Phòng chống đái tháo đường - Một
thách thức toàn cầu
Từ lâu người ta đã biết đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh rối loạn chuyển
hóa. Nhưng những tác hại mà nó gây ra t gn đây mi được làm sáng tỏ.
Ngày nay, ĐTĐ được xếp vào nhóm bnh không lây cùng vic bệnh ph
biến khác đang được cả thế gii hợp sức tìm biện pháp phòng chống.
Đái tháo đường là gì?
ĐTĐ là bệnh đã được biết đến từ thi cổ đại (khoảng 1500 năm trước Công
nguyên), từ đó đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vcăn bệnh
này. Bnh Đlà “hội chứng mn tính về rối loạn chuyển hoá glucid, lipid
và protid do thiểu tiết insulin hoặc do các mô đích kháng li tác dụng của
insulin, hoặc do cả hai”. Bệnh ĐTĐ trong đó chủ yếu là ĐTĐ týp 2, chiếm
từ 85-95% số bệnh nhân mắc bệnh này, đang là một trong những bệnh
không lây phổ biến nhất trên toàn cầu. Người ta nhận thy: cứ khoảng 15
năm thì t lmắc bệnh ĐTĐ týp 2 lại tăng lên gấp đôi. Hiện nay, bệnh ĐTĐ
týp 2 được coi là một dịch bệnh ở nhiều nước đang phát triển và những nước
mới công nghiệp hoá, vì tlbệnh liên quan vi mức phát triển kinh tế, xã
hội.
ĐTĐ hin được coi là một đại dch toàn cầu mà con người cần phải đối phó.
Điều này hoàn toàn đúng khi xét về số người đã, đang và sẽ mắc bệnh cũng
như các biến chứng mà bệnh gây ra. Các thầy thuốc nghiên cứu bệnh ĐTĐ
hiện nay luôn quan tâm và hướng tới, đó là làm thế nào để phát hiện sớm
bệnh và giáo dục cộng đồng ý thức phát hin bệnh sớm. Điu này s giúp
phòng ngừa bệnh và các biến chứng mà bnh gây ra.
Từ nửa thế kỷ trước, các thy thuốc đã thống nhất chia bệnh ĐTĐ ra làm 2
loi chính. Loại 1 (týp 1) là loi phụ thuộc insulin, thường gặp ở người trẻ và
được coi như một bệnh tự miễn, bệnh thường có tính chất di truyền. Ở các
bệnh nhân này, tụy mất dần khnăng tiết insulin nên người bệnh cần phi
dùng insulin để tránh bị tình trạng đường huyết bị tăng quá cao và để duy trì
cuộc sống. ĐTĐ týp 1 chiếm t lệ khá nhỏ (khoảng dưới 5%) trong số những
người mắc ĐTĐ. Số còn lại là bnh ĐTĐ p 2 hay còn gọi là ĐTĐ không
phụ thuộc insulin. Mặc dù tụy ca các bệnh nhân này vn còn khnăng tiết
insulin song lượng hormon được tiết ra không đủ để đáp ứng nhu cầu chuyển
hóa...
Bệnh có tốc đ phát triển nhanh
Vào những năm cuối thế k 20 và đầu những năm của thế kỷ 21, ĐTĐ là
bệnh không lây phát trin nhanh nhất. Bệnh ĐTĐ là nguyên nhân gây t
vong đứng hàng thứ 4 hoặc 5 ở các nước phát triển, ĐTĐ cũng được xem là
đại dịchcác nước đang phát trin. Điều đáng lo ngi là ĐTĐ tăng nhanh ở
các nước đang phát trin, trong số bệnh nhân ĐTĐ ở các nước này t Đ
týp 2 chiếm tỷ lệ cao. Sự bùng nổ ĐTĐ týp 2 và những biến chứng của bệnh
đang là thách thức ln với cộng đồng.
Điều đáng lo ngại là tình trạng qun bệnh ĐTĐ còn yếu và chưa được
chặt chkhông chỉnhững nước đang phát trin mà ngay c những nước
phát trin. Người ta thấy việc chn đoán ĐTĐ giống như một tảng băng,
phần nổi - phn được chẩn đoán chiếm một phần nhỏ còn phn lớn chưa
được chn đoán là phần chìm của tảng băng này.
sao ĐTĐ týp 2 thành đại dịch?
Tuy đã chiếm được mối quanm nghiên cứu về cả phòng bnh trong cộng
đồng và điu trị chuyên sâu, nhưng chúng ta vẫn đang đứng trước một thực
tế là các yếu tố nguy cơ của ĐTĐ týp 2 đang gia tăng mà hin tại chưa có
biện pháp không chế hữu hiu.
ĐTĐ là bệnh kng lây nhiễm, tuy nhiên một số loại virut có thể là th
phm gián tiếp gây bệnh ĐTĐ, như các virut sởi, quai bị... Bản thânc loại
virut này không thgây nên bnh ĐTĐ nhưng nó có thể gây tổn thương tụy
và làm gim khả năng sản xuất insulin. Trước đây, nhiu người cho rằng ăn
quá nhiu đường glucose thìnguy cơ mc bệnh ĐTĐ, nhưng đó lại không
phải là nguyên nhân. Nguyên nhân hàng đầu là gim hoạt động thlực và
chế độ ăn giàu năng lượng, ít chất xơ. Đây cũng là nguyên nhân chính dn
đến thừa cân, béo phì. Béo p, đặc biệt béo bụng được xem là yếu tố đương
nhiên dẫn tới kháng insulin và hi chứng rối loạn chuyển hóa và tiến tới đái
tháo đường týp 2. Rối loạn dung nạp glucose và suy gim dung nạp glucose
máu lúc đói sẽ làm phát triển tình trạng kháng insulin, tiến tới ĐTĐ týp 2.
Các yếu tố được coi là có nguy cơ cao khác dễ có khnăng phát triển thành
bệnh ĐTĐ týp 2 là: 45 tui trở lên; người có BMI = 23 trở lên; người có
người thân cận kề đã mắc bệnh ĐTĐ; phụ nữ có tiền sử sản khoa đặc biệt
(thai chết lưu, sảy thai; ĐTĐ thai kỳ; sinh con 4kg trở lên; người có tiền sử
cân nng khi sinh dưới 2,5kg); tăng huyết áp vô căn; ngườitiền sử rối
lon dung tạp glucose hoặc suy gim dung nạp glucose máu c đói; người
có bnh mạch vành hoặc đột qụy.
nh nng cho toàn xã hội
Bệnh nhân ĐTĐ luôn bị đe dọa bởi các biến chứng cấp và mn tính. Nguy
him nhất là nguy cơ hạ đường huyết (cấp) và biến chng tim mạch... Một
nhim khun thông thường cũng có thể trở nên nguy him đối với tính mạng
của bệnh nhân ĐTĐ. Các biến chứng này cùng với stress không chỉ làm chất
lượng sống của người bệnh gim đi mà còn làm hao tổn cả tuổi thọ, do đó
bệnh ĐTĐ được xem là “kẻ giết người thm lng”. Một người ở lứa tuổi 40-
50 được chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ smất đi trung bình là 10 năm sống.
Người mắc ĐTĐ týp 2 có bệnh lý mạch vành cao gấp 2 - 6 lần so vi người
không bị ĐTĐ.
Chi phí cho điều tr bệnh ĐTĐ là một chi phí phức tạp, tổng hợp của nhiều
yếu tố do nó phải gn liền với giải quyết biến chứng ca bệnh, đặc biệt là
những người phi nằm viện thì thường các biến chứng chiếm tới 2/3 tổng chi
phí điều tr. Chi phí cho quản sức khỏe của người mắc bệnh ĐTĐ gấp 2-4
ln người không mắc bệnh này, bao gồm cả thuốc, trang thiết b, xét nghim
cận lâmng, chi p thường xuyên đi khám bệnh... Ngoài các chi p trực
tiếp thì xã hội phải gánh vác các khoản chi phí gián tiếp cho bệnh nhân ĐTĐ
như chất ng sản phẩm lao động b giảm sút do lo lng, nghỉ ốm, nghỉ mất
sức...
Tác động của tử vong và biến chứng sớm do ĐTĐ lên sức sản xuất, chi p
tài chính và xã hi là rất ln, bởi bệnh ĐTĐ p 2 xảy ra ở độ tuổi từ 26-64 -
lứa tui lao động chính tạo ra ca cải vật chất, tinh thn cho ccộng đồng và
cho mỗi gia đình
Làm thế nào để phòng chống ĐTĐ týp 2?
Về phương diện dự phòng việc điều trị vi mục đích phòng bnh ĐTĐ nên
được tiến hành sm ngay từ khicác dấu hiu của hi chứng chuyển hóa.
Để phòng chống bệnh ĐTĐ có hiu qu, người ta chia ra các mức phòng
bệnh:
- Dự phòng cấp 1: Phòng cho những người có yếu tố nguy cơ. Mục đích làm
gim tỷ lệ mắc mi của bệnh; hoặc làm chm thời gian phát bệnh trên lâm
sàng.
- Dự phòng cấp 2: Phòng cho những người đã mắc bệnh ĐTĐ. Mc đích làm
chậm xuất hiện các biến chứng và/hoặc làm gim mức độ nng của các biến
chứng.
Câu hi đặt ra là làm thế nào để giúp người bệnh dự phòng được bệnh? Để
phòng bnh tốt, điều quan trọng là công tác tuyên truyn, giáo dục cho cộng
đồng, cho nhân viên y tế, cho ngưi bệnh hiểu vbệnh ĐTĐ. Người bệnh tự
giác thực hinc nguyên tắc phòng chng bệnh là yếu tố then chốt bảo đảm
quản lý thành công bnh.