
236
NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ GIÁ TRỊ CỦA LỄ HỘI VĂN HOÁ
DÂN GIAN VIỆT BẮC TẠI XÃ EATAM, HUYỆN KÔNG NĂNG,
TỈNH ĐẮK LẮK THÔNG QUA GIÁO DỤC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA LỄ HỘI
ThS. Đàm Thị Hiền
54
ThS. Huỳnh Hoàng Ba
55
Tóm tắt
Lễ hội có vai trò và vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân. Nghiên cứu
lễ hội truyền thống trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn góp phần xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Là một tỉnh nằm ở trung tâm vùng
văn hóa Tây Nguyên, Đắk Lắk hiện nay là vùng đất cộng cư của nhiều tộc người cùng sinh
sống như: Ê đê, Ba na, M’nông, Gia rai, Tày, Nùng… Do đó, vùng đất này hiện có rất nhiều
lễ hội văn hóa với nhiều sắc thái riêng vô cùng đặc sắc như: Lễ hội cồng chiêng, Lễ hội đâm
trâu, Lễ hội đua voi…và gần đây nhất có thêm “lễ hội Văn hoá dân gian Việt Bắc” của các
dân tộc vùng núi phía Bắc đang sinh sống trên địa bàn xã Eatam, huyện Krông Năng, tỉnh
Đắk Lắk mới được tổ chức từ năm 2009 đến nay. Nhằm năng cao nhận thức về giá trị của lễ
hội này và làm phong phú hơn đời sống tinh thần của người dân, hướng về cội nguồn, mong
muốn giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiết nghĩ rất cần và rất nên thường xuyên tổ
chức các lễ hội văn hóa, các hoạt động giao lưu cộng đồng cho người dân để nâng cao nhận
thức về giá trị của lễ hội văn hoá dân gian Việt Bắc tại xã Eatam, huyện Kông Năng, tỉnh Đắk
Lắk thông qua giáo dục các giá trị văn hoá của lễ hội này.
Từ khoá: Lễ hội dân gian; Việt Bắc; xã Eatam; huyện Krông Năng.
1. Đặt vấn đề
Trải qua 10 năm tổ chức, “lễ hội Văn hoá dân gian Việt Bắc” tại xã Eatam, huyện Kông
Năng, tỉnh Đắk Lắk đã mang lại ý nghĩa quan trọng trong đời sống vật chất, tinh thần của
người dân đang sinh sống trên địa bàn xã, khu vực lân cận và nhân dân địa phương khác. Ban
đầu lễ hội được tổ chức là dựa trên nhu cầu vui xuân, giao lưu, học tập trao đổi kinh nghiệm
sản xuất, nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần của người
dân địa phương; phục vụ mục đích tuyên truyền, giáo dục để người dân biết gìn giữ, kế thừa
và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc mình. Tuy nhiên, hiện
nay với điều kiện kinh tế địa phương ngày càng phát triển, đời sống sinh hoạt của nhân dân
ngày càng được nâng cao dẫn tới nhu cầu sinh hoạt và sự giao lưu văn hóa của người dân địa
phương diễn ra mạnh mẽ. Do đó, để đáp ứng kịp thời nhu cầu, ước muốn của người dân nên
công tác tổ chức, quản lý “lễ hội VHDG Việt Bắc” hiện nay đã có nhiều thay đổi và ngày
54
. Nghiên cứu văn hoá dân gian độc lập.
55
. Trường Đại học Văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh

237
càng hoàn thiện hơn. Bên cạnh các mặt đã làm được cũng còn nhiều hạn chế cần được khắc
phục để nâng cao hơn nữa ý nghĩa và vai trò của lễ hội trong đời sống.
2. Nội dung
2.1 Tổng quan về xã Eatam, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk
Xã EaTam cách trung tâm huyện Krông Năng 17 km về phía Đông Bắc, được thành lập
vào năm 1993, có diện tích tự nhiên là 8.425ha.
Hiện trên địa bàn xã có 15 thôn buôn, gồm : Buôn Trấp, thôn Tam An, thôn Tam Đa,
thôn Tam Điền, thôn Tam Đồng, thôn Tam Hiệp, thôn Tam Hòa, thôn Tam Liên, thôn Tam
Lực, thôn Tam Phong, thôn Tam Phương, thôn Tam Thành, thôn Tam Thịnh, thôn Tam Trung,
thôn Tam Lập[85].
Về dân số : tính đến hết ngày 31/12/2019 toàn xã Eatam hiện có 2.541 hộ, với hơn
11.246 nhân khẩu. Về thành phần dân tộc, trên địa bàn xã hiện nay có tất cả 16 dân tộc anh
em cùng sinh sống. Trong đó, dân tộc tại chỗ( Ê đê, Ba na …) chiếm tỷ lệ 2%; dân tộc Tày,
Nùng chiếm tỷ lệ 84,4%; dân tộc khác chiếm tỷ lệ 13,6%[7].
Khí hậu mát mẻ, ôn hoà, có 02 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ
tháng 5 đến hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hàng năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng
4 năm sau, lượng mưa không đáng kể.
Địa hình cao nguyên tương đối bằng phẳng, xen kẽ những đồi thấp lượn sóng, nhiều
cảnh quan thiên nhiên đẹp; đất đai, khí hậu, thời tiết khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
hàng hoá, phát triển dịch vụ, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành sản xuất kinh
doanh.
Hệ thống giao thông nông thôn đã định hình và phát triển, đảm bảo lưu thông hàng hoá
tốt cả 2 mùa, hệ thống mạng lưới điện Quốc gia đã đến được hầu hết các xã trên địa bàn, các
công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp được xây dựng và ngày càng phát huy hiệu quả.
Những điều kiện trên là cơ sở và động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện theo
hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá với cơ cấu phát triển một nền kinh tế hàng hoá bao gồm
nông lâm nghiệp, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ mang lại hiệu quả phát triển kinh tế - xã
hội và môi trường bền vững [85].
Ngoài ra, xã Eatam còn có nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng như tài
nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản và tài nguyên du lịch. Mặt khác, với nhiều dân tộc sinh
sống trên địa bàn, có nhiều phong tục tập quán khác nhau, mở ra khả năng khai thác lợi thế
này để phát triển du lịch.
2.2 Một số khái niệm cơ bản
2.2.1 Khái niệm Lễ hội
Lễ hội ra đời từ sinh hoạt văn hóa mang dấu ấn cộng đồng đậm nét, là một bộ phận quan
trọng trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, là nét đẹp được hình thành từ bao đời nay
nhằm thỏa mãn nhu cầu hướng về cội nguồn, sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử đã có công
dựng nước và giữ nước.

238
Cụm từ “Lễ hội” vốn được ghép bởi hai từ Hán - Việt đó là Lễ và Hội, do vậy lễ hội
thường có hai phần, phần lễ và phần hội. Lễ và Hội là một thể thống nhất không thể tách rời.
Lễ là phần tín ngưỡng (tế, rước), là phần đầu tiên khi tiến hành lễ hội. Lễ là cốt lõi, là phần
quan trọng nhất mang tính thiêng liêng tôn kính, là nghi lễ thờ cúng thần, thánh được coi là
linh hồn của lễ hội. Hội là các hiện tượng sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nảy sinh, tích hợp và
bảo lưu trong môi trường tín ngưỡng tôn giáo, nếu môi trường tín ngưỡng tôn giáo bị loại bỏ
thì bản thân các sinh hoạt văn hóa cũng không thể tồn tại[1].
Trong cuốn Kho tàng lễ hội cồ truyền Việt Nam do nhóm tác giả Nguyễn Chí Bền, Trần
Lâm Biền, Bùi Khởi Giang viết năm 2000 đã quan niệm về lễ hội như sau: Lễ hội là một hoạt
động sinh hoạt cộng đồng, một nét đặc trưng của đời sống tâm linh, phản ánh phong tục tập
quán của người dân Việt Nam. Lễ và Hội là một tổng thể thống nhất không thể chia tách. Lễ
là phần tín ngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người, là phần đạo. Hội là
phần tập hợp vui chơi, giải trí, là đời sống văn hóa thường nhật, phần đời của mỗi người, của
cộng đồng. Hội gắn liền với lễ và chịu sự quy định nhất định của lễ, có lễ mới có hội [20,
tr.32].
Tác giả Đoàn Văn Chúc lý giải lễ hội như sau: Lễ (cuộc lễ) là sự bày tỏ kính ý đối với
một sự kiện xã hội hay tự nhiên, tưởng tượng hay có thật, đã qua hay hiện tại, được thực hành
theo nghi điểm rộng lớn và theo phương thức thẩm mỹ, tùy thuộc cấp nhóm xã hội có nhiệm
vụ cử hành, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ. Hội là cuộc vui chơi với vô số
hoạt động giải trí công cộng, diễn ra tại một địa điểm nhất định vào dịp lễ kỷ niệm một sự
kiện tự nhiên, xã hội nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng dự lễ [23, tr.132].
Theo tác giả Ngô Đức Thịnh, “Lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa
cổ truyền tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới. Nó là tấm gương
phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc”[61, tr.7 ].
Tác giả Vũ Ngọc Khánh cho rằng: “Lễ hội cũng gọi là hội lễ, là hình thức sinh hoạt văn
hóa xã hội của một tập thể, một tổ chức thuộc giới, nghề, ngành hoặc tôn giáo trong phạm vi
một địa phương hoặc trong cả nước”[39, tr.79].
Như vậy về cơ bản, các nhà nhà nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều cách diễn đạt khác nhau
về lễ hội nhưng tất cả đều khẳng định lễ hội là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng
đồng, bao gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ là hệ thống những hành vi, nghi thức, tác động
nhằm biểu hiện sự tôn kính với thần linh, phản ánh ước mơ chính đáng của một cộng đồng.
Phần hội là hoạt động tập thể liên quan đến tín ngưỡng chung của cộng đồng; Hội là sinh hoạt
văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.
Từ các khái niệm đã nêu của một số nhà nghiên cứu đi trước, tác giả có kế thừa và đưa
ra quan niệm về lễ hội như sau: Lễ hội là dịp tập hợp một nhóm cộng đồng cư dân nhất định,
ở một không gian cụ thể, trước là để thực hành các nghi thức, nghi lễ, sau là cùng nhau vui
chơi trong các hoạt động hội mang đặc trưng vùng miền.
2.2.2 Khái niệm Lễ hội dân gian
Lễ hội dân gian, một trong những loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian đặc trưng mang

239
tính tổng hợp cao về phong tục tập quán, tôn giáo tính ngưỡng, văn học nghệ thuật, các chi
thức khoa học kỹ thuật, thế giới quan, nhân sinh quan, cho tới lối sống, cách sống….thể hiện
tập trung qua các dạng thức sinh hoạt Lễ và Hội do nhân dân tiến hành tại một địa phương,
đơn vị ở vào một thời điểm nhất định nào đó. Lễ hội dân gian là loại hình sinh hoạt cộng đồng
có nguồn gốc từ trước và trong xã hội nông nghiệp cổ truyền nhưng cho đến nay lễ hội dân
gian vẫn được xem là sự tập hợp, nâng cao các hoạt động văn hóa dân gian mang tính tập
trung, nổi bật nhất trong đời sống văn hóa của các tộc người mà qua đó mọi khía cạnh giao
tiếp văn hóa dân tộc có thể được thể hiện rõ rệt. Lễ hội dân gian là hình thức sinh hoạt văn
hóa rất phổ biến, nổi bật của con người được diễn ra dưới nhiều hình thức hoạt động nhằm
phục vụ lợi ích của con người, thỏa mãn nhu cầu về văn hóa tinh thần của một nhóm người
hay của một cộng đồng dân cư nhất định với nhiều mục đích khác nhau[58, tr 5].
Tác giả Đinh Gia Khánh cho rằng: Lễ hội dân gian là điểm nhấn quan trọng, là mảng
màu đặc sắc thể hiện tập trung và đa dạng những nét tinh hoa văn hóa của cộng đồng. Lễ hội
dân gian đã trải qua nhiều thăng trầm cùng với lịch sử dân tộc, có thời kỳ bị mờ nhạt, bị thay
đổi hình thức, nội dung, thậm chí không ít lễ hội đã không còn được tổ chức nữa, song trong
khoảng hơn hai thập kỷ qua, chúng ta đã chứng kiến sự trở lại sôi nổi của những lễ hội dân
gian và lễ hội dân gian trở thành nét văn hóa nổi bật trong đời sống văn hóa Việt Nam đương
đại. Lễ hội dân gian với những đặc điểm như sự phong phú, đa dạng, sự chồng xếp nhiều màu
sắc văn hóa, nhiều hệ thống biểu tượng, sự hòa hợp, thăng hoa, sự hội tụ tính thiêng với tính
nghệ thuật, tính nghi thức với những giá trị như cố kết cộng đồng, hướng về nguồn cội, cân
bằng đời sống tâm linh, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, thẩm mỹ, bảo tồn và phát huy bản sắc
dân tộc…đã trở thành điều không thể thiếu trong cuộc sống cộng đồng[37].
Cũng theo tác giả Nguyễn Thị Phương Châm: Lễ hội dân gian vốn là thuật ngữ được
dùng để chỉ những lễ hội của dân chúng, trong đó phổ biến nhất là những lễ hội ở các làng
quê do những người dân quê tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá và tín ngưỡng
của họ. Chính vì vậy, lễ hội dân gian còn được xem là hội làng và có nhiều tên gọi khác nữa
như: lễ hội làng, lễ hội truyền thống, lễ hội cổ truyền…những khái niệm này không hẳn là
giống nhau hoàn toàn về nội hàm. Có thể hiểu lễ hội dân gian là sản phẩm văn hóa quần chúng
của một cộng đồng (phổ biến là cộng đồng làng hay nhiều làng) cùng thờ một vị thần nào đó
vào một thời gian nhất định trong năm, ở một địa điểm cụ thể người ta tiến hành những nghi
thức thờ phụng tập thể như tế, lễ, rước, sau đó là các hoạt động vui chơi, ăn uống nhằm cố kết
cộng đồng, giải tỏa căng thẳng, củng cố niềm tin và sức mạnh cho mỗi thành viên. Lễ hội dân
gian ở mỗi vùng miền, mỗi tộc người có những sự khác nhau tạo nên một bức tranh lễ hội đa
màu sắc của xã hội Việt Nam đương đại[21, tr 53].
Thông tư số 15/2015/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã khái niệm:
“Lễ hội dân gian là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh người có công với nước với cộng đồng;
thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian
khác tiêu biểu cho những giá trị đẹp về truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội”[17].
Nhìn chung, có rất nhiều quan niệm khác nhau về lễ hội văn hóa dân gian tùy vào cách
tiếp cận theo khía cạnh nào, phương thức nào của người nghiên cứu. Tuy nhiên, có thể hiểu:
lễ hội dân gian là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian, có từ lâu đời,

240
tồn tại cho đến ngày nay hoặc được phục dựng lại, được truyền lại trong các cộng đồng dân
cư với tư cách là phong tục, tập quán.
3. Sơ nét về Lễ hội Văn hoá dân gian Việt Bắc.
Lễ hội VHDG Việt Bắc tại xã Eatam là lễ hội chung của đồng bào các dân tộc vùng núi
phía Bắc hiện đang sinh sống trên địa bàn xã Eatam, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk được
tổ chức lần đầu tiên vào năm 2009 và duy trì cho đến nay. Tuy vậy, dưới góc nhìn nghiên cứu
của tác giả và nhận xét của nhiều du khách khi tham dự lễ hội thì với phần đông dân cư là
người dân tộc Tày, Nùng( chiếm tỷ lệ 84,4% dân số xã) nên nhìn chung nội dung các nghi lễ
cúng tế, các trò chơi, trò diễn dân gian hiện nay có trong chương trình Lễ hội VHDG Việt
Bắc thể hiện nhiều nét văn hóa của hai dân tộc này bên cạnh nhiều nét văn hóa của các dân
tộc khác cùng đang sinh sống tại địa phương. Tuy nhiên, với tên gọi và thông điệp chung của
BTC khi tổ chức lễ hội “tất cả vì phục vụ cộng đồng” đã được lan tỏa rộng rãi nên hiện nay
phần đông lượt khách tham dự lễ hội cũng như bà con dân tộc xã nhà vẫn chấp nhận với tên
gọi Lễ hội VHDG Việt Bắc và hưởng ứng nhiệt tình tham gia vào các hoạt động của lễ hội.
Từ mục đích ban đầu của chính quyền địa phương khi đúng ra tổ chức lễ hội nhằm tạo
không gian chung để bà con vui xuân, giao lưu, học tập kinh nghiệm sản xuất giữa đồng bào
các dân tộc cùng đang sinh sống trên địa bàn xã và các vùng lân cận thì nay sau 10 năm tổ
chức lễ hội ngày càng được mở rộng về quy mô và được quảng bá rộng rãi trên nhiều phương
tiện thông tin đại chúng của tỉnh. Hiện nay, lễ hội được tổ chức hàng năm vào các ngày 13,
14 và 15 tháng giêng âm lịch trong tiết trời xuân ấm áp được quần chúng nhân dân địa phương
quan tâm và nhiệt tình hưởng ứng tham gia.
Các hoạt động của Lễ hội VHDG Việt Bắc diễn ra mang tính chất nghi lễ nông nghiệp
cổ xưa, mở đầu cho một mùa sản xuất mới; Trong lễ hội còn có lễ tạ Thành Hoàng, Thần
Nông, cầu cho mùa màng bội thu, gia súc phát triển, con người khỏe mạnh, bản làng yên vui,
mọi người, mọi nhà ấm no, hạnh phúc…Lễ hội VHDG Việt Bắc là một sinh hoạt văn hóa tín
ngưỡng dân gian mang bản sắc văn hóa tộc người Tày, Nùng ở các bản làng địa phương phía
Bắc rất độc đáo. Sau một năm lao động vất vả, lễ hội mở ra mang lại những giờ phút nghỉ
ngơi, thanh thản, mọi người có điều kiện gặp gỡ thăm hỏi, chúc tụng nhau; đồng thời cũng là
dịp giao lưu tình cảm giữa các cô gái, chàng trai bằng những lời hát then sli, lượn…
Qua tìm hiểu, nghiên cứu của tác giả, Lễ hội VHDG Việt Bắc tại xã Eatam, huyện
Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk có nội dung tổ chức rất phong phú cả về phần lễ và phần hội, được
bà con ví như một “Bảo tàng sống” nói lên sự phong phú, sinh động trong đời sống tâm linh
của nhiều tộc người. Theo tín ngưỡng của người Tày, Nùng, bản làng là nơi “sống gửi hồn,
chết gửi xương”, có tác động mạnh mẽ đến sự an cư của con người và súc vật nên dân làng
phải thờ Thành hoàng. Mặt khác, thờ Thành hoàng còn xuất phát từ quan niệm của họ, muốn
lạc nghiệp phải cầu trời phù hộ cho mưa thuận, gió hòa, dân bản khỏe mạnh, thóc lúa đầy bồ,
đầy kho, gia súc phát triển. Ngoài ra, thờ Thần Thành hoàng còn để tưởng nhớ người có công
khai sơn, phá thạch, lập làng bản.
Không gian tổ chức Lễ hội VHDG Việt Bắc được diễn ra ở sân vận động xã Eatam với
diện tích rộng khoảng 3ha, mặt bằng bằng phẳng rất thuận tiện cho việc hành lễ và vui hội.

