
314
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHO GIẢI PHÁP GIÁO DỤC NGHỆ THUẬT
TRONG NHÀ TRƯỜNG VỀ NGHỆ THUẬT DÂN GIAN - DÂN TỘC
CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TS. Nguyễn Hồ Phong
119
, CN. Lê Thành Trung
120
Tóm tắt:
Nghệ thuật dân gian - dân tộc như hò huê tình, hò chèo ghe, hò cấy, nói thơ,…là những
giá trị văn hoá độc đáo của Thành phố Hồ Chí Minh. Các loại hình nghệ thuật này phn ánh
thế giới quan, nhân sinh quan và thẩm mỹ nghệ thuật của người dân Thành phố trước thực
tiễn cuộc sống; đó còn là “không gian” để người lao động gửi gắm tâm tư, nguyện vọng, mơ
ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn, an lành hơn, hạnh phúc hơn. Tuy nhiên, trong cuộc sống
đô thị rất sôi động và quá trình đô thị hoá rất mạnh mẽ, nghệ thuật dân gian – dân tộc ở
Thành phố Hồ Chí Minh tỏ ra yếu thế so với nhiều loại hình gii trí hiện đại trong cuộc cạnh
tranh thu hút công chúng. Trong bối cnh đó, việc thực hiện các hoạt động giáo dục nghệ
thuật trong nhà trường trên cơ sở những lý thuyết khoa học cần được nhìn nhận như là nhóm
gii pháp cấp thiết và mang tầm chiến lược, giúp học sinh, sinh viên có cơ hội tiếp cận và
hiểu biết sâu sắc hơn về nghệ thuật dân gian – dân tộc của Thành phố. Đó là vấn đề mà nhóm
tác gi đề cập trong tham luận này.
Abstract:
Folk art - folk culture such as ho hue tinh, ho cheo ghe, ho cay, noi tho, etc., are unique
cultural values of Ho Chi Minh City. These forms of art reflect the worldview, outlook on life,
and artistic aesthetics of the city's people towards the realities of life; they are also spaces
for workers to express their thoughts, aspirations, and dreams for a better, more peaceful,
and happier life. However, in the bustling urban life and the strong urbanization process, folk
art - folk culture in Ho Chi Minh City appears to be weaker compared to many modern
entertainment forms in the competition to attract the public. In this context, implementing
artistic education activities in schools based on scientific theories should be considered as
essential and strategic solutions, helping students to have more opportunities to access and
deeply understand the folk art - folk culture of the city. This is the issue addressed by the
authors in this paper.
Từ khóa: Dân gian, dân tộc, lý luận, nghệ thuật, Thành phố Hồ Chí Minh
Keywords: Folk, ethnicity, theory, art, Ho Chi Minh City
1. Đặt vấn đề
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những siêu đô thị có quy mô kinh tế – văn hóa
– giáo dục – xã hội, có tốc độ tăng trưởng kinh tế lớn nhất Việt Nam. Về kinh tế, Thành phố
119
. Trường Đại học Văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh
120
. Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng

315
Hồ Chí Minh là địa phương thường xuyên dẫn đầu cả nước về phát triển kinh tế với mức độ
cạnh tranh quyết liệt. Tính đến năm 2022, Thành phố có 11.351 dự án đầu tư trực tiếp của
nước ngoài được cấp phép với tổng vốn đăng ký là 56.247,9 triệu USD. Trong đó, riêng trong
năm 2022, Thành phố có 986 dự án đầu tư của nước ngoài được cấp phép với tổng vốn là
1.563,3 triệu USD. Đồng thời, tính theo lũy kế từ năm 2018 đến 2022, Thành phố có 45.425
doanh nghiệp đăng ký thành lập, và số doanh nghiệp đang hoạt động tính đến thời điểm ngày
31/12 năm 2022 của Thành phố là 274.067 doanh nghiệp [Tổng Cục thống kê Việt Nam,
2022, tr. tr. 353, 359, 400].
Về mặt xã hội, đến cuối năm 2022, Thành phố có 9.389.700 người. Trong đó, dân số
ở thành thị là 7.302.800 người, chiếm 77.77% trong tổng dân số. Dân số ở nông thôn là
2.087.000 người, chiếm 22,23% trong tổng dân số [Tổng Cục thống kê Việt Nam, 2022, tr.
106, 116, 118]. Về thành phần dân tộc, tính đến năm 2019, trong tổng số 8.993.082 người,
người Kinh đông nhất với 8.523.173 người, chiếm 94,77%; tiếp đến là dân tộc Hoa với
382.826 người, dân tộc Khmer có 50.422 người, dân tộc Chăm có 10.509 người [Tổng Cục
thống kê Việt Nam, 2020, tr.177 – 179].
Về giáo dục, tính đến năm 2022, ở cấp mẫu giáo, Thành phố có 1342 trường học, 11556
lớp học, 20167 giáo viên và 229661 học sinh. Về cấp phổ thông, tính đến thời điểm ngày
30/9/2021, Thành phố có 1004 trường, trong đó có 514 trường tiểu học, 279 trường THCS,
124 trường Trung học phổ thông, 7 trường phổ thông cơ sở và 80 trường trung học. Số giáo
viên phổ thông trực tiếp giảng dạy tính đến ngày 30/9/2021 của Thành phố là 51500 người,
trong đó tiểu học là 22202 giáo viên, Trung học cơ sở là 17293 người và Trung học phổ thông
là 12005 người. Số học sinh phổ thông của Thành phố tại thời điểm ngày 30/9/2021 là
1360173 học sinh, trong đó có 679883 học sinh tiểu học, 447940 học sinh trung học cơ sở và
232350 học sinh trung học phổ thông. Thành phố cũng có 70618 học sinh thuộc các dân tộc
thiểu số. Ở bậc đại học, tính đến năm 2020, Thành phố có 19126 giảng viên, 599782 sinh viên
đại học [Tổng Cục thống kê Việt Nam, 2022, tr. 905, 908, 914, 920, 924, 930, 932].
Tuy nhiên, đi cùng với sự phát triển khá toàn diện về mọi mặt đó, các loại hình nghệ
thuật dân gian – dân tộc đang đứng trước những thử thách lớn, có phần nan giải trong việc
tìm được chỗ đứng xứng đáng trong lòng công chúng trước sự cạnh tranh ngày càng mạnh
mẽ của các loại hình văn hóa giải trí mới. Vậy, các cơ quan hữu trách cần làm gì để bảo tồn,
phát huy giá trị của các loại hình nghệ thuật dân gian – dân tộc mà Thành phố đang sở hữu?
Đó là câu hỏi cần có đáp án trên những cơ sở lý luận phù hợp, và cũng là vấn đề mà tác giả
bài viết này quan tâm nghiên cứu và đề xuất.
2. Khái quát về nghệ thuật dân gian – dân tộc tại Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh – vùng đất từng được phong danh hiệu “Hòn ngọc Viễn
Đông” đâu chỉ nổi tiếng về sự phát triển kinh tế, giáo dục; mà còn là nơi chứa đựng nhiều di
sản văn hóa độc đáo của biết bao cộng đồng, tộc người đến định cư, sinh sống và sáng tạo
nên trong suốt hàng trăm năm hình thành và phát triển. Trong đó, các loại hình nghệ thuật dân
gian - dân tộc là một thành tố quan trọng trong kho tàng đó. Theo Huỳnh Ngọc Trảng, Thành
phố Hồ Chí Minh có các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian như:

316
- Hò huê tình: Loại hò này “phổ biến khắp các huyện ngoại thành Thành phố Hồ Chí
Minh và được diễn xướng cả trong lúc chèo ghe, cấy lúa, đươn đệm, dệt chiếu,…Đặc điểm
của hò huê tình là lời hò phát triển chủ yếu trên một cặp lục bát, tức câu hò ngắn, tốc độ diễn
xướng chậm rãi và đặc biệt là giai điệu và âm hưởng của hò huê tình rất gần với hát ru con
Nam Bộ, một làn điệu mà cơ bản không biến đổi mấy so với hát ru con Trung Bộ”.
- Hò chèo ghe: Loại hình nghệ thuật này hình thành và phát triển trên cơ sở phương
thức định cư, đi lại, kinh doanh,… đặc thù của miền sông nước. “Hò chèo ghe trở thành một
hình thức diễn xướng phát triển tương đối trội hơn các loại hình ca hát dân gian khác. Trên
sông nước, các tụ điểm hò hát và sinh hoạt đặc biệt sôi nổi và các giáp nước, những nơi mà
sau đó thường trở thành chợ, thành thị tứ kiểu “trên bến dưới thuyền”.
- Hò cấy: Sinh hoạt văn hóa dân gian này được khởi phát từ nghề trồng lúa nước truyền
thống của người dân Thành phố. “Kết quả điều tra thực tế ở các xã ngoại thành Thành phố
Hồ Chí Minh cho thấy rằng mỗi vùng đều tồn tại và ba điệu hò cấy khác nhau… Đây là kết
quả của quá trình giao lưu giữa các vùng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà trước hết là sự
lưu động của các công cấy, tức các tay hò, đi cấy thuê từ vùng này sang vùng khác”. Cùng
với thời gian, họ cấy phát triển thành nhiều dạng thức và tên gọi khác nhau như Hò mái Ố,
Hò mái dài, Hò hòa hơ, Hò xay lúa,…
- Lý: Theo Huỳnh Ngọc Trảng, Lý “là hình thức diễn xướng thịnh hành của thế hệ nghệ
nhân dân gian từ những thập niên 30 của thế kỷ này (tức thế kỷ XX) trở về trước và từ thời
điểm này trở về sau, lý bắt đầu suy tàn”. “…đặc điểm cơ bản của lý là hình thức diễn xướng
thuần nghệ thuật, tức chức năng của lý phân biệt với chức năng lao động của hò lao động,
chức năng giao đãi của hò giao duyên,… Đặc điểm khác của lý là diễn xướng tập thể. Nó
được diễn đồng ca, trong những trường hợp rất hiếm hoi nó mới được diễn xướng đơn lẻ”.
- Nói vè, nói thơ, nói truyện, nói tuồng,…: Nhà nghiên cứu văn hóa Huỳnh Ngọc Trảng
cho biết “Đây là tập hợp những hình thức diễn xướng chiếm vị trí quan trọng trong sinh hoạt
diễn xướng ở Sài Gòn – Gia Định, ở Nam Kỳ lục tỉnh nói chung… những hình thức diễn
xướng này là phương cách phổ cập không chỉ những sáng tác tự sự dân gian mà cả tác phẩm
văn học thành văn – đặc biệt là những tác phẩm tự sự – ra công chúng đông đảo; và cũng do
đó, đã tạo nên một đặc tính của văn chương miền Nam là “nặng về nói và trình diễn”.
- Hát bội: Tiền thân của hát bội là nói tuồng, cũng như những hình thức diễn xướng tổng
hợp được gọi theo thói quen là hát. Qui mô và cách thức diễn hát bội hết sức đa dạng và cơ động
như hát soát, hát đám, hát tuồng, hát ăn tiền thưởng, hát giúp, hát phá rạp, hát lễ tiên sư, hát xoãng
mặt, hát lễ trường (hát bỏ đồ). Cũng theo Huỳnh Ngọc Trảng thì “Ca vũ, ở đây hiểu là hát bội,
phát triển đến mức các quan cai trị thời trước phải lên tiếng phàn nàn… Dân chúng mê hát bội,
học từng lớp, từng bài để biểu diễn giúp vui khi có cuộc tiệc vui với bè bạn. Tình hình này phổ
biến đến mức đã trở thành một thứ hát bội dân dã, con nít cũng diễn được”.
- Hát đưa linh: Đây là hình thức diễn xướng tổng hợp giữa cách thức diễn của hát bội
và hò dân gian, là sự giao thoa giữa hai loại hình diễn xướng, một truyền thống và một dân
gian. Đây là hoạt động nghệ thuật có tính chất bán chuyên nghiệp của những đội mai tang

317
(hay còn gọi là hội âm công, nhà vàng). Về sau, khi cải lương thịnh hành đã xâm nhập dần và
từng bước hát bội không còn được dùng phổ biến trong các cuộc hát đưa linh.
- Hát bóng rỗi: Loại hình nghệ thuật dân gian gắn với nghi lễ cúng miếu, cúng đình,
nơi thờ tự các nữ thần. Đây cũng là hình thức diễn xướng dân gian tổng hợp bao gồm nhiều
tiết mục phong phú về thể loại diễn xuất, cũng như làn điệu bài bản ca xướng. Một chương
trình hát bóng rỗi thường có cấu trúc các phần: Lễ khai tràng, Chầu mời – Thỉnh tổ, Chầu mời
– mời tiên ra tuồng, Phước lộc, Trạng – Nàng, Địa – Nàng, Bóng múa và cuối cùng là hát
chặp (hát trích đoạn các vở hát bội).
- Đờn ca tài tử: Đây là loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian - dân tộc duy nhất của
vùng Nam Bộ được UNESCO ghi danh là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.
Đờn ca tài tử là nền tảng quan trọng để hình thành nên nghệ thuật sân khấu cải lương sau này.
Loại hình diễn xướng này ra đời vào khoảng cuối thế kỷ 18, và dần phát triển rộng khắp vùng
Nam Bộ, đến Trung Bộ, góp phần đem lại sức sống mạnh mẽ trong đời sống văn hóa tinh
thần của người dân từ nông thôn đến thành thị. Ngày nay, dù môi trường diễn xướng, thị hiếu,
nhu cầu của công chúng Thành phố có nhiều thay đổi, nghệ thuật đờn ca tài tử vẫn tìm được
một chỗ đứng vững chắc trong lòng xã hội mới với nhiều CLB đờn ca tài tử ra đời, hoạt động
đào tạo tài tử đờn, tài tử ca vẫn được các đơn vị sự nghiệp văn hóa thực hiện thường xuyên.
Điều đó tạo nên những cơ hội mới để nghệ thuật dân gian - dân tộc này được bảo tồn, phát
huy, phát triển tốt hơn trong xã hội đương đại.
- Nghệ thuật sân khấu ci lương: Thuật ngữ “cải lương” đầu tiên được dùng với nghĩa
là “cải cách” các mặt đời sống từ kinh tế, chính trị, xã hội đến văn hóa, chứ không nhằm để
chỉ một loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống như ngày nay. Trong đó, phong trào cải
cách này diễn ra mạnh mẽ đối với nghệ thuật hát bội để đáp ứng sự nhu cầu mới của công
chúng vùng Sài Gòn – Gia Định xưa. Quá trình cải cách này thành công đã cho ra đời một
loại hình ca – diễn mới trên nền của nghệ thuật hát bội và ca ra bộ (giai đoạn phát triển mới
của ca tài tử) mà ngày nay gọi là “Nghệ thuật sân khấu cải lương” [Trần Văn Giàu & Trần
Bạch Đằng (Chủ biên), 2018, tr. 15, 17, 21-26, 35, 54-56, 59-76, , tr. 171 - 176].
Như vậy có thể thấy, Thành phố Hồ Chí Minh rất giàu có tài nguyên nhân văn là các
loại hình nghệ thuật dân gian – dân tộc. Đây là tài sản – di sản văn hoá quý giá để làm nền
tảng, cơ sở cho sự phát triển toàn diện và bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh trong hiện
tại và tương lai. Đó là lý do vì sao các loại hình nghệ thuật dân gian – dân tộc của Thành phố
cần được bảo tồn, phát huy thông qua nhiều phương cách, trong đó có giải pháp đẩy mạnh
hoạt động giáo dục nghệ thuật trong nhà trường.
3. Sự thay đổi hành vi thưởng thức nghệ thuật dân gian – dân tộc của học sinh, sinh viên
– những công chúng trẻ của Thành phố Hồ Chí Minh
Nhiều loại hình nghệ thuật dân gian - dân tộc muốn đạt sự thăng hoa cao nhất, đòi hỏi
quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ, và sự thưởng thức của công chúng phải diễn ra đồng
thời tại không gian diễn xướng. Ở đó, công chúng không chỉ thưởng thức những cái hay, cái
đẹp, cái bi, cái hài thông qua tài năng biểu diễn của người nghệ sĩ; mà họ còn có thể đóng góp
trực tiếp vào quá trình sáng tạo nghệ thuật thông qua thái độ, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười, tiếng

318
vỗ tay, sự tán thưởng khi thưởng thức nghệ thuật. Vì lẽ đó, có thể nói, mối quan hệ hữu cơ,
trực tiếp giữa công chúng và nghệ sĩ của các loại hình nghệ thuật dân gian - dân tộc là bản
chất cốt yếu quyết định sự khác biệt giữa nghệ thuật truyền thống khác với một số loại hình
nghệ thuật, giải trí hiện đại khác.
Thế nhưng hiện nay, các thành tựu của khoa học công nghệ đã thâm nhập vào mọi ngõ
ngách của đời sống văn hóa, xã hội và làm thay đổi hành vi, cách thức thưởng thức tác phẩm
nghệ thuật của công chúng Thành phố, trong đó có một bộ phận quan trọng là học sinh, sinh
viên. Theo đó, với sự hỗ trợ của công nghệ số, công nghệ video được tích hợp vào các phương
tiện kỹ thuật như điện thoại thông minh, máy tính kết nối internet, Ipad, tivi thông minh,…,
học sinh, sinh viên Thành phố ngày nay có nhiều cơ hội để lựa chọn, tiếp cận và thỏa mãn
nhu cầu thưởng thức nghệ thuật, vui chơi giải trí của mình mà ít bị giới hạn bởi thời gian,
không gian, khoảng cách địa lý. Nhưng chính điều đó đã thay đổi hành vi, phương cách thưởng
thức một số loại hình nghệ thuật dân gian - dân tộc từ trực tiếp (xem, thưởng thức tại không
gian diễn xướng), sang gián tiếp (xem, thưởng thức thông qua phương tiện kỹ thuật); từ nhóm
(có thể xem khán giả ngồi tại không gian diễn xướng là một nhóm người cùng sở thích nghệ
thuật) sang cá nhân (công chúng có thể thưởng thức nghệ thuật một mình bằng các phương
tiện cá nhân như điện thoại, Ipad, máy tính, tivi,…). Điều này đã phá vỡ quá trình đồng sáng
tạo của nghệ sĩ và công chúng đối với một số loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống. Hệ
lụy là, nhiều loại hình nghệ thuật dân gian - dân tộc hiện nay đang đứng trước nguy cơ mai
một do vắng bóng khán giả như học sinh, sinh viên.
Tất nhiên trong bài viết này, tác giả không đặt ra vấn đề là nên hay không nên sử dụng
các thành tựu của khoa học công nghệ vào việc thỏa mãn các nhu cầu thưởng thức văn hóa
nghệ thuật, vui chơi giải trí của học sinh, sinh viên nói riêng, công chúng nói chung bởi đó là
xu hướng, là yêu cầu tất yếu của xã hội hiện đại. Vấn đề mà nhóm tác giả quan tâm là bằng
cách nào đó có thể duy trì song hành cả hành vi thưởng thức nghệ thuật thông qua các phương
tiện điện tử, đồng thời xây dựng, duy trì và phát triển thói quen thưởng thức nghệ thuật trực
tiếp tại các không gian diễn xướng của công chúng Thành phố, trong đó đặc biệt là công
chúng trẻ như học sinh, sinh viên.
4. Hoạt động giáo dục nghệ thuật trong nhà trường về nghệ thuật dân gian – dân tộc ở
Thành phố Hồ Chí Minh qua lý thuyết cấu trúc bộ máy tư duy người của Sigmund
Freud
121
(a) Khái quát về lý thuyết cấu trúc bộ máy tư duy người của Sigmund Freud
Theo S. Freud, cấu trúc bộ máy tư duy của con người được cấu thành bởi ba hệ thống:
Vô thức (unconscious), tiền ý thức (preconscious) và ý thức (conscious). Trong đó, phần vô
thức là phần trọng tâm nhất của hệ thống cấu trúc bộ máy tư duy người, là nơi tàng trữ các
bản năng của con người. Nó có sức mạnh to lớn, mãnh liệt đến mức con người không thể
dùng lý trí để điều khiển được. Hoạt động của vô thức phục tùng theo nguyên tắc khoái lạc,
121
Sigmund Freud (1856 – 1939) vốn là bác sỹ thần kinh và tâm thần. Ông sinh ngày 6 tháng 5 tại Freiberg, vùng
Moravia, nước Áo (nay thuộc Cộng hòa Séc). Ông là con trai đầu của người vợ thứ ba trong một gia đình Do Thái, cha
là Jacob Freud, một thương gia nhỏ về ngành dệt.

