CÔNG TRÌNH DỰ THI

GIẢI THƯỞNG "SINH VIÊN NGIÊN CỨU KHOA HỌC "

NĂM 2007

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VAI TRò CỦA LIÊN HỢP

QUỐC TRONG VIỆC GIỮ GÌN HÒA BÌNH VÀ AN

NINH QUỐC TẾ TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

(1989 2006)

Tp.Hồ Chí Minh, tháng 04/ 2007

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG "SINH VIÊN NGIÊN CỨU KHOA HỌC " NĂM 2007 BƯỚC ĐẦU TÌM HIẾU VAI TRÒ CỦA LIÊN HỢP QUỐC TRONG VIỆC GIỮ GÌN HÒA BÌNH VÀ AN NI NH QUỐC TẾ TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH (1989-2006) GVHD: Th.S Tưởng Phi Ngọ SVTH: Nguyễn Thị Ai Hương Tp. Hồ Chí Minh, tháng 04/ 2007

Chiến tranh đã đi qua trên đất nƣớc Việt Nam, những đống tro tàn của chiến tranh đã

trở thành quá khứ. Đất nƣớc chúng ta hôm này đang từng bƣớc mở cửa để hội nhập với thế

giới. Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991 đã khẳng định: "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả

các nƣớc trên thế giới". Điều đó hoàn toàn phù hợp với xu thế chung của thế giới trong giai

đoạn hiện nay. Chính vì điều đó, việc tìm hiểu thế giới bên ngoài là công việc vô cùng cần

thiết cho sự nghiệp đổi mới của đất nƣớc. Với cùng mục đích đó, tôi quyết định tìm hiểu về tổ

chức Liên Hợp Quốc và vai trò của tổ chức này trong việc gìn giữ hoà bình và an ninh quốc

tế sau Chiến tranh lạnh. Bài viết trình bày về quá trình hình thành, sơ lƣợc vê cơ cấu, hoạt

động và vai trò cùa Liên Hợp Quốc trong việc giữ gìn hoà bình và an ninh quốc tế từ khi

thành lập đặc biệt là giai đoạn sau Chiến tranh lạnh (1989) đến những năm gần đây. Liên Hợp

Quốc là tổ chức quốc tế lớn nhất, với 50 thành viên ban đầu thì cho đến nay đã 192 thành

viên. Việc đánh giá vai trò của Liên Hợp Quốc là việc làm hết sức khó khăn bởi vì không có

một tiêu chí nào đƣợc nêu ra để làm tiêu chuẩn cho sự đánh giá. Trong những nỗ lực của

mình, Liên Hợp Quốc cũng đã đạt đƣợc một số thành tựu đáng khích lệ thế nhƣng bên cạnh

những thành tựu ấy là những hạn chế cũng không nhỏ. Hiện nay, vấn đề cấp bách đƣợc đặt ra

là phải cải cách Liên Hợp Quốc nhƣ thế nào cho phù hợp với tình hình mới.

Trong thời gian có hạn, bài viết trình bày tóm tắt quá trình hình thành Liên Hợp Quốc

cũng nhƣ vai trò của tổ chức này trong việc gìn giữ hoà bình và an ninh quốc tế trong Chiến

tranh lạnh. Phần trọng tâm của bài viết là tìm hiểu về vai trò của Liên Hợp quốc trong việc

gìn giữ hoà bình và an ninh quốc tế sau Chiến tranh lạnh (1989) cho đến năm 2006. Từ kết

quả tìm hiểu về vai trò của Liên Hợp Quốc, bài viết sẽ dành một phần để nêu lên những thành

tựu, hạn chế, triển vọng và đồng thời tóm tắt về mối quan hệ của tổ chức này với Việt Nam.

Bài viết vẫn còn nhiều hạn chế, nhƣng tôi rất mong bài viết của mình sẽ đóng góp một phần

nhỏ bé phục vụ việc tìm hiểu các quốc gia và các tổ chức quốc tế của đất nƣớc ta trong giai

đoạn hiện nay.

1

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Tôi chọn đề tài này làm khóa luận tốt nghiệp bởi vì mảng đề tài này không đƣợc nêu

đầy đủ trong các giáo trình. Trong các giáo trình lịch sử thế giới hiện đại hiện hành, hay

những quyển sách nghiên cứu về các vấn đề của thế giới thì chƣa có quyến sách nào viết sâu

về vấn đề này. Các quyển sách do điều kiện của mình đã chƣa thể nêu lên tất cả những gì mà

Liên Hợp Quốc đã làm trong việc giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới từ khi thành lập cho

đến nay nhất là giai đoạn từ 1989 trở về sau này. Nhƣng những điều này tôi đã đƣợc học ở

các thầy cô trong quá trình đƣợc đào tạo tại trƣờng. Chính vì thế, tôi quyết định chọn đề tài

này để nghiên cứu sâu hơn về Liên Hợp Quốc.

Nghiên cứu đề tài này cũng là nhằm để tìm hiểu kỹ hơn về quan điểm của Đảng ta,

của nhà nƣớc ta về quốc tế nhất là trong giai đoạn hiện nay. Chƣa bao giờ hai từ "Việt Nam"

đƣợc nhắc đến nhiều nhƣ thế trên thế giới vào thời gian này. Uy tín của nƣớc ta tăng lên cùng

với sự phát triển của đất nƣớc nhất là từ khi nƣớc ta trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức

thƣơng mại thế giới WTO. Do đó vấn đề hội nhập với quốc tế, cùng với các nƣớc giải quyết

những vấn đề của thế giới là một điều vô cùng cần thiết.

Khi nghiên cứu về đề tài này, tôi sẽ có những hiểu biết sâu hơn nữa về lịch sử thế giới

hiện đại, giúp tôi giảng dạy tốt hơn khi sau khi rời khỏi giảng đƣờng đại học. Tôi tin chắc

rằng kiến thức của mình sẽ hoàn thiện hơn về lịch sử thế giới, giúp tôi truyền đạt kiến thức

của mình đến thế hệ trẻ tƣơng lai sẽ tốt hơn nhất là những bài có liên quan đến Liên Hợp

Quốc

2. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU: Đề tài chủ yếu nghiên cứu vai trò của Liên Hợp Quốc trong việc giữ gìn hòa bình và

an ninh quốc tế trong khoảng thời gian sau chiến tranh lạnh(1989) cho đến năm 2006. Trong

đó, làm nổi bật lên những thành tựu và hạn chế của tổ chức này, thực tế là nó đại diện cho

quyền lợi của các cƣờng quốc trên thế giới. Đồng thời cho thấy đƣợc vai trò của Liên Hợp

Quốc là không thể thiểu đƣợc trong tình hình thế giới hiện nay.

3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ LHQ là một đề tài rất rộng, thƣờng đƣợc đề cập rất nhiều trong sách báo, trên internet

và đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, vấn đề cải tổ LHQ đang đặt ra cấp thiết

2

thì LHQ lại đƣợc đề cập đến nhiều hơn nữa. LHQ bao gồm rất nhiều lĩnh vực trong đó có vấn

đề giữ gìn hoà bình và an ninh quốc tế. Nhiều sách báo viết về LHQ nhƣ:

Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam trong quyển sách "Liên Hợp Quốc- tổ chức những

vấn đề pháp lý cơ bản" năm 1985 đã có những nghiên cứu sâu về LHQ. Trong phần ba với

tiêu đề:" một số vấn đề pháp lý cơ bản" các tác giả đã đánh giá về giá trị pháp lý của LHQ

bao gồm một số nội dung nhƣ: tính chất pháp lý của LHQ, giá trị pháp lý của Hiến chƣơng

LHQ. Phần thứ tƣ của sách dành để nói về "hoạt động của LHQ". Tác giả đã điểm qua những

hoạt động của LHQ từ khi ra đời cho đến khoảng giữa những năm 80 của thế kỷ XX Trong

nội dung quyển sách viết có viết về vai trò của LHQ trong chiến tranh lạnh, tuy còn một thời

gian dài sau này vai trò của LHQ chƣa đƣợc đề cập đến nhƣng đây là một quyển sách rất có

giá trị.

Tác giả Nguyễn Quốc Hùng với quyển sách:" Liên Hợp Quốc" đƣợc xuất bản 1992

cũng đã giới thiệu về tổ chức này. Tác giả cũng đã giới thiệu cho ngƣời đọc những kiến thức

cơ bản về LHQ, đồng thời cho biết sự ra đời, hoạt động của tổ chức này trong hơn 40 năm.

Tuy không rõ ràng và cụ thể nhƣ quyển sách đƣợc nêu trên nhƣng Nguyễn Quốc Hùng đã có

những đánh giá về vai trò, triển vọng của tổ chức này trong và sau chiến tranh lạnh. Quyển

sách còn cung cấp thông tin về các Tổng thƣ ký của LHQ trong quá trình hoạt động của tổ

chức này.

Tác giả Võ Anh Tuấn với quyển sách: "hệ thống Liên Hợp Quốc", nxb chính trị quốc

gia, 2001 với 323 trang sách đã giới thiệu kỹ về tổ chức này. Đại sứ Võ Anh Tuấn từng là

trƣởng đoàn đại diện của nƣớc ta tại LHQ tại Giơnevơ là ngƣời rất am hiểu về tổ chức này.

Quyển sách giới thiệu một cách bao quát về LHQ cho nên một số phần, tác giả chỉ đề cập sơ

lƣợc, trong đó có vân đề về vai trò của LHQ trong việc giữ gìn hoà bình và an ninh quốc tế.

"Iraq: cuộc đối đầu hai thế kỷ: Cuộc chiến Vùng Vịnh lần thứ hai" là quyển sách do

Thông tấn xã Việt Nam phát hành, có nhiều phần đề cập đến vai trò của LHQ. Nội dung của

sách cũng đã đánh giá vai trò của LHQ trong cuộc chiến này, nhất là trong chƣơng IV của

phần hai có nội dung mang tiêu đề: "LHQ có còn giữ vai trò gìn giữ hoà bình và an ninh thế

giới?" Một câu hỏi mở rất khó để trả lời và hiện nay cũng chƣa tìm ra đƣợc câu trả lời thích

đáng. Do nội dung của sách quy định nên quyển sách đã đánh giá vai trò của LHQ trong cuộc

chiến tại Iraq.

3

Ngoài các quyển sách nói trên thì còn nhiều quyển sách khác đề cập đến vai trò của

LHQ nhƣ: bài học Israel (Nguyễn Hiến Lê), Cuộc xung đột Israel và Ả Rập

(TTXVN), Lịch sử quan hệ quôc tê ở châu Âu trong chiến tranh lạnh (Lê Phụng

Hoàng),.... các quyển sách này đều có nhắc tới vai trò của LHQ.

Ngoài sách thì còn có những bài báo, bài nghiên cứu đƣợc đăng trên các báo, tạp chí

và trên internet viết về LHQ. Trên báo thông tin tƣ liệu ngày 25-3-2003 đã đăng bài viết nhan

đề: " vai trò của Liên Hợp Quốc trong tình hình thế giới hiện nay", bài viết "tổng thƣ ký

K.Annan nói về LHQ" đƣợc đăng ngày 20-1-2006 trên TLTKĐB; 1-4-2004, cũng trên

TLTKĐB đã đăng bài viết "Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc có duy trì đƣợc hoà bình và an

ninh?"; bài viết "Liên Hợp Quốc trong thế kỷ 21" ngày 26-10-2004 (TLTKĐB); "cải cách

LHQ là điều rất khó khăn " (TLTKĐB,21-9-2005); "cải tổ-một vấn đề lớn của LHQ hiện

nay" ( TTTL,19-10-2004); "vấn đề cải cách LHQ" (TLTKĐB, 1804-2005), "LHQ tiếp tục đổi

đầu với thách thức" (TLTKĐB,6-1-2006),...

Nhìn chung lại, có nhiều sách báo viết về vai trò của LHQ trong hơn 60 năm qua.

Dù đƣợc đề cập nhiều nhƣng những quyển sách hay những bài báo đều nghiên cứu

chƣa sâu, chƣa kỹ về vai trò của LHQ trong việc giữ gìn hoà bình và an ninh quốc tế. Nhiều

lần vai trò của LHQ đã đƣợc đề cập đến nhƣng còn rất sơ lƣợc, rải rác, hay chỉ nêu lên vai trò

của tổ chức này ở một vấn đề nhất định mà thôi. Do những điều kiện chủ quan và khách

quan, vấn đề này chƣa đƣợc nghiên cứu sâu và rộng về vai trò của LHQ

4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp logic là hai phƣơng pháp cơ bản đƣợc sử dụng

xuyên suốt đề tài. Ngoài ra tôi cũng sử dụng các thao tác liệt kê, so sánh, phân tích, tổng hợp,

rút ra kết luận, ... trong quá trình nghiên cứu.

5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: 5.1 Tóm tắt về sự hình thành Liên Hợp Quốc và vai trò của nó trong chiến

tranh lạnh

5.1.1.Tóm tắt về sự hình thành tổ chức Liên Hợp Quốc a) Hội Quốc Liên và khái niệm về một tổ chức liên chính phủ thời hậu chiến

Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nƣớc đế quốc thắng trận đã tập hợp với

nhau lại để phân chia lại thế giới. Nhằm để "phát triện sự hợp tác, đảm bảo hòa bình

4

và an ninh cho các dân tộc" 1, các nƣớc đề nghị thành lập một tổ chức quốc tế để thực hiện

mục đích đó. Hội Quốc Liên ( League of Nations) đã đƣợc ra đời nhƣ là sản phẩm đầu tiên

của hội nghị Versailles theo tinh thần và nội dung của điểm 14 trong chƣơng trình 14 điểm

của tổng thống Mỹ Wilson. Để thực hiện đƣợc mục đích của mình, Hội Quốc Liên đề ra một

số nguyên tắc hoạt động, trong đó quan trọng nhất là nguyên tắc không sử dụng chiến tranh,

bạo lực trong quan hệ quốc tế, và nguyên tắc cam kết thi hành những điều ƣớc quốc tế. Với

những mục đích đƣợc đặt ra khi thành lập hội thì nó đã không làm tròn đƣợc nhiệm vụ của

mình. Chiến tranh thế giới thứ hai đánh dâu sự phá sản của Hội Quốc Liên. Chính vì vậy mà"

trong quá trình diễn biến của chiến tranh thế giới thứ hai, Hội Quốc Liên dữ bí phá sản trên

thực tế, và ngƣời ta nhận thấy rằng cần phải có một tổ chức quốc tế mới rộng lớn hơn, hiệu

quả hơn để thay thế cho Hội Quốc Liên trong sứ mệnh gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế;

ngăn ngừa một cuộc chiến tranh thế giới có thể xảy ra trong tƣơng lai; và thúc đẩy sự hợp tác

quốc tế về kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, giáo dục,vv.... Việc cần phải thành lập một tổ

chức quốc tế mới có quy mô toàn cầu, trên những cơ sở và nguyên tắc mới, để đăm trách những sứ mệnh trên đây, đã trở thành một yêu cầu khách quan của lịch sử khi đó"2 .

Khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nhất là từ khi Đức tấn công Liên Xô,

các lực lƣợng chống phát xít nhận thức đƣợc rằng để chống lại phát xít, bảo vệ hòa bình cần

có một tổ chức quốc tế đoàn kết các lực lƣợng lại với nhau để chống lại chủ nghĩa phát xít.

b) Hội nghị Moskva, Teheran, Dumbarton Oaks và Yalta

Hội nghị của 26 nƣớc đồng minh tại Washinhton đứng đầu là Liên Xô- Mỹ-Anh, ngày

1/1/1942 đã ra bản công bố "tuyên ngôn Liên Hợp Quốc". Tuyên bố dự định sẽ xây dựng một

hệ thống tổ chức đảm bảo cho hòa bình và an ninh quốc tế sau khi chiến tranh thế giới thứ hai

kết thúc. Một trong những bƣớc tiến quan trọng trong sự chuẩn bị cho sự ra đời của Liên Hợp

Quốc đó là hội nghị ngoại trƣởng tam cƣờng Xô- Mỹ -Anh tại Moskva từ ngày 9/10 đến

3/11/1943. Trong những ngày cuối cùng của hội nghị, các nƣớc đã thông qua bản "tuyên bố

về an ninh chung" của liên Xô- Anh Mỹ-Trung Quốc, trong đó đã khẳng định "sự cần thiết

phải thành lập trong thời hạn ngắn nhất có thể đƣợc một tổ chức quốc tế chung để duy trì. hòa

bình và an ninh quốc tế, mà

1 Nguyễn Anh Thái, lịch sử thế giới hiện đại, trang 69 2 Lê Văn Quang, lịch sử quan hệ quốc tế từ 1917 đến 1945, trang 221

5

cơ sở của nó là nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các quốc gia yêu chuộng hòa bình, và thành viên của tổ chức này là tất cả các quốc gia, không phân biệt lớn nhỏ"3.

Các nghị quyết của hội nghị Moskva đã đƣợc hội nghị thƣợng đỉnh tam cƣờng Xô-

Mỹ-Anh ở Teheran 1943 chuẩn y và khẳng định lại. Thế nhƣng, kết quả trực tiếp quan trọng

nhất chuẩn bị cho sự ra đời của LHQ là những thỏa thuận đạt đƣợc tại hội nghị quốc tế

Dumbarton Oaks (ngoại ô Washington ) từ ngày 21 đến 28/9/1944 giữa Xô- Mỹ-Anh (giai

đoạn cuối có sự tham gia của Trung Quốc). Ngày 28/9/1944, hội nghị đã công bố văn kiện có

tên gọi: "những đề nghị về việc thành lập Tổ chức an ninh quốc tế chung". Đây là văn kiện có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó đặt cơ sở nên tảng cho Hiến chƣơng của LHQ sau này. Hội

nghị đã đạt đƣợc một số thỏa thuận cụ thể liên quan đến việc thành lập tổ chức LHQ nhƣ:

mục đích của LHQ, các cơ quan của LHQ: Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Ban thƣ ký và

Tổng thƣ ký, Tòa án quốc tế, Hội đồng kinh tế- xã hội.

Tháng 2/1945, hội nghị Yalta đƣợc triệu tập với sự tham gia của Liên Xô- Anh-Mỹ.

hội nghị đã chấp nhận đề nghị của Roosevelt với tên gọi "công thức Yalta". Sáng kiến của vị

tổng thống Mỹ liên quan đến việc giải quyết vấn đề bỏ phiếu trong Hội đồng bảo an.

Nhƣ vậy, quá trình thành lập LHQ đã phải trải qua một thời gian dài. Qua trình này

gắn liền với sự hình thành và củng cố của mặt trận đồng minh chống phát xít. Việc thành lập

một tổ chức quốc tế dân chủ rộng rãi, bình đẳng để bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế sau

chiến tranh là một vấn đề vô cùng cần thiết đối với cả thế giới. Đáp ứng những mong muôn

đó, việc thành lập LHQ là một việc làm cấp thiết. Tất cả các bƣớc chuẩn bị đã xong, vấn đề

đạt ra là tổ chức một hội nghị để thành lập Liên Hợp Quốc. Chính vì thế, hội nghị San

Fancisco đã đƣợc triệu tập từ ngày 25/4/1945 đến 26/6/1945.

c) Hội nghị San Fancisco thành lập Liên Hợp Quốc, Hiến chương LHQ

Để thực hiện những thỏa thuận đã đạt đƣợc trong những hội nghị trƣớc đó, từ ngày

25/4đến 26/6/1945 đã diễn ra hội nghị San Fancisco để thành lập tổ chức Liên Hợp Quốc.

Hội nghị diễn ra với sự tham gia của 50 nƣớc. Sau hai tháng làm việc, qua những cuộc đấu

tranh gay gắt giữa nhiều ý kiến và khuynh hƣớng khác nhau, hiến

3 Dần theo Lê Văn Quang, lịch sử quan hệ quốc tế từ 1917 đến 1945, trang 222

6

chƣơng LHQ đã đƣợc đại biểu của 50 nƣớc ký kết ngày 26/6 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày

24/10/1945. Đây là ngày mà Quốc hội của 5 nƣớc Liên Xô, Anh, Mỹ, Pháp, Trung Quốc

thông qua Hiến chƣơng LHQ.

Hiến chƣơng LHQ là một điều ƣớc quốc tế quan trọng của thời kỳ từ sau chiến tranh

thế giới thứ hai đến nay. Nó quy định mục tiêu, nguyên tắc, thành viên, cơ cấu tổ chức, hình

thức và lề lối hoạt động của các cơ quan chính yếu của LHQ. Theo điều 1 của hiến chƣơng,

LHQ đƣợc thành lập nhằm 4 mục tiêu:

" Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế

Phát triển quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình

đẳng về quyền lợi giữa các dân tộc và quyền dân tộc từ quyết.

Thực hiện hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế mang tính chất

kinh tế xã hội, văn hóa hoặc nhân đạo, khuyến khích tôn trọng các quyền con ngƣời và các

quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi ngƣời không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc

tôn giáo

Trở thành trung tâm điều hòa nổ lực của các quốc gia nhằm thực thi các mục tiêu

chung kể trên"4

Để thực hiện những mục tiêu trên, hiến chƣơng cũng đã đề ra 7 nguyên tắc bắt buộc

các nƣớc thành viên phải tuân thủ. Đó là: bình đẳng về chủ quyền giữa tất cả các nƣớc thành

viên; tôn trọng và làm tròn nghĩa vụ chiếu theo hiến chƣơng; giải quyết các tranh chấp bằng

biện pháp hòa bình; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh

thổ và độc lập chính trị của các quốc gia; hợp tác với LHQ trong mọi hành động phù hợp với

Hiến chƣơng; bảo đảm để các nƣớc không phải là thành viên LHQ cũng hành động theo

nguyên tắc của Hiến chƣơng vì lợi ích duy trì hòa bình và an ninh quốc tế; và cuối cùng là

không can thiệp vào công việc nội bộ của các nƣớc.

Các cơ quan chính của LHQ gồm: Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Ban thƣ ký. Ngoài

ra, LHQ còn có nhiều tổ chức và cơ quan khác nhƣ: hội đồng kinh tế và xã hội, Hội đồng

quản thúc, Tòa án quốc tế, cao ủy ngƣời tị nạn, quỹ nhi đồng LHQ,...

4 Võ Anh Tuấn, hệ thống Liên Hợp Quốc, trang 35-36

7

5.1.2. Vai trò của LHQ trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới trong chiến

tranh lạnh.

a) Tình hình thế giới trong chiến tranh lạnh

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử nhân loại.

Thắng lợi có tính quyết định của Liên Xô trong cuộc chiến tranh chống phát xít làm cho uy

tín của Liên Xô ngày càng đƣợc nâng CE.O và trở thành yếu tố quan trọng hình thành các

thỏa thuận giữa các nƣớc lớn Đồng minh về trật tự thể giới sau chiến tranh tại Hội nghị Yalta

(2/1945) và Hội nghị Posdam (6/1945). Sau các cuộc đấu tranh ngoại giao gay gắt ở bàn Hội

nghị, đại diện của 3 cƣờng quốc Liên Xô, Mỹ, Anh, Liên Xô, Mỹ đã thỏa thuận với nhau

trong vấn đề các nƣớc châu Âu sau khi thủ tiêu các di sản của chủ nghĩa phát xít sẽ xây dựng

một kiểu nhà nƣớc mới theo sự lực chọn riêng của các nƣớc này.

Qua những hội nghị này, dù rằng chiến tranh chƣa kết thúc nhƣng một trật tự thế giới

mới đã dần dần đƣợc hình thành. Các nƣớc lớn đã phân chia phạm vi ảnh hƣởng của nhau

trên thế giới và một trật tự thế giới đã dần đƣợc hình thành theo hai cực: một cực do Mỹ đứng

đầu và cực còn lại Liên Xô là nền tảng.

Hệ quả to lớn của cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại của Liên Xô là sự xuất hiện của

một loạt các nhà nƣớc dân chủ nhân dân ở Trung- Đông Âu. Chủ nghĩa xã hội đã vƣợt ra khỏi

phạm vi của một nƣớc, trở thanh hệ thống chính trị thế giới trải dài từ Trung- Đông Âu sang

tận Viễn Đông, có quan hệ hữu nghị trong hợp tác kinh tế, thƣơng mại thông qua khối SEV

đƣợc thành lập năm 1949 và phối hợp hành động tập thể trong lĩnh vực chính trị- quân sự (tổ

chức Vácsava thành lập tháng 5-1955). Ngay sau khi ra đời, hệ thống chủ nghĩa xã hội đứng

đầu là Liên xô đã thể hiện đƣợc ƣu thế của mình trong nhiều lĩnh vực, là chõ dựa cho phong

trào giải phóng dân tộc và độc lập dân tộc cũng nhƣ phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân

chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Trong giai đoạn này, hệ thống tƣ bản chủ nghĩa cũng trải qua những biến đổi sâu sắc

trong so sánh lực lƣợng theo hƣớng có lợi cho Mỹ. "Mỹ bƣớc ra khỏi chiến tranh với sức

mạnh tăng lên vƣợt bậc. Là nƣớc tham chiến sau cùng, đất nƣớc Mỹ không bị chiến tranh tàn

phá, nên có cơ hội tập trung phát triền kinh tế và khoa học kỹ thuật. Sau chiến tranh, Mỹ

chiếm khoảng 1/2 tổng sản lƣợng công nghiệp và trên 70% dự trữ vàng của thế giới tƣ bản.

Điều này góp phần quyết định vào việc thực hiện tham vọng

8

bành trƣớng của Mỹ [...], trong khi đó, các địch thủ nguy hiểm của Mỹ nhƣ Đức, Ý, Nhật bị

bại trận và kiệt quệ còn các nƣớc Anh, Pháp, tuy thắng trận nhƣng bị chiến tranh tàn phá

nặng nề, nên yếu đi rất nhiều và bị phụ thuộc vào Mỹ về tài chính. Tình hình đó đem lại ƣu thế lớn cho Mỹ trong quan hệ với các nƣớc TBCN"5 .Nhƣ vây, với những tiềm lực về kinh tế,

chính trị và quân sự nêu trên đã tạo điều kiện cho Mỹ vƣơn lên nắm lấy vai trò lãnh đạo trong

hệ thống tƣ bản chủ nghĩa và mở rộng phạm vi ảnh hƣởng ra nhiều khu vực trên thế giới.

Toan bộ điều đó trở thành nhân tố quan trọng kích thích tham vọng làm bá chủ toan cầu của

Mỹ trên cơ sở ngăn chặn và tiến tới xóa bỏ Liên Xô cùng với phong trào cách mạng thế giới.

Những biến đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế những năm đầu sau chiến tranh kết thúc

là sự hình thành trật tự hai cực Xô- Mỹ với hai lệ thống chính trị đối lập nhau là chủ nghĩa xã

hội và chủ nghĩa tƣ bản. "Với sự hình thành của hai phe thuộc hai hệ thống thế giới vào năm

1949, quan hệ quốc tế bƣớc vào một thời kỳ mới. Trong thời hậu chiến (1945-1949), nội

dung chủ yếu của quan hệ quốc tế là việc tổ chức lại trật tự thế giới sau chiến tranh giữa các

nƣớc Đồng minh, từ đó, nảy sinh tình trạng Chiến tranh lạnh giữa Mỹ, Anh với Liên Xô. Từ

1950 cho đến khi Chiến tranh lạnh kết thúc, nội dung chủ yếu của quan hệ quốc tế trên toàn thế giới nói chung sẽ là sự đối đầu giữa hai hệ thống thế giới do Mỹ và Liên Xô đứng đầu."6

Chính quan hệ giữa Xô- Mỹ là nguyên nhân chính chi phối cả thế giới trong nhiều

thập niên diễn ra chiến tranh lạnh. Quan hệ giữa hai bên căng thẳng sẽ làm cho tình hình thế

giới căng thẳng, quan hệ giữa hai bên hòa hoãn thì tình hình thế giới êm dịu đi. Điều này tùy

thuộc vào từng giai đoạn, chính sách đối ngoại của những nƣớc này. Và LHQ, tổ chức quốc

tế đƣợc thành lập sau chiến tranh thế giới thứ hai cũng bị chi phối bởi chiến tranh lạnh, bởi

trật tự hai cực Xô- Mỹ. Chính sự chi phối này đã tác động rất lớn, có thể nói là quyết định

đến vai trò của LHQ trong việc giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới trong mời gian diễn ra

Chiến tranh lạnh.

b) Vai trò của LHQ trong Chiến tranh lạnh

Năm 1947, tổng thống Mỹ H.Truman đã đề ra học thuyết mang tên mình và phát động

cuộc Chiến tranh lạnh để chống Liên Xô. Quan hệ động minh giữa các nƣớc bị tan vỡ thay

vào đó là quan hệ thù địch đối đầu. Hai bên không ngừng chạy đua vũ trang, tiến hành những

hành động chổng phá đối phƣơng. Quan hệ quốc tế trong giai

5 Lê Khƣơng Thùy, chính sách của Hoa Kỳ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh lạnh, trang 17-18 6 Lê Phụng Hoàng, lịch sử quan hệ quốc tế ở Châu Âu trong chiến tranh lạnh (1949-1991), trang 8

9

đoạn này hết sức phức tạp và bị chi phối bởi hai cực Xô- Mỹ. Tổ chức LHQ ra đời với sứ

mệnh gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới cũng bị chi phối bởi trật tự này. Những nƣớc ủy

viên thƣờng trực trong HĐBA chia ra làm hai phe đối địch với nhau và thƣờng xuyên dùng

quyền phủ quyết để giành quyền lợi về phía mình.

LHQ đƣợc hình thành với mục tiêu quan trọng hàng đầu là gìn giữ và bảo vệ hòa bình

và an ninh quốc tế. Các nƣớc trong HĐBA có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ gìn giữ hoa

binh và an ninh thế giới Vai trò của LHQ trong giai đoạn này hầu nhƣ không có gì nổi bật

ngoài việc hầu nhƣ bị chi phối bởi những nƣớc lớn trong HĐBA. Tuy vậy, với sứ mệnh của

mình, LHQ đã có mặt ở những nơi diễn ra xung đột, chiến tranh, ra những nghị quyết để kêu

gọi các bên cùng giải quyết trong hòa bình. Không phải những nơi nào LHQ có mặt là nơi đó

đều thành công mà nhƣ tôi đã nói ở trên, trong giai đoạn này, LHQ bị chi phối và bị lũng

đoạn bời các nƣớc lớn đặc biệt là Mỹ nên cho dù có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới nhƣng

vai trò của LHQ không nổi bật, không đạt đƣợc sứ mệnh cao cả mà Hiến chƣơng của tổ chức

này đề ra vào năm 1945.

Xung đột ở Trung Đông

Cục diện thế giới ngày một căng thẳng hơn, những mâu thuẩn rồi xung đột đã bắt đầu

xảy ra. Cuộc xung đột ở khu vực Trung Đông diễn ra và ngày càng phức tạp, cho đến nay vẫn

chƣa có một giải pháp cuối cùng thỏa đáng và khả dĩ chấp nhận đƣợc cho các bên. Những

ngƣời Do Thái sau nhiều thế kỷ bị mất đất đai, tổ quốc, phải sống trên những quốc gia khác

nhau. họ khao khát thanh lập một quốc gia độc lập cho riêng mình và luôn đấu tranh vì điều

đó. Sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tình hình ở Palestine cực kỳ căng thẳng. Ngày

22/5/1945, Cơ quan Do Thái đã đệ trình lên chính phủ Anh bản cƣơng lĩnh của mình trong đó

đòi "tuyên bố ngay lập tức Palestine là quốc gia Do Thái". Anh và Mỹ tranh chấp nhau quyền

lợi của khu vực Trung Đông. Với âm mƣu giải quyết vấn đề Palestine không cần đến LHQ để

tránh sự can thiệp của Liên Xô, Anh và Mỹ đã lập ra ủy ban hỗn hợp về Palestine, nhƣng các

kế hoạch giải quyết vấn đề Palestine mà ủy ban này đƣa ra đều không đƣợc các bên chấp

nhận. Do đó, Anh buộc phải đƣa vấn đề này ra LHQ để giải quyết với hy vọng dựa vào LHQ

để hạn chế bớt những tham vọng bành trƣớng của Mỹ và duy trì chế độ ủy trị của mình ở

Palestine. Trong quá trình thảo luận ở LHQ, Anh cƣơng quyết bảo vệ lập trƣờng duy trì sự

thống trị của mình ở Palestine; Israel đòi thành lập ngay một nhà nƣớc Do Thái; lập trƣờng

của các nƣớc Ả Rập là thành lập trên lãnh thổ Palestine một quốc gia Ả rập

10

duy nhất bất chấp sự có mặt thực thế của hai cộng đồng dân cƣ Ả rập và Do Thái ở đây. Mỹ

thực chất ủng hộ việc thành lập nhà nƣớc Do Thái, nhƣng còn muôn tranh thủ ngƣời Ả rập

nên cố giữ lập trƣờng trung lập bề ngoài. Mặc dù vậy, Mỹ giữ vai trò chủ đạo trong các phiên

hợp của LHQ. Còn Liên xô, xuất phát từ quyền dân tộc tự quyết và lợi ích của nền an ninh

thế giới đã ủng hộ việc thành lập ở Palestine một nhà nƣớc liên bang Ả rập- Do Thái, còn

trong trƣờng hợp giải pháp đó không thực hiện đƣợc thì quyền của hai dân tộc phải đƣợc bảo

vệ bằng cách chia Palestine thành hai nhà nƣớc độc lập. Còn một yếu tố nữa ảnh hƣởng đến

quá trình thảo luận của LHQ là sự thông cảm của dƣ luận quốc tế đối với những đau khổ và

mất mát của dân tộc Do Thái trong chiến tranh. Tháng 5/1947 LHQ củ ra một ủy ban đặc biệt

nghiên cứu vấn đề Palestine. Kết quả là trong hai giải pháp mà ủy ban đặc biệt đƣa ra thì giải

pháp chia cắt đƣợc đa số phiếu chấp nhận. Ngày 29/11/1947, ĐHĐLHQ đã thông qua nghị

quyết 181(II) bãi bỏ quyền ủy trị của Anh ở Palestine và chia Palestine thành hai nƣớc độc

lập với một liên minh kinh tế và một chế độ riêng ở Jerusalem. Nhƣng do sự phá hoại của

Anh, Mỹ nghị quyết này đã không đƣợc thực hiện. Trong khi những cố gắng giải quyết tranh

chấp của LHQ đang diễn r thì ngày 14/5/1948, nhà nƣớc Israel tuyên bố thành lập và ngay lập

tức đƣợc chính phủ Mỹ công nhận. "Nhƣ vậy là do sự phá hoại của Anh và âm mƣu của Mỹ,

nghị quyết ngày 29/11/1947 của LHQ đã không đƣợc thực hiện. Việc thành lập nhà nƣớc Israel mà không ấn định biên giớ là sự vi phạm trắng trợn nghị quyết của LHQ."7 Sau khi

thành lập quốc gia Do Thái của mình, họ đã đuổi những ngƣời Palestine rời bỏ quê hƣơng

của mình sang tị nạn ở những nƣớc khác. PLO đƣợc thành lập và họ đã đấu tranh cho quyền

lợi của dân tộc mình và hộ đã đạt đƣợc một số kết quả: vấn đề Palestine đƣợc đƣa ra thảo

luận tại LHQ. Ngày 22/11/1974 nghị quyết về quyền bất khả xâm phạm, quyền tự quyết, độc

lập dân tộc của nhân dân Palestine đƣợc công bố. Ngày 21/7/1980, ĐHĐLHQ thông qua nghị

quyết khẳng định quyền bất khả xâm phạm của nhân dân Palestine và đòi quân đội Israel rút

khỏi khu vực chiếm đóng trƣớc ngày 15/10/1980. Ngày 15/12/1988, LHQ công nhận nhà

nƣớc Palestine độc lập, kêu gọi tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Palestine. Thế nhƣng

những lời kêu gọi của LHQ, những nghị quyết của LHQ đã không có tác dụng đối với Israel,

rất nhiều lần nƣớc này vi phạm những nghị quyết của

7 lịch sử Trung Cận Đông, trang 321

11

LHQ, điều đáng nói ở đây là sở dĩ nƣớc này phớt lờ LHQ là do có sự hậu thuẩn của Mỹ.

Sau khi nghị quyết 181/II ra đời, các nƣớc Ả rập đã kịch liệt phản đối. Khi nhà nƣớc

Israel thành lập, liên minh của 7 nƣớc Ả rập đã tấn công nhà nƣớc Do Thái. Sau cuộc chiến

tranh năm 1948, hơn 1/2 lãnh thổ mà lẽ ra phải thuộc về phần của Palestine đã bị Israel chiếm

đóng. Ngày 11/12/1948 LHQ đã ra nghị quyết 194/11 quy định Israel phải cho phép ngƣời tị

nạn Ả rập trở về quê hƣơng và bồi thƣờng cho họ nhƣng nƣớc này đã không thực hiện nghị

quyết. Và cũng nhƣ những lần trƣớc và sau đó, Israel đã không thực hiện nghị quyết này và

cũng không hề bị LHQ trừng phạt. Cuộc chiến tranh lần thứ hai diễn ra năm 1956 khi tổng

thống Ai Cập tuyên bố quốc hữu hóa công ty kênh đào Suez của Anh, Pháp. Liên quân Anh

Pháp, Israel đã tổ chức tấn công Ai Cập. LHQ thông qua nghị quyết buộc quân đội 3 nƣớc rút

khỏi Ai Cập. Cuộc chiến tranh lần thứ ba diễn ra năm 1967. Ngày 22/11/1967, do sức ép của

dƣ luận thế giới đứng đầu là Liên xô, HĐBALHQ đã thông qua nghị quyết 242, trong đó yêu

cầu rút hết các lực lƣợng của Israel ra khỏi các đất đai mà họ đã chiếm đóng. Nhƣ cũng nhƣ

những lần trƣớc, nghị quyết của HĐBA đã không đƣợc thực hiện. Cuộc chiến tranh lần thứ tƣ

diễn ra năm 1973. Nguyên nhân sâu xa là chính sách của Israel đƣợc Mỹ ủng hộ nhằm củng

cố những kết qủ đạt đƣợc của cuộc chiến năm 1967. Ngày 25/10/1973, HĐBA ra quyết định

thành lập lực lƣợng gìn giữ hòa bình ở Trung Đông gồm 7000 ngƣời đặt dƣới sự chỉ huy của

Tổng thƣ ký LHQ. Nói tóm lại, trong việc giải quyết những xung đột ở Trung Đông, LHQ đã

cố gắng để đem lại hòa bình cho khu vực này, nỗ lực giải quyết bằng những biện pháp hòa

bình, nhƣng LHQ đã bất lực trong việc giải quyết vấn đề này. Hiện nay, xung đột giữa Israel

và Palestine vẫn chƣa đƣợc giải quyết. Xung đột vẫn diễn ra, đàm phán rồi đàm phán, không

biết bao giờ vấn đề này đƣợc giải quyết triệt để thỏa đáng cho yêu cầu của hai bên.

Cuộc chiến tranh ở Đông Dương (1945-1975)

Một cuộc chiến tranh cục bộ lớn đã diễn ra trong giai đoạn này thể hiện rõ sự đối đầu

của hai cực Đông - Tây đó là cuộc chiến tranh ở Đông Dƣơng. Những kẻ gây ra cuộc chiến

này không ai khác hơn là những nƣớc đứng đầu thế giới lúc bấy giờ đồng thời là thành viên

của HĐBALHQ- những nƣớc đáng lẽ ra là những nƣớc phải bảo vệ hào bình cho thế giới.

Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống lại thực dân Pháp xâm lƣợc (1945-1954) rồi

đến kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) đã làm cả thế

12

giới phải nể phục. Nhân dân ta dƣới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi các

nƣớc giúp đỡ, thông báo sự việc đến LHQ nhƣng LHQ đã không can thiệp. LHQ cũng khƣớc

từ việc nƣớc ta xin gia nhập vào LHQ. LHQ hầu nhƣ phớt lờ cuộc chiến tranh Đông Dƣơng

bởi vì những nƣớc trong HĐBA trực tiếp hay gián tiếp đều liên quan đến cuộc chiến tranh

này và dĩ nhiên là LHQ đã hoan toàn bất lực trong cuộc chiến tranh này.

Chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953)

Cuộc chiến tranh cục bộ thứ hai diễn ra trong một thời gian ngắn nhƣng những hậu

qua của nó để lại rất to lớn. Cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1950-1953 đã lôi kéo rất nhiều

nƣớc tham gia trong đó có cả lực lƣợng của LHQ. Bán đảo Triêu Tiên đƣợc phân chia thành

hai miền nam bắc dƣới sự quản lý của Liên Xô và Mỹ. Mỹ âm mƣu chia cắt Triều Tiên lâu

dài nên đã hậu thuẩn cho các thế lực thân Mỹ ở Nam Triều Tiên lập nhà nƣớc riêng. Trƣớc sự

việc này LHQ không có phản ứng quyết liệt. Sau khi mâu thuẫn giữa hai miền lên cao, lợi

dụng sự vắng mặt của Liên Xô trong HĐBA, Mỹ đã thao túng cơ quan này và đã thông qua

nghị quyết "lên án các lực lƣợng vũ trang Bắc Triều Tiên xâm lƣợc Hàn Quốc, tức là Nam

Triều Tiên". Ngày 27/6 HĐBA thông qua nghị quyết thứ hai kêu gọi các nƣớc thành viên của

LHQ giúp đỡ về mặt quân sự cho Nam Triều Tiên. Sau đó, ngày 7/7 HĐBA thông qua nghị

quyết phong cho quân đội Mỹ tham chiến ở Triều Tiên "là quân đội LHQ, đƣợc mang cờ

LHQ". Nhƣ vậy, trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, LHQ đã không còn giữ vai trò là trung

gian hòa giải, là lực lƣợng giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới nữa mà trở thành một lực

lƣợng tham chiến trực tiếp. Với việc làm này, LHQ đã vi phạm nghiêm trọng Hiến chƣơng

LHQ vì theo Hiến chƣơng giải quyết những tranh chấp bằng nhƣng biện pháp hòa bình. LHQ

có hành động nhƣ thế là do bị Mỹ Thao túng khi lợi dụng sự vắng mặt của Liên Xô trong

HĐBA.

Khủng hoảng ở Công- gô 1960

Và trong lịch sử của mình, LHQ không phải chỉ có một lần đem quân tham gia trực

tiếp vào một cuộc chiến mà đã có lần sau đó không lâu LHQ cũng có hành động tƣơng tự, đó

là ở Châu Phi- cuộc khủng hoảng ở Cộng Hòa Công -gô (Kimsasa). Khi xung đột diễn ra,

LHQ bị Mỹ thao túng cũng đã đem quân vào Công- Gô với mục đích là ổn định tình hình ở

nƣớc này. Thế nhƣng tình hình sau khi quân đội của LHQ vào nƣớc này đã không đem lại

hòa bình mà là cuộc xung đột đẫm máu, kéo dài và nhiều

13

hậu quả. Phi-đen Ca-sto-rô trong phát biểu tại ĐHĐLHQ đã nói:" rất dễ thấy là, do thái độ

chống chủ nghĩa thực dân, chống sự bóc lột chúng tôi lên án sự can thiệp của các lực lƣợng

LHQ những nƣớc chậm phát triển nên nhƣ đã xảy ra ở Công-gô. Trƣớc hết, những lực lƣợng

này không phải đến Công- gô để chiến đấu chông lại các lực lƣợng can thiệp mà đúng ra đó là lý do khiến họ đƣợc phái tới Công- gô. "8

Tranh châp giữa Pakistan và Ấn Độ xung quanh vấn đề Kashmir

Một xung đột khác diễn ra ở châu Á mà LHQ cũng đã có những cố gắng để có thể

đem lại hòa bình cho khu vực này đó là tranh chấp giữa Ấn Độ và Pakistan xung quanh khu

vực Kashmir. Do mâu thuần nội bộ và do sự tác động của các lực lƣợng bên ngoài, vấn đề

Kashmir ngày càng trở nên phức tạp. Tháng 12/1947, Ấn Độ đƣa vấn đề Kashmir ra

HĐBALHQ. HĐBA khuyến nghị cả hai bên rút khỏi khu vực Kashmir, tổ chức một cuộc

trƣng cầu dân ý và thành lập một ủy ban LHQ có trách nhiệm giám sát cuộc trƣng câu dân ý.

Hai bên không chấp nhận khuyên nghị này và cuộc xung đột vũ trang giũa hai bên vẫn tiếp

diễn, HĐBA cử ra một ủy ban đến Karasi và Đêli tiếp xúc với hai chỉnh phủ đê tìm cách giải

quyết. Sau khi thƣơng lƣợng, tỏa thuận ngừng băn đã đƣợc hoạch định, cả hai bên rút về phía

đông theo giới tuyến quy định. Theo sự phân chia của LHQ, Ẩn Độ đƣợc phần lớn vùng Giammu với diện tích khoảng 103000km2, phần phía bắc và phần phía tây đƣờng ngừng bắn do Pakistan đảm nhận có diện tích khoảng 80000km2. Thế nhƣng do sự can thiệp của các

nƣớc bên ngoài, tình hình ở Kashmir ngày càng xâu đi và xung đột tiếp tục leo thang, chiên

tranh giữa hai bên đã diễn ra vào những năm 1948, 1965, 1971. LHQ đã ra hàng loạt các nghị

quyết để giải quyết những xung đột cho các hai bên, có những lúc nghị quyết đƣợc hai bên

tôn ƣong và thi hành nhƣng cũng không ít lần LHQ đã bị phớt lờ và những nghị quyết của

LHQ chỉ là những tờ giây năm trên bàn của các bên. Hiện này, tranh châp giữa Ấn Độ và

Pakistan về vấn đề Kashmir vân chƣa đƣợc giả quyết.

Cuộc chiến ở Aĩghanistan

Một cuộc chiến nữa đã diễn ra trong thời kỳ Chiến tranh lạnh đó là cuộc chiến tranh ở

Afghanistan. Cuộc chiến tranh này có liên quan trực tiếp đến thành viên của HĐBA đó là

Liên Xô, nƣớc này đã đƣa quân vào Afjịhanistan. Afghanistan có một vị trí chiến lƣợc quan

trọng. Năm 1922, về hình thức nƣớc này đẫgình đƣợc độc lập nhƣng thực chất vẫn là phụ

thuộc vào các nƣớc bên ngoài. Năm 1973, Daoud buộc vua

8 Phi đen ca-stơ-rô tố cáo, nxb sự thật, 1960, trang 67.

14

Zaher phải thoái vị và thiết lập nền chuyên chính độc tài Daoud. Sau đó, đảng dân chủ nhân

dân Afghanistan ra đời. Tháng 9/1979, vì tranh giành quyền lực trong đảng và nhà nƣớc,

Amin, một trong những lãnh tụ của đảng đã lật đổ Taraki và sát hại ông này. Trƣớc tình hình

đó, tháng 12/1979, Liên Xô đƣa quân đội vào Afghanistan, lật đổ Amin. Một chính phủ mới

ra đời do Babrak Karmal đứng đầu. Đây là lần đầu tiên Liên Xô đƣa quân đội đi tiến hành

chiến tranh với một quốc gia khác ngoài biên giới của mình. Ngày 14/1/1980, ĐHĐLHQ có

104 phiếu thuận và 18 phiếu chống đã lên án cuộc xâm lƣợc này của Liên Xô. Mỹ và Trung

Quốc ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Afghanistan, là hai nƣớc cung cấp trang bị, vũ

khí, tiền tài cho lực lƣợng kháng chiến. Cuộc chiến ở đây diễn ra trong một thơi gian dài gây

ra nhiều cảnh đau thƣơng cho ngƣời dân vô tội. Năm 1989, Liên Xô đã đi đến thỏa thuận với

Mỹ: Mỹ sẽ không cung cấp vũ khí cho lực lƣợng kháng chiến nữa, đồng thời Liên Xô cũng sẽ

hoàn tất việc rút quân ra khỏi Afghanistan. Điều này cho thấy LHQ đã không thể làm gì để

giải quyết vấn đề khi mà nƣớc tham gia chiến tranh là thành viên của HĐBA.

Vấn đề Campuchia

Một sai lầm nữa của LHQ là trong cuộc việc giải quyết vấn đề mà dƣ luận quốc tế lúc

bấy giờ gọi là "vẩn đề Campuchia". Việt Nam trong tƣ cách chống lại những kẻ diệt chủng,

những kẻ xâm lƣợc là bọn Polpot- Iengxari. Năm 1978, Việt Nam đã chống trả lại vịec Polpot

đƣa quân tấn công sang biên giới Tây Nam và nhân cơ hội đó giúp đỡ nhân dân Campuchia

tự giải phóng, lật đổ chế độ diệt chủng. Thế nhƣng lực lƣợng phản động quốc tế đứng đầu là

bọn phản động Trung Quốc trong đó có Mỹ đã lũng đoạn LHQ, HĐBA đã thông qua nghị

quyết nagỳ 14/11/1979 ghi nhận những cái gọi là "xung đột vũ trang ở Camphuchia đã leo

thang", "cuộc xung đột này có thể lan sang những nƣớc láng giềng". Và nghị quyết đã đề ra

những giải pháp:" rút ngay toàn bộ lực lƣợng nƣớc ngoài ra khỏi Campuchia". Nghị quyết

ngày 22/10/1980 của Đại hội đồng vẫn cố tình bao che cho bọn diệt chủng và vi phạm

nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia. Nghị quyết thứ ba, ngày

21/10/1981 của ĐHĐ tiếp tục đẩy LHQ trƣợt thêm một bƣớc nữa vào con đƣờng vi phạm

Hiến chƣơng và luật quốc tế, làm tổn hại thanh danh của tổ chức này. Bên cạnh những "giải

pháp chính trị" trái với luật quốc tế mà nghị quyết của những khóa họp Đ HĐ trƣớc đây đã

ghi nhận, Nghị quyết XXXVI đã thể hiện rõ mƣu toan bác bỏ chỉnh quyền hợp pháp do nhân

dân Campuchia bầu ra thay vào đó là một Chính phủ liên hiệp do bên ngoài

15

sắp đặt giữa bọn diệt chủng Polpot và một số tên lƣu vong phản động ngƣời Campuchia.

Nghị quyết còn ghi nhận sự bảo trợ của LHQ cho cái gọi là "hội nghị quốc tế về vấn đề

Campuchia". Sau một thời gian dài đấu tranh ngoại giao, thƣơng thuyết, Việt Nam đã quyết

định rút hết quân về nƣớc vào năm 1989 cho dù tình hình ở Campuchia có nhƣ thế nào đi nữa

thì quân đội Việt Nam cũng se không quay trở lại; việc giải quyết "vấn đề Campuchia" sẽ do

LHQ đảm nhận.

Trên đây chỉ là một số những sự kiện lớn diễn ra trên thế giới trong thời gian Chiến

tranh lạnh. Những cuộc xung đột, chiến tranh diễn ra trong thời gian này hầu nhƣ trên khắp

thế giới từ châu Á đến châu Phi, châu Âu, châu Mỹ đều trong xu thế chung là chịu tác động

của Chiến tranh lạnh. Đặc điểm cơ bản nhất của các quan hệ quốc tế trong giai đoạn này là sự

đấu tranh và hợp tác: chủ yếu giữa các nƣớc thuộc hai hệ thống quốc gia đối lập ( xã hội chủ

nghĩa và tƣ bản chủ nghĩa). Đấu tranh và hợp tác gắn liền với nhau. Mọi sự đấu tranh hòa

bình có thể đƣợc xem nhƣ là một sự hợp tác nhất định. Hoạt động của LHQ là một vấn đề rất

phức tạp. LHQ đã hoạt động trong tình hình thế giới đầy biến động và không ngừng phát

triển. Và một điều rõ ràng ràng tình hình thế giới có liên quan mật thiết tới hoạt động của

LHQ. Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam đã nhận xét:" hoạt động của LHQ diễn ra trong bối

cảnh chung của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc gay găt. Thực chất, đó là cuộc

đấu tranh của tất cả nhân dân các nƣớc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã

hội, cùng tồn tại hòa bình giữa các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau trong thời

đại quá độ từ chủ nghĩa tƣ bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Đặc điểm này

xuyên suốt trong toàn bộ quá trình hoạt động của LHQ trong gần 40 năm qua. Hoạt động của

LHQ là kết quả, là sự phản ánh, đồng thời vừa là bộ phận hợp thành của cuộc đấu tranh đó,

còn bản thân LHQ không chỉ là công cụ đấu tranh - hợp tác giữa các quốc gia có chế độ chính

trị - xã hội khác nhau, mà đôi khi, nó còn là đối tƣợng của cuộc đấu tranh và hợp tác giữa các nƣớc đó"9 .Trong những điều kiện nhƣ vậy, hoạt động của LHQ có mặt tích cực, có mặt tiêu

cực, có xu hƣớng thuận, tiến bộ, có xu hƣớng nghịch, phản động.

9 LHQ- tố chức những vấn đề pháp lý cơ bàn, trang 214

16

5.2 Vai trò của LHQ trong việc giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế sau

Chiến tranh lạnh (1989-2006)

5.2.1.Tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh Sự sụp đổ của Liên Xô, một trong hai siêu cƣờng của thê giới đã làm tan rã trật tự thế

giới cũ đƣợc hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, mở đầu cho một thời kỳ thế giới

chuyển từ hai cực sang trật tự một siêu cƣờng- đã trung tâm. Có một số nhà nghiên cứu cho

rằng một trật tự thế giới đa cực đang đƣợc hình thành. Theo họ- những nhà nghiên cứu

phƣơng Tây, trật tự thế giới đa cực là một hệ thống trong đó có một số nƣớc, một số trung

tâm sức mạnh hoạt động tƣơng tác, khuếch trƣơng, khuếch tán ảnh hƣởng và cùng quản lý,

cùng giải quyết các công việc quốc tế. Nhiều nhà lý luận đã nêu ra những lý thuyết về trật tự

thế giới mới theo thuyết đa trung tâm này. H. Kissinger đƣa ra sơ đồ thế giới sáu cực có nội

dung nhƣ sau: hệ thống các quan hệ quốc tế thế kỷ XXI sẽ bao gồm ít nhất sáu thành viên

quan trọng nhất là Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ. Trong đó, cực châu

Âu bao gồm một số nƣớc. Ngoài ra, một số nƣớc vừa và nhỏ khác cũng có thể trở thành các

cực của hệ thống quan hệ quốc tế tƣơng lai này. Một quan điểm về thế giới đa cực khác cũng

đƣợc đƣa ra đó là quan điểm "thế giới của các vòng tròn đồng tâm" của các nhà lý luận thuộc

viện nghiên cứu chiến lƣợc quốc gia Mỹ. Theo họ, cấu trúc này nhƣ sau: "Vòng tròn ở tâm,

hạt nhân của hệ thống các quan hệ quốc tế hiện đại sẽ là "các quốc gia nòng cốt", những quốc

gia đại diện cho "các nền dân chủ thịnh vƣợng mà Mỹ là nƣớc đứng đầu" hay là hạt nhân của

hạt nhân.

Bên cạnh đó vẫn có những xu hƣớng xem trật tự thế sau khi Liên Xô sụp đổ đã hình

thành trật tự thế giới mới trật tự chỉ có một cực duy nhất chi phối thế giới là Mỹ. Mỹ trở

thành siêu cƣờng duy nhất về kinh tế và quân sự dù không phải là hoàn toàn chiếm ƣu thế

tuyệt đối, nhƣng tƣơng quan lực lƣợng trên thế giới đã thay đôi theo hƣớng có lợi cho Mỹ.

Do đó, ngƣời ta cho rằng:" Một thế giới không có Mỹ đứng đầu sẽ là một thế giới đầy bạo

động và lộn xộn, ít dân chủ và ít tăng trƣởng kinh tế hơn là một thế giới mà ở đó Mỹ tiếp tục

có nhiều ảnh hƣởng hơn bất kỳ nƣớc nào khác trong việc định hình công việc thế giới. Giữ

vững quyền đứng đầu thế giới của nƣớc Mỹ là chính yếu đối với phúc lợi và an ninh của Mỹ và tƣơng lai của tự do, dân chủ, kinh tế mở cửa trật tự quốc tế của thế giới này."10 Thế nhƣng

không chỉ có Mỹ giữ vị trí độc

10 Nhƣ trên, trang 239-240

17

tôn trên thế giới sau khi Liên Xô sụp đổ mà còn các nƣớc tƣ bản khác cùng vƣơn lên mạnh

mẽ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc. Sự phát triển của Nhật Bản và Tây Âu tạo ra tƣơng

quan lực lƣợng về kinh tế- chính trị bất lợi cho Mỹ trong cuộc chạy đua vũ trang tốn kém

nhất trong thập kỷ 80 cũng góp phần làm cho những khó khăn kinh tế-xã hội của Mỹ thêm

trầm trọng. Nhật Bản và Tây Âu đã xem việc Liên Xô tan rã và sự suy yếu tƣơng đối của Mỹ

là thời cơ thuận lợi để vƣơn lên đóng vai trò chính trị và quân sự tƣơng xứng với thực lực

kinh tế của mình. Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền của các nƣớc đang

phát triển chống lại sự áp đặt và can thiệp của nƣớc lớn đã trở thành một xu thế đáng kể trên

thế giới. Tất cả những điều nói trên cho thấy thế giới đang phát triển theo xu hƣớng đa trung

tâm.

Thế giới sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc đã có những chuyển biến lớn hết sức phức

tạp. Không bị chi phối bởi trật tự thế giới hai cực nhƣ thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai,

thế giới đang vận động để hình thành một trật tự thế giới mới phù hợp với xu thế chung của

thời đại mới. Tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh có nhiều đặc điểm lớn, bao trùm cho cả

thê giới. Do nhiều yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trƣờng tự nhiên đã đƣợc

tích lũy, loài ngƣời đã bị cuốn vào những xu hƣớng lơn hết sức mạnh mẽ sau: đầu tiên, đó là

sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội ở cuối thế kỷ XX đi đến thoái trào và chủ nghĩa tƣ bản

hiện đại tạm thắng thế tiếp tục tạo ra cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ đi lên chủ

nghĩa xã hội trên toàn thế giới ngày càng gay gắt với những hình thức mới và phƣơng pháp

mới; thứ hai, Mỹ và đồng minh phƣơng Tây muốn giành quyền chủ đạo mọi công việc của

thế giới; thứ ba, xu hƣớng toàn cầu hóa mạnh mẽ đã cuốn hút các quốc gia dân tộc vào nhịp

sống chung toàn thế giới; thứ tƣ, bùng nổ thông tin làm tăng nhanh sự hiểu biết và phạm vi

quan tâm của con ngƣời; thứ năm, khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, kinh tế tri thức

ra đời thúc đẩy sự tiến bộ nhanh chóng của xã lội loài ngƣời; thứ sáu, xung đột khu vực, dân

tộc, sắc tộc, tôn giáo diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới ngày càng gay gắt; cuối cùng, khủng bố

và chống khủng bố trở thành mối quan tâm của cả thế giới. Sự phát triển của chủ nghĩa khủng

bố sau chiến tranh lạnh ngày càng mạnh mẽ đã cất lên hồi chuông cảnh báo cho xã hội quốc

tế.

Với những thử thách đặt ra trong tình hình thế giới có nhiều thay đổi nhƣ thế, LHQ

cũng chịu những tác động cực kỳ sâu sắc của tinh hình thế giới. LHQ phải tìm

18

cách thích nghi với tình hình mới và thể hiện vai trò của mình theo đúng những gì đã ghi

trong Hiến chƣơng năm 1945

5.2.2. Chính sách đối ngoại của những nƣớc lớn từ sau Chiến Tranh lạnh a) Chính sách đối ngoại của Mỹ

Từ sau khi chiến tranh thế giới thứ hai đến nay. chính phủ Mỹ đã nhiều lần thay đổi

chiến lƣợc đối ngoại của mình. "Chiến lƣợc ngăn chặn" nhằm chống lại Liên Xô, các nƣớc xã

hội chủ nghĩa và các lực lƣợng cách mạng trên thế giới kéo dài trên 40 năm, trong thời gian

diễn ra chiến tranh lạnh. Năm 1989, tổng thống Bush đã nêu ra chiến lƣợc "vƣợt trên sự ngăn

chặn" nhằm mục tiêu tiến công toàn diện bằng "diễn biến hòa bình" làm sụp đổ Liên Xô,

Đông Âu và các nƣớc xã hội chủ nghĩa khác, xây dựng một trật tự thế giới mới dƣới sự lãnh

đạo của Mỹ. Chiến lƣợc này đã đƣợc thực hiện trong vòng 4 năm từ 1989- 1993. Đầu năm

1993, Bill Clinton nhận chức tổng thống. Sau nhiều lần điều chỉnh, bổ sung chính sách, đến

đầu năm 1995 công bố " chiến lƣợc an ninh quốc gia cam kết và mở rộng". Chiến lƣợc này

vừa có tính chất kế thừa những ý tƣởng của Bush, lại vừa điều chỉnh cho phù hợp với thực tế

của nƣớc Mỹ và tình hình thế giới đang chuyển biến phức tạp trong thập kỷ cuối của thế kỷ

XX. Chiến lƣợc này nhằm mục tiêu: ra sức củng cố và phát huy sức mạnh mọi mặt của Mỹ ở

trong nƣớc cũng nhƣ trên thế giới; tập trung sức chấn hƣng nghị quyếtền kinh tế Mỹ, bảo vệ

an ninh và các lợi ích chiến lƣợc của Mỹ trên thế giới; chống lại mọi hiểm họa đối với Mỹ,

xây dựng trật tự thế giới mới đảm bảo "sự lãnh đạo của Mỹ đối với thế giới" và "Mỹ có vai

trò lãnh đạo toàn cầu", mở rộng và phổ biến mọi giá trị của Mỹ ra thế giới và ngăn chặn

không để xuất hiện mọi đối thủ cạnh tranh với Mỹ trong thời hậu Chiến tranh lạnh và dang

còn những phức tạp mà Mỹ phải đối phó. Chiến lƣợc của Mỹ sau đó đƣợc điều chỉnh theo

tình hình thế giới. Năm 2001, W.Bush lên làm tổng thống, về cơ bản là vẫn tiếp tục theo đuổi

định hƣớng đã đƣợc xác lập thời Bin Clinton. Đặc biệt, sau sự kiện ngày 11/9/2001, chính

sách đối ngoại của Mỹ đã có một sự thay đổi lớn, tập trung vào mục tiêu chống lại chủ nghĩa

khủng bổ trên toàn thế giới bên cạnh những mục tiêu đã đƣợc xác định từ trƣớc.

b) Chính sách đối ngoại của Nhật Bản

Sau chiến tranh lạnh, Nhật Bản đẩy mạnh điều chỉnh chính sách ngoại giao đa phƣơng

nhằm nâng cao vị trí cho tƣơng xứng với vị trí siêu cƣờng kinh tế, đồng thời

19

tạo môi trƣờng quốc tế thuận lợi để phát triển. Ý đồ đó đƣợc thể hiện ở một số mặt nhƣ:

Tăng cƣờng chính sách ngoại giao đa phƣơng. Tuy nhiên, Nhật vẫn luôn coi quan hệ

liên minh chiến lƣợc với Mỹ là hòn đá tảng trong chiến lƣợc an ninh của mình; đồng thời

phát triển quan hệ hợp tác với các nƣớc Tây Âu, ASEAN, điều chỉnh chính sách ngoại giao

đối với Trung Quốc, cải thiện quan hệ đối với Nga,...Những chính sách này không ngoài mục

đích nhàm nâng cao vị trí chính trị của Nhật trên thế giới.

Thông qua viện trợ và hợp tác kinh tế để nâng cao vị trí chính trị. Do bị ràng buộc bởi

Hiến pháp hòa bình 1947, Nhật không thể dùng biện pháp quân sự trong quan hệ với các

nƣớc khác. Vì vậy, viện trợ và hợp tác kinh tế là biện pháp hữu hiệu nhất trong chính sách

ngoại giao của Nhật Bản. Nhật áp dụng biện pháp này trong điều chỉnh quan hệ với Trung

Quốc, tăng cƣờng quan hệ với các nƣớc Đông Nam Á. Nhật là nƣớc đóng góp 17% kinh phí

hoạt động của LHQ.

Do xác định chiến lƣợc đối ngoại nhƣ vậy cho nên chính phủ Nhật cũng đã vạch ra

những hƣớng ƣu tiên trong chính sách đối ngoại. Hƣớng ƣu tiên đầu tiên trong chính sách đối

ngoại của Nhật là quan hệ đối với Mỹ. Nhƣng hiện nay, Nhật đang cố gắng độc lập trong

quan hệ đối với Mỹ trong vấn đề an ninh. Mới đây nhất, Nhật đã quyết định hủy bỏ Hiến

pháp hòa bình năm 1947 thông qua Hiến pháp mới trong đó cho phép Nhật phát triển quốc

phòng. Hƣớng ƣu tiên thứ hai trong chính sách đối ngoại của Nhật là châu Á. Những lý do

Nhật Bản xác định đƣờng lối nhƣ vây là vì Nhật đang thực hiện mục tiêu trở thành một cƣờng

quốc chính trị, do sự tan rã của Liên Xô và những mâu thuần giữa Nhật và Mỹ, thêm vào đó

là xu thế khu vực hóa và sự tập hợp trong nền kinh tế thế giới. Hƣớng ƣu tiên thứ ba của Nhật

là đối với các nƣớc Đông Nam Á. Đây là khu vực có vị trí quan trọng đối với Nhật. Nhật ý

thức đƣợc vai trò của khu vực này nên không ngừng điều chỉnh chính sách đối ngoại với

Đông Nam Á với mục tiêu giành vai trò nổi bật về kinh tế và chính trị trong khu vực. Ngoài

ra, Nhật cũng xác định những hƣớng đối ngoại quan trong khác với các nƣớc nhƣ là Trung

Quốc, Nga, bán đảo Triều Tiên, và đặc biệt là đổi với LHQ. Mục tiêu của Nhật Bản là củng

cố ảnh hƣởng về chính trị, kinh tế đối với thế giới nhằm giành chiếc ghế ủy viên thƣờng trực

HĐBALHQ. Cho đến any, nhiều nƣớc Châu Á đã ủng hộ

20

Nhật trong vấn đề này nhƣng Trung Quốc vẫn là một rào cản lớn đối với Nhật nêu nhƣ nƣớc

này muốn trở thành ủy viên thƣờng trực HĐBALHQ.

c) Chính sách đối ngoai của Trung Quốc

Trung Quốc là một trong 5 nƣớc ủy viên thƣờng trực HĐBALHQ. Những chính sách

đối ngoại của nƣớc này tác động không nhỏ đến quan hệ quốc tế cũng nhƣ vai trò của tổ chức

LHQ trong việc thực hiện sứ mệnh gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới. Thời kỳ sau Chiến

tranh lạnh, Trung Quốc chủ trƣơng thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình

với những nội dung cơ bản sau:

"Giữ thái độ và chính sách độc lập tự chủ đôi với các vấn đề quốc tế, không liên minh

với các nƣớc lớn hay tập đoàn nào, xây dựng quan hệ chiến lƣợc chống chủ nghĩa bá quyền

và chính trị cƣờng quyền

Mục tiêu của công tác đối ngoại là bảo vệ hòa bình thế giới để xây dựng và hiện đại

hóa đất nƣớc, tạo bối cảnh quốc tế hòa bình

Bảo đảm tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không xâm phạm và can thiệp vào

công việc nội bộ của nƣớc khác, bình đẳng cùng có lợi trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống

hòa bình, phát triển quan hệ với tất cả các nƣớc.

Đoàn kết và hợp tác với các nƣớc "thế giới thứ ba"; phát triển quan hệ hữu nghị với

các nƣớc láng giềng là nguyên tắc của chính sách đối ngoại.

Trung Quốc đề xƣớng trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, xây dựng quan hệ

quốc tế và thiết lập trật tự kinh tế quốc tế mới."11

Từ sau Đại hội XV của Đảng cộng sản Trung Quốc, căn cứ vào tình hình quốc tế và

trong nƣớc, Trung Quốc đã điều chỉnh một số lĩnh vực trong chính sách đối ngoại "hòa bình,

độc lập tự chủ mang đặc sắc Trung Quốc". Đƣờng lối đối ngoai này mang những đặc điểm

chính nhƣ sau: đầu tiên, là kiên trì độc lập tự chủ: coi trọng an ninh và chủ quyền quốc gia,

phản đối chủ nghĩa bá quyền, Trung quốc coi phát triển là vấn đề căn bản. Vai trò quốc tế của

Trung Quốc phụ thuộc vào thành tựu kinh tế của Trung Quốc. Trung Quốc cho rằng kinh tế

không ngừng lớn mạnh sẽ đặt nền móng vững chắc cho chính sách ngoại giao hòa bình, độc

lập, tự chủ. Trung Quốc cũng xác định rằng đấu tranh bảo vệ hòa bình là nhiệm vụ hàng đầu

của chính sách ngoại giao. Trung Quốc chủ trƣơng thiết lập một trật tự thê giới mới; không

tính đến sự khác biệt về chế độ chính trị, hình thái ý thức xã hội. Họ cũng phản đối tƣ duy

chiến tranh lạnh, đƣa ra

11 Viện quan hệ quốc tế, giáo trình quan hệ quốc tế, trang 342-343

21

quan niệm an ninh mới, cùng bình đẳng tham gia, hợp tác hiệp thƣơng thống nhất, giải quyết

các vấn đề an ninh quốc tế và khu vực. Trung quốc chủ trƣơng tăng cƣờng dân chủ hóa quan

hệ quốc tế, phản đối lấy lớn ép nhỏ, lấy mạnh trị yếu, lấy giàu trị nghèo.

d) Chính sách đối ngoại của Liên Bang Nga

Liên Xô tan rã, Liên bang Nga đƣợc kế thừa phần lớn di sản kinh tế, quân sự, tiềm lực

kinh tế- kỹ thuật của siêu cƣờng Liên Xô cũ. Tuy nhiên, nƣớc Nga hiện nay không có đƣợc vị

trí, vai trò quốc tế mà Liên Xô đã từng có. Chiến tranh lạnh kết thúc làm cho tƣơng quan lực

lƣợng thay đổi bất lợi cho Liên bang Nga. Vai trò địa-chính trị của Nga bị suy giảm, chẳng

những trên toàn cầu mà khả năng tác động vào tiến trình vận động của các sự kiện diễn ra ở

khu vực Âu- Á kề cận cũng bị hạn chế. Do là nƣớc kế thừa Liên Xô, cho nên ngoài những

thuận lợi có đƣợc, Nga còn phải đối mặt với những khó khăn rất lớn do Liên Xô để lại. Điều

này tác động không nhỏ đến chính sách đối ngoại của Liên bang Nga. Đặc điểm nổi bật trong

chính sách đối ngoại của Liên bang Nga là lấy việc đảm bảo lợi ích quốc gia dân tộc làm mục

tiêu bao trùm, là xuất phát điểm, là chìa khóa để hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại.

Ban lãnh đạo Nga cho ràng hiện tại và trong tƣơng lai gần, những lợi ích quan hệ sống còn

của Liên bang Nga không mang tính toàn cầu; Nga không có lợi ích đối lập với các nƣớc

phƣơng Tây. Chính phủ Nga đã đặt ra mục tiêu cơ bản, xuyên suốt của chính sách đối ngoại

của Nga là tạo dựng môt trƣờng quốc tế thuận lợi để góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc

cải cách kinh tế và thể chế chính trị ở nƣớc Nga; bảo đảm cho nƣớc Nga kế thừa đầy đủ vai

trò, vị trí của Liên Xô trƣớc đây trong đời sông quốc tế; xây dựng một chính sách đối ngoại

mang bản sắc riêng của nƣớc Nga căn cứ vào vị trí địa - chính trị, lợi ích, thực lực của nƣớc

Nga thời hậu Xô Viết.

e) Chính sách đối ngoại của liên minh châu Âu (EU)

Liên minh châu Âu ra đời trong chiến tranh lạnh (EEC) và ngày càng phát triển về tổ

chức cũng nhƣ thành viên. Hiện nay, Liên minh Châu Âu là một trong những đối trọng của

Mỹ cũng nhƣ những nƣớc lớn khác trên thế giới. Liên minh đại diện cho tiếng nói của các

nƣớc lớn ở Tây Âu nhƣ: Anh, Pháp, Đức. Đây là một tổ chức quan trọng trên thế giới do đó

tiếng nói của nó cũng ảnh hƣởng không nhỏ đối với quan hệ quốc tế trên thế giới. Sau khi

Chiến tranh lạnh kết thúc, chính sách đối ngoại của Liên minh Châu Âu cũng đã đƣợc điều

chỉnh. Chính sách đối ngoại này quy định rõ ràng đối với châu Âu và thế giới. Đối với châu

Âu mục tiêu đƣợc đặt ra là: xây dựng một

22

châu Âu thống nhất; tăng cƣờng an ninh của liên minh và của các nƣớc thành viên dƣới mọi

hình thức, phải thiết lập một nền an ninh chung cho châu Âu. Đối với các nƣớc khác trên thế

giới, những mục tiêu trong chính sách đối ngoại đƣợc đƣa ra là: gìn giữ hòa bình, tăng cƣờng

an ninh quốc tế phù hợp với các nguyên tắc của Hiến chƣơng LHQ và những nguyên tắc của

định ƣớc Henxinli. Đó là các nguyên tắc: bình đẳng về chủ quyền giữa các nƣớc, tôn trọng

làm tròn nghĩa vụ quốc tế, giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế, từ bỏ vũ lực hoặc đe

dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế chống lại toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của

các quốc gia. Mục tiêu thứ hai đối với thế giới là khuyến khích hợp tác quốc tế. Trong bối

cảnh chung của thế giới là xu hƣớng khu vực hóa, toàn cầu hóa, các nƣớc hội nhập để cùng

phát triển thì việc xác định mục tiêu này là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của

thế giới.

Nhƣ vậy, điểm sơ qua những chính sách đối ngoại của những nƣớc lớn trong giai

đoạn hiện nay có thể thấy một số những đặc điểm nổi bật bao trùm chung cho các nƣớc, liên

minh. Đầu tiên, đó là sự điều chỉnh chính sách đối ngoại kể từ sau khi Chiến tranh lạnh kết

thúc. Tình hình thế giới thay đổi đòi hỏi các nƣớc phải thay đổi chính sách đối ngoại phù hợp

với xu thế chung của thế giới đó là xu thế toàn cầu hóa, hội nhập để cùng phát triển. Trong xu

thế chung đó, trong chính sách đối ngoại của các nƣớc nổi bật lên vấn đề quan trọng hàng đầu

đối với các nƣớc đó chính là quyền lợi của dân tộc, của quôc gia phải đƣợc đặt lên hàng đầu.

Việc giải quyết những vấn đề của thế giới hay của khu vực hoặc là những mâu thuẩn, xung

đột của các quốc gia đều phải đặt quyền lợi của quốc gia lên hàng đầu. Chính điều này đã tác

động mạnh đến tình hình thê giới, đến Việc giải quyêt những xung đột trên thế giới và đặc

biệt là ảnh hƣởng, chi phối đến vai trò của tổ chức LHQ trong việc giữ gìn hòa bình và an

ninh quốc tế trong giai đoạn hiện nay.

5.2.3. Vai trò của LHQ trong việc giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế thời kỳ sau

Chiến tranh lạnh đến năm 2006

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực bị sụp đổ, thế giới đã diễn ra

những biến đổi và đảo lộn mang tính bƣớc ngoặt chƣa từng thấy. Sự tan rã hoặc thay đổi

quan trọng của các liên minh chính trị quân sự hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai

đang tạo ra những khoảng trống, dẫn tới những dao động sâu rộng làm chuyển động tất cả các

tập hợp và cơ chế quốc tế và khu vực. LHQ sẽ đóng vai trò nhƣ thế nào trong một cục diện

mới đƣợc xem là đã chấm dứt thời kỳ chiến

23

tranh lạnh để trở thành một trung tâm trong việc điều hòa lợi ích chính đáng của các quốc gia

dừ lớn hay nhỏ trong cộng đồng quốc tế. Có những ý kiến cho rằng, thời kỳ sau chiến tranh

lạnh là thời kỳ "hoàng kim" của LHQ. Vai trò của LHQ đã dần dần đƣợc thể hiện rõ ràng và

sâu rộng trên toàn thế giới. Không có sự xung đột nào, không có một cuộc chiến tranh nào mà

không có sự can thiệp của LHQ. Ở đây chƣa đề cập đến vai trò của LHQ ở đó nhƣ thế nào mà

chỉ xét đến sự có mặt của tổ chức này ở nơi đó. Rõ ràng rằng LHQ đã có mặt trên khắp thế

giới để cổ gắng thực hiện sứ mạng của mình là duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

Tình hình thế giới xảy ra nhiều diễn biến phức tạp nhƣ đã đề cập ở phần trên. Thêm

vào đó, sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của các nƣớc lớn, sự vƣơn lên của những nƣớc

đang phát triển để thiết lập một trật tự thế giới mới đã tác động lớn đến an ninh thế giới và

đồng thời nó cũng tác động đến vai trò của LHQ trong việc giữ gìn hòa bình thế giới.

a) LHQ và những vấn đề tồn tại sau Chiến tranh lạnh

Một điều đầu tiên cần đƣợc nhắc đến chính là những xung đột, những cuộc chiến

tranh hay tranh chấp diễn ra trong thời gian chiến tranh lạnh vẫn tiếp tục diễn ra sau khi chiến

tranh lạnh kết thúc. LHQ tiếp tục sứ mệnh là trung gian hòa giải những vấn đề đó. Một cuộc

xung đột lớn diễn ra dai dẳng cho đến nay vẫn chƣa đƣợc giải quyết đó là xung đột giữa

Israel và Palestine. Rất nhiều nghị quyết, nhiều cuộc hòa giải của LHQ đã đƣa ra để tìm giải

pháp hòa bình cho khu vực thế nhƣng hoàn toàn không có hiệu quả. Israel rất nhiều lần không

tôn trọng và thực hiện nghiêm túc những nghị quyết của LHQ. Từ năm 1993, đã có những

cuộc đàm phán bí mật giữa PLO và Israel tại Oslo. Kết quả là ngày 10/9/1993, với sự giàn

xếp của Mỹ Ai Cập, tại Wasinhton, chủ tịch PLO Y.Arafat và thủ tƣớng Israel I.Rabin đã ký

văn kiện công nhận lẫn nhau. Đây là một bƣớc tiến quan trọng mở đƣờng cho việc lập lại hòa

bình ở Trung Đông. Tiếp đó, hai bên đã ký các thỏa thuận Oslo I và II, hiệp định về nền tự trị

của Palestine tại dải Gaza và Jericho thuộc bờ tây sông Jordan. Theo đó, Israel phải rút hết

quan ra khỏi Gaza và một số vùng thuộc bờ tây sông Jordan và trao quyền tự trị tạm thời cho

những ngƣời Palestine có thẩm quyền; và điểm mấu chốt là sau giai đoạn tự trị tạm thời kéo

dài 5 năm đến ngày 4/5/1999 phải kết thúc mọi thƣơng thuyết về một quy chế chính thức của

Palestine và nhà nƣớc Palestine phải đƣợc tuyên bố thành lập. Thế nhƣng đến ngày 4/5/1999,

nƣớc này vẫn chƣa đƣợc tuyên bố thành lập và cuộc đấu

24

tranh của nhân dân Palestine vẫn đang tiếp tục. Ngày 11/11/2004, chủ tịch Y.Arafat qua đời.

Hiện nay, tình hình ở Palestine vẫn rất phức tạp. Dù đã hết sức cố gắn và nỗ lực để hoà giải

nhằm đem lại hòa bình cho khu vực nhƣng LHQ đã không thể kiểm soát đƣợc tình hình và

không phát huy đƣợc vai trò của mình, khu vực này có vị trí quan trọng đối với những nƣớc

lớn trên thế giới. Một cuộc tranh châp nữa diễn ra từ chiến tranh lạnh nhƣng cho đến nay vẫn

chƣa đƣợc giải quyết đó là tranh chấp giữa Ấn Độ và Pakistan về Kashmir. Thỏa thuận

Shimla đƣợc ký nhƣng quan hệ giữa hai nƣớc vẫn căng thẳng vì thỏa thuận này chƣa xác định

đƣợc tƣ cách cuối cùng của Kashmir. Theo thỏa thuận Simla, tranh chấp giữa hai bên phải

đƣợc giải quyết mà không đƣợc sử dụng vũ lực. Tuy vậy, không bên nào tỏ ý chí hoặc đủ khả

năng thực hiện điều khoản này. Hai bên có cách hiểu rất khác nhau về thỏa thuận Simla. Ấn

Độ gần nhƣ đã phủ nhận vai trò trung gian hòa giải của LHQ cũng nhƣ bất kỳ nƣớc nào khác

trong vấn đề tranh châp này và cho rằng đây là vấn đề của chỉ riêng hai nƣớc mà thôi. Những

nghị quyết của LHQ đã không đƣợc thực hiện và hòa bình vẫn là một điều rất xa vời đối với

vùng đất này. Tƣơng lai của Kashmir không biết sẽ ra sao, hòa bình, ổn định, thịnh vƣợng

của vùng đất này bao giờ thì có đƣợc? Đó là một câu hỏi vẫn còn chƣa có lời đáp, điều này

trƣớc hết phụ thuộc vào sự nỗ lực giữa các bên trƣớc hết là Ấn Độ Và Pakistan, sau đó là

những nỗ lực của LHQ trong việc giải quyết vấn đề này. Nhƣng LHQ cũng cố gắng trong khả

năng của mình hạn chế đến mức thấp nhất mâu thuẫn giữa hai nƣớc trong vấn đề vũ khí hạt

nhân.

Trở lại vấn đề Campuchia, sau khi Việt Nam rút quân ra khỏi Campuchia, việc giải

quyết vấn đề ở Campuchia do LHQ đảm nhận. Dƣới sự giám sát của LHQ, Hội nghị hòa bình

đã đƣợc tổ chức để tìm ra giải pháp cho vấn đề Campuchia. Ngày 23/10/1991, Hiệp định hòa

bình Campuchia đƣợc ký kết giữa 19 nƣớc và 4 phái Campuchia tại thủ đô Paris của Pháp.

Ngày 23-25/5/1993, Tổng tuyển cử lần thứ nhất ở Campuchia do cơ quan quyền lực lâm thời

của LHQ (UNTAC) tổ chức thành công. Ngày 24/9/1993, Quốc hội mới và Chính phủ Liên

hiệp CPP-FUNCINPEC (FUN) nhiệm kỳ I đƣợc thành lập, tên nƣớc đổi thành Vƣơng quốc

Campuchia theo chế độ quân chủ lập hiến, thực hiện chế độ đa đảng và nền kinh tế thị

trƣờng. N. Sihanouk lên ngôi lần thứ hai. Ngày 26/7/1998, cuộc tổng tuyển cử lần thứ hai và

ngày 27/7/2003, tổng tuyển cử lần thứ ba đƣợc tổ chức dƣới sự giám sát của LHQ. Trƣớc

mắt, Campuchia vẫn còn rất nhiều khó khăn, tình hình xã hội vẫn chƣa ổn định thế nhƣng

25

việc lập lại hòa bình ở Campuchia đã ghi nhận công lao của LHQ trong nổ lực đem lại hòa

bình cho Campuchia nói riêng và thế giới nói chung.

b) LHQ và những cuốc xung đột, chiến tranh xảy ra trên thế giới (1989-2006)

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, nhiều cuộc xung đột đã diễn ra trên thế giới. Những

cuộc xung đột trong giai đoạn này mang màu sắc tôn giáo, sắc tộc,... diễn ra trên lãnh thổ của

những quốc gia có chủ quyên. Những cuộc xung đột diễn ra trên phạm vi toàn thế giới nhất là

ở Châu Phi, xung đột về sắc tộc ở đây diễn ra rất gay gắt. LHQ đã có mặt ở khắp nơi, trên

từng khu vực từng đất nƣớc diễn ra xung đột, đặc biệt, lực lƣợng mũ nồi xanh của LHQ cũng

đã có mặt ở một số nơi đề làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình.

Cuộc khủng hoảng ở Nam Tư diễn ra ngay sau khi Liên Xô tan rã. LHQ cố gắng tìm

mọi cách để cuộc xung đột nhanh chóng kết thúc. HĐBA đã liên tiếp ra những nghị quyết

đƣa lực lƣợng gìn giữ hòa bình tới và trừng phạt toàn diện liên bang Nam Tƣ. Tháng 3/1992,

bất chấp sự phản đối của ngƣời Serbia chiếm 1/3 dân số, các nhà lãnh đạo Bosnia

Herzegovina tuyên bố độc lập tách khỏi liên bang Nam Tƣ. LHQ ngày 11/4/1992 HĐBA kêu

gọi các bên ngừng bắn giải quyết bất đồng một cách hòa bình. Sau đó, cựu ngoại trƣởng Mỹ

Vance đến Nam Tƣ với tƣ cách đặc phái viên của TTK LHQ B.Ghali. Ông đã gặp các nhà

lãnh đạo Nam Tƣ và và các nƣớc cộng hòa có liên quan đến xung đột. Vance nói rằng LHQ

không tính đến việc gửi bộ đội gìn giữ hòa bình nhƣng sẽ gửi 100 quan sát viên quân sự tới

khu vực xung đột. Tổng thống Bosnia Herzegovina và lãnh tụ ngƣời Secbia của nƣớc này đều

hoan nghênh sự can thiệp của LHQ. Do bị tác động của tình hình trong khu vực và trên thế

giới lúc bấy giờ nên tình hình ở Nam Tƣ ngày càng căng thẳng. Mâu thuẫn về sắc tộc, tôn

giáo sâu sắc giữa ba cộng đồng ngƣời Sebia, Croatia và ngƣời Hồi giáo đã dẫn đến cuộc

chiến tranh đẫm máu, kéo dài từ tháng 4/1992 đến tháng 12/1995. Năm 1992, LHQ đã đƣa

lực lƣợng gìn giữ hòa bình đến Nam Tƣ với 9000 lính mũ nồi xanh. Ngày 26, 28/8/1992 tại

Luân Đôn diễn ra hội nghị quốc tế về Nam Tƣ với sự bảo trợ của cộng đồng châu Âu là LHQ.

Kế hoạch Vance- Owen, phác thảo duy nhất và công phu của một giải pháp tổng quát đối với

Bosnia vào ngày 2/1/1993, đại diện cộng đồng hồi giáo Crrotia và Sebia bắt đầu thƣơng

lƣợng tại Giơnevơ. Ba bên tán thành xây dựng một hiến pháp nƣớc cộng hòa do hai đồng chủ

tịch hội nghị Luân Dôn là Vance và Owen đề nghị. Kế

26

hoạch dự kiến chia cắt Bosnia thành 10 tỉnh tự trị trong đó, mỗi cộng đồng ở Bosnia sẽ chiếm

giữ 3 tỉnh còn Sarajevo vẫn giữ trung lập với chính phủ trung ƣơng, trong đó, đại diện của 3

cộng đồng sẽ luân phiên nhau là, tổng thống. Nhƣng kế hoạch này đã không đƣợc thực hiện.

Trƣớc tình hình đó, HĐBA đã thông qua nghị quyết siết chặt lệnh cấm vận chống Nam Tƣ.

Mặc dù những cố gắng của cộng đồng quốc tế, của LHQ, xung đột ở đây vẫn không ngừng

diễn ra. Ngày 6/5, gần 400 lính mũ nồi xanh của LHQ đã bị bắt làm con tin để đổi lấy điều

kiện NATO không đƣợc ném bom vào khu vực của lực lƣợng Serbia ở Bosnia. Lực lƣợng

của LHQ bị đe dọa. Điều này đã trở thành cái cớ cho NATO tấn công vào Nam Tƣ, chuyển từ

hoạt động gìn giữ hòa bình sang hoạt động cƣỡng chế hòa bình. Sau đó, nhiều hoạt động

ngoại giao tìm giải pháp cho hòa bình ở Bosnia đã đƣợc tiến hành, trong đó, LHQ với nhiều

nổ lực của mình cũng tiến hành những hoạt động ngoại giao để đem lại hòa bình cho khu vực

này. Cho dù đã đạt đƣợc một số giải pháp hòa bình và bƣớc đầu tình trạng xung đột đã đƣợc

giải quyết nhƣng hiện nay, khu vực này vẫn còn nhiều bất ổn, là một trong những điểm nóng

của thế giới về chủ nghĩa khủng bố. Trong cuộc khủng hoảng ở Nam Tƣ này, LHQ đã đóng

một vai trò đáng kể trong việc đem lại hòa bình cho bán đảo Ban căng.

Cuộc khủng hoảng ở Kosovo

Kosovo là một tỉnh thuộc cộng hòa Serbia có biên giới giáp với Anbani, có khoảng 2

triệu dân nhƣng 90% dân số là ngƣời Anbani theo đạo Hồi, còn 10% là ngƣời Serbia theo

dòng chính thống giáo. Nam Tƣ luôn cho rằng Kosovo là lãnh thổ của Nam Tƣ, còn Anbani

lại cho ràng trƣớc kia Kosovo thuộc Anbani. Dƣới thời của Titô, Kosovo đƣợc hƣởng quy

chế tự trị gần nhƣ là một nƣớc cộng hòa nhƣng đến năm 1989 thì tổng thống Milosevic đã cắt

bỏ một số quyền cùa khu tự trị này và từ đó ngƣời Anbani ở khu vực này đứng lên đấu tranh

đòi quyền tự trị. Tình hình ở Kosovo ngày càng trở nên phức tạp, không khí khủng bố do

những ngƣời theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi gây ra bao trùm lên vùng này, hận thù dân tộc

ngày càng một nặng nề. Đối với vấn đề Kosovo, LHQ chủ trƣơng giải quyết những khủng

hoảng bằng biện pháp hòa bình, không dùng những biện pháp bằng vũ lực. Thế nhƣng Mỹ đã

qua mặt cả LHQ, phớt lờ tổ chức này khi tấn công vào Nam Tƣ. Đây là sự vi phạm nghiêm

trọng hiến chƣơng LHQ vì Mỹ và NATO đã tấn công vào một nƣớc có chủ quyền mà bất

chấp những quyết định của LHQ.

27

Sau khi cuộc chiến nổ ra, LHQ đã có nhiêu cố gắng để khắc phục tình hình tại

Kosovo, tỉnh này đƣợc đặt dƣới sự giám sát của LHQ, nhiều giải pháp đƣợc đƣa ra để đem lại

hòa bình cho khu vực. Mới đây nhất, là kế hoạch của cựu tổng thống Phần Lan, Martti

Ahtisaari vừa đƣa ra một đề xuất mới về tƣơng lai của Kosovo. Song kế hoạch này đang còn

gây nhiều tranh cãi và khó có thể đƣợc thực hiện. Mặc dù từ năm 1999 đến nay, Kosovo dƣới

quyền kiểm soát của LHQ song những hành động vũ trang đòi độc lập của những ngƣời gốc

Anbani vẫn diễn ra. Dù đã hết sực cố gắng và có những vai trò nhất định sau năm 1999

nhƣng LHQ vẫn chƣa đem lại hòa bình, ổn định cho Kosovo. Điều đáng tiếc là trong cuộc tấn

công vào Nam Tƣ năm 1999 của Mỹ và NATO, LHQ đã không thể làm gì để ngăn chặn đƣợc

hành động xâm lƣợc trên, đó là sự bất lực của LHQ mà ai cũng phải thừa nhận

Chiến tranh Vùng Vịnh

Vùng Vịnh hiểu theo nghĩa hẹp là bao gồm các nƣớc nằm ven bờ vịnh Ba Tƣ là: Iran,

Iraq, Kuwait, Arập Xêut, Bahrain, Quatar và các tiểu vƣơng quốc Arập thống nhất. Cuộc

chiến tranh chính thức bắt đầu ngày 2/8/1990 với việc Iraq bất ngờ đem quân chiếm đóng

Kuwait. Trong giai đoạn này, LHQ đã ra 12 nghị quyết về cuộc chiến tranh này. Ngày

2/8/1990, nghị quyết 660 lên án Iraq xâm lƣợc Kuvvait và yêu cầu Iraq rút quân ra khỏi

Kuvvait. Nghị quyết 661 ngày 6/8 áp đặt một cuộc phong tỏa toàn diện về kinh tế và thƣơng

mại đối với Iraq, thƣờng đƣợc biết đến với tên gọi LHQệnh cấm vận của LHQ đối với Iraq.

Nghị quyết cấm các nƣớc buôn bán, xuất nhập khẩu hàng hóa với Iraq. Nghị quyết 678 thông

qua ngày 29/11/1990 kêu gọi các nƣớc ủng hộ hành động quân sự chống lại Iraq nếu nƣớc

này không rút quân khỏi Kuvvait trƣớc ngày 15/1/1991, trao quyền cho các nƣớc thành viên

LHQ sử dụng tất cả các phƣơng tiện cần thiết để duy trì và thực hiện các nghị quyết có liên

quan, khôi phục lại hòa bình và an ninh quốc tế trong khu vực. Ngày 3/4 HĐBA thông qua

nghị quyết 687 về việc chấm dứt chiến tranh với điều kiện Iraq phải hủy bỏ tất cả các loại vũ

khí hóa học, hạt nhân, tên lửa tâm xa,... ngày 6/4 Iraq tuyên bố chấp nhận tất cả các nghị

quyêt của LHQ. Cuộc chiến tranh Vùng Vịnh kết thúc, thắng lợi thuộc về liên minh quân sự

do Mỹ cầm đầu

Trong chiến tranh Vùng Vịnh, Iraq đã có hành động xâm lƣợc đối với một nƣớc có

chủ quyền và là thành viên của LHQ. Đáp lại lời cầu cứu của Kuwait, LHQ đã thể hiện đƣợc

vai trò của mình. Không kêu gọi đƣợc Iraq rút quân khỏi Kuvvait, LHQ đã

28

dùng quyền của mình, sử dụng sức mạnh quân sự để trừng phạt kể xâm lƣợc. Cho dù cuộc

chiến này đem lại lợi ích cho Mỹ và các nƣớc đông minh đi nữa thì nó cũng đã thể hiện đƣợc

tiếng nói của tổ chức này. Hành động của LHQ đã đƣợc nhiều nƣớc đồng tình ủng hộ LHQ

đã góp phần giải quyết khủng hoảng ở Vùng Vịnh.

Các cuộc xung đột ở châu Phi

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, hầu hết các nƣớc châu Phi đều giành đƣợc độc lập.

Thế nhƣng sau khi giành đƣợc độc lập, các nƣớc châu Phi lại không phát triển trong hòa bình

và ổn định mà lại rơi vào tình trạng xung đột về sắc tộc, về tôn giáo quyết liệt. Sự xung đột

này không chỉ diễn ra trong nội bộ các nƣớc mà còn diễn giữa các quốc gia với nhau. Châu

Phi là một châu lục "nóng bỏng" đƣợc thế giới quan tâm. LHQ có mặt trên khắp các khu vực

của châu LHQ lục này nhằm giải quyết tình hình xung đột ở đây. Sự có mặt của LHQ là

không thể phủ nhận đặc biệt là sự có mặt của LHQ lực lƣợng gìn giữ hòa bình của LHQ tại

những nơi này. Không ít thì nhiều LHQ cũng đà góp phần quan trọng trong việc làm dịu đi

những xung đột, có nơi còn thành công khi giải quyết xung đột. Thành công cũng có mà thất

bại cũng có, thế nhƣng không thể nhìn vào những thất bại mà phủ nhận đi những cố gắng của

LHQ. Những cuộc xung đột diễn ra tại Ruanda đã làm cho LHQ gửi lực lƣợng quân sự đến

đây để làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình, thế nhƣng không đem lại hiệu quả. Năm 1994, tại đây,

lực lƣợng quân sự của LHQ đã không ngăn chặn đƣợc cuộc tàn sát sắc tộc tại Ruanda

Vì các thành viên của hội đông bảo an từ chối thông qua bất kỳ một hành động quân

sự nào. Thƣơng vong trong cuộc diệt chủng ở đây ƣớc tính khoảng 500 ngàn đến 1 triệu

ngƣời. Hay tại Burundi, trong khoảng giữa năm 1993-1996, hơn 100000 ngàn ngƣời đã bị

giết chết trong các cuộc chiến và tàn sát sắc tộc. Ở cộng hòa Congo, từ tháng 5/1997, xung

đột ác liệt xảy ra giữa lực lƣợng dân quân của cựu tổng thống D. Sassou và lực lƣợng của

đƣơng kim tổng thống Lissousa. Mặc dù cộng đồng quốc tế và LHQ đã cố gắng dàn xếp

nhƣng xung đột không chấm dứt mà nó trở thành cuộc nội chiến tàn khốc kéo dài trong 5

tháng, làm cho 4000 ngƣời chết, cơ sở vật chất bị tàn phá nặng nề. Nhƣ vậy, LHQ đã thất bại

ở Congo- thất bại của MONUC ( ghị quyết 1292 của UNSC)- trong việc can thiệp có hiệu

quả vào cuộc chiến tranh Congo lần thứ hai (1998-2002) với những trận dánh, xung đột vẫn

tiếp diễn.

Ở Namibia, trƣớc năm 1990, nƣớc này bị Nam phi chiếm đóng. Sau khi Angola,

Mozambique (1975), Zimbabwe (1980) giành độc lập, cuộc đấu tranh của nhân dân

29

Tây Nam Phi (Namibia) do tổ chức nhân dân Tây Nam Phi (SWAPO) lãnh đạo bƣớc sang

một giai đoạn mới. Với việc thực hiện hiệp định hòa bình về Tây Nam Phi (12/1988), chính

quyền Nam Phi buộc phải thực hiện nghị quyết 435/78 của LHQ. Ngày 21/3/1990, Namibia

tuyên bố độc lập, nƣớc cộng hòa Namibia ra đời. Nhƣ vậy là với sự tác động của LHQ, nƣớc

cộng hòa Namibia sớm đƣợc ra đời và đó là kết quả ghi nhận công lao của tổ chức này.

Vẫn còn rất nhiều những xung đột, nội chiến diễn ra trên lục địa đến này và không nơi

nào là không thấy sự có mặt của LHQ. Có thể nói rằng LHQ đã rất nổ lực để đem lại ổn định

cho châu Phi. Trên đây chỉ là những sự kiện tiêu biểu cho những họat dộng của LHQ tại châu

phi, còn rất rất nhiều nữa những vấn đề chƣa đƣợc đề cập ở đây. Thế nhƣng cùng có thể nhận

thấy rằng vai trò của LHQ là không thể thiếu và ngày càng có ảnh hƣởng quan trọng đối với

châu Phi, cho dù vai trò đó có nhƣ thể nào đi nữa, thành công hay thất bại thì LHQ vẫn là một

lực lƣợng đƣợc các quốc gia ở đây coi trọng

Cuộc khủng hoảng hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên

Vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên đã xuất hiện ngay trong thời gian diễn ra

Chiến tranh lạnh. Năm 1992, vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên đƣợc đƣa ra LHQ.

Hành động thù địch của Mỹ đối với CHDCND Triều Tiên đã làm cho tình hình thêm căng

thẳng. LHQ đề nghị đóng vai trò làm trung gian hòa giải trong các cuộc đàm phán của hai

bên nhƣng chủ tịch Kim Nhật Thành đã thẳng thắng nói với TTK B. Ghali rằng LHQ không

cần phải can thiệp vào vấn đề này và nếu LHQ tham gia thì CHDCND Triều Tiên coi nhƣ

"một bên tham chiến". Kết quả là CHDCND Triều Tiên đã ký với Mỹ bản Hiệp định chung

về vấn đề vũ khí hạt nhân ngày 21/10/1994. Hiệp định là một bƣớc tiến trong vấn đề giải

quyết khủng hoảng hạt nhân, cuộc khủng hoảng hạt nhân lân thứ nhất ở bán đảo Triều Tiên

đã tạm thời đƣợc giải quyết.

Vào năm 2003, cuộc khủng hoảng hạt nhân lần thứ hai trên bán đảo Triều Tiên đã

bùng nổ. Nguyên nhân của cuộc chủng hoảng lân thứ hai này là do sự mâu thuần về lợi ích

chiến lƣợc giữa một bên là Mỹ và một bên là CHDCND Triều Tiên bàng mọi giá bảo vệ sƣ

sinh tồn của chế độ mình. Ngày 12/2/2002, cơ quan năng lƣợng nguyên tử quốc tế IAEA

tuyên bố CHDCND Triều Tiên vi phạm hiệp ƣớc không phổ biến vũ khí hạt nhân và đề trình

vấn đề này lên HĐBALHQ. LHQ đã đề nghị tiến hành đàm phán đa phƣơng để tìm giải pháp

giải quyết vấn đề. Ngày 12/4/2003, CHDCND Triều Tiên

30

công bố sẽ không hạn chế hình thức đối thoại nghĩa là chấp nhận đàm phán đa phƣơng. Dƣ

luận cho rằng CHDCND Triều Tiên thay đổi thái độ, chấp nhận đàm phán là do HĐBA đe

dọa sẽ thông qua phƣơng án phản đối CHDCND Triều Tiên vi phạm hiệp ƣớc cấm vũ khí hạt

nhân, có thể bị trừng phạt về kinh tế. Những cuộc đàm phán sáu bên (Trung Quốc, Nga, Mỹ,

Hàn Quốc, Nhật Bản và CHDCND Triều Tiên) đã diễn ra, thế nhƣng vấn đề vẫn không đƣợc

tháo gỡ. Ngày 9/10/2006, Triều Tiên làm cho thế giới chấn động khi tuyên bố nƣớc này đã

tiến hành vụ thử hạt nhân đầu tiên. Vụ thử mà theo nƣớc này, nó đã diễn ra thành công và an

toàn. Ngay lập tức LHQ đã có phản ứng, ngày 15/10, HĐBA đã nhất trí thông qua nghị quyết

1718 áp đặt các biện pháp trừng phạt liên quan đến lĩnh vực vũ khí và tài chính với

CHDCND Triều Tiên. LHQ xem đây là hành động đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế, yêu

cầu Triều Tiên quay trở lại Hiệp ƣớc không phổ biến, loại bỏ hoàn toàn, có kiểm chứng đối

với các loại vũ khí hạt nhân. Nghị quyết yêu cầu CHDCND Triều Tiên nối lại vô điều kiện

đàm phán 6 bên với các nƣớc. Do sự phản đối từ phía Trung Quốc và Nga, nghị quyết đã loại

bỏ hoàn toàn khả năng sử dụng các biện pháp quân sự chống lại CHDCND Triều Tiên và các

biện pháp cấm vận sẽ đƣợc bãi bỏ nếu nhƣ nƣớc này trở lại cuộc đàm phán 6 bên và tiến trình

này có tiến triển. Đại sứ của CHDCND Triều Tiên tại LHQ đã tuyên bố rằng nƣớc này hoàn

toàn bác bỏ bản nghị quyết trừng phạt do HĐBA thông qua. Ông Pak Gil Yon chỉ trích

HĐBA thông qua "một bản nghị quyết cƣỡng bức" và tuyên bố "CHDCND Triều Tiên đã sẵn

sàng cả cho đối thoại lẫn đối đầu. Nếu Mỹ cƣơng quyết gia tăng áp lực đối với QHDCND

Triều Tiên, CHDCND Triều Tiên sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp đối phó bàng sức

mạnh." Nhƣ vậy là cuộc khủng hoảng hạt nhân vẫn chƣa đƣợc giải quyết. Bất chấp LHQ và

cả quốc tế, CHDCND Triều Tiên vẫn giữ lập trƣờng cứng rắn của mình.

LHQ và cuộc chiến tranh Mỹ -Iraq

Chiến tranh Vùng Vịnh kết thúc nhƣng LHQ vẫn tiếp tục cấm vận nƣớc này trong

khoảng thời gian từ sau 1991 đến trƣớc khi cuộc chiến tranh Iraq diễn ra, LHQ đã có rất

nhiều nghị quyết về Iraq. Sau đây là một số những nghị quyết về Iraq trong khoảng thời gian

này: Nghị quyết 687 (3/4/1991), nghị quyết 1051(27/3/1996), nghị quyết 1143 (4/12/1997),

nghị quyết 1194 (9/9/1998), nghị quyết 1210 (24/10/1998), nghị quyết 1284 (17/12/1999).

Trong suốt những khoảng thời gian này, LHQ đã nhiều lần tiến hành thanh sát vũ khí ở Iraq

nhƣng đã không tìm thấy vũ khí hủy ở đây. Thế

31

nhƣng Mỹ và đồng minh của mình vẫn khẳng định Iraq vẫn còn vũ khí hủy diệt. Ngày 21/10

/2002, Mỹ trình lên HĐBA dự thảo nghị quyết mới về Iraq. Cuối cùng, sau những cuộc đấu

tranh gay gắt về những dự thảo mà Mỹ đƣa ra về thanh sát vũ khí ở Iraq, nghị quyết 1441 đã

ra đời (8/11/2002). Nghị quyết có 14 điều khoản trong đó điều khoản quan trọng nhất là LHQ

cho rằng Iraq đã và vẫn vi phạm cụ thể những nghĩa vụ của họ theo các nghị quyết liên quan,

trong đó có nghị quyết 687, đặc biệt là không hợp tác với các thanh sát viên vũ khí của LHQ

và IAEA, và cho rằng đây là cơ hội cuối cùng dành cho Iraq. Ủy ban thanh sát vũ khí của

LHQ đƣợc thành lập (UNMOVIC) đƣợc thành lập và tiến hành thanh sát vũ khí. Thế nhƣng,

những cuộc thanh sát vũ khí của LHQ vẫn cho thấy Iraq không hề vi phạm những nghị quyết

của LHQ và không hề có vũ khí hủy diệt nhƣ Mỹ đà tố cáo. Iraq đã thực hiện nghiêm túc các

yêu cầu mà LHQ đã đƣa ra. Mỹ vẫn tiến hành các hành động chuẩn bị cho cuộc chiến tranh

chống Iraq. Cuối cùng điều gì tới cũng đã tới, Mỹ- Anh đã bất chấp LHQ và sự phản đối của

dƣ luận quốc tế tiến hành cuộc chiến tranh chống Iraq, một mƣớc có chủ quyền. Điều đó cho

thấy sự thất bại hoan toàn của LHQ trong việc ngăn chặn cuộc chiến ở Iraq. Mỹ đã không tôn

trọng LHQ mà tiến hành cuộc chiến tranh chống lại một nƣớc khác. Uy tín của LHQ bị suy

giảm trầm trọng.

c) Đánh giá chung về vai trò của LHQ trong giai đoạn 1989-2006

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới thay đổi, ngày càng phức tạp hơn.

LHQ cũng phải đối mặt với những thử thách mới. Chiến tranh lạnh kết thúc không có nghĩa

là chiên tranh không còn diễn ra, mà ngƣợc lại, chiến tranh, xung đột diễn ra ở khắp nới và

không ngừng gia tăng do những nguyên nhân về tranh chấp, về tôn giáo, sắc tộc. Tính chất

của những cuộc chiến tranh thay đổi, có những cuộc chiến tranh diễn ra trong nội bộ các quốc

gia có chủ quyền, vì thế sự can thiệp của LHQ vào những nơi này có nhiều khó khăn. LHQ

trong khả năng có thể của mình đã có mặt và can thiệp vào những nơi diễn ra xung đột.

Những biện pháp mà LHQ thực hiện dựa chủ yếu trên nguyên tắc của Hiến chƣơng là giải

quyết những tranh chấp bàng những biện pháp hòa bình, tuy nhiên có những trƣờng hợp đặc

biệt LHQ đã sử dụng đến biện pháp quân sự, ở nhiều cuộc xung đột, LHQ đã gửi lực lƣợng

gìn giữ hòa bình đến làm nghĩa vụ quốc tế. Tính đến tháng 1/2005 có khoảng 65000 nhân

viên gìn giữ hòa bình của LHQ từ 103 nƣớc trên thế giới đã đƣợc triển khai tại 16 chiến dịch

và quân số này

32

vẫn tiếp tục tăng. Lính mũ nồi xanh của LHQ đóng vai trò quan trọng đặc biệt đối với việc

gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế.

Những cố gắng của LHQ là không thể phủ nhận. Không phải tất cả các sự can thiệp

của LHQ đều có hiệu quả, sai lầm có, thất bại cũng có đặc biệt đáng tiếc nhất là sự bất lực

của LHQ trong cuộc khủng hoảng ở Nam Tƣ- không ngăn đƣợc sự can thiệp của Mỹ và

NATO vào Nam Tƣ sau đó là thất bại trong chiến tranh Iraq- mà thành công cũng có. LHQ là

một tổ chức quốc tế, sực mạnh của nó tùy thuộc và tƣơng quan lực lƣợng trên thế giới nhất là

những nƣớc có vai trò quan trọng chi phối thế giới nhƣ Mỹ, Anh, Trung Quốc, Nga, Pháp và

một số nƣớc khác. Thế nhƣng, không phải hành động của LHQ là nhân tố quyết định đến kết

quả của vấn đề mà quan trọng là những lực lƣợng những nƣớc hay những nhân tố có liên

quan có thực sự muốn giải quyết vấn đề hay không. Đó mới chính là nhân tố quyết định, nếu

nhƣ các bên thực sự mong muốn hòa bình, giải quyết xung đột thì sẽ không có những sự việc

đáng tiếc đã và đang xảy ra trên thế giới làm ảnh hƣởng đến hòa bình và an ninh thế giới.

5.3 Thành tựu, hạn chế của Liên Hợp Quốc trong việc giữ gìn hòa bình và

an ninh quốc tế. Triển vọng của LHQ và mối quan hệ của tổ chức này với Việt Nam

5.3.1.Thành tựu Trong hơn 60 năm qua, LHQ đã có những đóng góp không nhỏ trong việc giữ gìn hòa

bình và an ninh quốc tế. Thế nhƣng không ít ý kiến cho rằng hệ thống LHQ tỏ ra thiếu sót và

bất cập, vai trò của LHQ đã giảm sút mạnh. Một số quốc gia mất lòng tin vào tính hiệu quả

cơ chế hợp tác đa phƣơng, thậm chí nói tổ chức LHQ không còn thích hợp trong thời đại

ngày nay.

Khi chiến tranh lạnh chia cắt các nƣớc thành viện thành 2 phe đối lập thì quyền phủ

quyết đã trở thành một phƣơng tiện để bác bỏ hành động của Hội đồng bảo an trƣớc những

cuộc khủng hoảng lớn trong thời kỳ đó, trừ trƣờng hợp tẩy chay của Liên Xô, khiến Hội đồng

bảo an phản ứng mạnh mẽ trƣớc cuộc chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên. Những ngƣời hy

vọng có một hệ thống an ninh tập thể có hiệu quả trên thế giới đã cảm thấy hết sức thất vọng

và vô vọng trƣớc sự xoay chuyển của thời cuộc. Tuy nhiên, bằng cách giữ không cho HĐBA

trực tiếp xung đột với những lợi ích an ninh chiến lƣợc của các nƣớc lớn, quyền phủ quyết đã

cho phép LHQ vƣợt qua đƣợc những căng thẳng Đông- Tây mà lẽ ra đã có thể huy hoại tổ

chức này. Đây là một

33

thành tựu của LHQ khi giữ cho mình tồn tại cho đến ngày hôm nay. Bằng cách tạo ra một

diễn đàn để các bên đối thoại hoà bình hay chỉ trích nhau bằng những lời lẽ chua cay nhƣng

hoà bình, LHQ đã đóng góp một cách khiêm tốn vào việc ngăn chặn những căng thẳng của

chiến tranh lạnh leo thang thành một cuộc chiến chiến tranh thế giới lần thứ ba trong thế kỷ

XX.

Để ngăn chặn những xung đột nhỏ leo thang thành những xung đột lớn có thể bị cuốn

vào cuộc chiến tranh lạnh, ngƣời ta đã tìm một loạt các biện pháp trong thập niên 1950 và

1960, triển khai lực lƣợng quân sự quốc tế không cƣỡng bức để theo dõi diễn biến hay để

chia tách các lực lƣợng tham chiến. Các phái đoàn quan sát viên tại Trung Đông (1948) và

Nam Á (1949) đã đƣợc tổ chức, kế đến là những hoạt động bộ binh rầm rộ ở bán đảo Sinai

(1956), Công- gô (1960) và đảo Síp (1964). Trong suốt những năm thoái trào của chiến tranh

lạnh và đầu thập niên 1990, tốc độ, phạm vi và quy mô của của các chiến dịch gìn giữ hoà

bình đã tăng lên nhanh chóng. LHQ đã đạt đƣợc những thành công quan trọng ở Nambibia,

Mô-zăm-bích, El Salvador, và thành công ít hơn thế ở Campuchia.với những phái đoàn thực

hiện việc tái thiết các quốc gia sau xung đột và gìn giữu hoà bình truyền thống. Cuối thập

niên 1990, lực lƣợng mũ nồi xanh của LHQ đã đƣợc triển khai ở Đông Timor, Libpria, Siera

Lêon, Eritrea-Ethiopia và cộng hoa dân chủ Công-gô và nhiều nƣớc khác. Tính đến ngày 31

tháng giêng năm 2005 có khoảng 65000 nhân viên gìn giữ hoà bình của LHQ từ 103 nƣớc

trên thế giới đã đƣợc triển khai tại 16 chiến dịch, và quân số này tiếp tục tăng đến những kỷ

luật mới. Nhìn chung, nhu cầu cần sự giúp đỡ của những chiến sĩ đội mũ nồi xanh bao giờ

cũng lớn hơn khả năng đáp ứng. Điều này chứng tỏ họ có vai trò quan trọng và đặc biệt đối

với việc gìn giữ hoà bình và an ninh quốc tế.

Khi chiến tranh lạnh kết thúc, HĐBA đã khôi phục lại quyền hạn của mình theo điều

41, theo đó, HĐBA có quyền áp đặt lệnh trừng phạt kinh tế, đi lại, quân sự và ngoại giao để

thực thi những quyết định của mình. Trong những năm gần đây, đã có những nỗ lực đáng kể

nhằm phát huy hiệu quả của những công cụ này để nâng cao tính thuyết phục và giảm bớt

những tác động về mặt nhân đạo của chúng. Trƣớc khi xảy ra sự kiện 11-9-2001, HĐBA đã

áp dụng lệnh trừng phạt đối với Libi, Xu-đăng và chế độ Taliban ở Afghanistan vì đã tiếp tay

và giúp đỡ cho khủng bố. HĐBA giờ đây có bốn tiểu ban chuyên xử lý khủng bố bằng cách

trừng phạt, thông qua báo cáo của các quốc gia thành viên và xác định những yếu điểm còn

tồn tại trong các chiến lƣợc,

34

trong hệ thông luật pháp và thực thi chính sách chống khủng bố của những nƣớc này. Trong

khi HĐBA còn phải thống nhất về một công ƣớc toàn diện và định nghĩa về khủng bố, thì từ

đầu năm 2005, ĐHĐ đã thông qua công ƣớc toàn câu thứ 13 nghiêm cấm một số loại hình

hành động khủng bố cụ thể, cụ thể là khủng bố hạt nhân. Những nổ lực này đã tiếp nối truyền

thống vốn đã có từ lâu của LHQ- xây dựng những chuẩn mực và biện pháp tự về toàn cầu của

LHQ nhằm ngăn chặn sự phổ biến hơn nữa vũ khí huỷ diệt hàng loạt.

LHQ có vai trò lớn lao cho đến nay không có cơ chế đa phƣơng nào khác thay thế

đƣợc, nhờ tính hợp pháp, tính đại diện rộng rãi nhất và bình đẳng cho tất các các quốc gia

thành viến, tính phổ cập và chức năng rộng lớn nhất.

Với sức mạnh đó, LHQ đã đóng vai trò tích cực trong hơn sau thấp niên qua, hiện

thực hoá đáng kê những mục tiêu đƣợc đề ra từ đầu trong hiến chƣơng LHQ. Công tác giữ

gìn hoà bình trên khắp thế giới của LHQ rất hiệu quả về chi phí, với ngân sách chi mỗi năm

còn ít hơn mức chi của các cục cảnh sát và lính cứu hoả thành phố New York của Mỹ. Việc

gìn giữu hoà bình cũng ít tốn kém hơn so với giải pháp thay thế là chiến tranh. Tình hình sau

chiến tranh Iraq cũng chứng tỏ LHQ tiếp tục có vai trò quan trọng. Sa lầy ở Iraq, Wasinhton

đã phải quay lại cầu cứu LHQ. Những giới hạn của sức mạnh quân sự trong xây dựng quốc

gia là rất rõ ràng. LHQ đã không ngăn chặn đƣợc chiến tranh nhƣng vẫn có vai trò thiết yếu

đối với việc đảm bảo hoà bình. Cũng nhƣ vấn đề Côsôvô sau chiến dịch ném bom Nam Tƣ

năm 1999, đổi với vấn đề Iraq hiên nay, chỉ có HĐBA mới có thể thông qua những dàn xếp

để mang lại tính hợp pháp quốc tế cho công cuộc tái thiết, khuyến khích các quốc gia khác

ủng hộ, góp sức ngƣời và của. Nhiều nƣớc đồng minh của Mỹ có khả năng gửi quân tới Iraq

đều nhấn mạnh trƣớc hết cần có sự uỷ quyền rõ ràng của LHQ. Không chỉ có ở Iraq, còn

nhiều điểm nóng khác trên thế giới cần phải có vai trò của LHQ nhƣ: vấn đề hạt nhân trên

bán đảo Triều Tiên, Iran, tiến trình hoà bình ở Trung Đông,... Rõ ràng, với giá trị và vai trò

của LHQ đã đƣợc khẳng định, việc từ bỏ tổ chức này sẽ là một tổn thất lớn về chính trị và

ngoại giao cho bất cứ quốc gia nào. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong thời gian dài nữa,

LHQ vẫn là một cơ chế và khuôn khổ quốc tế cần thiếp chƣa thể thay thế đối với tất cả các

nƣớc; các nguyên tắc cơ bản của hiến chƣơng LHQ vẫn là những nguyên tắc cơ bản của luật

quốc tế hiện đại; LHQ tiếp tục là diễn đàn đa phƣơng lớn nhất trong việc giải quyết các vấn

đề thuộc quan tâm chung của nhân loại

35

nhằm thiết lập một thế giới hoà bình, phát triển, công bằng cho tất cả các nƣớc lớn nhỏ trên

thế giới.

5.3.2.Hạn chế Công tác soạn thoả Hiến chƣơng LHQ đã đƣợc tiến hành trƣớc khi chiến tranh thế

giới thứ hai kết thúc, và trong quá trình soạn thảo những điều luật quy định hoạt động và

thành phần của cơ quan quan trọng nhất của LHQ- HĐBA- ngƣời ta đã xuất phát từ chỗ các

thành viên của Liên minh chiến thắng sẽ vẫn là các đồng minh và sẽ cùng nhau hƣớng nổ lực

vào việc duy trì hoà bình trên hành tinh, và nếu cần thiết, buộc các nƣớc phải tuân thủ hoà

bình. Những ngƣời đứng đầu 5 nƣớc chiến thắng đã nhận đƣợc quy chế uy viên thƣờng trực

HĐBA và sự thống nhất của 5 nƣớc này cần phải là sự đảm bảo cho năng lực hoạt động của

HĐBA. Song , thay vì điều đó, quyền phủ quyết đã ngấm ngầm làm mất uy tín của HĐBA,

bởi nhƣ những sự kiện tiếp theo cho thấy thực tế thƣờng xuyên sử dụng quyên phủ quyết đã

phá hoại sự thông nhất và có nghĩa là hầu nhƣ đã làm tê liệt hoàn toàn cơ quan này. Thậm

chí, hơn 15 năm sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, ngƣời ta cũng khó có thể hy vọng vào một

sự nhất trí của các ủy viên thƣờng trực: chúng ta đã thấy điều đó trong ví dụ những sự kiện

xung quanh Iraq vào năm 2003.

Những ngƣời sáng lập ra Hiến chƣơng LHQ đã coi cuộc chạy đua vũ trang là một

trong những nguyên nhân chủ yếu của tất cả các cuộc chiến tranh. Trong số những ý tƣởng cơ

bản của văn kiện, điều khoản về hệ thống an ninh tập thể đƣợc 5 ủy viên thƣờng trực kiểm

soát và và khi cần thiết đƣa vào vận hành, sẽ tạo điều kiện cho việc giải trừ vũ khí thực tế trên

toàn thế giới. Nhƣng chƣa đầy 4 năm sau khi ký Hiến chƣơng, các ủy viên thƣờng trực

HĐBA đã bất đầu một cuộc chạy đua vũ trang mạnh mẽ nhất trong lịch sử, kể cả vũ khí huy

diệt hàng loạt. Từ các nƣớc có nhiệm vụ bảo vệ hoà bình và an ninh, các nƣớc này đã biến

thành nguy cơ nghiêm trọng nhất đe doạ hoà bình trên toàn hành tinh.

Trong những năm 1990, ngƣời ta đã thấy rõ bản thân tính chất của các vấn đề mà

HĐBA phải đối mặt đang thay đổi. Thay vì những cuộc xung đột giữa các nƣớc là những

cuộc xung đột đa phần diễn ra bên trong các quốc gia có chủ quyền. Sách lƣợc gìn giữ hòa

bình trƣớc kia định hƣớng vào việc kiềm chế những cuộc xung đột giữa các nƣớc khác nhau

tỏ ra có quá ít hiệu quả trong các trƣờng hợp chính quyền nhà nƣớc sụp đổ, bạo lực và nghèo

đói bần cùng trong phạm vi một số nƣớc nhƣ Xômali,

36

Bôxnia, Môdămbích, Campuchia hay Angola. Tuy nhiên trong 17 hoạt động tƣơng tự đƣợc

thực hiện theo sự ủy quyền của LHQ, thì đã có 3 hoạt động bị phá sản hoàn toàn vô điều

kiện- ở Xômali, Bôxnia và Ruanđa. Trong thiên niên kỷ mới vai trò của LHQ ngày càng bị

thách thức nghiêm trọng khi mà Mỹ -Anh đã phát động một cuộc chiến tranh chống Iraq mà

không thông qua LHQ. Có những nhà phân tích cho rằng, vai trò của LHQ hầu nhƣ bị phủ

bóng đen kể từ khi nhà cầm quyền Mỹ và Anh phớt lờ sự phản đối của số đông các nƣớc

thành viên HĐBA đơn phƣơng tiến hành chiến tranh lật đổ chính phủ Iraq, là chính phủ của

một quốc gia độc lập và là thành viên của LHQ; trụ sở của LHQ tại Bátđa đã bị tấn công,

hang chục nhân viên LHQ chết; hàng loạt các cơ quan khác của LHQ đang phải đối mặt với

những thách thức to lớn hơn khả năng cùa mình. Thậm chí, một quan chức cấp cao của LHQ

đã phàn nàn rằng nếu vũ lực lên trên luật lệ thì LHQ chẳng còn vai trò gì nữa. Hay hành động

trƣớc đó của LHQ ở Ruanđa, LHQ đã không thể ngăn cản đƣợc nạn diệt chủng làm cho rất

nhiều ngƣời dân vô tội đã chết.

Trong HĐBA thƣờng xuất hiện những khó khăn liên quan tới việc thông qua những

nghị quyết một cách kịp thời. Ngay cả sau khi những cố gắng của HĐBA nhằm phản ứng kịp

thời với những sự kiện liên quan đến nạn diệt chủng ở Ruanađa bị phá sản hoàn toàn, đến

những thời gian sau đó vẫn chƣa soạn thảo đƣợc một hiệp định chung về sự can dự nhân đạo.

Chẳng hạn ngoài những nổ lực từ phía TTK, đã không thực thi đƣợc bất cứ bƣớc đi thực tế

nào để chấm dứt những vụ thanh lọc sắc tộc dã man đối với hơn 1 triệu ngƣời dân ở tỉnh

Darftur (Xuđăng).

Có lẽ, HĐBA sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn nữa khi thông qua nghị quyết về những

hành động khẩn cấp nhằm đáp trả mối đe dọa của chủ nghĩa khủng bố gắn liền với khả năng

phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Trƣớc kia HĐBA đã tập trung những nổ lực của mình chủ

yếu là vào việc phản ứng nhanh chóng đối với những sự kiện hơn là ngăn ngừa sự xuất hiện

của chúng. Trong hoàn cảnh bình thƣờng, điều đó hiển nhiên tốt hơn nhiều so với việc

khoanh tay ngồi không, nhƣng vơi nguy cơ đe dọa của chủ nghĩa khủng bố và việc phổ biến

vũ khí hạt nhân thì phản ứng một cách đơn thuần đối với thảm họa rõ ràng là chƣa đủ. Những

nguy cơ tƣơng tự sẽ xuất phát từ các băng nhóm nằm ngoài khuôn khổ cộng đồng quốc tế

truyền thống, cả áp lực ngoại giao, kinh tế quân sự đều không thể khiến chúng dừng taỵ

Thành thử chỉ có những hành động đƣợc thực thi một cách tức thời mới có cơ hội thành công.

Vì thế, có thể xem xét

37

lại một cách cơ bản thái độ của HĐBA đối với các biện pháp khẩn cấp nhằm can thiệp trƣớc

sẽ là sự đảm bảo cho hoạt động có hiệu quả của HĐBA trong tƣơng lai. Đó là một trong

những vấn đề phức tạp nhất mà HĐBA phôi đối mặt trong suốt toàn bộ lịch sử của mình.

LHQ đã làm cho nhiều nƣớc thất vọng về sự bất lực của tổ chức này đối với các vấn

đề của thế giới. Cho đến tận bây giờ, cho dù có sự công bằng và dân chủ trong ĐHĐ khi mà

mỗi thành viên đều có một lá phiếu ngang nhau thì trong việc giải quyết những vấn đề quan

trọng của thế giới nhất là trong lĩnh vực anh ninh, hầu nhƣ mọi quyền hành đều nằm trong tay

của HĐBA. Những nghị quyết của HĐBA đƣợc thông qua thì tất cả các nƣớc thành viên phải

tuân theo. Nhƣng những nƣớc thành viên thƣờng trực trong HĐBA thì thƣờng không đƣợc

công bằng bởi vì dù thế nào đi nữa thì họ cũng phải bảo vệ quyền lợi cho quốc gia mình là

trƣớc tiên. Chính vì thế, xét ở một khía cạnh nào đó, LHQ là công cụ bảo về quyền lợi cho

những nƣớc lớn, còn đại bộ phận các nƣớc khác không có đƣợc một sự công bằng hợp lý.

Một ví dụ chứng minh cho nhận định đó là thái độ của Mỹ đối với LHQ.

Cuối cùng, việc đánh giá hoạt động của LHQ tỏ ra không dễ dàng đơn giản chút nào.

LHQ, cả thế giới xung quanh chúng ta đang thay đổi từng phút, từng giờ. Đây là một tổ chức

động và có tính thích nghi cao, và nó đã biến đổi nhiều tới mức những ngƣời sáng lập ra nó

không thể tƣởng tƣợng đƣợc. Đối mặt với những vụ bê bối đổi dầu lấy lƣơng thực và những

yếu kém về quản lý và tính trách nhiệm mà nó đã bộc lộ, LHQ một lần nữa buộc phải thay

đổi với thời gian. Chắc chắn là các quôc gia thành viên sẽ luôn vừa chỉ trích vừa phải sử dụng

đến LHQ nhƣ họ vẫn từng làm nhƣ vậy, bởi vì họ hiểu rằng LHQ vẫn là một công cụ tuy còn

chƣa hoàn hảo nhƣng rất có ích đối với họ.

Ngoài ra, sau 60 năm phát triển, LHQ vẫn còn đặng trong giai đoạn tìm tòi và trải

nghiệm. Đến nay chƣa có một tổ chức nào khác giống nhƣ vậy. Do đó, cũng chẳng có một

chuẩn mực nào về sự hoàn thiện thể chế để chúng ta có thể đem ra mà so sánh. Nhƣng chắc

chắn là LHQ đã hoạt động tốt hơn nhiều so với Hội Quốc Liên nhƣng lại tồi hơn nhiều so với

những gì mà những ngƣời kiến tạo ra nó mong đợi.

38

5.3.3.Triển vọng của Liên Hợp Quốc a) Những ý kiến đánh giá về vai trò của LHQ

LHQ đƣợc nhắc đến rất nhiều trong giai đoạn hiện nay. Những nhận xét về tổ chức

này cũng rất nhiều, khen cũng có mà chê cũng có, thậm chí có những ý kiến còn cho rằng

LHQ không còn có vai trò gì trong tình hình hiện nay. Tác giả Lê Kinh Bắc trong bài: " tìm

hiểu tính chất nguyên nhân và xu hƣớng giải quyết đối với những cuộc nội chiến và xung đột

vũ trang thời hậu chiến tranh lạnh ở châu Âu" đăng trên tạp chí nghiên cứu châu Âu tháng 2

năm 1999 đã viết: "LHQ chƣa đóng vai trò mà nhân loại có thể yên tâm gửi gắm làm sứ

mệnh bảo vệ hòa bình. Bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, LHQ còn chịu sức ép và chƣa có

đủ khả năng để thực thi vai trò rất lớn của mình. Tuy rằng LHQ trong nhiều năm qua đã có

đội quân giám sát hòa bình và tiêu tốn nhiều tiền của nhƣng mới chỉ cứu vãn hòa bình cho

một số ít cuộc chiến tranh mà thôi." Một tờ báo có uy tín trên thế giới của Pháp - tờ La

Libération trong năm 2003 đã có những nhận xét về tổ chức này qua nhiều bài viết trong đó

nhận định rằng: "cuộc chiến tranh Iraq nỗ ra có nghĩa là LHQ bị gạt ra ngoài lề, độ tin cậy

của tổ chức quốc tế này bị ảnh hƣởng nghiêm trọng và sẽ dẫn đến nhiều tiền lệ khác không có

lợi cho an ninh và ổn định trên thế giới." Tổng thống Mỹ G.Bush đã nói rằng: "nếu HĐBA

LHQ không thông qua quyết định cho phép Mỹ tiến hành chiến tranh chống Iraq thì có nghĩa

là HĐBA LHQ không còn tác dụng". Báo trên dẫn lời ông Charles Kupchan, chuyên gia về

chính sách quốc tế thuộc trƣờng đại học Georgetown University of Wasinhtion, cựu cố vấn

của Bill Cinton, cho rằng nhân loại đang chứng kiến "sự kết thúc của một kỷ nguyên", trong

đó, "mọi nguyên lý của trật tự thế giới mà thế giới biết tới sau chiến tranh thế giới thứ hai đạng bị xem xét lại chỉ vì Mỹ can thiệp bất chấp quyết định của LHQ".12 Ông còn nhận định

việc LHQ bị gạt ra ngoài lề không có nghĩa là "kết thúc" sự tồn tại của tổ chức này, mà LHQ

sẽ "đƣợc vời đến" trong công cuộc tái thiết Iraq. Tuy nhiên, ông cảnh báo ý đồ của Mỹ sẽ là

"không cần đến tổ chức này nữa", một khi Mỹ muốn giải quyết các vấn đề quan trọng của thế

giới, và để thực hiện đƣợc ý đồ của mình, Mỹ sẽ tự thành lập liên quân với những nƣớc ủng

hộ Mỹ, nhƣ trong cuộc khủng hoảng ở Iraq năm 2003. Trong khi đó, trong thƣ gửi TTK LHQ

K.Annan, chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào nêu rõ: thế giới ngày nay đang cần có một LHQ

vững mạnh,....ông cho rằng trong bối cảnh mới, LHQ nên có những phƣơng

12 cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ hai, trang 319-320

39

hƣớng mới để giải quyết các vấn đề về hòa bình và phát triển nhằm đƣa thế kỷ XXI thành

một thế kỷ thúc đẩy phát triển của tổ chức này. Nhƣ vậy là, đối với Trung Quốc, tổ chức

LHQ là một tổ chức quan trọng của thê giới, và vai trò của tổ chức này vẫn đƣợc Trung Quốc

xem trọng và đánh giá cao.

Đề cập đến vai trò của LHQ, cựu bộ trƣởng ngoại giao Việt Nam Nguyễn Di Niên

khẳng định: "mặc dù LHQ đã có nhiều nổ lực nhằm thực hiện những mục tiêu nêu trong

tuyên bố thiên niên kỷ nhƣng rõ ràng những nổ lực đó chƣa tƣơng xứng với yêu cầu và mong

đợi chung...LHQ cân phải đóng vai trò qua ntrọng trong việc đề ra các biện pháp phối hợp

hành động chung của cộng đông quốc tế, nhằm ứng phó một cách hữu hiệu với những thách

thức đƣợc đặt ra, nỗ lực phấn đấu vì hòa bình và phát triển.

Trong chính giới Mỹ cũng phân thành hai trƣờng phái rõ rệt: một bên ủng hộ LHQ

một cách mù quáng bất kể đúng hay sai; một bện kiên quyết chống lại vai trò của LHQ; muốn

Mỹ từ bỏ tổ chức này hoặc LHQ phải chuyển trụ sở ra khỏi New York. Cảc hai quan điểm

này đều không thể hiện rõ ràng và đúng đắn vai trò của LHQ trong chính sách đối ngoại của

Mỹ. Tổng thống Bush của Mỹ đã đề cử thứ trƣởng ngoại giao John Bolton vào chức Đại sứ

Mỹ tại LHQ thay thế cho ông John Danforth nghỉ hƣu từ tháng 1/2005. Ông này là ngƣời có

nhiều ý kiến phê phán vai trò của LHQ. Ở tuổi 51, từng phụ trách cuộc đấu tranh chống phổ

biến hạt nhân ở bộ ngoại giao, John Bolton đƣợc những kẻ tán đồng coi là ngƣời cần thiết cho

chức vụ đại sứ ở LHQ. Tƣ tƣởng của John là tƣ tƣởng của những kẻ bảo thủ mới, cho rằng

LHQ là có hại, hoặc chí ích cũng là vô bổ.

Những ý kiến, nhận định, đánh giá về tổ chức LHQ còn rất nhiều, mỗi ngƣời đều có

một ý kiến khác nhau. Có những ngƣời đề cao vai trò của tổ chức này, có ngƣời thì không

đồng tình, xem LHQ chƣa làm đúng vai trò của mình, thậm chí lên án gay gắt và đòi giải tán

tổ chức này đi. 192 thành viên thì có 192 ý kiến vè LHQ, tƣơng đồng cũng có mà những ý

kiến trái ngƣợc nhau cũng có. Chúng ta không có một tiêu chuẩn nào thống nhất để đánh giá

về vai trò của tổ chức này, bởi vì đây là tổ chức đầu tiên và duy nhất hiện nay trên thế giới có

số lƣợng thành viên rất đông và tồn tại trong hơn sáu thập niên qua. Cựu tổng thƣ ký

K.Annan đã nhận xẹt rằng : "cho dù chƣa thật hoàn hảo, còn nhiều thiếu sót nhƣng tổ chức

này vẫn rất cần thiết cho tất cả các quốc gia trong giai đoan hiện nay".

40

b) Vấn đề cải tổ LHQ

Tháng 9/2000, LHQ họp Hội nghị cấp cao Thiển niên kỷ và thông qua Tuyên bố

Thiên niên kỷ, trong đó đề ra những mục tiêu ƣu tiên các mục tiêu về cải tổ nhằm tăng cƣờng

vai trò, hiệu quả và dân chủ LHQ. Đầu tháng 9/2003, trong báo cáo về tình hình thực hiện

Tuyên bố Thiên niên kỷ, TTK kêu gọi mạnh mẽ LHQ, đồng thời quyết định thành lập một

nhóm các nhân vật lỗi lạc để nghiên cứu và khuyến nghị các biện pháp ứng phó vội các thách

thức về hòa bình - an ninh, cũng nhƣ cải tổ LHQ. Thế thì vì sao cần phải cải tổ LHQ?

Các vấn đề chống khủng bố quốc tế, cuộc chiến tranh ở Ápgnixtan và ở Iraq với tất cả

những tác động của chủng đã gây tổn hại không nhỏ đến LHQ vì trong các vấn đề chiên tranh

và hòa bình, ôn định và an ninh LHQ thƣờng không thực hiện đƣợc chức năng đáng có. Tình

trạng lúng túng, bế tắc, thậm chí cả bất lực của LHQ trƣớc những gì đang xảy ra ở Xuđăng

gợi lại những nghi ngờ về vai trò và tác dụng của LHQ trong việc ngăn chặn khủng hoảng và

xung đột khu vực, gợi lên thảm cảnh diệt chủng ở Ruanda. Có lẽ chính vì thế mà chủ tịch kỳ

họp ĐHĐ LHQ năm 2004, cựu bộ trƣởng ngoại giao Gabông Jean ping đã nhấn mạnh: "LHQ

có thực hiện đƣợc sứ mệnh của mình hay không phụ thuộc rất đáng kể vào thành công hay thất bại cùa việc cải tổ HĐBALHQ".13 Trong khi đó, những nƣớc thành viên thƣờng trực

chính là những nƣớc thuộc phe Đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai: họ

đƣợc trao quyển phủ quyết (veto) mà dân gian gọi là "quyền sinh quyền sát", do vậy không

khỏi dẫn tới những sự đổi xử bất công đối với những nƣớc không có tiếng nói tại HĐBA.

Thực tế là không ít thành viên HĐBA đã lợi dụng quyền lực của mình để thao túng tình hình

chính trị thế giới. Họ ra những nghị quyết câm vận các nƣớc theo quan điểm chủ quan của

mình, bất chấp những lệnh cấm vận đó chỉ làm cho hàng chục triệu dân thƣờng phải sổng

trong cảnh khốn khó. Một ví dụ điển hình là lệnh cấm vận đối với Iraq kéo dài hơn lo năm và

mới chấm dứt năm 2003 sau khi Mỹ chiếm Iraq

Đó là những lý do chính yêu cầu cải tổ LHQ. Và việc cải tổ LHQ là việc làm không

thể không đƣợc thực hiện bởi vì: "LHQ là chủ thể quan trọng của trật tự quốc tế hiện hành.

Việc cải cách LHQ nhƣ thế nào không chỉ phản ánh chính sách của các nƣớc lớn đối với

LHQ mà chủ yếu là phản ánh cách nhìn nhận của các nƣớc đối với

13 cải tổ- một vấn đề lớn của LHQ hiện nay, TTTL, 19-10-2004

41

trật tự quốc tế trong tƣơng lai. Trên thực tế, yêu câu cải cách LHQ là sự mong đợi một trật tự quốc tế mới trong tƣơng lai".14

Trong lịch sử của LQ cũng đã diễn ra nhiều cuộc cải cách HĐBA. Năm 1963, số

thành viên của HĐBA đã tăng từ 11 lên 15 Sự thay đổi lần thứ hai và lần thứ 3 diễn ra vào

năm 1965 khi số thành viên trong Hội đồng kinh tế - xã hội đƣợc tăng từ 18 lên 27; và vào

năm 1971 với việc nâng cao con số 27 này lên thành 54 thành viên (điều khoản thứ 61 trong

Hiến chƣơng). Thay đổi vào năm 1989 đã không mang lại một ý nghĩa nhƣ hai lần trƣớc đây,

mặc dù các động cơ không có gì khác biệt. Hiện nay, vấn đề cải cách LHQ là phải tiến hành

tất yếu, điều mấu chốt là tiến hành cải cách nhƣ thế nào?

Trƣớc hết, LHQ nên phát huy vai trò chủ đạo trong các công việc quôc tế, trở thành

trung tâm hoạt động của chủ nghĩa đa phƣơng quốc tế. Thứ hai, LHQ nên trỏ thành nơi chủ

yếu đƣa ra những qui tắc quốc tế mới. Cuối cùng, LHQ nên phát huy vai trò lớn hơn trong

lĩnh vực phát triển. Thúc đẩy nhân loại cùng phát triển là một trong những tôn chỉ của LHQ.

Trong vấn đề cải cách LHQ thì vấn đề cỉa tổ HĐBA là vấn đề đƣợc quan tâm nhiều

nhất và đây cũng là vấn đề quyết liệt nhất. Chính TTK LHQ K.Annan đã thừa nhận rằng "cải

tổ LHQ sẽ không hoàn tất nếu không cải tổ HĐBA, cụ thể là mở rộng thành viên HĐBA, đặc biệt là những nƣớc đang phát triển, qua đó, giúp LHQ hoạt động hiệu quả hơn"15. Có rất

nhiều ý kiến khác nhau về các ứng cử viên cho những chiếc ghế HĐBA dự kiến đƣợc tăng

thêm do cải cách. Có ý kiến cho rằng, danh sách HĐBA phải đƣợc phân bố theo vị trí địa lý,

nghĩa là phải có đại diện của Châu Phi và thậm chí là của ngƣời Hồi giáo.

Hiện nay, có một số những dự thảo đề xuất cải cách HĐBALHQ. Đầu tiên là dự thảo

cải cách của nhóm G-4 bao gồm Ấn Độ, Brazil, Đức và Nhật Bản. Dự thảo thứ hai là của

Liên minh châu Phi. Cả G-4 và các nƣớc thuộc liên minh châu Phi (AU) có một điểm chung

có thể đi đến thỏa thuận là: AU muốn có 2 ghế thƣờng trực và G-4 muốn có 4 trong 6 ghế

thƣờng trực mới. Một dự thảo khác nữ đƣợc đua ra là đề xuất cải cách HĐBA của liên minh

"đoàn kết vì sự đồng thuận" do Italia đứng đầu đã đề xuất việc mở rộng HĐBA từ 15 lên 25

thành viên nhƣng phản đối có bất kỳ thành viên thƣờng trực nào mới..

14 TLTKĐB, TTXVN, ngày 19-7-2005 15 TTXVN,TTTL, 19-10-2004, trang 14

42

Do hàng loạt các nhân tố nhƣ sự khác biệt về lợi ích và tình hình thực tế của mỗi

nƣớc, sự đan xen lẫn nhau giữa các mâu thuần về đại chính trị và văn hóa, nên triển vọng cải

cách LHQ đƣợc đánh giá là không mấy lạc quan. Mâu thuẫn giữa các nƣớc phát triển và đang

phát triển phản ánh sự bất đồng về lợi ích, quan niệm về giá trị và thực lực giữa các bên cung

nhƣ cách nhìn nhận khác nhau về trật thế giới trong thế kỷ XXI. Quá trình cải cách LHQ là

một quá trình dàu và còn rất nhiều khó khăn, thử thách.

5.3.4.LHQ và mối quan hệ của tổ chức này với Việt Nam Mối quan hệ của Việt Nam và LHQ hiện nay rất tốt đẹp và ngày càng phát triền. Để

đạt đƣợc điều đó là cả một quá trình dài và dĩ nhiên là không dễ dàng. Việt Nam chính thức

gia nhập LHQ vào ngày 20-9-1977. Thế nhƣng để có thể gia nhập vào tổ chức này là cả một

quá trình đấu tranh của nhân dận Việt Nam. Theo tinh thần của Hiến chƣơng LHQ: những

nƣớc nào tham gia chống khối Trục trong hiến tranh thế giới thứ hai và "tất cả các nƣớc yêu

chuộng hoà bình ... đều có thể trở thành thành viên của LHQ" thì nƣớc Việt Nam DCCH hội

tụ đủ điều kiện đáng lẽ phải đƣợc kết nạp ngay từ đầu. Trƣớc ngày toàn quốc kháng chiến,

Hồ chủ tịch đã nhiều lần gửi cống hàm cho các uỷ viên thƣờng trực HĐBA đặt vấn đề nƣớc

ta gia nhập LHQ. Ngƣời tuyên bố: quốc dân chúng tôi đã giành đƣợc quyền độc lập và giữ

vững nền độc lập, thiết tha yêu cầu các ngày công nhận nền độc lập ấy và nhận chúng tôi vào

Hội đông LHQ". Thế nhƣng yêu cầu chính đáng ấy đã không đƣợc chấp nhận. Trong khoảng

thời gian giữa hai cuộc chiến tranh rất nhiều lần nƣớc ta gửi thƣ, điện cho LHQ xin đƣợc gia

nhập vào tổ chức này. Ngày 11-8-1975 tại HĐBA, Mỹ phủ quyết đơn xin gia nhập LHQ của

nƣớc ta nhƣng nguyện vọng chính đáng của Việt nam đƣợc Đại hội đồng ủng hộ mạnh mẽ.

Ngày 9-9-1975, với đa số tuyệt đối, ĐHĐ thông qua nghị quyết khẳng định Việt Nam DCCH

và Cộng hoà Miền Nam Việt Nam đƣợc sớm kết nạp vào LHQ. Trƣớc thiện chí của ta và xu

thế chung của thời đại, Mỹ không thể giữ mãi thái độ thù địch chống Việt Nam. Đầu năm

1977, tổng thống Mỹ Carter tuyên bố: "Hoa Kỳ chấp nhận Việt Nam vào LHQ và sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ cũng nhƣ bắt đầu buôn bán với Việt Nam"16. Trên cơ sở

đó, ngày 20-7-1977, HĐBA thông qua một nghị quyết do 11 trên tổng số 15 thành viến bảo

trợ, kiến nghị kết nạp

16 hệ thống LHQ, trang59

43

CHXHCN Việt Nam vào LHQ. Đúng 16h 3 phút ngày 20-9-1977, ĐHĐLHQ nhất trí thông

qua nghị quyết kết nạp nƣớc ta làm thành viển thứ 147 của LHQ.

Kể từ khi gia nhập LHQ, quan hệ giữa Việt Nam và LHQ ngày càng đƣợc cải thiện và

phát triện tốt hơn. LHQ đã trở thành một diễn đàn để Việt nam triển khai các yêu câu của

chính sách đối ngoại. Sự phát triển phát triển của quan hệ Việt Nam và LHQ có thể tạm chia

thành các giai đoạn nhƣ sau:

Giai đoạn từ 1977-1991: chịu tác động của Chiến tranh lạnh, nhìn chung quan hệ giữa

Việt Nam và LHQ còn ở mức hạn chế. về chính trị, vai trò và vị thế của nƣớc ta tại LHQ bị

hạn chế do bối cảnh của Chiến tranh lạnh.

Giai đoạn từ năm 1991 đến nay: đặc trƣng của giải đoạn này là việc Việt Nam tham

gia tích cực và chủ động hơn trong nhiều lĩnh vực liên quan đến hoà bình an ninh, giải trừ

quân bị cũng nhƣ phát triển kinh tế, xã hội, dân số, bảo vệ môi trƣờng là những chủ đề chính

trong chƣơng trình nghị sự của LHQ. Sự tham gia đóng góp và vị thế của Việt Nam tại LHQ

đƣợc từng bƣớc cải thiện và nâng cao cả về chiều rộng và chiều sâu, phù hợp với chính sách

đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phƣơng hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, sẵn sàng

là bạn đối tác tin cậy của các nƣớc. Lần đầu tiên ta đã tham gia vào một số chức vụ và ứng cử

vào một số cơ quan của LHQ nhƣ các chức Phó chủ tịch ĐHĐLHQ năm 1997, 2000, 2003, là

thành viên Hội đồng kinh tế- xã hội của LHQ (ECOSOC) nhiệm kỳ 1998- 2000 cơ quan quan

trọng thứ hai của LHQ sau HĐBA, là thành viên của Hội đồng Thống đốc Cơ quan năng

lƣợng Nguyên tử quốc tế nhiệm kỳ 1997-1999, 2003-2005, thành viên của Hội đồng điều

hành của Chƣơng trình Phát triển và Quỹ dân số nhiệm kỳ 200-2002, thành viên của ủy ban

Nhân quyền 2001-2003, và ủy ban Phát triển xã hội 2001-2005 và gần đây nhất, Việt Nam

đƣợc các nƣớc Châu Á nhất trí đề cử làm thành viên không thƣờng trực của HĐBA nhiệm kỳ

2008-2009.

LHQ đánh giá cao các hoạt động của ta tại LHQ. Các hoạt động gặp gỡ cấp cao của ta

với LHQ đã diễn ra thƣờng xuyên hơn. Nhân dịp LHQ kỷ niệm 50 năm thành lập, ta đã tặng

LHQ phiên bản Trống đồng Ngọc Lũ, hiện đƣợc đặt trang trọng tại Trụ sở của LHQ. Vì thế

và vai trò của ta tại LHQ đƣợc nâng cao nhất từ trƣớc đến nay. Chuyến thăm của tổng thƣ ký

LHQ K.Annan tới Việt nam từ 23-25/5/2006 đã phần nào thể hiện điều đó. Trong thông điệp

nhân ngày LHQ 24-10-2006, điều phối viên LHQ tại Việt Nam John Hendra cho biêt từ trƣớc

đến nay, VN luôn đƣợc đánh giá cao về cam kết tuân thủ các nguyên tắc của LHQ và các

nguyên tắc đa phƣơng và hiện nay

44

VN đi đầu trong khôi các nƣớc đang phát triển về nô lực năng cao hiệu quả và hiệu lực của

các hoạt động hỗ trợ phát triển. Ông nhấn mạnh rằng: " bất cứ khi nào các bạn cần giúp đỡ

vào những thời điểm khó khăn hay chuẩn bị để đối phó với các tình huống khẩn cấp, LHQ

chúng tôi sẽ có mặt". Điều đó khẳng định rằng mối quan hệ của VN và LHQ ngày ngày phát

triển tốt đẹp hơn và nó cũng cho thấy vị thế của nƣớc ta trên trƣờng quốc tế ngày càng đƣợc

nâng cao hơn và đƣợc nhiều nƣớc tín nhiệm. Đó là một trong những thành công trên con

đƣờng hội nhập, xây dựng đất nƣớc trong tình hình mới mà nƣớc ta cần phải tiếp tục phát huy

hơn nữa trong tƣơng lai

6. KẾT LUẬN: Hơn sáu mƣơi năm đã qua đi kể từ khi LHQ đƣợc thành lập, tổ chức này đã có vai trò

không nhỏ trong việc giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới. Mục tiêu cao nhất khi các quốc gia

đồng minh thành lập LHQ sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc là nhằm giữ gìn hòa

bình và an ninh thế giới. Trong quá tình tận tại của mình, LHQ đã có những cổ gắng để thực

hiện sứ mệnh của mình. Trong thời gian diễn ra Chiến tranh lạnh, LHQ hầu nhƣ đà bị chi

phổi hoàn toàn bởi trật tự hai cực Xô- Mỹ, LHQ đã có nhiều hành động đi ngƣợc lại với với

Hiến chƣơng LHQ năm 1945. Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, do tình hình thế giới thay

đổi. vai trò của LHQ đã đƣợc nâng cao hơn trên trƣờng quốc tế và có ảnh hƣởng rộng rãi trên

khắp thế giới. Hiện nay, LHQ đã có nhiều biến đổi so với năm 1945, LHQ không chỉ hoạt

động trên lĩnh vực an ninh mà còn nhiều lĩnh vực về hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục,.. .và

đã đạt đƣợc những thành tựu lớn đƣợc cả thế giới ghi nhận. Trong lĩnh vực an ninh, cho dù đã

có nhiều cố gắng thế nhƣng không phải tất cả các hành động của LHQ đều đem lại thành

công.

LHQ rất cần thiết cho việc giải quyết những xung đột của các quốc gia, của khu vực

hay của quốc tế. Hầu nhƣ tất cả các vấn đề đều đƣợc đƣa ra LHQ để tìm cách giải quyết.

LHQ không phải là một nhà nƣớc đa quốc gia mà là một tổ chức quốc tế đại diện cho các

quốc gia trên thế giới. Từ hơn 50 thành viên lúc ban đầu mới thành lập đến nay LHQ đã có

192 thành viên.Với việc phát triển về sổ lƣợng thành viên của mình, LHQ đã đi đúng theo xu

hƣớng chung của thời đại đó là xu thế toàn cầu hóa.

Với cơ cấu đƣợc tổ chức từ năm 1945, cơ chế đó đã không còn phù hợp với tình hình

thế giới hiện nay. Một vấn đề đƣợc đặt ra là cải tổ lại LHQ cho phù hợp với trật tự thế giới

mới đang đƣợc hình thành. LHQ sẽ thay đổi nhƣ thế nào, cải cách nhƣ thế nào và đặc biệt là

vấn đề cải cách HĐBA là một câu hỏi lớn đang cần có lời giải đáp.

45

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Sách tham khảo

1. Phạm Tuấn Anh, Một góc nhìn phương Đông- phương Tây và cục diện thế giới, Nxb thanh

niên, 2005

2. Đỗ Thanh Bình, Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX- một cách tiếp cận, Nxb

đại học sƣ phạm, 2006

3. Phi đen Ca-stơ-rô, Phi đen Ca-stơ-rô tố cáo, Nxb sự thật, 1963

4. Vƣơng Dật Châu (cb), An ninh quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa, Nxb chính trị quốc gia,

2004

5. Phạm Giảng, Lịch sử quan hệ quốc tế từ sau chiên tranh thê giới thứ hai đến chiên tranh

Triều Tiên (giai đoan 1939-1952), Nxb chính trị quôc gia, 2005

6. Bộ Ngoại giao, Sự thật về quan hệ Việt Nam Trung Quốc trong 30 năm qua, Nxb Sự thật,

1981

7. Trần Thanh Hải (dịch), cơ câu tổ chức của Liên Hợp Quốc, Nxb chính trị quốc gia, 2001

8. Lê Phụng Hoàng, lịch sử quan hệ quốc tế ở Đông Á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến

cuối chiến tranh lạnh (1945-1991). đhsp, 2005

9. Lê Phụng Hoàng, một số vấn đề về quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á (1975-1989), đhsp,

1994

10. Lê Phụng Hoàng, Lịch sử quan hệ quốc tế ở châu Âu trong chiến tranh lạnh ( 1949-

1991),đhsp, 2005

11. Lê Phụng Hoàng, Franklin D. Roosevelt tiểu sử chính trị, đhsptpHCM,2004

12. Nguyễn Quốc Hùng, Liên Hợp Quốc, Nxb thông tin lý luận, 1992

13. Samuel Hungtington, sự va chạm của các nền văn minh, nxb lao động, 2003

14. TS Hà Mỹ Hƣơng, Nước Nga trên trường quốc tế hôm qua, hôm nay và ngày mai, Nxb

chính trị quốc gia, 2006

15. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện sử học, Thế giới những sự kiện

lịch sử thế kỷ XX (1946-2000), Nxb giáo dục, 2003

16. Lê Linh Lan (cb), Về chiến lược an ninh của Mỹ hiện nay, Nxb chính trị quốc gia, 2004

17. Nguyễn Hiến Lê, bài học Israel, nxb văn hóa, 1994

46

18. Viện quan hệ quốc tế- Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, giáo trình quan hệ quốc

tế, Hà Nội, 2001

19. Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, Liên Hợp Quốc - tổ chức những vấn đề pháp lý cơ

bản, Nxb Khoa học xã hội, 1985

20. Thông tấn xã Việt Nam, Iraq cuộc đối đầu của hai thế kỷ: cuộc chiến tranh Vùng Vịnh

lần thứ hai, Nxb thông tấn, 2003

21. Viện quan hệ quốc tế Pháp, Thế giới toàn cảnh Ramses 2003, Nxb chính trị quốc gia,

2003

22. Nguyễn Thị Thƣ, Nguyễn Hồng Bích, Nguyễn Văn Sơn, lịch sử Trung Cận Đông, nxb

giáo dục, 2003

23. Pierre Salinger, chiến tranh vùng vịnh- hồ sơ mật, nhóm dịch giả Xuân Quang, Khắc

Thành, Hồng Điểu, Mai Lĩnh, Huy Quang, trung tâm thông tin triển lãm

TPHCM,1990

24. Lƣơng Văn Tám, tập bài giảng lịch sử quan hệ quốc tế (1945-1995), đhspthHCM,2001

25. Ngọc Thạch (biên dịch), Những sự kiện lịch sử thế kỷ XX, Nxb văn hóa -thông tin, 2003

26. Nguyễn Anh Thái, lịch sử thế giới hiện đại, nxbgd, 2003

27. Nguyễn Anh Thái (cb), lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 đến 1995 quyển A, nxbđhqg Hà

Nội, 1999

28. Nguyễn Anh Thái, Lịch sử quan hệ quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc Á- Phi- Mỹ

la tinh, Nxb giáo dục, 1998

29. Đỗ Đức Thịnh, Lược sử Châu Phi giản yếu, Nxb thế giới, 2006

30. Lê Khƣơng Thúy (cb), Chính sách của Hoa kỳ đối với ASEAN trong và sau chiến tranh

lạnh, Nxb khoa học xã hội, 2003

31. Nguyễn Đức Bình, Lê Hữu Nghĩa, Trần Hữu Tiến (đcb), Góp phần nhận thức thế giới

đương đại, Nxb chính trị quốc gia, 2003

32. Võ Anh Tuấn, hệ thống Liên Hợp Quốc, nxb chính trị quốc gia, 2004

33. Nguyễn Trƣờng Uy, Hồ sơ một cuộc chiến, Nxb trẻ, 2003

34. 188 nước trên thế giới, Nxb TGHN, 1999

35. Sổ tay các nước trên thế giới, Nxb sự thật, Hà Nội, 1979

36. Cuộc xung đột Israel và A Rập, TTXVN,2002

47

37. Trình Mƣu, Vũ Quang Vinh, Quan hệ quốc tế những năm đầu thế kỷ XXI: vấn đề, sự

kiện và quan điểm, 2005

Báo - Tạp chí

Tài liệu tham khảo đặc biệt:

14/490, 7/3/90, 27/2/90, 17/2/90, 1/6/90, 24/7/90, 24/7/90, 26/7/90, 24/8/90, 11/8/90, 6/10/90,

18/9/90, 24/9/90, 15/9/90, 8/9/90, 12/9/90, 21/7/90, 11/1/90, 1/2/90, 27/9/90, 28/9/90,

29/9/90, 24/10/90, 20/1/90, 23/10/90, 12/1/90, 5/1/90, 7/9/90, 28/3/90, 18/7/90, 12/6/90,

9/6/90, 23/7/90, 21/8/90, 5/10/90, 28/11/90, 29/11/90, 3/8/90, 31/8/90, 5/9/90, 1/9/90,

16/2/90, 27/7/90, 15/11/90, 30/7/01, 24/7/01, 8/10/02, 10/10/02, 7/10/02, 3/10/02, 1/10/02,

2/10/02, 14/10/02, 16/10/02, 21/10/02, 23/10/02, 26/10/02, 28/10/02, 9/11/02, 7/1/03,

11/1/03, 13/1/03, 17/1/03, 20/1/03, 22/1/03, 27/1/03, 28/1/03, 29/1/03, 10/2/03, 12/2/03,

13/2/03, 14/2/03, 18/2/03, 19/2/03, 20/2/03, 21/2/03, 22/2/03, 24/2/03, 25/2/03, 26/2/03,

27/2/03, 28/2/03, 1/3/03, 3/3/03, 4/3/03, 5/3/03, 6/3/03, 7/3/03, 11/3/03, 12/3/03, 14/3/03,

18/3/03, 19/3/03, 20/3/03, 21/3/03, 22/3/03, 24/3/03, 25/3/03, 26/3/03, 28/3/03, 29/3/03,

31/3/03, 2/4/03,4/4/03, 5/4/03, 7/4/03, 8/4/03, 10/4/03, 11/4/03, 12/4/03, 15/4/03, 19/4/03,

24/4/03, 25/4/03, 29/4/03, 12/5/03, 14/5/03. 17/5/03, 19/5/03, 24/5/03, 28/5/03, 27/5/03,

2/6/03, 21/6/03, 9/6/04, 12/6/04, 16/6/04, 1/4/04, 7/4/04, 26/10/04, 18/4/05, 21/5/05, 25/5/05,

19/7/05, 30/8/05, 21/9/05, 22/9/05, 6/1/06, 20/1/06, 21/8/06.

Nghiên cửu châu Âu:

-Tìm hiểu tính chất, nguyên nhân và xu hƣớng giải quyết đối với những cuộc xung đột

vũ trang thời kỳ hậu chiến tranh lạnh ở châu Âu, Lê Kinh Bắc, số 2,1999

tìm hiểu quan hệ giữa các nƣớc lớn trong vấn đề Côxôvô hiện nay, An Mạnh Toàn, số

3,1999

- Kôsôvô- châu Âu trong chiến lƣợc toàn cầu xuyên thế kỷ của Mỹ, Nguyễn Kim Lân, số

3,1999

Nhân dân

- Hợp tác Việt Nam- LHQ

- Tìm hiểu một số nghị quyết của HĐBALHQ về Iraq -Về việc áp đặt lệnh trừng phạt của

HĐBALHQ

An ninh thế giới: Xung quanh bản nghị quyết của HĐBALHQ trừng phạt CHDCND Triều

Tiên, ngày 18-10-2006

48

Thông tin tư liệu

- Những trở ngại trong cải cách của hội đồng bảo an LHQ, ngày 30-7-2005

- Vai trò của LHQ trong tình hình thế giới hiện nay, ngày 25-10-2005

- Cải tổ, một vấn đề lớn của LHQ hiện nay, 19/4/04

Tạp chí Nghiên cứu quốc tế tháng 2/2003

Báo nhân dân 23/9/03

Báo lao động, ngày 25/10/06,

Tin tức cuối tuần, 20/10/26/10/06,

Sài gòn giải phóng, 15/3/03,

Thời báo kinh tế Việt Nam, 19/5/04, 12/12/05

Người Lao động, 1/3-2/3/03,20/3/03.

49

MỤC LỤC

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: ........................................................................................................ 1

2. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU: .............................................................................................. 1

3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ................................................................................................................ 1

4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: ........................................................................................ 3

5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: ................................................................................................... 3

5.1 Tóm tắt về sự hình thành Liên Hợp Quốc và vai trò của nó trong chiến tranh lạnh ........ 3

5.1.1.Tóm tắt về sự hình thành tổ chức Liên Hợp Quốc .................................................... 3

5.1.2. Vai trò của LHQ trong việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới trong chiến tranh lạnh. .................................................................................................................................... 7

5.2 Vai trò của LHQ trong việc giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế sau Chiến tranh lạnh (1989-2006).......................................................................................................................... 16

5.2.1.Tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh .................................................................. 16

5.2.2. Chính sách đối ngoại của những nƣớc lớn từ sau Chiến Tranh lạnh ..................... 18

5.2.3. Vai trò của LHQ trong việc giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế thời kỳ sau Chiến tranh lạnh đến năm 2006 .................................................................................................. 22

5.3 Thành tựu, hạn chế của Liên Hợp Quốc trong việc giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế. Triển vọng của LHQ và mối quan hệ của tổ chức này với Việt Nam ................................. 32

5.3.1.Thành tựu ................................................................................................................ 32

5.3.2.Hạn chế ................................................................................................................... 35

5.3.3.Triển vọng của Liên Hợp Quốc .............................................................................. 38

5.3.4.LHQ và mối quan hệ của tổ chức này với Việt Nam .............................................. 42

6. KẾT LUẬN:......................................................................................................................... 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................................... 45

MỤC LỤC ............................................................................................................................... 49