
358
GIÁO DỤC VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT DÂN TỘC TỪ DÂN CA VIỆT NAM
CHO SINH VIÊN – GÓC NHÌN TỪ MỘT KHẢO SÁT Ở KHOA QUẢN LÝ VĂN
HÓA, NGHỆ THUẬT, TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ThS. Hồ Thị Như Vui
140
Tóm tắt
Kiến thức về văn hóa dân tộc là hành trang không thể thiếu để mỗi sinh viên khoa
Quản lý Văn hóa, nghệ thuật, trường ĐH Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh bước vào nghề nghiệp
tương lai. Hiểu về các làn điệu dân ca của dân tộc, của các vùng, các dân tộc cùng chung sống
trên đất nước Việt Nam là một phần trong hành tranh tri thức cần có của sinh viên. Hát dân
ca tạo cơ sở nền tảng phục vụ giáo dục thẩm mỹ âm nhạc, giúp sinh viên có tình cảm yêu quý,
nhận thức vẻ đẹp, biết trân trọng nền âm nhạc dân gian - dân tộc. Có thể nhận diện sự trân
trọng và ý thức giữ gìn văn hóa – nghệ thuật dân tộc qua nhận thức của sinh viên ở giảng
đường Đại học qua những làn điệu dân ca. Chính dòng chảy dân ca tiếp cận từ góc độ văn
hóa dân tộc đã tạo môi trường văn hóa độc đáo, giúp sinh viên trang bị vốn kiến thức cơ bản
và những hiểu biết về văn hóa, về âm nhạc, về nghệ thuật truyền thống Việt Nam.
Từ khóa: Dân ca Việt Nam; Đại học Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh; Giáo dục văn hóa -
nghệ thuật dân tộc; Sinh viên.
Mở đầu
Nghị quyết TW5 – Khóa VIII đã khẳng định: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn
kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và
giao lưu văn hóa”. Quyết tâm lớn của Đảng, Nhà nước và cả mỗi người dân Việt Nam là bảo
tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc – nguồn cội của “sức mạnh mềm” Việt Nam. Điều này
xuất phát từ tình cảm, ý thức trách nhiệm và niềm tự hào từ những gì mà những thế hệ trước
để lại. Dân ca Việt Nam là một trong những thành phần tạo nên kho tàng di sản văn hóa quý
giá của dân tộc. Không thể phủ nhận sức sống mãnh liệt của dân ca bởi đây là di sản văn hóa
phi vật thể của nhân loại đã được UNESCO ghi danh nhiều lần như: Dân ca quan họ (2009),
dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh (2014). Dân ca không chỉ là một loại âm nhạc, mà còn là một phần
quan trọng của di sản văn hóa của đất nước. Sức sống mãnh liệt của dân ca đã góp phần quan
trọng tạo nên nét đằm thắm, quyến rũ riêng cho nền âm nhạc truyền thống Việt Nam.
Giáo dục văn hóa dân tộc, giáo dục âm nhạc, bao gồm dân ca có tác dụng rất quan
trọng trong quá trình giáo dục toàn diện sinh viên. Việc được học, được nghe các làn điệu dân
ca giúp sinh viên không chỉ có sự hiểu biết sâu hơn kiến thức về âm nhạc dân tộc mà còn
chuyển tải các thông điệp văn hóa độc đáo. Kiến thức âm nhạc sẽ trở nên gần gũi, dễ nghe,
dễ học hơn thông qua các bài hát dân ca, đặc điểm âm nhạc dân ca. Bên cạnh đó, việc chuyển
tải các làn điệu dân ca qua cách đổi mới hình thức tiếp nhận còn giúp các làn điệu này được
140
. Trường Đại học Văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh

359
giữ gìn, trao truyền lâu bền hơn. Sinh viên có năng lực tìm hiểu nắm vững nguồn gốc xuất
xứ, phong tục tập quán khi học hát dân ca sẽ giúp quá trình cảm thụ bài hát đầy đủ, sâu sắc
hơn. Từ đó, bồi dưỡng thị hiếu và tình cảm đạo đức đúng đắn, giúp sinh viên tự giáo dục,
hình thành và nuôi dưỡng những tình cảm tốt đẹp đối với văn hóa truyền thống của dân tộc.
1. Dân ca Việt Nam – Cội nguồn của giáo dục văn hóa – nghệ thuật dân tộc
Theo TS. Nguyễn Thị Mỹ Liêm trong “Hát dân ca” xuất bản năm 2008, khái niệm
dân ca là những bài hát thường ngày, là bài hát không có tác gi và được sáng tác do nhu
cầu sinh hoạt, từ cuộc sống của người dân [5;tr7]
Tác giả Phạm Phúc Minh đã viết ở cuốn “Tìm hiểu dân ca Việt Nam”: Dân ca là những
bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và
được nhân dân ca hát theo phong tục tập quán của từng địa phương, từng dân tộc” [6;tr11].
Ở một góc nhìn sâu rộng hơn trong “Từ điển thuật ngữ văn học” thì các tác giả Lê Bá
Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi cho rằng, dân ca là một loại hình sáng tác dân gian
mang tính tổng hợp bao gồm lời nhạc, động tác, điệu bộ kết hợp với nhau trong diễn xướng.
Xét về đặc điểm âm nhạc, làn điệu, có thể chia dân ca thành hai loại hình là loại đa điệu và
đơn điệu. Đa điệu (nhiều làn điệu) như dân ca quan họ Bắc Ninh (khong hai ba trăm làn
điệu khác nhau). Đơn điệu như hát ví, giặm Nghệ – Tĩnh, hát trống quân, hát đúm…[12,tr174]
Theo những nhận định, khái niệm trên chúng ta có thể thấy dân ca có nguồn gốc từ
sinh hoạt, lao động của ông cha ta từ thời xưa. Đó là những hoạt động trong cuộc sống thường
ngày, trong các hội hè, đình đám, sinh hoạt tín ngưỡng, tình yêu quê hương đất nước, tình yêu
nam nữ… Nhịp điệu của lao động được tạo nên những làn điệu đầu tiên của dân ca thể hiện
qua các điệu hò như: hò Giã Gạo, hò Kéo Gỗ, hò Dô Ta, hò Chèo Thuyền… Âm nhạc trong
sinh hoạt tín ngưỡng, lễ nghi, phong tục cũng là một trong những nguồn gốc của dân ca. Con
người sáng tạo dân ca như một ngôn ngữ để giao tiếp với thần linh thông qua phong tục tập
quán vùng miền như: hát Xoan, hát Dô, hát Cách, hát Dậm… Và qua những cuộc tế lễ, hội
hè, sinh hoạt, lao động, vui chơi cũng là dịp để nam nữ thanh niên gặp gỡ nhau. Tình yêu nảy
sinh, xây dựng gia đình trở thành đề tài của biết bao làn điệu dân ca nổi tiếng. Từ tình yêu
con người rồi dẫn đến tình yêu quê hương đất nước, yêu nguồn cội cũng là khởi đầu cho
những bài dân ca trữ tình. Những làn điệu mượt mà đẹp đẽ đó được thể hiện qua các làn điệu:
hát Trống Quân, hát Đò Đưa, hát Ghẹo, hát Quan Họ.
Đối với sinh viên nói chung và đặc biệt là sinh viên chuyên ngành Quản lý văn hóa,
nghệ thuật nói riêng, việc học tập, thực hành, nghiên cứu, am hiểu về di sản văn hóa phi vật
thể, cụ thể là loại hình hát dân ca là góp phần gìn giữ, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa tinh
thần dân tộc rất quan trọng, góp phần xây dựng, phát triển môi trường văn hóa nghệ thuật ở
trường đại học.
Qua các hoạt động ở khoa và trường, sinh viên hiểu biết một số đặc điểm cơ bản của
hát dân ca, hiểu thêm về nét văn hóa, nhân văn, địa lý vùng miền các tộc người, biết phân
loại, giải thích, so sánh các đặc điểm về phong cách của từng thể loại dân ca các vùng
miền.Việc sử dụng hát dân ca trong giảng dạy, nghiên cứu, các hoạt động cộng đồng nhằm
thực hiện các mục tiêu: góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, phát hiện, bồi

360
dưỡng năng khiếu, tài năng cho sinh viên; bồi dưỡng tình yêu với văn hóa âm nhạc dân tộc;
hình thành và nâng cao ý thức tôn trọng, giữ gìn, phát huy những giá trị di sản văn hóa; rèn
luyện tính chủ động, tích cực, sáng tạo trong đổi mới phương pháp học tập, rèn luyện. Bên
cạnh đó, qua các hoạt động này các em sẽ có thái độ trân trọng, bảo vệ giá trị di sản văn hóa
phi vật thể cũng như giá trị lịch sử của đất nước, của nhân loại. Từ đó, giáo dục toàn diện cho
sinh viên.
Qua các làn điệu dân ca sâu lắng mượt mà sinh viên có thể sống đẹp hơn, tốt hơn nhờ
việc cảm nhận được vẻ đẹp của quê hương, đất nước, tình cảm giữa người với người... Bên
cạnh đó, việc thấm nhuần các giai điệu dân ca còn giúp học sinh không chỉ biết thưởng thức
cái đẹp mà còn hình thành nên năng lực sáng tạo về nghệ thuật, từ đó có khả năng đem cái
đẹp vào đời sống trên mọi phương diện, học tập, lao động, ứng xử có văn hóa…
Do đặc điểm đặc trưng về văn hóa, phong tục tập quán, âm điệu tiếng nói của các vùng
dân tộc trên đất nước khác nhau nên dân ca mỗi địa phương mang màu sắc đặc trưng rất riêng
biệt. Theo TS. Nguyễn Thị Mỹ Liêm dân ca có các đặc trưng: Do phổ biến bằng truyền khẩu,
không có ghi chép nhất định, truyền từ vùng này sang vùng khác, do âm điệu mỗi địa phương
khác nhau nên dân ca có nhiều dị bn, xuất hiện quá trình thay đổi âm điệu dân ca. Dân ca
liên tục được sáng tạo thành những bài bn mới [5;tr10]. Đây chính là nguyên nhân làm cho
dân ca có dị bản, đồng thời là nguyên nhân của sự phát triển, phong phú về số lượng làn điệu.
Cụ thể, dân ca được khởi nguồn từ thơ dân gian, ca dao được phổ nhạc, bằng các cách
thức: điệp từ trong câu; thêm nguyên âm thành tiếng láy dựa hơi (a, i, ư, ơ…); dùng tiếng đệm
phụ nghĩa hoặc không có nghĩa (mà, cái mà, mà để, tình bằng, tình tang…); đảo lộn, cắt xén
hoặc thêm bớt câu thơ… Các cách thức này góp phần xây dựng, hình thành và phát triển các
giai điệu dân ca, làm đa dạng phong phú thêm các làn điệu, giúp làm rõ các đặc điểm của từng
thể loại, phân loại dân ca các vùng miền.
Dân ca luôn mang màu sắc địa phương rất đặc biệt, tuỳ theo phong tục ngôn ngữ, giọng
nói và âm nhạc của từng vùng miền, gồm nhiều thể loại vô cùng phong phú: dân ca Quan họ
Bắc Ninh, hát Ví, hát Dặm (Nghệ An), hát Xoan (Phú Thọ), hát Trống quân ở nhiều làng quê
Bắc Bộ, hát Dô (Hà Tây), hò Huế, lý Huế ở Trung Bộ, Nam Bộ có các điệu Lý, điệu Hò…
dân ca của các dân tộc miền núi phía Bắc, đồng bào Thái, H’mông, Mường, dân ca các dân
tộc Tây nguyên… đều có những nét riêng, mang bản sắc riêng.
Dân ca dân tộc Kinh gồm có dân ca 3 miền: Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Bên cạnh
đó dân ca các dân tộc cũng vô cùng phong phú. Để phân định và gọi theo vùng miền hay từng
tỉnh, người ta phân định bằng "ca từ", bằng "âm giọng" bằng cách "nhấn nhá", "luyến
láy", "ngân nga", "rê giọng",... chỉ ở vùng miền đó mới có thể hát được. Tuy chữ đọc giống
nhau nhưng âm khi phát ra khác nhau, những nơi khác không dùng hay cách nhấn nhá, luyến
láy theo địa phương của minh ở nơi khác không hát.
Dân ca Bắc Bộ thường có những từ đệm như: "rằng, thì, chứ..." và các dấu giọng như:
sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng được dệt bởi những nốt nhạc sao cho việc phát âm được rõ nét.
Một số phụ âm được phát âm một cách đặc thù như: "r, d, gi" hay "s và x" phát âm giống
nhau, không phân biệt nặng nhẹ. Những làn điệu dân ca đồng bằng và trung du miền Bắc

361
trong sinh hoạt có nhiều bài nổi tiếng như: Cò l, Bèo dạt mây trôi, Trống cơm, Lý cây đa,...
hay các bài dân ca địa phương như: Cây trúc xinh, Trên rừng ba sáu thứ chim, Người ở đừng
về (Dân ca Quan họ), Bà rằng bà rí, Xe chỉ vá may (Dân ca Phú Thọ); Ba quan, Mời trầu, Hát
chào, Hát thầm, Trúc mai (Dân ca Hà Nam); Đi cấy (Dân ca Thanh Hóa),...
Dân ca Trung Bộ thì thường có chữ " ni, nớ, chi, răng, rứa..." dấu sắc được đọc thành
dấu hỏi (so với giọng người Bắc), dấu hỏi và ngã đều được đọc giống nhau và trầm hơn chữ
không dấu. Dân ca miền Trung có những bài nổi tiếng như: Hò Sông Mã, hát Ghẹo (Thanh
Hóa), Lý mười thương (ca Huế), Lý thương nhau (dân ca Quảng Nam), Hò đối đáp, Hát ví,
Dặm…(dân ca Nghệ Tĩnh), Hò hụi, Hò giã gạo (Dân ca Bình Trị Thiên), Lý vọng phu, Lý
thiên thai (Dân ca khu 5), ...
Dân ca Nam Bộ thì thường có chữ "má (mẹ), bậu (em), đặng (được)..." chữ "ê" đọc
thành chữ "ơ", dấu ngã đọc thành dấu hỏi,... Nhưng nhìn chung thì vẫn là thoát thai từ lòng
dân với đậm tính chất mộc mạc giản dị của họ. Dân ca miền Nam gồm các điệu hò, lý, vè,
tiêu biểu như: Lý con sáo, Lý đất giồng, Lý chiều chiều, Lý dĩa bánh bò, Lý ngựa ô, Lý cây
bông, lý quạ kêu, Lý bông dừa, Lý qua cầu, Ru con, Bắc Kim Thang…
Đồng bào dân tộc thiểu số có bản sắc văn hóa độc đáo, riêng biệt nên các làn điệu dân
ca cũng rất phong phú và thú vị. Cùng với sự sáng tạo, tài hoa của các nghệ nhân dân gian,
dân ca của các dân tộc đã góp phần làm phong phú thêm nền âm nhạc dân tộc Việt Nam. Một
số làn điệu điển hình của các dân tộc như: hoén lục, then, bụt, tào, giáo (dân ca Tày), ứ Lục,
si, lượn (dân ca Nùng), khổng mi nhủa, khâu xinh plềnh (H’mông), khắp Ỉn Sao, khắp Kin
Lẩu, khắp Hạn Khuống (Thái), rằng đều và đập bông, thường, rang (Mường), roi, khan a-tôôk
(BaNa, Jrai), khan, anhông (Ê Đê)…
2. Thực trạng giáo dục nghệ thuật dân tộc từ dân ca Việt Nam - khảo sát từ khoa Quản
lý văn hóa, nghệ thuật trường Đại học Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh.
Để tìm hiểu ảnh hưởng của dân ca trong đời sống và học tập của sinh viên. Chúng tôi
đã gửi phiếu điều tra đến các lớp năm thứ 4 tại khoa Quản lý văn hóa, nghệ thuật trường ĐH
Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh vào tháng 3/2024, với tổng số 68 phiếu thu về. Ở câu hỏi đầu tiên,
tìm hiểu nhận thức của sinh viên về: Mức độ cần thiết của hát dân ca trong học tập và đời
sống có kết quả như sau:

362
Bảng 2.2.1: Mức độ cần thiết của dân ca Việt Nam trong học tập và đời sống của sinh viên
(Nguồn: Hồ Thị Như Vui - https://forms.gle/dTRkQFKNTn3ebfmUA)
Theo thống kê cho ta thấy, 35,3 % sinh viên cho là rất cần thiết, và 58,8 % cho là cần thiết,
số cho rằng không cần thiết lắm chiếm tỉ lệ khá nhỏ 5,9 %. Khi được hỏi, tại sao không cần
thiết lắm, chúng tôi nhận được câu trả lời: “Em chỉ thỉnh thoảng nghe thôi, có nhiều thể loại
nhạc khác nghe hay hơn”. Trong đó, với câu hỏi:
Bảng 2.2.2: Các thể loại dân ca vùng miền sinh viên thường nghe và hát
(Nguồn: Hồ Thị Như Vui - https://forms.gle/dTRkQFKNTn3ebfmUA)
Qua kết quả khảo sát, chúng ta thấy rõ kết quả khá chênh lệch ở các lựa chọn. Có thể
thấy, sinh viên trường ĐH Văn hóa Tp. Hồ Chí Minh hầu hết đến từ các tỉnh phía Nam, vì
vậy nhu cầu nghe và thực hành thể loại dân ca Nam Bộ chiếm tỉ lệ cao nhất: 50%. Sau đó là
các thể loại còn lại được lựa chọn với số ít bạn sinh viên đến từ miền Trung và miền Bắc. Con
số 25% là tỉ lệ không nhỏ khi nhận được kết quả rằng các em ít nghe nhạc dân ca và không
thể hát được bất kì loại dân ca vùng miền nào. Bên cạnh đó, khả năng nghe và hát dân ca cả

