research on the botany of
medicinal plants used by people in Zegie Peninsula, Northwestern
Ethiopia”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine, 3(1):12, DOI:
10.1186/1746-4269-3-12
61
63. Yadav Uprety, Hugo Asselin, Archana Dhakal, Nancy Julien (2012),
“Traditional use of medicinal plants in the boreal forest of Canada: review
and perspectives”, Journal of Ethnobiology and Ethnomedicine, 8(1):7,
DOI: 10.1186/1746-4269-8-7
C. Nguồn tài liệu internet
64. Phùng Tuấn Giang (2016), Tiềm năng to lớn của cây thuốc Việt Nam.
https://suckhoedoisong.vn/tiem-nang-to-lon-cua-cay-thuoc-viet-nam-
n126481.html
65. Hải yến (2019), Thời đại của thuốc từ Dược liệu. https://benh.vn/thoi-dai-
cua-thuoc-tu-duoc-lieu-55267/
PHỤ LỤC
1
Phục lục 1: Một số hình ảnh trong quá trình điều tra nghiên cứu tại xã
2. Điều tra phỏng vấn bà Chầu xóm Nà Cóc
1.Phỏng vấn bà Triệu Thị Chầu xóm Nà Cóc
4.Phỏng vấn ông Nông Hồng Phong tại bản Dăm
3. Phỏng vấn ông Hoàng Văn Hữu xóm Lúng Buốc
6. Phỏng vấn Bà Kim tại Trạm y tế xã Lê Lai
5. Phỏng vấn ông Nông Trưởng Đoàn xóm Nà Danh
Lê Lai huyện Thạch An tỉnh Cao Bằng
7. Phỏng vấn ông Lý Văn Thái xóm Nà Cóc
8. Phỏng vấn ông Triệu Xuân Cương xóm Nà Lình
9. Bà Chầu giới thiệu cây Dây gắm
10. Ông Phong giới thiệu cây Bầu đất
11. Ông Hữu nói về tác dụng cây Ngải Cứu
12. Kết thúc ngày đi lên rừng thu hái cây thuốc
2
3
2. Thu mẫu cây Khoan cân đằng
1. Lấy mẫu cây sói rừng
4. Mẫu cây Khoan cân đằng
3.Thu lấy mẫu cây Sói rừng
5. Mẫu cây Sâm ớt
6. Mẫu cây sói rừng
Phục lục 2: Một số hình ảnh trong quá trình lấy mẫu phân tích thí nghiệm
7. Tọa độ lấy mẫu cây Sói rừng: 22°29'37.35"Bắc - 106°25'13.80"
8. Tọa độ lấy cây Khoan cân đằng: 22°29'37.53"Bắc - 106°25'17.36"Đông
4
5
Phục lục 3: Danh lục các loài cây thuốc được cộng đồng các dân rộc ở xã Lê Lai huyện Thạch An tỉnh Cao Bằng sử dụng
Stt
Tên khoa học
Tên phổ thông
Tên dân tộc
MT sống
BPSD
Công đụng
Cách SD
Dạng sống
Na
A NGÀNH DƯƠNG XỈ - PTERIDOPHYTA A.1 Lớp dương xỉ - Polypodiopsida 1 Marsileaceae 1 Marsilea quadrifolia L. 2 Polypodiaceae 2 Drynaria bonii Christ
Th
1. Vu, Vs 1,2,3. R
Họ rau mợ Rau bợ Họ dương xỉ Tắc kè đá, cốt toái bổ
1. Péac trắng 1,3.Cáy pùng 2. Mờ lình
1. Cc 1.Cc, Củ 2-3.Củ
1. T 1,3.T,K 2. K
3
Thạch vĩ
1. Thạch vĩ
Th
1. NĐ
1. Củ, L
1. K
1. Rắn cắn 1-2. Nhức xương khớp ở đầu gối chân và lưng. 3. Chấn thương 1. Bổ thận
Pyrrhosia lingua (Thunb.) Farwell 3 Davalliaceae 4
2,3. NĐ
2,3. Củ
2,3. T
2,3. Cốt cắn
Th
Nephrolepis cordifolia (L.) Presl.
Na
4 Dicksoniaceae 5 5 6
Cibotium barometz J. Sm. Schizaeaceae Lygodium flexuosum Sw.
1. Cút báng 3. Khúc may
Lp
1. R 3. R
1.Củ 3. Cc
1. K 3. K
Họ vảy lợp Cốt cắn, củ khát nước Họ kim mao Cẩu tích, lông cu ly Họ thòng bong Bòng bong, thòng bong
B NGÀNH DÂY GẮM - GNETOPHYTA B.1 Lớp dây gắm - Gnetopsida 6 Gnetaceae 7 Gnetum montanum Markgr
Họ dây gắm Dây gắm
3. Mác muỏi
Lp
3. R
3. Cc
3. K
2. Huyết áp 3. Rắn cắn, Rết cắn 1. Thuốc bổ, Đau lưng 3. Dùng để tắm chữa xương khớp. 3. Thoái hoá xương cột sống
6
C NGÀNH NGỌC LAN - MAGNOLIOPHYTA C.1 Lớp một lá mầm - Liliopsida 7 8
Stemonaceae Stemona tuberosa Lour
Lp
Họ bách bộ Bách bộ, Bách bộ củ, Dây ba mươi
1.Pác lạc 2. Chỏm chít
2. R 1.NĐ
2. Cc 1.Củ
1,2. T, K
8 9
Trilliaceae Paris chinensis Franch
Th
1,2,3. Cản lượng
1,3. R 2. Vu
1. Củ 2,3. Cc
1,2,3. T, K
Họ trọng lâu Bảy lá một hoa, Thất diệp nhất chi hoa, Tảo hưu
Pandanaceae
Na
9 10 Pandanus humilis Lour 10 Alliaceae 11 Allium odorum L
Họ dứa dại Dứa dại, Dứa núi Họ hành Hẹ
1. Nam Lạn 2. Péac két
1. R 2. Vu
Th
1. Th, Q 2. Cc
1. K 2. T
11 Convallariaceae 12 Disporopsis longifolia Craib
1. Khinh lài
Th
1. Rối loạn tiền đình 2. Chứng rậm lông ở phụ nữ 1. Gãy xương, rắn cắn 2. Chấn thương, rắn cắn, gẫy xương. 3. Chấn thương, gẫy xương. 1. Làm mát gan và thận 2. Lấy đắp vào chỗ thịt nứt chay máu rất tốt. 1. Thuốc bổ
1. T
1. NĐ, R
1. Củ
Na
Smilacaceae
12 Asteliaceae 13 Cordyline var. tricolor Hort 13 14 Heterosmilax gaudichaudiana
1. Khúc khắc
Lp
1. Vu 1. R
1.Cc,L 1. Củ
1. K 1. T, K
(Kunth) Maxim
Họ mạch môn đông Hoàng tinh hoa trắng, Hoàng tinh lá mọc so le Họ huyết dụ Huyết dụ đỏ Họ khúc khắc Khúc khắc, Dị kim gaudichaud
1. Đái ra máu 1. Làm mát gan, tim và ỉa chảy
15
Smilax glabra Wall. ex Roxb
Lp
1. R
1. Củ
1. K
16
Smilax Perfoliata Lour
Lp
3. R
3. L
3. T
1. Xiêm cân lực 3. Côm lang
1. Thuốc bổ hoặc chữa khớp 3. Thoái hóa cột sống
7
Thổ phục linh, Dây chắt Côm lang, Dây Chông chông, Ket kâm Họ lan
14 Orchidaceae 18 Anoectochilus setaceus Blume Lan kim tuyến, Kim
1. Kim tuyến
1. R
Th
1. Cc
1. T, K
1. Bổ tim, Bệnh máu trắng
tuyến tơ, Giải thùy tơ Họ hoàng tinh
15 Marantaceae 18 Phrynium placentarium purple Lá dong tím
1. Vu
1. L
1. T
Th
1. Rắn cắn
16 Zingiberaceae 19 Curcuma longa L
1. Vu
1. Củ
1. K
1. Lá dong tím 1. Khá lương
Th
1. Viêm dạ dày
20 Amomum longiligulare T. L.
1. Nác mảnh
Th
1. R
1. K
Wu Iridaceae
Họ nghệ Nghệ, Nghệ nhà, Nghệ trồng Sa nhân tím, Mè tré bà, Dương xuân sa Họ la dơn
17 21 Belamcanda chinensis (L.) DC Rẻ quạt, Xạ can,
2. Rẻ quạt
2. Vu
1. Cc, R, Th, Q 2. Cc
2. T
Th
1. Thuốc bổ, hen suyễn, rắn cắn, đau bụng. 2. Ghẻ lở
18 Taccaceae 22
Tacca chantrieri Andre
3. R
3. Củ
3. K
Lưỡi đòng Họ râu hùm Râu hùm hoa tía
Th
3. Sỏi thận
2. T
19 Commelinaceae 23
2. Vu, NĐ 2. L
Th
2. Lở ngữa
Tradescantia zebrina Hort. ex Loud
Họ thài lài Thài lài tía, Hồng trai
C.2 Lớp Hai lá mầm - Magnoliopsida
3. Khau chinh 2. Há vằn đẹng
8
20 Apocynaceae 24 Alstonia scholaris (L.) R. Br
Họ trúc đào Sữa, Mò cua
1. R, NĐ
1. Cc, L
1. T, K
Mp
1.Tin pét đeng 1. Khao ping
25 Parameria laevigata (Juss.)
Lp
1. R
1. Cc
1. K
Mold 21 Moraceae 26 Ficus benjamina L
Đỗ trọng nam, Song tiết Họ dâu tằm Si
Mp
1,3. R, NĐ
1. R, L 3. Cc, R
1.T, K 3. K
1. Mạy hlai chèn 3. Si
27 Ficus elastica Roxb. ex Horn
Mp
1. R
1. R
1. K
1. Hắc lào lang beng, đau xương khớp. 1. Tê bì chân tay, sỏi thận 1. Ngâm rượu uống, xoa bóp chấm thương làm thuốc bổ, bệnh khớp. 3. Khớp, đau lưng. 1. Khớp, thần kinh tọa
1. Mảy lùng đen 2. Mác đớ
28 Ficus racemosa L
Na
2. Vu
2. L, Nh
2. T, K
2. Điều kinh, bổ máu
29 Ficus pumila L
Na
30 Broussonetia papyrifera (L.)
Đa búp đỏ, Đa cao su Sung, Cọ đưa, Ưu đàm thụ Trâu cổ, Cơm lênh, Dây xộp Dướng, rét
1,3. Mác cúm thương 3. Bơ sla
Mi
1,3. Vu, R, Đ 3. R, NĐ
1.Cc,L 3.Cc,Th 3. Nh
1,3. T, K 3. T
1. Tiểu đường, Vô sinh 3. Bồi bổ cơ thể 3. Hắc lào
L’Hér. ex Vent
31 Ficus simplicissima Lour
3. Nùng mò
Na
3. Vu
3. T
3. Tiểu đường, thận yếu
22 Asteraceae 32 Gynura procumbens (Lour.)
Vú bò, Vú bò lá xẻ, Bù gạo Họ cúc Bầu đất, Dây chua lè 1. kham
3. Cc, R, L 1. Cc
Th
1. R
1. T
1. Vô sinh
Merr
33 Chromolaena odorata (l.)
khom 1. Cách mang
Th
1. R
1. L
1. T
1. Cầm máu
r.m.king & h.rob 34 Ageratum conyzoides L
1. Nhả Phang
Th
1. Vu, R
1. L
1. T
1. Tiêu chảy, cầm máu
Cỏ lào, Chó đẻ, Bớp bớp Cỏ cứt lợn, Cỏ hôi, Bông thúi
35
Sigesbeckia orientalis L
2. Cỏ đĩ
Th
2. Vs, R
2. Cc
2. T
2. Da khô, chống mặt
36 Xanthium inaequilaterum DC
2. Mác nhãn
Th
2. Vs, Vu
2. Cc
2. K
2. Bổ máu
37 Bidens pilosa L
1. Kim pu
Th
1. Vu,Đ
1. L
1. T
1. Đau răng
38 Vernonia amygdalina Del.
1,3. Đi mi
Th
1,3. Vu
1,3. T
Hy thiêm, Cỏ đĩ, Cỏ lưỡi đòng Ké đầu ngựa, Quả ké, (cây) Ké Đơn buốt, Quỷ trâm thảo, Song nha lông Mật gấu
1. Cc 3. Th
39 Artemisia vulgaris L
Th
1. Vu, Vs
1. L, Th
1. T
1. Nhả ngại
9
23 Menispermaceae 40
Stephania rotunda Lour
Lp
1. NĐ
1. Củ
1. K
1. Suy nhược, hạ huyết áp 3. Giải độc 1. Hạ sốt, đau bụng đi ngoài 1. Thuốc bổ
1. Màn háng pòm
1. Bét phạ
Lp
1. R, NĐ
1. Cc
1. K
41
Tinospora sinensis (Lour.) Merr
Ngải cứu, (cây) Thuốc cứu Họ tiết dê Bình vôi, Ngải tượng, Củ một, Dây mối tròn Khoan cân (đằng), Dây đau xương Tiết dê, Tiết dê lông 1. Tải slạ
Lp
1. R
1. Cc
1. K
1. Đau xương khớp, thoái hóa. 1. Sỏi thận
42 Cissampelos var. hirsuta
(Buch.-Ham. ex DC.) Forman
24 Acanthaceae 43 Clinacanthus nutans (Brm. f.)
Họ ô rô Bìm bịp, Mảnh cộng 1.Bìm bịp
1. R
Na
1. K
44
1. xóm đang
Na
1. Vs
1. Cc, R, L 1. Th, L
1. K
1. Đun nước uống giản huyết áp 1. Bổ gan
Lindau Strobilanthes cusia (Nees) Kuntze
25 Caesalpiniaceae
Chàm mèo, Phẩm rô, Chàm nhuộm Họ vang
45 Gleditsia australis Hemsl. ex
1.Pác pít
Me
1. R
1.Q
1. K
Forbes & Hemsl
Bồ kết, Chùm kết, Châm kết
10
Họ hạ hòa
26 Erythropalaceae 46 Erythropalum scandens Blume Bò khai, Dây hương
1. Péac diển
1. R
Lp
1. L
1. T, K
27 47
Solanaceae Solanum procumbens Lour
Họ cà Cà gai leo, Quánh
1. Cà day leo
1. Cc
1. K
Lp
1. Vu
Na
28 Theaceae 48 Camellia sinensis (L.) Kuntze 29 Amaranthaceae 49 Achyranthes aspera L
Họ Chè Chè, trà Họ rau dền Cỏ xước, Cỏ sướt
2. Chè 1. Vài mèo
Th
2. Đ 1. Vu
2. L 1. R
2. T, K 1. T, K
30 50
1. Thao lượt
Lp
1. R
1. Cc
1. K
1. Trị ngữa đầu do gội dầu gọi không hợp, chữa đau đầu 1.Chữa xương khớp khủy tay, đau đầu gối, tiểu đường 1. Giải độc gan, hạ huyết áp 2. Huyết áp 1. Ngâm rượu làm thuốc bổ 1. Bổ máu
Sargentodoxaceae Sargentodoxa cuneata (Oliv.) Rehd. & Wils 31 Brassicaceae 51 Raphanus var. longipinnatus
2. Lào pấc
Th
2. Vu
2. Củ
2. T
2. Sỏi thận
Bailey 32 Polygonaceae 52 Reynoutria japonica Houtt
1. Mèn kèm
Th
1. Vs, Vu
1. Cc
1. T, K
Họ huyết đằng Huyết đằng, Hồng đằng, Dây máu Họ cải Củ cải trắng, Cải củ dài, Lú bú Họ rau răm Cốt khí củ, Điền thất, Hoạt huyết đan
53 Fallopia multiflora (Thunb.)
2. Hà thổ ô
Lp
2. NĐ
2. Củ
2. T, K
1. Hắc lào lang beng, ngâm rượu chữa xương khớp 2. Sốt rét
Hà thủ ô đỏ, Địa khua lình (Thái)
Haraldson
Th
Mi
11
54 Polygonum chiensis L 33 Rosaceae 55 Prunus persica (L.) Batsch 34 Caricaceae 56 Carica papaya L
Thồm lồm, Lá lồm Họ hoa hồng Đào Họ đu đủ Đu đủ
Th
1. R 3. R, Vu 1. Vu
1. Cc 3. L 1. R, Ho
1. T 3. T 1. T
1. Nớ thớm 3. Mác pan 1. Mác rung phủ
35 Cucurbitaceae 57 Gynostemma pentaphyllum
1,2,3. R
Lp
(Thunb.) Makino
1,2,3. Cc 1,3. K 2. T, K
58 Gymnopetalum cochinchinensis
Lp
1. Vs
1. Cc
1. T
(Lour.) Kurz 36 Myrsinaceae 59 Ardisia silvestris Pitard 60 Maesa montana A. DC
1. Dần tòong 2.booc đạ 3. Diềng tòng 1. Mướp đắng rừng 1. Thải slán 3. Thạp lượt
Na Na
1. R 3. R
1. Cc,L 3. L
1. K 3. T
1. Nấm tóc, vải nếm 3. Chấn thương 1. Tảy sỏi thận bàng quang, hoa chữa hen trẻ em 1,3. Huyết áp, làm mát gan 2. Mát gan, thận 1. Tắm cho trẻ em bị ngữa dị ứng. 1. Táo bón 3. Dị ứng khi ăn thịt lợn
37 Crassulaceae 61 Kalanchoe pinnata (Lamk.)
2. Lá bỏng
Th
2. Vu
2. Cc
2. T
2. Xơ gan cổ trướng
Pers 38 Lamiaceae 62 Elsholtzia ciliata (Thunb.)
1. Kinh giới
Th
1. Vu, Vs
1. Cc
1. T
1. Cảm cúm, giải nhiệt
Hyland 39 Scrophulariaceae 63 Adenosma caeruleum R. Br
1,2. Bóo sinh
Th
40 Rutaceae
Họ bầu bí Giảo cổ lam, Dần toòng, Cổ yếm, Thư tràng năm lá Mướp đắng rừng,cứt quạ, khổ qua rừng Họ đơn nem Lá khôi, Khôi tía Đơn núi, Đơn nem núi, Đơn trắng Họ thuốc bỏng Thuốc bỏng, sống đời Họ bạc hà Kinh giới, Kinh giới rìa, Kinh giới trồng Họ mõm chó Nhân trần, Tuyến hương lam, Chè nội Họ cam
1. R, Vu 2. Vs, vu
1. Cc 2. L
1. K 2. T
1. Giải nhiệt 2. Ho gió
64 Citrus aurantifolia (Christm. &
Chanh, Chanh ta
2. Chanh
Mi
2. Vu
2. L
2. T
2. Ho gió, đau đầu
Panzer) Swingle
65 Euodia lepta (Spreng.) Merr
3. Béo khao
Na
3. R
3. V
3. T
3. Ghẻ
3. Chạ chanh
Na
3. R
3. R
3. T
66
12
Ba chạc, chè đắng, chè cỏ Xuyên tiêu, Sưng, Hoàng lực Họ gai
2. Bơ pán
2. Vu, R
2. L
Th
2. T
3. Đau răng, viên phụ khoa 2. Ho đờm, ho gió
Zanthoxylym nitidum (Roxb.) DC 41 Urticaceae 67 Boehmeria nivea (L.) Gaudich Gai, Gai tuyết , Gai
68
Laportea violacea Gagnep
3. Han lình
Na
3. R
3. Cc, L
3. T
3. Cầm máu
Th
1. Sát pác 1. Ngột
Lp
1. Vu 1. R
1. R 1. Cc
1. T, K 1. K
1. Đau thần kinh tọa 1. Tắm rửa ghẻ, hắc lào
42 Piperaceae 69 Piper lolot C. DC 43 Loganiaceae 70 Gelsemium elagans (Gardn. &
Champ.) Benth
2. Tất ma
Lp
2. Vu, R
2. L
2. T
2. Kiết lỵ, bó gẫy xương
44 Rubiaceae 71 Paederia scandens (Lour.)
Merr
72 Uncaria lancifolia Hutch
3. Lịp lặm
Lp
3. R
3. Cc
3. T
3. Đau bụng
45 Myrtaceae 73 Cleistocalyx operculatus
1. Co xả
1. Vs
Me
1. L
1. T
1. Tiêu chảy
(Roxb.) Merr. & Perry
74 Psidium guajava L
làm bánh Han (Mán) tía, Han đỏ, Han lình Họ hồ tiêu Lá lốt, Lốt, Tất bát Họ mã tiền Lá ngón, Ngón vàng, Đoạn trường thảo Họ cà phê Mơ lông, Rau mơ leo Câu đằng lá thon, Vuốt mũi giáo Họ sim Vối, Vối, Trâm vối, Trâm nắp Ổi
1. Mác ổi
Mi
1. L
1. T
46 Plantaginaceae
Họ mã đề
1. R, Vu, Đ
1. Tiêu chảy, đau bụng đi ngoài
Th
13
75 Plantago major L 47 Fabaceae 76 Erythrina variegata L 77 Pueraria var. chinensis (Ohwi)
Mã đề, Bông mã đề Họ đậu Lá vông, Vông nem Sắn dây, Cát căn
1. péac đản 2. Mạy tòong Me Lp 2. Sắn dây
1. Vu, Vs 2. R 2. R, NĐ
1. Cc 2. L 2. Cc
1. K 2. T 2. T
Na
2. R,Vu
2. R
2. K
1. chữa thận 2. Lọc máu 2. Giải độc rượu, giải nhiệt 2. Thận
Maesen 48 Verbenaceae 78 Clerodendrum var. simplex (Mold.) S. L. Chen
49 Lauraceae 79
Litsea cubeba (Lour.) Pers
Mi
1. R
1. R
1. T, K
80 Cinnamomum bejolghota
2. Pong pì đen 1. Khẩu khinh 2. Quể
Me
2. R
2. T, K
(Buch.-Ham. ex Nees) Sweet Schisandraceae
50 81 Kadsura coccinea (Lem.) A. C.
1. Phằng mạ
Lp
1. R
2. Cc, V, L 1. Cc
1. K
1. Đau thần kinh tọa, Rắn cắn 2. Lưu thông huyết mạch 1. Suy nhược cơ thể
Smith
Họ cỏ roi ngựa Mò mâm xôi, Bạch đồng nữ, Vậy trắng Họ long não Màng tang, Bời lời chanh Quế, Quế thanh, Quế đơn Họ ngũ gia vị Na rừng, Nắm cơm, Na dây, (dây) xưn xe Họ mua
Na
2. Đ, NĐ
2. R
51 Melastomataceae 82 Melastoma candidum D. Don Mua vảy, Muôi
2. Mua
2. T
2. Đau rát họng
52 Balanophoraceae 83 Balanophora indica (Arnott)
2. Màn pi
Th
2. R
2. Cc
2. K
2. Bổ gan
Griff 53 Araliaceae 84 Acanthopanax lasiogyne
trắng, Muôi bảy gân Họ dó đất Ngọc cẩu (Dó đất), Dương đài nam Họ ngũ gia bì Ngũ gia bì
1. Mảy tảng
Na
1. Vu, R
1. Cc, R
1. K
1. Bồi bổ cơ thể
Harms
85 Panax pseudo-ginseng Wall
1. Ấu tàu
Th
1. R
1. Củ
1. T, K
Tam thất, Thổ tam thất, Sâm tam thất
1. Xoa bóp xương khớp, làm thuốc bổ
86
3. Mác tọ
Me
3. R, NĐ
3. R
3. T
3. Chấn thương
Schefflera heptaphylla (L.) Frodin
14
54 Bignoniaceae 87 Oroxylum indicum (L.) Kurz
Me
1,2,3. T
Ngũ gia bì chân chim, Đáng chân chim Họ chùm ớt Núc nác, Hoàng bá nam, Mộc hồ điệp
1,2,3. Ka liệng
1,2, 3. R, NĐ
1,2. V 3. Q
Na
1. Mác lót
55 Elaeagnaceae 88 Elaeagnus latifolia L 56 Apiaceae 89 Centella asiatica (L.) Urb. in
Th
1. L,Th 2,3. Cc
Mart
1. R 2. Vu, Vs 3. Đ
1. K 2. K 3. T
1. Lở ngữa, Kháng sinh 2. Lở ngữa, dạ dày. 3. Mát gan 1. Sỏi thận 2. Giải độc, giúp bộ tiêu hóa 3. Viêm họng 3. Đau đầu, táo bón
90 Hydrocotyle sibthorpioides
Th
3. Vu
3. Cc
3. T
Lamk
57 Nyctaginaceae 91 Mirabilis jalapa L
Họ nhót Nhót Họ hoa tán Rau má, Xà lách dây 2. Péac chèn 3. Péac chèn pi 3. Poác chèn pi 1. sâm ớt
Th
1. NĐ
1. Củ
1. T, K
1. Bổ thận
58 Loranthaceae 92
Taxillus chinensis (DC.) Dans
Pp
1. R
1. Cc
1. T, K
1. Giải độc gan
59 Euphorbiaceae 93
Rau má mỡ, Rau má nhỏ, Rau má chuột Họ hoa phân Sâm ớt, Hoa phấn, Bông phấn Họ tầm gửi Tầm gửi gạo, Mộc vệ trung quốc Họ thầu dầu Rau ngót, Bồ ngót
Na
2. Vu
2. L
2. T
2. Huyết áp
Sauropus androgynus (L.) Merr
94 Ricinus communis L
1. Phác mảy nhỉu 2. Pờ giởn bản 2. Thầu dầu
Na
2. Vu
2. L
2. T
2. Đau đầu
Thầu dầu, Thầu dầu tía
95 Euphorbia antiquorum L
1. Đúc luồng
Na
1. Vu
1. L
1. T
1. Thấp khớp
Xương rồng ông, Xương rồng ba cạnh
96 Glochidion eriocarpum Champ Bòn bọt, Ghẻ, Tất
Mi
3. R
3. Cc, R
3. T
3. Lợi tiểu
15
60 Cuscutaceae 97 Cuscuta chinensis Lamk
3. Ản mật khôn 1. Tơ hồng
1. Vu, Vs
1. Cc
Pp
1. K
1. Tiểu đường
61 Celastraceae 98 Celastrus hindsii Benth
1. Xạ đen
Na
1. Vu
1. Chữa ung thư gan
1. K
62 Chloranthaceae 99
1. Nục sla
Na
1. R
1. Viêm khớp
1. K
Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai 63 Boraginaceae 100 Helitropium indicum L
đại cô Họ tơ hồng Tơ hồng vàng, Tơ hồng trung quốc, Thỏ ty tử Họ dây gối Xạ đen, Dây gối ấn độ Họ hoa sói Sói rừng, Sói láng, Sói nhẵn Họ vòi voi Vòi voi, Dền voi
2. Vòi voi
Th
2. Vu, Vs
1. Cc, Th,R,L 1. Cc, Th,R,L 2. Cc
2. K
Na
64 Mimosaceae 101 Mimosa pudica L 65 Anacardiaceae 102 Choerospondias axillaris
Mp
2. Vu, Đ 1,2,3. R
2. R,Cc 1,2,3. V
(Roxb.) Burtt. & Hill
Họ trinh nữ Trinh nữ, Xấu hổ Họ xoài Xoan nhừ, Xuyên cóc, Xoan trà
2. Nà nhèn 1,2,3. Mác nhừ
2. Đau khớp đầu gối, đau lưng 2. Viêm gan, đau khớp 1,2. Chữa bỏng, dạ dày 3. Dạ dày
Họ hòa thảo
Th
Imperata cylindrica (L.) Beauv Cỏ tranh, Bạch mao
Họ thôi ba
3. Co cà
2. T, K 1,2. T, K 3. K 3. T
66 Poaceae 103 67 Alangiaceae
3. Đ
3. R
3. Lợi tiểu
104 Alangium chinense (Lour.)
Thôi ba, Thôi chanh
3. Mạy đa
Mi
3. R
3. V, R
3. T, K
3. Đái rát.
Harms
16
68 Campanulaceae 105 Codonopsis javanica (Blume)
3. Cành nhọn
3. R, Vu
3. Cc
3. T
3. Nhiệt miệng
Lp
Hook. f. & Thoms
69 Malvaceae 106 Urena lobata L
3. Lả pác
3. Vu, Đ
3. T, K
3. Vô sinh
Na
70 Hypericaceae 107 Cratoxylum formosum (Jack)
3. Chả mác ổi Me
3. R
3. T
3. Cc, R, Th 3. Th
Benth. & Hook. f. ex Dyer
Họ hoa chuông Đảng sâm, Sân leo, Đùi gà Họ bông Ké hoa đào, Bái lương; Ké hoa đỏ Họ ban Thành ngạnh, Thành ngạnh đẹp
3. Teo cơ do tắm nước nguồn.
Ghi chú:
Tên dân tộc: Môi trường sống:
Dạng cây/dạng sống:
BPSD: Bộ phận sử dụng
1. Nùng 2. Tày 3. Dao
R: Rừng Đ: Đồi Vu: Vườn Vs: Ven sông, ven suối
Lp: Dây leo Mp: Gỗ lớn Me: Gỗ trung bình Mi: Gỗ nhỏ Na: Bụi Th: Thảo ( cỏ ) Pp: Ký sinh và bán kí sinh
Cc: Cả cây Q: Quả L: Lá Nh: Nhựa R: Rễ Th: Thân V: Vỏ H: H Ho: Hoa

