BÀI MẪU SỐ 1:
Việt Bắc là bài thơ được Tố Hữu sáng tác sau khỉ cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết tc
thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ vang dội, chấn động thế giới. Có thể coi Việt Bắc
là một bản tổng kết về một giai đoạn lịch sử bằng thơ, tái hiện lại hiện thực đau thương
oanh liệt của cuộc kháng chiến chín năm chng thực dân Pháp xâm lược bảo vệ chủ quyền
độc lập tdo của dân tộc Việt Nam. Đoạn trích dưới đây là bức tranh sống động, hào hùng
về khí thế tiến công như vũ bão của quân dân ta:
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui chiến thắng trăm miền
Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng…
Nhà t đã tập trung thể hiện không khí hào hùng trong giai đoạn thứ ba của cuộc kháng
chiến khi sức ta đã mạnh, người ta đã đông. Theo dòng hồi tưởng, nhà thơ dẫn dắt người
đọc vào khung cảnh Việt Bắc chiến đấu với không gian là núi rừng rộng lớn, với những hoạt
động tấp nập, những hình ảnh, những âm thanh sôi nổi, dồn dập làm náo nức lòng người.
Ánh sáng cách mạng đã xua tan vẻ âm u, hiu hắt của i rừng, đồng thời khơi dậy sức sống
mạnh mẽ của thiên nhiên và con người Việt Bắc. Đoạn thơ mang dáng vẻ một sử thi hiện
VĂN M
U L
P 12: VI
T B
T
H
U
TỔNG HỢP 3 BÀI PHÂN TÍCH ĐOẠN THƠ “NHỮNG ĐƯỜNG VIỆT
BẮC CỦA TA … ĐÈO DE, NÚI HỒNG” TRONG I T VIỆT BẮC
CỦA TỐ HỮU
đại, tràn đầy âm hưởng anh hùng ca. Giọng điệu dìu dặt, du dương ở những đon thơ trước
đến đây đã chuyển thành giọng điệu dồn dập, rắn rỏi và phn khích.
Tố Hữu miêu tả rất chân thực và sinh động khung cảnh chiến khu Việt Bắc trong mùa chiến
dịch qua hình ảnh những con đường đêm đêm rầm rập bước chân của bộ di, dân công, bập
bùng ánh sáng của lửa đuốc và ánh đèn pha của những đoàn xe ra trận.
Trong thời gian đó, ban ngày máy bay địch bắn phá dữ di nhưng ban đêm thì chúng đành
bất lc. Màn đêm bao la đã mang lại ưu thế cho quân dân ta. Không phải ngẫu nhiên mà thơ
ca kháng chiến có nhiều bài tả cảnh ban đêm : Những đêm dài hành quân nung nấu, Bỗng
bồn chồn nhớ mắt người yêu (Đất ớc – Nguyễn Đình Thi); Đêm nay, rừng hoangơng
muối, Nằm cạnh bên nhau chờ giặc tới, Đầu súng trăng treo (Đồng Chí – Chính Hữu).
Trong đời sống bình thường, ban đêm là lúc vạn vật chìm trong giấc ngủ, là thời điểm ngh
ngơi yênnh của con người. Nhưng trong chiến tranh, đêm thường là điểm khởi đầu của
những trận đánh, những chiến dịch lớn nối tiếp nhau: Những đường Việt Bắc của ta, Đêm
đêm rầm rập như là đất rung. Hai từ của ta thể hiện rõ ý thức làm chủ của người dân đối với
đất ớc, đồng thời thể hiện niềm tự hào về tính chất bất khả xâm phạm của vùng căn cứ địa
kháng chiến.
Trên các nẻo đường ra hỏa tuyến, bộ đội, dân công với súng đn, gánh gồng, với kthế
bừng bừng xung trận. Các từ tượng thanh và tượng hình như rầm rập, điệp điệp, trùng trùng
được s dụng rất phù hợp diễn tả chính xác không khí tự tin, hồ hởi và sức mnh như triều
dâng thác lũ của quân dân ta. Hình ảnh so sánh: Đêm đêm rầm rập như là đất rung đặc tả
quy mô lớn của các trận đánh chuẩn bdiễn ra. Tác giả đã thể hiện được sự thống nhất, hòa
hợp giữa con người với thiên nhiên trong một thời điểm lịch sử đặc biệt.
Bên cnh những nét vẽ trải ra theo chiu rộng, trong bức tranh kháng chiến bằng thơ này
còn có những nét vẽ theo chiều cao. Ánh sao đầu súng bn cùng mũ nan là một nét vẽ như
thế. Ánh sao trước hết là một hình ảnh thực; bên cạnh đó nó còn hình ảnh giàu ý nghĩa
tượng trưng. Có thể hiểu ánh sao như ánh sáng của niềm tin, ánh sáng của lí tưởng cách
mạng soi đường dẫn lối cho người chiên sĩ chiến đấu. Ba sự vật: ánh sao, mũi súng, mũ nan
hợp thành một hình tượng khỏe khoắn, vững chãi về mặt tạo hình, phản ánh tính chất chính
nghĩa của cuộc kháng chiến cũng như tinh thn lạc quan, tin tưởng vào chiến thng tất yếu
của quân dân ta.
Tuy tả cảnh đêm Việt Bắc nhưng bức tranh không thiếu các chi tiết nói về ánh sáng. Bên
cạnh ánh sáng xanh của sao trời ánh sáng đỏ của lửa đuốc, của muôn tàn lửa bay, của đèn
pha bật sáng… Hai câu thơ Dân công đỏ đuốc từng đoàn, Bước chân nát đá, muôn tàn lửa
bay vẽ ra một cảnh tượng rực rỡ và hừng hực khí thế bằng những nét bút n guốc, mnh
mẽ. Cách nói thậm xưng bước chân nát đá diễn tả rất ấn tượng sức mạnh đạp bng mọi gian
khó của những đoàn người trên đường ra hỏa tuyến. Những bước chân dồn dập ấy đã m
cho núi rừng bừng thức. Màn đêm thăm thẳm sương dày bị xua tan bởi ánh đèn pha, gợi liên
tưởng đến chiến thắng đã gn kề trước mặt. Hình ảnh so sánh trong câu: Đèn pha bật sáng
như ngày mai lên thoạt nghe có v cường điệu nhưng phải so sánh nhu thé thì nhà thơ mi
i hết được niềm phấn chấn đang tràn ngập lòng người trước sự lớn mạnh vượt bậc của
quân đi ta khi cuộc kháng chiến đang ớc vào giai đoạn cuối cùng: giai đoạn tổng phản
công giành thắng lợi:
Tin vui chiến thắng trăm miền
Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng…
Tin thắng trận từ khắp các chiến trưng trong cả nước dồn dp đổ về chiến khu Việt Bắc.
Những cụm từ vui v, vui từ, vui lên vừa tạo được không khí phấn chn, rộnng vừa biểu
đạt ý : chiến khu Việt Bắc chính là đầu não của cuộc kháng chiến và niềm vui thắng lợi từ
khp nơi dồn tụ về đó, để rồi từ đó lại ta đi trăm ngả.
Điều đáng chú ý là sự xuất hiện của hàng loạt địa danh. Thơ ca kháng chiến có nhiều bài
nhắc đến tên ca những địa phương gắn liền với các sự kiện lịch sử. Chẳng hạn như bàiy
Tiến của Quang Dũng, bàin kia sống Đuống của Hoàng cầm… Nhưng cách đưa địa danh
vào thơ của Tố Hữu có khác. Nếu Quang Dũng chú ý tới những tên đất gợi ấn tượng v s
xa xôi, hoang dã, heo hút và bí ẩn ; Hoàng cầm chú ý tới những cái tên gợi lên những sắc
màu truyn thống của quê hương thì Tố Hữu lại quan tâm tới những địa danh lừng lẫy chiến
công mà tên gọi của chúng làm náo nc lòng người. Có thể nói ít khi thấy những địa danh
bình thường mà lại chan chứa chất sử, chất thơ và vang vọng trong lòng người đến như thế.
Đoạn thờ trên giàu chất sử thi, thể hiện rất rõ khả năng tạo dựng những bức tranh hoành
tráng về lịch sử cách mạng của Tố Hữu bằng ngôn ng thơ ca. Đọc đon thơ, chúng ta
tưởng như đang được sống lại trong không khí sục sôi của một thời lửa đạn không thể nào
quêni thời của những sự kiện lớn lao và những niềm vui, niềm tin tưởng, tự hào cũng
rất đỗi
BÀI MẪU SỐ 2:
I.Mở bài
THữu ( 1920-2002) được đánh giá là lá cờ đu của nn văn nghệ cách mạng Việt Nam
.Ông để lại một sự nghiệp văn chương phong phú , giàu giá trị và một phong cách nghệ
thuật độc đáo mang tính trữ tình-chính trị sâu sắc , đậm đà tính dân tộc . Rất tiêu biểu cho
những tìm tòi sáng tạo không ngừng của nhà thơ là bài thơ Việt Bắc .Có th nói , tinh hoa
của tác phẩm lắng đọng trong mười hai câu thơ diễn tả nỗi nhớ của người về xuôi với cnh
Việt Bắc hùng tráng trong kháng chiến :
“ Những đưng Việt Bắc của ta
………………………………..
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”.
II.Thân bài
1.Giới thiệu chung
Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác vào tháng 10-1954 , ngay sau khi cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp thắng lợi , các cơ quan trung ương Đảng và chính phủ từ Việt Bắc về
lại thủ đô Hà Nội . Tố Hữu cũng là một trong số những cán bộ kháng chiến từng sống gắn
nhiều năm với Việt Bắc , nay từ biệt chiến khu để về xuôi . Bài thơ như được viết trong
buổi chia tay lưu luyến đó .
Hoàn cảnh sáng tác tạo nên một sắc thái tâm trạng đặc biệt , đầy xúc động bâng khuâng .
Tố Hữu đã vận dụng thành công th thơ lục bát truyền thống , sử dụng sáng tạo cặp đại từ
nhân xưng mình-ta , lối đối đáp quen thuộc của ca dao , giọng thơ tâm tình ngọt ngào , lời
thơ đậm sắc thái dân gian để mở ra bao nỗi niềm nhớ thương , bao kỉ niệm về một thời
kháng chiến gian khổ mà anh hùng . Qua đó nghĩa nh gắn bó thm thiết thu chung của
những người kháng chiến vi nhân dân, với Việt Bắc , với đất nước được bộc lộ một cách
thấm thía , chân thành , cảm động .
Phần đu của bài thơ , dưới hình thức đối đáp giữa mình và ta , đã tập trung khắc hoạ một
khung cảnh tiễn đưa đầy thương nhớ , bn rn , bồn chồn , lưu luyến của kẻ ở người đi . Qua
lời đối đáp ân tình , cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đp .
2.Phân tích đoạn thơ
Và có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ Việt Bắc là ấn tưng không phai về những con đường
kháng chiến :
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Các từ chỉ số nhiều về không gian ( những đường) , về thời gian( đêm đêm ) , về chthể
sở hữu ( của ta ) kết hợp với biện pháp so sánh , cách điệp ph âm r đã tái dựng lại một
không khí kháng chiến đông vui , nhộn nhịp , mnh mẽ của một lực lượng , một tập thể lớn ,
khiến cho đất trời rung chuyển . Không khí của câu thơ khiến ta hồi tưng lại hào khí Đông
A ngút trời “ Tam quân hổ khí thôn Ngưu” ngày nào .
Sức mạnh ấy trước hết toả ra từ đoàn quân hùng hu :
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.
Tác giả sử dụng nghệ thuật tách từ “trùng điệp” thành hai từ láy trùng trùng điệp điệp để
ghi lại ấn tượng về những cuộc hành quân không nghỉ của một đoàn quân đông đo như trải
dài vươn rộng trong khắp núi rừng Việt Bắc . Hình ảnh hoán dụ “ ánh sao đầu súng” , “
nan” kết hợp với biện pháp nhân hoá “ ánh sao bn cùng mũ” vừa tả thực va gợi ra một vẻ
đẹp thơ mộng về đoàn quân kháng chiến . Những hình ảnh này diễn tả sự sát cánh kề vai
của mọi lực lượng trên đất nước VN , từ bộ đội chính quy đến dân quân du kích , từ con
người đến thiên nhiên sông núi vũ trụ , tất cả hợp thành một khối đoàn kết vững vàng , có
sức mạnh vũ bão . Hình ảnh “ ánh sao đầu súng” gợi nhắc đến vẻ đẹp của những chiến
kiên trung mà vẫn lãng mn yêu đời trong thơ Chính Hữu “ Đêm nay rừng hoang sương
muối-Đứng cnh bên nhau chờ giặc tới-Đầu súng trăng treo”.
Hình ảnh những người dân công phục vụ kháng chiến cũng được Tố Hữu tô đậm:
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay
Những từ chỉ s nhiều “ từng đoàn”, “muôn tàn lửa” kết hợp với các động từ đỏ đuốc ,
ớc chân , nát đá, lửa bay , kết hợp với phép cường điệu “bước chân nát đá đã ca ngợi
lòng nhiệt tình , sự hăng hái , sự đông đảo sc mạnh khiến thiên nhiên phải khuất phục
của những đoàn dân công.Sức mạnh bạt núi san rừng , tinh thần làm việc bất kể đêm ny
của họ khiến cho núi cao cũng phải cúi đầu , đêm tối cũng phải bừng sáng .
Những đoàn xe vận tải càng làm cho không khí những con đường kháng chiến thêm phấn
chấn :
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên
Tác giả sử dụng những từ chỉ số nhiều “ nghìn đêm” kết hợp với các từ láy thăm thẳm để
khắc hoạ những khó khăn gian nan ca kháng chiến nhưng với sức mạnh và lòng quyết tâm