
PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 1986 - 1990
(Trích "Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng")
Báo cáo chính trị đã xác định các mục tiêu chủ yếu về kinh tế, xã hội cho những
năm còn lại của chặng đường 5 năm đổi mới đầu tiên 1986 - 1990 là: sản xuất đủ tiêu
dùng và có tích lũy; bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản
xuất; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội; bảo
đảm nhu cầu củng cố quốc phòng an ninh, tất cả nhằm ổn định mọi mặt tình hình kinh
tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy nhanh công nghiệp
hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo.
Thực hiện những mục tiêu đó, phải kết hợp đồng bộ cả ba mặt: sắp xếp, cải tạo và
phát triển với những nội dung cụ thể phù hợp với đặc điểm của từng ngành, từng địa
phương và cơ sở. Như vậy, ổn định không phải là hạn chế các hoạt động kinh tế, mà là
một quá trình vận động tiến lên, vừa phát triển, vừa điều chỉnh các quan hệ tỷ lệ của
nền kinh tế quốc dân.
Vấn đề lớn nhất hiện nay là sắp xếp, bố trí lại cơ cấu và bước đi của nền kinh tế
phù hợp với phương hướng, mục tiêu của những năm trước mắt, phù hợp với khả năng
thực tế của nước ta và sự phân công, hợp tác quốc tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát
triển ổn định, vững chắc, với nhịp độ nhanh. Trong những năm tới, chúng ta thật sự lấy
nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và hàng
xuất khẩu. Công nghiệp nặng, trong bước này, hướng trước hết và chủ yếu vào phục
vụ nông nghiệp, công nghiệp nhẹ với quy mô và trình độ kỹ thuật thích hợp.
Theo hướng đó, nhất thiết phải sắp xếp lại các cơ sở sản xuất hiện có, điều chỉnh
lớn cơ cấu đầu tư, bố trí hợp lý quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, đẩy mạnh cải tạo xã
hội chủ nghĩa, sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế quốc doanh
giữ vai trò chủ đạo nhằm khai thác mọi khả năng phát triển sản xuất, nhất là sản xuất
nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và mở mang dịch vụ.
Chúng ta khẳng định một nhân tố tăng trưởng kinh tế cực kỳ quan trọng là ứng
dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và kỹ thuật, nhất là những thành tựu về sinh học,
về giống cây trồng và vật nuôi, về đổi mới công nghệ và ứng dụng kỹ thuật tiến bộ,
nhằm tiêu hao ít năng lượng, nguyên liệu, tạo ra các vật liệu mới, sản phẩm mới từ
nguyên liệu trong nước, nâng cao chất lượng sản phẩm…
Tiết kiệm là chính sách lớn phải được thực hiện trong tất cả các hoạt động sản xuất,
xây dựng và tiêu dùng xã hội. Chống xa hoa, lãng phí, phô trương, hình thức trong bộ
máy quản lý nhà nước các cấp và hợp tác xã. Nêu cao lối sống giản dị, lành mạnh,
dùng hàng trong nước sản xuất, không chạy theo những thị hiếu tiêu dùng vượt quá
khả năng của nền kinh tế.
1

Để tháo gỡ khó khăn, tạo ra động lực mới, phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với
nội dung chủ yếu là xóa bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, sửa đổi các chính sách đòn
bẩy kinh tế, hình thành cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh
xã hội chủ nghĩa đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; thiết lập trật tự, kỷ cương. Khâu
quyết định là bố trí đúng cán bộ, kiện toàn bộ máy quản lý, đổi mới phong cách và lề
lối làm việc phù hợp với yêu cầu đổi mới cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý.
Đi đôi với công cuộc cải tạo và phát triển kinh tế, chúng ta phải triển khai tích cực,
kiên quyết và bền bỉ các hoạt động về phát triển xã hội, xây dựng nền văn hóa mới và
con người mới, chống các hiện tượng tiêu cực, nhất là tệ tham nhũng, hối lộ, đầu cơ,
trục lợi, thiết lập công bằng xã hội.
Trong khi thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, chúng ta luôn luôn coi trọng bảo
đảm các nhu cầu củng cố quốc phòng an ninh, trước hết là nhu cầu thường xuyên về
đời sống và các hoạt động khác của lực lượng vũ trang; tổ chức tốt hơn hoạt động sản
xuất, xây dựng kinh tế của quân đội, góp phần xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho
quốc phòng và kinh tế, tự bảo đảm một phần nhu cầu của lực lượng vũ trang, góp thêm
hàng hóa cho tiêu dùng xã hội và xuất khẩu.
I. Ba chương trình lớn: Lương thực - Thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất
khẩu
Báo cáo chính trị đề ra ba chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm, hàng
tiêu dùng, hàng xuất khẩu. Ba chương trình này liên quan chặt chẽ với nhau, là cơ sở
và tiền đề cho nhau. Lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng là những điều kiện vật
chất quan trọng để ổn định tình hình kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân; xuất khẩu
là một yếu tố có ý nghĩa quyết định để thực hiện hai chương trình đó và các hoạt động
kinh tế khác. Ba chương trình lớn là cốt lõi của nhiệm vụ kinh tế, xã hội trong 5 năm
1986 - 1990, không những có ý nghĩa sống còn trong tình hình trước mắt, mà còn là
những điều kiện ban đầu không thể thiếu được để triển khai công nghiệp hóa xã hội
chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo. Để thực hiện ba chương trình đó, cần động
viên và tập trung cao độ mọi khả năng của nền kinh tế quốc dân. Các ngành công
nghiệp nặng, giao thông vận tải, các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội khác cũng như tất
cả các địa phương đều phải dồn mọi lực lượng vật chất, sự lãnh đạo và chỉ đạo trước
hết cho ba chương trình này, kiên quyết đình, hoãn những nhu cầu khác chưa thật cấp
bách. Phục vụ và bảo đảm thắng lợi cho ba chương trình là tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển lâu dài của tất cả các ngành và các địa phương trong cả nước.
1. Lương thực - thực phẩm
Trong bước đi hiện nay, nền nông nghiệp nhiệt đới nước ta chứa đựng những tiềm
năng to lớn và có vị trí cực kỳ quan trọng. Chính vì vậy, giải phóng năng lực sản xuất,
trước hết và chủ yếu là giải phóng năng lực sản xuất của hàng chục triệu lao động với
hàng triệu héc-ta đất đai trong nền nông nghiệp nhiệt đới này.
2

Những năm qua, nông nghiệp nước ta đã có chuyển biến, đạt được một số thành
tựu quan trọng, nhất là về sản xuất lương thực và tạo ra một số vùng chuyên canh cây
công nghiệp. Tuy nhiên, sản lượng lương thực tăng không đều và chưa vững chắc;
diện tích cây công nghiệp tăng rất chậm, nhất là cây công nghiệp ngắn ngày; chưa gắn
việc phát triển nông, lâm, ngư nghiệp với công nghiệp chế biến; lao động, đất đai,
rừng, biển chưa được sử dụng tốt… Đó là do nhận thức về nông nghiệp toàn diện,
trong đó lương thực, thực phẩm là trọng tâm số một, chưa được thấu suốt đầy đủ. Đầu
tư và nhất là các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp chưa được giải quyết
thoả đáng. Hiện nay, nước ta còn khoảng 2 triệu héc-ta đất nông nghiệp chưa được
khai thác, hệ số sử dụng ruộng đất còn thấp, 8 triệu héc-ta đất trống đồi trọc chưa được
phủ xanh, hàng chục vạn héc-ta mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản cùng với
vùng biển rộng lớn có tiềm năng kinh tế phong phú, có nhiều ngư trường quan trọng
chưa được khai thác tốt, hàng triệu lao động có khả năng mở mang ngành nghề chưa
được sử dụng hết. Giai đoạn 5 năm 1986 - 1990 cần tập trung cho mục tiêu số một là
sản xuất lương thực và thực phẩm, đồng thời ra sức mở mang cây công nghiệp, nhất là
cây công nghiệp ngắn ngày, đi liền với xây dựng đồng bộ công nghiệp chế biến, phát
triển mạnh các ngành nghề, gắn lao động với đât đai, rừng, biển, nhằm khai thác đến
mức cao nhất những tiềm năng đó.
Nhiệm vụ đặt ra là phải đạt cho được mục tiêu bảo đảm nhu cầu ăn của toàn xã hội
và bước đầu có dự trữ. Vấn đề lương thực phải được giải quyết một cách toàn diện, từ
sản xuất, chế biến đến phân phối và tiêu dùng, gắn việc bố trí cơ cấu lương thực với
việc cải tiến cơ cấu và nâng cao chất lượng bữa ăn phù hợp với đặc điểm từng vùng.
Phải dựa vào việc khai thác thế mạnh của từng địa phương, đồng bằng, trung du, miền
núi, ven biển một cách hợp lý nhất, vừa tăng sản xuất lương thực tại chỗ, vừa tạo ra
các nguồn sản phẩm khác để trao đổi lấy lương thực, kể cả thông qua xuất nhập khẩu.
Gắn với việc giải quyết lương thực, nhất thiết phải giảm mạnh tỷ lệ tăng dân số.
Phấn đấu năm 1990 sản xuất 22 - 23 triệu tấn lương thực (quy thóc), bình quân mỗi
năm trong 5 năm đạt 20 - 20,5 triệu tấn, tăng 3 - 3,5 triệu tấn so với mức bình quân
hằng năm trong 5 năm trước.
Hướng chủ yếu đối với lúa là thâm canh, tăng vụ và mở thêm diện tích ở những nơi
có điều kiện (nhưng cần lưu ý không được phá rừng). Tình hình năng suất không đồng
đều giữa các vùng và ngay trong một địa phương nói lên khả năng thâm canh còn rất
lớn. Vòng quay ruộng đất hiện nay còn quá thấp là minh chứng cho thấy tầm quan
trọng, tính bức xúc và hiệu quả của việc tăng vụ. Trong những năm tới, chúng ta kiên
quyết tập trung các điều kiện vật chất cho các vùng trọng điểm về lương thực hàng
hóa. Cần xác định rằng đồng bằng sông Cửu Long là trọng điểm lúa hàng hóa lớn nhất
của cả nước; đồng bằng sông Hồng là trọng điểm sản xuất lúa của miền Bắc, có ý
nghĩa quyết định, đáp ứng nhu cầu của khu vực; các vùng khác cũng có những trọng
điểm lúa của mình.
3

Nhấn mạnh cây lúa, nhưng tuyệt nhiên không được coi nhẹ màu. Những năm gần
đây, diện tích và sản lượng màu giảm sút là một khuyết điểm cần được khắc phục. Mỗi
vùng, căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình, cần xây dựng một cơ cấu cây màu phù
hợp, bao gồm ngô, khoai lang, sắn, khoai tây và các cây có bột khác, trong đó chú
trọng cây ngô. Đi đôi với phát triển sản xuất, phải tổ chức tốt việc thu mua và chế
biến, dùng màu phổ biến trong cơ cấu bữa ăn.
Để thực hiện mục tiêu lương thực nói trên, cần áp dụng hàng loạt biện pháp đồng
bộ. Trước hết, phải nói tới ruộng đất. Không thể tiếp tục kéo dài tình trạng giảm sút
hàng chục vạn héc-ta đất lúa tốt như những năm vừa qua. Phải hoàn chỉnh quy hoạch
sử dụng đất đai, làm tốt công tác quản lý ruộng đất, nhất là ở cơ sở và đối với đất lúa.
Chú trọng các biện pháp tổng hợp để vừa tăng độ phì của đất, vừa tăng hệ số sử dụng
ruộng đất, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long là nơi mà hệ số này còn rất thấp.
Thủy lợi là biện pháp hàng đầu, cần được phát động thành phong trào quần chúng
rộng khắp, kết hợp với sự đầu tư đúng mức của nhà nước. Trong 5 năm này, hoàn
thành đồng bộ các công trình thủy lợi, tập trung vào những công trình phát huy ngay
hiệu quả, nhất là mở mang thủy lợi nhỏ để khai thác tối đa công suất của công trình
lớn và vừa đã được xây dựng. Xây dựng mới một số công trình để phục vụ ngay cho
việc tăng vụ, chuyển vụ và khai hoang mở rộng diện tích. Ở đồng bằng Bắc bộ, chú
trọng củng cố hệ thống đê, kè, cống; duy trì và phát triển thêm các trạm bơm điện; thu
hẹp một phần diện tích thường bị ngập úng của lúa mùa. Ở đồng bằng sông Cửu Long,
ngoài các công trình đầu mối, chú trọng củng cố và phát triển hệ thống thủy lợi nội
đồng. Mở rộng diện tích được tưới, tiêu chủ động, trước hết ở các vùng lúa cao sản.
Công tác phòng chống bão lụt cần được đặc biệt chú trọng, để hạn chế các thiệt hại,
bảo vệ tốt tính mạng và tài sản của nhân dân.
Trong các biện pháp đồng bộ, những năm tới, phân bón nổi lên như là một yếu tố
quyết định năng suất và thâm canh, một yêu cầu gay gắt cần được tập trung sức giải
quyết. Có chính sách khuyến khích đẩy mạnh phong trào làm phân chuồng, phân xanh
và các loại phân hữu cơ khác, đảm bảo một phần đáng kể nhu cầu phân bón. Mở rộng
sản xuất phân lân, vôi, phốt-pho-rít. Dành ngoại tệ để nhập đủ phân bón. Nâng cao
hiệu quả sử dụng phân bón bằng các biện pháp kỹ thuật tiến bộ là một khả năng thực tế
cần được áp dụng rộng rãi.
Những năm qua, sâu bệnh đã gây cho sản xuất nông nghiệp không ít tổn thất. Làm
tốt công tác dự báo phát hiện sâu bệnh, có biện pháp chủ động phòng trừ tổng hợp, kết
hợp biện pháp sinh học với hóa học, là nhiệm vụ thường xuyên của cơ quan quản lý
nông nghiệp và bà con nông dân. Tổ chức tốt dịch vụ bảo hiểm cây trồng trên từng địa
bàn; việc nhập đủ và kịp thời thuốc trừ sâu phải được ưu tiên giải quyết.
Tình trạng thiếu sức kéo, thậm chí phải dùng sức người cuốc đất, đang đặt ra một
yêu cầu bức xúc cần giải quyết, nhất là ở những vùng tăng vụ, mở rộng diện tích.
Trước hết, cần khuyến khích phát triển chăn nuôi trâu, bò cày kéo, mở rộng giao lưu
trâu, bò để điều hòa sức kéo giữa các vùng. Đồng thời, cố gắng sản xuất và nhập thêm
4

máy kéo, và quan trọng nhất là cải tiến ngay tổ chức, cơ chế sử dụng máy kéo, có sự
điều chỉnh hợp lý để tận dụng máy kéo với công suất cao hơn. Thực hiện việc bán máy
kéo nhỏ cho hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp đi đôi với đào tạo thợ, cung
ứng phụ tùng sửa chữa. Dứt khoát không để thiếu công cụ thường, công cụ cải tiến với
chất lượng tốt trang bị cho lao động nông nghiệp.
Thực tiễn ở nhiều vùng cho thấy cơ cấu giống và giống mới đi liền với cơ cấu mùa
vụ hợp lý góp phần quan trọng vào năng suất cây trồng và tính ổn định của mùa màng.
Vấn đề đặt ra là tổ chức cho được hệ thống giống từ trung ương đến cơ sở, có chính
sách khuyến khích hợp tác xã nhân nhanh giống mới đã được hướng dẫn sử dụng cho
từng vùng.
Nhằm giảm bớt mức độ hư hao và mất mát lương thực hiện còn rất lớn, giữ gìn
phẩm chất và tăng giá trị sản phẩm, cần chú trọng sản xuất đồng bộ hệ thống bảo quản
và chế biến, tổ chức vận chuyển kịp thời lương thực.
Chấn chỉnh hệ thống cung ứng vật tư và dịch vụ, phục vụ kịp thời và có hiệu quả
cho cơ sở sản xuất, khắc phục mọi sự phiền hà và làm thất thoát vật tư của Nhà nước.
Thực hiện một hệ thống các chính sách thật sự khuyến khích sản xuất lương thực.
Hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động. Bảo đảm
vật tư cần thiết cùng với ổn định mức khoán hợp lý để tạo điều kiện cho người sản
xuất nhận khoán và tự đầu tư thêm để vượt mức khoán. Miễn thuế nông nghiệp trong
một thời gian để khuyến khích những nơi tăng vụ hoặc mở thêm diện tích. Ngoài nghĩa
vụ thuế, các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và hợp tác xã đều thông qua các hợp đồng
mua và bán do các tổ chức kinh doanh nhà nước đảm nhiệm theo nguyên tắc bình
đẳng, ngang giá. Ngoài phần hợp đồng có vật tư bảo đảm, cần thực hiện mua bán theo
giá thật sự thỏa thuận.
Nhằm tăng chất lượng bữa ăn hằng ngày và cải tiến dần cơ cấu bữa ăn, việc sản
xuất thực phẩm cũng phải được coi trọng như sản xuất lương thực. Nước ta có nhiều
khả năng phát triển toàn diện các nguồn thực phẩm động vật và thực vật phong phú, đa
dạng trên khắp các miền đất nước. Trước hết, phải đẩy mạnh chăn nuôi, tăng đáng kể
đàn gia súc, gia cầm, chú ý các loại không dùng hoặc ít dùng lương thực. Hết sức
khuyến khích chăn nuôi gia đình; khôi phục và phát triển chăn nuôi quốc doanh và tập
thể ở những nơi có điều kiện. Muốn vậy, phải giải quyết tốt các khâu giống, thức ăn và
phòng chống dịch bệnh. Nhà nước chỉ đạo chặt chẽ cả ba khâu này, chú ý tăng nguồn
thức ăn gia súc qua chế biến. Chính sách tạo giống cho chăn nuôi cũng phải được coi
trọng và khuyến khích đúng mức như tạo giống cho sản xuất lương thực.
Rau, đậu các loại, cây có dầu, cây ăn quả là nguồn thực phẩm mà ở đâu cũng có
điều kiện phát triển. Xung quanh các thành phố, khu công nghiệp, nhất là Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, khu mỏ Quảng Ninh, phải tập trung đầu tư đồng bộ để sớm
hình thành vành đai thực phẩm, đồng thời khuyến khích các địa phương, các hợp tác
xã, tập đoàn sản xuất và người sản xuất cá thể đưa rau, quả, thịt, cá… vào bán trong
thành phố. Các nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội đều phải tổ chức chăn
5

