VĂN MẪU LỚP 11
TỔNG HỢP CÁC BÀI PHÂN TÍCH NHÂN VẬT VŨ NHƯ TÔ VÀ
NHÂN VẬT ĐAN THIỀM TRONG ĐOẠN TRÍCH VĨNH BIỆT CỬU
TRÙNG ĐÀI
Đề 1: Phân tích nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài
BÀI MẪU SỐ 1:
I. MỞ BÀI
- Từ một skiện lịch sử có thật ở thế kỉ XVI, Nguyễn Huy Tưởng đã hư cấu, sáng
tác vkịch Vũ Như Tô, một vở kịch hiện đại yếu tố bi kịch, đặt ra vấn đề tầmquan
trọng: số phận của nghệ thuật của người nghệ trong hoàn cảnh đất nước bị chìm
đắm trong chế độ phong kiến thối nát.
- Nhân vật trung tâm của vkịch là người nghệ tài ba ngàn năm chưa dễ một
Như Tô. Người kiến trúc thiên tài này có tưởng nghệ thuật, ham Cái Đẹp
khao khát sáng tạo Cái Đẹp nhưng không nhận thức được mâu thuẫn giữa tưởng nghệ
thuật hoàn cảnh thực tế của nhân n đang bị đày đọa, giết hại trong việc xây Cửu
Trùng Đài nên cuối cùng phải trả giá bằng sinh mệnh bản thân thật bi thảm.
II. THÂN BÀI
A. VỞ KỊCH "VŨ NHƯ TÔ" VÀ CAO TRÀO KẾT THÚC KỊCH
- Vở kịch gm năm hồi. Lê Tương Dực bắt Như xây dựng Cửu Trùng Đài.
Vũ Như Tômột nghệ sĩ có nhân cách, có lí tưởng nghệ thuật, không phải là người ham
sống sợ chết hoặc hám lợi. Lúc đầu thà chết không xây Cửu Trùng Đài cho hôn quân; sau
đó, khi xây đài, được nhà vua thưởng vàng bạc, lụa là, ông đem chia hết cho thợ. Nhưng
Như quá say sưa với ước xây dựng cho đất nước một công trình nghệ thuật
tuyệt mĩ, vĩnh cửu đến quên cả thực tế: dân chúng đang đói khổ, đang bị giai cấp thống trị
bòn rút mhôi, nước mắt và xương máu để xây Cửu Trùng Đài. Trong khi đó, bọn thống
trị mục nát mâu thuẫn nhau, xâu nhau kịch liệt. Mâu thuẫn này đến hồi cuối đã lên tới
đỉnh điểm giải quyết dứt điểm. Hôn quân Tương Dực bị giết. Cùng lúc, Cửu Trùng
Đài bị chính bọn thợ xây dựng nổi loạn đập phá Như bị giết chết. Đoạn trích
Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài là hồi cuối cùng, cũng là cao trào kết thúc vở kịch.
B. NHÂN VẬT VŨ NHƯ
1. Tính cách nhân vật
- Tính cách nổi bật nhất của Như Tô tính cách của người nghệ tài ba, hiện
thân cho niềm khát khao và đam mê sáng tạo Cái Đẹp. Nhưng trong một hoàn cảnh c
thể, Cái Đẹp ấy thành ra phù phiếm, sang trọng, siêu đẳng, thậm chí "cao cả và đẫm
máu" như một "bông hoa ác". thế, đến tận cùng niềm đam mê, khao khát ấy, Như
tất phải đối mặt với bi kịch đau đớn của đời mình. Ông trở thành k thù của dân
chúng, thợ thuyền mà không hay biết.
- Xây đài Cửu Trùng đúng hay sai? Nkhông trả lời được thỏa đáng
câu hỏi đó, bởi ông chđứng trên lập trường của người nghệ không đứng trên lập
trường của nhân dân, đứng trên lập trường Cái Đẹp không đứng trên lập trường Cái
Thiện. Hành động của ông không hướng đến sự hòa giải thách thức chấp nhận s
hủy diệt. Như đã từng tranh tinh xảo với hoá công, giờ lại bướng bỉnh tranh phải-
trái với số phận với cuộc đời. Hành động kịch hướng vào cuộc đấu tranh này thểhiện
qua diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô.
2. Diễn biến tâm trạng nhân vật
- Trong hồi cuối của vkịch, Như m vào trạng thái khủng hoảng - chỉ
một người duy nhất hiểu được Cái Tài siêu việt của Vũ, Đan Thiềm. Đây sự v
mộng thê thảm.
Như vẫn không thể thoát ra khỏi trạng thái mơ màng, ảo vọng của chính
mình. Ông không tin rằng, công trình cao cả mình m lại thể xem tội ác, cũng như
không thể tin sự quang minh chính đại của mình lại bị rè rúng, nghi ngờ. Sự vỡ mộng của
Như thế đau đớn, kinh hoàng gấp bội so với Đan Thiềm. Nỗi đau ấy bộc lộ
thànhtiếng kêu bi thiết và âm điệu não nùng, khắc khoải chẳng những trở thành âm hưởng
chủ đạo bao trùm đoạn kết đã đành, mà còn một thchủ âm dội ngược lên toàn bộ
những phần trước của vở kịch. "Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!". Đó
cũng những tiếng kêu cuối cùng của Nkhi ngọn lửa oan nghiệt đang bùng
bùng thiêu rụi Cửu Trùng Đài, ngay sau đó c giả của bị dẫn ra pháp trường. Trong
tiếng kêu ấy, mộng lớn, Đan Thiềm, Cửu Trùng Đài đã được Như đặt kế tiếp
nhau, nỗi đau mất mát như nhập hòa làm một, một nỗi đau bi tráng tột cùng.
C. ĐÁNH GIÁ NHÂN VẬT VŨ NHƯ
- Khát vọng nghệ thuật của Như phần chính đáng, cao đẹp, xuất phát từ
thiên chức của người nghệ sĩ, từ lòng yêu ớc tinh thần dân tộc nhưng đã đặt lầm
chỗ, lầm thời (giai cấp thống trị lúc đó quá xa hoa thối nát, nhân dân đang đói khổ sưu
thuế, tạp dịch, tham nhũng) xa thực tế, dẫn đến phải trả giá bằng sinh mệnh của bản
thân và cả công trình nghệ thuật.
- Trong việc xây Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô vừa là tội nhân, vừa là nạn nhân. Tội
nhân vì thực thi chủ trương của hôn quân, làm cho nhân dân thêm khổ cực, là nạn nhân vì
ảo tưởng của chính mình, nạn nhân của mối mâu thuẫn chưa giải quyết được: mâu thuẫn
giữa lí tưởng nghệ thuật và hoàn cảnh thực tế.
III. KẾT BÀI
Bằng một ngôn ngữ kịch tính tổng hợp rất cao, nhất trong hồi cuối của vở
kịch Vũ Như Tô, tác giả đã dẫn dắt hành động xung đột kịch rất thành công, tạo nên một
bức tranh đời sống bi kịch hoành tráng trong nhịp điệu bão tố của nó. Đặc biệt việc
khắc họa tính cách, miêu tả tâm trạng qua nhịp điệu lời nói - hành động bằng ngôn ngữ
tổng hợp (miêu tả, kể, bộc lộ...) mang tính nh động cao, đã thể hiện thành công nhân
vật trung tâm Vũ Như Tô của vở kịch lịch sử cùng tên.
BÀI MẪU SỐ 2:
Vũ Như Tô hiện lên như một tính cách bi kịch, vừa bướng bỉnh vừa mềm yếu, vừa
kiên định, vừa dễ hoang mang.
Nhân vật bi kịch thường mang trong mình kng chỉ những say khát vọng lớn
lao còn mang cả những lầm lạc trong nh động duy của chính nó. Nhưng,
không bao giờ khuất phục hoàn cảnh, nhân vật bi kịch bướng bỉnh vùng lên chống lại và
thách thức số phận.
Tính cách nổi bật nhất của Như Tô: tính cách của người nghệ tài ba, hiện
thân cho niềm khát khao và đam mê sáng tạo cái đẹp. Nhưng trong một hoàn cảnh cụ thể,
cái đẹp ấy thành ra phù phiếm, sang trọng, siêu đẳng, thậm chí, “cao cả đẫm máu”
như một “bông hoa ác”. thế, đi tận cùng niềm đam. khao khát ấy Như tất
phải đối mặt với bi kịch đau đớn của đời mình. Chàng trở thành kthù của dân chúng,
thợ thuyền mà không hay biết.
Cái tài ba được nói đến chủ yếu ở các hồi, lớp trước thông qua hành động của anh
nhất lời của các nhân vật khác nói về anh: thiên tài “ngàn m chưa dễ một”.
Nghệ ấy thể “sai khiến gạch đá nviên tướng cầm quân, thể xây dựng những
lâu đài cao cả, nóc vờn mây không hề tính sai một viên gạch nhỏ”. Anh “chỉ cần vẩy
bút chim hoa đã hiện trên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa công”. Nhưng
chính quá đam mê khao khát đắm chìm trong sáng tạo càng dễ xa rời thực tế
đời sống; càng sáng suốt trong sáng tạo nghệ thuật thì càng muội trong những toan
tính âu lo đời thường. Hồi thứ V không nói nhiều đến tài năng của nhân vật (chì duy nhất
Đan Thiềm nhắc đến), mà đặt Vũ vào việc tìm kiếm một câu trả lời: xảy Đài Cửu
Trùng đúng hay sai? Có công hay tội? Nhưng không trả lời được thỏa đáng câu
hỏi đó bởi chàng chỉ đứng trên lập trường của người nghệ không đứng trên lập
trường của nhân dân, trên lập trường cái đẹp không đứng trên lập trường cái thiện.
Hành động của chàng không hướng đến sự a giải thách thức và chấp nhận shủy
diệt. đã từng tranh tinh xảo với hóa công, giờ lại bướng bỉnh tranh phải trái với số
phận với cuộc đời. Hành động kịch hướng vào cuộc đua tranh này thể hiện qua diễn
biến tâm trạng của Vũ Như Tô. […]
Như Tô, […], vẫn không thể thoát ra khỏi trạng thái mơ màng, ảo vọng của
chính mình. Chàng không thể tin rằng cái việc cao cả mình làm lại có thể bị xem là tội ác,
cũng như không thể tin sự quang minh chính đại của mình lại bị rẻ rúng, nghi ngờ. Sự
“vỡ mộng” của Như vì thế đau đớn, kinh hoàng gấp bội so với Đan Thiềm. Nỗi
đau ấy bộc lộ thành tiếng kêu bi thiết mà âm điệu não nùng, khắc khoải của thành âm
hưởng chủ đạo bao trùm đoạn kết đã đành còn thành một thứ chủ âm dội ngược lên
toàn bộ những phần trước của vở kịch, “ôi mộng lớn! ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng
Dài!”. Đó cũng những tiếng kêu cuối cùng của Như khi ngọn lửa oan nghiệp
đang bùngng thiêu trụi Cửu Trùng Đài, trước khi tác giả của bị dẫn ra pháp trường.
Trong tiếng kêu ấy “mộng lớn”, “Đan Thiềm, Cửu Trùng Đài’ đã được Vũ đặt liên kết
với nhau, nỗi đau mất mát như nhập hòa làm một, thành một nỗi đau bi tráng tột cùng.