
324
GIÁO DỤC NGHỆ THUẬT TRÌNH DIỄN DÂN GIAN
CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TÂY NINH
ThS. Trần Thị Bích Thủy
127
Tóm tắt:
Nghệ thuật trình diễn dân gian (NTTDDG) có thể xem là phương tiện giao tiếp, kết nối
con người và lan tỏa, thâm nhập văn hóa dễ dàng. Nó biểu hiện nhận thức, thẩm mỹ và bản
sắc văn hóa của các cộng đồng dân tộc. Nghệ thuật trình diễn dân gian của cộng đồng các dân
tộc thiểu số Khmer, Chăm, Hoa, Thái, Mường... ở Tây Ninh đa dạng, phong phú và đặc sắc.
Song, với nhiều yếu tố tác động như chiến tranh, sống cộng cư với người Kinh và các cộng
đồng người khác, công nghiệp hóa hiện đại hóa,... đã làm biến đổi ít nhiều, thậm chí có nguy
cơ mai một. Vì vậy, để góp phần nhận diện giá trị, tầm quan trọng của giáo dục văn hóa và
nghệ thuật các dân tộc thiểu số trong hệ thống giáo dục Tây Ninh, nghệ thuật trình diễn dân
gian các dân tộc rất cần được đánh giá thực trạng một cách đầy đủ, chính xác để có chính sách
bảo tồn và phát huy phù hợp nhất trong xã hội đương đại.
Từ khóa: Tây Ninh, nghệ thuật trình diễn dân gian, dân tộc thiểu số.
1. Khái quát nghệ thuật trình diễn dân gian của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh
Tây Ninh, vùng biên viễn ẩn chứa nhiều huyền thoại, huyền bí đầy tâm linh giúp con
người ta an trú tâm hồn khi đến vùng đất này. Đây cũng là nơi nhiều tộc người đến sinh sống
qua nhiều thế hệ như người Kinh, Khmer, Hoa, Chăm, Mường, Thái, Tà Mun... Theo Báo cáo
của Ủy ban Nhân dân tỉnh Tây Ninh, tính đến năm 2022 tỉnh có khoảng 1.188.758 người,
trong đó có 21 dân tộc thiểu số đang sinh sống với 5.551 hộ/ 20.415 người, chiếm 1,73% dân
số. Nhiều nhất là dân tộc Khmer (chiếm 0,78% dân số), chủ yếu tại các huyện Tân Châu, Tân
Biên, Châu Thành, thị xã Hòa Thành, thành phố Tây Ninh và theo Phật giáo, một số ít theo
Đạo Cao Đài. Kế đến là dân tộc Chăm (chiếm 0,38% dân số), sinh sống chủ yếu ở thành phố
Tây Ninh, huyện Tân Châu và huyện Tân Biên, đa số theo Hồi Giáo Islam. Dân tộc Hoa
(chiếm 0,26% dân số), sống chủ yếu ở thành phố Tây Ninh và huyện Gò Dầu, thị xã Trảng
Bàng, thị xã Hòa Thành đa số theo đạo Phật. Ngoài ra còn có người Tà Mun (chiếm 0,15%
dân số) theo đạo Cao Đài và sinh sống tại thành phố Tây Ninh, huyện Dương Minh Châu và
huyện Tân Châu. Các dân tộc khác (Ấn, Mường, Thái, Châu ro, Tày, Nùng,…) sống đan xen
với đồng bào người Kinh.
Chính sự đa dạng tộc người đã làm cho bức tranh nghệ thuật trình diễn dân gian ở Tây
Ninh trở nên đa sắc với nhiều hình thức. NTTDDG hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống
con người, ăn sâu vào tâm thức và trở thành nét văn hóa đặc trưng của mỗi cộng đồng dân
tộc. Nó dễ dàng lan tỏa và thâm nhập trong cộng đồng vì có chức năng như là phương tiện
127
Phân Viện Văn hoá Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh.

325
giao tiếp, kết nối, biểu hiện nhận thức, niềm tin và thẩm mỹ của cộng đồng với chức năng tập
hợp, cung cấp, trao đổi thông tin, kinh nghiệm sản xuất, giải trí trong cộng đồng...
NTTDDG được con người sáng tạo để phục vụ đời sống văn hóa tinh thần cho chính
mình, cho cộng đồng trong sinh hoạt cộng đồng, lễ hội, tín ngưỡng - tôn giáo. Trong quá trình
thực hành, chủ yếu là truyền miệng, mọi người dần chỉnh sửa, nâng cao để các tác phẩm ngày
càng hoàn chỉnh hơn, hấp dẫn hơn, dễ tiếp nhận và lưu truyền hơn. Vì vậy, NTTDDG thường
rất dễ hiểu, gần gũi, sinh động, nhiều dị bản thể hiện sự lạc quan, yêu đời…
NTTDDG của người Khmer đã hình thành và phát triển gắn liền với chiều dài lịch sử của
văn hóa dân tộc. Loại hình nghệ thuật này được duy trì đến nhiều thế hệ với nhiều giai điệu,
ca từ, nhạc cụ, vũ điệu. Đặc biệt, nghệ thuật múa trống Chhay-dăm đã được hình thành và
phát triển ở Tây Ninh hàng trăm năm, thể hiện sự đoàn kết cộng đồng qua những vũ điệu đánh
trống mạnh mẽ của những vũ công nam giới. Nghệ thuật múa trống Chhay-dăm đã được công
nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2014 (Quyết định số 4205/QĐ-
BVHTTDL ngày 19/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).
Người Chăm ở Tây Ninh theo tôn giáo Islam vì vậy giáo luật Islam chi phối gần như
tuyệt đối đến tất cả các mặt trong đời sống cộng đồng. Đấng Allah (Thượng đế) là nơi họ trao
gởi tuyệt đối đức tin suốt một đời người. Họ tuân thủ nghiêm ngặt những quy định về Halal
(điều được phép) và Haram (điều bị cấm). Vì vậy, NTTDDG của người Chăm ở Tây Ninh
mang màu sắc Hồi giáo. Theo Tô Vũ trong “Dân ca Tây Ninh trong kho tàng dân ca Việt
Nam”: Dân ca của người Chăm ở Tây Ninh chịu ảnh hưởng nhạc múa, khúc thức vuông vắn,
câu cú cân đối, phân minh... không thanh điệu, giai điệu một cách rõ nét, thường hay có sự
nhắc đi nhắc lại những âm cùng một độ cao, tạo nên nét nhạc du dương và êm ái. Song, do
thực hiện theo giáo luật nghiêm ngặt, nên NTTDDG của người Chăm ở Tây Ninh rất hạn chế.
Đối với người Hoa, NTTDDG được thực hành trong đời sống thường nhật và trang trọng
trong các dịp lễ tết. Loại hình này rất phong phú và đa dạng như múa lân-sư-rồng, nghệ thuật
sân khấu (hát Quảng, hát Tiều, Kinh kịch, Việt kịch, Quỳnh kịch v.v...) mang đậm tính truyền
miệng, tính tập thể, tính ngẫu hứng và tính biến dị. Nó hấp dẫn bởi có sự kết hợp giữa thi và
nhạc để biểu đạt thế giới nội tâm phong phú. Nhưng NTTDDG của người Hoa ở Tây Ninh có
sự khác biệt với người Hoa ở các tỉnh khác của Nam Bộ, đó là hầu như họ không còn nhớ,
biết và thực hành NTTDDG nữa, kể cả vào các dịp lễ trọng, có chăng là chỉ múa lân ở một
hai hội quán có quy mô lớn ở Tây Ninh như Miếu Thiên Hậu.
NTTDDG của người Thái có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân ca, dân nhạc, dân vũ.
Điệu Xòe Thái, đặc trưng cho dân tộc với những làn điệu của những bài dân ca kết hợp những
điệu múa mềm mại, nhẹ nhàng trong tiếng nhạc của trống, đàn tính tẩu, xóc nhạc dây, cồng
chiêng, khèn bè, khèn môi, sáo… Nghệ thuật Xòe Thái đã trở thành biểu tượng văn hóa nói
chung của cộng đồng người Thái. Vì vậy, Xòe ở Xóm Thái của Tây Ninh dù đã có nhiều thay
đổi, phai nhạt so với nguyên bản thì đây vẫn là món ăn tinh thần, là nét văn hóa đặc trưng của
họ nên được thực hành vào các dịp lễ tết để giữ gìn truyền thống văn hóa cộng đồng. Hiện
nay, NTTDDG của họ đang bị thu hẹp trong vài hộ gia đình..

326
Với người Mường, NTTDDG gắn liền cuộc sống hàng ngày, thể hiện quan niệm và kinh
nghiệm ứng xử trong cuộc sống, gắn liền với phong tục tập quán. Lời ca gần gũi, mộc mạc và
chân tình; giai điệu cùng vũ điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển hòa quyện cùng âm hưởng của các
nhạc cụ dân gian rất hài hòa. Có bốn thể loại chính: hát giao duyên, hát ru, hát trong nghi lễ
và hát kể với mong cầu bản mường ấm no, mùa màng tươi tốt, cuộc sống yên bình, lứa đôi
hạnh phúc, giữ gìn phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc.
Nhìn chung, NTTDDG của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh rất đa dạng, phong phú và
đặc sắc. Tuy nhiên, phần lớn đang có nguy cơ bị mai một vì rất nhiều lý do. Vì vậy, loại hình
này rất cần được bảo tồn, phát huy trong xã hội đương đại.
2. Thực trạng giáo dục nghệ thuật trình diễn dân gian của các dân tộc thiểu số ở
Tây Ninh
NTTDDG của các dân tộc là những sản phẩm văn hóa độc đáo, là cơ sở nhận diện biểu
hiện đặc trưng, bản sắc văn hóa của từng dân tộc. Theo dòng chảy lịch sử, có những dân tộc
còn thực hành, lưu giữ và phát huy, bên cạnh đó vẫn có vài dân tộc khó lưu truyền cho thế hệ
sau vì nhiều lý do nội sinh và ngoại sinh.
Trong phạm vi bài viết này, giáo dục nghệ thuật trình diễn dân gian được hiểu là việc
truyền dạy cho các thế hệ sau để thực hành, lưu giữ nghệ thuật trình diễn dân gian cũng như
bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh.
2.1. Nghệ thuật trình diễn dân gian của người Khmer
NTTDDG của người Khmer vừa đậm tính dân gian vừa mang dấu ấn Phật giáo Nam
tông đậm đặc. Đây là kết quả sáng tạo nghệ thuật của nhiều thế hệ người dân Khmer. Sản
phẩm mang giai điệu sôi nổi, tươi vui toát lên không khí lạc quan, có thể thực hành mọi lúc
mọi nơi trong sinh hoạt, lao động, nghi lễ với hàng trăm làn điệu khác nhau, như điệu Ru con
(Bompêkôn), múa Rom Vong, múa lối Saravan (Rom Saravan), trong đó có điệu hát đối đáp
giao duyên rất nổi tiếng là điệu Ayai. Các điệu múa, hát vẫn được lưu truyền từ thế hệ này
qua thế hệ khác, được người dân tiếp tục gìn giữ và phát huy cho tới hôm nay. Nhạc khí có 4
loại gồm nhạc khí dây, nhạc khí thổi hơi, nhạc khí màng rung và tự thân vang. Hiện tại, người
Khmer chỉ còn nhớ 12 bài dân ca. Các chùa Khmer vẫn còn dàn nhạc ngũ âm (Rôneat Ek,
Rôneat Thung, Rôneat Đek, Kôông Vông Tôch, Kôông Vông Thum, Sko Sam phô, Sko
Thum, Srolay Pưnpét, Chhưng), dàn nhạc A-răk tế thần (Say Điêu, Pây O, Pây Puôc, Sko
Đay), dàn nhạc lễ cưới (Truô Khmer, Chapey Chom Riêng, Pây O, Sko Đay) và dàn nhạc
phục vụ tang lễ (Sko Thum, Sko Đay, Pây O, Truô U, Truô Sô, Khưm Tôch, Tà Khê)
128
.
NTTDDG chủ yếu lưu truyền bằng hình thức truyền khẩu qua nhiều thế hệ. Nhưng hiện
nay đang có nguy cơ bị mai một vì sự thịnh hành của các trào lưu âm nhạc hiện đại, nhiều
nhạc cụ, bài hát bị thất truyền, những người từng thực hành thì đã quá già nên không còn nhớ
nhiều và chưa sưu tầm lại được. Các dàn nhạc có vai trò quan trọng trong các lễ nghi, lễ hội
128
Tư liệu điền dã và Báo cáo kiểm kê “Dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
năm 2023”

327
truyền thống của dân tộc. Song số lượng người sử dụng trong các dàn nhạc thường thay đổi
do ít người sử dụng được bài bản hoặc hoặc không đủ người biết chơi nhạc cụ.
Riêng điệu múa trống Chhay-dăm là múa dân gian đã tồn tại và phát triển hàng trăm năm
trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Trước đây được Đức Hộ Pháp cho phép Hội Thánh Cao Đài phải
giữ gìn lưu lại để nhớ đến đóng góp của người Khmer từ những ngày đầu xây dựng Tòa Thánh
Tây Ninh. Vì vậy, điệu múa này vẫn được lưu truyền, phát triển đến ngày nay và được công
nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2014.
Nhìn chung, NTTDDG vẫn còn bảo lưu và thực hành, song do trải qua chiến tranh nên
rất nhiều chùa Khmer ở Tây Ninh đã bị phá hủy, nhiều nghệ nhân đã qua đời, thế hệ tiếp nối
ít, sự tác động của kinh tế thị trường... nên các loại hình NTTDDG cũng đã bị mất đi khá
nhiều và đang có nguy cơ bị mai một. Nhưng khoảng từ năm năm trở lại đây, tại một số chùa
đã chú trọng giảng dạy cho lớp trẻ học đánh dàn ngũ âm, như ở chùa Kiri Sattray Meanchey
- Kà Ốt (xã Tân Đông, huyện Tân Châu), đưa nghệ thuật Rô Băm trở lại với phum sóc, biểu
diễn tại chùa, mà bước đi đầu là nghệ thuật Múa Chằn - Rô băm Yeak roăm. Đây chính là sự
ý thức, tâm huyết và cố gắng rất lớn của các vị sư sãi, acha với mong muốn khôi phục, duy
trì và phát triển NTTDDG cũng như bản sắc văn hóa dân tộc mình. Vì vậy cần phải có biện
pháp khôi phục, giữ gìn và phát triển nó từ nội tại chính cộng đồng và sự quan tâm của chính
quyền địa phương một cái thống nhất, hài hòa đem lại hiệu quả lớn nhất.
2.2. Nghệ thuật trình diễn dân gian của người Chăm
Giáo lý của Hồi giáo Islam của người Chăm ở Tây Ninh đã ảnh hưởng rất lớn trong việc
thực hành và lưu giữ NTTDDG. Trước đây, họ còn thực hành NTTDDG ngoài khuôn viên
thánh đường, nhưng khoảng 10 năm trở lại đây, họ cực kỳ hạn chế thực hành trình diễn dân
gian trong sinh hoạt cộng đồng, mà chỉ có vài cá thể thực hiện trong phạm vi gia đình, đám
cưới một cách ngẫu hứng, không công khai vì giáo cả không cho phép đàn hát nhảy múa để
không ảnh hưởng đến giáo luật. “Đối với người Islam giáo, trong Kinh Qur’an không cấm hát
hay chơi nhạc, mà còn khuyến khích chơi trống tạo ra tiết tấu đệm cho hát từ những lời trong
Kinh Qur’an. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của trào lưu cách tân tôn giáo, một bộ phận người
Chăm chịu ảnh hưởng tư tưởng nên đã hạn chế tối đa các sinh hoạt văn nghệ trong thực hành
tôn giáo. Do đó, người Chăm Tây Ninh giờ không hát trong các lễ cầu nguyện, họ chỉ hát
trong dịp đám cưới, lao động hay ru con (khác với người Chăm Ninh Thuận chỉ hát góp vui,
không sử dụng nhạc khí trong đám cưới)”
129
. Vì vậy, nhiều bài hát, điệu múa mang tính truyền
thống dần không còn người nhớ.
Theo kết quả kiểm kê của tỉnh 2023, người Chăm ở Tây Ninh có 15 bài dân ca được
thực hành trong sinh hoạt hằng ngày, không có sử dụng trống Rebana (như ở An Giang) mà
chỉ sử dụng trống Tum. Ngoài yếu tố tác động của sự nghiêm ngặt về giáo luật Islam, thì đời
sống kinh tế và việc sinh sống cộng cư, giao lưu văn hóa với các tộc người khác, cùng với thế
hệ biết ca hát, đàn múa ngày càng lớn tuổi và thưa dần, nên việc giáo dục để lưu truyền
NTTDDG của người Chăm ở Tây Ninh đang có xu hướng ngày dần mai một.
129
Báo cáo kiểm kê “Dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2023”

328
Hiện nay, một số trường học ở huyện Tân Châu, đã có đội văn nghệ có con em người
Chăm để giao lưu văn nghệ ngày hội văn hóa các dân tộc thiểu số. Việc thực hành NTTDDG
ở huyện này đã dần được cởi mở hơn và công tác truyền dạy đã được quan tâm, chú trọng.
2.3. Nghệ thuật trình diễn dân gian của người Hoa
NTTDDG người Hoa Tây Ninh được lưu truyền bằng phương thức truyền miệng và chịu
ảnh hưởng theo sự thăng trầm của đời sống con người. Yếu tố lịch sử, di dân, cộng cư lâu dài
với các dân tộc khác, nhất là người Kinh cùng với xã hội phát triển hiện đại... đã tác động lớn
đến vấn đề thực hành NTTDDG của họ.
Trước đây, nghệ thuật diễn xướng dân gian được chú trọng và thực hành gắn liền với
sinh hoạt, lao động, tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa. Nhưng trải qua thăng trầm lịch sử,
hiện nay người Hoa ở đây chủ yếu là thế hệ thứ 3 đến thứ 5, hầu như họ chỉ sử dụng tiếng
Việt nên không còn nhớ và ít sinh hoạt NTTDDG truyền thống của mình. Nghệ thuật hát Tiều,
hát Quảng, Quỳnh kịch vốn là loại hình nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa dân ca - dân nhạc -
dân vũ độc đáo của người Hoa; múa lân-sư-rồng không còn thường xuyên, chỉ hoạt động vào
dịp tết Nguyên đán và lễ vía (đoàn lân-sư-rồng tự đến hoặc nếu miếu có kinh phí thì mướn
đoàn lân -sư - rồng về phục vụ), v.v... Duy chỉ có Thiên Hậu Miếu mời dàn nhạc lễ của Khánh
Vân Nam Viện ở Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nhạc lễ trong các dịp lễ vía, lễ hội từ
năm 1995 đến nay; song bản thân người Hoa ở Tây Ninh vẫn không tự thực hiện được.
Hiện nay, người Hoa ở Trảng Bàng (miếu Nhị Phủ) và thành phố Tây Ninh (miếu Bà
Thiên Hậu) đang được dạy và học tiếng Hoa, song việc giáo dục về NTTDDG không được
quan tâm như các địa phương khác như Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ,... Đây cũng là
yếu tố quan trọng khiến NTTDDG của người Hoa dần mất đi và khó khăn trong việc khôi
phục. Điều này được thể hiện qua bảng khảo sát trong quá trình thực hiện kiểm kê về dân ca
- dân nhạc - dân vũ của cộng đồng Hoa năm 2023.
Tần
số
Tỷ lệ
Tỷ lệ
hợp lệ
Mức độ nhớ của ông/bà về các
bài dân ca truyền thống mà
ông/bà đang thực hành hoặc
truyền dạy của dân tộc mình?
Không nhớ bài dân ca nào
17
68.0%
68.0%
Nhớ khoảng 5 tên bài dân ca
độ lại
6
24.0%
24.0%
Nhớ từ 5 bài dân ca trở lên
2
8.0%
8.0%
Tổng cộng
50
100%
100%
Tần số
Tỷ lệ
Tỷ lệ hợp lệ
Ông/bà cho biết mức độ
bảo lưu loại hình dân ca
trong cộng đồng tộc
người (Hoa) hiện nay?
Không còn thực hành
(nhưng còn người hiểu biết
9
36.0%
36.0%
Đã hoàn toàn mai một
16
64.0%
64.0%
Tổng cộng
25
100%
100%

