
402
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TRUYỀN NGHỀ
TRONG NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU DÙ KÊ, CHÒM – RIÊNG CHÀ PÂY VÀ CHẾ
TÁC MÔ HÌNH MẶT NẠ, NHẠC CỤ KHMER
ThS. Thạch Thị Thanh Loan
150
, TS. Huỳnh Công Tín
151
Tóm tắt
Từ xa xưa, người Khmer ở Nam Bộ có một nền văn hoá độc đáo, đậm đà bản sắc dân
tộc, nổi bật trong số đó là các loại hình nghệ thuật sân khấu, nhạc cụ Khmer. Tất cả đã tạo
nên một sức hút mạnh mẽ, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của người dân. Tuy nhiên, đứng
trước sự bùng nổ của công nghệ thông tin và các loại hình giải trí sôi động, hiện đại, các giá
trị văn hoá truyền thống dần dần bị mai một và rơi vào quên lãng trong đó có thể kể đến nghệ
thuật sân khấu Dù kê, Chòm riêng – chà pây Khmer và các loại hình nhạc cụ, mặt nạ dân gian.
Thực trạng này đòi hỏi chúng ta cần có những giải pháp thiết thực để bảo tồn những giá trị
tốt đẹp của dân tộc. Vì vậy, bài viết này, chúng tôi hướng đến việc phân tích thực trạng về
vấn đề truyền nghề trong sân khấu Dù Kê, Chòm riêng – chà pây và loại hình nhạc cụ, mặt
nạ dân gian. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hướng đến việc bảo tồn và phát triển các loại
hình này.
Từ khoá: Truyền nghề, Dù kê, nhạc cụ Khmer, mặt nạ, Chòm - riêng chà pây
Abstract:
Since ancient times, the Khmer people in the South of Viet Nam have had a unique
culture, imbued with national identity. Salient among those are theatrical art forms and Khmer
musical instruments. These types have created a strong attraction, having a profound impact
on people's lives. However, facing with the recent explosion of information technologies and
the vibrant, modern forms of entertainment, traditional cultural values are gradually fading
and falling into oblivion, including Du ke stage, Chom rieng cha pay, the types of folk musical
instruments and masks. This situation has required us to have practical solutions to preserve
the good values of the nation. Therefore, in this article, we aim to analyze the current situation
of the vocational transmission in Du Ke stage, Chom rieng cha pay, the types of folk musical
instruments and masks. From there, we propose some solutions towards preserving and
developing these types.
Keywords: Vocational transmission, Du ke, Khmer musical instruments, masks, Chom rieng
cha pay
150
Trường Đại học Trà Vinh
151
Trường Đại học Tây Đô

403
I. Mở đầu
Người Khmer là một dân tộc thiểu số, có dân số khá đông sinh sống ở vùng Đồng bằng
sông Cửu Long. Họ sống chủ yếu tập trung ở một số tỉnh như Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang,
Bạc Liêu…Người Khmer có lịch sử lâu đời cùng đời sống văn hoá tinh thần phong phú thể
hiện trong nhiều lĩnh vực văn học, ngôn ngữ, văn hoá, nghệ thuật, âm nhạc. Món ăn tinh thần
không thể thiếu được của người Khmer xưa là nghệ thuật sân khấu Dù kê, Chòm riêng – Chà
pây Khmer.
Bàn về âm nhạc, ai trong số người Khmer xưa cũng đều quen thuộc với các điệu múa
lâm liêu, saravan, rom vong, ….chỉ khi tiếng nhạc vang lên là họ không thể đứng yên mà
nhanh chóng hoà mình vào điệu nhạc ấy, tạo nên không khí rộn ràng. Để làm nên những âm
điệu du dương ấy không thể không kể đến vai trò của nhạc cụ Khmer. Tuy nhiên, thực tế hiện
nay cho thấy, giới trẻ Khmer không còn mặn nồng với nhạc cụ dân gian, không phải ai cũng
đam mê và yêu thích sân khấu Dù kê và nhạc cụ truyền thống Khmer thay vào đó là các điệu
nhạc sôi động, hiện đại phương Tây đã dần dần thay thế các làn điệu truyền thống. Xuất phát
từ thực tế đó, những hình thức truyền nghề và giữ lửa để lưu giữ và phát triển những nét đẹp
truyền thống, khiến chúng không bị mai một theo thời gian là thực sự cần thiết.
II. Nội dung
1. Thực trạng truyền nghề trong nghệ thuật sân khấu Dù kê, Chòm – riêng chà pây
Khmer Nam Bộ
Sân khấu Dù kê Nam Bộ đã tồn tại và phát triển từ hơn 100 năm qua và có ảnh hưởng
sâu rộng trong đời sống tinh thần của người Khmer Nam Bộ. Hiện nay, loại hình nghệ thuật
này đã được Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quyết định công nhận là Di sản văn
hóa phi vật thể quốc gia, theo Quyết định số 2684/QĐ-BVHTTDL, ngày 25/8/2014 của Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố danh sách 19 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia,
trong đó có NTSK Dù Kê. Để bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật này, Trường Đại học
Trà Vinh phối hợp với Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Trà Vinh tổ chức Hội thảo Nghệ
thuật sân khấu Dù kê: 100 năm hình thành và phát triển (1920 – 2020).
Theo tác giả Phạm Tiết Khánh, “Sân khấu Dù kê là loại hình nghệ thuật đặc sắc và độc
đáo của riêng đồng bào Khmer Nam Bộ. Xuất hiện từ những thập niên đầu của thế kỉ XX tại
tinh Sóc Trăng và Trà Vinh, trên cơ sở tiếp biến nghệ thuật sân khấu truyền thống Rô băm
cùng loại hình nghệ thuật sân khấu cải lương Nam Bộ của người Kinh và Hý kịch của người
Hoa, Dù kê Nam Bộ nhanh chóng trở thành hiện tượng nghệ thuật độc đáo, thu hút sự quan
tâm không những của cộng đồng Khmer Nam Bộ mà cả người dân nước bạn Campuchia” [3,
tr 2].
Đây là một hoạt động nhằm đánh dấu kỷ niệm 100 năm nghệ thuật sân khấu Dù kê và
cũng là cơ hội để các nghệ nhân, nghệ sỹ, các nhà văn, nhà khoa học gặp gỡ, giao lưu, trao
đổi thảo luận về sân khấu Dù kê. Tuy nhiên, hội thảo chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, trao đổi,
thảo luận các vấn đề liên quan đến Dù kê nhưng vẫn chưa chú trọng đến việc mở các lớp để
truyền nghề, mở rộng các loại hình sân khấu Dù kê trong quần chúng xuất phát từ nhiều lý do
khách quan như ngân sách, đối tượng người học, giáo viên, cơ sở vật chất…

404
(Nguồn:https://www.tvu.edu.vn/wpcontent/uploads/2020/10/z2142938478270_b6947
4d660583b9757c915311d2857fb-scaled.jpg)
Nói về thực trạng của nghệ thuật sân khấu Dù kê, nghệ sĩ Ưu tú Thúy Hà - Thạch Thị
Hà (Đoàn Nghệ thuật Khmer Ánh Bình Minh – Trà Vinh) còn trăn trở về nghệ thuật biểu diễn
sân khấu Dù Kê ngày càng bị mai một. Những người đi xem các vở Dù kê là những người
già, còn người trẻ không ai thích xem. Nguyên nhân, trong xã hội hiện đại, thế hệ trẻ người
Khmer không còn mặn mà với nghệ thuật biểu diễn sân khấu truyền thống mà thị hiếu của họ
hướng về những loại hình nghệ thuật hiện đại như khiêu vũ, phim điện ảnh, mạng xã hội…
Bên cạnh đó, theo nghệ sĩ Ưu tú Thúy Hà: “Người diễn viên Dù Kê phải có tính kiên
trì vì quá trình tập luyện biểu diễn vở Dù kê vô cùng khó khăn. Hồi xưa, kịch bản được viết
xong rồi phân vai cho diễn viên, những diễn viên chuyên nghiệp thì luyện tập một đến hai
tháng, diễn viên không chuyên muốn tập thành thục phải mất thời gian một đến hai năm.
Trước đây, đạo diễn là người Kinh, sau này mới có người Khmer, đạo diễn rất nghiêm khắc,
nếu diễn viên diễn tập mà diễn sai nhiều lần hay chán nản, thì đạo diễn vẫn bắt buộc diễn viên
không được bỏ vai mà phải cố gắng bằng mọi cách để diễn cho được vai đó. Dù diễn viên rất
ấm ức, nhưng có như vậy thì sau này mới thành công. Ngày nay, ngược lại, đạo diễn luôn cố
gắng tạo điều kiện cho diễn viên trẻ, khi tập luyện, diễn viên trẻ tập lời ca, vũ điệu nếu thấy
không phù hợp thì xin đạo diễn cho thay đổi kịch bản những lời ca, vũ điệu cho phù hợp với
diễn viên và đạo diễn chấp nhận” [2]. Chính vì vậy, ngày nay cách biểu diễn của nghệ sĩ trẻ
và nội dung những tác phẩm Dù kê không còn sâu sắc như ngày xưa. Bởi thế, nghệ sĩ Ưu tú
Thúy Hà khi giảng dạy cho các diễn viên trẻ mới vào Đoàn, bà luôn nhắc nhở họ: “Người
theo nghề biểu diễn Dù Kê phải có niềm đam mê mãnh liệt với sân khấu truyền thống của dân
tộc mình, phải kiên trì luyện tập và diễn hết mình trên sân khấu” [2].
Từ những vấn đề trên có thể nhận định rằng mặc dù những năm gần đây, sân khấu Dù
kê đã được Đảng và Nhà nước quan tâm và có bước khởi sắc hơn trước nhưng chúng ta không
thể phủ nhận một thực trạng là thị hiếu của giới trẻ hiện nay với sân khấu Dù kê không còn
mặn nồng. Vấn đề đào tạo để truyền dạy sân khấu Dù kê vẫn chưa được chú trọng và chưa

405
phổ biến rộng rãi trong quần chúng mà chủ yếu chỉ diễn ra ở các đoàn nghệ thuật biểu diễn
chuyên nghiệp như Đoàn Nghệ thuật Khmer Ánh Bình Minh, Đoàn Nghệ thuật Khmer Bạc
Liêu, Đoàn nghệ thuật Khmer Sóc Trăng nên chưa theo kịp được tốc độ phát triển đương đại
của các loại hình nghệ thuật hiện đại khác. Hơn nữa, đội ngũ sáng tác cho sân khấu Dù kê
hiện nay cũng không còn nhiều. Một số nghệ sỹ, nghệ nhân Dù kê không trụ được với nghề
do không có nhiều suất biểu diễn. Họ chỉ diễn vào một số dịp lễ lớn như Chôl-Chnăm-Thmây,
Sen đôn-ta, Ok-om-bok,…Vì vậy, một số nghệ nhân đã giải nghệ và một số khác nếu còn
gắn bó với nghề thì cũng làm thêm nhiều nghề tay trái để trang trải cuộc sống.
Bên cạnh sân khấu Dù kê, nghệ thuật Chòm-riêng chà pây cũng đang trên bờ vực bị
lãng quên, hiện tại loại hình nghệ thuật này hầu như khá xa lạ với giới trẻ. Chòm-riêng chà
pây dường như vắng bóng trong các buổi biểu diễn vì không có khán giả thưởng thức. Nếu
như sân khấu Dù kê vẫn còn được công chiếu, biểu diễn vào các ngày lễ hội lớn tại các chùa
và các chương trình truyền hình địa phương có người Khmer sinh sống, thỉnh thoảng đâu đó
vẫn có người dân thưởng thức mặc dù không quá mặn mòi thì Chòm-riêng chà pây hầu như
chỉ còn lại trong các phim tư liệu. Cây đàn chà-pây dường như chỉ xuất hiện trong các viện
bảo tàng, các khu triển lãm nhạc cụ Khmer. Hơn nữa, các nghệ nhân, nghệ sỹ truyền nhân
dạy về Chòm-riêng chà pây cũng ngày càng ít dần và ít có truyền nhân thế hệ sau, nếu có
cũng chỉ có các cụ lão niên luôn cố gắng lưu giữ lại những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
Ngày 24.4.2013, Bộ Văn hoá-Thể thao và Du lịch ra quyết định công nhận “Nghệ thuật
Chầm riêng Chà pây” của đồng bào Khmer là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nhận thức
được nguy cơ mai một của Chòm-riêng chà pây Khmer, Trường Đại học Trà Vinh đã mở các
lớp truyền dạy về loại hình nghệ thuật này. Tuy nhiên, lớp học chỉ diễn ra trong một giai đoạn
ngắn trong khuôn khổ dự án và để duy trì được lớp học này không phải là điều dễ dàng. Thực
tế cho thấy, lớp học về nghệ thuật Chòm-riêng chà pây chỉ mở được trong thời gian ngắn do
nằm trong khuôn khổ đề tài với sự tài trợ kinh phí từ nước ngoài rồi sau đó không còn được
tiếp tục. Theo bà Thạch Thị t Linh (Phó Giám đốc Trung tâm phục vụ cộng đồng – Trường
Đại học Trà Vinh) là người đã trực tiếp tổ chức mở các lớp truyền dạy về nghệ thuật chòm
riêng chà pây chia sẻ:
Việc mở lớp Chòm-riêng chà pây nói riêng và các lớp dạy nghề truyền thống Khmer
nói chung chưa được duy trì thực hiện liên tục. Hầu như nó chỉ được thực hiện trong giai đoạn
làm đề tài, dự án. Khi đề tài, dự án kết thúc thì rất khó mở lớp vì thiếu kinh phí, nhân lực, cơ
sở vật chất…Các nguồn kinh phí dự án để mở lớp chủ yếu đến từ các nguồn tài trợ nước
ngoài. Do đó, việc tìm kiếm các dự án để duy trì kinh phí mở lớp là một vấn đề không dễ dàng
[1]. Ngoài ra, việc tìm kiếm nghệ nhân trẻ để nối nghiệp, thực sự yêu thích về nghệ thuật
chòm riêng chà pây cũng ít và hạn chế. Các địa điểm giảng dạy cũng không đầy đủ cơ sở vật
chất, nơi dạy nghề chủ yếu là nhà dân, quy mô thực hiện còn nhỏ lẻ.
2. Thực trạng truyền nghề trong chế tác mô hình nhạc cụ, mặt nạ
Bên cạnh sân khấu Dù kê, Chòm-riêng chà pây, nhạc cụ Khmer là một phần không thể
thiếu trong đời sống văn hoá tinh thần của người Khmer Nam Bộ. Âm thanh của dàn nhạc
Ngũ âm, trống chay-dam, đờn gáo,… luôn hiện diện trong các dịp lễ lớn như Chôl-Chnăm-

406
Thmây, Sen đôn-ta, Ok-om-bok và các dịp trọng đại khác của người Khmer. Nhạc cụ dân
gian cùng gắn bó với người dân Khmer theo những thăng trầm của cuộc sống. Nó hiện diện
mọi lúc, mọi nơi từ gia đình đến chùa chiền, đám hỏi, đám cưới, tang lễ. Tất cả đã tạo nên
một nét đẹp tinh thần không thể thiếu của người Khmer. Hiểu được tầm quan trọng đó, trường
Đại học Trà Vinh hằng năm đều tổ chức chiêu sinh ngành Biểu diễn nhạc cụ truyền thống và
ngành Âm nhạc học để tạo nguồn lực và bồi dưỡng đội ngũ trẻ am hiểu về âm nhạc và nhạc
cụ Khmer. Sinh viên theo học các ngành này sẽ được miễn học phí toàn khoá học đồng thời
được hưởng một số chế độ khác đặc thù mà các ngành tuyển sinh khác không có. Điều đó
cũng là một trong những giải pháp để phát triển nguồn nhân lực trẻ trong việc giữ gìn loại
hình nghệ thuật này. Tuy nhiên, về tình hình nhạc cụ ở địa phương theo kết quả khảo sát sơ
bộ cho thấy, đa số các nhạc cụ dân tộc đều thiếu hoặc bị hư hỏng nhiều. Việc truyền dạy gặp
nhiều khó khăn vì thiếu nhạc cụ, khó tìm được nghệ nhân truyền dạy, cơ sở vật chất, kinh phí
cũng là vấn đề nan giải. Tại Trà Vinh, vấn đề truyền dạy về chế tác mô hình nhạc cụ được
thực hiện do nhóm cán bộ giảng viên Trường Đại học Trà Vinh phối hợp thực hiện tại ấp Ba
Se A, xã Lương Hoà, tỉnh Trà Vinh. Tuy nhiên, tương tự như Chòm-riêng chà pây và Dù kê,
các lớp này cũng chỉ được thực hiện trong một thời gian ngắn và không được duy trì vì các lý
do tương tự như hai loại hình nghệ thuật trên. Ngoài ra, theo bà Thạch Thị t Linh (Phó Giám
đốc Trung tâm phục vụ cộng đồng – Trường Đại học Trà Vinh) cũng chia sẻ, vấn đề đầu ra
cho sản phẩm, giá thành sản phẩm được bán ra thị trường cũng là một vấn đề cần xem xét và
tìm giải pháp để giải quyết. Có như thế, các nghệ nhân và học viên mới có thể duy trì được
hoạt động và tiếp tục duy trì nghề như các ngành kinh doanh khác.
Lớp
chế tác mô hình nhạc cụ tại ấp Ba Se A, xã Lương Hoà, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
(Nguồn: Thạch Thị Út Linh)
Bên cạnh nhạc cụ Khmer, mặt nạ là một trong những đạo cụ không thể thiếu trong các
buổi biểu diễn của người Khmer. Không chỉ trong sân khấu Dù kê, La khôn Ba sắc mà mặt
nạ còn được dùng nhiều trong các điệu múa Chay-dăm, múa chằn,…Tuy nhiên thực tế, không

