
368
GIÁO DỤC NGHỆ THUẬT MÚA DÂN GIAN DÂN TỘC
TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG
TỪ PHƯƠNG PHÁP HỌC DỰA TRÊN KHÁM PHÁ
ThS. NCS Huỳnh Hồng Diễm
141
Tóm tắt
Hiện nay, nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc đã được lồng ghép vào
các chương trình giáo dục trong nhà trường phổ thông và đại học. Đây là một trong những
chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đng và nhà nước với mong muốn bo vệ những giá trị
văn hoá nghệ thuật truyền thống của nhân dân. Tuỳ vào những quan điểm, triết lý giáo dục
khác nhau mà việc giáo dục văn hoá – nghệ thuật truyền thống của dân tộc trong nhà trường
có những cơ sở lý thuyết khác nhau. Bài viết này, tác gi sẽ giới thiệu nội dung của phương
pháp tự học dựa vào khám phá và kh năng ứng dụng phương pháp này vào giáo dục nghệ
thuật múa dân gian dân tộc trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam.
ABSTRACT:
Currently, many traditional art forms of the nation have been integrated into
educational programs in schools and universities. This is one of the correct and timely
policies of the Party and State with the desire to protect the traditional cultural and artistic
values of the people. Depending on different perspectives and educational philosophies, the
education of the nation's traditional culture and arts in schools has different theoretical
foundations. In this article, the author will introduce the content of the discovery-based self-
study method and the possibility of applying this method to ethnic folk dance art education in
high schools in Vietnam.
TỪ KHOÁ: Giáo dục, khám phá, múa, nghệ thuật, phương pháp học.
KEYWORDS: Education, discovery, dance, art, learning methods.
1. Dẫn nhập
Lịch sử phát triển giáo dục trên thế giới đã cho thấy, giáo dục nghệ thuật đã có từ rất
lâu. Nhiều quốc gia như Anh, Pháp, Nhật,… đã xem giáo dục nghệ thuật như là một phần
không thể tách khỏi nền giáo dục quốc dân, cũng như sự nghiệp xây dựng và phát triển văn
hoá đất nước.
Ở Việt Nam, Luật giáo dục (2019), Quốc hội khóa 14 đã ghi rõ mục tiêu giáo dục của
Việt Nam là: nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức
khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước,
tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm
năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc
tế [Điều 2]. Bên cạnh đó, Quốc hội cũng nêu rõ tính chất và nguyên lý giáo dục của Việt Nam
141
Trường múa Thành phố Hồ Chí Minh

369
là: Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa
học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Hoạt động
giáo dục được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn,
giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội [Điều 3]. Như vậy, giáo
dục văn hoá – nghệ thuật sẽ đóng góp một phần rất quan trọng vào mục tiêu chung của nền
giáo dục, đồng thời phản ánh một phần về tính chất và nguyên lý giáo dục của đất nước ta.
Về nội dung và phương pháp giáo dục, Luật Giáo dục cũng viết rằng: Nội dung giáo
dục phải bảo đảm tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại, có hệ thống và được cập nhật
thường xuyên; coi trọng giáo dục tư tưởng, phẩm chất đạo đức và ý thức công dân; kế thừa
và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại;
phù hợp với sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tâm sinh lý lứa tuổi và khả năng của người học.
Phương pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng
tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác, khả năng thực hành,
lòng say mê học tập và ý chí vươn lên [Điều 7]. Như vậy, văn hoá – nghệ thuật dân tộc nói
chung, nghệ thuật múa dân gian dân tộc nói riêng và phương pháp học dựa trên khám phá mà
tác giả bài biết này đề cập là hoàn toàn phù hợp với những quy định của pháp luật hiện hành.
2. Chủ trương của Đảng và thực hiện của Chính phủ trong việc giáo dục nghệ thuật cho
người học
Trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, được thông qua tại Hội nghị Trung
ương 8 Khoá XI đã nhấn mạnh một trong những quan điểm chỉ đạo là Phát triển giáo dục và
đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo
dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.
Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia
đình và giáo dục xã hội. Trung ương Đảng cũng xác định một trong những mục tiêu tổng quát
là: Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả
năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc
hiệu quả. Đối với giáo dục phổ thông, Đảng nhấn mạnh: Đối với giáo dục phổ thông, tập trung
phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng
năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và
kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học,
khuyến khích học tập suốt đời.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cụ thể hoá những chủ trương trên của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khi xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông được Ban hành kèm theo
Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018. Chương trình này cho thấy nội dung giáo
dục nghệ thuật được định hướng nhằm góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu
và năng lực chung cho học sinh; trang bị những kiến thức cốt lõi, kĩ năng cơ bản về các lĩnh
vực nghệ thuật; hình thành, phát triển năng lực thẩm mĩ và phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu
nghệ thuật cho học sinh; giáo dục thái độ tôn trọng, khả năng kế thừa và phát huy những giá
trị văn hoá, nghệ thuật truyền thống của dân tộc trong quá trình hội nhập và giao lưu với thế

370
giới, đáp ứng mục tiêu giáo dục hài hoà về đức, trí, thể, mĩ cho học sinh. Ngay từ bậc học
mầm non, giáo dục nghệ thuật đã được chú trọng nhằm giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm,
hiểu biết thẩm mĩ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách,... Đến bậc phổ thông, giáo
dục nghệ thuật được thực hiện thông qua nhiều môn học, mà cốt lõi là môn Âm nhạc và môn
Mĩ thuật. Từ lớp 10 đến lớp 12, học sinh được lựa chọn môn học thuộc nhóm môn công nghệ
và nghệ thuật phù hợp với định hướng nghề nghiệp, sở thích và năng lực của bản thân. Như
vậy, có thể thấy: trong Chương trình giáo dục phổ thông mới, giáo dục nghệ thuật được xây
dựng theo quan điểm tập trung phát triển ở học sinh năng lực âm nhạc và mĩ thuật, biểu hiện
của năng lực thẩm mĩ trong các lĩnh vực này thông qua nội dung giáo dục với những kiến
thức cơ bản, thiết thực; chú trọng thực hành; góp phần phát triển hài hoà đức, trí, thể, mĩ và
định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nội dung giáo dục của chương trình được thiết kế theo
hướng kết hợp giữa đồng tâm với tuyến tính; thể hiện rõ đặc trưng nghệ thuật âm nhạc, mĩ
thuật và bản sắc văn hoá dân tộc; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hoá dần ở các lớp học
trên, đồng thời “bảo đảm kết nối chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học với nhau và liên thông
với chương trình giáo dục mầm non, chương trình giáo dục nghề nghiệp và chương trình giáo
dục đại học” [Nguyễn Trọng Hoàn, 2019].
3. Khái quát về phương pháp học dựa trên khám phá
Phương pháp học dựa trên khám phá là 1 trong 3 phương pháp thuộc nhóm phương
pháp học tập sáng tạo. Khi nói đến phương pháp học tập sáng tạo là hàm ý nhấn mạnh đến
việc mọi hoạt động hướng đến phát triển các kỹ năng tư duy của người học. Nhóm phương
pháp này phát triển mạnh từ đầu thế kỷ 21 đến nay cùng với sự cải tiến, cải cách mạnh mẽ
của nền giáo dục trên toàn thế giới, nhất là những quốc gia có nền giáo dục phát triển.
Theo một số nhà nghiên cứu giáo dục, phương pháp này có thể do nhà giáo dục John
Dewey đề xuất. Phương pháp học dựa trên khám phá tập trung vào các kỹ năng tư duy sau:
tư duy sáng tạo, tư duy độc lập, tư duy giải quyết vấn đề, giao tiếp, hợp tác, tự nhận thức. Các
kỹ năng này được hình thành sau một thời gian dài học tập với một quy trình:
1- Quan sát
2- Đặt câu hỏi
3- Tìm hiểu các nguồn thông tin để xác định các kiến thức đã được tìm ra
4- Lập kế hoạch tìm hiểu/khám phá
5- Thẩm định lại những gì đã được tìm ra bằng các chứng cứ từ thực nghiệm
6- Sử dụng các công cụ để thu thập, phân tích và giải thích dữ liệu
7- Đề xuất câu trả lời, giải thích hoặc dự đoán
8- Trình bày kết quả
9- Đánh giá và phản hồi.
Với phương pháp học dựa trên khám phá, mức độ can thiệp của giáo viên vào quá trình
học của người học rất đa dạng, gần như kiểm soát hoàn toàn đến không kiểm soát. Đồng thời,

371
nhiệm vụ khám phá được giao có mức độ phức tạp khác nhau tuỳ vào năng lực, kỹ năng vốn
có của người học. Mục tiêu cuối cùng là các trách nhiệm của người dạy ngày càng được
chuyển qua cho người học và người học hoàn toàn độc lập trong các khám phá của mình.
Về mặt phân loại, phương pháp học dựa trên khám phá có thể phân thành 3 hình thức
cơ bản sau:
1- Các khám phá do người dạy điều hướng: với hình thức này, người dạy sẽ xác định
trước câu hỏi cần khám phá, phương pháp tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi này và cách trình
bày kết quả. Người học chỉ cần làm theo hướng dẫn của người dạy.
2- Các khám phá do cả người dạy và người học điều hướng. Với hình thức này, người
học sẽ được tiếp cận với một tình huống/bối cảnh mà người dạy chuẩn bị trước và giáo viên
sẽ đặt ra câu hỏi về tình huống/bối cảnh đó. Người học sẽ đề ra các phương pháp khám phá
và trình bày kết quả nghiên cứu.
3- Các khám phá do học sinh chủ động điều hướng. Với hình thức này, người học tự
xác định nội dung, phương pháp học và cách trình bày kết quả của mình. Câu hỏi này hoàn
toàn do người học đề ra khi tiếp cận với một tình huống/bối cảnh mà người dạy đã chuẩn bị
trước. Toàn bộ quá trình, phương pháp khám phá và trình bày kết quả sau đó đều do người
học quyết định [Giản Tư Trung, 2023, tr. 216-220].
4. Ứng dụng phương pháp học dựa trên khám phá vào giáo dục nghệ thuật múa
dân gian dân tộc trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam
Nghệ thuật múa dân gian dân tộc là các tác phẩm múa được sáng tác, dàn dựng trên cơ
sở chất liệu múa là những nét - những bản sắc - những giá trị văn hoá mang tính dân gian,
đậm chất truyền thống của các dân tộc khác nhau ở Việt Nam. Vì vậy, tác phẩm múa khai
thác chất liệu văn hoá dân gian của dân tộc nào thì sẽ thể hiện rất rõ thông qua ngôn ngữ múa.
Như vậy, nghệ thuật múa dân gian dân tộc là những tác phẩm múa rất đặc thù, độc đáo.
Thế nhưng với kinh nghiệm và những trải nghiệm trong lĩnh vực nghệ thuật múa hơn 25 năm
qua, với những vị trí công việc khác nhau như diễn viên, biên đạo, huấn luyện và giáo viên
dạy múa, tác giả tham luận nhận thấy rằng những nội dung của phương pháp học dựa trên
khám phá được đề cập ở trên hoàn toàn có thể ứng dụng vào việc giáo dục nghệ thuật múa
dân gian dân tộc trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam. Dưới đây là một số đề xuất ứng
dụng khả dĩ:
Stt
Vấn đề ứng dụng
Các phương án thực hiện
1.
Tạo tình huống/bối cảnh
để học sinh quan sát.
- Cho học sinh xem 1 hoặc nhiều tác phẩm múa dân gian
dân tộc khác nhau;
- Giáo viên thị phạm các động tác múa dân gian dân tộc
trước mặt học sinh;

372
- Cho học sinh xem các biểu đạt văn hoá dân gian của các
tộc người thông qua: trang phục, động tác trong lao động,
tri thức dân gian,…
2.
Đặt câu hỏi cho học sinh
Từ những gì mà học sinh quan sát được ở trên, giáo viên
đặt ra các câu hỏi, hoặc đề nghị chính học sinh đặt ra các
câu hỏi như:
- Tác phẩm múa đã được xem là biểu thị bản sắc văn hoá
của dân tộc nào?
- Động tác múa mà giáo viên đã thị phạm là múa dân gian
của dân tộc nào?
- Các biểu đạt văn hoá dân gian mà học sinh đã được xem
là của dân tộc nào?
- Những biểu đạt văn hoá đó phản ánh triết lý/tư tưởng
nhân văn gì? Những tư tưởng đó có còn phù hợp trong xã
hội ngày nay?
3.
Tìm hiểu các nguồn
thông tin để xác định các
kiến thức đã được tìm ra
- Giáo viên yêu cầu học sinh tìm các nguồn tài liệu thứ cấp,
sơ cấp đảm bảo độ tin cậy để trả lời cho những câu hỏi
trên.
- Giáo viên giới thiệu các nguồn tài liệu có độ tin cậy cao
để học sinh chủ động tiếp cận tìm hiểu, nghiên cứu.
- Giáo viên mời những chuyên gia, nhà nghiên cứu về văn
hoá – đặc biệt là những người nghiên cứu chuyên sâu về
biểu tượng/ký hiệu văn hoá để nói chuyện, giải thích cho
học sinh.
4.
Lập kế hoạch tìm
hiểu/khám phá
Sau khi xác định được các nguồn thông tin đáng tin cậy,
giáo viên yêu cầu từng học sinh (cá nhân) hoặc nhóm học
sinh xây dựng các kế hoạch tìm hiểu/khám phá để tìm đáp
án cho các câu hỏi nghiên cứu trên.
5.
Thẩm định lại những gì
đã được tìm ra bằng các
chứng cứ từ thực nghiệm
Học sinh đề nghị giáo viên thẩm lại mức độ chính xác của
các kết quả khám phá được từ những câu hỏi nghiên cứu ở
trên.
6.
Đề xuất câu trả lời, giải
thích hoặc dự đoán
Học sinh sáng tác, dàn dựng những tác phẩm múa dân gian
dân tộc mới trên cơ sở kết quả trả lời của những câu hỏi
nghiên cứu ở trên.
7.
Trình bày kết quả
Tổ chức chương trình biểu diễn báo cáo những tác phẩm
múa mà học sinh đã sáng tác, dàn dựng mới ở trên.

