
293
HOẠT ĐỘNG TRUYỀN DẠY NGHỆ THUẬT CỒNG CHIÊNG
TRONG TRƯỜNG HỌC VÀ THANH THIẾU NIÊN
Ở TỈNH GIA LAI
TS. Nguyễn Thị Kim Vân
67
*
Tóm tắt
Cư dân tại chỗ của tỉnh Gia Lai gồm 2 dân tộc Bahnar và Jrai - chủ nhân của không
gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Từ khi được di sn văn hóa này được UNESCO vinh
danh (tháng 11-2005), việc truyền dạy nghệ thuật cồng chiêng trong trường học và thanh
thiếu nhi ở tỉnh Gia Lai đã được quan tâm. Cái được lớn nhất mà Gia Lai đã làm được sau
gần hai mươi năm di sn được công nhận là khơi dậy mạnh mẽ ý thức của cộng đồng các dân
tộc trong tỉnh, nhất là trong thế hệ trẻ về giá trị của di sn văn hóa cồng chiêng, từ đó, có
nhiều học sinh và thanh, thiếu niên đến với sinh hoạt văn hóa có sử dụng cồng chiêng, góp
phần làm cho tỉnh có thêm hàng trăm đội cồng chiêng mới, trong đó có nhiều đội cồng chiêng
thanh thiếu nhi. Đây là một tín hiệu vui trong hoạt động đưa di sn văn hóa cồng chiêng đến
với thế hệ trẻ các dân tộc Bahnar, Jrai nói riêng, cư dân tại chỗ Tây Nguyên nói chung.
Gia Lai có 44 dân tộc
68
cùng chung sống. Cũng như các tỉnh Tây Nguyên, cư dân Gia
Lai gồm 2 bộ phận: cư dân tại chỗ (cũng có người viết là dân tộc bản địa) và cư dân mới nhập
cư. Cư dân tại chỗ của tỉnh Gia Lai gồm 2 dân tộc Bahnar
69
và Jrai
70
. Cả người Bahnar và Jrai
đều là những dân tộc có số dân đứng đầu trong các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ của họ ở
Tây Nguyên
71
- chủ nhân của không gian văn hóa cồng chiêng. Từ khi được di sản văn hóa
này được UNESCO vinh danh (tháng 11-2005), việc truyền dạy cồng chiêng trong trường học
và thanh thiếu niên ở tỉnh Gia Lai được quan tâm, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, làm hồi
sinh nhiều sinh hoạt văn hóa gắn với cồng chiêng trong vùng đồng bào các dân tộc tại chỗ
tỉnh Gia Lai.
1. Cồng chiêng trong đời sống tinh thần của người Bahnar, Jrai và nguy cơ mai
một đã từng
67
TS. Ủy viên Thường vụ Liên hiệp các hội Khoa học - Kỹ thuật tỉnh Gia Lai; nguyên Giám đốc Bảo tàng tỉnh
Gia Lai.
68
Tổng cục thống kê (2020), Kết qu toàn bộ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, Nhà xuất bản Thống kê, tr.
156-158.
69
Tên dân tộc này có nhiều cách viết khác nhau: Ba-na, Ba Na, Bahnar, Bơhnar... Ở các tỉnh Bắc Tây Nguyên,
đồng bào xác nhận cách viết tộc danh của mình là Bahnar. Tại Quyết định số 30/2011/QĐ-UBND ngày 28/10/2011,
UBND tỉnh Gia Lai cũng đã xác định tộc danh này.
70
Tên dân tộc này có nhiều cách viết khác nhau: Gia-rai, Gia Rai, Jrai, Jơrai, Jarai… Ở Gia Lai đồng bào xác định
cách viết tộc danh của mình là Jrai. Tại Quyết định số 30/2011/QĐ-UBND ngày 28/10/2011, UBND tỉnh Gia Lai cũng
đã xác định tộc danh này.
71
Các dân tộc thuộc nhóm ngữ hệ Môn - Khmer ở Tây Nguyên gồm: Bahnar, Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Brâu, Rơmăm,
Mnông, Cơ Ho, Mạ. Các dân tộc thuộc nhóm ngữ hệ Malayo - Polinesia ở Tây Nguyên gồm: Jrai, Ê Đê, Chu Ru.
Năm 2019, cả nước có 513.930 người Jrai thì Tây Nguyên có 506.372 người. Riêng ở tỉnh Gia Lai, dân tộc Jrai có
439.738 người (chiếm 86,84% trong tổng số người Jrai ở Tây Nguyên). Cũng trong năm này, cả nước có 286.910 người
Bahnar, thì ở Tây Nguyên có 258.723 người. Riêng tỉnh Gia Lai có 189.367 người (chiếm 73,19% trong tổng số người
Bahnar ở Tây Nguyên). Các số liệu ở đây được dẫn từ: Tổng cục thống kê (2020), đd.

294
1.1. Cồng chiêng trong đời sống tinh thần của người Bahnar, Jrai
72
Trên thực tế, cồng chiêng không chỉ có trong văn hóa của cư dân tại chỗ Tây Nguyên, ở
miền Trung Việt Nam mà còn phổ biến ở nhiều vùng trong cả nước như Việt Bắc, Tây Bắc,
và cả trong người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ...; nhiều quốc gia trong khu vực như
Thái Lan, Lào, Mi-an-ma, Phi-lip-pin, Indonexia... nhưng cho đến đầu thế kỷ XXI này, thì
không phải ở đâu cồng chiêng cũng có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của con người
như với cư dân tại chỗ Tây Nguyên nói chung, người Bahnar và Jrai nói riêng. Sự phổ biến
của cồng chiêng trong tất cả các tộc người ở Tây Nguyên cho thấy cồng chiêng là một phần
không thể thiếu trong cuộc sống của đồng bào. Nó có mặt trong hầu hết các nghi lễ của cá
nhân, của từng gia đình, cộng đồng và cả trong những lễ hội suốt một mùa trồng tỉa của cư
dân nông nghiệp. Ở vùng Ayun Pa, Yang Pơtao Apui (thường được dịch là vua Lửa) đã tồn
tại hơn nửa thiên niên kỷ với khả năng có thể "gọi mưa, trừ hạn" trong niềm tin của một bộ
phận người Jrai, Bahnar, Ê Đê cũng sử dụng cồng chiêng như một phương tiện để giao tiếp
với thần linh, đặc biệt là lễ cầu mưa.
Vai trò của cồng chiêng trong lễ / lễ hội gần như vai trò của khói nhang trong lễ / lễ
hội của người Việt.Âm thanh cồng chiêng vang xa chính là phương tiện giúp con người giao
tiếp với thân linh; âm thanh cồng chiêng cũng đồng thời là phương tiện nhanh nhất để chuyển
tải thông tin giữa các buôn làng. Chỉ cần nghe tiếng chiêng, những người trong làng, trong
vùng sẽ hiểu rằng ở phía có tiếng chiêng đang diễn ra điều gì để chuẩn bị đến chia buồn hoặc
chung vui.
Đối với người Jrai, khi nghe bài Trong hor (Chơkar trong hor) đánh bằng chiêng Aráp,
âm điệu buồn, mọi người đều biết nơi có tiếng chiêng vừa có người từ giã cõi đời; Nghe bài
Chok kơ mơnuih djai đánh bằng chiêng aráp, có âm điệu buồn là biết người chết chuẩn bị
được đưa từ nhà sàn xuống đất để khiêng ra khu nhà mồ; Bài Chok kơ arăng đánh bằng chiêng
aráp là bài tiễn đưa người chết, nghe bài này đồng bào biết người chết đang trên đường được
đưa đến khu nhà mồ, lần thứ 2 nghe lại bài này cho biết việc chôn cất đã xong; Bài Anong
thuach âm tiết vui tươi đánh bằng chiêng aráp chỉ có trong lễ bỏ mả; Bài Iâo tui dra ju\ chỉ
đánh khi bỏ mả, với âm điệu vui, thay lời mời gọi thanh niên, người già đến mừng người chết
được về đoàn tụ với ông bà ở "làng atâu"; Còn bài Kơ dja đánh bằng chiêng tơnăh thì cho biết
phía có tiếng chiêng đang có lễ hội vui...
Để một bộ cồng chiêng trở thành linh khí phải trải qua nhiều công đoạn: khi thợ đúc
đồng người Việt làm ra những chiếc cồng chiêng là mới hình thành được "phần xác" của cồng
chiêng, mới tạo ra những "lá đồng" đơn thuần có hình dáng cồng chiêng - có thể coi đây chỉ
là bước làm xong ngôi nhà cho thần chiêng trú ngụ. Việc mang lại "phần hồn" cho cồng chiêng
thì phải do chính các dân tộc sử dụng cồng chiêng thực hiện. Sau khi mua cồng chiêng của
người Việt về, những thợ chỉnh chiêng chuyên nghiệp của từng tộc người sẽ gò chỉnh lại để
từng chiếc cồng chiêng có được âm thanh theo yêu cầu thang âm trong biên chế của mỗi bộ
chiêng. Công việc chỉnh sửa cồng chiêng (đồng bào quen gọi là "lên dây chiêng") nhằm mang
lại những âm thanh “chuẩn” cho các bộ chiêng hiện rất ít người làm được. Người Tây Nguyên
72
Nguyễn Thị Kim Vân, Đến với lịch sử văn hóa Bắc Tây Nguyên, Nxb Đà Nẵng, 2007

295
tin rằng chỉ có những người được "Yàng (thần) cho âm thanh" của cồng chiêng mới làm được
nghề này và thường “cha truyền con nối”. Mỗi khi bắt tay vào gò chỉnh một bộ cồng chiêng,
người thợ thường thực hiện một nghi lễ cúng yang và mong yang cho họ có những âm thanh
cần thiết.
Hoàn thành việc đem lại thang âm "chuẩn" cho bộ chiêng, chủ nhân của nó phải thực
hiện một lễ hiến sinh để gọi hồn chiêng vào trong những lá chiêng. Từ đây cồng chiêng mới
trở thành một linh khí thật sự. Đồng bào tin rằng vật hiến sinh càng lớn (bò, trâu) thì thần
chiêng càng linh thiêng, khả năng giao tiếp với thế giới thần linh càng cao. Tuy nhiên đồng
bào lại cũng tin rằng, không phải ai có cồng chiêng cũng được thần linh phù hộ như nhau mà
còn tùy thuộc vào việc thần chiêng có hợp với gia chủ hay không; hồn của gia chủ có đủ mạnh
để chế ngự, thậm chí điều khiển được thần chiêng hay không. Đó cũng là lý do có gia đình
phải bán đi những bộ chiêng rất quý với giá rẻ.
Thông thường, mỗi bộ cồng chiêng của người Tây Nguyên có 2 phần: phần tiết tấu được
thể hiện bằng những chiếc cồng (có núm); phần giai điệu được thể hiện bằng những chiếc
chiêng (không có núm). Ngoài ra, biên chế đủ để thể hiện âm nhạc cồng chiêng còn có lục
lạc, chũm chọe, đôi khi có thêm cả trống. Một số tộc người ở Tây Nguyên còn biên chế các
loại cồng chiêng thành những bộ có tên gọi riêng để phục vụ cho những công việc, những lễ
hội cụ thể. Người Jrai ở khu vực Ayun Pa, Krông Pa (Gia Lai) thường sử dụng mỗi loại
chiêng vào những nghi lễ có cùng tính chất (sẽ trình bày ở phần sau).
Với chức năng một linh khí, cồng chiêng cần có môi trường văn hóa để tồn tại. Môi
trường văn hóa ấy bao gồm cả môi trường tín ngưỡng; môi trường thiên nhiên; môi trường
dân trí... và lòng tự tôn dân tộc. Chỉ có niềm tin mới làm cho người ta thật sự trân trọng những
phương tiện giúp chuyển tải ý nguyện của con người đến thần linh. Mặt khác, việc giao tiếp
với thần linh cũng cần có một không gian phù hợp. Đồng bào không thể cúng yang và đánh
chiêng giữa dòng xe cộ tấp nập, ồn ào; lễ bỏ mả sẽ kém phần linh thiêng nếu nghĩa địa của
làng không đủ thanh tịnh, thâm u; cư dân trong vùng ảnh hưởng của Pơtao Apui đã không
còn làm lễ cầu mưa vì một năm người Jrai ở Ayun Pa có thể làm 3 vụ lúa do có nước tưới từ
công trình thủy lợi Ayun Hạ... Và đồng bào Tây Nguyên cũng không thể hết lòng với cồng
chiêng nói riêng, di sản văn hóa cổ truyền của dân tộc nói chung nếu lòng tự hào dân tộc
không được tiếp tục khơi nguồn...
1.2. Không gian văn hóa cồng chiêng – nguy cơ mai một
Những người quan tâm đến văn hóa cồng chiêng, âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên đều
dễ dàng nhận thấy nguy cơ mai một qua sự suy giảm nhanh chóng về số lượng cồng chiêng ở
các tỉnh Tây Nguyên. Ở thời điểm năm 1980, tỉnh Gia Lai - Kon Tum có hàng chục ngàn bộ
cồng chiêng, con số cồng chiêng của mỗi làng đến hàng chục bộ, không ít gia đình giàu cất
giữ trong nhà trên dưới 10 bộ cồng chiêng. Nhưng đến năm 2004, số lượng cồng chiêng của
tỉnh Gia Lai chỉ còn 5.117 bộ. Tỉnh Lâm Đồng còn 3.113 bộ. Ở Đắk Lắk trong vòng 10 năm,
từ 1982 đến 1992 mất đi 5.325 bộ cồng chiêng và 10 năm tiếp đó, từ năm 1993 - 2003, tỉnh

296
này tiếp tục bị mất 850 bộ
73
. Trong những thập niên ấy, "Chảy máu cồng chiêng" trở thành
cụm từ phổ biến nhất khi người ta bàn về cồng chiêng Tây Nguyên.
Sự suy giảm về số lượng cồng chiêng cũng đồng nghĩa với những sinh hoạt cộng đồng,
gia đình gắn với cồng chiêng dần thưa vắng. Hay nói một cách chính xác hơn, do những nghi
lễ truyền thống của gia đình, cộng đồng thưa vắng dần làm cho người ta không còn cần đến
cồng chiêng - linh khí quan trọng trong những cuộc "giao tiếp" giữa con người với các thần
linh.
Cồng chiêng mất đi, những bài chiêng cổ cũng "theo" người già sang "thế giới ông - bà",
thang âm của những dàn chiêng cổ cứ thế đi dần vào quên lãng. Từ một vài bộ cồng chiêng
được chỉnh sửa để có thang âm của âm nhạc phương tây, treo lên thành giàn, cho một người
biểu diễn như những nhạc cụ gõ thông thường, phong trào cải tiến cồng chiêng lan dần khắp
các cao nguyên của người Jrai, Bahnar, Xơ đăng, Ê đê, Mơnông… trong suốt thập niên 90
của thế kỷ XX. Đây cũng là khoảng thời gian cồng chiêng chỉ còn là tiếc nuối của những
người già. Có lần ghé thăm một gia đình người Jrai ở bôn Ama Djơng, thị xã Ayun Pa, thấy
trong nhà chỉ còn duy nhất một chiếc sa lớn trong bộ chiêng Kơđơ - một loại cồng chiêng vốn
rất quý của dân tộc này, tôi hỏi cụ bà chủ nhà về những chiếc còn lại, cụ buồn rầu trả lời "con
mình bán hết rồi, mình phải giữ lại một chiếc để khi chết đi thì úp vào ngực". Đối với đám
thanh niên, khi nói chuyện đánh cồng chiêng, họ nghiễm nhiên coi đó là việc của những người
già, của lớp người "lạc hậu".
2. Hoạt động truyền dạy nghệ thuật cồng chiêng trong trường học và thanh thiếu
niên ở tỉnh Gia Lai – những tín hiệu vui
2.1. Hoạt động truyền dạy nghệ thuật cồng chiêng trong trường học
Sau khi không gian văn hóa cồng chiêng được vinh danh, hoạt động truyền dạy nghệ
thuật cồng chiêng trong trường học ở tỉnh Gia Lai đã được quan tâm. Với mục tiêu đưa âm
nhạc cồng chiêng đến với thế hệ trẻ Gia Lai, góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi
vật thể đại diện của nhân loại, từ năm 2010, Sở VHTTDL tỉnh Gia Lai đã mở các lớp chỉnh
chiêng - tạc tượng tại Trường Trung cấp Văn hóa – nghệ thuật (nay đã được sáp nhập vào
Trường Cao đẳng Gia Lai) cho 34 nghệ nhân. Đứng lớp truyền dạy cho thế hệ trẻ người
Bahnar và Jrai là các nghệ nhân có uy tín như Nay Phai, Đinh Đi... Kết thúc khóa học, các
học viên có thể tự chỉnh được chiêng Aráp (chiêng cổ) ở những mức độ âm thanh chuẩn khác
nhau. Từ kinh nghiệm và tài liệu của lớp 2010 do Sở VHTTDL chủ trì, năm 2011, nội dung
này được Sở VHTTDL giao cho Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh và Du lịch chủ trì thực hiện
từ ngày 5 - 15/9/2011. Tham gia lớp học có tổng số 34 học viên, trong đó có 13 người dân tộc
Bahnar và 21 người dân tộc Jrai ở các huyện, thị, thành phố trong tỉnh.
Từ đây, phong trào truyền dạy di sản văn hóa cồng chiêng ngày càng lan rộng. Ở hệ
thống trường học, Trường Trung cấp Văn hóa-Nghệ thuật Gia Lai đã từng bước đưa cồng
chiêng vào giảng dạy trong chương trình đào tạo dành cho các lớp nghệ thuật như: âm nhạc,
73
Viện Văn hóa - Thông tin, Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại Không gian văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên, Nxb Thế giới - HN 2006, tr. 52.

297
múa, nhạc cụ và là môn tự chọn đối với các lớp nghiệp vụ: quản lý văn hóa, văn hóa du lịch.
Ngoài ra, Trường cũng đã được UBND tỉnh giao thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp
tỉnh về truyền dạy cồng chiêng.
Trong hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú, việc truyền dạy cồng chiêng
cho học sinh cũng được quan tâm. Đến năm học 2020-2021, tỉnh Gia Lai có 17 trường phổ
thông dân tộc nội trú và 25 trường phổ thông dân tộc bán trú. Trong số này, có 2 trường cấp
THPT với 26 lớp và 838 học sinh, quy mô đào tạo mỗi trường là 430 học sinh/năm; 15 trường
THCS dân tộc nội trú cấp huyện với 95 lớp, 3.068 học sinh, trong đó có 9 trường quy mô đào
tạo 150 học sinh/năm, 6 trường có quy mô đào tạo 300 học sinh/năm
74
. Hầu hết, học sinh của
các trường phổ thông dân tộc nội trú và phổ thông dân tộc bán trú đều là người dân tộc Bahnar
và Jrai – chủ nhân của không gian văn hóa cồng chiêng, vì vậy mà từ năm 2006, hầu hết các
trường phổ thông Dân tộc nội trú của tỉnh đều tổ chức những sinh hoạt gắn với cồng chiêng
để giáo viên và học sinh có điều kiện tham gia vào những hoạt động văn hóa này. Nhiều
trường đã mời các nghệ nhân có uy tín trong tỉnh về truyền dạy cồng chiêng cho học sinh,
điển hình như:
- Trường Phổ thông Dân tộc nội trú huyện Mang Yang (khu vực người Bahnar) là đơn
vị trường học sớm đưa bộ môn công chiêng vào dạy ngoại khóa cho các em học sinh từ lớp 6
đến lớp 9. Nhà trường đã mời nghệ nhân Nay Phai đến dạy cồng chiêng cho học sinh, rồi hình
thành đội cồng chiêng của trường. Để các em có điều kiện trải nghiệm di sản nghệ thuật này,
Phổ thông Dân tộc nội trú huyện Mang Yang còn tổ chức nhiều cuộc giao lưu văn hóa cồng
chiêng với các làng Bahnar trên địa bàn; tham dự liên hoan cấp huyện, cấp tỉnh.
- Trường THCS Dân tộc Nội trú huyện Đak Pơ (khu vực người Bahnar) được thành lập
năm 2006. Ngay từ khi mới ra đời, nhà trường đã trang bị một bộ cồng chiêng và khuyến
khích học sinh sau giờ học trên lớp thì đem chiêng ra đánh. Những học sinh người Bahnar
biết đánh cồng chiêng đã hướng dẫn kỹ thuật cho các bạn có cùng đam mê. Từ đó, đội cồng
chiêng của nhà trường đã được thành lập. Năm 2018, ngành Văn hóa - Thông tin huyện đã
mời những nghệ nhân giỏi về trường truyền dạy cồng chiêng cho học sinh nam trong thời gian
2 tháng. Thời gian luyện tập của các em là từ 17 giờ đến 18 giờ 30 phút hằng ngày. Các em
nam được các học những kỹ năng cơ bản về cách cầm dùi, đánh cồng chiêng, nắm được giai
điệu và diễn tấu cồng chiêng. Các học sinh nữ được dạy múa xoang. Đến nay, Trường có 5
lớp với tổng số 150 học sinh, trong số này có 45 em thuộc các lớp từ khối 6 - 9 đã tham gia
đội cồng chiêng của nhà trường (25 học sinh nam đánh trống, đánh cồng chiêng; 20 học sinh
nữ múa xoang)
75
.
- Trường THCS Dân tộc Nội trú huyện Ia Pa (khu vực người Jrai): Từ năm 2018, nhà
trường đã phối hợp với phòng Văn hóa-Thông tin và Thể thao huyện; Trường Trung cấp Văn
hóa Nghệ thuật tỉnh Gia Lai mời nghệ nhân ưu tú Nay Phai về dạy cồng chiêng cho một lớp
gồm 32 học viên. Ở lớp học này, các em yêu thích cồng chiêng được học các kỹ năng diễn
74
Mộc Trà (2021), Gia Lai: Giao ban các trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú, Báo Gia Lai Online, ngày
29/4/2021. Truy cập ngày 2/4/2024.
75
Ngọc Minh (2024), Ngân vang tiếng cồng chiêng ở Trường THCS Dân tộc Nội trú huyện Đak Pơ, Báo Gia Lai
Online, ngày 3/03/2024. Truy cập ngày 2/4/2024.

