
386
THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG TUỒNG CỔ Ở
NAM BỘ VÀO CÁC NGÀNH VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
ThS. Lâm Thị Thu Hiền
147
ThS. Thạch Thị Thanh Loan
148
Tóm tắt
Nghệ thuật sân khấu Ci lương Tuồng Cổ là một tài sn tinh thần vô giá của người
dân Nam Bộ. Nó vừa lưu giữ những bn sắc văn hóa đặc trưng của người Nam Bộ, vừa có sự
giao lưu, tiếp biến các giá trị từ nền văn hóa Việt -Hoa. Trong tham luận, chúng tôi vận dụng
phương pháp điền dã dân tộc học tiến hành phỏng vấn sâu và tập trung vào gỡ băng các vở
tuồng Ci lương Tuồng Cổ nhằm phân tích và nhận diện được vai trò giáo dục của Ci lương
Tuồng Cổ trong đời sống người dân ở Nam Bộ. Qua thực tế ging dạy Ci lương Tuồng Cổ
cho các ngành văn hóa - nghệ thuật Trường Đại học Trà Vinh, chúng tôi đưa ra thực trạng
và đề xuất gii pháp nhằm ci thiện việc ging dạy loại hình Ci lương Tuồng cổ đối với một
số ngành học như văn hóa - nghệ thuật học nhằm bo tồn và phát huy giá trị di sn văn hóa
phi vật thể Ci Lương trong bối cnh hiện nay.
Từ khóa: Thực trạng, ging dạy, Ci lương Tuồng Cổ
CURRENT STATUS OF TEACHING ANCIENT CAI LUONG TUONG ART IN
THE SOUTH REGION IN CULTURAL - ART SECTORS
AT TRA VINH UNIVERSITY
Abstract
The theater art of Cai Luong Tuong Co is an invaluable spiritual asset of the Southern
people. It not only preserves the typical cultural identities of the Southern people, but also
has the exchange and adaptation of values from Vietnamese-Chinese culture. In the paper,
we applied the ethnographic fieldwork method to conduct in-depth interviews and focused on
transcribing the Cai Luong Tuong Co plays to analyze and identify the educational role of
Cai Luong Tuong Co in people's lives in the South. Through the practice of teaching Cai
Luong Co opera for cultural and art majors at Tra Vinh University, we present the current
situation and propose solutions to improve the teaching of Cai Luong Co opera for some
students. majors such as cultural and artistic studies aim to preserve and promote the value
of Cai Luong intangible cultural heritage in the current context.
Keywords: Current situation, teaching, Reformed Tuong Co
147
Thạc sĩ. Lâm Thị Thu Hiền - Trường Đại học Trà Vinh (NCS)
148
Thạc sĩ. Thạch Thị Thanh Loan - Trường Đại học Trà Vinh

387
1. Dẫn nhập
Nghệ thuật sân khấu Cải lương Tuồng cổ được hình thành trong quá trình cộng cư giao
lưu, tiếp biến đã tiếp thu những tinh hoa nghệ thuật từ các loại hình nghệ thuật sân khấu khác
như: sân khấu Hát Bội, sân khấu Kinh Kịch, sân khấu Triều Châu của người Hoa - trong dân gian
còn gọi là “gánh hát Tiều” và sân khấu Cải lương. Từ đó, sân khấu Cải lương Tuồng cổ Nam Bộ
đã bổ sung thêm những yếu tố nghệ thuật độc đáo. Nó làm phong phú thêm cho loại hình nghệ
thuật vốn có của mình trong đó có âm nhạc. Từ nền tảng của nền âm nhạc dân gian truyền thống
lâu đời, âm nhạc trong nghệ thuật sân khấu Cải lương Tuồng cổ là sự tổng hợp hài hòa sự giao
thoa và tiếp thu các làn điệu, dàn nhạc trong loại hình sân khấu Hí kịch của người Hoa, sân khấu
Hát Bội của người Việt ở Nam Bộ, dàn nhạc Hồ Quảng, nhạc phim Đài Loan và kể cả nhạc
Phương Tây (Pháp)… Các làn điệu âm nhạc đó đã được Việt hóa, dung nạp vào sân khấu Cải
lương Tuồng cổ Nam Bộ đậm đà âm hưởng, sắc thái người Việt ở Nam Bộ.
Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về giáo dục đại học và phương hướng, nhiệm vụ,
giải pháp chủ yếu, tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học [2]. Việc
nâng cao chất lượng giáo dục đại học luôn đòi hỏi sự quan tâm, đầu tư cho công tác đào tạo
giảng viên ở các trường đại học. Việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, nâng cao
chất lượng đào tạo sinh viên (SV), đồng thời bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giảng viên
ở Khoa Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam Bộ, Trường Đại học Trà Vinh đã có
nhiều chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đất nước và nhu cầu học tập của Nhân dân.
Trường Đại học Trà Vinh đã tăng cường phát triển chương trình đào tạo, nghiên cứu
xây dựng bộ Chuẩn đầu ra cho sinh viên tốt nghiệp theo hướng phát triển năng lực. Căn cứ
cho hướng đi này là Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của Chính phủ về Đổi mới cơ bản và toàn
diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020, trong đó nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh
mẽ nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng giảng viên và cán bộ quản lý
giáo dục đại học. Chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của giảng
viên, tầm nhìn chiến lược, năng lực sáng tạo và tính chuyên nghiệp của cán bộ lãnh đạo, quản
lý” [9].
Xu thế hội nhập quốc tế, phát triển con người thế kỷ XXI cho thấy việc tăng cường
chất lượng dạy học các môn thuộc ngành văn hóa - nghệ thuật và không ngừng bồi dưỡng đội
ngũ giảng viên Văn hóa - Nghệ thuật của Khoa Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer
Nam Bộ chính là một vấn đề nghiên cứu cần được quan tâm.
Hiện nay, việc đào tạo sinh viên ngành Văn hóa - Nghệ thuật, chuẩn bị cho họ đầy đủ
khả năng hoạt động văn hóa - nghệ thuật và khả năng thích ứng với chương trình giáo dục
mới. Với tình hình thực tiễn này, tham luận nghiên cứu “Thực trạng giảng dạy nghệ thuật Cải
lương Tuồng Cổ ở Nam Bộ vào các ngành văn hóa - nghệ thuật tại Trường Đại học Trà Vinh”
là vô cùng cấp thiết.

388
2 Nội dung
2.1 Vị trí của các môn học Nghệ thuật trong chương trình đào tạo ngành Văn hóa
- Nghệ thuật thuộc Trường Đại học Trà Vinh
Trong chương trình đào tạo của Khoa Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam
Bộ, các môn học Nghệ thuật tạo thành một hệ thống bao gồm: Các môn học cơ sở và những
môn học mang tính nghiệp vụ như: Cơ sở văn hóa Việt Nam, mĩ học đại cương, Văn hóa Nam
Bộ, Nghệ thuật đương đại, Nghệ thuật biểu diễn Việt Nam, Ca hát truyền thống, Marketing
Văn hóa nghệ thuật... Các môn học này là những thành phần thiết yếu của chương trình đào
tạo ngành Văn hóa - Nghệ thuật, thực hiện chức năng giáo dục và hình thành cho sinh viên
các phẩm chất, năng lực trên phương diện:
Giáo dục sinh viên thành người công dân tốt: cung cấp cho sinh viên kiến thức về văn
hóa nghệ thuật, hình thành khả năng cảm thụ thẩm mĩ và thái độ trân trọng các giá trị Trí tuệ
- Thẩm mĩ - Đạo đức trong nền văn hóa của nhân loại; Bồi dưỡng cho sinh viên khả năng sử
dụng ngôn ngữ nghệ thuật trong nhận thức, giao tiếp và lao động sáng tạo.
Sự phối hợp các môn học Nghệ thuật trong chương trình đào tạo sẽ tạo nên một quá
trình đào tạo với chức năng: Giáo dục văn hóa - nghệ thuật. Chính vì vậy, khi giảng dạy các
môn học ngành Văn hóa - Nghệ thuật, giảng viên luôn lồng ghép lý thuyết kết hợp với thực
hành nhằm rèn luyện các kĩ năng và giúp sinh viên phân tích các đặc trưng các loại hình nghệ
thuật, vai trò giáo dục của từng loại hình nghệ thuật. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ tập
trung phân tích vai trò giáo dục của Cải lương Tuồng cổ Nam Bộ một trong những loại hình
nghệ thuật và đưa ra những thực trạng và đề xuất những giải pháp khi giảng dạy cho sinh
viên Đại học Trà Vinh.
2.2. Đặc điểm vai trò giáo dục của nghệ thuật Cải lương Tuồng cổ Nam Bộ
2.2.1 Giáo dục con người “Lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết dân tộc”
Từ ngàn xưa, truyền thống của dân tộc ta từ ngàn xưa có lòng yêu nước nồng nàn. Yêu
nước gắn liền với lòng yêu thương con người, yêu đồng bào, yêu thuần phong mĩ tục, truyền
thống văn hóa của dân tộc. Đoàn kết là một giá trị văn hóa truyền thống quý báu được hình
thành, phát triển trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong suốt chiều
dài lịch sử dựng nước và giữ nước, hiếm có dân tộc nào trải qua chiến tranh giành độc lập
nhiều như dân tộc ta (chống ngoại xâm và sự đô hộ của ngoại bang). Độ dài về thời gian, tần
suất của các cuộc chiến tranh lớn, nước ta lại luôn ở trong thế “nhỏ chống lớn”, “ít địch nhiều”
đã tác động sâu sắc đến sự phát triển của lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc, ý chí
kiên cường, bất khuất và niềm tự tôn của người dân Việt Nam. Chúng ta có quyền tự hào vì
những trang lịch sử vẻ vang của thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Thường Kiệt,
Trần Thủ Độ, Lê Lợi, Quang Trung... Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng
dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng. Tinh thần đại đoàn kết, yêu nước
nồng nàn, cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động... đã góp phần xây dựng giá trị con người
Việt Nam trong tổng hòa nền văn hóa đa dạng, giàu bản sắc, trở thành nét đặc trưng so với
các dân tộc khác trên thế giới.

389
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà
Việt Nam". Qua đó, cho thấy Bác Hồ rất coi trọng vai trò, ý nghĩa của môn lịch sử đối với
mỗi người dân như thế nào. Đây không chỉ là một lời kêu gọi mà là một gợi mở khoa học, là
thực tiễn và là đề cao trách nhiệm của mỗi người dân đối với quá trình phát triển của dân tộc,
vận mệnh đất nước. Việc học tập, tìm hiểu, nghiên cứu về công cuộc dựng nước và giữ nước
của ông cha cũng như quá trình phát triển lịch sử thế giới là rất quan trọng. Do đó, mỗi người
phải biết tường tận về lịch sử, nhất là lịch sử dân tộc thì mới có cách ứng xử phù hợp, tốt nhất
với tình huống xảy ra hiện tại và tương lai [1].
Sau năm 1975, với ý thức tự hào dân tộc và lòng yêu nước với mong muốn đoàn kết
dân tộc Việt nên các tác giả như Thanh Tòng và Bạch Mai viết một số vở Cải lương Tuồng
cổ về theo dòng lịch sử Việt Nam như: Trưng Nữ Vương viết về Bà Trưng (Bạch Mai), Má
Hồng Soi Kiếm Bạc viết về Triệu Thị Trinh –Bà Triệu (Thanh Tòng), Cờ Lau Dựng Nước
viết về Đinh Bộ Lĩnh (Bạch Mai), Câu Thơ Trên Yên Ngựa viết Lý Thường Kiệt, Thái Hậu
Ỷ Lan và xử án Thượng Dương Hoàng Hậu tội phản quốc (Thanh Tòng), Bão Táp Nguyên
Phong viết về Trần Thủ Độ và Trần Thái Tông chiến công đánh thắng quân Nguyên-Mông
lần nhất, Bức Ngôn Đồ Đại Việt viết về Nguyễn Địa Lô và Nguyễn Phục (Thanh Tòng), Anh
Hùng Bán Than (Bạch Mai) viết về Trần Khánh Dư ở ẩn bán than, Lam Sơn Tụ Nghĩa viết
về Nguyễn Trãi và Lê Lợi đi tìm nhau nuôi chí lớn (Thanh Tòng chuyển thể), Dưới Cờ Tây
Sơn (Thanh Tòng) và Mặt Trời Đêm Thế Kỷ (Bạch Mai) viết về người anh hùng áo vải Quang
Trung – Nguyễn Huệ.
Thông qua biểu diễn trên sân khấu các vở Cải lương Tuồng cổ lịch sử Việt Nam các
đoàn cải lương đang cố gắng tái hiện lại lịch sử nước nhà, với mong muốn khán giả xem hiểu
một phần nào đó lịch sử nước nhà tự hào về tinh thần yêu nước và đoàn kết quyết tâm chống
giặc ngoại xâm trong thời ngàn năm Bắc thuộc và sau khi giành độc lập bởi chiến thắng của
Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938. Thời gian nước ta là bị đô hộ của bọn giặc phương
Bắc, chúng đồng hóa biến nước ta thành một quận của chúng, nhưng nhân dân ta quyết tâm
chống Hán hóa và đấu tranh giành độc lập có nhiều cuộc khởi nghĩa diễn ra mà nổi bậc là
khởi nghĩa của Hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị được tái hiện qua Vở Trưng Nữ Vương
đã hi sinh tế sống chồng trước và đánh trống đồng tiến công để chống giặc và vở Má Hồng
Soi Kiếm Bạc nói về nữ anh hùng Triệu Thị Trinh đã hi sinh tình yêu để đứng lên chống giặc.
Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa của các Bà lúc đầu cũng chiến thắng, nhưng về sau cũng thất
bại vì giặc nhiều còn dân ta thì ít. Sau khi, Ngô Quyền lên ngôi năm 939 và ông mất thì đất
nước rối ren chia cắt mười hai sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh đứng lên dẹp loạn mười hai sứ quân và
giặc ngoại xâm, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng đặt tên nước là Đại Cồ Việt
và vở Dưới Ngọn Cờ Lau tái hiện lại cảnh Đinh Bộ Lĩnh là đứa và bẻ những ngọn lau chơi
đánh trận với các bạn cùng trang lứa và lớn lên dẹp loạn thù trong giặc ngoài. Câu Thơ Yên
Ngựa là vở kinh điển của nghệ thuật Cải lương Tuồng cổ Việt Nam, câu chuyện xảy ra giai
đoạn thời Lý, khi quân Tống lăm le xâm phạm bờ cõi nước nhà. Nội bộ vương triều biến
động, một số quý tộc tư thông, cấu kết làm nội gián với quân giặc. Thù trong, giặc ngoài khiến
nổi bật lên tinh thần yêu nước của Thái hậu Ỷ Lan, Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành...lãnh đạo
Tổ Quốc đánh tan quân thù phương Bắc. Kịch bản vẫn luôn có ý nghĩa trong sự nghiệp bảo

390
vệ Tổ quốc hôm nay. Ba vở Cải lương Bão Táp Nguyên Phong, Bức Ngôn Đồ Đại Việt, Anh
Hùng Bán Than viết về nhà Trần ba lần chống quân Nguyên Mông. Giai đoạn này đã thấy rõ
lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết nên đất nước ta mới chiến thắng quân Nguyên – Mông
vì chúng đã chiếm cả Châu Âu và Nga nhưng đến Đại Việt thì chúng thất bại bởi kế hoạch
“vườn không nhà trống”của người dân nhà Trần. Để chống giặc Minh xâm lược, Nguyễn Trãi
đã đi tìm người tài đức cùng chí hướng đó là Lê Lợi để cùng nhau chống giặc được thể hiện
qua vở Lam Sơn Tụ Nghĩa. Người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ được rất nhiều soạn giả viết
nhưng hai soạn giả Thanh Tòng và Bạch Mai đã viết về ông qua hai vở Dưới Cờ Tây Sơn
(Thanh Tòng) và Mặt Trời Đêm Thế Kỷ (Bạch Mai) kể về quá trình Nguyễn Huệ đứng lên
chống giặc Thanh cùng các anh em của mình Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ và chuyện tình
đẹp của Nguyễn Huệ với Công chúa Ngọc Hân.
2.2.2 Giáo dục con người theo Lối sống “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín”
Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là năm điều mà Nho Giáo khuyên mọi người phải thường
noi theo hằng ngày. Thời nào cũng vậy, chữ nhân luôn đặt lên hàng đầu, là quan trọng hơn
cả, nó đã là bao quát, là đạo làm người. Dù thời xưa hay thời nay chữ nhân đó vẫn thể hiện
trong cách sống của mỗi con người. Cách đối nhân xử thế, tấm lòng của con người giữa đời
thường, cũng như vai trò trách nhiệm của mỗi cá nhân trong xã hội. Nghĩa ở đây thể hiện vai
trò, trách nhiệm của con người với người, giữa người với đời, với xã hội hiện tại. Sống ở đời
cần có một trách nhiệm với đời, cũng chính vì vậy mà cần có nghĩa, sống có trách nhiệm với
quê hương đất nước, với gia đình, với anh em bằng hữu cũng là nghĩa. Biết trả ơn khi mình
đã nhận được những điều may mắn trong cuộc sống – đó cũng là nghĩa. Lễ được xem qua
cách hành xử, ứng xử cùng với những nghi thức, lễ nghi đúng thủ tục, hợp lòng người trong
cuộc sống đương thời mà qua đó xã hội đánh giá đến sự hiểu biết của một cá nhân, phải đạo
với trời đất, hợp đạo với đời. Trí là một sự hiểu biết, người không trí, không hiểu biết thì quả
là một thiệt thòi lớn, có thể nói người không trí không làm được gì cả. Chữ tín là bằng hữu
của uy tín, thủy chung trước sau như một, không thay lòng đổi dạ, dù hứa hẹn một việc nhỏ
cũng chẳng sai lời, mới gọi là người biết giữ uy tín.
Cải lương Tuồng cổ chuyển thể hay viết theo dã sử của Trung Quốc nên ảnh hưởng
triết lý giáo dục của Nho Giáo Nhân, Nghĩa, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Bài viết này, chúng tôi sẽ
phân tích một số Tuồng cổ giáo dục con người theo Nhân, Nghĩa, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín như:
Lưu Kim Đính, San Hà Xã Tắc.
Về Nhân trong vở Lưu Kim Đính với nội dung Cao Quân Bảo phá bảng Chiêu Phu và
đánh thua Kim Đính, cả hai tiến hành đính ước tặng kim xuyến trao tay. Quân Bảo ra đi cứu
cha nhưng vẫn nhớ đến lời ước nguyện. Lưu Kim Đính vì thương người mình yêu nên đã một
mình một ngựa phá bốn cổng thành đánh bại Dư Hồng giải cứu cho Cao Hoài Đức. Tình tiết
trong vở cả hai tự đính ước đã bị thất lễ vì tội không xin phép phụ mẫu nhưng Kim Đính có
công cứu phụ thân Quân Bảo nên được Vua Tống ban hôn và được phụ mẫu Quân Bảo vui
vẻ chấp nhận vì Hoàng Thượng ban hôn phải giữ chữ tín . Nghĩa ở đây là vì chồng đính ước
mà cứu phụ thân chồng cho dù tưởng chừng mất mạng. Kim Đính là một cô gái xinh đẹp được
thánh mẫu đưa về động tiên truyền dạy võ nghệ và phép thuật để sau này giúp nước giúp đời
nên tài trí vẹn toàn đã đánh bại Dư Hồng người mưu mô tài trí đã dù phép thuật làm cho Cao

