275
GING DY S THI VÀ NGH THUT DIỄN XƯỚNG S THI
TÂY NGUYÊN TRONG NHÀ TRƯỜNG
PGS.TS. Buôn Krông Th Tuyết Nhung
61
ThS. NCS. Hà Thị Thới
62
Tóm tắt
Sử thi Tây Nguyên là một tên gọi dành cho một thể loại folklore ngôn từ mang bản thể,
sắc thái của vùng văn hoá y Nguyên. Sử thi Tây Nguyên từ khi được phát hiện và đến khi
trở thành một đối tượng nghiên cứu của folklore Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu văn
hoá, văn học dân gian Việt Nam gọi bằng thuật ngữ “sử thi sống” vì đó là những tác phẩm sử
thi được diễn xướng trong đời sống cộng đồng với môi trường và khán giả riêng của nó. Tuy
nhiên, nhiều nhà nghiên cứu folklore khảo sát điền đã khẳng định thực trạng diễn xướng
sử thi đang dần bị mai một nguy biến mất. Các học giả đã đề xuất không ít những
giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển “sử thi sống” ở Tây Nguyên. Trong xu hướng đó, chúng
tôi mong muốn góp một cái nhìn về việc giảng dạy sử thi Tây Nguyên trong nhà trường từ
thực trạng đến giải pháp mang tính định hướng thông qua phương pháp nghiên cứu tài liệu
phương pháp nghiên cứu liên ngành với các hướng tiếp cận từ các lĩnh vực folklore học, văn
hoá học, dân tộc học giáo dục học. Trong phạm vi bài viết y, chúng tôi chỉ khảo t
trường hợp sử thi Êđê và sử thi M’nông.
Từ khoá: Sử thi Tây Nguyên, ging dạy, nhà trường, sử thi Êđê, sử thi M’nông.
Abstract
The Central Highlands epic is a name given to a genre of verbal folklore that has the
essence and nuances of the Central Highlands cultural region. Since it was discovered and
became an object of research in Vietnamese folklore, the Central Highlands epic has been
called by Vietnamese cultural and folk literature researchers the term "living epic" because
they are Epic works performed in community life with their environment and audience.
However, many folklore researchers conducting field surveys have confirmed that the reality
of epic performance is gradually being eroded and is in danger of disappearing. Scholars have
proposed many solutions to preserve and develop the “living epic” in the Central Highlands.
In that trend, we would like to contribute a view on teaching the Central Highlands epics in
schools - from the current situation to solutions and consequences through document research
and interdisciplinary research methods with approaches from the fields of folklore, cultural
studies, ethnology and education. Within the scope of this article, we only access the cases of
the Êđê epic and the M’nong epic.
Keywords: Central Highlands epic, teaching, school (education), Êđê epic, M’nong
epic.
61
PGS.TS. GVCC, Trường Đại học Tây Nguyên.
62
 ThS, Giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Tây Ninh. NCS khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội &
Nhân văn – Đại học Quốc gia Tp. HCM.
276
1. Sử thi Tây Nguyên và nghệ thuật diễn xướng sử thi
1.1. Sử thi Tây Nguyên và truyền dạy một giải pháp bảo tồn và phát triển sử thi sống
“Sử thi y Nguyên” một thuật ngữ được chính thức sử dụng trong giới nghiên cứu
folklore học, văn hoá học Việt Nam từ sau hội thảo Khoa học về S thi Tây Nguyên, tổ chức
Buôn Ma Thuột ngày 19/5/1997 do Trung tâm Khoa học hội và Nhân văn Quốc gia phối
hợp với Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk tổ chức sau in thành sách S thi Tây Nguyên (1998).
Theo Ngô Đức Thịnh thì sử thi y Nguyên một dạng tự sự dân gian, nằm trong
khuôn khổ thể loại các học gi thế giới gọi Epic, Epopée (dịch sang tiếng Việt “sử
thi”), gắn với những đặc thù Tây Nguyên về môi trường tự nhiên, truyền thống các dân tộc
bn địa, trình độ phát triển kinh tế - hội các đặc trưng văn hoá, tạo nên sự thống nhất
thể loại trên các phương diện, như: độ dài tác phẩm, phương thức diễn xướng, hình thức
truyền miệng, nội dung các đặc trưng nghệ thuật, tạo nên một tổng thể văn hoá, đó là “văn
hoá sử thi” (2019, tr.527).
Như vậy, theo định nghĩa này, sử thi Tây Nguyên không phải đơn thuần một hiện
tượng thể loại của folklore ngôn từ còn một hiện tượng của văn hoá. Sự tồn tại của s
thi có liên quan đến văn hoá các tộc người Tây Nguyên bản địa. Nhưng liệu rằng từ lúc nhận
diện đến nay đã gần 30 năm thì nhiệt lượng mà sử thi Tây Nguyên toả ra có còn nguyên bản,
nhất là lúc đó (1997), nhiều nhà nghiên cứu cũng đã bước đầu đưa ra thực trạng đáng lo ngại
về sự “giảm nhiệt” của sử thi Tây Nguyên và đặt ra yêu cầu bảo tồn bằng cách sưu tầm sử thi,
lưu trữ dưới dạng băng tiếng, băng hình và xuất bản sách.
Năm 2001, dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng s thi
Tây Nguyên được triển khai (2001 – 2007). Đến năm 2007, dự án đã phát hiện hàng trăm bản
sử thi của các sắc tộc Tây Nguyên, công bố, xuất bản 75 bộ sử thi. Kết quả y đã khiến
các học giả trong và ngoài nước ngỡ ngàng và thán phục trước di sản văn hóa của các dân tộc
miền nam Đông Dương, phủ nhận hoàn toàn nhận định vội vàng cho rằng khan Đăm Săn là
Bài ca cuối cùng của người mọi” (Roland Dorgelès).
Tiếp theo sau đó là hai đề tài cấp Bộ: (1). Sử thi Tây Nguyên với cuộc sống đương đại –
thực trạng, triển vọng gii pháp do GS. TSKH. Phan Đăng Nhật chủ nhiệm (2006); (2).
Một phương thức đưa sử thi Tây Nguyên trở về với cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên do
GS. TS. Nguyễn Xuân Kính chủ nhiệm (2008).
Năm 2009, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk tổ chức
Hội thảo S thi Việt Nam trong bối cảnh sthi châu Á (sau in thành sách cùng tên). Tại
đây, nhiều nhà nghiên cứu lại một lần nữa đưa ra thực trạng giải pháp về vấn đề bảo tồn
và phát triển sử thi Tây Nguyên ở hình thức sử thi sống nguyên bản. Trong đó, điểm chung
các học giả đều nhắc đến những khó khăn của việc thực hiện giải pháp truyền dạy sử thi.
thể dẫn ra một số giải pháp của các tác giả liên quan đến việc truyền dạy sử thi như sau:
Trong bài viết Về môi trường sưu tầm, nghiên cứu, truyền dạy s thi Tây Nguyên
trong bối cảnh hiện nay (tr.235-248), Nguyễn Thị Hcho rằng: Công tác truyền dạy
sử thi, theo tôi, vấn đề nan gii. Không đơn gin, để thể truyền dạy sử thi trong
277
bối cnh hiện nay, khi những nghệ nhân cao tuổi ngày càng hiếm hoi lớp trẻ thì ít
quan tâm đến văn hoá truyền thống. Việc truyền dạy mang tính đại trà, dân gian sẽ khó
thực hiện khi không còn hiện hữu môi trường dung chứa sử thi. Hãy để sử thi hiện hữu
và tan biến theo quy luật phát triển của tự nhiên.
Với bài viết Số phận của s thi Tây Nguyên trong điều kiện hội đương đại
(tr.201-205) nhà nghiên cứu Tô Ngọc Thanh cũng đưa ý kiến về việc truyền dạy không
khả quan: […] chúng ta đã có nhiều cố gắng nhằm đưa sử thi trở lại đời sống của đồng
bào thông qua việc mở lớp truyền dạy tổ chức các cuộc hát kể trong lớp trẻ. Nhưng
rõ ràng những cố gắng đó không có được kết qu như mong muốn và nhiều ý kiến đã đi
đến kết luận rằng sthi Tây Nguyên đã mất đi môi trường diễn xướng của mình, rằng
số phận của nó như con cá bị tách ra khỏi nước (tr.201).
Cả hai ý kiến đều quy vnguyên nhân môi trường diễn xướng sử thi không còn nên việc
truyền dạy sử thi hát kể sử thi không thể thực hiện được dường như cả hai học giả
đều y tỏ một sự chấp nhận” về việc sử thi và hát kể sử thi đã đến hồi kết chỉ còn lại tính
lịch sử.
Trong công trình Không gian diễn xướng s thi Êđê, M’nông, Trương Bi (2020) chỉ
ra thực trạng diện mạo sử thi Êđê, M’nông trong cuộc sống đương đại đó là nguy cơ mai một
ba do chính: (1). Đô thhoá nông thôn y Nguyên đã đang diễn ra quá nhanh
chóng, mất dần không gian diễn xướng sử thi; (2). Nghệ nhân hát kể sử thi hiếm; (3). Người
nghe không nhu cầu nghe hát kể sử thi. tác giả đã đề xuất 11 giải pháp bảo tồn không
gian diễn xướng sử thi Êđê, M’nông (tr.659-668). Trong đó, ba giải pháp gắn với việc
truyền dạy sử thi, xin được dẫn lại như sau:
(1) Viện Hàn lâm Khoa học hội Việt Nam cần sớm kế hoạch phối hợp với các
tỉnh Tây Nguyên và các nghệ nhân sử thi ở các tỉnh này mở lớp truyền dạy hát kể sử thi
cho con em các dân tộc tại chỗ, nếu để chậm thì sẽ không còn nghệ nhân truyền dạy nữa,
sau này dù có tổ chức tốt đến đâu cũng không thể nào thực hiện được (tr.663).
(2) Đối với ngành Giáo dục Đào tạo, nên kế hoạch đưa sử thi vào giảng dạy trong
chương trình chính khoá của các trường phổ thông khu vực Tây Nguyên, thông qua đó
giúp các em về giá trị của sử thi, yêu thích sử thi, ý thức cùng gia đình gìn giữ
làm cho sử thi sống mãi với cộng đồng (tr.665).
(3) Các địa phương thuộc các tỉnh Tây Nguyên phảiy dựng kế hoạch cụ thể để giúp
đồng o các dân tộc bản địa ý thức gìn giữ bảo tồn, lưu truyền kho báu sử thi của
dân tộc mình, như: đưa sử thi vào sinh hoạt văn hoá cộng đồng; phối hợp với các nghệ
nhân truyền dạy sử thi cho con em mình; chính sách cụ thể để tôn vinh các nghệ nhân
(những báu vật sống) có công bảo tồn, truyền dạy, gìn giữ sử thi của dân tộc mình; hàng
năm tổ chức liên hoan hát kể sử thi buôn ng, xã, huyện, tỉnh, p phần nâng cao ý
thức gìn giữ, lưu truyền kho báu “sử thi sống” cho mọi người dân trong cộng đồng
(tr.665-666).
Cả 3 giải pháp được nêu ra đều quy về việc cần phải gấp rút truyền dạy sử thi cả bên
trong và bên ngoài nhà trường cho “con em các dân tộc tại chỗ”. Tác giả không bàn đến môi
278
trường diễn ớng chỉ nhắc đến việc khan hiếm nghệ nhân nâng cao nhận thức của
đồng bào dân tộc tại chỗ về vốn quý văn hoá của chính mình.
Trong các bài viết
63
về sử thi cùng nghệ thuật diễn xướng sử thi, chúng tôi cũng nhìn
nhận thực trạng sử thi sống dần mai một với ba yếu tố tác động và chi phối, đó là: môi trường
diễn xướng, nghệ nhân khán-thính giả. Từ đó, chúng i đề xuất giải pháp xem hát kể sử
thi Tây Nguyên là một tiềm năng, một tài nguyên của du lịch văn hoá dân gian với hình thức
slow tourism và là một đối tượng của nhân học du lịch. Trong đó giải pháp truyền dạy sử thi
không phải giải pháp chính chỉ điều kiện cần để thực hiện giải pháp chính. vậy,
trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ tập trung đi sâu vào giải pháp truyền dạy sử thi
diễn xướng sử thi.
1.2. Nghệ thuật diễn xướng sử thi Tây Nguyên
Diễn xướng sử thi là một phương thức chính yếu, điều kiện tiên quyết để văn hóa sử thi
Tây Nguyên sử thi sống. Như Ngô Đức Thịnh (2009) nhận định: Sthi không phi là hiện
tượng thuần túy văn học mà là một hiện tượng văn hóa. Mối quan hệ hữu cơ, gắn bó giữa sử
thi diễn xướng hát sử thi với các sinh hoạt văn hóa cổ truyền, với phong tục, lễ hội…
đã tạo nên một tổng thvăn hóa sử thi mang đặc trưng Tây Nguyên rệt(tr.114). vậy,
một tổng thvăn hoá sử thi y Nguyên thì không thể nào chỉ tồn tại trên văn bản phải
được diễn xướng trên cái phối cảnh phong tục, lễ hội, sinh hoạt văn hoá của chủ thể sáng tạo.
Thuật ngữ diễn xướng dân gian được chính thức sử dụng lần đầu tại Hội nghị Khoa học
Diễn xướng dân gian và nghệ thuật sân khấu do Viện Nghệ thuật tổ chức năm 1978. Trong
bài viết Để sớm những tác phẩm tầm vóc lớn: Từ diễn xướng s thi anh ng ca
cổ đến sân khấu XHCN (tr.165-172), Phan Đăng Nhật (1978) đã phát biểu rằng: […] một
trong những đặc điểm cơ bn của sử thi - anh hùng ca là tính chất diễn xướng tổng hợp. Đây
là nơi tích tụ tinh hoa văn học nghệ thuật c một thời của cộng đồng bao gồm: lời văn, chất
kịch, ca hát, âm nhạc, múa với hoá trang, đạo cụ. khi sn phẩm văn hoá kho cổ học
môi trường thiên nhiên cũng được huy động vào đây (tr.168). Diễn ớng sử thi không phải
là diễn xướng đơn lập mà là diễn xướng tổng hợp (Chu Xuân Diên dùng chữ “nguyên hợp”)
rất đặc trưng, không ai thể dễ ng thực hiện phải người có trí nhớ thiên bẩm,
năng khiếu khác biệt và có lòng say mê, ham thích để có thể ngồi nghe từ ngày này qua ngày
khác, từ lần này qua lần khác để có thể nhập tâm và phát xuất ra bên ngoài diễn xướng.
Khi bàn về nghệ thuật diễn xướng sử thi, Tuấn Giang (2006) cho rằng, đó nghệ thuật
diễn kéo dài tới 3 ngày 3 đêm, hoặc chí ít cũng bốn năm giờ liền. Diễn như thế nhưng
không văn bn nào ghi chép nghệ thuật diễn cụ thể […]. Những tình cm, động tác diễn
xuất không ghi thành văn bn, nhưng các nghệ nhân vẫn diễn như một bài bn định sẵn, chính
xác, tinh tế đến từng chi tiết. Đó sự độc đáo, kiệt xuất của vai trò sáng tạo diễn xướng
63
1. Hà Thị Thới (2020). Hát kể sử thi – tiềm năng du lịch văn hoá dân gian của tộc người thiểu số Tây Nguyên: Trường
hợp hát kể sử thi M'nông.
2. Hà Thị Thới (2020). Mỹ học của sử thi tộc người Stiêng - tiềm năng phát triển du lịch văn hoá dân gian.
3. Hà Thị Thới (2021). Sử thi người Stiêng Nhìn từ mối quan hệ folklore và nhân học.
279
nhân, là tài năng đặc biệt của các nghệ nhân mo, then, khan”. (tr.109-110). Đây cũng là một
cách nhấn mạnh tầm quan trọng của nghệ nhân hát kể sử thi.
Về việc phục dựng, biểu diễn hát kể sử thi trên sân khấu, Kiều Trung Sơn (2018) nêu ý
kiến: Về bn chất đó biểu diễn sử thi, không còn diễn xướng đúng nghĩa, bởi đã bị
tách khỏi môi trường, bối cnh diễn xướng vốn luôn gắn với nó. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn coi
“diễn xướng” bởi nghệ nhân vẫn trình diễn đúng như họ vẫn thực hiện trong cộng đồng
của họ, trừ việc họ phi theo chương trình dàn dựng trong không gian khác (tr.129).
tác giả cũng khẳng định: Sử thi sống, về bn chất, chính là sử thi được diễn xướng, hiện ra từ
diễn xướng, chỉ nghiên cứu sử thi sống mới biết nghệ thuật diễn xướng sử thi là như thếo
(tr.140). Như vậy, tác giả đã chấp nhận việc phục dựng, biểu diễn sử thi như một loại hình
nghệ thuật sân khấu. Tuy nhiên, vấn đề cần phải đặt ra đó là đối tượng mà các học giả muốn
bảo tồn không phải là một hát kể sử thi đơn lập mà là một kiểu hát kể sử thi tổng hợp/ nguyên
hợp hay nói cách khác sử thi y Nguyên sống gắn liền với môi trường diễn xướng tức
bối cảnh văn hoá của chủ thể sáng tạo mà sử thi thuộc về.
2. Nghệ thuật diễn xướng sử thi Êđê M’nông trong bối cảnh giảng dạy văn học
dân gian tộc người ở Tây Nguyên hiện nay
M’nông dân tộc bản địa thuộc ngữ hệ n Khmer (Nam Á) còn người Êđê thuộc
nhóm ngữ hệ Mã Lai Đa Đảo (Nam Đảo). Tuy nhiên, trong quá trình cộng sinh, cận - xen cư
giữa hai dân tộc đã diễn ra quá trình giao u, tiếp biến n hoá. Theo kết quả điền vào
năm 2022 và năm 2023, tương tự như vùng Buôn Đôn và Ea Sup của tỉnh Đắk Lắk, sự giao
văn hóa tộc người diễn ra khá sâu sắc giữa người Êđê và người M’nông, ở huyện Lăk, người
M’nông nói được tiếng của người Êđê sử dụng luật tục, trang phục của người Êđê, hiện
tượng kết hôn giữa hai tộc người khá phổ biến, nhiều gia đình M’nông Êđê mang chung
dòng họ, đơn cử như họ Buôn Krông; Cách gọi tên phân biệt nam nữ cũng giống nhau giữa
hai tộc người, quy ước tên người nam bắt đầu bằng “Y” và người nữ là “H”, những quy định
về hôn nhân và phân chia tài sản của người M’nông ở đây rất giống với người Êđê… Những
đặc trưng về văn hóa tộc người này đã tác động đến diễn xướng và nội dung của sử thi ở lưu
vực sông Srepok.
Nghiên cứu về văn học dân gian Tây Nguyên là nghiên cứu về văn học dân gian của hai
nhóm tộc người Nam Á và Nam Đảo. Trong phạm vi khảo sát mang tính chọn lọc, chúng tôi
chọn khảo sát hai trường hợp văn học dân gian Êđê và M’nông được giảng dạy trong chương
trình giáo dục địa phương Trung học Phổ thông ở hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông (vốn trước
đây cùng thuộc chung một tỉnh Đắk Lắk). Khảo sát chương trình giáo dục địa phương Trung
học Phổ thông ở hai tỉnh Đắk Lắk Đắk Nông, văn học dân gian được xây dựng giảng dạy
chính ở sách Giáo dục địa phương lớp 10. Trong đó, văn học dân gian Êđê M’nông được
chọn giảng dạy chính trong chương trình ở cả hai tỉnh.
Bên dưới đây, chúng tôi lần lượt trình y về tổ chức, sắp xếp nội dung chương trình
giảng dạy văn học dân gian địa phương tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông.
2.1. Giảng dạy s thi trong chương trình giáo dục địa phương Trung học Phổ thông
của tỉnh Đăk Lăk