Nguyễn Thúc Hào
GS.NGND Nguyễn Thúc Hào (1912-2009)
Nguyn Thúc Hào (6 tháng 8 năm 1912 – 9 tháng 6 năm 2009) người được Chính ph
Vit Nam công nhn chc danh Giáo đại hc ngành Toán đu tiên
Tiu s
Ông sinh tại Nam Đàn, Nghệ An, trong một dòng họ nhà nho, h Nguyễn Thúc nổi tiếng.
Năm 1924, Nguyn Thúc Hào thi đỗ thủ khoa vào trường Quốc học Huế khoa Đại
tướngNguyên Giáp - đây cũng người bạn thân học cùng làm vic trong nhiều
năm về sau này). Năm sau, ông chuyển raNội, vào học Trường Albert Sarraut.
Năm 1929, thì sang Pháp, thi đỗ tú tài toán tại Aix-en-Provence. Ông theo học trường Đại
học Khoa học Marseille.
Sau 4 m học tập, ông thi lấy 6 chứng chỉ: toán học đại cương, giải tích toán học, vật lý
đại cương, học thuyết, cơ học chất lỏng thiên văn học. Ngoài ra, ông còn viết
xong luận văn cao học, nay gọi là thạc sĩ, về một đề tài liên quan đến hình học cơ học.
Năm 1935, ông trvề dạy toán tại trường Quc học Huế. Sau Cách mạng tháng m, ông
được cử làm gm đốc Vụ Trung học Trung Bộ.
Chẳng bao lâu sau, ông chuyển ra thủ đô Hà Nội, nhận chức tổng thư ký kiêm giám đốc
trường Đại học Khoa học Hà Nội - nay trường Đại học Quốc Gia. Ông đã mi một s
nhà khoa học nổi tiếng đến dạy trường: TQuang Bửu, Ngụy Như Kon Tum dạy vật
lý, Hoàng Xuân Hãn dạy toán...
Sau khi Nội giải phóng, ông giữ chức phó hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà
Nội, bên cạnh giáo sư hiệu trưởng Phạm Huy Thông.
Tiếp đó 15 m liền, 1959-1974, ông tr về quê hương, xây dựng trường ĐH Vinh t
những ngày đầukhai. Ông là hiệu trường đầu tiên của trường trường Đại học phạm
Vinh. Đây trường đại học tiền tuyến của miền Bắc XHCN và trường ĐH lớn thứ hai
của Việt Nam (sau hệ thống Đại Học Quốc Gia) - cái nôi đào tạo nhiều lãnh đạo của
Đảng và nhà nước Việt Nam.
Ông còn một nhà hoạt động xã hội nhiều mặt, như đại biểu Quốc hội ba khóa liên tiếp
(2,3,4), Phó chtịch Ủy ban Mặt trận Tquốc tỉnh NghAn, Ủy viên ban chấp hành Hội
Hữu nghị Việt-Pháp.
Giáo Nguyễn Thúc Hào đã nhận được nhiều huân huy chương của nhà nước Việt
Nam: Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng 2,3 / Huân chương kháng chiến chống
Mỹ hạng nhất / Huân chương Lao Động hạng nhất.
Sau đó, ông nghỉ hưu và sống tại Hà Nội.
Ông mất ngày 9 tháng 6 năm 2009 tại bệnh viện Hữu Nghị, Hà Nội sau một thời gian dài
nằm viện.
Gia đình
Ông ni c Nguyn Thúc Kiu, c nhân nho hc, thy dy ca nhà chí sĩ Phan Bi
Châu. Ông Kiều đỗ C nhân năm Mậu Dần (1878) dưới triu T Đức., được b dng làm
Hành tu B Công, m Biên tu (1880). m 1881, ông t quan v quê m trường dy
hoc. Giữa năm 1885, được tin Kinh thành Huế tht thủ, ông bèn đóng cửa trường. Bun
phin, ut hn, ông nhịn ăn hơn tháng sau ông qua đời vào ngày mùng 3 tháng 7 m
t Dậu (1885) hưởng dương 36 tuổi. Ông còn tên hiu Anh Lâm. C Phan Bi
Châu đã viết (xem Phan Bi Châu niên biu NXB Văn Sử Địa Nội): “…Năm 13
tui, i vn nhà hc cha tôi xin tập văn trường Nguyn tiên sinh làng Xuân
Liu. Tiên sinh tên Kiu rt thâm thuý v Hán hc. Tiên sinh rt yêu tôi, nhiu lúc
Người đã đi mượn sách quý của các đại gia v cho tôi đọc, nh thế tôi được hiu biết
thêm nhiu (trang 26)”. Sau khi ông Kiu mt, các triu vua T Đức, Hàm Nghi, Khi
Định, Bo Đại đã truy tng phẩm tước, cao nht “Gia ngh Đại phu hàm thái thường t
khanh”. Năm 1925, c Phan đã làm bài văn bia tưởng nh thy hc ca mình, trong đó
đoạn: “…Trong khoảng Hùng sơn Lam thu có khí thnh bàng bạc chung đúc n người,
thnh thong li có bc anh hùng tun tú xut hiện. Tiên sinh sinh ra người đĩnh ngộ,
tính ham đọc sách, ít nói cười. Được lnh tiên công truyn dy li t chương cử nghip,
tiên sinh h bút thành văn…Cuối đời T Đức, quân Tây dương thun dòng sông nước
xâm phm kinh thành, tiên sinh bèn b quan, ri khỏi đế đô, lui về lo việc tu dưỡng cui
đời. Tiên sinh đóng ca, ch lo dy hc trò để tâm vào s nghiệp trước tác, ngâm nga
ca vnh, th lòng theo cảnh núi non, sông nước; nếu có ai đem việc thế tục đến hi thì tiên
sinh ch trm mặc không đáp… Châu tôi lúc còn tr được hu tiên sinh, hc tập được rt
nhiu phm hnh ca tiên sinh.”
Cha c Nguyn Thúc Dinh, đỗ phó bng, Th lang B Li triu đình nhà Nguyn
(tương đương Thứ trưởng B Ni vụ), đã tng nhn được Bắc đu bi tinh Long
bội tinh. m 1930-1931, phong trào Viết Ngh Tĩnh lên cao, thc dân Pháp
hoang mang lo s. Chúng bt Triều đình Huế phải đưa quan lại người địa phương về
cai tr dân địa phương. Một m, viên Công s Pháp nói vi ông Dinh s đưa ông
v m Tổng đốc Ngh An. Ông không đng ý. Thế bn Pháp ra lnh cho Nam
Triu cho ông v hưu sớm trước tuổi quy định. Ông đưa vợ con v Huế , mãi đến
năm 1933 khi phong trào Xô Viết đã du lng do b Tây đán áp, ông mới đem gia đình
v quê H Liễu thăm viếng m m con ni ngoi. Cách mng Tháng m
thành công. Nận đói hoành hành. Ông tham gia đi phát chẩn, tham gia các tun l
quyên góp ng h cách mng, hi nhp phong trào Mùa đông binh sĩ, d đấu giá áo
la chân dung Bác Hồ, cho mượn nhà m lp bình dân hc v,… Ông nhân s
trong Mt trn Liên Vit.
Các con của ông đều có hc vấn cao thành đạt: Nguyn Thúc Hoàng được bu làm
phó ch tch kiêm tổng thư ký Hi Kiến trúc Việt Nam nhiu khóa; Nguyn Thúc
Hilà giáo , tiến sĩ, nguyên ch nhim Khoa Công ngh thông tin ca Đại hc Bách
khoa Hà Ni; Nguyn Thúc Hà là tiến sĩ Hóa Lý tu nghip ti Đức...
Đóng góp
Giáo Nguyễn Thúc Hào đã góp phần đào to được nhiều học trò xuất sắc và xây dng
nền tảng quan trọng cho nền toán học Việt Nam hiện đại. Ông cũng được coi là người đặt
nền móng cho nền giáo dục Đại Học tại Việt Nam. Trong các thế hệ học trò của giáo
Nguyễn Thúc Hào, nhiều người đã tr thành những ơng mặt khoa học quen thuộc,
như: Hoàng Tụy, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Đình T, Đinh Ngọc Lân, Nguyễn Văn
Hiệu, Vũ Đình C, Nguyn Văn Đạo, Phan Đình Diệu, Nguyễn Đình Trí, Văn
Mạo, Văn Như Cương,... Cũng vài người trở thành nhà báo tiếng như Nguyễn Hữu
Chỉnh,... Đó chưa kể các lớp học trò của giáo Hào trong 10 m ông dạy tại trường
Quốc học Huế (1935-1945); vsau, nhiều người đã trthành những nhà thơ, nhà văn,
nhạc sĩ như Tố Hữu, Huy Cận..v.v...
Nguyễn Thúc Hào – Một đại trưởng lão trong làng Giáo sư ( kỳ 1)
(Dân trí) Khi tôi viết những dòng này, vGiáo 97 tuổi, do rất ít khi xuất hiện trên
báo đài, nên không mấy ai còn nh tới sự nghiệp của ông, trừ những sinh viên của ông
ngày trước như Hoàng Tuỵ, Nguyễn Văn Hiệu, Đình Cự, Phan Đình Diệu, Văn Như
Cương…
Một số học trò của ông thời trung học như THữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Văn
Thương… đã ra đi trước thầy. Năm 1946, ông từng gichức Tổng Thư ký kiêm Quyền
Giám đốc Trường Đại học Khoa học Hà Nội. Và rồi từ đấy, cuộc đời ông gắn liền với sự
nghiệp giáo dục đại học.
Kỳ I: Vị giáo sư từ ngày đầu cách mạng
Chinh phục hạnh phúc
Bertrand Russell, nhà triết học Anh, đã viết cuốn Chinh phục hạnh phúc. Đọc cuốn sách
ấy, ta dễ dàng nhận thấy: Nếu quáng lao theo đồng tiền, thì con người ắt sẽ lạc bước
vào… “mê cung bất hạnh”! B. Russell, tất nhiên, rất biết cách tránh khỏi cái “mê cung”
ấy. Ông đã sống một cuộc đời hạnh phúc, rất dài, tới 98 tuổi, từ năm 1872 đến 1970!
Ông rất gần gũi với nhân dân ta. Trong những năm 60-70 thế kỷ trước, chính ông đã ng
lập Tòa án Quốc tế Bertrand Russel xét xử tội ác chiến tranh của Mỹ ở ViệtNam.
Theo ông, phải là người cuộc đời trong trắng mi mong “chinh phục” được “nàng tiên
hạnh phúc trắng trong”.
Nghĩ về cuộc đời mẫu mực của Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Thúc Hào, tôi lại
nhtới lời B. Russell:
“Cuộc đời hạnh phúc là cuộc đời đẹp trong. Người hạnh phúc con người luôn nhận
được sự quan tâm và yêu mến của nhiều người khác”.
Kbị nhiều người m ghét, kẻ cuộc đời ô trọc, thì ngồi trên núi vàng, vẫn không
hạnh phúc.
Người thầy của những tên tuổi lừng danh
hội truyền thống coi người thầy giáo đáng tôn kính chỉ sau hoàng đế, còn cao hơn cả
người cha: quân, sư, phụ. Trong lịch snước ta, đã từng những đấng minh quân:
Thái Tổ, Lý Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông… Và cũng đã có
những ni thầy phẩm hạnh cao khiết, trí tuệ hơn người như:ChuVăn An, Nguyễn Trãi,
La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Nguyễn Văn Siêu, Lương VănCan…
Thời đại chúng ta, rất may mắn, được một vị anh hùng dân tộc mẫu mực về đạo đức,
kiệt xuất về tài năng: Hồ Chí Minh.
Cách mạng Tháng m mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc. Các giáo góp
công đầu xây dựng nền Giáo dục đại học ViệtNamta qulà những gương mặt tiêu biu,
cvề đạo đức tài năng. Ngành y dược Hồ Đắc Di, Tôn Thất ng, Đặng Văn
Ngữ, Trần Hữu Tước, Đỗ Xuân Hợp… Ngành văn sĐặng Thai Mai, Nguyễn n
Huyên, Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Trần Văn Giàu… Nhìn sang ngành toán lý, ta
thấy Nguyễn Xiển, Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Ngụy Như Kon Tum, Lê Văn Thiêm,
Nguyễn Thúc Hào…
Những vị giáo sư đầu tiên mà tôi vừa nhắc tới, nay hầu hết đã tr thành “người thiên cổ”!
Tên tuổi nhiều vị đã tr thành tên đường phố Thủ đô. Chỉ còn sót lại vài ba chiếc “lá
ngô đồng buổi mạt thu”, như Trần Văn Giàu, Nguyễn Thúc Hào…
GS Nguyễn Thúc Hào đã từng giữ chức Tổng Tký kiêm Quyền Giám đốc Trường Đại
học Khoa học Hà Nội, ngay từ những ngày đầu mở nước dân chủ cộng hòa. Vsau, ông
được bầu làm Phó Chtịch Hội Toán học ViệtNam(Chủ tịch là GS Văn Thiêm).
Văn Thiêm Nguyễn Thúc Hào hai nhà toán học đầu tiên được Nhà nước ta công
nhận chức danh Giáo sư đại học.
Nhiều học trò của thầy Hào vsau đã tr thành những gương mặt khoa học quen thuộc,
như: Hoàng Tụy, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Đình Tứ, Văn Mạo, Đinh Ngọc Lân,
Nguyễn Văn Hiệu, Đình Cự, Nguyễn Văn Đạo, Phan Đình Diệu, Nguyễn Đình Trí,
Văn Như Cương, v.v. Cũng có người trở thành nhà báo như Nguyễn Hữu Chỉnh, hay nhà
ngoại giao như Trịnh Ngọc Thái.
Đó chưa kể các lớp học trò của thầy Hào trong 10 m thầy dạy tại Trường Quốc học
Huế (1935-1945), nhiu người đã tr thành những nhà thơ, nhà văn, nhạc tên tuổi đi
vào sử sách như Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Văn Thương,..
lthầy Hào chưa được công chúng rộng rãi biết tiếng, do thầy đã ẩn” tới 15 năm,
khi tình nguyện trở về quê hương xứ Nghệ, đảm đương trọng trách Hiệu trưởng Trường
Đại học Sư phạm Vinh.
Rất đông học trò cũ của GS Nguyễn Thúc Hào đến d L mừng th thầy 90 tuổi, do PGS
Văn Như Cương t chức tại L đường Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2002.
Đỗ thủ khoa vào Quốc học Huế
Nguyễn Thúc Hào sinh ngày6/8/1912tiNaàn, Ngh An, trong một dòng h khoa
bảng nổi tiếng. Ông nội là cNguyễn Thúc Kiều, Cử nhân nho học, thầy dạy của nhà chí
sĩ Phan Bội Châu. Cha là cNguyễn Thúc Dinh đỗ Phó bảng.
Nam Đàn núi cao, sông rộng, đền thờ Mai Hắc Đế dưới chân Đụn, thị trấn Sa
Nam mà sđông vui nhộn nhịp đã đi vào ca dao: Sa Nam trên chdưới đò/Bánh đúc hai
dãy, thịt bò mê thiên.
Năm 722, Mai Thúc Loan phất cao cờ nghĩa, lật đổ ách đô hộ của Hoàng đế Huyền Tông
nhà Đường.
Đến thế kỷ 20, cũng chính mảnh đất này đã sinh ra hai bậc vĩ nhân: Phan Bội Châu và H
Chí Minh.
Năm 1924, mới 12 tuổi, chàng thiếu niên Nguyễn Thúc Hào thi đỗ thủ khoa vào Trường
Quốc học Huế. Cùng dự thi có người bạn Võ Nguyên Giáp.
Về sự việc này, có lần GS Hào kể với tôi: