
1
Tiểu Luận
Phân tích quy luật chuyển hóa từ
những thay đổi về lượng thành những
thay đổi về chất và ngược lại. Liên hệ vận
dụng đối với bản thân.

2
LỜI NÓI ĐẦU
Trong đời sống hàng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con
người dần dần nhận thức được tính trật tự và mối liên hệ có tính lặp lại của các hiện
tượng, từ đó hình thành nên khái niệm “ quy luật”. Với tư cách là phạm trù của lý luận
nhận thức, khái niệm “quy luật” là sản phẩm của tư duy khoa học, phản ánh sự liên hệ của
các sự vật và tính chỉnh thể của chúng. V.I.Lênin viết “Khái niệm quy luật là một trong
những giai đoạn của sự nhận thức của con người về tính thống nhất và về liên hệ, về sự
phụ thuộc lẫn nhau và tính chỉnh thể của quá trình thế giới” (1).
Các quy luật của tự nhiên, của xã hội cũng như của tư duy con người đều mang
tính khách quan. Con người không thể tạo ra hoặc tự xoá bỏ được quy luật mà chỉ nhận
thức và vận dụng nó trong thực tiễn. Các quy luật do khoa học phát hiện ra chính là sự
phản ánh các quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội cũng như tư duy con người.
Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và
ngược lại. Là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Những thay đổi
về chất của sự vật, hiện tượng có cơ sở tất yếu từ những thay đổi về lượng của sự vật, hiện
tượng và ngược lại, những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng lại tạo ra những biến
đổi về lượng của sự vật, hiện tượng trên các phương diện khác nhau. Quy luật này được
áp dụng phổ biến trong thực tế cuộc sống. Chính vì vậy em chọn “ Phân tích quy luật
chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại. Liên
hệ vận dụng đối với bản thân.”, để làm chủ đề cho bài tiểu luận của mình.
Trong bài tiểu luận này em xin trình bày những cơ sở lý luận chung về lượng –
chất, trên sở đó rút ra ý nghĩa thực tiễn của việc nhận thức này và sự vận dụng quy luật
này đối với bản thân.

3
Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm hai mặt chất và mặt lượng. hai mặt
đó thống nhất hữu cơ với nhau trong sự vật, hiện tượng.
PHẦN I: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG
I.I KHÁI NIỆM
a) Khái niệm chất:
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật, hiện tượng
là nó chứ không phải là cái khác.
Thuộc tính của sự vật, hiện tượng là những tính chất, những trạng thái, những
yếu tố cấu thành sự vật,... Đó là những cái vốn có của sự vật, hiện tượng được sinh ra
hoặc được hình thành trong sự vận động và phát triển của nó. Mỗi sự vật, hiện tượng có
rất nhiều thuộc tính; mỗi thuộc tính lại biểu hiện một chất của sự vật, hiện tượng. Do vậy,
mỗi sự vật, hiện tượng có rất nhiều chất. Chất và sự vật, hiện tượng có mối quan hệ chặt
chẽ, không tách rời nhau. Trong hiện thực khách quan không thể tồn tại sự vật, hiện tượng
không có chất và không thể có chất nằm ngoài sự vật, hiện tượng.
Chất của sự vật, hiện tượng được biểu hiện qua những thuộc tính của nó. Nhưng
không phải thuộc tính nào cũng biểu hiện chất của sự vật. Thuộc tính của sự vật có thuộc
tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản. Những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại tạo
thành chất của sự vật, hiện tượng. Chính chúng quy định sự tồn tại, vận động và sự phát
triển của sự vật, hiện tượng,chỉ khi nào chúng thay đổi hoặc mất đi thì sự vật, hiện tượng
mới thay đổi hay mất đi.
Không những được quy định bởi chất của những yếu tố tạo thành mà chất của sự
vật, hiện tượng được tạo thành bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố, nghĩa là bởi kết
cấu của sự vật, hiện tượng. Trong hiện thực các sự vật, hiện tượng được tạo thành bởi các

4
yếu tố như nhau, song chất của chúng lại khác. Ví dụ, kim cương và than chì điều có cùng
thành phần hoá học do các nguyên tố các bon tao nên, nhưng do phương thức liên kết
giữa các nguyên tử các bon là khác nhau, vì thế chất của chúng hoàn toàn khác nhau. Kim
cương rất cứng, còn than chì lại mềm. Trong một tập thể nhất định nếu phương thức liên
kết giữa các cá nhân biến đổi thì tập thể đó trở nên vững mạnh, hoặc sẽ trở thành yếu
kém, nghĩa là chất của tập thể biến đổi. Từ đó có thể thấy sự thay đổi về chất của sự vật,
hiện tượng phụ thuộc cả vào sự thay đổi các yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng lẫn sự
thay đổi phương thức liên kết giữa các yếu tố ấy.
b) Khái niệm lượng:
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, hiện
tượng về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng
như các thuộc tính của sự vật, hiện tượng.
Mọi sự vật, hiện tượng điều có lượng riêng, song lượng chưa làm cho sự vật, hiện
tương là nó. Chưa làm cho nó khác với những cái khác. Lượng tồn tại cùng với chất của
sự vật, hiện tượng và cũng có tính khách quan như chất của sự vật, hiện tượng.
Lượng của sự vật, hiện tượng biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều
hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm,…. Trong
thực tế lượng của sự vật, hiện tượng thường được xác định cụ thể như: một con heo 100kg
bằng một tạ; Amoniac (NH3) được cấu tạo từ một nguyên tử Nitơ và ba nguyên tử hydro;
... bên cạnh đó có những lượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như
mức độ ứng xử của con người với con người tốt hay xấu; trình độ học vấn của một con
người cao hay thấp; .... có những lượng biểu thị yếu tố quy định kết cấu bên trong của sự
vật, hiên tượng (số lượng nguyên tử hợp thành nguyên tố hóa học, số lượng lĩnh vực cơ
bản của đời sống xã hội), có những lượng vạch ra yếu tố quy định bên ngoài của sự vật,
hiện tượng (chiều dài, chiều rộng, chiều cao của sự vật).

5
Như vậy, chất và lượng là hai phương diện khác nhau của cùng một sự vật, hiện
tượng hay một qua trình nào đó trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Hai phương diện đó điều
tồn tại khách quan. Tuy nhiên, sự phân biệt giữa chất và lượng của sự vật, hiện tượng chỉ
mang tính tương đối. Có những tính quy định trong mối quan hệ này là chất nhưng trong
mối quan hệ khác lại là lượng. Chẳng hạn, số lượng sinh viên học giỏi nhất định của một
lớp sẽ nói lên chất lượng học tập của lớp đó. Điều này cũng có nghĩa là dù số lượng cụ thể
quy định thuần túy về lượng, song số lượng ấy cũng có tính quy định về chất của sự vật,
hiện tượng.
I.II MỐI QUAN HỆ NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG VÀ
NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHẤT.
• Những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất.
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và
lượng. Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng. Sự
thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự chuyển hóa về chất của sự vật, hiện tượng. Tuy
nhiên, cũng có sự vật, hiện tượng thay đổi về lượng nhưng chưa có thể làm thay đổi ngay
lập tức sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng. Ở một giới hạn nhất định, lượng của sự
vật thay đổi, nhưng chất của sự vật chưa thay đổi cơ bản. Chẳng hạn, khi ta nung một thỏi
thép đặc biệt ở trong lò, nhiệt độ của lò nung có thể lên tới hàng trăm độ, thậm chí lên tới
hàng nghìn độ, song thỏi thép vẫn ở trạng thái rắn chứ chưa chuyển sang trạng thái lỏng.
Khi lượng của sự vật, hiện tượng được tích lũy vượt quá giới hạn nhất định, thì chất cũ sẽ
mất đi, chất mới thay thế chất cũ. Không giới hạn đó gọi là độ.
Độ chỉ tính quy định, mối liện hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng giới
hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiện
tượng. Vì vậy, trong giới hạn của độ, sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó, chưa chuyển hóa
thành sự vật, hiện tượng khác.

