
1
PHONG TỤC TANG MA CỦA NGƯỜI TRIỀU CHÂU Ở SÓC TRĂNG
Trương Thuận Lợi
Sinh viên lớp VHH 3A, Khoa Văn hóa học.
Người Triều Châu là một bộ phận của người Hán, họ phân bố chủ yếu ở
Đông Bắc tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Vì nhiều lí do, người Triều Châu di
cư đến nhiều nơi, trong đó có Sóc Trăng. Theo thống kê năm 2009, ở Sóc
Trăng có 75.534 người Hoa sinh sống, chiếm 5,02 % dân số Sóc Trăng1
. Người
Triều Châu có một phương ngôn và phong cách văn hóa riêng thể hiện qua
nhiều phương diện: ẩm thực, ca kịch (Triều kịch), phong tục tập quán... Tang
ma cùng các lễ nghi của nó là phong tục tập quán đặc sắc và ít bị biến đổi,
nghiên cứu tang ma của người Triều Châu ở Sóc Trăng là một hướng tiếp cận
nhằm làm rõ những giá trị văn hóa-xã hội truyền thống của người Triều Châu.
Quan niệm về cái chết của người Triều Châu rất phức tạp, chịu ảnh
hưởng khá sâu sắc của tư tưởng Phật giáo. Theo họ, chết không phải là hết mà
là sự tái sinh ở một thế giới khác và ở đó con người mới có được cuộc sống
vĩnh hằng.
Việc tang được người Triều Châu nói tránh là pệch xừ (白事, bạch sự)
được tính từ thời điểm người ta hấp hối. Nghi lễ đầu tiên phải làm là chăm sóc
cho người thân lúc lâm chung, đây là một nghi lễ quan trọng, nó thể hiện sự
hiếu thuận của con cháu đối với người sắp ra đi. Khi đó, người đang hấp hối sẽ
được chuyển ra vị trí ở giữa nhà, đầu hướng ra cửa. Đây là vị trí trang trọng

nhất để người bệnh ra đi (nếu điều đó xảy ra) một cách an định ở nơi tốt nhất
trong nhà. Theo tập quán, khi gia đình có người già lâm trọng bệnh, con cháu
gần xa sẽ sớm được báo tin để kịp bôn tang (về gặp người thân lần cuối).
1
http://www.soctrang.gov.vn2
Khi người thân đã tắt thở, một người sẽ đi mua nước của Hà Bá (thần
sông). Tập tục này được thấy ở nhiều nhóm dân khác thuộc Hán tộc chứ không
riêng người Triều Châu. Đây là một nghi thức đậm tính nhân sinh, người xưa
qua đó muốn nhắc nhở rằng dòng đời chẳng qua cũng giống như sự trôi đi của
dòng nước mà thôi. Nước mua được một phần dùng để lau thân thể cho người
mất, một phần để lau quan tài.
Lễ tiểu liệm được bắt đầu với việc xoay người đã mất theo hướng ngược
lại, đầu hướng vào trong, chân hướng ra cửa (thể hiện sự ra đi). Theo truyền
thống, phải xem giờ nhập quan, động quan và các tuổi kỵ với người mất. Khi
đã có ngày giờ cụ thể, họ sẽ viết cáo phó và dựng phướn đám tang. Phướn là
một mảnh vải hình chữ nhật màu trắng, trên dán hai thanh giấy đỏ kéo dài hết
chiều dài và chiều rộng của phướn thành hình chữ thập. Theo phong tục, người
Triều Châu chỉ báo tang cho thân tộc và bạn chí cốt nên phải dùng phướn để
báo hiệu việc tang.
Người Triều Châu cũng thực hiện lễ phạn hàm như nhiều nhóm dân khác
nhưng ít nhiều có sự khác biệt. Phạn là cơm, hàm là ngậm. Người xưa cho rằng
không thể để người chết đi (sang thế giới bên kia) mà miệng không có gì, bụng
đói. Phạn hàm ban đầu là cho người chết ngậm cơm nhưng đã dần biến đổi. Ở

người Triều Châu có thể chia làm hai giai đoạn. Một là đặt vào miệng người
chết một ít vàng, một ít bạc và bảy hạt lúa nếp (nếu là nam), chín hạt (nếu là
nữ) và hai là đút cơm báo hiếu. Nghi thức này được thực hiện một cách tượng
trưng bằng cách lấy một bát cơm đầy, lần lượt tất cả
những người con trong nhà sẽ trở ngược đầu đũa (dùng
đầu âm để đút cơm cho người chết) ba lần làm động tác
(phớt trên mặt cơm) gắp cơm đút cho người chết. Đây
là một nghi thức thấm đượm tính nhân văn, nhằm nhắc
nhở con cháu nhớ việc cha mẹ đã vất vả chăm bón, nuôi con. 3
Sau tiểu liệm là lễ đại liệm. Quan tài truyền thống của người Triều Châu
thường được gọi là hòm mang cá - là loại quan tài độc mộc đẽo từ thân của chỉ
một cây gỗ. Đến giờ, nghi thức nhập quan sẽ được tiến hành. Người chết được
đặt vào quan tài cùng với các đồ tùy táng. Đồ tùy táng rất đa dạng, đó có thể là
vàng, bạc hoặc đơn giản chỉ là các vật dụng cá nhân mà lúc sống người chết
thường sử dụng. Với y phục, phải cắt bỏ nút (cúc) vì nút có âm là nữu, theo một
số học giả Trung Quốc thì trùng âm với con cháu. Tuy nhiên, trong tiếng Triều
Châu thì không có sự trùng âm này, nhưng họ vẫn tiến hành lấy bỏ nút. Có thể
hoặc chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa nói chung hoặc là trong quá khứ
tiếng Triều Châu, từ níiu (鈕, nữu, cúc áo) đã từng trùng âm với từ nốô (孥, nô,
con cháu). Không được chôn theo đồ tùy táng làm bằng da thú, vì ảnh hưởng từ
Phật giáo, nếu chôn theo da, xương thú thì kiếp sau người chết sẽ đầu thai thành
súc sinh. Trà được để vào quan tài có hai công dụng là lấp đầy các khoảng
trống trong quan tài, hút ẩm và để xương người chết được vàng và đẹp. Nếu

người chết đã quá già mà răng vẫn còn tốt thì người ta sẽ phải nhổ bỏ răng, vì
cho rằng người già mà răng còn tốt sẽ trở về nhai hết của cải của con cháu.
Khi đóng nắp quan tài, số lượng đinh phải đóng là sáu cây. Nhát búa đầu
tiên của mỗi cây đinh sẽ đi kèm một lời chúc tụng gọi là tá xi cụ (呾詩句, đát
thi cú) nghĩa là đọc các câu thơ. Các câu thơ này thường là lời chúc phúc cho
các thế hệ con cháu của người mất. Đinh đóng xong, lập tức phải quăng búa ra
hướng cửa. Việc quăng búa ra cửa có ý nghĩa chia ly, vĩnh biệt, vứt bỏ mọi thứ,
nó như một lời nhắc nhở dứt khoát với tang gia rằng cái chết là quy luật tự
nhiên và không ai có thể tránh khỏi.
Thọ tang là bước tiếp theo sau đại liệm. Đây là nghi thức Phật giáo
nhưng lại thấm đượm tinh thần Nho giáo, cha mẹ không để tang con, ông bà
không để tang cháu, anh chị không để tang em, thân tộc thuộc bề trưởng thượng
(chú, bác, cô, cậu, dì…) không để tang cho bậc hậu sinh. Điều này mang nặng 4
tính tôn ti của tư tưởng Nho giáo, nó đối lập hẳn với quan niệm tử vi thần
(死為神, chết trở thành thần) của người Việt. Tuy nhiên nếu đúng theo Nho
giáo thì chồng thuộc dương, vợ thuộc âm, âm phụ thuộc dương, nên chỉ vợ để
tang cho chồng mà chồng không để tang cho vợ, nhưng với người Triều Châu
thì chồng vẫn để tang cho vợ. Có lẽ đây là tàn tích của văn hóa Bách Việt còn
lưu lại ở người Triều Châu, bởi theo chúng tôi sự hình thành của nhóm cư dân
này là do sự hòa huyết lâu đời giữa người Hán và người Bách Việt. Trong thời
gian thọ tang, người ta không được mang giày dép, không trang phục đẹp,…
đây rõ ràng là các quy định trong Lễ ký của Nho giáo.

Tang phục của con trai và các cháu trai họ nội nhìn chung là giống nhau,
gồm áo quần may bằng vải sô (áo của con trai và con gái của người mất phải
chắp thêm một mảnh vải vuông cùng chất liệu với tang phục gọi là phụ bản. Ý
nói tang cha mẹ không chỉ để trên đầu mà còn đè nặng trên lưng. Ngoài ra, phụ
bản còn tượng trưng cho chiếc tã lót nên chỉ có trên tang phục của con cái
người quá cố. Thắt lưng bằng dây bố, mũ tang là một mảnh vải vuông và một
vòng thừng bện bằng vải sô. Các thế hệ được phân biệt bằng cách thay đổi màu
ở ba túi trên mũ tang: con trai thì 3 túi với màu trắng, xanh, đỏ; cháu nội màu
đỏ; cháu cố màu xanh dương; chút màu vàng. Con gái, con dâu tang phục giống
cháu nội trai, nhưng con gái mũ tang là một mảnh vải hình chữ nhật may lại ở
một đầu và phải đeo thêm phụ bản; con dâu sử dụng vòng vải trắng chít quanh
đầu. Vợ, chồng, con rể và cháu gái họ nội ở các thế hệ, tang phục gồm khăn
tang là một vòng vải trắng (khăn tang của con rể có một chấm màu đỏ nhưng
được phân biệt với cháu ngoại bằng cách may chấm đỏ lệch về phía trên), quần
bằng vải sô. Các thế hệ thuộc cháu họ ngoại được phân biệt bằng một mảnh vải
hình vuông khác màu (như màu các túi trên mũ tang của cháu họ nội) chắp lên
vòng khăn tang. Gậy đại tang ở người Triều Châu có sự phân biệt giữa tang cha
và tang mẹ. Theo đó, tang cha thì dùng gậy trúc, vì trong tiếng Triều Châu trúc 5
(竹, teẹc) đồng âm với đức (德, teẹc); tang mẹ thì dùng gậy dung thụ (榕樹,
xeèng xìu, cây đa) do đồng âm với thành (誠, xeéng). Như vậy triết lý trong
việc dùng gậy đại tang ở người Triều Châu là phụ đức mẫu thành (父德母誠,
pề téec bóo xéeng).

