229
VAI TRÒ CA GIÁO DỤC VĂN HOÁ VÀ NGHỆ THUT DÂN TC TRONG
VIC PHÁT TRIN DU LCH CỘNG ĐỒNG CỦA NGƯỜI KHMER
TNH AN GIANG
ThS. Nguyn Viết Phan
51
Người Khmer là tộc người sinh sống lâu năm ở tỉnh An Giang bên cạnh các tộc người
Việt, Hoa, Chăm. Tại tỉnh An Giang, người Khmer chủ yếu phân bố By Núi thuộc Thị
Tịnh Biên huyện Tri Tôn. Người Khmer By Núi có nhiều loại hình văn hoá nghệ thuật
biểu diễn đặc sắc như: các điệu múa, ca hát, âm nhạc dân gian, nghệ thuật sân khấu. Trong
những năm gần đây, với việc phát triển mạnh mẽ du lịch địa phương trong đó có hoạt động
du lịch cộng đồng thì các loại hình văn hoá nghệ thuật này trở thành những phẩm du lịch đặc
thù thu hút nhiều nhiều du khách. Để phát triển bền vững du lịch tại địa phương, Nhà nước
cần có những chính sách, gii pháp phù hợp trong việc sử dụng, khai thác hợp lý các nguồn
tài nguyên du lịch văn hóa đồng thời phát huy được các giá trị văn hóa truyền thống của tộc
người Khmer nơi đây.
Từ khóa: văn hoá, nghệ thuật, người Khmer, du lịch.
Abstract
THE ROLE OF ETHNIC ARTS AND CULTURAL EDUCATION IN THE
DEVELOPMENT OF KHMER COMMUNITY TOURISM IN AN GIANG
PROVINCE
Khmer people as well as the Vietnamese, Chinese, and Cham ethnic groups is a long-
lived resident in An Giang province. Khmer people are mainly distributed in Seven Mountain
in Tinh Bien Town and Tri Ton district in An Giang province. Khmer people living here have
many unique forms of performing arts and culture such as dancing, singing, folk music,
theater art. In recent years, with the strong development of local tourism, including
community tourism, these forms of culture and art have become unique tourism products
attracting many tourists. In order to sustainably develop tourism in the locality, the State
needs to adopt appropriate policies and solutions in the rational use and exploitation of
cultural tourism resources while promoting the traditional cultural values of the Khmer
ethnic group here.
Keywords: culture, art, Khmer, tourism.
Mở đầu
Người Khmer sống rải rác ở các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) như:
An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang… Ở tỉnh An Giang, người Khmer tập trung chủ
yếu sống ở vùng Bảy Núi thuộc Thị xã Tịnh Biên và huyện Tri Tôn. Trong cuộc tổng điều tra
51
. Đại hc Nguyn Tt Thành.
230
dân số năm 2019, thì người Khmer 18.512 hộ, 86.592 người, chiếm t lệ 75,54% so tổng
số người dân tộc thiểu số chiếm 3,9% so tổng dân số toàn tỉnh An Giang. Riêng khu vực
Bảy Núi trong đó có 16.838 hộ với dân số khoảng 80.000 người (chiếm gần 94% tổng số dân
tộc Khmer toàn tỉnh)
52
. Bảy Núi một địa danh nổi tiếng nổi tiếng còn một vị trí quan
trọng trong sự phát triển của ngành du lịch tỉnh An Giang. Người Khmer ở đây đã từng bước
hòa nhập vào các hoạt động du lịch. Trước sự phát triển mạnh mẽ của du lịch địa phương cư
dân Khmer vùng Bảy Núi đã dần tham gia tích cực vào lĩnh vực kinh tế trọng điểm này. Đến
với khu vực Bảy Núi, du khách không chỉ được thưởng ngoạn cảnh đẹp hùng vĩ của núi rừng,
ngắm những nét kiến trúc độc đáo của các ngôi chùa Khmer n được m hiểu về cuộc
sống, không gian sống của người dân Khmer và thưởng thức những đặc sản đặc trưng của nơi
đây. Ngoài ra, du khách còn được phục vụ hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống của
người Khmer. Các công ty du lịch sẽ thuê câu lạc bộ biểu diễn nghệ thuật truyền thống cho
du khách, họ trình diễn nhạc ngũ âm, nghệ thuật sân khấu Dù kê và múa hát dân gian. Trong
những năm gần đây, tỉnh An Giang đã những chính sách nhằm đẩy mạnh công tác giáo
dục văn hoá và nghệ thuật dân tộc trong phát triển du lịch coi đây là một trong những nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu, tạo nền tảng để “ngành công nghiệp không khói” phát triển mạnh mẽ
bền vững, mang lại nhiều lợi ích về thu nhập, việc làm phát triển kinh tế - hội địa
phương.
1. Loại hình nghệ thuật tiêu biểu của người Khmer ở Bảy Núi, An Giang
Người Khmer ở Bảy Núi có nhiều loại hình văn hoá nghệ thuật biểu diễn đặc sắc như:
các điệu múa, ca hát, âm nhạc dân gian, nghệ thuật sân khấu. Âm nhạc Khmer thường không
tách rời sinh hoạt ca múa sân khấu. Dân ca, lễ nhạc người Khmer rất đa dạng phong
phú: từ lối độc diễn truyện thơ dân gian gọi chim riêng cho y - đến các loại hát ru con,
hát trong lao động, hát huê nh, hát trong lễ nghi - phong tục. Những bài hát trong các loại
hình sân khấu rôbăm, lkhôn, dù cũng rất phong phú Người Khmer có nhiều n nhạc được
sử dụng cho những mục đích khác nhau như: dàn nhạc y trong sinh hoạt ca múa, hội hè,
dàn nhạc Arak trong các dịp cúng thần, n nhạc đám cưới, dàn nhạc đám ma, dàn nhc
Môharinhưng đặc biệt dàn nhạc Pinh piết gồm hai cái đàn chiêng (kôông thum), một
hay hai dàn thuyền (rônéat), trống vỗ (xomphô), trống cái (xkôr thum) sáo gỗ (xralay). Dàn
nhạc này được dùng trong lễ nhạc, và đi theo một số điệu dân cổ truyền (Viện dân tộc học,
2015,145).
Do sinh sống xen lẫn với người Việt, người Hoa, và chịu ảnh hưởng của tân nhạc, nên
ngày nay, các nhạc cụ như đàn tam thập lục, đàn nhị, đàn ghita, măngđôlin, đàn gáo… rất phổ
biến được hoan nghênh khắp vùng Bảy Núi. Hầu như không một người Khmer nào
không biết ít nhiều nghệ thuật múa. Bởi lẽ đó, thay nói "đi xem hát" như người Việt, người
Khmer nói “đi xem múa”. Trong dân gian có nhiều điệu múa để diễn ttình cảm. Các lễ nghi,
phong tục cũng kèm theo các điệu múa: múa trong đám cưới, múa khi nhập đồng. Bên cạnh
đó, còn những điệu múa bắt nguồn từ các sân khấu cổ truyền. Sân khấu Khmer nhiều
52
Niên giám thống kê tỉnh An Giang, 2020.
231
loại hình phát triển từ đơn giản đến phức tạp. Các yếu tố kịch đã thấy xuất hiện trong diễn
xướng đám cưới aday rương (múa aday theo truyện). Song thật sự là loại hình sân khấu hoàn
chỉnh thì có dì kê, rô băm, dù kê. Hình thức sân khấu dì kê chỉ còn phổ biến ở vùng Bảy Núi,
An Giang (Viện dân tộc học, 2015,145).
2. Giáo dục văn hoá nghệ thuật dân tộc cho học sinh Khmer Bảy Núi, An
Giang
Nhằm phục vụ cho hoạt động du lịch của địa phương, UBND tỉnh An Giang đã ban
hành Kế hoạch 695/KH-UBND triển khai đề án “Bo tồn, phát huy giá trị dân ca, dân vũ,
dân nhạc của các DTTS gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2013-2020” Kế hoạch
527/KH-UBND, triển khai đề án Bo tồn phát huy giá trị văn học dân gian của các DTTS
đến năm 2030” trên địa bàn tỉnh. Mục tiêu tiếp tục giữ gìn, phổ biến, trao truyền phát
huy những giá trị đặc sắc về dân ca, dân vũ, dân nhạc truyền thống của các DTTS; nâng cao
nhận thức và lòng tự hào, ý thức tự giác của người dân trong việc bảo tồn và phát huy giá tr
văn hóa truyền thống dân tộc; nâng cao mức hưởng thụ văn hóa cho người dân. Đồng thời, tổ
chức y dựng, khai thác tốt các loại hình du lịch đặc trưng, phù hợp với đặc điểm n hóa
cộng đồng, mở rộng ngành kinh tế phát triển vùng đồng bào DTTS miền núi. Chú trọng
bảo tồn, phát huy giá trị dân ca, dân vũ, n nhạc truyền thống của các DTTS trở thành sản
phẩm du lịch văn hóa đặc trưng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội tại địa
phương. Đối với học sinh Khmer vùng Bảy Núi thì được học biểu diễn nhạc Ngũ âm và múa
kê. Trong đó, nhạc Ngũ âm là loại hình âm nhạc hòa tấu mang tính chất nghi lễ tôn giáo,
gắn chặt chẽ với c nghi lễ đời sống sinh hoạt Phật giáo Tiểu thừa Theravada trong
các ngôi chùa phum, sóc của người Khmer. Trước đây dàn nhạc nâm chỉ một số
chùa trong vùng Bảy Núi nhưng hiện nay các chùa đều dàn nhạc y, thậm chí một số
trường học đông học sinh người Khmer cũng dàn nhạcy để phục vụ cho học tập. Theo
thông tin khảo sát tại địa bàn thì nhờ vào việc điều kiện kinh tế ngày một tốt hơn, người
Khmer cúng dường ngày một nhiều hơn giúp cho có kinh phí mua nhạc cụ và tổ chức các lớp
dạy nhạc cho con em người Khmer. Việc tổ chức dạy nhạc cho trẻ em không chỉ diễn ra ở các
trường học vào mỗi cuối tuần hay nghỉ việc dạy nhạc các ngôi chùa trong vùng trở
nên phổ biến. Hiện nay khi kinh tế phát triển, các em nhỏ không phải phụ giúp gia đình
các công việc sản xuất nhiều như trước đây nên ththam gia thường xuyên các lớp học
này. Còn nghệ thuật trình diễn sân khấu loại hình diễn xướng dân gian độc đáo của
cộng đồng Khmer chỉ có ở vùng Bảy Núi. Đây loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian tổng
hợp, kết hợp âm nhạc ca kịch dân gian tích hợp múa, đọc thơ, còn được người Khmer gọi
Hát Lăm.
Theo đề án y tác phẩm (có nguy cơ mai một) được bảo tồn, tư liệu hóa; các tác giả,
nghệ nhân thuộc lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể nói chung, văn học dân gian của các
DTTS nói riêng được hưởng chính sách hỗ trợ trong hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị; các
trường dân tộc nội trú các cấp trường tại vùng đồng bào DTTS đưa văn học dân gian o
sinh hoạt ngoại khóa, ngày hội, giao lưu, liên hoan cho học sinh… Thực hiện đề án y, nhiều
trường học và các nhà chùa, các tổ chức quan phương như Đoàn thanh niên, hội phụ nữ đã tổ
232
chức các lớp dạy biểu diễn nghệ thuật dân gian cho trẻ em thanh niên Khmer khu vực
Bảy Núi.
3. Vai trò của việc giáo dục văn hoá và nghệ thuật dân tộc
Vấn đề giáo dục việc bảo tồn văn hóa nghthuật dân tộc hiện nay được Đảng
nhà nước hết sức quan tâm. Đó một trong những việc cấp bách, cần làm ngay trong thực
trạng văn hóa dân tộc đang chịu tác động tích cực cũng như tiêu cực của quá trình toàn cầu
hoá văn hoá. Giáo dục văn hoá nghệ thuật dân tộc vai trò quan trọng trong việc y dựng
ý thức giữ gìn những giá trị truyền thống, đồng thời phát huy những giá trị văn hoá đó hướng
đến phát triển bền vững. Văn hoá nghệ thuật dân tộc chính là những di sản văn hoá hình thành
nên bản sắc văn hoá dân tộc. Giáo dục văn hoá nghệ thuật dân tộc ở các cộng đồng tộc người
thiểu số góp phần nâng cao ý thức bảo tồn phát triển các di sản văn hoá, tái hiện trình
diễn được những đặc trưng văn hoá, truyến đến tương lai cũng chính là khẳng định được bản
sắc văn hoá dân tộc mình. Cộng đồng dân tộc là những người làm ra lịch sử, kết quả các hoạt
động sáng tạo của nhân dân những sản phẩm văn hoá được u truyền. Việc đưa vấn để bảo
tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc vào giảng dạy cho giới trẻ cần phải đặt ra và rèn luyện
trong từng họ sự hiểu biết bản về văn hóa bản sắc văn hóa. Giáo dục được con người
biết yêu quý giá trị vật chất và tinh thần của nhân loại, sự nghiệp gìn giữ và phát huy tinh hoa
văn hóa dân tộc sẽ luôn được đẩy mạnh. Giáo dục việc bảo tồn phát huy văn hoá trong
giới trẻ đặc biệt đối với học sinh, sinh viên có ý nghĩa quan trọng ở một số mặt như sau:
1. Bo tồn phát huy giá trị văn hoá: Giáo dục văn hoá nghệ thuật dân tộc giúp
bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, truyền thống, và lịch sử của các cộng đồng dân tộc. Qua
việc học về lịch sử, truyền thống, ngôn ngữ, âm nhạc, văn hóa ẩm thực các phong tục tập
quán, học sinh có cơ hội hiểu và trân trọng di sản văn hóa của dân tộc mình.
2. Xây dựng lòng tự hào nhận thức về bn thân: Giáo văn hoá và nghệ thuật dân tộc
giúp học sinh xây dựng lòng tự hào về bản thân nguồn gốc n tộc của mình. Qua việc
hiểu và kính trọng văn hoá tộc người, họ cảm thấy tự tin và kiêu hãnh với bản thân, đồng thời
phát triển sự nhận thức về vai trò của mình trong cộng đồng.
3. Tăng cường sự đa dạng sự hiểu biết n hoá: Giáo dục văn hoá nghệ thuật
dân tộc giúp mở rộng tầm nhìn tăng cường sự đa dạng văn hóa trong cộng đồng học đường.
Học sinh hội tiếp xúc hiểu biết về các nền n hóa khác nhau, từ đó phát triển sự
hiểu biết và sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa trong xã hội.
4. Tạo cơ hội hòa nhập và giao lưu: Giáo dục văn hoá và nghệ thuật dân tộc tạo ra cơ
hội cho học sinh hòa nhập giao lưu với c thành viên khác trong cộng đồng, bất kể dân
tộc, tôn giáo hay văn hóa. Qua việc tham gia các hoạt động văn hoá, học sinh thể y dựng
mối quan hệ, tạo ra sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau.
5. Phát triển kỹ năng giao tiếp và hợp tác: Giáo dục n hoá nghệ thuật dân tộc thúc
đẩy phát triển knăng giao tiếp, hợp tác tôn trọng quan điểm của người khác. Học sinh
học cách chia sẻ ý kiến, lắng nghe và hiểu biết quan điểm của nhau thông qua việc thảo luận
và làm việc nhóm trong các hoạt động văn hoá.
233
4. Phát triển bền vững du lịch cộng đồng người Khmer ở Bảy Núi, An Giang
4.1. Thổi hồn văn hoá vào du lịch
Văn hoá nghệ thuật dân tộc đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch cộng
đồng người Khmer. Hoạt động diễn ớng dân gian của cộng đồng trước đây chỉ được biểu
diễn trong các dịp lễ hội thì giđây chúng trở thành các hoạt động văn hóa văn nghệ mang
tính chất thương mại phục vụ du khách được trình diễn bất kể khi nào du khách nhu
cầu. Các hoạt động văn hóa và nghệ thuật của người Khmer là những điểm thu hút chính đối
với khách du lịch đến thăm Bảy Núi, An Giang. Bằng cách cung cấp những trải nghiệm văn
hóa như biểu diễn múa truyền thống, lớp học nấu ăn xưởng thủ công, các dự án du lịch
cộng đồng thể thu hút nhiều du khách hơn đến với cộng đồng người Khmer. Thông qua
các hoạt động y giúp cộng đồng người Khmer nơi đây thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo
của mình, đồng thời giúp du khách được trải nghiệm truyền thống và lối sống được dàn dựng
một các chân thật của người Khmer. Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn thúc
đẩy sự hiểu biết và đánh giá cao giữa các nền văn hóa. Việc trình diễn các hoạt động văn hoá
và nghệ thuật người Khmer trong hoạt động du lịch tạo điều kiện trao đổi văn hóa có ý nghĩa
giữa du khách người dân địa phương. Khách du lịch hội tìm hiểu về truyền thống,
phong tục và lối sống của người Khmer trực tiếp từ các thành viên trong cộng đồng, thúc đẩy
sự tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hóa khác nhau.
4.2. Gìn giữ kho báu văn hoá dân tộc
Bảy Núi đã và đang xây dựng mô hình du lịch cộng đồng, thu hút khách du lịch trong
ngoài ớc bằng việc khám phá văn hóa bản địa, hòa mình với thiên nhiên xanh, môi
trường trong lành. Xu ớng hiện đại hóa, công nghiệp hóa đang “kéo” nhiều người dân tộc
thiểu số rời xa mảnh đất “chôn nhau cắt rốn” để đến với phố thị làm ăn, sinh sống. Việc làm
du lịch cộng đồngmột cách để người Khmer tiếp tục nâng cao ý thức giữ gìn bản sắc dân
tộc độc đáo của họ; đồng thời giúp du khách trải nghiệm thực tế bản sắc văn hoá tộc người
tại chính mảnh đất họ sinh sống.
Nghệ thuật dân tộc, chẳng hạn như múa, âm nhạc và thủ công truyền thống của người
Khmer, là một phần không thể thiếu của văn hóa Khmer. Giáo dục văn hoá và nghệ thuật dân
tộc cho giới trẻ giúp bảo tồn các loại hình nghệ thuật y bằng cách truyền lại kiến thức
kỹ ng từ thế hệ y sang thế hệ khác. Bằng cách dạy những truyền thống y cho thế hệ
trẻ, cộng đồng có thể bảo vệ di sản văn hóa của họ khỏi bị mất theo thời gian. Thông qua hoạt
động giới thiệu những tác phẩm nghệ thuật tới khách du lịch, cộng đồng thể duy trì bản
sắc và truyền thống văn hóa của họ. Từ đó góp phần tôn vinh nghệ thuật, ngôn ngữ, ẩm thực
và lễ hội truyền thống, đồng thời làm phục hồi quảng bá văn hóa Khmer ở cả địa phương
và toàn cầu.
4.3. Tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng
Cảnh quan thiên nhiên đặc sắc của vùng núi Thất Sơn cùng với những giá trị văn hóa
bản địa của cộng đồng người Khmer Bảy Núi rất độc đáo khó nơi nào được đã tạo
nên tiềm năng rất to lớn để phát triển du lịch dựa vào cộng đồng người Khmer. Việc phát triển
du lịch hội để người Khmer “trình diễn văn hóa của mình”, điều y không chỉ hỗ trợ