207
GIÁO DỤC ĐO ĐC VÀ THM M QUA S THI XƠ ĐĂNG
TS. Lê Ngc Bính
48
M đầu
S thi Tây Nguyên được thế gii biết đến t nhng thập niên đầu ca thế k trưc, khi
L. Sabatier công b khan Đăm San ca dân tộc Êđê (1927). Quá trình y đưc tiếp ni bng
việc các nhà sưu tầm, nghiên cu tiến hành điền đã phát hiện rt nhiu s thi ca c
dân tộc trên đa bàn Tây Nguyên i riêng, Vit Nam nói chung. T 2001, được s phê duyt
ca Chính ph, D án Điều tra, sưu tầm, bo qun, biên dch và xut bn kho tàng s thi Tây
Nguyên do Trung tâm Khoa hc hội nhân văn quc gia (nay là Vin Khoa hc hi
Vit Nam) ch trì, phi hp vi các tnh Tây Nguyên thc hiện, bước đầu đã công bố 06/106
tác phm s thi Đăng (gi các m’uan) sưu tầm được dân tộc Đăng, tỉnh Kon
Tum. Các tác phm s thi Xơ Đăng được in ba cun sách chính: Vin Khoa hc xã hi Vit
Nam Vin Nghiên cứu văn hóa (2006), Kho tàng s thi Tây Nguyên (S thi Xơ Đăng), Nxb.
Khoa hc hi, Nội (trong đó có hai tác phm: Dăm Duông bị bt m tôi t - Dăm
Duông br dek wi; Dăm Duông cứu nàng Bar m Duông dong bia Bar ). Vin
Khoa hc hi Vit Nam Vin Nghiên cứu văn hóa, Kho tàng s thi Tây Nguyên (S thi
Đăng), Nxb. Khoa hc hi, Ni (có Dăm Duông hóa cp Dăm Duông jiâng kla
bring brông; Dăm Duông trong lốt ông già Dăm Duông akar k). Vin Khoa hc
hi Vit Nam Vin Nghiên cu văn hóa (2009), Tng tập văn học dân gian các dân tc
thiu s Vit Nam (Tp 8 s thi Đăng), Nxb. Khoa hc hi, Ni (Duông đi theo
thn Tung Gur Duông ti Tung Gur; Duông làm th nh Duông bro tơnôl).
Khi đi sâu nghiên cu các tác phm s thi Xơ Đăng, chúng tôi đã đưa ra các đc điểm
v ni dung và ngh thut. V đặc điểm ni dung trong s thi Xơ Đăng, đó là sự phn ánh các
vấn đề lch s - hi tộc người như chiến tranh, t chc hi, s c kết cộng đồng, quan
h gia các dân tc; các biu hiện văn hoá tộc người như sinh hoạt kinh tế truyn thng, tín
ngưỡng, phong tc, l hội, văn hoá m thc. V đặc điểm ngh thut, s thi Đăng sự
đan cài, cộng hưởng ca ba loi hình ngh thuật đó là tính tự s, tính tr tình và tính kch. T
đó đã đưa sử thi Xơ Đăng vào tương quan vùng s thi Tây Nguyên để so sánh vi s thi mt
s dân tộc như Êđê, M’nông, Bahnar nhm tìm ra những tương đồng và khác bit gia s thi
các dân tc, khng định tính thng nhất trong đa dạng ca vùng s thi Tây Nguyên.
Bên cạnh đó, với đi sng vt cht và tinh thn vô cùng phong phú, qua s thi, người
dân Đăng đã thể hin mt h thng nhng quan niệm đạo đức, tưởng, thm m độc
đáo, đa dạng mang đầy tinh thần nhân văn, nhân bản. Điều này đưc ngh nhân dân gian th
hin qua vic sáng to một cách tài tình các hình tượng, các tình hung ngh thuật độc đáo để
nói lên tư tưởng, ước, tình cm ca cộng đồng Xơ Đăng trong không gian và thi gian
s thi phn ánh. Cuc sng vi muôn vàn biu hin của đã câu thúc con người phi
48
. Trường Đại học Đà Lạt
208
những điều chỉnh đt ra nhng quan nim đạo đức, nhng tưởng, thm m để th
hoàn thin bản thân cũng như điu hòa các mi quan h xã hi. T đó đời sng xã hi mi tr
nên nhp nhàng, yên n, cộng đồng mi bình yên, hnh phúc, chính nhng quan nim y
hướng con người vào nhng suy nghĩ và hành động tốt đẹp và nó tr thành nn tảng tư tưởng
ca cộng đồng đưc truyn t thế hy sang thế h khác. Đó cũng là cách truyền dy, giáo
dc rt hiu qu các giá tr lch sử, văn hoá truyền thng tốt đẹp ca t tiên người Đăng
đối vi con cháu ca h cần được phát huy, đc bit cn các giải pháp để ng dng vào
vic ging dy và hc tập trong các nhà trường, nơi có học sinh là con em đồng bào Đăng
sinh sng và hc tp. Đây chính là mục đích mà bài nghiên cứu của chúng tôi hướng đến.
1. Ngưi anh hùng và sc mạnh đoàn kết cộng đồng
Trưc hết người Đăng đề cao sc mnh cộng đồng, truyn thống đoàn kết muôn
đời đã hun đúc cho h sc mạnh t qua mọi khó khăn, th thách trong cuc sng. Sc mnh
con người được như núi rừng, do đó phải luôn gn vi cộng đồng, phi được ngun sa
phù sa cộng đồng nuôi ng. Sc mnh ch khi mọi người đoàn kết, li thn Tung Gur
nói vi Dăm Duông:
Con là con trai ví như ngọn núi cao. Có rng le, có rng cây cao to ln… Núi to, trong
đó rừng cây, nhng cây to lớn đủ loại, đủ c, nhiu loi y khác nhau, c các
bi y le các loi y khác, con ạ. Điều đó ý muốn nói ch sc mnh ca mọi người,
sc mnh ca tt c con dân làng, ca c làng… Đó chính sức mnh của người
dân khi h tp hp li (Vin Nghiên cứu văn hóa, 2006, tr. 853 – 854).
Một ngưi khi l loi s không sc mnh mà phi biết đứng trong cộng đồng, làng
buôn. Điều y nmột triết bao đời của người y Nguyên nói riêng, người Vit Nam
nói chung: Một y m chng nên non/ Ba cây chm li nên hòn i cao”. Chỉ khi con ngưi
biết đoàn kết, tương trợ, gn bó thì h mi có sc mnh tng hợp, người anh hùng cũng vy,
mun tr nên hùng mạnh, danh vang đến thn, tiếng đồn khp x thì phi biết da vào cng
đồng, vào sc mnh ca tình đoàn kết. Điều này đã làm nên một m tc người Đăng,
đó là tục kết nghĩa anh em. Tc kết nghĩa không chỉ gia nhân vi nhau còn s kết
nghĩa giữa làng y vi làng khác, cộng đồng y vi cộng đồng khác nhm mục đích sẻ chia
nhng vui bun trong cuc sống, giúp đỡ nhau trong ng việc, tăng cường sc mnh trong
sn xut chiến đấu, vi vt chng kết nghĩa vòng đồng, vòng bc hoặc cườm, h cùng
vít cong cần rượu chân tình bên bếp la nhà rông. m Duông kết nghĩa bang giao với tc
trưng Rang Pa Ti trong Duông làm th lĩnh đ tăng cưng sc mnh chiến đấu:
Cháu mun hai x sở, hai quê hương chúng ta sự hòa thun, giúp đỡ ln nhau nhng
lúc khó khăn hoạn nn. T nay v sau, như quê ơng ca bác gặp khó khăn
nguy hiểm thì ngưi dân bên x cháu s đến giúp đỡ. Khi giặc đến đánh phá xóm
làng, chúng ta phi hp nhau lại để sc mnh chng li bn chúng. - m nay,
chúng ta bàn nhau làm thế nào để siết chặt hơn tình anh em giữa hai quê hương xứ s.
Hai x ta chia rẽ, không giúp đ nhau, chúng ta s không mạnh, quê hương làng xóm
s không giàu có được... (Vin Nghiên cứu Văn hóa, 2009, tr. 1329 – 1330 - 1410).
209
S thi Tây Nguyên đã từng nhắc đến các cuc kết nghĩa giữa hai chàng dũng sĩ Pơrong
Mưng và Xing Mưn trong s thi Xinh Nhã, Đăm Di; hay Đăm San hùng mạnh hơn khi có sự
giúp sc ca những người anh em kết nghĩa đ chiến thng Mtao Mxây, Mtao Gr hùng
mạnh…
Trong cộng đồng phải người đi đầu “cầm cân ny mực” thì cộng đồng đó mới ln
mạnh, đó là thủ lĩnh của làng được mọi người trng vng, tin yêu giao trọng trách điều hành,
qun lý mi công vic ln nh của làng. Đó là ngưi hi đ mi tiêu chí dân làng đặt ra,
s thi y dựng hình tượng người anh ng m Duông, nhân vật trung m ca s thi
Đăng, thủ lĩnh tài ba đại din sc mnh, trí tuệ, đạo đức, ước, tưởng, thm m ca
người Xơ Đăng:
Người đẹp trai y ví như một ngn núi cao to, ngn i đó mới gi được nhiu vt
khác. Cũng nmột ngưi tài gii coi sóc dân chúng trong vùng, trong x. Không
núi rng thì không có sinh vật, không có loài người. Và con người sinh sôi, đông đúc
nhiều nthế phi ch, phi th lĩnh. Cũng như người làm nông phải người
ch của đám rẫy. Nếu không có người m ry thì không th có ry được, như thế đấy.
Sống trên đời ng thế, nếu như không ai đứng đầu, làm ch, làm th lĩnh đ dn
dt dân chúng thì s hn lon, không th sinh sống làm ăn được. Nếu ai cũng làm theo
ý riêng của mình thì không được. H s đánh nhau lung tung, mặc sc vt kit sc lc
nhau, t do ba i làm theo ý riêng ca mình, cho nên phải ngưi làm ch để coi
sóc, đ bảo ban, như thế thì mi n (Vin Nghiên cứu văn hóa, 2006, tr. 855 856).
Trên thc tế, hội Xơ Đăng đã ghi du n nhiu th lĩnh tài ba tên ca h được
đặt cho tên làng bi danh tiếng nhng cng hiến cho cộng đồng. Với cương vị th lĩnh
của làng, m Duông đã nêu ra quan nim thấu tình đạt lý: “Sự tht nthế y, nếu ta
yêu mến dân làng mình thì ta phi làm nhng điều lành, làm điều phi, cho dân làng sng yên
n. Phi biết n trng nhau, biết gi tp tc của làng, đúng như vy không, thưa ngưi
già?” (Viện Nghiên cu văn hóa, 2006, tr. 1111). Hình mẫu ngưi anh hùng phi hi đủ c
phm chất đặc biệt đảm đương các vai trò như chiến đấu bo v cộng đồng; lao động sn
xut đy dng, phát trin cộng đồng; vai trò tp hợp, định hướng và bình n cng đồng…
Vic xây dng nhân vt anh hùng vi tài trí sc mnh ngang vi thn linh phi luôn nm
trong s gn bó mt thiết vi cộng đồng:
Tinh thn dân ch, ý thc tp th, mi quan h cộng đồng gn gia nhân vt anh
hùng với nhân dân, đó những nét đặc trưng nói lên ý nghĩa hi sâu sc tính
nhân dân mnh m ca các bn s thi… Vì vậy, tính tp th, tính cộng đồng rng ln
là mt trong những đặc trưng chính của s thi các dân tộc, trong đó nổi lên hình tượng
tiêu biu ca nhân vật anh hùng (Võ Quang Nhơn, 1983, tr. 353 379).
Trong cng đồng đoàn kết vi mt ngưi đứng đầu y, h đặt ra nhng tp quán pháp
để bình n hội cũng như quy đnh ý thc, quyền nghĩa v ca nhân đối vi cng
đồng. Nhng nn tảng bản để hình thành nên tính cộng đồng, s c kết tâm cng
đồng đó là dựa trên “sự cộng đồng v cư trú (cộng cư), cộng đồng v s hu và li ích (cng
210
li), cộng đồng v tâm linh (cng mnh), cộng đồng v văn hóa (cộng cảm)” (Ngô Đức
Thnh, 2007, tr. 213, 220).
Trên cái nn cộng đồng y, tình yêu thương giữa con người với nhau luôn được đ
cao và coi trọng: “Nhờ có tình yêu thương giữa con người nên mới có được s yên bình. Nếu
chúng ta kình địch nhau, ghét b nhau thì m sao mà có được s yên bình. Không được bình
yên thì làm sao hạnh phúc sung ớng” (Viện Nghiên cứu văn hóa, 2009, tr. 676). Tình
yêu thương như một tiêu chí cho s bình yên, hnh phúc trong cộng đồng. Những người mc
sai trái cũng có thể đưc tha th nếu h biết thay đổi mình, c gắng vươn lên hoàn thiện bn
thân bởi “sông có khúc, người có lúc” và người ta “đánh k chy đi, ai đánh người chy lại”:
“Con người ta phi biết điều. Hôm nay h sai trái, mai kia h thành tt, biết đâu ta lại mc sai
lầm… sống vi anh em phi hiểu. Hôm nay, ta đang phải. m nay, nó lỗi. Nhưng mai
mt kia, l ta mc li thì sao?” (Vin Nghiên cứu văn hóa, 2006, tr. 242 – 243). T đó, trong
cuc sống con người tr nên v tha hơn.
Đoàn kết cộng đồng thc ssc mnh to ln trong quá trình hình thành và phát trin
các th tc, b lc, si y gn kết các nhân li vi nhau. T nhng vấn đề trong đời
sống đã câu thúc mọi người đứng lại bên nhau, đồng lòng, chung sức vượt qua mọi khó khăn,
th thách. Trong không - thi gian mà s thi Đăng phản ánh, tinh thn c kết cộng đồng
được biểu trưng bởi hình tượng người anh ng Dăm Duông nhân vt trung tâm ca s thi
Đăng, là hình mẫu mang ước, tưởng, người đứng đầu mang ng dấp, hơi thở,
có vai trò quyết định đến vn mnh chung cho c cộng đng.
2. Các chun mc xã hi và đi sống gia đình
Sng trong mt cng đng có truyn thng gn bó mt thiết, thế h này đi qua, thế h
khác ni tiếp tha hưng nhng vốn quý văn hóa, nhng kinh nghiệm muôn đời. Thế h con
cháu phi biết quý trng nhng tinh hoa cha ông h đã dày công vun đắp, t đó kế tha
và phát huy bn sc tt đp. Thế h trước già đi, thế h tr tiếp bước, “tre già măng mọc”, từ
đó lao động, làm ch gia đình. Lời ông Bok Glaih nói với ông Tur Mur: “Chúng ta già
yếu ri, con cái phi nh ch ông. Chúng nó s là ngưi tiếp tc làm vic thay thế chúng
ta. Nếu chúng nó có sc khỏe, có chí làm ăn thì tất nhiên chúng nó phi thay thế chúng ta làm
vic nuôi sống gia đình. Như thế đấy, ông ạ!” (Vin Nghiên cứu văn hóa, 2006, tr. 916).
thế h tr không ngng tiếp thu nhng vn sng ca cha ông truyn lại: “Người già vn
sng cho nên h biết rõ, mi dy bảo con cái, cho chúng mình, đa nào khôn thì nhn ly”
(Vin Nghiên cứu văn hóa, 2006, tr. 917). Trong đời thực, người dân Xơ Đăng rất quý tr em,
các tác gi trong cun Các dân tc tnh Gia Lai Công Tum cho rằng: “Người dân Xơ Đăng
rt quý tr con. Mơ ước ca h vn là con đàn cháu đống” (Đặng Nghiêm Vn & ctg., 1981,
tr. 210). Ngoài ra, con cái, nhng người tr tuổi cũng phải biết yêu thương, quý trọng người
già và nhng di sn mà h để li. Trong lốt ông già, m Duông đã chỉ dy cho những người
tr tui cách ng x vi nhng bc cao niên theo kiểu yêu trẻ tr đến nhà, kính già già đ
tui cho”:
Xưa nay, con người ta sng buôn làng, nếu không người già ch dn thì bn tr
có biết làm ry trng lúa, trng bp không? Phải người già dy bảo trẻ mi biết
211
làm ăn, biết làm nhiu vic y, vic n. Ti sao lại chê người già? Chính ngưi già
sinh ra tr nh. T nh ri lớn lên và già nua. Trưc là tr, sau rồi cũng già như nhau.
Thế sao li khinh thường, ghê tm người già? Chính cháu cũng từ người già sinh
ra (Vin Nghiên cứu văn hóa, 2007, tr. 813 – 814).
L đời là vy, có ai không ai sinh ra t b m của mình, được nuôi nng t ngun sa
ca m, t bàn tay chăm bẵm ca cha, nên khi ln lên phi biết kính quý cha mẹ, săn sóc khi
h v già nghĩa vụ thiêng liêng, cao quý của người con. Đó truyền thống đo lý tốt đẹp
bao đời của người Đăng. Khi trưng thành phi biết lao động làm ch gia đình, làng
buôn. Ht lúa không phi t ng có, phi lao động để đảm bo cho cuc sống đầy đ:
“Có làm mới có ăn để sng ch, không làm lấy gì mà ăn. Nếu chúng ta không thì cơm đâu
để ăn” (Viện Nghiên cứu văn hóa, 2006, tr. 944). Ngưi giàu không t ng có,
phải “đổ m hôi, sôi nước mắt” mới đầy đủ sung túc. Li của người già vi con tr tht u
sắc, đúng đắn: “Những người giàu có, sung sướng đâu phải t dưng mà có. Ai cũng phải chu
cc chu kh, phải đ m hôi, phải ra nưc mt, phi chu vt v Yang mới thương, mới ban
cho ta ca cải. Chúng ta luôn m điều tốt, ngưi tt phi biết thương yêu, giúp đỡ mọi người
(Vin Nghiên cứu văn hóa, 2007, tr. 464). Do đó phải chăm chỉ làm vic, cần cù, siêng năng
không ngng hc hi, trau di kinh nghim trong lao động sn xut. Sng chết hay giàu
nghèo là do Yang (thần linh) định đoạt, nhưng muốn được Yang phù h con ngưi phi sng
có chun mực đạo đức, ng x hòa nhã, yêu thương, giúp đ mọi người. Do đó thần linh như
mt th “pháp luật lương tâm” ngăn cấm con người làm điều xu, trng pht nhng vic làm
trái đạo đức, phong tục…, hướng con người đến điều thin, l phi.
Người Xơ Đăng kch liệt lên án thói kiêu căng, khinh thường mọi người: “Thấy người
ta nghèo thì phi r lòng thương, đó mới cao đẹp, ai ai cũng coi trọng… Tại sao li khinh
thường người ta t cao t đại. Tính t cao là xấu… Trước hết phi làm ăn đàng hoàng tử
tế. Th hai phi m vic cần siêng năng. Th ba, phải đi x tt với các anh em, con…”
(Vin Nghiên cứu Văn hóa, 2009, tr. 464). Và như thế, con người trong cuc sng phi yêu
thương đùm bọc, giúp đỡ nhau, nht bênh vc những người nghèo kh, những ngưi
hoàn cảnh khó khăn, phải “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách”. Có như vậy mi thy
yên lòng mới mong đưc thn linh phù hộ, người khác yêu mến. Các nhân trong làng
phải bình đẳng với nhau, đưc nhắc đến nhiu nhất các già làng vai trò đc bit quan
trng trong vic hoạch định các công vic của làng như Bok Glaeh, Nhâk Kân, Glang Jri:
“Nhng thành viên trong một làng hoàn toàn bình đẳng với nhau, được c kết bi mt tinh
thn cộng đồng làng xóm thng nht, da trên mt tp quán pháp duy nhất” (Đặng Nghiêm
Vạn & ctg., 1981, tr. 191). Do đó ai cũng th hiện cao độ quyn li trách nhim ca bn
thân, người già trong làng có quyền năng áp dng các lut tc da trên s t nguyn ca các
cá nhân trong làng. T đó có thể thy tinh thần đoàn kết gn bó mt thiết mà Ngô Đức Thnh
gi là “mt tập”.
Xã hội Xơ Đăng trước đây, hình thức công xã là ph biến. Đất đai, rừng rú, sông ngòi
đều thuc v mọi ngưi quyn s dng ngang nhau. Tuy nhiên, ai khai pngười đó
được hưởng quyn tha kế, đổi bán nhưng phải vi những ngưi trong làng. S thi miêu
t cảnh lao động cộng đồng như lên rừng i rau, săn bn, xung suối đánh cá, phát rẫy tra