BÀI MẪU SỐ 1:
Hồ Chí Minh (1890 – 1969) một tác gia lớn của nền văn học dân tộc Việt Nam. Người đã
viết thành công trên nhiều thể loại văn chính luận, truyện ký, thơ ca và ở thể loại nào cũng
những tác phẩm xuất sắc mẫu mực. Riêng ở th loại văn chính lun Hồ Chí Minh đã
chứng t mình là một câyt xuất sắc, mẫu mực mà dẫn chứng hùng hồn là tác phẩm
“Tuyên ngôn độc lập” 1945. “Tuyên ngôn độc lập” một bản tuyên bố lịch sử được Chủ
tịch Hồ Chí Minh đọc tại vườn hoa Ba Đình vào ny 2 tháng 9 năm 1945. Bn “Tuyên
ngôn độc lập” vừa tuyên bố nn độc lập của dân tộc vừa bác bỏ luận điểm xâm lược của kẻ
thù. “Tuyên ngôn độc lập” một áng văn chính luận vừa có giá trị pháp lí, giá trị lịch sử,
giá trị nhân văn và giá trị nghệ thuật cao. Cái tạo nên giá trị nghệ thuật cao chính là ở bút
pháp lập lun chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, dẫn chứng hùng hồn, văn phong xúc tích trong sáng.
Hồ Chí Minh viết “Tuyên ngôn độc lập” là để tuyên bố nền đc lập của dân tộc trước quốc
dân đồng bàotrước thế giới. Thế giới ở đây không phải chung chung mà trước hết là đế
quốc Anh, Pháp, M. Vì sao vy? Vì khi ta giành được độc lập thì phía Bắc quân Tàu
Tưởng áp sát biên giới theo sự xíu giục của M, còn ở phía Nam quân Pháp núp sau lưng
quân Anh tiến vào Đông Dương với chiêu bài đã có công “khai hóa” Đông Dương nên có
quyền trở lại Việt Nam. Như vậy bản tuyên ngôn đồng thời phn ánh được hai mục đích là
vừa tuyên bố độc lập và vừa bác bỏ luận điệu xâm lược của kẻ thù để ngăn chặn nguy
chiến tranh.
Để cho bản tuyên ngôn có tính pháp lí, nh thực tế, Hồ Chí Minh đã dn lời hai bản tuyên
ngôn nổi tiếng trên thế giới là “tuyên ngôn độc lập” 1776 ca M và “tuyên ngôn nhân
quyền và dân quyền” 1791 của Pháp. Cốt lõi của hai bản tuyên ngôn là “mọi người sinh ra
đều có quyền bình đng” suy rộng ra “tất cả các dân tộc sinh ra trên thế giới đều bình đẳng”
đó là quyền không ai có thể xâm phm được. Đưa ra hai bản tuyên ngôn này, Hồ Chí Minh
đã đạt được nhiều mục đích cho bản tuyên ngôn. Trước hết là dùng làm cơ sở pháp lí và
thực tế để khẳng định nền độc lập dân tộc một tất yếu. Đồng thời kẻ thù của dân tộc ta tại
thời điểm viết “Tuyên ngôn độc lập” là Pháp và M. Vậy việc đưa ra lời lẽ của tổ tiên người
Mỹ, người Pháp để nhắn gửi đế quốc M và Pháp là dùng phép gậy ông đập lưng ông nếu
họ thc hiện dã tâm xâm lược nước ta. Ngoài hai mục đích trên, việc đưa ra lời lẽ của hai
bản tuyên ngôn tác giả nhằm đặt ba cuộc cách mng ngang nhau, ba nền độc lập ngang
nhau, ba bản tuyên ngôn ngang nhau, đó là một cách kín đáo Hồ Chí Minh thhiện niềm tự
hào dân tộc.
VĂN M
U L
P 12
PHÂN TÍCH ĐẶC SẮC VỀ NGHỆ THUẬT CA BẢN TUYÊN NGÔN
ĐỘC LẬP
Kẻ thù nguy hiểm nhất của nước Việt Nam non trẻ lúc bấy giờ chính là Pháp. Để đẩy lùi
nguy chiến trang, tranh thủ sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, Hồ Chí Minh đã bác bỏ lun
điệu xảo trá của Pháp. Nghệ thuật bác bỏ của Hồ Chí Minh vừa có lí lẽ đanh thép, vừa có
dẫn chứng hùng hồn, văn phong xúc tích.
Trước hết Hồ Chí Minh lập luận bác bỏ luận điệu rng Pháp có công khai hóa. Tuyên ngôn
vạch rõ hành động của Pháp hơn tám mươi năm nay ở Việt Nam là “trái với nhân đo và
chính nghĩa”. Về chính trị Pháp chia Bắc, Trung, Nam để cai trị, dìm các cuc khởi nghĩa
trong biển máu, đầu độc nhân dân ta bằng rượu cồn và thuốc phiện. Về kinh tế, chúng bóc
lột nhận dân ta đến tận xương tủy, gây ra nạn đói làm hai triệu đồng bào ta bị chết.
Tiếp theo Hồ Chí Minh bác bỏ lun điệu Pháp có công bảo hộ. Lập luận của bản tuyên ngôn
đã chỉ rõ thực dân Pháp đến nước ta không hề có sự bảo hộ mà chúng không phảicông
là có tội là “trong năm năm chúng bán nước ta hai lần cho Nhật”. Và cuối cùng Hồ Chí
Minh bác bỏ luận điệu Pháp có quyn trở lại Đông Dương. Để bác bluận điệu này Hồ Chí
Minh đã chỉ rõ “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc đia của Nhật chứ
không phải thuộc địa ca Pháp nữa. Sự thật là dân ta nói lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ
không phải từ tay Pháp”.
Những lí lẽ và dẫn chứng hùng hồn nói trên, Hồ Chí Minh đã bác bỏ một cách đanh thép về
những luận điệu xảo trá của Pháp, để cho bọn Pháp nhận ra mà từ bỏ dã tâm xâm lược, đồng
thời tranh thủ sng hộ của nhân dân thế giới về cuộc đu tranh chính nghĩa của nhân dân
ta.
Để khẳng định quyền độc lập, nền độc lập, tư cách làm chủ đất nước, bn tuyên ngôn đã có
những lập luận rất chặt chẽ, sắc bén.
Lập luận khẳng định đầu tiên của bản tuyên ngôn là khẳng định tính chất đê hèn tàn bo của
bọn Phápthẳng tay khủng bố Việt Minh, giết nốt tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”,
trong khi đó nhân dân ta rất khoan hồng nhân đạo “giúp cho nhiều người Pháp chạy qua
biên thùy, lại cứu người Pháp ra khỏi nhà giam của Nhật”. Dân tộc Việt Nam không chỉ có
nhân đạo chính nghĩa mà đặc biệt đã có tinh thần anh dũng chiến đấu và đứng hẳn về phe
đồng minh đ chống phát xít thì tất nhiên “dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được
độc lập”.
Lập luận khẳng định độc lập tự do còn được nhấn mạnh, tăng thêm trong li kết lun của
bản tuyên ngôn đó là “Việt Nam có quyền hưởng tự do và sự thật đã trở thành một nước tự
dođộc lập”.
Kết thúc bản tuyên ngôn là lập luận quyết tâm giữ độc lập tự do của dân tộc Việt Nam “toàn
thể dân tộc Việt Nam quyết đem tinh thn và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững
quyền tự do độc lập ấy”.
“Tuyên ngôn độc lập” là một kiệt tác văn chính luận của Hồ Chí Minh nói riêng, của nền
văn học Việt Nam nói chung. Thành công đặc biệt ca tác phẩm văn chính luận “Tuyên
ngôn độc lập” là nhà văn đã đưa ra được những lập luận rõ ràng chặt chẽ, những hệ thống lí
lẽ đanh thép sắc sảo, những dẫn chứng hùng hồn không thể chối cãi được. Đng sau nghệ
thuật lập luận ấymột trí tuệ sắc sảo, một tầm tư tưởng, tầm văn hóa cao rộng của nhà văn
Hồ Chí Minh, của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
BÀI MẪU SỐ 2:
o những thời điểm chuyển mình ca lịch sử mt dân tộc thường xuất hiện những áng văn
bất hủ, đánh du cho một thời đại. Không phải ngẫu nhiên người ta hay nhắc đến những ban
tuyên ngôn nổi tiếng thế giới như [ Tuyên ngôn Độc lập của người Mĩ năm 1776, Tuyên
ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Lịch sử dân tộc ta cũng có
những bản tuyên ngôn như vậy. Đó là Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi vào thế kỉ XV và
Tuyên ngôn Đc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh son thảo và đọc ngày 2-9- 1945 tại quảng
trường Ba Đình lịch sử.
Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh từ lâu vẫn được coi là “một văn kiện có giá trị lịch
sử to lớn, một bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập lun chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ
hùng hồn, đầy sức thuyết phục”. Có thể nói bản Tuyên ngôn Độc lập là kết tinh trí tuệ của
thời đại, là kết quả của “bao nhiêu hi vọng, gắng sức và tin tưởng” của hơn hai mươi triệu
nhân dân Việt Nam.
“Tuyên ngôn Độc lập là mt văn kiện có giá trị lịch sử to lớn, là một bài văn chính luận
ngn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, đanh thép, lời lẽ hùng hổn, đầy sức thuyết phục”
Ngày 26 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn nhà
số 48 phố Hàng Ngang, người soạn tho bản Tuyên ngôn và sau đó, Người thay mặt Chính
phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước 50 vn
đồng bào.
Sự kiện trọng đại ấy đã để lại dấu n sâu sắc vào lịch sử như một mốc son chói lọi. Nhưng
ta sẽ không hiểu hết tầm vóc và ý nghĩa ca tác phẩm nếu không trở lại với không khí chính
trị căng thẳng, nghm trọng cách đây hơn nửa thế kỉ.
Cho đến đu mùa thu năm 1945, tình hình quốc tế có nhiều biến chuyển mau lẹ. Cuộc.Chiến
tranh thế gii lần th hai đang đi vào những ngày cui. 5ự cáo chung của phe phát xít và sự
toàn thắng ca quân Đồng minh sẽ là một kết cục không thể đảo ngược. Chớp lấy thời cơ
đó, nhân dân ta, dưới sự tổ chứcchỉ đạo của Việt Minh đã vùng lên cướp lấy chính
quyền. Chỉ trong vòng một tun lễ “sao vàng năm cánh” không còn là “mộng” nữa mà đã
tung bay :rên khắp ba miền. Nhưng cũng chính lúc này, nhiều đế quốc bắt đầu nhòm n
Đông Dương và không giấu giếm ý đồ thôn tính nước ta. Hội nghị Posdame tháng 7-1945
đã quyết định quân Anh vào giải giáp quân Nhật từ vĩ tyến 16 trở ra. Chính phủ Pháp cho
tướng De Gaulle đại diện, tuyên bố: " sẽ tổ chức “Liên bang Đông Dương” thành năm nước!
Không thchần chừ, Việt Xam cần phải tuyên bố" đc lập!
Bản Tuyên ngôn, vì thế đã đóng vai trò hoàn tất một sứ mệnh lịch sử. Không còn nghi ngờ
gì nữa, sự ra đời đúng lúc của bản Tuyền ngôn Độc lập đã chặn đứng âm mưu tái chiếm
Việt Nam của thực dân Pháp chống lại ý đồ can thiệp vào Việt Nam của các đế quốc khác,
mở đầu cho làn sóng giải phóng thuộc địa ở châu Á, khẳng định chủ quyền và nâng cao địa
vị của dân tộc ta trên trường quốc tế.
Bản Tuyên ngôn cũng đã chính thức chấm dứt 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, năm năm
cướp bóc, giày xéo của phát xít Nhật và nghìn năm chế độ phong kiến. Với ý nghĩa như vậy
bản Tuyên ngôn Độc lập đã thực s khai sinh ra một nước Việt Nam mới, mở ra kỉ nguyên
độc lập, tự do cho dân tộc ta.
Bên cạnh những giá trị to lớn đã nói ở trên, bản Tuyên ngôn còn là một bn văn chính luận
tiêu biểu xuất sắc. Nó đã được viết trong cơn trở dạ của lịch sử để tạo ra bước ngoặt vĩ đại
của cách mạng Việt Nam, đồng thời nó cũng là kết quả của niềm khao khát tự do, độc lập
cháy bỏng của dân tộc Việt Nam đã tích tụ hàng ngàn năm. Bởi vậy, người đọc luôn luôn bị
sự chinh phục lớn lao, mnh mẽ của một áng hùng văn được kết tinh bởi trí tuệ và tâm huyết
Hồ Chí Minh — Người con ưu tú của dân tộc — và bởi tự ban thân tác phm - tiếng nói
chân lí của thời đại.
Mọi chân lí đều hết sức giản dị. Đâyng là phẩm chất tiêu biểu tạo nên vẻ đẹp đầu tiên của
Bản Tuyên ngôn Độc lập. Ít có tác phẩm chính luận nào trong văn học xưa nay lại có bố cục
ngn gọn, súc tích như vậy.
Trước hết, là một thông điệp chính trị, bn Tun ngôn nhằm hướng tới những mc đích
thức thời, quan trọng có tính cấp thiết, bức bách, nước sôi, la bỏng. Trong một tình thế như
vậy, sự ngắn gọn, mạch lạc sẽ tạo nên hiệu quả thông tin nhanh chóngtriệt để. Tất nhiên,
khống phải s ngắn gọn nào cũng tạo nên tính chất súc tích, cô đọng và không phải sự cô
đọng nào cũng hàm chứa sức mạnh. Bản Tuyên ngôn dường như chỉ xoáy sâu vào hai vấn
đề lớn. Thứ nhất: phnhn hoàn toàn quyền dính líu tới Việt Nam của thực dân Pháp; thứ
hai: khẳng định quyền độc lập và quyết tâm sắt đá bảo vệ quyền độc lập đó.
Vì những mục tu này, các ý tưởng, các kiểu câu đều tuân theo nguyên tắc mạch lạc, ngắn
gọn, sáng sủa. Như đã nói ở trên, văn kiện lịch sử này không chỉ được đọc trước quốc dân
đồng bào mà còn trước thế giới. Đây còn là thái độ của chúng ta trước kẻ thù, cho nên, bản
Tuyên ngôn Đc lập đã mở đầu bằng việc viện dn hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng của hai
cường quốc Pháp và Mĩ, từ đó suy rộng ra về quyền độc lập dân tộc (bên cạnh quyền con
người và quyền công dân) như một l phải không ai chi cãi được. Vậy mà n 80 năm,
thực dân Pháp đã bất chấp lẽ phảiy; chúng lợi dụng cờ tự do, bình đẳng, bác ái để nô
dịch nhân dân ta. Hành động ca chúng là sự chà đạp lên chân lí, trái với đạo lí và chính
nghĩa, đi ngược lại những lời tuyên ngôn mà Cách mạng Pháp đã đề ra. Không chỉ tố cáo
những tội ác của thực dân Pháp, tác giả bản Tuyên ngôn còn vạch trần bộ mặt phản bội của