343
GIÁO DC ÂM NHC TRUYN THNG VIT NAM
TRONG THỜI ĐI TOÀN CU HÓA
ThS. NCS. Nguyn Huỳnh Thy Phương
138
Tóm tt
Toàn cầu hóa được ví như là “chất dung môi” có khả năng hòa tan mọi nền văn hóa. Từ
sau Đổi Mi, Việt Nam bước vào tiến trình hi nhp toàn din vi quc tế, điều y m ra
con đường trình hiện văn hóa quc gia ra thế giới, song cũng đi mt với nguy đánh mất
bn sắc văn hóa dân tộc. Đứng trước thc trng này, vic giáo dc âm nhc truyn thng Vit
Nam một hành động cp thiết để gi gìn bn sắc văn hóa, tuy nhiên, cũng một hành động
đầy khó khăn thử thách trước s tiến nhp ca nhiu th loi âm nhạc đại chúng t nhiu quc
gia khác t tràn vào Vit Nam. Bài viết y thc hin nhng nhim v sau: 1) Làm các
khái nim có liên quan; 2) Nêu t hình cu trúc âm nhc truyn thng Vit Nam;
3) Nêu tình hình thc trng giáo dc âm nhc truyn thng Vit Nam hiện nay; 4) Đánh giá
thc trạng và đề xut mt s gii pháp c th.
T khóa: Giáo dc, âm nhc truyn thng Vit Nam, toàn cầu hóa, địa phương hóa.
Globalization is compared with a "solvent" capable of dissolving all cultures. Since Doi
Moi, Vietnam has entered the process of comprehensive international integration, which
opens up the way to present national culture to the world, but also faces the risk of losing
national cultural identity. Faced with this situation, educating traditional Vietnamese music
is an urgent action to preserve cultural identity, however, it is also a challenging action with
the entry of many popular music genres from many other countries flooding into Vietnam.
This article performs the following tasks: 1) Bring out the meaning of relevant concepts; 2)
State and describe the structural model of Vietnamese traditional music; 3) Describe the
current situation of traditional music education in Vietnam; 4) Appreciate the current situation
and propose specific solutions.
Keywords: Education, Vietnamese traditional music, globalization, localization.
1. Dẫn nhập
T sau khi thng nhất đất nước vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam gia nhp Liên
hip quc vào ngày 20/9/1977, tuy nhiên do nh hưởng bởi “chiến tranh lạnh” trên thế gii
và cơ chế kinh tế bao cp khiến cho các chính sách ngoi giao vi quc tế ca Vit Nam gp
nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, các cuc chiến tranh biên gii xy ra gián đon tình hu ngh
gia Vit Nam vi những nưc láng giềng, như chiến tranh biên gii Vit Nam - Campuchia
t năm 1975 đến 1978, đỉnh điểm là giai đoạn 1977 - 1978 và 1978 1979; chiến tranh biên
gii Vit - Trung vào năm 1979 năm 1984 làm căng thng mi quan h giao lưu hợp tác
gia Vit Nam - Trung Quc t năm 1979 kéo dài đến năm 1991.
138
NCS. Khoa Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.
344
Năm 1986 Đảng và nhà nưc thc hin công cuộc đổi mi phát trin kinh tế th trưng
theo định hướng hi ch nghĩa. Từ đó, Việt Nam từng bước tiến hành hp tác với các nước
trong khu vc, trong châu lc thế gii. Ngày 28/7/1995, Vit Nam gia nhp Hip hi các
quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), trở thành thành viên th by ca t chc này (bên cnh sáu
quốc gia: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Brunei), ớc đầu tiên
giúp Vit Nam thiết lp mi quan h hp tác giữa Thái Lan các nước Đông Nam Á hải
đảo, sau đó toàn b khu vc Đông Nam Á. Tiếp theo, ngày 15/11/1998, Vit Nam chính
thc tr thành thành viên ca Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC),
giúp Vit Nam m rng quan h hp tác với các nước châu Á. Không dng li đó, ngày
11/01/2007, Vit Nam gia nhp T chức thương mại thế gii (WTO), s kin y giúp Vit
Nam m rng th trường thương mi, dch v, hàng hóa hu hết các quc gia trên thế gii.
Việt Nam cũng liên tiếp thc hin đàm phán và ký kết gia nhp nhiều điều ưc quc tế song
phương, đa phương trên các lĩnh vực chính trị, thương mại, văn hóa, giáo dục, tài chính, y tế,
hội, môi trường, giao thông - vn ti, v.v. vi Hoa K, Australia, New Zealand Liên
minh châu Âu.
V lĩnh vực văn hóa nghệ thut, quá trình hi nhp quc tế thúc đẩy nhiu loi hình ngh
thuật đại chúng, trong đó có nhiều th loi âm nhc mi tiến nhp vào Vit Nam thu hút ngày
càng nhiu s quan tâm ca gii trẻ, điều này khiến âm nhc truyn thng Vit Nam có nguy
bị mai mt nếu không gii pháp bo tn phát huy hiu quả. Trước tình hình này,
Ngh quyết s 03-NQ/TW, ngày 16/7/1998, ca Ban Chấp hành Trung ương tại Hi ngh
Trung ương 5 (khóa VIII) về y dng và phát trin nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đm đà
bn sc dân tc khẳng định: Nhng thành tu ca cách mng khoa hc - công ngh thế gii
cùng vi vic m rộng giao lưu quốc tế hội để chúng ta tiếp thu nhng thành qu trí tu
của loài người, đồng thời cũng đặt ra nhng thách thc mi trong vic gi gìn bn sắc văn
hoá dân tc”. Ngh quyết th hin nhn thc của Đảng Cng sn Việt Nam Nhà nước Vit
Nam v nhng hội thách thc khi Vit Nam ngày càng tiến u vào sân chơi toàn cu
a, đó thách thc gi gìn bn sc văn hóa dân tộc. Chính thế, vic giáo dc âm nhc
truyn thng Vit Nam trong thời đại toàn cầu hóa đóng vai trò quan trng cho việc lưu gi
nhng giá tr truyn thng quý báu ca dân tc trưc nhng biến đổi ca xã hi hiện đại.
2. Những khái niệm liên quan
Giáo dc là t Hán - Vit được ghép nghĩa từ hai ch “giáo” và “dục”, ch “giáo” ()
trong tiếng Hán nghĩa là dạy d, truyn th; ch “dục” () trong tiếng Hán nghĩa là sinh sản,
nuôi cho khôn lớn. “Giáo dục” (教育) quá trình vun trng nhân tài, nhm thc hin s
nghip y dng quc gia, phát trin hi. Trong tiếng Anh, danh t “education” (s giáo
dục) được hiu là quá trình ging dạy (teaching), đào tạo (training) và hc tập (learning), đặc
bit các trưng, cao đng hoặc đại hc, nhm trau di kiến thc và phát trin k năng. Tuy
nhiên, v động t “educate” “train” đều hành động “dạy” (teach), nhưng ni m khác
nhau, theo đó “educate” là “dạy” trong một giai đoạn trưng hc hoặc trường đại hc (The
University of Oxford, 2020, tr 496), còn “train” “dy” cho con người (hoc động vt) nhng
k năng thực hành công vic hoặc hành động đặc thù (như thể thao) bng cách thc hin nhiu
bài luyn tập (The University of Oxford, 2020, tr 1663). Do đó, “giáo dục” “đào tạo”
345
hai thut ng độc lp trong tiếng Việt, “giáo dục” mang nghĩa quá trình dạy hc kiến
thức, “đào tạo” mang nghĩa quá trình dạy và thc hành k năng để thc hiện được mt hành
động nhất định. Tuy hai thut ng y tn tại độc lập nhưng luôn gắn mt thiết vi nhau
và b sung cho nhau, kiến thc phải được thc hành mi phát huy tác dng, k năng có kiến
thc b tr thì thc hành mi suông sẻ. Đây là mối quan h gn giữa “kiến thức” “k
năng”, chính vì vậy “giáo dục” không th tách ri khỏi “đào tạo”.
Âm nhc truyn thng tm dch tiếng Traditional Music mt khái nim phc hp,
mc tính t “truyền thống” “cổ truyền” trong tiếng Anh “traditional”, nhưng theo
nghĩa tiếng Vit phân chia thành hai khái nim độc lập “âm nhạc c truyền” “âm nhạc
truyn thống”. Căn cứ theo quan điểm ca nhà nghiên cu âm nhc Nguyn Th M Liêm
(2014), hai khái nim trên ging nhau ch đều di sn âm nhc ca các dân tc đã được
hình thành phát trin trong quá kh được u truyn hoặc lưu giữ ( dng ghi chép) cho
đến ngày nay. Riêng “âm nhạc truyn thống” hai điểm khác bit ch (1) bên cnh âm
nhc c truyn bản địa thì “âm nhạc truyn thống” có sự tiếp biến văn hóa của nhng th loi
âm nhc ngoi lai du nhp t các nền n hóa khác; (2) “âm nhạc truyn thống” tính kế
tha và biến đổi, tc là nó đang còn tồn tại trong đời sng tinh thn của con người trong mt
cộng đồng nhất định, đồng thời được chuyn hóa phát triển để phù hp vi thời đại mi.
Nguyn Th M Liêm (2014) cũng đưa ra quan đim v gii hạn không gian “Việt Nam”
trong khái nim “âm nhạc truyn thng Việt Nam”, đó là một quc gia có lãnh th, biên gii
riêng; có nhiu dân tc anh em cùng chung sng, chung mt ngôn ng chính thc và bn
sc văn hóa (Vit Nam). T đó, rút ra khái niệm: âm nhc truyn thng Vit Nam là mt loi
hình văn a nghệ thuật đặc trưng của người Vit Nam, bao gm nn âm nhc ca các dân
tc cùng chung sng trên lãnh th nước Vit Nam vi những đặc trưng riêng của mi n
tc, tộc người; cùng hình thành phát trin trong quá trình lch s của đất nước tr
thành truyn thng chung ca quc gia - dân tc.
Trong bài viết này, chúng tôi khẳng định phm vi nghiên cu ca Âm nhc truyn thng
Vit Nam nhng th loi âm nhạc được ng to truyn trong dân gian; nhng th
loi âm nhc chuyên nghip; th loi âm nhạc cung đình; những th loi âm nhc ca các tc
người sinh sng trên lãnh th Vit Nam; nhng th loi âm nhạc được hình thành, phát
sinh trong tiến trình phát trin của văn hóa Việt Nam: lớp văn hóa bản địa, lớp văn hóa giao
lưu với Trung Hoa khu vc, lớp văn hóa giao lưu với phương y (Trần Ngc Thêm, 2004,
tr 75).
Thut ng “toàn cầu hóa” trong tiếp Anh (globalization), mt danh t mi xut
hin t những năm 1960, từ này được ghép bi tính t “global” nghĩa là “toàn cầu” và hậu t
-ization” nghĩa hành đng, quá trình hoc kết qu ca vic làm hoc thc hin một điu
đó (theo Từ điển Collins, 2010). Hu t -ization” trong tiếng Vit “hóa”, diễn t mt
quá trình xã hội đang diễn ra s vic, hiện tượng nhưng chưa hoàn thành, chưa biết được kết
qu chính xác của nó. Đa số các khái nim “toàn cầu hóa” trong các công trình nghiên cu
hiện nay định nghĩa “toàn cầu hóamột “qtrình”. Theo Malcolm Waters (2001) trong
công trình ni tiếng Globalization (1995, 2001), thut ng “toàn cầu hóa” được định nghĩa
là:“Mt quá trình hội trong đó những gii hạn địa đối vi kinh tế, chính tr, hi
346
văn hóa toàn cầu ngày càng tr nên suy gim; con ngưi ngày càng nhn thức được s suy
gim nhng gii hạn đó ngày càng hành động phù hp vi tình thế”(tr.5). Theo Manfred
B. Steger (2003) viết trong Globalization: A Very Short Introduction (2003) cho rằng thut
ng toàn cầu hóa nên được s dụng để ch mt tp hp các quá trình hội được cho s
biến điều kin hi hin ti ca chúng ta thành một điều kin toàn cu(tr.8). Peter N.
Stearns (2010) trong Globalization in World History (2010) khẳng định: toàn cu hóa: theo
nghĩa đen “quá trình biến đổi các hiện tượng địa phương thành hiện tượng toàn cầu… một
quá trình trong đó người dân trên thế gii thng nht thành mt hi duy nht cùng nhau
hoạt động”(tr.1). Nhìn chung, “toàn cầu hóa” một quá trình tuyến tính, điểm bt đầu
nhưng chưa có điểm kết thúc, quá trình này luôn tn ti song hành vi quá trình “địa phương
hóa” (localization), đây là biểu hin c th ca quy lut thng nhất và đấu tranh ca các mt
đối lp theo lý lun ca Ch nghĩa Marx. Do đó, có thể phác tho ra ba kch bn toàn cu hóa
là: đng nht hóa, d bit hóa và lai ghép hóa.
Vic giáo dc âm nhc truyn thng Vit Nam trong thời đại toàn cu hóa đây có thể
hiu vic truyn th kiến thc, k năng về âm nhc truyn thng Vit Nam, mt thành t
của văn hóa ngh thut Việt Nam trước s tiến nhp và biến đổi văn hóa bản địa ca quá trình
toàn cu hóa.
3. Mô hình cu trúc và mt s đặc điểm ca âm nhc truyn thng Vit Nam
3.1. Mô hình cu trúc âm nhc truyn thng Vit Nam
Vi khái niệm đưa ra trên, chúng tôi đề xut mô hình cu trúc âm nhc truyn thng
Việt Nam như sau:
Hình 1. Mô hình cấu trúc âm nhạc truyền thống Việt Nam
hình cu trúc âm nhc truyn thng Vit Nam gm ba thành t chính mi quan
h cht ch vi nhau, gm: 1) Âm nhc truyn thng của người Vit, 2) Âm nhc ca các dân
347
tộc ít người, 3) Các nhc khí Vit Nam. đây, chúng tôi dùng cách phân loại ca nhà nghiên
cu âm nhc Nguyn Th M Liêm trong Giáo trình Âm nhc truyn thng Vit Nam - quyn
giáo trình được biên son công phu cho sinh viên các trường âm nhc chuyên nghiệp để din
gii các thành t như sau:
1) Âm nhc truyn thng của người Vit, gm: Dân ca ca dân tc Vit; Âm nhc thính
phòng và chuyên nghip trong dân gian; Âm nhc sân khu truyn thng Vit Nam; Âm nhc
cung đình. Trong đó, dân ca ca dân tc Việt được phân chia theo chức năng, gm: Nhng
làn điu trong sinh hot - đi sng; Những làn điu giao duyên (hát giao duyên); Nhng làn
điệu trong l nghi - phong tc. Âm nhc thính phòng và chuyên nghip trong dân gian, gm:
Âm nhc thính phòng min Bc: Ca Trù; Âm nhc thính phòng Huế: Ca Huế; Âm nhc thính
phòng miền Nam: Đờn ca Tài T; Âm nhc chuyên nghip trong dân gian: Hát Xm; Các th
loi hát th; Các dàn nhc l dân gian.
2) Âm nhc ca các dân tc ít là dân ca ca các cộng đồng dân tộc ít người phân b theo
các vùng văn hóa Việt Nam, gm: Dân ca ca các dân tc vùng Vit Bc; Dân ca ca các dân
tc vùng Tây Bc; Dân ca ca các dân tc vùng y Nguyên; Dân ca ca các dân tc vùng
duyên hi Nam Trung B; Dân ca ca các dân tc Nam B (ch yếu là Khmer và Hoa).
3) Các nhc kViệt Nam được phân loi thành bn h ln, gm: H t thân vang
(idiophone); H màng rung vang (membranophone); H hơi rung vang (Aérophone); Họy
rung vang (chordophone).
Tuy nhiên, âm nhc truyn thng Vit Nam ch tn ti trong Không gian văn hóa âm
nhc truyn thng Vit Nam. Khái niệm “Không gian văn hóa” được đề cp trong công trình
Văn hóa vùng phân vùng văn hóa Vit Nam (2022) của NĐức Thịnh, theo đó “không
gian văn hóa” được hiểu theo hai nghĩa cụ th trừu tượng. Nghĩa cụ th mt không gian
địa lý xác định, mà đó một hiện tượng hay mt t hp hiện tượng văn hóa ny sinh, tn ti,
biến đổi chúng liên kết với nhau nmt h thng. Theo nghĩa trừu ng, th hiu
không gian văn hóa nhưmt “trường” (mượn khái nim trưng ca vật lý), để ch mt hin
ng hay t hp các hiện tượng (mt nền văn hóa của tộc người, quc gia hay khu vc)
kh năng tiếp nhim lan ta (nh hưởng), to cho nền văn hóa đó một không gian (trường)
văn hóa rng hay hp khác nhau”. (Ngô Đc Thnh, 2022, tr 79).
Theo Trn Ngc Thêm, trong bài viết Không gian văn hóa Thành ph H Chí Minh
Thành ph H Chí Minh: T luận đến thc tin, ông đã định nghĩa lại “không gian văn
hóa” như sau: Không gian văn hóa ca mt ch th nơi tồn ti tác đng ca mt h
thng giá tr do ch th đó sáng tạo tích lũy trong thời gian tương tác với môi trường t
nhiên và xã hi” (Trn Ngc Thêm, 2023).
Khái niệm “không gian văn hóa” ca Ngô Đc Thịnh xét theo nghĩa c th hay nghĩa
trừu tượng đều ph thuc vào mt không gian đa lý xác đnh. Còn khái nim ca Trn Ngc
Thêm khẳng định “không gian văn hóa” là “nơi tồn tại và tác đng ca mt h thng giá trị”,
chính thế “không gian văn hóa” không nht thiết ph thuộc vào không gian địa lý. T
nhng khái niệm “không gian văn hóa” nêu trên, theo quan đim của chúng tôi, “không gian
văn hóa âm nhạc truyn thng Việt Nam” thể ph thuộc vào không gian địa hoc không.