
251
Ý NIỆM CƯƠNG THƯỜNG, TIỀN TÀI
TRONG TƯ DUY, VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIỆT NAM BỘ
(Qua cứ liệu ca dao Nam Bộ)
TS. Đào Duy Tùng
57
, TS. Lê Việt Đoàn2, Ngô Bảo Tín3
TÓM TẮT
“Cương thường” là ý niệm trừu tượng và khó hiểu được tri nhận trên cơ sở ý niệm
“thực thể” (hình dáng, trọng lượng) có tính cụ thể và dễ hiểu hơn. Ý niệm “thực thể” (hình
dáng, trọng lượng) được biểu hiện ở hai thuộc tính có tính lưỡng cực và lưỡng trị, có sắc thái
đánh giá tích cực - tiêu cực. Trong đó, các biểu hiện của ý niệm “cương thường” được tri
nhận qua thuộc tính “tròn, toàn vẹn” hay “trọng, nặng”, có nghĩa tích cực; trái lại, các thuộc
tính “không tròn, thiếu” hay “khinh, nhẹ”, có nghĩa tiêu cực. Ý niệm “tiền tài” tuy có tính cụ
thể nhưng đặt trong quan hệ đối sánh với “cương thường” thì “tiền tài” được tri nhận qua ý
niệm “trọng lượng”, “sự vận động” và có sắc thái đánh giá tiêu cực. Qua các biểu thức ngôn
ngữ mang tính ẩn dụ từ cứ liệu ca dao Nam Bộ, bài viết phân tích, làm rõ các biểu hiện của
ý niệm “cương thường” và ý niệm “tiền tài” để hiểu thêm về cách tư duy, văn hóa của người
Việt Nam Bộ.
Từ khóa: ca dao Nam Bộ, cương thường, tiền tài, tư duy, ý niệm, văn hóa.
ABSTRACT
The concepts of “three bonds and five constants” and “money” in the Thinking and
Culture of Southern Vietnamese People
(Based on the Data of Folk Verses in the Southern Vietnam)
“Three bonds and five constants” is an abstract and complex concept that is perceived
based on the concept of “entity” (shape, weight), which is more concrete and easier to
understand. The concept of “entity” (shape, weight) is manifested through two attributes with
bipolarity and duality, having positive and negative evaluation nuances. In which the
manifestations of the concept of “three bonds and five constants” are perceived through the
attributes of “round, complete” or “heavy, weighty,” which have positive meanings; on the
contrary, the attributes of “not round, lacking” or “light, weightless”, have negative
meanings. The concept of “money”, although concrete, when placed in a comparative
relationship with “three bonds and five constants”, is perceived through the concepts of
“weight”, “movement”, and has negative evaluation nuances. Through metaphorical
language expressions from the corpus of folk verses in the Southern Vietnam, the article
analyzes and clarifies the manifestations of the concepts of “three bonds and five constants”
and “money” to gain a deeper understanding of the way of thinking and culture of the
Southern Vietnamese people.
57
() (2) Khoa KHXH&NV, Đại học Cần Thơ.
(3) Học viên Cao học, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.

252
Keywords: Southern Vietnam’s folk verses, three bonds and five constants, money,
thinking, concept, culture.
1. Dẫn nhập
1.1. G. Lakoff và M. Johnson cho rằng “chúng ta sống bằng ý niệm” (concepts we live
by) (Lakoff - Johnson, 1980: 3). Ý niệm chi phối cách chúng ta trải nghiệm thế giới, cách
chúng ta suy nghĩ, cách chúng ta hành động và cách chúng ta liên hệ với người khác (Lakoff
- Johnson 1980: 3; Kövecses, 2002: 63). Do đó, hệ thống ý niệm đóng một vai trò trung tâm
trong việc minh định thực tại. G. Lakoff và M. Johnson cho rằng: “Nếu chúng tôi đúng trong
việc đề xuất rằng hệ thống ý niệm của chúng ta phần lớn là có tính ẩn dụ, vậy thì cách chúng
ta suy nghĩ, điều chúng ta trải nghiệm và làm hàng ngày thực sự là một vấn đề của ẩn dụ”
(Lakoff - Johnson, 1980: 3); và “bản chất của ẩn dụ là hiểu và trải nghiệm một loại sự vật trên
cơ sở một loại sự vật khác” “Lakoff - Johnson, 1980: 5). Dựa trên cơ sở ngôn ngữ, G. Lakoff
và M. Johnson cho rằng hầu hết hệ thống ý niệm thông thường của chúng ta về bản chất là có
tính ẩn dụ và được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm của chúng ta. Nghĩa là, các ý niệm có
cơ sở ở sự tương tác thường xuyên giữa chúng ta với môi trường vật chất và văn hóa của
chúng ta. Trên cơ sở đó, các ý niệm về đối tượng không dựa trên tính chất khách quan, thuộc
tính cố hữu của đối tượng, mà dựa trên các thuộc tính tương tác.
1.2. Ý niệm “cương thường”, “tiền tài” là những ý niệm không thể thiếu trong cuộc
sống, nói cách khác, chúng ta sống bằng những ý niệm có tính văn hóa này vì chúng đã kiến
tạo các quy chuẩn đạo đức, ứng xử, hoạt động của chúng ta. Trong tư duy, văn hóa Nam Bộ
nói riêng, văn hóa của người Việt nói chung, cặp ý niệm “cương thường”, “tiền tài” thường
được hiểu một cách ẩn dụ trên cơ sở ý niệm thực thể (hình dáng, trọng lượng), sự vận động.
Trong đó, ý niệm thực thể (hình dáng, trọng lượng) thể hiện ở thuộc tính tròn, trọn, vuông,
vuông tròn, nguyên vẹn, toàn vẹn,… mang nghĩa đánh giá tích cực (positive evaluation); trái
lại, thể hiện ở thuộc tính không tròn, thiếu,… mang nghĩa đánh giá tiêu cực (negative
evaluation). Trong tương quan “cương thường” (biểu hiện ở “nghĩa”, “nhân nghĩa”) - “tiền
tài”, thì “cương thường” được hiểu trên cơ sở ý niệm trọng lượng, sự vận động, biểu hiện ở
thuộc tính trọng (nặng), vững chắc (không đổi dời), có nghĩa tích cực; “tiền tài” được hiểu
trên cơ sở ý niệm trọng lượng, sự vận động, biểu hiện ở thuộc tính đổi dời, không trọng (nhẹ,
khinh), có nghĩa tiêu cực. Từ cứ liệu ca dao Nam Bộ, bài viết phân tích ý niệm “cương
thường”, “tiền tài” thể hiện qua các biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ để góp phần hiểu
hơn tư duy, văn hóa của người Việt Nam Bộ.
2. Khái quát về ý niệm, ý niệm “cương thường”, “tiền tài” trong Nho gia và trong
cách hiểu của người Việt
2.1. Ý niệm có quan hệ mật thiết với phạm trù. Theo các quan điểm trước đây thì
“phạm trù được định nghĩa là một tập hợp của các đặc tính chung khách quan của các thành
viên và chỉ những thành viên trong phạm trù mới có những đặc trưng đó, có biên giới rõ ràng”
(Phương, 2011: 71). Hiện nay, các nhà tri nhận luận không hoàn toàn đồng ý với định nghĩa
này. Bởi lẽ, “tuy có những phạm trù phù hợp với mô hình phạm trù cổ điển, nhưng đa phần
các phạm trù được xây dựng xoay quanh điển dạng, là cấu trúc dạng phức xạ với ranh giới

253
mơ hồ mang tính thân tộc, bởi thuộc tính của các thành viên không hoàn toàn bắt nguồn từ sự
vật khách quan mà có liên hệ đến cấu trúc tri nhận và lý giải, ví dụ sơ đồ gestalt, ý tưởng, ẩn
dụ, hoán dụ....” (Phương, 2011: 71). Như vậy, các phạm trù dựa trên nền tảng là cấu trúc tri
nhận của con người chứ không phải là sự đối ứng trực tiếp với thế giới bên ngoài. “Các ý
niệm được hình thành trên cơ sở đó không thể được định nghĩa bằng mối quan hệ trực tiếp
với thế giới khách quan mà dựa trên tri giác, khả năng vận động cơ thể và năng lực tri nhận
của con người. Vì vậy, ý nghĩa của các ký hiệu ngôn ngữ đại diện cho một phạm trù tri nhận
và một phạm trù ngữ nghĩa có mối quan hệ tương hỗ với nhau, vì thế nó mang tính chất động
và khả biến.” (Phương, 2011: 72)
2.2. “Tam cương ngũ thường” (三纲五常) và “tam tòng tứ đức” (三从四德) vốn là
những khái niệm nằm trong hệ thống văn hóa Nho gia, giúp con người có được sự tu tâm
dưỡng tính, đặt ra những nguyên tắc cơ bản của cuộc sống, duy trì sự vận hành xã hội ổn định,
phát triển. (观心, 2011)
Tam cương (三纲) là chỉ về “quân vi thần cương” (君为臣纲), “phụ vi tử cương” (父
为子纲), “phu vi thê cương” (夫为妻纲). Ba nguyên tắc này là nền tảng của đạo đức con
người, và chúng cũng là ý thức chung của các xã hội chính thống trên khắp thế giới, được thể
hiện trong tất cả các cấp độ của xã hội Trung Quốc và phương Tây. “Ngũ thường” (五常) là
nói đến sự tu dưỡng của năm phương diện trong cuộc sống thường nhật là: Nhân (仁), nghĩa
(义), lễ (礼), trí (智), tín (信). “Đây là một bộ học thuyết rất hợp lý và khoa học, phục vụ xã
hội, hoàn thiện phẩm hạnh và nâng cao đạo đức con người, là phương pháp tu dưỡng của bậc
chính nhân quân tử có phẩm chất đạo đức.” (观心, 2011)
2.3. Trong Dictionarium Anamitico-Latinum (Nam Việt Dương Hiệp Tự Vị - 南越洋
合字彙 ), Jean-Louis Taberd giải thích “cang thường” là “năm đức tính cốt yếu” (quinque
virtutes cardinales) (Taberd, 1838: 44). Tương tự, trong Dictionnaire annamite - français (Tự
vị An Nam - Pha Lang Sa), Marie-Antoine Louis Caspar cũng cho rằng “cang thường” là “các
đức tính cốt yếu” (Les vertus cardinales). (Caspar, 1877: 80)
Trong Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, Huình-Tịnh Paulus Của giải thích “cang thường” là
“lẽ hằng, chính phép buộc ở đời”. (Của, 1885: 100)
Còn theo Đào Duy Anh, “cương thường” (綱常) gồm “tam cương và ngũ thường”
(Anh, 2005: 119). “Tam cương” được giải thích là: “Ba mối: vua tôi, cha con, vợ chồng”
(Anh, sđd: 658). “Ngũ thường” được giải thích: “Năm đức tính của người ta là: nhân, nghĩa,
lễ, trí tín”. (Anh, sđd: 515)
Trong Tầm nguyên từ điển, Từ điển Hán Việt từ nguyên, Bửu Kế lý giải “cương
thường” (綱常) là “do chữ tam cương và ngũ thường. Cương: Cái dây lớn ở cái lưới, điều cốt
yếu. Tam cương: Giềng mối giữa vua tôi, cha con, vợ chồng; Thường: Đức tính thông thường,
quen thuộc của con người. Ngũ thường gồm: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

254
Ví dụ: Rằng cương thường nặng núi non. (Hoa tiên) (Kế, 2005: 108; 2007: 315)
Hoàng Phê (Chủ biên) cũng giải thích tương tự. “Cương thường” là “tam cương và
ngũ thường (nói tắt); những nguyên tắc đạo đức phong kiến theo quan điểm nho giáo (nói
tổng quát). (Phê (Cb), 1988: 233). “Tam cương” là “ba quan hệ cơ bản: vua - tôi, cha - con,
chồng - vợ trong hệ thống đạo đức của nho giáo (nói tổng quát).” (Phê (Cb), sđd: 886). “Ngũ
thường” là “năm đức tính trong hệ thống đạo đức của nho giáo: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín (nói
tổng quát).” (Phê (Cb), sđd: 691)
Như vậy, “tam cương” và “ngũ thường” được gọi tắt là “cương thường” (cang thường).
“Tam cương” gồm ba giềng mối là vua - tôi, cha - con, chồng - vợ. “Ngũ thường” gồm năm
đức tính cốt yếu của con người: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
3. Ý niệm “cương thường” trong tư duy, văn hóa của người Việt Nam Bộ
Như đã đề cập, “cương thường” gồm “tam cương” và “ngũ thường”. Tuy nhiên, trong
CDNB, “tam cương” được biểu hiện chủ yếu ở giềng mối thứ hai là con cái - cha mẹ và giềng
mối thứ ba là vợ - chồng; còn “ngũ thường” được biểu hiện ở hai đức tính cốt yếu là nhân và
nghĩa. Trong đó, nhân và nghĩa vừa là hai đức tính tốt đẹp của con người trong “ngũ thường”,
vừa bao trùm lên các quan hệ ứng xử gia đình - xã hội (tam cương), mà đáng chú ý nhất là
hai mối quan hệ con cái - cha mẹ, vợ - chồng. Con cái phụng dưỡng, vâng lời, tôn kính, phụng
thờ cha mẹ được gọi là hiếu trung/hiếu nghĩa; vợ chồng chung sống, đối đãi với nhau có trước
có sau được gọi là nhân nghĩa. Rộng hơn, nhân nghĩa còn được hiểu là ứng xử trong các mối
quan hệ con cái - cha mẹ, vợ - chồng hay người với người nói chung.
“Cương thường” trong CDNB có sự tiếp biến sáng tạo, linh hoạt, và được tri nhận trên
cơ sở ý niệm thực thể (hình dáng, trọng lượng), sự vận động, thể hiện ở hai cặp thuộc tính
đối lập, có giá trị lưỡng cực là tròn, trọn, vuông tròn, toàn vẹn - không tròn, thiếu và trọng,
nặng - nhẹ, khinh, qua các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ như: giữ trọn ba giềng, giữ trọn đạo ba,
trọn đạo ba, trọn tho, trọn nghĩa, nhân nghĩa vuông tròn, nhơn ngãi vẹn toàn, ngãi nhân
như bát nước đầy, tròn hiếu trung, trọn bề hiếu trung, tròn nghĩa con,… làm dâu không tròn,
thiếu chữ tình,…; nghĩa trọng tợ thiên kim, công sanh thành là nặng, tiền tài không trọng
mấy, điều tình ái là khinh,… Do đó, chúng tôi không phân tích theo tuần tự ba giềng mối và
năm đức tính, mà phân tích trên cơ sở các thuộc tích có tính lưỡng cực và lưỡng trị của thực
thể (hình dáng, trọng lượng), sự vận động. Dưới đây là một số biểu hiện nổi trội của ý niệm
“cương thường” trong tư duy, văn hóa của người Việt Nam Bộ.
3.1. Các biểu hiện của ý niệm “cương thường” được tri nhận qua ý niệm thực thể
có thuộc tính tròn, trọn, vuông tròn, toàn vẹn và có nghĩa tích cực
3.1.1. Ý niệm “tam cương” được Nam Bộ hóa là ba giềng, đạo ba:
(1) Làm trai giữ trọn ba giềng,
Tho cha, ngay chúa, vợ hiền chớ vong. (49LT)
(2) Làm sao giữ trọn đạo ba,
Sau dầu có thác cũng là thơm danh. (493NB)

255
(3) Cùng nhau cho trọn đạo ba,
Thà là lìa thác, chẳng thà lìa sinh. (83LT)
Dễ thấy, trong tư duy, văn hóa của người Việt, vật thể nguyên vẹn (trọn vẹn, toàn vẹn)
thường đem lại cảm giác hài lòng, an tâm, tin tưởng và mang ý nghĩa về sự hoàn chỉnh, bền
vững, tốt đẹp nên có giá trị tích cực. Trong mô thức đó, ở các bài CDNB trên, ý niệm ba
giềng, đạo ba được hiểu trên cơ sở ý niệm thực thể trọn vẹn (toàn vẹn), có giá trị tích cực,
biểu hiện qua các biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ là giữ trọn ba giềng (1), giữ trọn đạo
ba (2), trọn đạo ba (3).
3.1.2. Ý niệm “cương thường” được biểu hiện ở chữ tho - đề cao đạo hiếu, coi đây là
một trong những đạo đức quan trọng nhất của con người; chữ nghĩa - khuyên con người phải
sống có đạo đức, biết ơn, báo đáp công ơn và luôn ý thức hoàn thành trách nhiệm.
(4) Dốc lòng tr nợ áo cơm,
Sống cho trọn thảo, thác thơm nhân hiền. (486NB)
(5) Dốc lòng tr nợ áo cơm,
Sống cho trọn nghĩa, thác thơm nhân hiền. (479CL)
Tương tự bài CDNB (1) - (3) ở trên, ý niệm “cương thường” được biểu hiện ở chữ
tho, nghĩa cũng có tính trừu tượng và được hiểu trên cơ sở ý niệm có tính vật chất, qua biểu
thức ngôn ngữ ẩn dụ trọn tho (4), trọn nghĩa (5).
3.1.3. Ý niệm “cương thường” được biểu hiện ở hiếu trung, đạo (con), nghĩa (con), chỉ
sự hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.
(6) Đói lòng ăn bát cháo môn,
Để cơm nuôi mẹ cho tròn hiếu trung. (463NB)
(7) Nên thì lập kiểng trồng hoa,
Chẳng nên đá kiểng trồng cà dái dê.
Chẳng nên thiếp trở lộn về,
Dưỡng nuôi từ mẫu, trọn bề hiếu trung. (437CL)
(8) Ơn hoài thai như biển,
Ngãi dưỡng dục tợ sông,
Em nguyền ở vậy không chồng,
Lo nuôi cha mẹ hết lòng đạo con. (469NB)
(9) Khó nghèo củi núi rau non,
Nuôi cha nuôi mẹ cho tròn nghĩa con. (465NB)
Hiếu trung trong các bài CDNB trên được hiểu trên cơ sở các thực thể trọn vẹn (toàn
vẹn), qua biểu thức tròn hiếu trung (6), tròn nghĩa con (9), hay không gian trọn bề hiếu trung

